Tổ tiên chúng tôi chứ không phải quý vị!

Từ  ngày 20-30-7 – 2010 tại Hà Nội đã diễn ra cuộc Hội thảo “  Âm nhạc & các dân tộc thiểu số” lần thứ 6, trong khuôn khổ Hội thảo “ Âm nhạc truyền thống Quốc tế” .

Ngày 29/7 tôi nhận được email của một vài trí thức Tây Nguyên, phản hồi về việc “ người ta nói không đúng về cồng chiêng Tây Nguyên tại hội thảo Quốc tế”. Đọc Thanh niên online ngày 30/7 đăng ý kiến phát biểu của Giáo sư Trần Quang Hải, thì quả đúng như thế. Tôi không biết còn có ai tham luận về âm nhạc Tây Nguyên không và họ nói những gì?  Nhưng ý kiến Giáo sư Trần Quang Hải về cồng chiêng Tây Nguyên thì sai quá thật :

1-Ông GS Trần Quang Hải cho rằng hiện cả Tây Nguyên chỉ còn khoảng 2.000 bộ ching cổ thì không đúng rồi . Vì chỉ riêng sự kiểm kê của ngành Văn hoá tỉnh Gia Lai  báo cáo trong hội thảo cồng chiêng quốc tế tháng 11 năm 2008, đã còn trong người dân ở các huyện tới hơn 2.000 bộ . Con số này nếu cộng cả Đak Lak, Kon Tum, Đăk Nông và Lâm Đồng nữa, thì còn lớn hơn nhiều.( Chính vì vậy mà tôi đã từng kiến nghị “ có kinh phí điều chuyển ngay trong mỗi tỉnh, từ vùng còn nhiều ching sang vùng trắng, thay vì phải đi mua ching dỏm từ nơi khác đưa về” )

2- GS Hải cũng than phiền về việc “ bà con mua ching Thái Lan, đẹp nhưng âm giai là nhạc phương Tây”. Điều này cũng lại không chính xác. Bởi người Tây Nguyên xưa nay chỉ mua ching Lào, ( ching Lao), ching Campuchia ( ching Kuôr), nghèo lắm mới phải mua ching Joăn ( chiêng do người Kinh Việt Nam đúc). Chứ chưa hề mua ching Thái Lan ( với đời sống kinh tế ở Tây Nguyên như hiện nay, càng không có tiền để mua chiêng Thái ).Khi mua về, dù là bộ ching nguồn gốc từ đâu, bao giờ cũng phải qua bàn tay vàng của các nghệ nhân chỉnh lại theo hàng âm của mỗi một tộc người, chứ không để nguyên thế mà dùng. Thế nên lấy đâu ra âm giai phương Tây? Việc chỉnh ching chêng dứt khoát phải tạo nên chỗ dày, chỗ mỏng để đúng với âm nhạc dân gian Tây Nguyên  là việc nghệ nhân phải làm, họ đâu có dám phạm thượng với các vị thần ( kể cả thần ching chêng) cai quản toàn bộ cuộc sống của cộng đồng?

Vừa qua, tổ chức UNESCO đã tặng một số buôn, bon, kon, plei ở tỉnh Đăk Nông và Gia Lai hàng trăm bộ ching , đó là thứ ching mới , mua hàng loạt từ Quảng Nam, Đà Nẵng về cấp phát ( thế nên mới có tình trạng chiêng nứt , rè, bà con mang trả lại và có một vài vị cán bộ ngành văn hoá Tây Nguyên nhận kỷ luật vì bớt xén tiền mua chiêng) . Khi mang về các nghệ nhân cũng phải chỉnh âm lại cho đúng hàng âm của dân tộc mình, rồi mới xử dụng.

3- GS Hải nói rằng “ trước kia mỗi năm nghệ nhân chỉ đúc được một cái cồng, một cái chiêng  và phải lấy máu trâu vừa bị đâm trét lên đó thì tiếng chiêng mới chuẩn” lại càng hoàn toàn không chính xác.

Vì  Tây Nguyên không có mỏ đồng, lấy đâu ra nguyên liệu để đúc chiêng? ( khác với mỏ sắt có tại Kon Tum, nên nghề rèn của người Sê Đăng nổi tiếng cả Đông Dương). Dấu vết lò đúc đồng tìm thấy ở di chỉ Lung Leng ( Kon Tum), Hanrimetre đã viết trong Rừng Người Thưọng từ năm 1911, rằng “ Người Lào thâm nhập vào thung lũng sông Pocô và định cư tới tận thung lũng sông Bla, trong đồng bằng Kon Tum, dựng làng, thậm chí còn lập thành một mường có lị sở…Người Sê Đăng cho rằng họ đã học cách khai thác sắt từ những người nước ngoài này” ( T.235) . Ông này cũng kể rõ  : “  theo nghị định 1-6-18965 Hạ Lào gồm các lãnh thổ nằm giữa sông Mê Kông và dãy Trường Sơn , gần như ôm hết toàn bộ vùng Mọi, thuộc các tòa công sứ Stung Treng, Attopeu và Saravan” ( T. 318). Nên không thể nói ching do nghệ nhân các bộ tộc người Tây Nguyên đúc ra để xử dụng.

Bởi âm thanh ching chêng là phương tiện giao lưu với các thần linh, thông tin tới cộng đồng về sự việc đang diễn ra, nên hiện tượng lấy máu con vật hiến sinh hoà với rượu cần quệt lên ( không phải trét lên) ching là việc  cáo với các thần linh ( Yang) về lễ cúng gì đó đang diễn ra và mời các vị về chứng giám ( nếu cúng nhà thì quệt lên cầu thang, cột nhà . Nếu cúng lúa thì quệt lên cầu thang kho lúa và bồ lúa…). Chứ không vì có thêm máu súc vật mà âm thanh chuẩn hơn được.

4- Theo chỗ tôi hiểu, danh hiệu “ Di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu của nhân loại” còn được trao cho những di sản có nguy cơ biến mất khỏi đời sống cộng đồng, để khuyến cáo việc tăng cường gìn giữ, chứ không đơn thuần chỉ là giá trị tinh thần cao, mà một lúc nào đó bị “ tước” danh hiệu.

Điều quan trọng là hiện nay, nhờ sự tuyên truyền của các cấp, các ngành, bà con các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng đã phần nào ý thức được giá trị tinh thần của báu vật mà mình sở hữu, nên nhiều nơi tự giác truyền dạy cho lớp trẻ. Nhiều trí thức người dân tộc tự giác tham gia vào việc giáo dục ý thức cộng đồng này.

Việc thanh niên người dân tộc Jrai ở một số vùng “ độ” lại ching Joăn để tăng thêm số nốt, tăng thêm bè trầm và thay vì  nhiều người, thì chỉ một người đánh hàng chục chiếc, “ chơi” được cả nhạc Việt ( bài “ Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” , hay nhạc nước ngoài  ( bài Goantanamera)…là sự sáng tạo của tuổi trẻ cần được chấn chỉnh theo cách nào đó cho hợp lý. Đây cũng là việc làm với những bộ chiêng Joăn có giá trị kinh tế thấp nhất, chứ không ai dám đem ching cổ ra mà sửa vậy đâu.

Do vậy mà nguy cơ “ phương tây hoá và toàn cầu hoá cồng chiêng” như lời Giáo sư Hải, chưa phải đáng lo ngại; mà cái chính là cồng chiêng không còn thật sự tồn tại trong đời sống cộng đồng tộc người, thiếu những cán bộ văn hoá cơ sở là người dân tộc bản địa, cũng như việc thương mại hoá  cồng chiêng “ dởm” để phục vụ các lễ hội và du lịch, hay lợi dụng tham ô kinh phí cấp phát cho chính sách bảo tồn văn hoá truyền thống của Nhà nước, hay các luận văn Thạc sỹ, Tiến sỹ về văn hoá nghệ thuật dân tộc thiểu số một cách thiếu thấu đáo …hoặc là rừng Tây Nguyên, kiến trúc , nghề thủ công Tây Nguyên, một phần quan trọng của ” không gian văn hóa cồng chiêng” đang ngày càng mất đi một cách quyết liệt,  mới là điều chúng tôi lo ngại cơ,  thưa ông giáo sư vô cùng đáng kính

Hôm dự đại hội VIII Hội Nhạc sỹ Việt nam, tôi cũng đã nghe thông tin về cuộc hội thảo này từ chính Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc Lê Toàn. Ông hứa sẽ gửi giấy mời vào Buôn Ma Thuột cho tôi,do được biết Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số, nhạc sỹ Nông Quốc Bình vì bận sẽ không tham gia hội thảo được.  Ngài Viện trưởng cũng cho biết đại biểu phải hoàn toàn tự túc kinh phí. Tôi đã tính đến khả năng nếu nhận được giấy mời, sẽ đề nghị tỉnh Đăk lăk tài trợ tiền tham gia hội thảo.Nhưng rồi chờ dài cổ không thấy giấy mời đâu ( Chắc ngài Viện trưởng hoặc quá bận nên quên, hoặc sau đó bàn lại thấy rằng tôi không xứng đáng được mời chăng?). Hôm đó tôi cũng liên hệ ngay với Chủ tịch Hội DTTS Nông Quốc Bình, bởi là một nhạc sỹ chuyên ngành lý luận, lại là người dân tộc, ông phải ý thức được việc tham gia hội thảo này quan trọng như thế nào. Ông này cũng hẹn sẽ bàn với thường vụ Hội về việc cử tôi thay mặt Hội tham dự. Nhưng rồi cũng lại bặt vô âm tín.

Vậy là hội thảo bàn đến “ số phận” của âm nhạc các dân tộc thiểu số Việt Nam, mà chỉ toàn các nhà khoa học là người nước ngoài, người Kinh, đã có những nghiên cứu về âm nhạc dân tộc thiểu số Việt Nam, chứ không hề có một nhà nghiên cứu âm nhạc nào người dân tộc thiểu số được tham dự (?) Hay thật, hình như mọi người vì “ yêu” quá nên tự cho mình có quyền, có tri thức khoa học để bàn tới văn hoá nghệ thuật của các dân tộc thiểu số Việt Nam, quyết định lấy vận mệnh của “ nó” , mà không cần tham khảo xem người thiểu số hiểu gì? muốn gì ? hoặc nói gì về chính mình nhỉ ? Đã có lần sau Hội thảo quốc tế về cồng chiêng Tây Nguyên tổ chức ở Plei Ku tháng 11-2008, tôi lên tiếng về việc Tây Nguyên chúng tôi còn có nhiều nhà khoa học ( có bằng cấp & học vị hẳn hoi) là người dân tộc bản địa, nhưng chỉ duy nhất 1 người có mặt tại hội thảo. Hoặc Hội thảo về văn học dân tộc của Ban Lý luận phê bình trung ương, mà không biết có mấy nhà văn người dân tộc được mời tham dự?

Để kết thúc bài viết này, theo truyền thống mẫu hệ Tây Nguyên, một người phụ nữ đã nhiều mùa rẫy như tôi,được phép thay mặt bà con các tộc người thiểu số Tây Nguyên, cảm ơn Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách lẫn nguồn kinh phí, cám ơn các tri thức, các nhà khoa học, đã vì yêu mến mà nhiều năm qua quan tâm tìm hiểu và tham gia gìn giữ, bảo tồn văn hoá truyền thống Tây Nguyên. Nhưng cũng kính mong các “nhà” tổ chức, nên quan tâm thêm tới việc đào tạo đội ngũ những cán bộ văn hóa người bản địa Tây Nguyên, để góp phần tích cực tham gia gìn giữ, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa, trong đó có di sản không gian văn hóa cồng chiêng ( chính bởi không phải người của Tây Nguyên tham gia gìn giữ, bị áp đặt theo lối suy nghĩ của người nơi khác đến, nên nó mới càng ngày càng xa lạ với cộng đồng, càng dễ tổn thương và mất đi đến thế ); Cũng như nên mời các trí thức người dân tộc thiểu số tham gia cùng, khi bàn  về sự sống còn  văn hoá truyền thống của chúng tôi. Nếu không muốn nói toẹt ra một cách thẳng thừng rằng “ đừng coi thường người dân tộc thiểu số chúng tôi đến thế. Chính tổ tiên chúng tôi chứ không phải các vị, đã làm ra những điều kỳ diệu đó góp phần vinh danh văn hóa Việt  đấy”.

Sự thật thì hay mất lòng. Người Việt mình có câu thế !

One thought on “Tổ tiên chúng tôi chứ không phải quý vị!”

Leave a comment