Tag Archives: Văn Hóa

Từ Chuyện Cây Bàng Trong Sân Trường

Sân trường tháng muời hai luôn đặc biệt bởi những chiếc lá bàng. Cây bàng không biết từ lúc nào đã tự nhuộm mình thành đỏ ối như một ngọn đuốc khổng lồ, cứ thầm lặng cháy trong trời đông xám lạnh. Mỗi ngày, ngọn đuốc ấy lại hao mòn đi một ít sắc đỏ vì những chiếc lá rụng.

Tháng mười hai Tây Nguyên cũng đã bắt đầu mùa gió, nên vừa rời cành lá bàng đã được gió đón lấy, nâng trên đôi cánh của mình mà đưa đi tít xa. Có những chiếc lá không theo gió, chỉ chao nhẹ đáp xuống rồi nằm thảnh thơi trên mặt đất, làm nên một tấm thảm màu nâu đỏ, đẹp đến ngỡ ngàng.

Cô giáo dạy văn mê đắm lá bàng, cứ ngẩn người xuýt xoa không ngớt trước vẻ xao xác của sân trường mùa lá rụng. Rồi tiếc nuối hụt hẩng khi thấy học trò của mình quét sạch lá rụng…
Không chỉ quét lá rụng, học trò còn leo lên cây tuốt hết những chiếc lá đã chín màu nâu đỏ, tuốt cả những chiếc lá mới chỉ vương chút nâu vàng… Lá bàng bị cưỡng bức rụng ào ào xuống sân trường.
Rồi trong chốc lát, tất cả những chiếc lá như những mảnh màu ấm áp tuyệt đẹp, đã bị dồn hết vào trong bao tải. Học trò mang những bao lá bàng ra để ở một góc đường, xe rác sẽ đến và mang chúng đi…

Thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường không thích lá bàng rụng, không thích màu sắc quá chói gắt của lá bàng trong mùa đông, không thích sự bay tung, sự sóng soãi, sự rực cháy của nó trên sân trường. Sân trường đầy lá rụng, trông chẳng giống sân trường một chút nào, trông cứ luộm thuộm như một công viên hay một góc rừng… Thầy muốn sân trường phải thật sạch sẽ thật nghiêm trang như một ông giáo mặc veston trong ngày khai giảng!

Cho học sinh tuốt sạch lá bàng! Không để cho cây bàng tự do sống đời sống của nó!
Không để cho tụi học trò ngớ ngẩn dạo qua dạo lại trong sân trường, nhặt mấy chiếc lá đỏ, lật đi lật lại trên tay mà ngắm nghía, mà xuýt xoa!
Không để cho cô giáo dạy văn đang giảng bài chợt sững người nhìn chiếc lá bàng vừa bay vào lớp. Rồi nhặt chiếc lá mà liên hệ với học trò về sự hữu hạn của mỗi đời sống trong vô hạn của thời gian. Sự cần thiết phải nỗ lực của mỗi con người, để có thể đi qua cuộc đời một cách lương thiện, đoàng hoàng, đẹp đẽ. Như chiếc lá bàng đã sống trọn đời với màu xanh trên cành làm nên bóng mát, rồi chọn một cái chết đẹp, với màu sắc rực lên, cháy đến tận cùng, dâng hiến đến tận cùng cho mùa đông, làm nên một đốm lửa ấm áp sưởi ấm không gian lạnh lẽo trước khi tan biến vào cát bụi đất đai!

Cô giáo dạy văn nhớ bài thơ Mùa lá rụng của Ôn ga Bec gôn với lời đề dẫn: Mùa thu ở Matxcơva người ta treo những tấm biển trên các đại lộ với dòng chữ: Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng… Và tiếc rằng, thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường, có thể không biết bài thơ đó. Không biết rằng ở nhiều nơi những chiếc lá vàng óng kia, đang được bảo vệ cẩn trọng như những báu vật.

Những đàn sếu bay qua. Sương mù và khói toả…
Matxcơva, lại đã thu rồi!
Bao khu vườn như lửa chói ngời
Vòm lá sẫm ánh vàng lên rực rỡ
Những tấm biển treo dọc theo đại lộ
Nhắc ai đi ngang dù đầy đủ lứa đôi
Nhắc cả những ai cô độc trên đời
“Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng”



Bảo vệ từng chiếc lá cây trong mùa cây rụng lá, hoặc leo lên cây tuốt sạch hết lá vàng, hoặc bẻ đến kỳ hết những chùm trái bằng lăng khô khốc .. Đó không chỉ là những hành xử của con người với cây cỏ thiên nhiên. Đó còn là biểu hiện quan điểm của mỗi người về cái đẹp. Trong môi trường sư phạm, đó còn là quan điểm về vấn đề giáo dục cái chân, cái thiện, cái mỹ cho mỗi học sinh.

Nhưng làm sao có thể trách được người không biết. Mà vẻ đẹp kỳ diệu trong từng chiếc lá rụng, có phải ai cũng nhận biết hết cả đâu. Đâu phải ai cũng có thể tưởng tượng rằng ngày xưa, cái ngày xưa Thơ Mới đó, Xuân Diệu cũng đã từng choáng ngợp trước cây bàng lá đỏ mà viết:

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Những cây bàng trong sân trường giờ đã trơ trụi lá, nhưng vẫn đẹp một vẻ rất riêng. Cành nhánh trên thân cây khẳng khiu trông như những cánh tay dang rộng, phả lên bầu trời cái màu khói sương bãng lãng.

Rồi ít lâu sau, bàng sẽ nhú lộc. Những mầm non đỏ tươi đậu chi chít trên cành như minh chứng cho sự trẻ trung, cho sức sống cuồn cuộn rạo rực chảy tuôn sau lớp vỏ dày nứt nẻ.
Rồi lá bàng sẽ to ra dựng đứng như tai thỏ.
Rồi lá bàng sẽ nhanh chóng lớn nữa, xoè rộng, tạo nên một vòm bình yên với tầng tầng lớp lớp lá non xanh như ngọc.
Rồi đến lúc tiếng ve báo hè vang dậy, dưới những tán lá bàng sẽ có những cô cậu học trò ngồi học bài.. Họ hái chiếc lá bàng ghi vài câu thơ vào đó, có khi tặng bạn, có khi ngần ngại ép vào cuốn sách mang về…
.


Xã hội càng hiện đại, những khoảnh khắc xúc cảm lãng mạn như vậy, phải chăng càng cần thiết? Phải chăng nhờ vào đó, bao tâm hồn của thế hệ trẻ sẽ có cơ hội cân bằng trước những xơ cứng của máy móc, của thao tác nhấp chuột tìm bạn bè, tìm trò chơi, tìm thông tin trên net?
Cũng như vò trong tay một lá cỏ hăng hắc, nghe bên tai lảnh lót một tiếng chim, phải chăng là một cách di dưỡng tinh thần, để con người chúng ta bớt cằn cỗi với café uống liền, trà xanh chai nhựa, nước trái cây đóng lon, cùng bao nhiêu sản phẩm đóng hộp khác, nhan nhãn trong xã hội hiện thời?

Vì vậy, hạnh phúc thay cho những ngôi trường có khuôn viên rộng, có nhiều cỏ cây, có bóng mát, mùi hương và tiếng chim. Để thiên nhiên, bậc thầy kỳ diệu, dạy cho những học sinh, những tâm hồn bé bỏng tình yêu cái đẹp, cái thiện…
Học sinh sẽ tự nhận biết trong mỗi cành cây ngọn cỏ, bài học về sự cho đi và nhận được, sự có mặt và khuất lấp, sự mạnh mẽ vươn dậy của những tạo vật mỏng manh.

Học sinh sẽ tự nhận biết thời gian đi qua, bốn mùa đi qua, không chỉ trên những tờ lịch, những con số đếm ngày đếm tháng vô hồn, mà còn trong sự luân chuyển đâm chồi, ra hoa, rụng lá của cây cối..

Yêu cái đẹp cái thiện học sinh sẽ biết hành xử hướng tới cái đẹp cái thiện. Nâng niu một chiếc lá, học sinh sẽ biết nâng niu một số phận, Ngắm nhìn một bông hoa, học sinh sẽ biết trân trọng, ngưỡng mộ một tài năng. Đứng trước một chùm quả, học sinh sẽ phải suy ngẫm về việc cần nghiêm túc, cần nỗ lực trong học tập, trong lao động để có được những thành công thực sự trong đời…

Yêu cây cỏ trong sân trường, học sinh sẽ còn thấy gắn bó hơn với thầy cô, bè bạn, những giờ học, giờ chơi, những hồn nhiên của lứa tuổi mình đang sung sướng được sống.
Và từ lòng yêu cây cỏ, gia đình, mái trường, thầy cô bè bạn, những học sinh, những công dân tương lai của đất nước, sẽ ý thức rõ hơn, nuôi dưỡng sâu xa hơn trong lòng họ tình yêu tổ quốc.
Để khi tổ quốc cần, họ biết nỗ lực bảo vệ hoặc dựng xây. Bởi vì, như nhà văn I li a Ê ren bua đã viết: Lòng yêu tổ quốc bắt đầu từ lòng yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng trước cửa nhà, yêu con đường nhỏ dẫn ra bờ sông, yêu mái nhà tranh, yêu đồng lúa chín…

Đinh Thị Như Thúy

Sóng Lớn

Vào đầu thời Minh Trị Thiên Hoàng có một võ sĩ đánh vật tên là O-nami, tức là Sóng Lớn.

O-nami rất mạnh và giỏi về nghệ thuật đánh vật. Trong những trận đấu riêng, O-nami thắng cả thầy của mình, nhưng khi ra trước đám đông O-nami lại quá rụt rè đến nỗi chính học trò của anh cũng vật anh được.

O-name nghĩ là mình nên tìm một thiền sư giúp đở. Hakuju, một thiền sư lang thang, đang dừng chân tại một chùa gần đó, nên O-nami đến gặp và kể về khó khăn lớn của mình.

“Sóng Lớn là tên của anh,” thiền sư tư vấn, “vậy thì ở lại chùa tối nay. Tưởng tượng anh là những ngọn sóng lớn đó. Anh không còn là võ sĩ đánh vật hay sợ nữa. Anh là những đợt sóng vĩ đại quét sạch tất cả những gì đứng trước mặt, nuốt sạch tất cả những gì sóng đi qua. Tưởng tượng thế và anh sẽ là võ sĩ đánh vật siêu đẳng nhất nước.”

Vị thầy lui về. O-nami ngồi thiền cố gắng tưởng tượng mình là sóng. Anh nghĩ đến rất nhiều chuyện. Rồi dần dần cảm giác là sóng tăng thêm. Càng về đêm những lọn sóng càng lớn hơn. Sóng cuốn trôi những cánh hoa trong các lọ hoa. Ngay cả tượng Phật trên bàn thờ cũng bị ngập nước. Trước khi trời hừng đông, cả ngôi chùa chẳng còn là gì nữa ngoại trừ sóng lên sóng xuống của đại dương.

Sáng ra vị thầy thấy O-nami vẫn còn thiền định, với nét cười thoáng hiện trên mặt. Thiền sư vỗ vai chàng võ sĩ. “Bây giờ chẳng còn điều gì có thể làm phiền anh,” thầy nói. “Anh là những đợt sóng đó. Anh sẽ quét sạch mọi thứ trước mặt anh.”

Ngày đó O-nami thi đấu và thắng. Từ đấy, không còn ai ở Nhật có thể thắng O-nami.

Bình:

• Tất cả các võ sư đều biết rằng, khi đấu, nếu tài và sức chỉ hơn nhau một 8 một 10, thì quyết tâm và bình tĩnh quyết định thắng bại đến 70%, 20% là may rủi, và 10% là tài và sức.

Đa số mọi phấn đấu của ta về mọi vấn đề trên đời cũng đều như thế.

• O-nami ra trước đám đông bị “cái lo” về đám đông làm tư tưởng không tập trung được—Không biết họ có cười mình mập quá không? Hay là họ chê mình đấu dở?

• Thiền sư chỉ O-nami cách tập trung tư tưởng vào MỘT điều duy nhất—hình ảnh các đợt sóng. Đây là bước căn bản đầu tiên của thiền định–tập trung vào MỘT điều duy nhất: hơi thở, hay bước đi, hay các hành động rửa bát, hoặc quét nhà, v.v… Tư tưởng tập trung vào một điều sẽ không chạy tán loạn.

• Dùng hình ảnh Sóng Lớn ở đây để tập trung tư tưởng còn có thêm hai điều lợi. Thứ nhất, đây là tên của O-nami, rất quen thuộc với anh, dễ tập trung tư tưởng. Thư hai, đây là hình ảnh mạnh mẽ chiến thắng. Tốt cho võ sĩ xông trận. Vị thiền sư này đúng là thầy rất giỏi về thiền định, nên cho bài học một công hai ba chuyện.

• Ngồi thiền thường là như thế: Ban đầu cứ “nghĩ đến rất nhiều chuyện”, rồi tư tưởng mới tập trung vào hình ảnh mình đang “quán” từ từ, càng lâu càng mạnh và càng rõ.

• Ảnh hưởng đổi đen thành trắng trong chỉ một đêm như ở đây, thì hơi hiếm. Thông thường ta cần nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm… tùy theo vấn đề, mức độ, và cơ duyên.

• Việc O-nami “quán” mình thành sóng đánh trôi hoa trên bàn thờ và nhận chìm luôn cả tượng Phật là một căn bản triết l‎ý rất quan trọng của Phật học: Phật ở trong ta, không có Phật ở ngoài. Câu của ngài Lâm Tế “phùng Phật sát Phật” (gặp Phật giết Phật) có nghĩa là thế: Không có Phật ngoài ta. (Nếu có vị Phật sống đi ngoài đường thì điều đó cũng chẳng quan trọng và ăn nhập gì tới mình cả).

Phật sống còn không có ngoài ta, huống chi là tượng Phật. Tượng để thờ tự chỉ là tượng gỗ giúp ta tập trung tư tưởng thôi, chẳng nghĩa lý gì cả. Thiền tổ Đơn Hà bảo một vị sư chẻ tượng Phật làm củi sưởi ấm, là để đánh đổ cái “chấp” vào tượng của sư.

Đừng hướng ý ra tượng ảnh hay Phật ở ngoài. Phật là tâm ta. Hướng vào tâm ta để tâm thanh tịnh thành Phật.

• Giác ngộ như là một cơn sóng thần dánh dạt tất cả vướng mắc trong tâm–hoa trên bàn thờ, tượng Phật, chùa chiền, đền đài lăng tẩm, tất cả thế giới, tất cả vũ trụ…

Không một mảy may vướng mắc sót lại. Tâm rỗng lặng hoàn toàn.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Great Waves

In the early days of the Meiji era there lived a well-known wrestler called O-nami, Great Waves.

O-nami was immensly strong and knew the art of wresting. In his private bouts he defeated even his teacher, but in public was so bashful that his own pupils threw him.

O-nami felt he should go to a Zen master for help. Hakuju, a wandering teacher, was stopping in a little temple nearby, so O-nami went to see him and told him of his great trouble.

“Great Waves is your name,” the teacher advised, “so stay in this temple tonight. Imagine that you are those billows. You are no longer a wrestler who is afraid. You are those huge waves sweeping everything before them, swallowing all in their path. Do this and you will be the greatest wrestler in the land.”

The teacher retired. O-nami sat in meditation trying to imagine himself as waves. He thought of many different things. Then gradually he turned more and more to the feeling of waves. As the night advanced the waves became larger and larger. They swept away the flowers in their vases. Even the Buddha in the shrine was inundated. Before dawn the temple was nothing but the ebb and flow of an immense sea.

In the morning the teacher found O-nami meditating, a faint smile on his face. He patted the wrestler’s shoulder. “Now nothing can disturb you,” he said. “You are those waves. lYou will sweep everything before you.”

The same day O-nami entered the wrestling contests and won. After that, no one in Japan was able to defeat him.

#8

Lời nguyện Giáng Sinh

Chào các bạn,

Còn một tuần nữa là Giáng Sinh, nhưng mùa Giáng Sinh đã bắt đầu từ hôm Lễ Tạ Ơn ngày 26 tháng 11.

Để không khí mùa tình yêu thấm đượm Vườn Chuối, hôm nay chúng ta hãy cũng chia sẻ hai lời nguyện Giáng Sinh, một của thi sĩ lớn của thế giới người Scotland, Robert Louis Stevenson, và bài kia là của Martin Luther, vị linh mục ly khai, khởi xướng luồng tư tưởng mới trong Thiên chúa giáo ở thế kỷ 16, lập nên nhánh Thiên chúa giáo mới, gọi là Tin Lành ngày nay. Nhánh Tin Lành trực tiếp đến từ Martin Luther là Lutheran. Mình đã dịch hai bài này sang tiếng Việt.

Chúc các bạn và gia đình một mùa Giáng Sinh an hòa.

Mến,

Hoành

.

Lời Nguyện Giáng Sinh của Robert  Louis Stevenson

Hỡi chúa từ nhân, giúp chúng con nhớ ngày sinh của Chúa Giêsu
để chúng con có thể cùng hát ca với các thiên thần,
cùng mừng vui với những mục đồng,
và cùng thờ phụng với các hiền triết.
Hãy đóng cánh cửa thù hận
và mở cánh cửa tình yêu khắp thế giới.
Hãy cho nhân ái đến với mỗi món quà và thiện tâm đến với mỗi lời chúc tụng.
Hãy cứu chúng con khỏi sự dữ bằng hồng ân Chúa Kitô mang đến,
và dạy chúng con biết sướng vui với quả tim tinh khiết.
Xin buổi sáng Giáng Sinh sẽ làm chúng con mừng vui được là con của Chúa,
và đêm Giáng Sinh đưa chúng con vào giường với tâm ý tạ ơn,
thứ tha, và được tha thứ,
vì danh chúa Giêsu.
Amen

(Trần Đình Hoành dịch)

A Christmas Prayer by Robert Louis Stevenson

Loving God, Help us remember the birth of Jesus,
that we may share in the song of the angels,
the gladness of the shepherds,
and worship of the wise men.
Close the door of hate
and open the door of love all over the world.
Let kindness come with every gift and good desires with every greeting.
Deliver us from evil by the blessing which Christ brings,
and teach us to be merry with clear hearts.
May the Christmas morning make us happy to be thy children,
and Christmas evening bring us to our beds with grateful thoughts,
forgiving and forgiven, for Jesus’ sake. Amen.

Robert Louis Stevenson

Lời Nguyện Giáng Sinh của Martin Luther

Ô Giêsu dấu yêu, con thánh,
Hãy làm giường ngài sạch và êm
Trong tim con để tim trở thành
Phòng tĩnh lặng cho ngài ngày đêm

Tim con nhảy với từng niềm vui
Môi con không còn yên được nữa
Con phải hát với lời vui sướng
Bài hay nhất từ thuở nghìn xưa

Vinh danh Chúa trên các tầng trời
Giao hài nhi cho người trần trế
Thiên thần ca thánh hạnh muôn nơi
Năm mới vui cho toàn thế giới

(Trần Đình Hoành dịch)

Christmas Dinner prayer by Martin Luther

Ah, dearest Jesus, holy Child,
Make thee a bed, soft, undefiled,
Within my heart, that it may be
A quiet chamber kept for Thee.

My heart for very joy doth leap,
My lips no more can silence keep,
I too must sing, with joyful tongue,
That sweetest ancient song,

Glory to God in highest heaven,
Who unto man His Son hath given
While angels sing with pious mirth.
A glad new year to all the earth!

Nghệ sĩ mù vẽ tranh – John Bramblitt

Khoảng 17 học sinh lớp 3 của trường tiểu học Lee ngồi bịt mắt xung quanh bàn trong lớp học vẽ ngày thứ 5. Trước mặt các là những tờ giấy trắng với 4 cốc sơn – đỏ, vàng, xanh da trời, và trắng. Mỗi mầu có tính chất riêng nên học sinh có thể cảm nhận được sự khác biệt khi chúng vẽ.

Trước khi bị bịt mắt, các học sinh chọn một tờ giấy trắng hoặc một bức tranh đã có vài đường phác họa. Chúng bắt đầu cười rúc rích khi bắt tay vào vẽ:

Tớ thấy cái này kì cục quá”

“Cái này như cát ý”

“Tớ đang dùng màu gì thế này?”

“Cái này cứng quá”

“Dừng lại”, cô giáo của lớp, Ann Mehr nói. Nhưng cô không mắng. Cô chỉ muốn chúng sử dụng các giác quan của mình. “Các em có nghe thấy tiếng vòi nước chảy không?”, cô hỏi, “Các màu khác nhau thì cảm nhận thế nào?”.

Các học sinh của cô Mehr đang học cách cảm nhận màu sắc mà không cần nhìn, giống như nghệ sĩ John Bramblitt làm mỗi ngày. Sau khi bị mù vì chứng epilepsy, Bramblitt, 37 tuổi, đã chính thức mù vĩnh viễn từ năm 2001. Kể từ đó, nghệ sĩ từ Denton, Texas này đã phát triển một thị lực khác. Các bức tranh của anh đã giúp anh có được sự chú ý trên cả nước, và anh đến thăm Columbia tuần này để phát biểu trong hội thảo và nói chuyện với các nghệ sĩ khuyết tật.

“Vẽ tranh đang giúp tôi nhìn”, Bramblitt nói sau khi làm việc với các học sinh của cô Mehr. “Thế giới này có nhiều màu sắc [hơn thế], và khi thời gian trôi đi, chúng càng sáng lên dần dần”.

Trong buổi hội thảo với các lớp của cô Mehr, Bramblit giải thích cho các sinh viên vì sao anh bị mù và điều đó đã thay đổi cuộc đời anh và nghệ thuật như thế nào.

“Tất cả các bạn dùng mắt để nhìn”, anh nói với lũ trẻ, “Tôi cũng làm như vậy, nhưng tôi làm với đôi bàn tay”.
Để vẽ được một tranh, Bramblitt bắt đầu phác thảo bằng việc dùng loại sơn cứng dành cho vải vẽ. Khi sơn này khô đi, anh có thể cảm nhận được các đường hoạc của bức tranh với các ngón tay. Anh nói rằng vì các loại sơn dầu mầu khác nhau sẽ có các kết cấu khác nhau và tính dính khác nhau. Anh có thể xác định được các màu sơn chỉ bằng cách sờ lên chúng. Trong buổi họp báo ngày thứ 4 với các giáo viên, Bramblitt nói màu anh thích dùng nhất khi vẽ là màu xanh da trời sáng, là hỗn hợp của màu trắng và xanh đậm.

“Nó như kem vậy”, anh nói, “cảm giác mềm như da người, mượt và thật thú vị”

Vào ngày thứ 5, sau khi nghe về các phương pháp, học sinh bị bịt mắt lại và yêu cầu dùng các giác quan của mình để vẽ tranh. Mỗi màu tranh có một chất phụ gia, như là cát hay là bột, vì để học sinh có thể phân biệt được.

Praise Tyler, một học sinh lớp 3 thiết kế một hệ thống khác để phân chia các màu của mình thành 4 điểm của chiếc la bàn.

“Màu đỏ là ở phía bắc, nên em biết nó ở đâu”, Praise nói, “và màu xanh bên cạnh nó”

Sau khi Praise đã vẽ xong tranh của mình, em nói “Em rất vui vì anh ấy đã dạy chúng em cái này. Em muốn vẽ một bức nữa”.

Bramblitt là một trong số những người đã làm thay đổi lịch sử nước Mỹ và các học sinh đã được biết đến những người làm thay đổi lịch sử là người khuyết tật.

“Điều đó cho thấy rằng tất cả chúng ta đều có thể tạo nên sự khác biệt, dù là khuyết tật như thế nào”, cô Mehr nói sau lớp học ngày thứ 5. “Chắc chắn là có anh John ở đây là một kinh nghiệm thực tế cho các em học sinh thây rằng mỗi người đều có thể tạo nên một sự khác biệt”.

Sau đây mời các bạn xem một clip ngắn về anh John Bramblitt xem anh đã dùng tay để cảm nhận và vẽ như thế nào nhé.

Chúc các bạn một ngày thật sáng,

Hoàng Khánh Hòa, dịch từ Bramblitt.net

Về Tiền

Xin giới thiệu với các bạn và các em bài thứ hai trong loạt bài sử dụng các thành ngữ kết hợp với luyện nghe. Bài hôm nay có chủ đề về Tiền ( phần 1) có tựa đề Cần Gì Để Giàu ? (What Does It Take To Have A Rich Life?)

Mời các bạn nghiên cứu 26 thành ngữ về tiền. Để tiện cho mọi người đối chiếu, mình đã thêm phần chú thích nghĩa Tiếng Anh và Tiếng Việt sau bản Anh ngữ.

Bản Tiếng Anh : Jill Moss

Bản dịch Tiếng Việt: Vĩnh Thanh & Bảo Nguyên, Học sinh lớp 10

Và xin nhắc các bạn chớ quên download file audio của Voa Special English Program để luyện nghe qua link sau đây:

http://www.voanews.com/specialenglish/archive/2009-10/2009-10-01-voa2.cfm

TIỀN phần 1

Cần Gì Để Sống Giàu Tiền

Tôi nghĩ ở đâu mọi người cũng mơ ước mình có thật nhiều tiền. Tôi biết mình cũng thế. Tôi sẽ làm mọi chuyện để thu lợi kếch sù. Tôi muốn kiếm được thật nhiều tiền. Bạn có thể kiếm một khoản tiền lớn ở Mĩ bằng cách chơi xổ số. Người ta bỏ tiền mua vé số. Nếu số của bạn trúng, bạn sẽ nhận một số tiền rất lớn- thường là tiền triệu. Thắng xổ số là một vận may

Vài năm trước, Al bạn tôi thắng xổ số. Điều đó làm thay đổi cuộc sống anh ấy. Anh ta không có một gia đình giàu có. Anh ấy cũng không đẻ bọc điều bởi cha mẹ giàu có. Thay vì vậy, anh ta luôn thiếu tiền. Anh ấy không có nhiều tiền. Và anh ta chỉ kiếm tiền chút đỉnh– rất ít.

Đôi khi Al phải nhận trợ cấp, quà biếu từ gia đình và bạn bè anh ấy. Nhưng đừng hiểu lầm. Bạn tôi không phải là kẻ quịt nợ. Anh ta không phải loại người vay nợ không trả. Đơn giản là anh ấy chỉ hơi keo kiệt. Anh ta luôn cẩn thẩn với việc tiêu tiền. Thật ra, anh ta thường bủn xỉn. Anh ấy không thích tiêu xài. Tệ nhất là lúc anh ta khánh kiệt và không có đồng nào trong túi.

Một ngày nọ, Al gom góp lại vài đô để mua một tờ vé số. Anh ta nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ trúng lớn Nhưng số seri của anh ấy khớp và anh ta thắng. Anh ta đã trúng lớn. Anh ấy trúng rất nhiều tiền.

Al rất phấn khởi. Điều đầu tiên anh ấy làm là mua một chiếc xe mới đắt tiền. Anh ấy phung phí vào một thứ mà bình thường không thể mua.Và anh ta bắt đầu tiêu tiền vào những thứ không cần thiết. Anh ta bắt đầu phung phí. Cứ như thể là anh ta thừa tiền lắm của. Anh ta có nhiều tiền hơn là anh ta cần và tiền chẳng bao giờ giữ được lâu trong túi nên anh ấy đã tiêu rất nhanh.
Khi chúng tôi tập trung ăn uống ở nhà hàng, Al đều trả tiền. Anh ấy luôn thanh toán và trả hoá đơn. Anh ta bảo tôi tiền làm anh ta hưng phấn. Anh ta rất hạnh phúc.

Nhưng, Al đã tiêu quá nhiều tiền. Chẳng bao lâu bạn tôi lại cháy túi. Anh ta không còn tiền. Anh ta trở lại cảnh nghèo kiết xác. Anh ta đã tiêu đến đồng cuối cùng của mình. Anh ta thậm chí không để dành tiền dự trữ.Anh ta chẳng tiết kiệm tí tiền nào.

Tôi thừa nhận tôi thương hại bạn mình.Anh ta có đủ tiền để sống như một vị vua.Thay vì vậy, anh ta trở lại cuộc sống nghèo nàn –có rất ít tiền.Vài người sẽ nói anh ta tiêu ít thì chi ly, tiêu nhiều vung tay quá trán. Anh ta rất chi li trong chi tiêu những chuyện nhỏ mà vung tay cho các chuyện lớn quan trọng.

I think people everywhere dream about having lots of money. I know I do. I would give anything to make money hand over fist. I would like to earn large amounts of money. You could win a large amount of money in the United States through lotteries. People pay money for tickets with numbers. If your combination of numbers is chosen, you win a huge amount of money – often in the millions. Winning the lottery is a windfall.

A few years ago, my friend Al won the lottery. It changed his life. He did not have a rich family. He was not born with a silver spoon in his mouth. Instead, my friend was always hard up for cash. He did not have much money. And the money he did earn was chicken feed – very little.

Sometimes Al even had to accept hand-outs, gifts from his family and friends. But do not get me wrong. My friend was not a deadbeat. He was not the kind of person who never paid the money he owed. He simply pinched pennies. He was always very careful with the money he spent. In fact, he was often a cheapskate. He did not like to spend money. The worst times were when he was flat broke and had no money at all.

One day, Al scraped together a few dollars for a lottery ticket. He thought he would never strike it rich or gain lots of money unexpectedly. But his combination of numbers was chosen and he won the lottery. He hit the jackpot. He won a great deal of money.

Al was so excited. The first thing he did was buy a costly new car. He splurged on the one thing that he normally would not buy. Then he started spending money on unnecessary things. He started to waste it. It was like he had money to burn. He had more money than he needed and it was burning a hole in his pocket so he spent it quickly.
When we got together for a meal at a restaurant, Al paid every time. He would always foot the bill, and pick up the tab. He told me the money made him feel like a million dollars. He was very happy.

But, Al spent too much money. Soon my friend was down and out again. He had no money left. He was back to being strapped for cash. He had spent his bottom dollar, his very last amount. He did not even build up a nest egg. He had not saved any of the money.
I admit I do feel sorry for my friend. He had enough money to live like a king. Instead, he is back to living on a shoestring — a very low budget. Some might say he is penny wise and pound foolish. He was wise about small things, but not about important things.

WORDS AND THEIR STORIES, in VOA Special English, by Jill Moss

NOTES

1. make money hand over fist: make big profits vớ bở, thu lợi kếch sù, kiếm thực nhiều tiền
2. lotteries: xổ số
3. a windfall: a large amount of money you get when you are not expecting it: của trời cho, của trên trời rơi xuống; vận may bất ngờ
4. born with a silver spoon in his mouth: to have advantages because you come from a rich family: giàu từ trong trứng giàu ra, sinh ra có của ăn của để
5. hard up: not having enough of something: thiếu hụt, cạn túi, hết tiền
6. chicken – feed: an amount of money that is too small to be satisfactory: món tiền nhỏ.
7. hand-outs: food, money or clothes given free to a needy person: của biếu, của bố thí.
8. deadbeat: someone who tries to avoid paying money that they owe: kẻ quịt nợ
9. pinched pennies: unwilling to spend money, mean, misery : keo kiệt,
10. cheapskate : someone who does not like to spend money: người bủn xỉn
11. flat broke: having no money at all: khánh kiệt
12. scraped together: succeed in getting enough of something, especially money, by making a lot of effort: gom góp, góp nhặt từng đồng
13. strike it rich: suddenly become rich: trúng mánh,
14. hit the jackpot: win the most important prize in a competition: trúng độc đắc
15. splurged: spent money freely: tiêu xài thoải mái
16. have money to burn: have sp much money that one can spend it freely: lắm tiền của.
17. burning a hole in his pocket: spending money quickly and extravagantly: tiêu rất nhanh.
18. foot the bill: be responsible for paying the cost of something: thanh toán hóa đơn, chi trả tiền.
19. pick up the tab: pay for something: thanh toán, trả tiền
20. feel like a million dollars: feel very good: cảm thấy hạnh phúc
21. down and out again very poor: lại túng tiền
22. strapped for cash: thiếu một ít tiền mặt
23. bottom dollar; the very last dollar: đồng bạc cuối cùng
24. nest egg: an amount of money saved over a long period to use in the future: tiền dành dụm
25. on a shoestring: using or having a very small amount of money: có rất ít tiền, nghèo kiết xác.
26. penny wise and pound foolish: not willing to spend small amounts of money, but likely to spend large amounts in a stupid way: chuyện nhỏ thì chi ly, chuyện lớn vung tay quá trán

Hãy là người phụ nữ như thế

Chào các bạn,

Hôm nay mình xin giới thiệu với các bạn một clip ngắn gọi là “Be That Woman” nhấn mạnh vai trò quan trọng của người phụ nữ trong xã hội. Clip này được xây dựng dựa trên hai “tiền đề” được biết đến rộng rãi:

Nếu bạn đầu tư vào một người phụ nữ hay một cô gái, khoản đầu tư đó đem lại lợi ích cho tất cả.
~If you invest in a woman or girl, the investment benefits all.

Nếu bạn đầu tư vào một cô gái, cô ấy sẽ làm những điều còn lại.
~If you invest in a girl, she will do the rest.

Clip này thuộc chương trình vận động của tổ chức Washington Area Women’s Foundation nhằm tăng cường trao quyền và giúp đỡ cho hơn 300,000 phụ nữ ở khu vực thủ đô Washington, Mỹ.

Các hoạt động chính của tổ chức này bao gồm:

– mở rộng hoạt động từ thiện do phụ nữ đảm trách
– tăng cường các hoạt động từ thiện giúp thay đổi cộng đồng
– cung cấp các khoản trợ cấp, các nguồn hỗ trợ hoạt động và kĩ thuật cho cộng đồng trong vùng, nhất là các phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập hoặc thất nghiệp
– đại diện cho tiếng nói của phụ nữ trong vùng

Ở Mỹ các tổ chức như thế này hoạt động rất mạnh, và các chương trình vận động của họ cũng bài bản. Ngoài liên tục cập nhật thông tin trên website, mỗi dịp vận động họ có thể in tờ rơi, các bumper sticker (miếng dán) để mọi người có thể dán lên xe ô tô hay bất cứ thứ gì mà mọi người đều nhìn thấy, các tranh ảnh, áp phích to vv…Các video clip là một cách để vận động qua mạng rất tốt.

Chúc các bạn một ngày vì phụ nữ 🙂

Hoàng Khánh Hòa

Một anh chàng làm nên bữa tiệc nhảy múa

Chào các bạn,

Chị Hạnh Nguyên hôm nay giới thiệu với chúng ta video nhảy múa tuyệt vời dưới đây.  Sau đây là giới thiệu của chị trên diễn đàn Usguide, diễn đàn hướng dẫn các bạn học sinh, sinh viên tìm kiếm học bổng du học ở Hoa Kỳ.

Hôm nay mình muốn chia sẻ với mọi người một clip ngắn khá thú vị. Clip này lúc đầu xem, mình có cảm giác hơi “xì tin” quá , nhưng xem hết mới thấy được ý nghĩa của nó.

“Just go for it wholeheartedly and people just might join you.” – Adam Wiese

Đây cũng là một yếu tố quan trọng trong leadership: How to make people follow you.

Mời các bạn cùng thưởng thức. 🙂

Sasquatch music festival 2009 – Guy starts dance party

Cảm ơn Hạnh Nguyên nhiều. 🙂

Chạy!
Thật thú vị quá. Khi xem video này, mình chợt nhớ tới hình ảnh anh Forrest Gump chạy liên tục liên tục liên tục.

Lúc đầu người ta tự hỏi anh ta chạy vì cái gì? Chạy vì hòa bình thế giới? Chạy vì bảo vệ động vật hoang dã? Chạy vì người Việt Nam?

Anh cứ chạy. Những viên đá trên đường phố tóe lửa vì lực ma sát mạnh với giày của anh. Quần áo anh lấm lem vì mồ hôi toát ra. Chẳng mấy chốc anh trở thành Robinson Crusoe với râu dài 🙂 Nhưng trên hết, xung quanh con người anh tỏa ra một thứ năng lượng diệu kỳ.

Mọi người chạy theo anh. Một anh tìm ý tưởng kinh doanh chạy theo anh, giới báo chí truyền thông chạy theo anh. Ông thợ cắt tóc ngó theo anh.

Lãnh đạo, họ thực sự là ai?

Không phải là biểu tượng ngồi  êm  đềm trên chiếc ghế đệm êm ngắm nhìn sự vật di chuyển, họ xắn giày xắn tất và nhảy múa. Họ là  tác nhân của thay đổi.

Chúc các bạn một ngày “be an agent of change”, 🙂

Hiển

Châm Ngôn Sống

Chào cả nhà,

Mình mới làm xong PPS này gồm các câu châm ngôn tốt cho cuộc sống nhân ái, tích cực, khôn ngoan.

Nhạc nền là bản nhạc New Age trong sáng, As Ye Lay in the Slumber, của Lisa Lynne.

Chia sẻ với các bạn.

Chúc cả nhà một ngày tươi sáng! 🙂

Bình an và Sức Khỏe,

Túy-Phượng
.

Xin click vào ảnh

Susan Boyle – Wild Horses của Rolling Stones

Chào các bạn,

Album “I dreamed a dream” của Susan Boyle hiện đang dẫn đầu Billboard 200, albumn bán chạy nhất tuần, tính theo số thu do công ty Nielsem SoundScan thống kê. Vượt qua cả My Christmas của Andrea Bocelli (2), Fearless của Taylor Swift (3).

Wild Horses là bản nhạc của Rolling Stone viết năm 1976 và là một trong những bản Susan Boyle đã hát trong kỳ thi Britain Got Talent 2009 vừa qua, dĩ nhiên với phong cách nhạc nhẹ, khác với cách hát rock và hoang dã của Rolling Stone.

Dưới đây chúng ta có video Wild Horses của Susan Boyle lấy từ albumn “I dreamed a dream” mới ra.

Và hai video của Rolling Stones, năm 1976 và năm 2006, để so sánh với Susan Boyle.

Lời bản nhạc theo sau các videos.

Mời các bạn thưởng thức.
.

Susan Boyle – Wild Horses: Susan sings The Stones’ ‘Wild Horses’, taken from her forthcoming debut album ‘I Dreamed a Dream’. Go to http://www.susanboylemusic.com for the latest news and features on Susan’s official website.

.

ROLLING STONES – Wild Horses (1976)

http://www.youtube.com/watch?v=KQx6YJnF7t8

.

Wild Horses – Rolling Stones live at Brazil 2006

.

Lyrics: Wild Horses

Childhood living is easy to do
The things you wanted I bought them for you
Graceless lady, you know who I am,
You know I can’t let you slide through my hands

Wild Horses,
Couldn’t drag me away,
Wild, wild horses,
Couldn’t drag me away…

I watched you suffer a dull, aching pain
Now you decided to show me the same
No sweeping exits or offstage lines,
Can make me feel bitter or treat you unkind

Wild Horses,
Couldn’t drag me away,Wild, wild horses,
Couldn’t drag me away…

I know I dreamed you a sin and a lie,
I have my freedom but I don’t have much time
Faith has been broken tears must be cried,
Let’s do some living after we die

Wild Horses,
Couldn’t drag me away,
Wild, wild horses,
We’ll ride them someday

Wild Horses,
Couldn’t drag me away,
Wild, wild horses,
We’ll ride them someday

Hoạt động của các NPOs ở Mỹ

Ở Mỹ, các tổ chức phi lợi nhuận (Non-Profit Organizations, gọi tắt là NPOs) phát triển rất mạnh như là một phần không thể thiếu trong quá trình xây dựng một xã hội dân sự tiên tiến và phát triển cộng đồng bền vững.

Theo thống kê của National Center for Charitable Statistics (NCCS), từ năm 1998 đến năm 2008, tổng số NPOs ở Mỹ đã tăng từ 1.1 triệu lên 1.5 triệu tức là tính trung bình cứ 220 người Mỹ thì có một tổ chức phi lợi nhuận. Năm 2007, các tổ chức từ thiện đã báo cáo 1.4 tỉ USD tổng doanh thu và 1.3 tỉ USD tổng chi phí. Trong số 1.4 tỉ USD doanh thu, 22% là từ các đóng góp, quà, và tiền tài trợ (grant), 67% là từ doanh thu dịch vụ, bao gồm thu từ phí và hợp đồng. Trong năm 2008, các tổ chức tôn giáo nhận số tiền đóng góp nhiều nhất, chiếm tới 34.7%, các cơ quan giáo dục đứng thứ 2 với 13.3% tổng doanh thu của các NPOs (con số này không bao gồm các khoản endowment – tiền hiến tặng).

Nhiều trường đại học tư ở Mỹ hoạt động dựa chủ yếu vào số tiền hiến tặng này. Ví dụ, đại học Harvard có tổng số endowment năm 2008 lên tới 36.5 tỉ USD.

Theo luật, các NPOs được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, nếu tổng số tiền nhận lớn hơn 25,000$ thì phải đăng kí với cơ quan thuế, nếu tổ chức nhỏ với tổng số tiền nhận dưới 5,000$ thì không phải đăng kí. Hai tổ chức phi lợi nhuận lớn nhất ở Mỹ hiện nay là Bill và Melinda Gates Foundation, với tổng số tiền tài trợ là 38 tỉ $, và Viện Y tế Howard Hughes với số tiền tài trợ khoảng 14.8 tỉ $.

Các NPOs được chia làm một số dạng chính:

Các tổ chức từ thiện (public charitities): bao gồm bệnh viện, bảo tàng, dàn nhạc, các trường tư, các tổ chức tôn giáo, trạm phát thanh và truyền hình, bếp ăn công cộng, các tổ chức cung cấp dịch vụ và giúp đỡ người dân.

Các quỹ (foundations): nhiều cá nhân, gia đình, doanh nghiệp và cộng đồng thiết lập các quỹ như là một cách để xúc tiến các chương trình có ích cho xã hội.

Phúc lợi xã hội (social welfare): tham gia chủ yếu vào các hoạt động thúc đấy ban hành luật, lobbying, và các hoạt động cổ động chính trị

Các tổ chức chuyên ngành và thương mại: bao gồm phòng thương mại, các hiệp hội thương mại, và các tổ chức khác xúc tiến thương mại hoặc các lợi ích ngành nghề của một cộng đồng, ngành hoặc nghề nào đó.

Hầu như bất cứ một ngành nghề, lĩnh vực nào ở Mỹ cũng có một vài tổ chức NPOs hoạt động, ví dụ như:

National Association of Consumer Advocates: Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng. Hiệp hội này là một tổ chức bao gồm hơn 1,000 luật sư trên khắp nước Mỹ, đại diện cho hàng trăm nghìn người tiêu dùng ở Mỹ là nạn nhân của các hoạt động kinh doanh lừa đảo hay độc quyền. Việc tham gia các tổ chức này cũng giúp cho các thành viên (là luật sư) tăng thêm hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của mình, chia sẻ thông tin, tạo network vv…

America’s Soup Kitchen: tổ chức phi lợi nhuận cung cấp các bữa ăn miễn phí cho người vô gia cư.

Higher Education Associations, Các hiệp hội trong giáo dục đại học và sau đại học: có khoảng hơn 30 hiệp hội, ví dụ như Hiệp hội các trường Y tá, Hiệp hội các Giáo sư, Hiệp hội các trường Luật vv…

US Chamber of Commerce, Phòng Thương Mại Mỹ: là hiệp hội thương mại lớn nhất thế giới đại diện cho 3 triệu doanh nghiệp Mỹ, trong đó 96% là các doanh nghiệp nhỏ dưới 100 nhân viên với các hoạt động chính như phát triển thị trường vốn, luật, giáo dục, năng lượng, cơ sở hạ tầng, thương mại, công đoàn, sở hữu trí tuệ vv…Khi là thành viên của hiệp hội, ngoài đóng phí hàng năm, các doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều lợi ích như: tham gia các cuộc hội thảo hàng kì, tiếp cận các nguồn thông tin về lĩnh vực hoạt động của mình, các khóa đào tạo, mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp khác, hưởng chiết khấu từ một số dịch vụ do các công ty thành viên khác cung cấp vv…

Các tổ chức phi lợi nhuận không có nghĩa là không được phép hoạt động vì lợi nhuận.

Theo quy định, họ hoạt động như một tổ chức lợi nhuận khác, có thu chi và một tổ chức hoạt động hiệu quả sẽ có “lãi” (doanh thu lớn hơn chi phí) cuối năm hoạt động. Điểm khác với các tổ chức lợi nhuận là cách thức mà số lãi này được phân chia. Đối với các tổ chức lợi nhuận, lãi sẽ được tính vào cổ phần và chia cho các cổ đông. Ngược lại, các NPOs không được phép chia lãi cho các cổ đông, thành viên sáng lập mặc dù được phép trả lương, thưởng cho ban điều hành, tùy mức độ hoạt động hiệu quả của mình.

Ban điều hành (Board of Director hoặc Board of Trustees), chịu trách nhiệm đảm bảo hoạt động của tổ chức tuân thủ luật pháp và sứ mệnh hoạt động của tổ chức, quản lý tài sản, gây quỹ. Ngoài ra còn có các nhóm kiểm soát tư nhân (watchdog, cũng là NPOs) kiểm soát hoạt động của các tổ chức NPOs khác. Báo chí và truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát hoạt động của các tổ chức này.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của một vài cá nhân, hay một cộng đồng, các hoạt động của NPOs góp phần vào đắp những “lỗ hổng” trong đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội mà các cơ quan nhà nước không thể kiểm soát hết. Hoạt động của NPOs cũng góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của các nhóm thiểu số trong xã hội, chống lại các hoạt động thương mại mà các doanh nghiệp lớn áp đảo và gây ảnh hưởng tới chính quyền.

Các NPOs đại diện cho tiếng nói của công dân góp phần vào quá trình xây dựng một xã hội dân chủ và đem lại bình đẳng cho mọi người.

Hoàng Khánh Hòa

Jean-Claude Bonno beatboxing

Chào các bạn,

Hôm nay cuối tuần nghe cái gì là lạ cho vui. 🙂

Beatboxing là nghệ thuật dùng miệng để giả làm các nhạc cụ khác, bên cạnh hát đúng tiếng mình hay giả tiếng người khác. Trước đây chúng ta có post “Natually 7 beatboxes cả dàn nhac” cho ban Naturally 7. Nhưng trong video sau đây, chỉ một mình nghệ sĩ người Pháp Jean-Claude Bonno, với sự giúp đở của một cây guitar thùng, beatboxes đủ mọi loại ban nhạc, từ ban nhạc dân ca Mỹ với đàn fiddle, banjo, guitar điện và giọng hát dân ca, đến ban nhạc nhà quê Pháp với harmonia, accordion, guitar, trống, đến ban nhạc jazz với saxophone, trống…

Thiên tài beatboxing. Nhắm mắt để nghe, các bạn sẽ thấy Jean-Claude Bonno beatboxes trung thực đến mức nào.

Sau video của Jean-Claude Bonno, là video Naturally 7, xem lại để so sánh.

Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ. 🙂

Mến,

Hoành
.

Jean-Claude Bonno beatboxing

.

Naturally 7

Tuần Lễ Văn Hóa Du Lịch Buôn Ma Thuột Daklak Năm 2009 : Huyền Thoại Voi Tây Nguyên

Tuần lễ Văn Hóa Du Lịch Buôn Ma Thuột – Daklak năm 2009 với chủ đề “Huyền Thoại Voi Tây Nguyên” được tổ chức từ ngày 16-12-2009 đến ngày 20-12-2009 tại huyện Buôn Đôn và Krông Bông, thành phố Buôn Ma Thuột. Đây là một sự kiện quan trọng kỷ niệm 105 năm hình thành và phát triển thành phố, tiến tới 35 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột, đồng thời hưởng ứng các hoạt động chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Tuần Lễ là cơ hội tuyệt vời nhằm giới thiệu những thành tựu, tiềm năng phát triển du lịch văn hóa sinh thái của tỉnh, tôn vinh giá trị văn hóa Voi Tây Nguyên, Không Gian Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên – được tổ chức UNESCO công nhận là Di Sản Phi Vật Thể Thế Giới, và sản phẩm cà phê Buôn Ma Thuột nổi tiếng thế giới nhằm thu hút đầu tư, xúc tiến các hoạt động liên doanh thúc đẩy du lịch Daklak phát triển nhanh và bền vững, cũng như góp phần xây dựng Daklak trở thành trung tâm kinh tế – xã hội của cả vùng Tây Nguyên.

Trong suốt Tuần Lễ Văn Hóa Du Lịch sẽ có nhiều hoạt động được tổ chức như Lễ Hội Lửa, Lễ Cúng Bến Nước (là hai lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa của người Tây Nguyên được thể hiện lại nguyên bản), Lễ Hội Đường Phố, Trại Sáng Tác Điêu Khắc Gỗ Tây Nguyên, Đêm Ca Nhạc Thời Trang, Triển Lãm Nghệ Thuật Tây Nguyên Xưa và Nay, Liên Hoan Ẩm Thực Vùng Miền giới thiệu những nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực Tây nguyên, Trò Chơi Dân Gian, chương trình Về Nguồn, chương trình du lịch Tây Nguyên xanh khám phá các ngọn thác kỳ vỹ nhất Tây Nguyên, du lịch Dã Ngoại kham phá rừng Namka – Buôn Triết – Hồ Lak… và một hội chợ triển lãm văn hóa – du lịch – thương mại dầu tư với hơn 300 gian hàng.

Đêm khai mạc tuần lễ văn hóa sẽ được tổ chức tại Quảng Trường Thành Phố, các nghệ sỹ vùng Tây Nguyên sẽ có 8 phút đánh chiêng nguyên bản. Hai đại diện tiêu biểu cho đồng bào Tây Nguyên là Y Moan và Siu Blck sẽ hát các bài hát về Tây Nguyên đã nổi tiếng trong thời gian qua.

THE CULTURE AND TOURISM WEEK BUON MA THUOT – DAKLAK 2009: CENTRAL HIGHLANDS ELEPHANT LEGENDS

The Culture and Tourism Buon Ma Thuot – Daklak 2009 tittled “Central Highlands Elephant Legends” is going to be held from 16th to 20th December, 2009 at Buon Don and Krong Bong Districts, and Buon Ma Thuot City. This is a significant event celebrating 105 years of Buon Ma Thuot’s establishment and development, heading towards Buon Ma Thuot 35th victory anniversary and responding to welcoming activities for Thang Long – Hanoi 1000th anniversary in the mean time.

The Week will be a wonderful opportunity to introduce the province’s achivements and potentials for cultural and eco-tourism developments; honor cultural values of Central Higlands Elephant, the Space of Gong Culture in the Central Higlands recorded as World Intangible Heritage by UNESCO, and world-famous Buon Ma Thuot coffee products with a view to luring investments and promoting cooperation activities which boost Daklak’s tourism to develop in a rapid and sustainable way, as well as contribute to build Daklak as a socio-economic center of the whole Central Highlands.

During the Culture and Tourism Week, many activities will also be celebrated, such as Fire Ceremony, Watering Place Ceremony (these two ceremonies deeply bear Central Highlanders’ cultural characters that will be originally featured), Carnaval Festival, Central Highlands Sculpturing Camp, Fashion and Music Night, Exhibition of Artistic Photographs on Past and Present Central Higlands, Regional Cuisine Festival introducing special traits in Central Highlands food cultures, Folk Games, Back to The Origin programs, and tour programs of Green Central Highlands to explore the most impressive waterfallls in the region, and Trekking to discover Namkar Reserve – Triet Village – Lak Lake…, together with an Exhibition Fair of Culture – Tourism – Trade – Investment with more than 300 stands.

The cultural week’s opening night will be celebrated at the City Square, and Central Highlands artists will have 8 minutes to play Chieng originally. Y Moan and Siu Black, two typical represetatives for their hill-tribes, will sing songs about Central Higlands that have been famous over the past time.

Translated by Quan Jun

Nguyễn Hữu Vinh – Kẻ lưu đày trên đảo xanh

Như một kẻ “ bị lưu đày trên đảo xanh”, Hữu Vinh luôn hướng về quê nhà với trái tim của chàng trai 18 tuổi- tuổi của ngày rời xa người mẹ thân yêu, xa tiếng chuông chùa Thiên Mụ, xa con đường đến trường xuôi theo giòng Hương quen thuộc đến chân trời mới lạ để rồi bằn bặt 18 năm sau mới có cuộc đoàn viên rưng rưng nước mắt trên quê xưa.

Đầy trong trái tim 18 ấy là làng Xuân Hòa hiền hòa bên giòng Hương xứ Huế với những khu vườn mướt xanh cây lá, là tuổi thơ vô tư trong trẻo với nhũng trò chơi hồn nhiên con trẻ, là tuổi mới lớn nhiều ước vọng thấp thoáng bước chân chim của cô hàng xóm trong giấc mơ. Và nhiều hơn hết, rõ hơn hết  là hình ảnh người mẹ tảo tần,  suốt ngày hết bếp lại vườn, hết chợ trên lại về chợ dưới. Tất bật vậy nhưng nụ cười không thiếu trên môi bởi đàn con khôn lớn từng ngày, học hành giỏi giang đã là nguồn vui vô hạn. Ngày tiễn Vinh sang xứ người, mạ Vinh đinh ninh trong dạ rằng đó chỉ một cuộc xa năm năm không hơn. Nào ngờ đất nước biến động. Những tưởng không còn gặp lại đứa con trai, nước mắt rơi gần  bằng mưa Huế khiến bà mỏi mòn để khi trùng phùng cứ ngỡ không phải là sự thật. Và hình ảnh mạ ấp ủ suốt 18 năm đã trở thành tượng đài trong tâm hồn  khiến Vinh bội phần thương mạ khi gặp lại người dung mạo đã khác xưa. Từ đó Vinh nguyện sẽ dành cho mạ những gì tốt đẹp nhất mình có thể. Và  hạnh phúc lớn nhất của anh là mỗi năm một lần bay về Xuân Hòa quanh quẩn bên mạ dăm bữa nửa tháng.

Cũng đầy trong trái tim mười tám tuổi ấy là thanh điệu bỗng trầm, là từ ngữ mộc mạc của tiếng Huế. Biết bao lần giữa tấp nập ngược xuôi  trên xứ người, anh ngỡ như nghe thấy tiếng reo vui “Ê! Thằng Vinh nớ! Mi đi mô rứa?” của bạn bè ngày xưa hay nhỏ nhẻ “Anh ni dị ghê, ngó người ta hoài” của cô hàng xóm. Hóa ra đấy chỉ là mộng tưởng. Anh khát tiếng mẹ, khát âm giọng quê nhà. Nỗi khát ấy đã giúp Vinh giữ mãi âm sắc Huế, tiếng Huế dù sống giữa cộng đồng nói tiếng Hoa hoặc tiếng Anh, khiến anh em bạn bè khâm phục cảm mến. Người cảm động và tự hào nhất không ai khác là mạ của Vinh. Tôi nghĩ rằng hẳn Vinh đã phải trò chuyện với mình hằng ngày bằng tiếng VIỆT HUẾ mới được như vậy, vì không ít người xa xứ vài năm đã không còn thuần giọng huống chi Vinh đã  hơn ba mươi năm không mấy khi được nghe được nói tiếng mẹ đẻ, lại là tiếng Huế trên đất người. Taiwan – nơi gia đình Vinh ở không phải là thành phố nhiều người Việt sinh sống (khác với California hay Huston bên Mỹ). Anh tâm sự rằng để được gặp đồng hương, thỉnh thoảng cuối tuần anh phải lái xe hơn hai trăm cây số đi và về. Mới biết trong muôn vàn nỗi khổ có cả nỗi thèm tiếng quê nhà.

Trong trái tim ấy,  miền trung với Huế thơ mộng; nước Việt với non sông gấm vóc luôn hiện hữu. Điều này được nói lên bằng tên hai đứa con của anh với người bạn đời Đài Loan: Nguyễn Trung Việt- Nguyễn Hoài Nam. Đặt tên con cũng là một cách vừa tự dặn mình vừa để nhắc nhở thế hệ tiếp nối đừng bao giờ quên nguồn cội. Mỗi lần cả gia đình cùng về thăm quê, anh đều đưa vợ con thăm nhà thờ họ, thăm khu mộ tổ. Không cần nhiều lời, việc làm này đã thay anh nói với con về những gì chúng cần phải biết từ quá khứ, hiện tại và cả tương lai.  Khó có thể nói trước điều gì sẽ đến với mỗi chúng ta trong cuộc đời này. Riêng với Vinh anh biết đường về quê nội của thế hệ thứ hai, thứ ba trong gia đình nhỏ của anh  gần đấy mà cũng xa thẳm bởi anh không thể để lại cho con – huống chi cho cháu – trái tim mười- tám – tuổi được kỷ niệm ấu thơ ủ lửa nhớ thương, càng không thể chặn guồng quay của cuộc sống được nạp bằng nhiên liệu tư duy hiện đại. Điều này day dứt anh không ít. Có lẽ đây là lý do chính khiến anh thấy mình như là kẻ bị lưu đày.

Và kẻ lưu đày ấy, sau nhiều lần về quê quanh quẩn bên mạ, đã ngộ ra rằng mình phải làm gì đó ở xứ đã nhận mình làm công dân  để vừa nguôi ngoai nhớ thương vừa gắn đời mình với quê hương đất nước bằng những gì mình có được từ trí lực  và ý chí bền bỉ trên xứ người.

Taiwan có thư viện lớn nơi lưu giữ một ít thư tịch cổ, sách cổ của Việt Nam; về Việt Nam. Đặc biệt là sách lịch sử, văn học, tôn giáo. Với vốn chữ Hán phong phú , từ 1994 anh  bắt tay nghiên cứu Hán Nôm. Việc đầu tiên là khảo đính Việt Sử Lược – cuốn sử biên niên viết bằng chữ Hán, được biên soạn vào thời Trần – sau đó là An Nam Chí Lược – cũng là một cuốn sử xưa cùng thời. Là một chuyên gia computer thông thạo chữ Hán, anh còn phát huy thế mạnh của mình ở cả hai phương diện bằng cách góp công sức với Taiwan Chinese  Buddhist Electronic Text Association trong việc hoàn thành bản điện tử bộ Đại Tạng Kinh (Tripitaka). Ở độ tuổi 40, với  công việc chính là nghiên cứu Opto-electronics và computer electronics đây là một việc làm đáng khâm phục.

Và như một cơ duyên, sau một lần về Việt Nam, qua nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương  anh có được  bản thảo chữ Hán trọn bộ Lộc Minh Đình Thi Thảo gồm 197 bài thơ của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, một đại quan triều Nguyễn và là  thi nhân  nổi tiếng của đất thần kinh. (Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương là con gái của thi nhân). Ở Taiwan anh đọc kỹ và xúc động với hình ảnh quê hương đất nước hiện rõ  qua mỗi địa danh quen thuộc, với cảm xúc đa chiều của tác giả bằng ngôn ngữ cô đọng. Chưa từng làm thơ, lại là thơ chữ Hán nhưng ngôn ngữ, hình ảnh và nhất là thi tứ dạt dào đầy ắp tình người phản ánh tâm hồn, trí tuệ và cả nhân sinh quan của một tao nhân quyền quý, lập tức thu hút tâm trí anh, khiến anh khó dứt ra được. Tạm gác việc khảo đính hai bộ sách quý, anh chuyên tâm vào dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo.

Trừ khi  làm việc chuyên môn, hầu hết thời gian còn lại được anh dành cho việc khảo dịch, tra tìm các điển cố, điển tích và khó hơn hết là chuyển sang thơ Đường luật. Để thoát lẽ thường “dịch là phản” (Traduire, c’est trahir), anh đã dốc tâm tìm hiểu thêm  luật thơ (vốn không thuộc lĩnh vực hiểu biết sâu rộng của anh),  chọn lọc từ ngữ để vừa trung thành với  ý tứ vừa  gần gũi với nguyên bản mà vẫn bảo đảm  nhạc tính. Có thể nói việc dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo trở thành niềm đam mê lạ lùng của Hữu Vinh và anh hoàn thành trọn vẹn công trình sau bốn năm miệt mài. Chưa bằng lòng với những gì mình đã làm, anh dành thêm nhiều thời gian chỉnh sửa, hiệu đính và sau đó chuyển thành bản điện từ để cuối cùng bản dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo được Institude of Vietnamese Studies, California, USA, xuất bản cuối năm 2008.

Với phong cách làm việc của một nhà khoa học, Hữu  Vinh đã chú thích, chú giải một cách cặn kẽ các điển tích, điển cố vốn nhiều trong thơ Đường nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn. Để làm việc nầy anh đã nghiên cứu gần 60 tài liệu trong và ngoài nước- phần lớn là  sách xuất bản ở Taiwan. Đích thân anh trình bày  bản dịch. Mỗi bài thơ ngoài bản dịch theo lối thơ Đường và bản in chữ Hán còn có bản chụp thủ bút nguyên bản chữ Hán của tác giả, phần chữ Hán được viết lại bởi người dịch,  và bản dịch  văn xuôi. Hẳn rằng những ai có  được bản dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo trong tay đều sẽ không thể phủ nhận đây  là công trình dịch thuật văn học quý báu với tính khoa học rất cao.  Điều thú vị khác cần nói đến  trong bản dịch này là  nhiều bài thơ nổi tiếng của  tác giả Đường thi trong nền  văn học Trung Quốc như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu, Vương Duy…đều được Vinh dịch kèm  trong phần chú thích. (Người viết bài này rất tâm đắc gọi đây là công trình 2 trong 1 ( cuốn )  hoặc 7 trong 1 ( trang ). ) Như vậy ngoài việc dịch LMĐTT, dịch thơ Đường cũng  trở thành đam mê của anh; nhờ đó anh đã hoàn thành một tuyển tập nhỏ gồm 50 bài thơ Đường chọn lọc với chủ đề về tình quê và tình bạn.


Việc dịch LMĐTT đem lại hứng thú cho anh, ngoài ra còn đem đến với anh những cộng sự đắc lực và cả tri âm. Đó là người bạn đời của anh, là các con anh. Họ không những động viên khích lệ tinh thần anh mà còn góp sức với anh một cách cụ thể. Và đó là Hoài Hương, cô gái Đà Lạt trẻ tuổi nhưng giỏi giang, là tiến sĩ Thái Kim Lan – đồng hương Xuân Hòa; người rất yêu Huế và đã  góp phần giới thiệu nghệ thuật tuồng Huế đến với thế giới qua vở Đông Lộ Địch ( cũng của Ưng Bình Thúc Giạ Thị ). Họ tiếp thêm cho anh niềm hứng thú, sự hăng say trong công việc, từ đó anh tham gia nhóm biên soạn bộ Tự điển chữ Nôm trích dẫn (TĐCNTD) (gồm Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê văn Đặng, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích và Trần Uyên Thi ) nhằm mục đích giúp các thế hệ  người Việt có điều kiện nghiên cứu, chuyển sang quốc ngữ các tác phẩm văn học Việt Nam viết bằng chữ Nôm, hiện đang tản mát hoặc được xếp kỹ trong các thư viện trên thế giới. Cuốn tự điển chữ Nôm này vừa được Institute of  Vietnamese Studies xuất bản và ra mắt tại California vào đầu tháng 4, tại Paris trong tháng 5, 2009 vừa qua.

Cũng như LMĐTT, TĐCNTD được soạn thảo công phu. Ngoài phần chữ Nôm (đã từng xuất hiện trong các tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm như Hồng Đức quốc âm thi tâp, truyện Kiều hay Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc…), phiên âm, còn  có thêm phần trích dẫn có chữ Nôm với từng từ loại khác nhau (vì vậy mà có tên TĐCNTD). Vẫn thế, suốt đêm sau giờ làm việc anh lại miệt mài. Thỉnh thoảng – cũng như trước đây với thơ Đường hoặc LMĐTT – theo đề nghị của tôi anh email giới thiệu   vài trang anh đang chịu trách nhiệm khiến tôi vô cùng cảm phục.

Ngoài các công trình lớn trên, anh còn tham gia giới thiệu chùa Huế trên tạp chí Nhớ Huế hoặc các website của Phật giáo và cùng nhiều người khác viết sách bút ký “Sông Hương ngoài biên giới”.

Có thể nói trái –  tim –  mười – tám – tuổi trong người đàn ông sinh 1955 Hữu Vinh đang đập mạnh mẽ chuyển  giòng máu văn hóa, văn học Việt, ngôn ngữ Việt đến với người Việt trong nước cũng như ở hải ngoại và hòa vào thế giới. Cầm gươm cầm súng chống lại ngoại xâm là yêu nước. Góp phần tỏa rạng  nét đẹp trí tuệ, tâm hồn Việt, văn hóa Việt cũng là yêu nước vậy.

Không ít người tự chia đời mình thành nhiều mốc tính theo tuổi tác hoặc thành bại, Hữu Vinh – không chia mà ngẫu nhiên có ba lần mười tám: xa xứ khi vừa qua tuổi mười tám, mười tám năm học tập; định danh trên đất người để rồi lần đầu tiên về thăm mạ và  đến nay là mười tám năm sau ngày sum họp ấy anh hướng về quê nhà bằng công việc của một con ong cần mẫn trong vườn hoa Hán Nôm. Có thể nói ba mốc mười tám này đối với anh tràn đầy ý nghĩa. Thời gian chất chồng lên mỗi người bao nỗi khiến nguời vui thì ít kẻ buồn lo lại nhiều, nhất là với những ai không may mắn được sống trên chính quê hương mình. Nhưng  với “kẻ lưu đày” Hữu Vinh- người đang “đốt” ngày tháng được nhân lên bằng niềm  thương mạ nhớ quê  thành nguồn năng lượng mạnh mẽ, vô hạn để đọc và biên khảo các thư tịch Việt cổ – thời gian sẽ là người ủng hộ tích cực cho các công trình đang dang dở. Hy vọng rằng anh sẽ tiếp tục với Việt Sử lược và An Nam Chí Lược để giới thiệu một cách hoàn chỉnh hai bộ sách quý giá này và nhiều nhiều bộ sách giá trị khác nữa đang tàng ẩn xứ người.

(Tặng N.H Vinh)
….
Bận lòng chi gặp gỡ chia ly
Hoa của đời hãy nâng niu gìn giữ
Băn khoăn chi muôn trùng cách trở
Trái đất luôn là một chấm tròn

Xin hãy nói thoả thuê tiếng mẹ
Kho ngôn từ giàu có vẫn ắp đầy
Bến nước hàng cau, ngõ nhà người ấy
Tiếng chuông chùa ướt đẫm ánh trăng.

Xin hãy nghe thoả thuê giọng Huế
Răng rứa mô ri ríu rít dễ thương
Đơn độc xứ người có ai thỏ thẻ
Để dịu lòng , để vươn dậy , bâng khuâng…

(BMT, 7- 2009)
Tôn Nữ Ngọc Hoa

ĐCN: Bài này đã đăng ở yahoovanhoaviet.com và tạp chí Sông Hương

Con trai của rừng Xa Nu

Con đường năm cây số từ trung tâm xã về làng Kon Riêng lúc chạy vòng theo ven hồ Đac Noa, khi lại men theo những thuở ruộng lúa nước, có chỗ lại luồn dưới bóng xanh mát của rừng xà nu. Nắng trải chiếc chiếu vàng lên mặt hồ, mặt ruộng lung linh, nhưng chỉ lọt thành những tia sáng xanh trong đám lá xà nu dày đặc. Dưới tán rừng tiếng ong bay vi vu hoà trong lời xạc xào của gió, lẫn với tiếng suối róc rách chảy. Thứ hương lá, hương nhựa, hương hoa đặc biệt của xanu nhè nhẹ lan trong không gian. Cũng lạ cho cây xanu, chỉ mọc ở những triền núi dốc đứng cằn cỗi, có khí hậu khắc nghiệt, nhưng rễ cắm sâu vào lòng đất, san sát bên nhau thân nào cũng vươn thắng, lá biếc đến tưởng như không còn cách gì xanh hơn được nữa.

Y Sao từ uỷ ban xã về, nét mặt tươi rói, bước chân đi như chạy. Mọi ngày đi dạy về cô còn lang thang chán, hết ngắt những ôm cúc dại mọc đầy ven đường, lại ngồi hàng giờ trên hòn đá hình đầu cá giữa suối, dầm chân trong nước mát mà lẩm nhẩm hát “Chim Jil tắm bên sông DakBla…” Nhưng hôm nay Y Sao muốn đi cho nhanh về đưa thư cho A Siêng. Thư của A Manh bạn anh ấy gửi từ Buôn Ma Thuột. Trong những đêm ngồi trong bếp lửa, A Siêng thường kể cho anh chị, các cháu và bạn bè nghe những chuyện hồi học trường nội trú dân tộc, trường đại học Tây Nguyên, về những người bạn cùng học ở Dak Lak. Trong đó có A Manh. Với những người chưa bao giờ đi xa như ở làng Kon Riêng này, những chuyện A Siêng kể thật hấp dẫn. Còn Y Sao biết những đêm kể chuyện như thế, A Siêng thường mất ngủ. Ký ức với anh bây giờ sao mà xa vời vợi…Không biết A Manh nói gì, nhưng có thư chắc là A Siêng vui lắm. Anh ít khi nhận được thư từ của ai, kể từ vài năm về đây ở với anh chị. Từ lúc nào không biết, Y Sao đã vui với cái vui của A Siêng, hiểu nỗi buồn của A Siêng thế nhỉ? Cô gọi to ngay từ chỗ cây xoài quẹo vô sân:

– A Siêng! A Siêng à! Có thư của anh A Manh này.

A Siêng quýnh cả hai chân, nhảy bổ từ trong nhà ra , giật lấy lá thư trong tay Y Sao:

– Đâu! Đâu! Đưa coi đi.

Nhưng đọc xong rồi A Siêng thẫn thờ ngồi thụp ngay xuống sân, nét mặt bỗng trở nên đờ đẫn xa vắng dần. Y Sao cuống lên:

– Chị Y Mải ơi, A Siêng làm sao đây?

Chị gái A Siêng chạy vội ra hối hả giục Y Sao cùng đưa A Siêng vô nhà. Cứ như người bị ma lai bắt lạc mất hồn, anh để mặc hai người dìu như kéo đi, đặt lên chiếc giường nhỏ ở góc nhà. Chị Y Mải bảo Y Sao đọc xem lá thư viết gì. Thì ra A Manh dặn A Siêng làm gấp hồ sơ gửi sang trước, rồi người từ từ qua sau để cơ quan phỏng vấn và thử việc.

– Ôi, việc mừng thế này còn gì? Không đi làm bác sĩ cũng được chứ sao. Miễn được vô nhà nước là tốt rồi. Sao A Siêng biết tin này lại buồn thế hả chị Y Mải?

Y Sao ngơ ngác, hết nhìn chị lại nhìn sang A Siêng đang nằm thiêm thiếp nhắm mắt như ngủ. Mãi mà chẳng hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra. Chị Y Mải buồn buồn nói nhỏ:

– Y Siêng tủi cái đầu đó mà. Năm ngoái A Manh cũng đã một lần gửi thư. Nó nói hỏi thăm hoài mới biết A Siêng về đây. Lại hỏi A Siêng đi làm chưa? Có muốn làm việc ở chỗ nó không, để nó nói thử với thủ trưởng, vì bên đó đang cần người. Trúng lúc cuối mùa không còn hột gạo mà ăn. Cả ngày cả nhà đi đào củ trong rừng, nên A Siêng đâu có gửi trả lời cho A Manh. Bây giờ cũng lại giống như hồi đó thôi.

Bỗng hai chị em giật mình thấy A Siêng nhỏm dậy, đập mạnh trán vô tường mấy cái. Chạy vội đến bên, cả hai thấy A Siêng miệng cắn chặt cái chăn, hai bàn tay quắp lại, nước mắt chảy tràn xuống gối.

– A Siêng à, đừng buồn thế em! Mình không đi sang đó được thì thôi. Chắc A Manh nó cũng hiểu mà.

Chị Y Mải vỗ về em. Y Sao nhẹ nhàng vuốt lên tay A Siêng, lần lần gỡ dần những ngón tay đang co quắp cứng ngắc ra. Dưới tác động tình cảm của hai người phụ nữ, thân hình A Siêng lỏng dần, giãn dần ra rồi chợt ngủ thiếp đi. Anh rể cũng vừa về tới, chị Y Mãi vội vàng kể lại cho chồng nghe. Cả ba ngồi quanh bếp lửa, buồn cho A Siêng mà không biết nói gì. Hồi lâu Y Sao đứng dậy:

– Thôi em về đây, chào anh chị.

Nhìn theo bước chân cô gái, chị Y Mãi khẽ thở dài. Chuyện Y Sao thương thầm A Siêng mấy năm nay,ở Kon Riêng ai cũng biết.Hai bên nhà cũng ưng bụng cho hai người thành đôi. Nhưng không biết vì sao A Siêng cứ như tránh né. Mỗi lần có ai nói đến chuyện này, lại im lặng bỏ đi chỗ khác. Xem ý thì không phải thờ ơ với Y Sao đâu, nhưng im im thế miết, ai mà biết ra thế nào chớ. Anh rể mở nắp chiếc nồi trên bếp, ấn thử coi củ đã chín chưa, rồi đậy lại, bỏ thêm mấy cành củi vô bếp, thủng thỉnh nói một mình nghe:

– Tội nghiệp cho cậu quá! Từ đây đi xe ôm ra huyện, từ huyện xuống thị xã Kon Tum rồi qua Buôn Ma Thuột. Cả đi về cũng gần hai trăm nghìn đồng tiền xe. Chưa nói tiền ăn uống nữa chớ. Biết lấy đâu ra bằng đó tiền cho cậu đi.

Cả Kon Plei này đói. Cả xã đói. Trận lũ quét vừa qua đã cuốn đi tất cả lúa lẫn đậu bắp đang còn trên rẫy gần như của cả làng. Số lúa ruộng ít ỏi ngập trong nước hàng tuần cũng thối rụng hết. Y Mải nói với chồng:

– Mình thấy dạo này cậu hay đau đầu lắm. Anh có nhớ bữa hôm đào củ trong rừng, A Siêng cắm đầu xỉu dưới hốc củ không? Không có mấy người cùng đi chắc chết không ai biết rồi. ở nhà cậu cũng lúc đi ra đi vô lờ đờ, có khi lại ngồi im cả ngày không nói câu nào.

– Thì cái tánh cậu ít nói từ xưa. Không nói ra được để ở trong người nó man man là phải thôi. Học đại học ra mà không được đi làm, đi rẫy miết thế này sao chịu nổi.

Có điều, là bác sĩ nên A Siêng biết cách giữ cho thần kinh mình không vượt quá sức chịu đựng có thể. Thấy bệnh tình em như vậy anh chị cũng không dục đi rẫy, đi ruộng, cứ để A Siêng tự làm những gì mà sức khoẻ cho phép. Khi nào cảm thấy sắp lên cơn thì phải về nhà ngay.

Suốt thời gian đó, Y Sao luôn luôn ở bên cạnh A Siêng. Những buổi phải lên lớp thì thôi, rảnh việc là cô lại chạy qua nhà trò chuyện cùng cho A Siêng đỡ buồn. Có một lúc tỉnh táo, A Siêng nói với Y Sao:

– Y Sao cưới chồng đi. Tui biết tình cảm của Y Sao, nhưng đừng có chờ tui làm gì. Y Sao với tui không thành đâu.

– A Siêng nói gì như vậy? Y Sao chưa bao giờ trách anh một tiếng nào mà. Nhưng tại sao A Siêng lại nghĩ hai đứa mình không thành đôi?

– Đừng hỏi tui. Tui không muốn Y Sao bỏ phí những năm chờ đợi. Các bạn gái của Sao không chỉ lấy chồng mà còn có con hai ba đứa rồi đó.

– Nếu A Siêng nói một lời thương Y Sao sẽ chờ tới khi nào cũng được mà.

– Không! Tui không thể!

– Nhưng tại sao? Tại sao chớ?

A Siêng bỏ đi như chạy ra khỏi nhà, để lại Y Sao nước mắt đầm đìa và nỗi buồn không thể nói thành lời. Nóng như lửa. Ngột ngạt không thở được. Một bầy kiến càng cắn trong lồng ngực đau nhói.

* *

*

Nửa khuya, bà Y Vui chuyển bụng sanh, rên la ầm ĩ. Cả nhà cuống quýt. Mưa to.Trạm xá thì xa, lỡ nửa đường sanh biết làm sao? Ông A Sam quýnh lên bảo con:

– Chạy qua nhà cô Y Mải, nói chú A Siêng tới coi dùm mẹ con đi. Nó bác sĩ mà.

Thằng cậu đang lui cui cột võng vào cái đòn khiêng, quát lên:

– Cứ đưa đi trạm xá thôi, thằng A Siêng tâm thần mà, bác sĩ gì.

Bà ngoại đang ngồi cạnh giường giữ tay con gái, nhổ toẹt miếng nước trầu vô vách, ngoái cổ ra bảo:

– A Siêng bác sĩ có bằng chớ. Nó tâm thần có lúc thôi. Cứ chạy qua coi, đang lúc nó tỉnh may ra giúp được mẹ mày.

Thằng nhỏ chạy ào ào. Đêm đen như hũ mực.Gió cứ rit lên trong những tàn cây như tức giận điều gì. Mưa tạt vào mắt xót tới không mở ra được. Con đường bò đi đầy bùn trơn trượt, chốc chốc thằng bé lại ngã cái uỵch, nó tấm tức khóc, dơ cánh tay đầy bùn lên quệt nước mắt chạy tiếp. May quá trong nhà còn ánh lửa. Nó nhào tới đập cửa thình thình:

– Chú A Siêng! Chú A Siêng cứu mẹ cháu với.

A Siêng bật dậy hỏi to.

– Ai kêu gì đêm khuya vậy?

– Mẹ cháu đau đẻ, nhờ chú tới giúp.

Chị Y Mải ngồi dậy từ trong buồng nói vọng ra:

– Khiêng đi trạm xá thôi. Chú Siêng đau mà, làm sao giúp được.

A Siêng quyết định rất nhanh.

– Chị để em đi coi thử. Nếu gay go quá thì em đi cùng ra trạm xá cũng được mà. Chờ chú ra ngay!

Nói rồi A Siêng lục tìm chiếc ống nghe lâu nay vẫn cất kỹ, với lấy chiếc túi nhỏ có vài loại thuốc ít ỏi,hối hả đi theo thằng bé. Từ khi về ở với anh chị, A Siêng chỉ chữa bệnh cho người trong nhà. Đây là lần đầu tiên có người gọi anh đi giúp. Vừa đi A Siêng vừa cố nhớ nhanh những kiến thức về sinh đẻ đã học.

Hơn một tiếng đồng hồ căng thẳng, bà mẹ cũng may mắn sanh dễ, đứa bé gái đã cất tiếng khóc đầu tiên. A Siêng toát mồ hôi ngồi phịch xuống chiếc ghế nhỏ bên bếp lửa, rửa đôi tay trong chậu nước ấm, rồi anh giơ ống tay áo quệt những giọt mồ hôi đầm đìa trên trán. Đến bây giờ anh mới thấy mệt rã rời, đã ngồi xuống rồi mà hai chân vẫn run lẩy bẩy . May quá không có sự cố gì. Ông A Sam ngồi xuống bên A Siêng:

– Cám ơn bác sỹ nhiều lắm. Không có anh, phải đưa đi trạm xá chắc bả sanh rớt giữa đường rồi.

– Không có gì đâu anh, người trong làng giúp nhau thôi mà…

Bà ngoại bọc đứa nhỏ trong tấm chăn thổ cẩm đưa cho A Siêng:

– Cho chú làm cha kết nghĩa này.

Đôi tay run run ôm chiếc bọc ấm áp vô người,đột nhiên một sức mạnh ấm nóng nào từ từ dâng lên trong người A Siêng. Anh như người say ruợu ghè, lâng lâng, choáng váng, siết chặt thân hình bé nhỏ của đứa trẻ vô ngực, nước mắt chảy ròng ròng…

Kể từ buổi tối hôm đó, người trong làng ai có bệnh gì đều chạy tới tìm A Siêng. Lúc đầu anh còn từ chối, viện cớ bệnh đau đầu thường hay tái phát, hoặc không có đồ nghề lẫn thuốc chữa bệnh. Thế là tại nhà Rông có một cuộc họp của làng:

– Bây giờ A Siêng nó chịu chữa bệnh cho người Kon Plei ta, nhưng nhà bác sĩ nghèo quá, không có đồ khám chữa bệnh,không có tiền mua thuốc, ta phải làm sao?

– Già làng cứ nói một tiếng, mọi bếp đều góp tiền lại cho A Siêng làm vốn chữa bệnh có được không?

– Ai có ít nộp ít, ai có bi nhiêu nộp bi nhiêu. Lâu nay có bác sĩ trong làng mà không để chữa bệnh cho mình.

– Hay ta đề nghị xã cho bác sĩ vay vốn xóa đói giảm nghèo?

Cả nhà Rông ồn ào lên:

– Được đấy! Bác sỹ mà nghèo đói thì cũng cần phải giúp đỡ chớ.Trưởng kon plei ngày mai làm giấy đề nghị xã giúp A Siêng thôi.

– Cho vay nhiều nhiều đi, để bác sĩ mua thuốc chữa bệnh luôn…

Vậy là với số tiền hai trăm ngàn bà con cả làng đóng góp và 2 triệu đồng quỹ xoá đói giảm nghèo cho vay, A Siêng đã có thể hàng ngày làm công việc trị bệnh cứu người mà anh mong ước. Khắp mấy Kon Plei quanh vùng, trong xã, rồi người cả xã bên đến tìm anh ngày một đông. A Siêng chẳng nề hà đêm hay ngày, mưa hay bão, xa hay gần, hễ có người gọi là xách túi thuốc đi liền. Bà con tin cậy và yêu mến anh lắm. Cũng may mà hồi đi học, A Siêng ý thức được trách nhiệm của mình nên đã theo đa khoa. Cũng lạ, căn bệnh đau đầu trầm cảm của anh ngày một thưa dần rồi chấm dứt hẳn từ lúc nào không biết. Chỉ có điều, bà con nghèo nên có lúc người khỏi bệnh trả bằng gà, trứng gà, gạo, thậm chí cả bằng bắp, củ mì ,A Siêng cũng nhận. Nhưng anh chẳng có nhiều tiền phụ cho anh chị, cũng không dùng gạo, hay gà đó trả vốn ,lãi cho xã được. Tuy nhiên, được làm nghề của mình đã học là tốt rồi.

* *

*

Vừa sang chích thuốc cho bà Chen, đang chuẩn bị đi rẫy thì chị Y Mải ở ngoài chạy về, hổn hển, vội vã:

– A Siêng đừng đi nữa! ủy ban tới nhà mình bây giờ đấy. Nghe nói có người nhà nước tới tìm em đi làm. Cả A Manh nữa đó!

A Siêng đứng lặng một lúc rồi vô nhà cất cuốc và nón, cẩn thận rửa chân tay, rồi lôi đôi dép da phủ đầy bụi ra lau . Săm soi đám quần áo ít ỏi của mình, anh cố chọn bộ nào có vẻ mới nhất. Tất cả đều may từ thời còn là sinh viên, nhưng bao năm nay ít có dịp mặc đến nên có thể lỗi mốt, nhưng vẫn là những thứ tốt nhất mà anh có. A Siêng muốn xuất hiện trước những người bạn cũ bằng một hình ảnh dễ gây được cảm tình nhất.

Thế mà năm năm đã qua kể từ khi A Siêng nhận được tấm bằng tốt nghiệp Đại học Y khoa Tây Nguyên. Những tưởng mọi lo lắng vất vả của các anh chị và của A Siêng đến đây là chấm dứt. Anh, người đầu tiên của làng Kon Riêng và Kon Đào tốt nghiệp đại học, người dân tộc Sê đăng đầu tiên của cả xã học làm bác sỹ, sẽ là người đẩy lùi mọi bệnh tật trong cộng đồng của mình…

Năm ấy chiến sự diễn ra ác liệt giữa quân giải phóng và chính quyền ông Thiệu. Sau trận bom Mỹ dội xuống thị trấn Tân Cảnh và làng Kon Đào, Già A Nhiên mời hội đồng già làng về nhà rông để bàn một việc lớn. Đêm. Đống lửa giữa nhà rông đã nhóm lên. ánh bập bùng soi lúc mờ lúc rõ những con rùa, con chim khắc nổi và các hình vẽ đủ màu trên những cột kèo. Ghè rượu đã đổ đầy nước. Già A Nhiên uống hết kiang đầu tiên, chuyển tay cho già A Min. Đưa mắt nhìn quanh những khuôn mặt gầy già nua khắc khổ, nhưng vẫn ánh lên những nét tinh nhanh của trí tuệ cộng đồng cả làng,khoát tay một vòng về phía những ngôi nhà đang ngún lửa ở bên ngoài nhà rông, già A Nhiên nói:

– Kon plei mình phải đi khỏi đây thôi. Pháo giải phóng dội uỳnh uỳnh xuống ban đêm. Bom ông Thiệu đổ ầm ầm suốt ban ngày. Không sống nổi nữa đâu.

– Đã có năm bếp bị lửa ăn hết cả nhà lẫn người rồi.

– Nhưng rồi chạy đi đâu bây giờ? Không thể vô rừng được đâu. Quân Việt Cộng ở chỗ nào bom Mĩ ném xuống chỗ đó. Chạy đi chỗ khác cũng là đất của ông Thiệu. Chúa bắt chết mình chết. Chúa cho sống thì được sống. Cứ ở lại đây không được sao?

Già A Min nhả cái cần ra khỏi hàm răng cà sát xuống tận lợi:

– Không được! Phải đi thôi! Người Sê đăng Kon Đào không thể chết, cũng không thể sống mà chống chọi lại bom đạn của cả hai phía. Ta sẽ đi Buôn Ma Thuột, tìm một nơi nào đó để dựng nhà rông, lập làng mới.

Vậy là cả làng gùi cõng nhau chạy sang Đak Lak. Chuyển vài nơi rồi mới ở lại mảnh đất giữa hai con sông nước trong nước đục. Cha mẹ A Siêng đã chết cả trong trận bom Mỹ dội xuống Đak Tô để trả thù Việt Cộng ấy. Bốn anh chị em phải cõng nhau chạy theo họ hàng. Cả làng đi hết ở lại biết sống với ai.

Hơn mười tuổi, A Siêng đã thay anh dắt trâu dẫm ruộng, gánh cả sào mạ cho các chị gái cấy. Thương đứa em út vóc dáng gầy guộc, các anh chị cố gắng động viên A Siêng đi học. Thương anh chị vất vả, A Siêng biết mình phải gắng học sao cho giỏi. Suốt mười hai năm hết học trường huyện, đến trường nội trú dân tộc của tỉnh, A Siêng luôn ở trong nhóm vài người đứng đầu lớp. Việc thi vào đại học Y Khoa những năm đó, không phải là khó đối với A Siêng.

Những năm học đại học, A Siêng đã phải làm đủ mọi việc, vừa học vừa phụ giúp các anh chị nuôi các cháu. Cũng may mấy năm đó, sinh viên người dân tộc thiểu số có học bổng, có bếp ăn ở ký túc xá, nên A Siêng đủ ngày hai bữa ăn. Còn tiền làm cỏ, hái cà phê, kể cả đi quét vôi công trình xây dựng,dạy kèm…anh đều giành mua tài liệu và gửi cho các cháu. Ai chơi gì thì chơi, suốt ngày A Siêng chỉ miệt mài với sách vở và các tua trực.

Tốt nghiệp đại học, trong đầu nóng bỏng bao nhiêu ước mộng. A Siêng đã gõ cửa từ bệnh viện tỉnh cho đến trạm xá xã. ở đâu cũng nhận được câu trả lời “Đang giảm biên chế, làm gì còn định biên để nhận người mới”. Mọi cánh cửa đều đóng. Có nơi nhận hồ sơ, nhưng lần sau đến người ta bắn tin phải nộp 15 triệu mới xong việc. Chúa ôi ! Cả một năm cắm mặt xuống ruộng mới thu được vài chục bao lúa, chưa đủ ăn hết năm cho cả bảy tám người gia đình chị gái. Nhà chỉ có chiếc xe đạp là đáng tiền nhất, anh chị giao cho A Siêng đi học, để có phương tiện lúc rảnh chạy làm thuê, hay ngày nghỉ về làm rẫy giúp anh chị. Cả làng không nhà nào có nổi vài trăm ngàn đồng cất giữ trong nhà, nói gì tới 15 triệu. Hai con sông nước trong, nước đục thay nhau hàng năm dâng nước ngập cánh đồng Ea Yang, năm nào cả xã cũng gặt lúa non chạy lụt. Đến mùa khô cái nắng nơi này cũng dữ dội lắm. Mặt ruộng nứt nẻ , các con suối cạn khô chỉ còn là những dòng bùn loãng. Cá tôm cạn kiệt, hoạ may chỉ còn vài con lươn, trạch rúc sâu dưới bùn đất còn sống được. Người Ea Yang năm nào cũng phải nhận cứu trợ của huyện là thế.

Hai năm lận đận tìm việc và làm ruộng dẫu có dài rồi cũng trôi qua. A Siêng xin anh chị về Kon Tum làm rẫy với vợ chồng chị Y Mải, may ra còn có thể xin được việc chăng. Nhưng anh cũng không có cơ hội nào suốt ba năm cho đến tận bây giờ.

Cài nút chiếc áo màu xanh da trời mà anh vẫn thích, thở sâu một hơi, A Siêng bước ra nhà ngoài. Đông nghẹt. Tíu tít. Ông bí thư xã tươi cười nắm tay A Siêng nói:

A Siêng à! Đài TNVN cho người về xác minh lý lịch và muốn đón cháu về làm phát thanh viên chương trình tiếng dân tộc Sẽ đăng ở Buôn Ma Thuột. Đồng thời huyện cũng có quyết định tiếp nhận cháu làm trưởng trạm y tế của xã. Công việc nào cũng cần thiết cho dân tộc mình. Vậy cháu trao đổi với các anh chị rồi mai cho xã biết ý kiến quyết định có được không?

A Manh nhìn bạn tha thiết :

– Về bên đó lương và nhuận bút dịch ,đọc mỗi tháng cũng được hơn 1 triệu đồng đó A Siêng ạ. Có nhà tập thể ở, không phải đi thuê đâu.

Bác chủ tịch xã góp lời :

– Lương trạm trưởng được vài trăm ngàn. Nhưng cháu vẫn có thể khám bệnh thêm ở nhà mà.

Gần như cả làng tụ tập trong nhà Y Mải, khi nghe nói có cán bộ xã và đài TNVN đến tìm A Siêng. Anh chị Y Mải lúc quay bên này, lúc quay bên kia nghe ý kiến của mọi người. Góc nhà, cặp mắt khắc khoải âm thầm của Y Sao nhìn chằm chặp vô A Siêng như chờ đợi. Rộ lên những lời bàn tán, ồn ào tranh cãi. Chỉ mình A Siêng im lặng.

Cả đêm không ngủ. Anh ra khỏi nhà khi trời chưa sáng, thơ thẩn bên hồ Đak Noa. Mặt trời chưa mọc nhưng tít trên cao, một vòm xanh ngọc đang lan rộng dần, đẩy lùi những đám mây xám, hứa hẹn một ngày nắng đẹp. Đỉnh Ngok Linh thường vẫn khuất trong mây trắng, bỗng hiện rõ, dáng núi mềm mại tạc vào chân trời đang hé lên màu hồng. Quả đồi thấp như gò ngực người đàn bà nằm duỗi dài dưới chân núi ven hồ phập phồng thở trong sương sớm. Sóng vỗ óc ách, những con cá mương nép vô bờ ngủ qua đêm,quật đuôi lách tách vượt vội ra ngoài xa. Một cánh chim lẻ loi liệng mãi trên bầu trời, như muốn dấn sâu vào nỗi cô đơn nên đôi cánh nhỏ không buồn vẫy, cứ giang rộng từ trên cao sà xuống tận sát mặt nước, rồi lại lao vút lên bầu trời thăm thẳm. Như có cánh ná nào bắn vụt mặt trời lên đỉnh núi, ánh sáng chói loà thành một dải lụa vàng trải giữa mặt nước xám bạc lung linh. A Siêng quay người đi trở lại làng. Dưới tán lá xà nu xanh nơi bìa rừng, Y Sao đã đứng đấy từ lúc nào.A Siêng bước nhanh hơn, vươn thẳng người khẽ nói lên thành tiếng “Mình sẽ ở lại!” .

Linh Nga Niê Kdăm