Tag Archives: Văn Hóa

Lĩnh Nam Chích Quái – Dẫn nhập

Chào các bạn,

Tết đến, chúng ta có bánh chưng, bánh tét. Đây là tập tục đẹp của dân ta, bánh vừa ngon, lại vừa là biểu trưng cho tập tục đề cao lòng hiếu thảo đối với cha mẹ. Đầu năm, xin tìm lại câu chuyện Bánh Chưng và các câu chuyện khác liên quan đến văn hóa, phonng tục và lịch sử của dân mình, còn ghi lại trong sách Lĩnh Nam Chích Quái.

Lĩnh Nam Chích Quái là một trong những tác phẩm văn học dân gian đầu tiên của Việt Nam, viết bằng chữ Hán văn xuôi, rất quý hiếm còn lại từ thời Lý, Trần. Cho đến nay sách Việt dịch của Lĩnh Nam Chích Quái không nhiều, thế nên, thiết nghĩ việc chuyển dịch từ chữ Hán sang chữ Việt, giới thiệu các nhân vật, các câu chuyện trong “Lĩnh Nam Chích Quái” cho mọi người – đặc biệt cho lớp trẻ – là điều rất cần thiết và quan trọng vậy.

Chúc các bạn một mùa xuân an hòa!

Nguyễn Hữu Vinh

LĨNH NAM CHÍCH QUÁI

Nguyễn Hữu Vinh

Lĩnh Nam Chích Quái (1) là một trong những tác phẩm văn học dân gian đầu tiên của Việt Nam, viết bằng chữ Hán văn xuôi, rất quý hiếm còn lại từ thời Lý, Trần. Chưa biết rõ tác giả là ai, có thể do Trần Thế Pháp (2) soạn vào khoảng cuối thế kỷ XIV, sau được Vũ Quỳnh (3) và Kiều Phú (4) ở cuối thế kỷ XV hiệu chính. Đoàn Vĩnh Phúc (5) , thời Mạc trích từ “Việt Điện U Linh” chép thêm nhiều truyện mới trong quyển 3 (tục biên). Đoàn Vĩnh Phúc khi viết tiếp quyển 3, có ghi trong phần Bạt một dữ kiện quan trọng là Lĩnh Nam Chích Quái do Vũ Quỳnh và Kiều Phú hiệu chính, bổ sung gồm 2 quyển, tất cả có 22 truyện, bắt đầu từ truyện Hồng Bàng và chấm dứt ở truyện Dạ Xoa. Cuối thế kỷ 18 lại có Vũ Khâm Lân bổ sung thêm. Trải qua nhiều thế kỷ, Lĩnh Nam Chích Quái được nhiều người hiệu chính và tu bổ, hiện nay được biết có 11 truyền bản còn lưu lại. Những truyền bản này có số truyện khác nhau cũng như tên gọi cũng khác nhau, có bản có 22 truyện, có bản có tới 43 truyện. Các bản có nhiều tên gọi khác nhau như là Lĩnh Nam Chích Quái Liệt Truyện, Lĩnh Nam Chích Quái, Lĩnh Nam Chích Quái Ngoại Truyện, Lĩnh Nam Chích Quái Khảo Chánh… May có lời Bạt của Đoàn Vĩnh Phúc đã giúp các học giả sau này có được một ít chứng cứ để nghiên cứu và tìm tòi truyền bản nào trong tất cả 11 truyền bản còn lại là gần nhất với nguyên tác.

Nói chung, Lĩnh Nam Chích Quái làm một tập truyện cổ quan trọng, tập hợp nhiều truyện thần thoại, truyền thuyết với nội dung rất rộng, đề cập đến lịch sử, văn hóa và phong tục tập quán của Việt Nam, ghi lại những câu chuyện kể, những truyền thuyết dân gian ly kỳ, hấp dẫn về nhiều loại nhân vật, nhiều lĩnh vực và phạm vi của cuộc sống, hoặc giải thích nguồn gốc dân tộc (Truyện Hồng Bàng, Truyện Mộc Tinh…), hoặc kể sự tích các bậc anh hùng, các nhân vật tài giỏi (Truyện Phù Đổng Thiên Vương, Truyện Hai Bà Trưng…), hoặc giải thích phong tục tập quán (Truyện bánh chưng, Truyện trầu cau…), hoặc có liên quan đến các di tích văn hoá, lịch sử (Truyện Từ Đạo Hạnh, Truyện Thần Như Nguyệt…)… Lĩnh Nam Chích Quái về cơ bản là những ghi chép khá đơn giản về chân dung các nhân vật “phi thường”, “toàn vẹn”. Dù chứa đầy những yếu tố hoang đường, kỳ ảo, nhưng nó vẫn được xem là những chuyện “có thực”, là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam.

Lĩnh Nam Chích Quái cũng như các bộ sách viết chữ Hán khác của Việt Nam, phần lớn còn nằm trong các thư viện chưa được xuất bản, hoặc là xuất bản lẻ tẻ. Nhà sách Khai Trí ở Sài gòn cũng như nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội, vào đầu năm 1960 cũng đã xuất bản bản dịch Việt của Lĩnh Nam Chích Quái. Hai cuốn sách này chỉ là hai cuốn sách dịch ra chữ Việt dựa trên một trong những truyền bản, chưa có sự hiệu đính, đối chiếu và tổng hợp với các truyền bản tương tự khác.

Đầu năm 1991, Nhà xuất bản Trung Châu tỉnh Hà Nam, Trung Quốc đã xuất bản cuốn “Lĩnh Nam Chích Quái Đẳng Sử Liệu Tam Chủng” bằng chữ Hán do Đới Khả Lai ở khoa Lịch sử, trường Đại học Trịnh Châu chủ biên. Song đây cũng chỉ sử dụng một truyền bản sưu tầm được từ Thư Viện Société Asiatique, Paris.

Cuối năm 1992, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, hợp tác với Viện Viện Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extreme Orient), Paris và Đại Học Chung Cheng, Taiwan, do Trần Khánh Hạo chủ biên và nhà sách Học Sinh Thư Cục ở Taipei ấn hành một bộ sách đồ sộ: “Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết tùng san”, gồm hơn 40 bộ sách cổ xưa của Việt Nam. Điều đáng tiếc là bản in chữ Hán Lĩnh Nam Chích Quái trong bộ tùng san này vẫn còn có nhiều thiếu sót trong phần hiệu đính. Tuy nhiên, cho đến lúc này, nó vẫn là bản chữ Hán tương đối phổ biến và đầy đủ nhất trong các bản in về Lĩnh Nam Chích Quái ra đời từ trước cho tới nay. Trong lần xuất bản này Lĩnh Nam Chích Quái được chọn lựa cẩn thận giữa các truyền bản, chọn ra một truyền bản thích hợp nhất, hiệu đính và cho ấn hành. Các học giả đã chọn truyền bản HV 486 của viện Sử Học làm bản chính và với 2 bản phụ khác, VHV 1473 và VHV 2914, của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, hiệu đính, so sánh và in thành sách xuất bản. Sách gồm 42 truyện chia thành 3 quyển:

Quyển 1 gồm các truyện:

Hồng Bàng thị truyện: Truyện họ Hồng Bàng kể về nguồn gốc dân tộc Việt Nam

Ngư tinh truyện: Truyện Tinh Cá kể truyền thuyết Lạc Long Quân diệt Ngư tinh ở Biển Đông.

Hồ Tinh truyện: Truyện Tinh con hồ ly và sự tích Hồ Tây.

Mộc Tinh truyện: Truyện Tinh cây kể cây thành tinh và tục trừ tà của người Việt xưa

Tân Lang truyện: Truyen trầu cau kể sự tích trầu cau và tục dùng cau trầu trong việc cưới hỏi

Nhất Dạ Trạch truyện: Truyen Đầm Dạ Trạch, kể về sự tích Triệu Quang Phục và truyền thuyết Tiên Dung và Chử Đồng Tử

Đổng Thiên Vương truyện: Truyền thuyết về Thánh Dóng

Chưng Bính truyện: Truyện Bánh Chưng về truyền thuyết bánh chưng, bánh dày và con hiếu được truyền ngôi.

Tây qua truyện: Truyện Dưa Hấu kể về tích Dưa hấu truyền vào Việt Nam.

Bạch Trĩ truyện: Truyện chim Trĩ trắng và truyền thuyết về nước Việt Thường xưa.

Quyển 2 gồm các truyện:

Lý Ông Trọng truyện: Truyện kể sự tích Lý Ông Trọng thời Tần Thuỷ Hoàng

Việt Tỉnh truyện: Truyện Giếng Việt, truyện kể Thôi Vy gặp tiên.

Kim Quy truyện: Truyện Rùa Vàng kể về Loa thành và chuyện tình nghĩa, trung hiếu Trọng Thủy Mỵ Châu.

Man Nương truyện: sự tích về Phật Mẫu Man nương .

Tản Viên sơn truyện: Truyện thần núi Tản và chuyện Sơn tinh, Thủy tinh tranh giành nhau lấy Mỵ Nương.

Long Nhãn Như Nguyệt nhị thần truyện: Truyện kể hai vị thần họ Trương giúp Lê Đại Hành đại phá quân Tống.

Từ Đạo Hạnh Nguyễn Minh Không truyện: Truyện kể về cao tăng phò vua giúp nước là sư Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không thời triều vua Lý Nhân Tông và Lý Thần Tông.

Nam Chiếu truyện: Truyện Nam Chiếu kể sự tích con cháu của Triệu Đà chống chọi với quân phương Bắc.

Tô Lịch giang truyện: Truyện sông Tô Lịch kể chuyện Cao Biền bị giết vì xúc phạm thần sông.

Dương Không Lộ Nguyễn Giác Hải truyện: Truyện kể về thiền sư Không Lộ và Giác Hải thời Lý Thần Tông.

Hà Ô Lôi truyện: Truyện kể Hà Ô Lôi vì tính háo sắc mà bị chết thảm

Dạ Thoa vương truyện: Truyện kể vua Dạ Thoa háo sắc, đánh nước người để cướp vợ người khác. Vì thế bị giết và mất nước.

Quyển 3 (tục biên) gồm các truyện: Sĩ Vương tiên truyện, Sóc Thiên Vương truyện, Kiền Hải môn tam vị phu nhân truyện, Long Độ vương khí truyện, Minh chủ Đồng Cổ truyện, Ứng thiên hóa dục hậu thổ thần truyện, Long trảo Khước lỗ truyện, Phùng Bố Cái Đại vương truyện, Trinh linh nhị Trưng truyện, Mỵ Ê trinh liệt truyện, Hồng Thánh đại thần vương truyện, Minh ứng An sở truyện, Đại Than Đô lỗ thạch thần truyện, Xung Thiên Chiêu ứng thần vương truyện, Khai thiên trấn quốc Đằng châu phúc thần truyện, Uy linh bạch hạc thần từ truyện, Thần Chu Long vương truyện, Ni sư Đức Hạnh truyện, Phạm Tử Hư truyện.

Có thể nói sách “Lĩnh Nam Chích Quái” trong bộ “Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết tùng san” là bộ sách khá hoàn hảo được chọn lọc công phu góp phần giúp chúng ta có thêm điều kiện để nghiên cứu lịch sử, văn hóa và xã hội Việt Nam ban đầu về mọi mặt.

—————————

Chú thích

1.   Chích “摭” nghĩa là “chọn”, “lựa chọn”, “nhặt lấy”. Lĩnh Nam Chích Quái (嶺南摭怪) là “Lựa chọn những chuyện quái dị ở Lĩnh Nam” (嶺南). Lĩnh Nam là vùng đất phía nam núi Ngũ Lĩnh, đất các dân tộc Việt cư ngụ, trong truyền thuyết xưa ở Việt Nam và Trung Quốc.

2.   Trần Thế Pháp: Không rõ năm sinh, năm mất, hiệu là Thức Chi, người làng Thạch Thất, nay thuộc tỉnh Sơn Tây.

3.   Vũ Quỳnh (1452-1516) tự Thủ Bộc, hiệu Trạch Ổ, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An. Làm quan tới chức Thượng Thư ở các bộ Công, bộ Lại và bộ Binh, kiêm Tư nghiệp ở Quốc Tử Giám, Sử Quán Tổng tài. Ngoài việc hiệu đính và tu sửa Lĩnh Nam Chích Quái, còn biên soạn Việt Giám Thông Khảo, Hỏa Thành Toán Pháp.

4.   Kiều Phú (1446- ?), tự Hiếu Lễ, hiệu Ninh Sơn, người làng Lạp Hạ, huyện Ninh Sơn sau đổi là Yên Sơn, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nay là xã Yên Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Năm Ất Mùi 1475, ông đỗ nhị giáp tiến sĩ, lúc 29 tuổi làm đến Tham chính, nổi tiếng văn thơ đương thời.

5.   Đoàn Vĩnh Phúc: Không rõ năm sinh, năm mất. Theo bài Hậu bạt đề năm Quang Bảo sơ niên (1554) ở một số bản Lĩnh Nam Chích Quái, ông làm việc ở cục Tú lâm thuộc Viện Hàn lâm đời nhà Mạc.

Tham khảo:

  1. “Lĩnh Nam Chích Quái”, Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San, Pháp Quốc Viễn Đông Học Viện xuất bản, Học Sinh Thư Cục ấn hành, Taipei, Taiwan, 1992
  2. “Lĩnh Nam Chích Quái Đẳng Sử Liệu Tam Chủng”, Nhà xuất bản Trung Châu, Hà Nam, Trung Quốc, 1991
  3. “Lĩnh Nam Chích Quái”, Đinh Gia Khánh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1960

4.   “Lĩnh Nam Chích Quái”, Lê Hữu Mục, Nhà sách Khai Trí, Sàigòn, 1960

5.   “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, Chen Chinh Ho, Tokyo University, 1984

Lời tựa – Lĩnh Nam chích quái liệt truyện của Vũ Quỳnh

Quế Hải (1) tuy ở cõi Lĩnh Ngoại, nhưng núi non kỳ vỹ, địa linh, nhân kiệt, vật lạ thường thường vẫn có. Từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc, cách thời thái cổ không xa, phong tục nước Nam còn đơn sơ, chưa có sử sách để ghi chép, nên nhiều chuyện bị lãng quên, mất mát. Riêng còn truyện nào không bị thất lạc thì may được dân gian truyền miệng. Đến các đời Tây Hán, Đông Hán, Đông Tây Tấn, Nam Bắc triều, rồi đến Đường, Tống, Nguyên mới có sử ghi chép các truyện như Lĩnh Nam Chí, Giao Quảng Chí, An Nam Chí Lược, Giao Chỉ Chí Lược v.v… mới có thể tham khảo rõ ràng được. Nhưng nước Việt ta từ xưa vốn là nơi hoang dã cho nên việc ghi chép còn sơ lược.

Nước ta lập quốc từ thời Hùng Vương, dần dần khai hóa, văn minh mới có từ các đời Triệu, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần đến nay đã lan đến khắp nơi, cho nên việc ghi chép quốc sử được tường tận hơn. Những truyện chép ở đây là sử ở trong truyện chăng? Bắt đầu có từ thời nào? Tên họ người viết là ai đều không thấy ghi rõ. Viết ra đầu tiên là những bậc tài cao học rộng ở đời Lý, Trần. Còn những người hiệu đính, tu bổ các bậc quân tử uyên bác, hiếu cổ ngày nay.

Kẻ ngu này xin đem ngọn nguồn ra mà suy xét lại cho sáng tỏ ý người viết truyện. Như truyện họ Hồng Bàng thì nói rõ việc khai sinh ra nước Việt ta. Truyện Dạ Thoa lược thuật về thời manh nha của nước Chiêm Thành. Truyện Bạch trĩ thì chép chuyện về nước Việt Thường. Còn truyện Rùa Vàng chép sử An Dương Vương. Về phong tục Đồ sính lễ thì không có gì quý bằng trầu cau, lấy đó mà biểu dương nghĩa vợ chồng, tình huynh đệ. Về mùa hạ nước Việt ta không có gì quý bằng quả dưa hấu, cũng dùng để kể truyện cậy vật báu của mình, quên cả ơn chủ. Truyện Bánh Chưng khen lòng hiếu với cha mẹ. Truyện Hà Ô Lôi răn thói dâm ô. Đổng Thiên Vương phá giặc Ân, Lý Ông Trọng diệt Hung Nô, đủ biết nước Nam ta có người tài giỏi. Chử Đồng Tử kết duyên cùng Tiên Dung. Thôi Vỹ tao gặp gỡ bạn tiên, đủ biết làm việc nghĩa thì âm đức có thể thấy vậy. Những truyện Đạo Hạnh, Không Lộ khen việc báo được thù cha, các vị thần tăng ấy há có thể mai một hay sao? Những truyện Ngư Tinh, Hồ Tinh nêu rõ diệt trừ yêu quái mà ơn đức Long Quân không thể quên được vậy!

Hai linh thần họ Trương chết thành thần minh, treo cờ mà biểu dương, ai dám nói không được? Anh linh thần núi Tản Viên trừ được loài thuỷ tộc, nêu lên cho hiển hách, ai lại bảo không phải? Than ôi! Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế, nước mất lại biết phục thù; Man Nương là mẹ Mộc Phật, năm hạn làm được mưa dầm; Tô Lịch là thần đất Long Đỗ, Xương Cuồng là thân cây chiên đàn, một đằng thì lập đàn tế lễ, dân được hưởng phúc, một đằng thì dùng kỳ thuật mà trừ cho dân được thoát hoạ.Việc tuy kỳ lạ mà không quái đản, người thì hơi kỳ dị nhưng không đến nỗi là yêu quái. Truyện kể tuy có phần hoang đường mà tông tích vẫn có phần là bằng cứ, há chẳng phải chỉ cốt khuyên điều thiện, răn điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục mà thôi ư? So với sách “Sưu Thần Ký” đời Tấn, sách “Địa Quái Lục” đời Đường thì cũng giống nhau vậy.

Ôi! Truyện lạ đất Lĩnh Nam thật là nhiều, không đợi khắc vào đá, viết vào tre mà đã khắc sâu vào bia miệng, vào lòng người? Từ đứa bé hôi sữa đến cụ già tóc bạc đều làu thông, đều yêu thích, lấy đó để noi gương thì tất là phải có liên quan đến cương thường, phong tục tập quán. Đâu có phải là những chuyện nhỏ bé tầm thường được.

Mùa xuân năm Nhâm Tý, niên hiệu Hồng Đức, kẻ ngu này mới biết được sách này, ôm lấy mà đọc, không tránh khỏi chữ nọ nhầm chữ kia. Thế là quên mình dốt nát, đem ra hiệu chính, xếp thành hai quyển, đặt tên là “Lĩnh Nam Chích Quái liệt truyện”, cất ở trong nhà để tiện việc thưởng lãm. Còn như việc khảo chính, nhuận sắc, làm cho văn hay, lời đẹp, ý sâu thì chư vị quân tử hiếu cổ sau này há không có ai hay sao?

Cho nên viết bài tựa này.

Giữa mùa thu năm thứ 23, đời Hồng Đức (2)

Vũ Quỳnh

Giám Sát Ngự Sử đạo Kinh Bắc, Tiến Sĩ khoa Mậu Tuất, hiệu Trạch Ổ, Yến Ôn, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, Hồng châu.

—————————

Chú thích

1. Quế là tên tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Quế Hải theo nghĩa rộng là vùng đất bao gồm Quảng tây, tức chỉ gồm cả nước ta.

2. Tức năm 1492 đời vua Lê Thánh Tông

Lời Bạt (tựa cuối sách) – Lĩnh Nam chích quái liệt truyện của Kiều Phú

Ngu ý cho rằng việc thường thấy thì chép trong Kinh, Sử để lưu lại ở đời, việc kỳ quái thì chép thành Truyện, Ký để rõ chuyện lạ. Cho nên việc các đời Ngu, Hạ, Thương, Chu thì chép vào Kinh, việc các đời Hán, Đường, Tống, Nguyên thì ghi rõ ở Sử. Còn các chuyện như “Ông già bơi sông”, “Đuôi rồng vạch đất”, “Gõ hát trong làng”, “Chim sẻ ngậm sách đỏ” thì có Truyện để bù vào chỗ thiếu. Các sách Vũ Đế nội truyện đời Hán, Thiên Bảo dật sự đời Đường, Triều dã thiêm tái đời Tống cũng không gì khác hơn là góp nhặt chuyện lạ các đời để tiện xem đó chăng.

Nước Việt ta từ thời loạn Mười hai Sứ quân về trước, tuy sử liệu không đủ rõ để khảo chứng, nhưng sự tích của nước nhà vẫn có thể xem ở Thốc Thủy Thông giám và sử sách thuộc các triều. Còn như sông núi linh thiêng, nhân vật lạ kỳ thì tuy sử bút không chép, nhưng bia miệng không ngoa. Người bậc học rộng đời sau gom góp lại, biên thành truyện được bấy nhiêu thiên, thu thập những mẫu chuyện vụn vặt, linh tinh để bổ sung vào những chưa đầy đủ. Trong những việc kỳ quái đó, vẫn có những điều hệ trọng.

Ôi ! Đã có chuyện trời sai huyền điểu xuống thế mà sinh ra nhà Thương, thì chuyện trăm trứng nở ra trăm con để chia trị nước Nam, chuyện Hồng Bàng không thể mất được. Thà làm đầu gà còn hơn đuôi trâu, cho nên chuyện con cháu họ Triệu chống cự với Bắc triều thì chuyện Nam Chiếu không thể bỏ sót. Sông nước vây quanh mà rồng xanh hội tụ, chép lại chuyện sông Tô Lịch há chẳng phải làm đẹp cho phong cảnh kinh đô ư? Chiến thắng xong mà lơ là lẫy nỏ, ghi chép về thần Kim Quy chẳng phải là để chê trách An Dương Vương quên lãng mối nguy sao? Trừ hại cho dân thì những chuyện Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh đã ghi rõ sự việc. Trọn bề tôi thì các chuyện Bánh chưng, Long nhãn, Bạch trĩ đã chép tỏ tường. Phù Đổng Thiên Vương, Lý Ông Trọng nổi danh đánh giặc giữ nước mà được hiển thần. Dưa hấu, Cây cau được biết vì thêm vật lợi dân. Đầm Dạ trạch, Việt Tỉnh cương, làm điều thiện thì dương làm âm báo, cốt để răn đời. Hà Ô Lôi, Dạ Xoa Vương hiếu dâm, hại thân, mất nước là để khuyên răn. Còn như các chuyện Thánh núi Tản Viên ngăn tai ngừa họa, bà Man Nương cầu mưa ứng nghiệm. Từ Đạo Hạnh phục thù cho cha, Nguyễn Minh Không trị bệnh cho vua, Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải có phép bắt rồng xuống đất, bắt tắc kè phải rơi, ai cũng khâm phục phép thuật diệu kỳ. Sự việc tuy không bình thường, nhưng truyền thuyết thì gắn liền với di tích, nêu lên há chẳng phải hay sao. Nhưng nói Thần Tản Viên là con trai của Âu Cơ, Đổng Thiên Vương là Long Quân tái thế, Lý Ông Trọng giả vờ đi tả mà chết, trộm nghĩ không phải là như vậy. Truyện xưa cho là Y Doãn do việc bếp núc giỏi mà gặp vua Thang, Bách Lý Hề chăn trâu mà cầu gặp Tần Mục Công. Nếu không nhờ Mạnh Tử ra sức biện minh, thì hai ông này cuối cùng vẫn chịu tiếng nhơ đó sao? Tản Viên là thần hạo khí, Đổng Thiên Vương là tướng trời sai xuống, Lý Ông Trọng là bậc hào kiệt một thời, đâu có như việc ghi trong truyện được.

Cho nên ngu tôi dựa vào sách khác, ghi thêm ý mình, sửa lại cho đúng, biện chính những lầm lẫn thuở trước để khỏi bị đời sau chê cười, lại bớt chỗ rườm rà, theo chỗ ngắn gọn cốt để tiện xem. Mong các bậc bác nhã quân tử hãy lượng thứ cho.

Năm Quí Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24 (1).

Ninh Sơn Kiều Phú, tự Hiếu Lễ, Tiến sĩ Khoa Ất Mùi, nguyên Giám sát Ngự sử đạo Kinh Bắc kính chép.

—————————

Chú thích

1. Tức năm 1493 đời vua Lê Thánh Tông

Lời Hậu Bạt (bạt cuối sách) – Lĩnh Nam chích quái liệt truyện quyển 3 (tục loại) của Đoàn Vĩnh Phúc

Các sách xưa như Nam Truyện Ký, Thế Thuyết, Dã Lục, Chí Dị, Tạp Biên… được yêu chuộng cũng bởi vì ghi lại các chuyện quái dị xa gần, xưa nay, để làm vui cho thiên hạ.

Nước Đại Việt ta, non sông gấm vóc, thường xưng là nước có văn hiến. Vậy thì sự tích của các anh hùng hào kiệt, các chuyện kỳ bí lạ lùng của sự việc xảy ra, há chẳng có sách truyện ghi chép lại hay sao?

Nay xem sách Lĩnh Nam liệt truyện không thấy ghi tên tác giả, không biết do nho sinh thời nào khởi thảo. Bản hiện hành là của ông Trạch Ổ họ Vũ, là người làng Mộ Trạch, một kẻ sĩ thời Hồng Đức vang danh khoa hoạn, bác học hiếu cổ. Sách gồm 2 quyển, tất cả có 22 truyện, xếp theo thứ tự bắt đầu từ truyện Hồng Bàng và chấm dứt ở truyện Dạ Xoa. Đúng là sách hay, đáng được liệt vào hạng nhất nhì trong loại Truyện Ký. Đáng tiếc là vì còn thiếu sót các truyện như Sĩ Nhiếp, Rồng đá, thần Bạch Hạc v.v chưa được biên soạn thêm vào. Ngu sinh xong việc công, rỗi rảnh đem sách ra đọc thấy được cái đẹp của thánh hiền, cái gấm vóc của non sông, chuyện anh hùng, trinh liệt của hai Bà Trưng, sự linh ứng của thần Kiền Hải, cùng với các chuyện khuyên người, dạy đời khác nữa. Vì thế, ngu sinh mới xét lại sách “Triệu Công Sử Ký”, tham khảo “Việt Điện U Linh”, biên soạn bổ sung, bỏ bớt chỗ rườm rà, làm cho ngắn gọn, viết thành quyển mới, cho vào phần gọi là Tục biên, để tiện bề thưởng lãm. Còn việc khảo sát, hiệu chính thì chờ mong ở các bậc tài cao học rộng vậy.

Thuốc trường sinh luyện một mạch, dưới đất thì non tiên, đầm sâu, trên trời thì sao phúc, mây lành, há chẳng phải là động tiên còn đó hay sao. Huống chi người là vạn vật chi linh, không tin những chuyện thần bí sao được, như chuyện Bùi Hàng, Biệt Dị thời Tống thì cũng giống như vậy mà thôi. Đừng vì Khổng Tử không dạy mà cười chê.

Xưa, họ Hồ bận việc vua mà còn viết nên Dịch Truyện, sắp xếp thành sách, khỏi để lãng phí thời giờ. Ngu tôi học theo như vậy mà soạn tập “Tục Biên” này, viết nên lời Bạt để tóm tắt nội dung.

Nho sinh Đoàn Vĩnh Phúc

Ngày 20, tháng 8, đầu năm Quang Bảo (1) ở Cục Tú Lâm thuộc Viện Hàm Lâm

—————————

Chú thích:

1. Quang Bảo là niên hiệu của Mạc Phúc Nguyên

Truyện Bánh chưng

Hùng Vua sau khi phá xong giặc Ân rồi, trong nước thái bình, nên lo việc truyền ngôi cho con, mới hội họp hai mươi hai vị quan lang công tử lại mà bảo rằng: “Đứa nào làm vừa lòng ta, cuối năm đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng Tiên Vương cho tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”.

Các công tử đua nhau đi tìm các vị trân kỳ, hoặc săn bắn, chài lưới, hoặc đổi chác, đều là của ngon vật lạ, nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Duy có công tử thứ mười tám tên là Lang Liêu, mẹ hàn vi, đã bị bệnh qua đời rồi, trong nhà lại ít người nên khó bề toan tính, ngày đêm lo lắng, ăn ngủ không yên. Chợt nằm mơ thấy thần nhân bảo rằng: “Trong trời đất không có vật gì quý bằng gạo, vì gạo là vật để nuôi dân khỏe mạnh, ăn mãi không chán, không có vật gì hơn được. Nếu giã gạo nếp gói thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, hoặc lấy lá gói thành hình vuông để tượng trưng cho Đất, ở trong làm nhân ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý công ơn dưỡng dục của cha mẹ, như thế thì lòng cha sẽ vui, nhà ngươi chắc được ngôi quý”.

Lang Liêu giật mình tỉnh dậy, vui mừng nghĩ rằng “Thần minh giúp ta, ta nên bắt chước theo mà làm”. Lang Liêu bèn lựa nếp hạt trắng tinh, không sứt mẻ, đem vo cho sạch, rồi lấy lá xanh gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa, đem nấu chín tượng trưng cho Đất, gọi là bánh chưng. Lại lấy nếp nấu xôi đem quết cho nhuyễn, nhào thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, gọi là bánh dày.

Đúng kỳ hẹn, Vua hội họp các con lại trưng bày phẩm vật. Các con đem dâng không thiếu thứ gì, duy chỉ có Lang Liêu đem bánh hình tròn, bánh hình vuông đến dâng. Hùng Vương lấy làm lạ hỏi Lang Liêu, Lang Liêu trình bày như lời thần nhân đã bảo. Vua nếm thử thì thấy vị ngon vừa miệng ăn không chán, phẩm vật của các công tử khác không làm sao hơn được. Vua khen ngợi hồi lâu, rồi cho Lang Liêu được giải nhất. Vua dùng thứ bánh ấy để cung phụng cha mẹ trong các dịp lễ tết cuối năm. Thiên hạ mọi người đều bắt chước theo. Tục này còn truyền cho đến bây giờ, lấy tên của Lang Liêu, gọi là Tết Liệu. Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liêu; hai mươi mốt anh em kia đều chia nhau giữ các phiên trấn, lập làm bộ đảng, trấn thủ những nơi núi non hiểm trở.

Về sau, anh em tranh giành lẫn nhau, mỗi người dựng “mộc sách” (hàng rào cây bằng gỗ) để che kín, phòng vệ. Vì thế, mới gọi là Sách, hay là Trại, là Trang, là Phường. Sách, hay Trại, Trang, Phưòng bắt đầu có từ đây vậy.

—————————

Còn tiếp…

Thiệp Chúc Tết và Những Khúc Ca Xuân

Tết Tết Tết đến rồi. Bây giờ mỗi dịp Tết, nghe câu hát ấy và bài hát Happy New Year, lòng mình vẫn cứ rộn ràng và dường như thêm một lần được trở về hoài niệm ngày Xuân của tuổi nhỏ.

Ấy là những niềm vui tràn trề của tuổi thơ: được mặc quần áo mới, khoe tiền lì xì mừng tuổi, bánh mứt đủ đầy, và tạm quên bài vở trường học ít hôm.

Còn bây giờ là những ngày tất bật lo toan cho những nghi thức, tập tục của người lớn, nhà cửa tinh tươm, bày biện bàn thờ, ngắm hoa Xuân, du lịch, có một ít thời khắc cho việc thăm viếng và những lời chúc tụng, đi lễ đầu năm, vui chơi và nghỉ ngơi…

Nhạc Xuân không bao giờ cũ và là một nhu cầu không thể thiếu với mình và của các bạn. Hôm nay ngoài 10 bản nhạc Xuân dành riêng cho ngày 30 Tết, xin gửi lên đây thiệp chúc Tết của Nhạc Xanh với những lời chúc một năm mới Canh Dần tốt lành, an hoà, hạnh phúc và thịnh vượng đến với tất cả các anh chị em và các bạn của Đọt Chuối Non .

MỜI CÁC BẠN XEM THIỆP CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2010

VÀ THIỆP CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2010 có lời chúc bằng Tiếng Anh
HAPPY NEW YEAR 2010 Video Poem ecard

Phần lời chúc này mình không dịch mà xin dành cho các bạn dịch hộ trong ngày 30 Tết hay khai bút dịch đầu năm 😛 😆
.


.

The New Year is upon us
Bringing hope and anticipation
And if in our faith we trust
There is cause for celebration
May all your dreams come true
Whatever that dream may be
May good health always follow you
And bring blessings to your family
May you build memories to treasure
May your wishes be granted as well
May this year bring you much pleasure
And leave you with great stories to tell
May you find happiness in your heart
May you find joy and never be sad
May your resolutions give you a new start
And this be the best year you’ve ever had

31. HAPPY NEW YEAR với BAN NHẠC ABBA


.

No more champagne
And the fireworks are through
Here we are, me and you
Feeling lost and feeling blue
It’s the end of the party
And the morning seems so grey
So unlike yesterday
Now’s the time for us to say…

Happy new year
Happy new year
May we all have a vision now and then
Of a world where every neighbour is a friend
Happy new year
Happy new year
May we all have our hopes, our will to try
If we don’t we might as well lay down and die
You and I

Sometimes I see
How the brave new world arrives
And I see how it thrives
In the ashes of our lives
Oh yes, man is a fool
And he thinks he’ll be okay
Dragging on, feet of clay
Never knowing he’s astray
Keeps on going anyway…

Happy new year
Happy new year
May we all have a vision now and then
Of a world where every neighbor is a friend
Happy new year
Happy new year
May we all have our hopes, our will to try
If we don’t we might as well lay down and die
You and I

Seems to me now
That the dreams we had before
Are all dead, nothing more
Than confetti on the floor
It’s the end of a decade
In another ten years time
Who can say what we’ll find
What lies waiting down the line
In the end of eighty-nine…

Happy new year
Happy new year
May we all have a vision now and then
Of a world where every neighbor is a friend
Happy new year
Happy new year
May we all have our hopes, our will to try
If we don’t we might as well lay down and die
You and I

32. Mùa Xuân Đầu Tiên

Sáng tác : Tuấn Khanh

Trình bày: Thái Châu

Bao nhiêu thương nhớ gom nhặt đầy
anh trở về thăm em
Bao lần ngồi thâu đêm
nghe mùa Xuân vừa đến
Em ơi hoa thắm rơi ngập đường
trời nắng xế vương vương
Lòng nhớ đến em luôn
khi chiều tàn chim gọi đàn

Em ơi đôi lúc nghe lòng buồn
trên sườn đồi thông xanh
Sương phủ đầy vai anh
canh tàn trăng mờ ánh
Long lanh sao rớt phương đầy trời
dòng cát trắng bao la
chờ sáng đến chim ca
cho đường dài cũng không xa

Người yêu ơi! biết chăng anh về
Người yêu ơi! nhớ chăng lời thề
Anh say sưa nhịp bước trên hè
Anh nâng niu nụ hoa vừa hé
Đôi môi xinh người em nhỏ bé mộng mơ

Mùa Xuân ơi! biết tôi yêu đời
Mùa Xuân ơi! nói sao nên lời
Em ơi em, dù nhớ vơi đầy
Bao lâu nay, đợi nhau là mấy
Em đâu ngờ bến bờ hạnh phúc là đây

Em ơi Xuân đến bên thềm rồi
nhắp rượu hồng vơi đi
hết rồi mùa chia ly
cho tình Xuân vừa ý
Xin yêu thương đến đôi bạn hiền
để xóa hết cô đơn
rồi quyến luyến nhau hơn
cho người em thôi giận hờn

Xuân nay ta chúc cho mẹ già
vui vườn cà thêm hoa
Vui ruộng đồng bao la
tóc bạc phơ đẹp quá
Xin yêu thương đến vơi hận thù
để tiếng hát hôm nay
người chiến sĩ mê say
bên đàn trẻ bé thơ ngây

33. Cánh Bướm Vườn Xuân

Trình bày: Nguyễn Hồng Nhung

34. Chúc Tết

Trình bày: Lam Trường


.

35. Khúc Nhạc Mừng Xuân

Trình bày : Năm Dòng Kẻ


.

36. Đón Xuân

Trình bày: Như Quỳnh

37. Câu Chuyện Đầu Năm

Trình bày: Yến Khoa

38. Mùa Xuân Đầu Tiên

Sáng tác: Văn Cao
Trình bày: Ánh Tuyết

39. Nếu Xuân Này vắng Anh

Trình bày: Cẩm Ly

40. LY RƯỢU MỪNG – XUÂN MIỀN NAM

Trình bày: Phương Hoài Tâm- Phương Hồng Quế- Phương Hồng Ngọc

Happy Valentine – Danh ngôn tình yêu của Vườn Chuối

Chào các bạn,

Nhân dịp Ngày Valetine, và là ngày mồng một Tết, chúc các bạn một năm mới đầy tình yêu và ân phúc.

Vườn Chuối chúng ta đã dịch hơn 600 câu danh ngôn, trong đó có nhiều câu về Tình Yêu. Nhân dịp này mình đã chọn một số câu tình yêu chúng ta đã dịch, và làm thành một slideshow để chia sẻ với Vườn Chuối và mọi người.

Show nhạc “Danh Ngôn Tình Yêu của Vườn Chuối” có hình ảnh là các cặp tình nhân thơ mộng, và nhạc nền là bản The Power of Love do La Fuerza Mayor của ban Il Divo hát bằng tiếng Ý.

Chúc cả nhà một năm mới tươi sáng như mai vàng, và đỏ thắm như hồng hoa! 🙂

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng
.

Xin các click vào ảnh dưới đây để xem video và download

Nguồn gốc Ngày Valentine

Chào các bạn,

Hôm nay là Ngày Tình Yêu, đồng thời là mồng một Tết Nguyên Đán. Wow, đây là cơ hội rất hiếm trong đời!

Chúc các bạn một năm mới tràn đầy tình yêu nồng nàn, hoa hồng đỏ thắm, và kẹo so-cô-la dịu ngọt. 🙂

Và ít bị gai hồng đâm chảy máu. 🙂

Và nếu có bị gai đâm thì cũng thấy vui vẻ yêu đời 🙂 vì như thế còn vạn lần hơn là không có gai đâm 🙂

Ngày Valentine (Valentine’s Day, còn gọi là Saint Valentine’s Day, Ngày Lễ Tình Yêu hay Ngày Lễ Tình Nhân) là ngày dành cho tình yêu đôi lứa.

Ngày này nguyên thủy là Ngày Lễ Thánh Valentine, được Giáo Hoàng Gelasius I ấn định vào năm 496, là ngày 14 tháng 2 hàng năm. Có vài truyền thuyết khác nhau về Thánh Valentine:

Thiệp Valentine 1887

* Valentine thành Rome là một linh mục ở Rome, tử vì đạo năm 269, và được chôn cất trên con lộ Via Flaminia (ở phía bắc Rome, nối liền Rome và Ariminum). Xương thánh của Valentine ngày nay ở Thánh đường Thánh Praxed ở Rome, và Thánh đường Carmelite trên đường Whitefriar Street ở Dublin, Ireland.

* Valentine thành Terni là giám mục của Interamna (Terni ngày nay), nhậm chức vào khoảng năm 197, và tử vì đạo trong thời giáo hội bị bách hại dưới tay Hoàng Đế Aurelian. Giám mục cũng được chôn trên con lộ Via Flaminia, nhưng tại một nơi khác nơi chôn cất Valentine thành Rome. Xương thánh của giám mục ngày nay ở Vương cung Thánh đường Thánh Valentine ở Terni (Basilica di San Valentino).

* Tự điển bách khoa công giáo còn nhắc đến một Valentine, tử vì đạo ở Phi Châu.

Thiệp Valentine 1910-1920

Trong các thay đổi về Lịch Các Ngày Lễ Các Thánh năm 1969, ngày lễ Thánh Valentine 14 tháng 2 được đưa ra khỏi lịch các ngày lễ chung của giáo hội, và chuyển vào mục các ngày lễ thánh địa phương, với lý do: “Dù ký ức về Thánh Valentine rất cổ, ngày lễ Thánh Valentine được chuyển vào lịch đặc biệt của địa phương vì chúng ta chẳng biết gì về Thánh Valentine, ngoại trừ việc ngài được chôn cất trên con lộ Via Flaminia ngày 14 tháng 2.”

Chẳng có một chi tiết lãng mạn yêu đương nào liên hệ đến 3 truyền thuyết tử vì đạo này cả.

Thời xưa, ở Rome có ngày lễ nữ thần Juno vào ngày 13-14 tháng 2. Juno là nữ thần bảo vệ tổ quốc của Rome. Juno là tên Hy Lạp, ở Rome Juno được gọi là Regina. Juno cùng chồng là Jupiter (thần cao nhất của các thần), và con là thần Minerva, bộ ba được tôn thờ ở Juno Capitolina ở Rome.

Rome còn có lễ Lupercania từ ngày 13 đến 15 tháng 2, ca ngợi sự sinh sản phong phú. Vào ngày này nam nữ tìm đến với nhau trong lễ hội qua tục bốc thăm.

Giáo Hoàng Gelasius I xóa bỏ Lupercalia, là lễ của ngoại đạo.

Một số người đặt giả thuyết là giáo hội thành lập ngày Valentine để thế vào ngày lễ Juno và Lupercalia của truyền thống ngoại đạo.

Truyền thống lãng mạn về ngày Thánh Valentine bắt đầu với bài thơ Parlement of Foules (1382) của thi sĩ Geoffrey Chaucer của Anh:

Geoffrey Chaucer, họa sĩ Thomas Occleve (1412)

For this was on seynt Volantynys day
Whan euery bryd comyth there to chese his make.

[“For this was sent on Valentine’s Day, when every bird cometh there to choose his mate.”]

Vì đây đã được gửi ngày Valentine, khi mọi chim chóc đến đó tìm bạn tình.

Các độc giả của Chaucer nghĩ là Chaucer nói vể ngày Thánh Valentine 14 tháng 2. Nhưng đây là sự hiểu lầm lớn trong văn học. Bài thơ của Chaucer nói về hôn nhân giữa Vua Richard II của Anh quốc và Công Nương Anne của Bohemia. Hiệp ước giữa hai nước nói về hôn nhân này được ký vào ngày 2 tháng 5 năm 1381. (8 tháng sau đó họ làm đám cưới, lúc cả hai chỉ mới 15 tuổi).

Và trong lịch lễ thánh, ngày 2 tháng 5 là ngày lễ Thánh Valentine thành Genoa. Thánh này là giám mục của thành Genoa, chết vào khoảng năm 307, và chẳng liên hệ gì đến Thánh Valentine của ngày 14 tháng 2.

Tuy vậy, vì ảnh hưởng lớn của Geoffrey Chaucer trên văn học tiếng Anh, các văn thi sĩ khắp nơi sau đó bắt đầu ca tụng, một cách lầm lẫn, ngày Thánh Valentine 14 tháng 2 là ngày của tình yêu lãng mạn. Và đương nhiên chuyện đời là, khi mọi người đều làm điều gì thì điều đó được chấp nhận là đúng. 🙂

Thiệp Valentine, Victorian

* Ngày nay, chẳng biết từ đâu đến, chúng ta lại có thêm một truyền thuyết mới về Thánh Valentine. Theo thuyết này, Valentine là một linh mục không vâng lệnh của Hoàng Đế Claudius II cấm thanh niên lấy vợ và cấm linh mục cử hành hôn lễ cho thanh niên, vì Hoàng Đế muốn nhiều thanh niên độc thân đi lính. Tuy vậy, linh mục Valentine chống lại lệnh Hoàng Đế và cứ tiếp tục cử hành hôn lễ lén lút cho các cặp tình nhân.

Hoàng Đế biết được và xử tử Valentine. Trước giờ hành quyết Valentine còn gửi được một tấm “thiệp Valentine” đầu tiên trong lịch sử đến–hoặc là người yêu của linh mục (thời đó linh mục có thể có vợ), hoặc là con gái của người quản ngục mà Valentine đã gặp và chữa bệnh–và ký tên “From your Valentine” (“Từ Valentine của em”).

Truyền thống “thiệp Valentine” bắt đầu từ đó.

Các công ty buôn bán ngày nay rất thích dùng truyền thuyết mới, có tính tiếp thị cao này.

Vào ngày Valentine, các đôi tình nhân tặng nhau thiệp Valentine với các lời lẽ dấu ái lãng mạn, tặng hoa hồng, kẹo Chocolate, mời nhau đi khiêu vũ, ăn tối dưới ánh đèn cầy, xem phim…

TĐH

Phong tục về Ngày Lễ Valentine


.

Tình yêu làm trái đất quay ( Love makes the world go round).
Yêu thương- cảm xúc tuyệt vời nhất trong mọi xúc cảm của con người.
Chính nữ sĩ George Sand đã thốt lên : Chỉ có một hạnh phúc trong đời- yêu và được yêu

Chúng ta có Ngày Của Cha, Ngày Của Mẹ, Ngày Phụ Nữ…
Vì thế không thể thiếu một ngày cho những người yêu nhau.
.


.

Ngày Valentine còn gọi là ngày Lễ Tình Nhân, riêng cho những người yêu nhau. Các cặp nam nữ thường trao nhau những món quà xinh xắn, những cành hồng tươi thắm, và những cách thể hiện tình yêu vào ngày 14/ 2. Tại sao lại là ngày 14/ 2?

Một truyền thuyết lãng mạn, dù chẳng có chứng cớ gì cả, là Ngày Thánh Valentine bi tử hình thời đế chế La Mã.

Dưới sự trị vì của Hoàng đế Claudius đệ nhị, đế chế La Mã tham gia nhiều cuộc chinh phạt đẫm máu và không được người dân ủng hộ. Bạo chúa Claudius gặp nhiều khó khăn trong việc động viên các chàng trai trẻ gia nhập vào đội chiến binh của ông ta. Claudius cho rằng nguyên nhân chính là đàn ông La Mã không muốn rời xa gia đình hay người yêu của mình. Bởi vậy, Claudius ra lệnh cấm tất cả các đám cưới hoặc lễ đính hôn ở thành La Mã. Thánh Valentine tốt bụng là một linh mục ở thành La Mã dưới thời Claudius đệ nhị.

Ông cùng thánh Marius đã giúp đỡ những người Cơ Ðốc giáo phải chịu cảnh đọa đầy và bí mật làm phép cưới cho những đôi người yêu thànhvợ chồng. Vì hành động nhân ái này mà Thánh đã bị bắt giam và bị kéo lê trước mặt tên thái thú thành La Mã. Hắn đã xử Thánh Valentine phải bị đánh bằng gậy đến chết và sau đó phải bị chặt đầu. Valentine phải chịu cuộc hành hình vào đúng ngày 14 tháng 2 vào khoảng năm 270 TCN. Vào thời gian này đang diễn ra một phong tục truyền thống của người dân thành La Mã, thực ra đó là một lễ hội rất cổ xưa được tổ chức vào tháng 2, lễ hội Lupercalia, lễ hội để nhớ đến một vị thần của người La Mã.

Dần dà lễ Lupercalia cũng được đổi tên thành lễ Valentine và được các vị giáo sĩ chọn tổ chức vào ngày 14/2. Lễ Tình nhân đã bắt nguồn từ đây.

Lễ Valentine ban đầu chỉ phổ biến ở châu Âu nhưng sau đó, nó ngày càng lan rộng đến hầu khắp các nước, từ Châu Á đến châu Mỹ và cả châu Phi xa xôi nữa.

Những món quà được ưa chuộng ở châu Âu vào ngày lễ này thường là hoa và chocolate Ở Châu Âu, trong dịp này, người Pháp thường tặng nhau hoa và những thỏi sô cô la đơn giản với hương vị thuần khiết, ít đường, không cần phụ gia trong khi người Ý lại thích các sản phẩm cầu kỳ, còn người Anh lại gửi cho nhau những tấm thiệp mừng. Điều đặc biệt là trong ngày này, mọi tấm thiếp có hàng chữ Valentine Greeting đều không phải dán tem nếu gửi trong nội bộ nước Anh.

Ở châu Á thì sao?

Người Thái thích tặng nhau sô cô la trắng, còn người Nhật lại thích sô cô la sữa. Người Singapore và Hồng Kông ưa chuộng sô cô la sậm màu.

Năm nay ngày Valentine 14/ 2// 2010 lại rơi trúng ngày mồng một Tết Canh Dần. Như thế ngày lễ này có ý nghĩa đặc biệt: lễ kép vừa thiêng liêng với truyền thống dân tộc, vừa đặc biệt của những người yêu nhau.

Ở Việt Nam, ngoài hoa hồng là tặng vật không thể thiếu, còn những quà tặng nào khác được ưa thích chắc các bạn trẻ rành hơn người dịch và tổng hợp bài này. Xin các bạn bổ sung vào đây nhé.


Nhân ngày lễ Valentine này, Đọt Chuối Non xin chúc những người yêu nhau một ngày đặc biệt tràn đầy tình yêu và hạnh phúc với tình yêu chân thành, và tươi thắm, thuỷ chung bởi luôn cùng nhìn về một hướng
. ( for now, this new year, and forever)

Mời các bạn xem file Power Point Tình Yêu Valentine do một bạn trẻ, Nguyễn, là học trò cũ của mình sưu tầm và gửi đến hộp thư của mình cách đây 2 tuần với đề nghị mình giới thiệu trên ĐCN. Cũng trùng hợp là mới đây anh Hồng Phúc cũng đã giới thiệu file PP về Valentine này cho mình. Cám ơn em Nguyễn và anh Hồng Phúc thật nhiều.

Xin click vào hình đôi thiên nga bên dưới để đọc những lời hay về Tình Yêu vừa nghe bản nhạc không lời Love Story. Xin được cám ơn tác giả Ngọc Nga về file PP này 🙂 🙂
.

Bài Văn Tả Cây Mai Nhân Dịp Xuân Về

Mấy tuần trước, khi tôi đang lặt lá Mai, bé Út (Hồng Ân, 3 tuổi) hỏi “tại sao?”. Tôi trả lời lặt lá đi cho Mai ra hoa. Bé cũng muốn lặt lá và sau vài lần thử tay nghề bằng cách bứt lá, tôi phải nói ngay rằng con làm vậy cây Mai đau. Bé hiểu ra và thì thầm xin lỗi cây Mai, còn dỗ dành ráng chút cho có hoa, rồi cẩn thận lặt ngay cuống từng chiếc lá. Tôi chợt nhớ bài văn tả cây Mai dịp Xuân về do chị Hồng Phúc của bé viết năm lớp 6:

“… Cả nhà vui vẻ quây quần bên cây Mai để lặt lá. Em làm theo lời mẹ dạy, chú ý lặt đúng cách từng chiếc lá, tưởng tượng như đang mở từng chiếc cửa sổ tí ti trên thân cây …”.

Tết này, mẹ gửi bài văn tả cây Mai của chị Hồng Phúc lên ĐCN và sẽ đọc cho Hồng Ân nghe nhé (vì con còn chưa biết chữ mà)

Mùa xuân đã về. Chẳng thua gì miền Bắc với hoa Đào sặc sỡ, miền Nam cũng tưng bừng đón Tết với hoa Mai rực vàng. Mai từ lâu đã trở thành một hình ảnh không thể thiếu trong ngày Tết, Mai – loài hoa đặc trưng của miền Nam- mang một bổn phận thiêng liêng là đem hết vẻ đẹp của mình làm đẹp cho miền Nam, cho đất nước trong những ngày xuân về.

Nhà em có một cây Mai. Ngày thường, Mai đứng một mình trong góc vườn, lặng lẽ giữa bao nhiêu là Quỳnh Anh, Lan, Cúc, Vũ Nữ… Ấy vậy mà Mai vẫn ung dung, thản nhiên lớn lên với dáng vẻ đơn sơ và giản dị. Cây Mai cao hơn em đến hai cái đầu. Nó khoác trên mình một chiếc áo xanh đậm điểm vài bông hoa vàng hoe.

Đến rằm tháng Chạp, Mai được đem ra giữa sân nhà. Nó bắt đầu được chú ý đến. Mai được mọi người chăm sóc, bón phân, tỉa cành và đặc biệt lặt lá – một công việc mà em rất thích. Vào sáng Chủ Nhật, cả nhà em vui vẻ quây quần bên cây Mai để lặt lá. Em làm theo lời mẹ dạy, chú ý lặt đúng cách từng chiếc lá, tưởng tượng như đang mở từng chiếc cửa sổ tí ti trên thân cây cho những nụ hoa mở mắt hé nhìn trời đất.

Khi tất cả những chiếc lá đã rời cành mẹ, cây Mai trở nên trơ trụi, khẳng khiu. Những cành cây tia ra như những nét phác thảo bằng bút kim của một bức tranh. Nhưng chính sự trơ trụi ấy lại mang một vẻ háo hức và tưng bừng, đem đến cho mọi người cảm giác mùa xuân về.
Không phụ lòng người chăm sóc, không để cành phải đợi lâu, những nụ hoa li ti đã bắt đầu xuất hiện. Thân cây trơ trụi được tô điểm bằng những chấm xanh non của mầm hoa, mầm lá.
Gần đến Tết, những nụ hoa lớn lên, phình tròn, nhõ bằng chiếc móng tay út. Nhìn cây Mai như có hàng trăm con bọ xanh âu yếm bám chặt vào cành, cố gắng làm đẹp cho cây và hứa hẹn một sự đơm hoa rực rỡ ngày Tết

Tết tới, Mai được đặt chễm chệ ở một vị trí trang trọng trong nhà. Mọi người lo đi sắm đồ Tết, chẳng để ý đến Mai nhiều. Hôm mồng Một Tết, mọi người vui vẻ trong những bộ đồ mới. Đến lúc này, nhìn qua cây Mai, ai cũng ngạc nhiên khi thấy nó cũng đã sẵn sàng trong bộ trang phục truyền thống của mình. Mai phủ hắp người một chiếc áo vàng rực rỡ của hoa, điểm thêm vài màu xanh non của lá. Chúng em trang trọng treo những lời chúc “ An khang thịnh vượng”, “ Vạn sự như ý”, … và những bao lì xì lên cây, chia sẻ lời chúc năm mới với loài hoa tuyệt đẹp này. Vậy là chiếc áo vàng của Mai còn được điểm những món đồ trang sức màu đỏ, thể hiện may mắn và tình thương yêu

Hoa Mai vàng tươi, rất đẹp. Cánh hoa mềm, mịn như nhung. Nhưng chỉ sau một vài ngày, những cành hoa ấy héo dần và từ từ rời cành xuống điểm tô cho đất. Đất trong chậu đầy một màu vàng của cánh Mai.
Hoa Mai rụng đi nhường chỗ cho những nụ hoa con con bung mình hé nở. Những cái nụ xanh be bé, điểm vài màu vàng ở đỉnh. Chúng em thay nhau đoán xem đâu là nụ hoa, đâu là nụ lá, nụ nào nở trước, nụ nào nở sau. Những chiếc nụ lá không được quan tâm nhiều nhưng vẫn hồn nhiên nở cánh trước cả nụ hoa

Sau tết, Mai vẫn cố gắng thể hiện hết vẻ đẹp còn lại của mình, hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng được giao. Dưói đất, hoa vàng rụng nhiều. Trên cây, lá xanh lớn lên . Hết Tết, hết mùa hoa Mai, đến lượt lá đua nhau trang trí cho cành. Mai lại khoác lên mình chiếc áo màu xanh thẫm.
Mai cũng “ điệu” như con người, cứ đến Tết là xúng xính trong bộ quần áo đẹp. Mai như một người bạn quen thuộc, chia sẻ ngày Tết với mọi người. Mai gắng sức mình tô đẹp cho ngày Tết. Mọi người quan tâm, làm đẹp cho Mai. Em yêu Mai, gia đình em yêu Mai, miền Nam này yêu Mai, cả đất nước Việt Nam cũng yêu Mai. Cây Mai- biểu tượng của may mắn, vui vẻ và hạnh phúc.

Hồng Phúc viết năm lớp 6 ( 2 năm trước )

Vệt vằn của cọp

VT VN CA CP

Trần thị LaiHồng

dịch The Tiger’s Stripes của Võ Đình*

Ngày xửa ngày xưa, bộ lông là niềm hãnh diện của cọp.  Trong bóng cây rừng, dưới ánh trăng, toàn thân cọp là một khối vàng uy nghi uyển chuyển uốn lượn.

Nhưng ngày nay, cọp khoác những vệt đen vằn vện làm hỏng cả bộ mã óng mượt toàn hảo ngày nào.  Với cọp, những vệt vằn vện đẹp đẽ đó ngó chẳng ra chi mà là dấu vết một trận đòn chí mạng.  Tuy nhiên, rồi cọp cũng quen sống với những vệt vằn vện này.  Và mỉa mai thay, những vệt vằn vện đó lại giúp cọp thêm dễ dàng trốn lẩn.  Ẩn mình trong đám cỏ tranh hay náu thân sau lùm cây chằng chịt, cọp lẫn vào cây cỏ, chẳng thể nào thấy được.

Tuy nhiên, khoan vội nghĩ là hồi còn nguyên bộ lông thẫm vàng óng mà cọp lại ít đáng khiếp sợ hơn. Cọp nổi danh nhanh nhẹn, uy vũ, tàn bạo, và tham lam.  Ai cũng biết sư tử no mồi chẳng buồn giết nữa.  Nhưng cọp thì khi nào cũng sẵn sàng tấn công.

*

Chính con thú đó đe dọa cư dân một làng vùng núi nọ.  Lâu nay dân làng sống yên ổn trong công việc hàng ngày, cho đến lúc nỗi hãi hùng bùng nổ như núi lửa.  Chưa đầy một tuần, cọp về làng ba lần.  Một con nghé, một con nghé nữa, rồi một con heo bự lần lượt biến.  Dân làng sợ hãi, hoang mang.  Con mãnh thú – dấu chân rất lớn rành rành để lại – hẳn là một con thú vô cùng xảo trá quỷ quyệt, nhanh nhẹn, và dũng mãnh.  Tấn công lặng lẽ không gây tiếng động, vì lũ chó mọi khi vẫn canh gác cẩn mật thế, lại im hơi lặng tiếng khác thường.  Những vòng rào tre bao quanh mấy căn nhà chẳng hề xiêu vẹo chút nào.

Một người dân làng lo mất gia súc, giận dữ đích thân canh thức cùng hai chàng trai khác đợi suốt đêm rình tên cọp sát thủ. Đối đầu ba tráng đinh giáo mác sắc nhọn, cọp rút chạy về rừng sau khi lẹ làng tàn bạo vồ một người.  Nạn nhân vỡ sọ chết tức tưởi tại trận.

Từ đó, Vua Cọp –  Chúa Sơn Lâm, Ông Hổ, Ông Ba Mươi, Ông Khái với vóc dạng gồ ghề – được cả làng nhắc nhở trong hãi hùng, khiếp sợ và căm hận.  Và cọp tung hoành hùng cứ toàn vùng thung lũng.

Lâu nay Vua Cọp để mắt đến một con trâu mộng đen mập hàng ngày cày ruộng dưới sự điều khiển của một bác nông dân.  Từ sau đám cỏ và bụi rậm trên đồi cao, Vua Cọp quan sát.  Cọp chưa muốn vội tấn công.  Cọp nghĩ:  “ Nếu con trâu mộng to mập dường ấy có bộ sừng nhọn hoắc dường ấy coi bộ mạnh vậy để tui phải đắn đo suy đi tính lại trước khi vồ nó, thì tên lực điền dũng mãnh kia hẳn phải nguy hiểm lắm mới làm chủ sai bảo được con trâu chứ !”

Ngày lại ngày, Vua Cọp càng nôn nóng.  Nhưng thay vì xuống núi tuôn vào cánh đồng liều một trân đẫm máu, cọp quỷ quyệt đủ khôn để vẫn ẩn mình chờ cơ hội.

Một buổi sáng, bác nông dân ra đồng như thường lệ, nhưng coi bộ bỏ quên vật gì ở nhà, để con trâu ở lại một mình trên ruộng.  Từ xa, cọp chăm chú theo dõi.  Một ý tưởng nẩy lóe trong đầu.  “Ta sẽ xuống lân la thân thiện với con trâu, và sẽ bất thần chộp khi nó chẳng ngờ.  Rồi ta sẽ dấu trâu trong bụi rậm.”  Vừa nhẹ nhàng bước, cọp vừa nghĩ tiếp: “Và khi tên lực điền trở lại, ta sẽ “xử lý” hắn khi không còn con trâu để trông cậy !”

Uyển chuyển nhanh nhẹn, Vua Cọp đến gần trâu, cố làm ra vẻ tử tế dịu ngọt: “Bậu trâu ơi !  Nghe nè !  Tui đến với bậu không có ý làm hại bậu đâu.  Tui chỉ muốn hỏi bậu mấy điều lâu nay cứ bận tâm hoài …”

Dầu khiếp đảm, con trâu hiền lành giữ bình tâm.  “Ồ, ông bạn đó à !  Ông bạn Chúa Sơn lâm !  Thiệt tử tế hết sức !  Có chuyện chi tui làm được nào ?”

“Ơ bậu ơi !”  Cọp nói, trong khi tiến thủ trong vị thế sẵn sàng thình lình nhảy vồ trâu, “Lâu nay tui ngưỡng mộ bậu lắm.  Khỏe quá !  Siêng quá !”  Cọp ngước mắt lên trời.  “Thiệt tui không thể tưởng nổi làm sao bậu kéo cái cày nặng nề này được.  Rồi cách bậu làm việc nữa !  Từ sáng sớm tửng bưng đến tối mịt chỉ nghỉ chút xíu vào trưa !  Tui nghĩ bậu thiệt tuyệt, tuyệt, bái phục bậu …”

Dầu khiếp hãi, trâu cũng khoái lắm.  Đấy, chính Vua Cọp đứng trong bùn ruộng đích thân ca ngợi trâu, con vật kéo cày hèn mọn !  Nhưng trâu không quên cảnh giác.  Hễ cọp nhích chân là trâu cũng nhích chân.  Vua Cọp luôn luôn đối đầu với cặp sừng lớn cong vút, nhọn lễu, chĩa thẳng vào mặt.

Cọp lập lại: “Tui nghĩ bậu thiệt dễ nể.  Có điều chẳng phải vì chủ của bậu, bác nông dân …”

Trâu lùi lại : “Chủ tui làm sao, hở ông bạn Vua Cọp?”

“Ờ … họ khoan họ rị, bậu ơi !  Tui nghĩ là bậu để ông ấy khai thác bậu cạn tàu ráo máng.  Tui chẳng biết ông ta sẽ làm thế nào mà kéo cái cày nặng nề này nếu không có bậu giúp.  Nhưng ông ta xử tệ với bậu, quá tệ.  Hò tắt hò rì túi bụi !  Cứ ra lệnh riết !  Rồi cái roi tre trong tay ông ta nữa … Ông ta quất cố mạng vào mông bậu từng ba bước một !  Tàn nhẫn !  Hung bạo quá là ông chủ của bậu.  Nếu tui là bậu thì …”

Nhưng cọp bị trâu ngắt lời.  Trâu chẳng muốn nghe ai nói xấu ông chủ mình.  Trâu ôn tồn:  “Ông bạn lầm rồi.  Ông ấy là một người tốt.  Ông phải ra lệnh để tui biết mà đi chứ.  Còn cái roi ông ấy dùng chẳng phải để đánh tui đau !  Da tui dày cộp nên cái roi ấy nhằm nhò chi !  Ngoài ra, ông ấy chăm sóc tui tử tế, cho tui rơm ăn và chuồng ở.  Cố nhiên ông ấy là chủ tui vì ông có trí khôn.”

“Trí khôn ?”  Vua Cọp nhảy nhổm lên, xích lại gần.  “Trí khôn là cái chi chi vậy cà?   Tui chưa hề nghe.  Trí khôn ngó ra làm sao?”

Trâu ngúc ngoắc đầu, chĩa sừng ngay mặt cọp.  “Tui không biết.  Tui cũng chưa hề tận mắt thấy cái trí khôn ra làm sao cả.  Nhưng tui biết ông ấy có trí khôn vì ai cũng nói thế.  Họ nói vì vậy mà ông ấy rất có uy thế và minh mẫn.  Nhân tiện lát nữa ông ấy trở lại đây, ông bạn có thể hỏi ông ấy về cái trí khôn.”

Tính tò mò của cọp nổi dậy.  Lần này cọp không cẩn thận như mọi khi. Cọp quyết định đợi bác nông dân trở lại.

Vừa ló dạng từ khúc quanh đường làng, bác nông dân chạm mặt cọp.  Nhưng từng được chỉ bảo cách ứng phó với tình hình như vậy, bác biết là không nên bỏ chạy.

Trâu cất tiếng gọi:  “Ông chủ ơi !  Bạn tui đây là Ông Vua Cọp nè.  Anh ta đòi coi cái trí khôn của ông !  Xin ông vui lòng cho anh ta coi cái trí khôn của ông đi !”

Cọp phụ họa theo: “Bác cho tui coi với nào !  Tui muốn coi cái trí khôn của bác, xin coi một lần thôi !  Có phải cái trí khôn giúp bác thông minh và có uy quyền không ?  Sao tui chẳng có cái trí khôn đó ???”

Hoàn hồn sau cơn khiếp hoảng, bác nông dân giang hai tay lên: “Được !  Được !  Chào ông cọp !  Sao ông không tới sớm một tí trước khi tui chạy về nhà lấy mo cơm trưa ?  Để tui biết mà đem cái trí khôn trở lại cho ông coi.  Nó bự lắm nặng lắm không phải lúc nào cũng kè kè vác theo bên mình.  Tui luôn luôn để trí khôn ở nhà.”

Cọp tiu nghỉu.  Nhưng nỗi thất vọng của cọp không làm hắn quên mục đích xuống núi là làm thịt cả con trâu mộng mập ú và bác nông dân kia.  Bây giờ cọp đứng gần chẳng thấy trâu mập người mạnh và nguy hiểm như nhìn từ xa.  “Ta có thể vồ chúng ngay bây giờ, ngay trên thửa ruộng này!”  Vừa nghĩ vậy, cọp vừa quật đuôi, sửa thế vồ mồi.

Bác nông dân nhanh nhẹn:  “Ồ!  Được rồi !  Được rồi !  Đừng ra bộ khổ sở vậy ông ơi !  Ông đã mất công từ rừng ra đây, tui không để ông về tay không chẳng thấy được cái trí khôn.  Tui sẽ trở lại ngay tức thì !”  Bác dợm chân, nhưng chưa được mươi bước, vội quay lại:  “Chiều ý Ngài Chúa Sơn Lâm, tui sẽ về nhà lấy cái trí khôn.  Nhưng tui không muốn để Ngài một mình với con trâu của tui.  Ai phụ tui cày ruộng nếu Ngài ăn thịt con trâu của tui?”

Cọp gầm gừ phản đối chẳng có ý làm thịt trâu, nhưng bác nông dân quyết không rời bước.  Bỗng bác hả hê vỗ đùi đen dét:  “Được rồi!  Nếu Ngài quyết tâm thấy cái trí khôn của tui cho kỳ được, thì Ngài hãy chịu khó để tui buộc Ngài vào gốc cây kia nhé?  Có vậy tui mới chẳng lo chi về con trâu của tui.”

Vua Cọp đảo mắt nhìn bác nông dân rồi nhìn con trâu, rồi lại nhìn bác nông dân rồi lại nhìn con trâu.  Coi chúng thiệt yếu hèn đối với cọp.  Bây giờ có ông chủ, trâu trở lại hiền lành thuần thục.  Trâu đứng đó, đầu hơi cúi xuống, mắt trầm tư đượm buồn.  Cọp nghĩ: “Và cái anh chàng nông dân kia !  Cái anh chàng yếu đuối kia !  Ta phải thấy cái trí khôn của hắn mới được.  Ta sẽ cướp cái trí khôn của hắn, rồi ăn tươi nuốt sống cả hai.”  Quyết tâm xong, Vua Cọp bằng lòng nghe lời bác nông dân.

Bác nông dân bắt cọp đứng thẳng trên hai chân sau, úp bụng ôm sát thân cây gần đó, lấy giây thừng lớn trói vòng con vật vào thân cây.  Vừa buộc chặt nút thắt cuối, bác tháo ngay cái cày khỏi lưng trâu, lấy hết sức lực thẳng cánh nện lên mình cọp.  Cọp đau đớn giận dữ gầm thét vang làng chuyển xóm.

Cuối cùng, cọp vùng vẫy thoát được một chân sau, chống lên thân cây, gồng mình ráng sức bứt đứt giây trói.  Nhưng thay vì quay lại vồ mồi, cọp cúp đuôi dông tuốt một mạch về rừng.

Kể từ đó cọp không còn như trước.  Vì cố ráng vùng thoát, cọp đã làm những vòng giây trói siết chặt phát nhiệt nóng đốt xém bộ lông vàng thành những vệt vằn vện quanh mình.

Bây giờ cọp mới hiểu cái trí khôn của con người là gì, nên thêm quỷ quyệt và là kẻ thủ không đội trời chung với loài người, trở thành con vật chuyên giết người ăn thịt.

Chẳng bao giờ cọp rời hang núi lúc ban ngày để mầy mò quấy nhiễu đám gia súc và chủ của chúng.  Bộ lông trên mình với những vết vằn vện luôn nhắc cọp nhớ đến mưu trí của loài người.

Xin bổ túc thêm phần cuối chuyện liên hệ đến con trâu, không có trong nguyên bản tiếng Anh.

Thấy chủ xử sự dùng trí khôn dạy một bài học để đời cho Vua Cọp, trâu khoái quá hả họng cười lăn cười bò, ngã bổ chửng vào gốc cây, va bập mõm vào tảng đá, gãy trọn cả hàm răng trên.  Và từ đó, trâu không có hàm răng trên nữa.  Cũng từ đó, ta có câu tục ngữ “chởm hởm như trâu mất hàm côi”**, ý chế nhạo chẳng có gì mất cả, vì vốn đã không có rồi.

*  Nguyên bản tiếng AnhThe Tiger’s Stripes của Võ Đình, trong tập chuyện kể dân gian Việt Nam có minh họa The Toad is The Emperor’s Uncle/Con Cóc là Cậu Ông Trời, nhà xuất bản Doubleday & Company, Inc, Garden City, New York, 1970

**  Côi có nghĩa là trên, tiếng Việt xưa, còn dùng tại vùng Thanh- Nghệ- Tĩnh và Quảng Bình/Quảng Trị/Thừa Thiên

A long time ago, the tiger’s coat was a source of great pride to him.  In the shadows of the forest, under the moonlight, the great feline’s body was an undulating and powerful mass of glittering gold.

But today, he loathes the irregular black stripes which mar his once perfect fur.  To him, these beautiful stripes look like nothing but the marks of a cruel slashing whip.  Nevertheless, he has learned to live with them.  And ironically, these very marks have made him even more elusive.  Lurking in the elephant grass or crouching behind a thicket, the tiger, blending into his surroundings, is all but invisible.

Let no one think for a moment, however, that when the tiger’s coat was of a uniform golden brown he was any less fearsome.  His reputation for swiftness and power, cruelty and greed was already established.  It is well known that a lion which has just eaten never kill.  The tiger, though, has always been ready for attack.

*

It was such an animal which had been terrorizing the population of a whole mountain village.  The people had been living peacefully in their day-to-day routine when suddenly fear erupted like a volcano.  In less than a week the tiger had visited their hamlet three times.  A calf, another calf, then a prize pig disappeared.  The villagers were afraid and puzzled. The large beast – his footprints were enormous – was a particularly cunning, swift, and strong one.  The raids had taken place noiselessly, because the dogs, usually vigilant, had kept quiet.  The bamboo fences surrounding the houses had remained undisturbed.

Afraid of losing any of his cattle, one man angrily mounted guard himself and, with two other men, waited all night for the killer.  Confronted by three men armed with spears and swords, the tiger beat a quick retreat, but not before he had swiftly and savagely struck one of the men.  The victim died of a fractured skull.  By now, the Tiger King, so name for his huge size, had become the most feared and hated creature in the whole valley. There, he reigned supreme.

For quite some time, the Tiger King had had his eyes on a big black buffalo he saw almost every day, pulling the plow in the field for its master.  From behind the grass and bushes of the hill, high above the village, the Tiger King often gazed down at the working team.  But as yet, the Tiger wanted no battle with them.  He thought, “If the big buffalo with his sharp horns seems so strong that I think twice before attacking it, how dangerous and powerful the man must be to remain its master!”

As the days passed the Tiger King became more and more impatient.  Still, instead of going to the field and risking a bloody fight, he was cunning enough to remain hidden and wait for the right moment.

One morning the farmer came to his rice field as usual, but apparently having forgotten something, he disappeared after a moment, leaving his buffalo behind.  From afar, the tiger watched all this.  “I will go and try to make friends with the buffalo,” the Tiger King thought suddenly, “and strike him when he least suspects it.  Then I’ll hide him in the bush,” he thought again, on the way down to the field, “and when the man returns, I will handle him without his buffalo’s help!”

Swiftly, the Tiger King approached the buffalo, trying to look as gentle as he could.  “Listen, friend, I have come with no harmful intentions.  I only want to ask you something which has been bothering me for some rime.”

Although frightened, the good buffalo remained calm.  “Oh, it’s you, friend Tiger!  How nice to see you!  What is this that I can do for you?”

“Well, friend buffalo.” The tiger said, maneuvering himself all the while into a good place from which to leap at the unsuspecting buffalo. “I have been admiring you for a long, long time now.  Your strength!  Your industry!”  The tiger raised his eyes toward heaven.  “How you can ever pull this heavy plow is beyond me.  And the way you work!  From dawn to dusk with but a short, short break at noon!  I think you are wonderful, friend buffalo, wonderful, admirable …”

Despite his fear, the buffalo was pleased.  Here was the Tiger King himself, standing in the mud of the field, praised him, the lowly plow-piller!  But he did not relax his guard.  Every time the tiger moved, he, too, moved.  The Tiger King always found the huge, curved, sharp horns facing him.

“I think you are admirable,” the Tiger King repeated.  “If it were not for your master, the farmer –”

“What of my master, friend Tiger?”  The buffalo inquired, somewhat taken aback.

“Well, now, don’t take offense, friend buffalo. I think you have been letting yourself be injustly exploited by that man.  I don’t know what he would do to pull this heavy plow without your help.  But he treats you badly, very badly.  Go!  Stop!  Left!  Right!  All those orders!  And that bamboo cane in his hand … He whips you every three steps you take!  What a cruel, hard man!  If I were in your place, I would …”

But the Tiger King was interrupted. The buffalo did not like to hear his beloved master abused.

“You are wrong, my dear friend,” he said to the Tiger King.  “The man is as good as he can be.  He has to give orders so I will know where to go.  And his whip is not meant to hurt me!  My skin is too thick for that wisp of bamboo!  Besides, he is kind and gives me food and ahelter.  And, of course, he is my macter because he has intelligence.

“Intelligence!”  interjected the Tiger King, edging closer.  “What’s that?  I have never herad of it before.  What does an intelligence look like?”

Shaking his head, the buffalo faced the tiger with hic horns.  “I don’t know.  I really don’t!  I have never seen it myself.  But I know he has it because people talk about it.  They say that that’s why he is so powerful and clever.  By the way, he will be back any moment now, and you could ask him about it yourself.”

The Tiger King’s curiosity was aflame.  For once he was not as cautions as he should be.  He decided to wait for the man’s return.

As soon as the farmer rounded the corner of the path, he came face to face with the tiger.  But having taught what to do in such a situation, the man knew better than to turn on his heels and run.

“Master!” the buffalo called to him, “Here is my friend, Tiger.  He asks to see your intelligence!  Won’t you please show it ti him?”

The Tiger King chimed in: “Show it to me, Farmer!  I want to see it, just for once. Is it true that it helps you to be clever and powerful? Why then haven’t I got it?”

Completely recoved now from the initial shock, the farmer threw his hands up:  “Well, well, good morning Mister Tiger, sir!  Why in heaven didn’t you come a bit earlier, before I went home to fetch my lunch?  I certainly would have brought my intelligence back to show you.  It’s too big and too heavy to carry around you know!  I always leave it at home.”

The tiger was thoroughly disappointed.  But his disappointment did not make him forget the the real reason he was there was to assault both buffalo and man.  Now that he was seeing them at close quarters, they didn’t look as big and dangerous as they had from afar.  “Perhaps I could try to take them on right here and now,” the Tiger King thought, and his tail began to quiver as it always did before an attack. … But quickly the farmer said to the tiger:   “Oh, all right, all right!  Don’t look so miserable, sir!  Since you came here all the way from the jungle, I don’t want you to go back without having seen it.  I’ll return in a moment.”  Thereupon the farmer turned on his heel and started home.  But before going to a dozen feet, he retraced his steps hurriedly and said to the tiger. “But look here!  To oblige you I’m willing to go all the way home to get my intelligence. But I don’t want to leave you alone here with my buffalo.  Who would help me plow my fields if you ate up my buffalo?”  The tiger protested vigorously that he had no intention of doing so, but the farmer was adamant and refuse to leave.

Suddenly the man slapped his thigh triumphantly.  “Well, if you want to see my intelligence so much, why don’t you let me tie you up to this tree here?  Then I wouldn’t worry about my buffalo.”

The Tiger King looked at the man, then at the buffalo, then back at the man, then back at his buffalo.  More than ever, they seemed so mild, so humble to him.  Now that his master was back, the buffalo was behaving in his usual docile, gentle way.  He was standing there with his head slightly bent down, his eyes thoughtful and sad.  “And the farmer!  That puny man!” thought the Tiger King.  “I have to see this fellow’s intelligence.  I will take it from him and then I will kill and eat them both.”  Having made up his mind, the Tiger King agreed to the farmer’s proposal.

Making the tiger stand upright against the trunk of a nearby tree, the man began to encircle the animal with yards of strong rope.  No sooner was the final knot tied than the farmer quickly unfastened the heavy plow from his buffalo, and with all his strength started to beat the captive tiger who roared in pain and fury.

Finally, maddened to the extraordinary strength, the Tiger King managed to get one of his hind feet against the tree and in one incredible push broke the strong binding rope.  But instead of turning upon his intended victims, he ran desperately for his life.

*

The tiger has never looked the same.  Having struggled so hard to free himself, he forced the rope to sear his fur, burning dark lines all over his body.

Because he knows now what man’s intelligence is, the tiger has become an even more treacherous and bitter enemy, an eternal “man-eater.”  Never again will he dare come down from his mountain lair in daylight to molest the domestic beasts or their masters.  His marred fur is always there to remind him of man’s cunning.

Những khúc ca xuân – series

21. Liên khúc Xuân ca, Đón Xuân & Xuân nghệ sĩ hành khúc

Bich Vân & nhiều nghệ sĩ


.

22. Xuân Đã Về- Mây Trắng


.

23. Dịu Dàng Sắc Xuân – Mây Trắng


.

24. Khúc Hát Thanh Xuân_ Johann Srauss, Lời Việt Pham Duy

Trình bày: Thanh Lan & Ngọc Hạ


.

25. Lắng Nghe Mùa Xuân Về

Trình bày: Bằng Kiều, Hồng Nhung


.

26. Xuân Quê Tôi – Cẩm Ly & Quốc Đại


.

27. Liên Khúc Thì Thầm Mùa Xuân – Chiều Xuân

Trình bày: Tam Ca Con Gái


.

28. Khúc Nhạc Mừng Xuân – Trish


.

29. Xuân Họp Mặt

Jacqueline Thùy Trâm, Dạ Nhật Yến and Trish Thùy Trang


.

30. Khúc Xuân Ca Nhạc Nguyễn Ngọc Phúc – Quỳnh Lan trình bày

Nghĩ về mưa nắng trời xuân

Đọc tập hồi ký viết tay thấy cha tôi kể chuyện hồi những năm đầu thập niên 30 của thế kỉ trước song thân tôi “lưu lạc” vào Nam Kỳ. Sáu bảy năm trời xa quê, nhìn “thiên hạ” đón xuân ông cảm khái ngâm rằng:

Xuân mãn nam thiên phong thủy cựu
Nhơn tồn khách địa tuế thời tân


Hồi đó Tây chia nước ta thành ba kỳ, ba chế độ cai trị khác nhau. Dân Trung Kỳ vào Nam Kỳ coi đây là đất khách. Xuân về tết đến… đem lại thời gian mới nhưng người vẫn còn nơi đất khách nhớ về quê cũ. (Tương tự, Nguyễn Bính từ Bắc Kỳ vào đến Huế đã làm thơ rằng Chén rượu ly hương, trời, đắng lắm, rồi trong Hành phương nam cũng từng cảm khái với Đêm mưa đất khách). Thế nhưng, nghiệm trong câu trước thì dẫu phương nam hiện tại (lúc ấy) có là đất khách, cha tôi vẫn hiểu mình đang sống dưới trời nam, không riêng cho một kỳ nào. Khắp cả trời nam mọi người cùng đón xuân với phong tục tập quán tự ngàn xưa. Vậy là cha tôi không cô đơn nơi khách địa, ông đã bắt gặp cả phong thủy cựu bàng bạc khắp nơi giữa buổi tuế thời tân, bởi vì xuân mãn nam thiên, bởi vì mùa xuân không bao giờ lỗi hẹn.

Rồi khi tôi vừa chào đời song thân tôi trở về quê cũ. Tôi đã sống những ngày thơ ấu trong không khí vùng cao nguyên mùa dông lạnh buốt gió bấc mưa dầm. Dần dần mưa tạnh, run run chút nắng mong manh, lớp đất đóng rong trên mặt sân bóc lên những miếng bằng miệng chén, vỡ ra giòn vụn dưới bàn chân cho tôi sự thích thú nhẹ nhàng. Vài ba buổi chiều rồi năm bảy buổi chiều. Cái nắng như người bệnh yếu ớt ẻo lả ấy dần dần bình phục, mỗi hôm đậm thêm một chút, dần dần không biết tự lúc nào vẻ chói chang rực rỡ hiện rõ, trong màu sắc còn có hương thơm và hình như có cả vị ngọt. Chúng tôi ngớ ra y như con thú rừng ngẩng đầu vươn cao tầm nhìn để đánh hơi trong gió và thấy được: tết sắp tới rồi. Tuổi nhỏ chúng tôi chỉ biết có tết, sau này lớn lên, hồi tưởng mới nói: mùa xuân đang đến.

Tháng chạp hết mưa, buổi sáng đầy sương là báo hiệu buổi trưa nắng tốt mà giữa khuya càng thấm lạnh. Đến cuối tháng chạp thì nắng đẹp lắm, màu vàng tươi rói. Thế mà sang tháng giêng thì cái nắng ấy biến đâu mất. Nắng tháng giêng đã nghiêng sang màu hồng, hơi nặng, không vàng, không nhẹ như nắng tháng chạp. Và tháng giêng trời lại chuyển mùa, hay có những cơn mưa: mưa xuân.

Có thể nói thời tiết từ đông sang xuân thật rắc rối:

Cơ mầu tạo hóa bốn mùa vần
Đông: cuối ba mươi – mồng một: xuân
(Thơ Hồng Đức quốc âm)

Nhiều lần chiều hăm chín chiều ba mươi vẫn là nắng vàng tháng chạp, nhưng giữa khuya hoặc mờ sáng rắc xuống cơn mưa. Đôi lúc là cơn mưa khá lớn, nhưng mưa không lâu. Thông thường mưa nhỏ lay bay, mưa phùn lất phất. Đọc thơ Trung Hoa thấy ông thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên nhàn nhã đến mức ngày xuân mà ngủ quên không biết trời trăng mây nước gì, đến khi nghe tiếng chim kêu rộn ràng thức dậy tự hỏi: Đêm qua trời mưa gió hoa rụng ít nhiều?

Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu?
(Xuân Hiểu)


Khi chúng tôi trưởng thành mà chưa phải nhận trách nhiệm gia đình thì ngày tết cũng thật thoải mái, tưởng như đất trời trong gang tấc để vẽ vời cái gọi là giấc mộng sông hồ. Tết là dịp để rộng bước giao lưu, đi chơi đây đó. Thanh niên Miền Trung năm mươi năm trước phần đông hiền khô như cục đất, bước đầu tập uống la-ve, đọc cổ văn cố bắt chước theo cái buồn của người xưa nhưng chẳng thấy đâu mối sầu vạn cổ mà càng có điều vui để nói với nhau, nhìn bạn gái qua lăng kính Tự lực văn đoàn, thấy người nào cũng đẹp, cũng thánh thiện. Mưa xuân làm đôi má bạn trắng hơn, nắng xuân làm má bạn hồng hơn. Tết được đồng hóa với mùa xuân và mùa xuân đồng hóa với tuổi xuân, cho nên khi tết không chịu nán lâu hơn thời ta còn niên thiếu, Kiều Thệ Thủy viết:

Ai đem tâm sự mà thương nhớ
Cồn tóc mây xa ở cuối trời
Bạn cũ sông hồ năm bảy đứa
Biết còn trinh bạch những đôi môi?

Đời tôi trải nhiều buổi nguyên đán nắng hồng hơn những buổi nguyên đán mưa nhạt. Nhưng những buổi nguyên đán mưa nhạt còn đọng lại trong ký ức lâu hơn. Năm ấy tôi về ăn tết tại nhà bà cô ở làng Bình Chánh trong vùng châu thổ sông Cái Tuy An, sáng mồng một theo ông dượng lên chùa Đá Trắng. Đá Trắng là tên nôm, tên chính thức của chùa là A Lan Nhã sắc tứ Từ Quang tự. Trời mưa bụi lay bay, thoáng nhìn ta không biết ướt, nhưng vuốt tay lên đâu thì thấy nước ở đó. Tâm hồn tôi như lâng lâng khi dạo trong vườn tháp rêu phong, cứ nghĩ hoài đây là nơi gắn bó với những việc quan trọng của gia tộc. Trong cuộc khởi nghĩa Cần vương tại Phú Yên năm 1885 do Lê Thành Phương lãnh đạo, ông nội tôi lúc ấy hăm sáu tuổi là Quân thứ từ hàn, lo về văn thư bút lục, thường lãnh nhiệm vụ ra chùa Đá Trắng làm một khách vãn cảnh để gặp gỡ liên hệ với các bạn đồng tâm trong văn thân tỉnh Bình Định. Một buổi trưa nắng gắt tại dốc Đá Trắng ông đã gặp người phụ nữ gánh nước độ đường. Người phụ nữ ấy sau là bà nội tôi. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông nội tôi đưa bà lên Vân Hòa trú ẩn, về già lui xuống Phong Thái, căn dặn con cháu khi ông lâm chung chôn sâu trong hang đá. Cha tôi thì an táng ở Tuy Hòa. Thành ra cả họ Trần nhà chúng tôi chỉ có hai người dâu là bà nội tôi và mẹ tôi ngàn năm yên nghỉ tại Vân Hòa. Bởi lẽ ấy tôi dành trọn tình cảm sâu nặng cho làng quê.

Có một nguyên đán từ huyện lị tôi khăn gói lên đường làm chuyến đi xa. Đi xa là nói theo chữ nghĩa cho vui và nói theo giao thông cách trở thời tôi hai mươi tuổi chứ ba bốn trăm cây số thì giờ đây có xa gì. Từ quán trọ nhìn ra con đường vừa tu bổ, những hàng dương mới trồng xanh nhạt dưới màn mưa nhỏ. Chưa biết nhiệm sở sắp đến thế nào, bằng hữu sẽ gặp ra sao, tưởng tượng cũng có phần thích thú nhưng không khỏi phảng phất bâng khuâng xa cách cố nhân, sẽ không còn những lần lang thang từ phố huyện ra nhịp cầu xưa đến chân đồi Lá đôi mắt bạn nhìn xa xôi tận điểm cuối cùng.

Tôi mạn phép sửa một chữ trong thơ Vương Duy:

Huyện thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân

Và thoát dịch theo ý mình: Mưa mai rắc bụi huyện thành. Hàng dương quán trọ xanh xanh nhạt nhòa.

Tháng giêng bao gồm hai tiết lập xuân và vũ thủy. Từ lập xuân đến vũ thủy mưa xuân chỉ rơi rắc như bụi nhẹ. Mưa vũ thủy mới đáng mặt là mưa, mưa cho cây cối núi rừng, hoa đồng cỏ nội, ruộng đồng đất thổ, cho lúa bắp sắn khoai, mưa thật lớn, ào ào tuôn đổ, ép dẽ mái tranh, băng bờ tạo trổ, thật tươi trẻ, mạnh mẽ, dứt khoát từng cơn rồi tạnh ráo, tầng cao trở lại trong xanh, nõn nà mây trắng, mưa không dai dẳng lê thê, trời không âm u trì trệ. Nếu coi những cơn mưa bụi buổi nguyên đán khai xuân là mưa sơ sinh, mưa thơ ấu, thì mưa trong tiết vũ thủy là mưa tuổi hai mươi, bước vào giai đoạn trưởng thành, tràn trề mộng ước. Tiết vũ thủy năm ấy cha tôi làm thơ nôm vịnh cảnh ruộng đồng, có những câu:

Lúa nứt ngạnh trê thêm bộn gié
Đỗ ra trái đỉa lại nhiều hoa
Con chàng bắp nọ không lo háp
Mấy đám khoai kia chẳng sợ hà…


Thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên mới ngày nào đó nhàn hạ vô tư, sau giấc ngủ mùa xuân trễ tràng nghe tiếng chim kêu nghĩ chuyện hoa rụng ít nhiều thì tới lúc nào đó cuối năm trở về Nam Sơn không khỏi chạnh lòng thấy tóc bạc giục tuổi, mỗi năm một già, ngày xuân đưa năm cũ trôi đi hết:

Bạch phát thôi niên lão
Thanh dương bức tuế trừ…

Câu thơ ấy đang ứng với thế hệ chúng tôi. Có thể nhìn xuôi chiều thời gian từ ấu thời đến lão niên, cũng có thể nhìn ngược lại để điểm dừng ở tuổi ấu thời. Ba bữa tết, bảy ngày xuân, nắng mưa, mưa nắng… trong mỗi đời người đâu phải ít lần trải qua, cứ đến chu kỳ quay lại đúng hẹn, luôn luôn bao trùm lên tất cả, sông núi cỏ cây hoa lá và quan trọng hơn hết là trong lòng người. Cũng con đường ấy sáng mồng một mới hơn chiều ba mươi, cũng con người ấy hôm nay chỉnh tề mực thước hơn hôm qua. Cái mới của mùa xuân khiến cho mỗi tâm hồn trẻ trung vì biết phân định quá khứ đồng thời dự phóng tương lai.

Cho nên khi một cành mai phương nam, một cành đào đất bắc hay một khóm hoa núi, một tiếng chim rừng chợt báo tin xuân, con người ở chặng nào của cuộc đời đều sẵn sàng dọn lòng chuẩn bị hoan nghênh. Dù vui hay buồn, mưa hay nắng, ai ai cũng trải mở phong thủy cựu để đón tiếp tuế thời tân.

Trần Huiền Ân

Mưa hoa

Tu-bồ-đề là đệ tử của Phật Thích Ca. Sư có thể hiểu được uy lực của Không, quan điểm rằng không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.

Ngày nọ Tu-bồ-đề đang ngồi dưới gốc cây, trong trạng thái cực kỳ tĩnh lặng, Hoa bắt đầu rơi quanh ông.

“Chúng tôi ca ngợi ngài về đàm luận của ngài về Không,” các vị Phạm thiên thì thần với ông.

“Nhưng tôi đâu có đàm luận gì về Không,” Tu-bồ-đề nói.

“Ngài đã chẳng đàm luận gì về Không, chúng tôi đã chẳng nghe gì về Không,” các Phạm thiên trả lời. “Đó chính là Không.” Và hoa rơi trên Tu-bồ-đề như mưa.

Bình:

• Cảnh “mãn thiên hoa vũ” (mưa hoa đầy trời) nầy thường xảy ra trong kinh Phật, thông thường là khi Phật Thích Ca hay một vị Bồ Tát nào đó dạy một “pháp” rất lớn, rất vi diệu.

• Phạm thiên, lấy từ chữ Brahman trong Ấn giáo, là vua của một cõi trời.

• Chữ emptiness trong bản tiếng Anh được dịch ở đây với hai chữ khác nhau ở hai nơi: “Không”, và “tĩnh lặng” (khi Tu-bồ-đề ngồi dưới gốc cây).

“Không” là tất cả vũ trụ của ta (cả nội tâm lẫn ngoại tại).
“Tĩnh lặng” là một trạng thái nội tâm.

Trạng thái nội tâm của ta (tĩnh lặng, emptiness) cũng chính là vũ trụ của ta (Không, emptiness). Đây là một mệnh đề triết lý có thể được lý giải bằng những lý luận và từ ngữ triết lý phức tạp. Nhưng chúng ta có thể giản dị hóa vấn đề bằng quan sát rằng: “Khi tâm ta cực kỳ tĩnh lặng thì ta thấy thế giới quanh ta cực kỳ tĩnh lặng.”

Tức là, Vũ trụ ta thấy là do tâm ta thấy như vậy. Đây là quan niệm chủ quan về hiện hữu—Hiện hữu quanh ta chỉ có thể thấy được như tâm ta thấy.

Tức là, Vũ trụ mà ta thấy chỉ là l‎ý giải của tâm ta về vũ trụ ta nhìn.

Nghĩa là, mỗi người chúng ta “thấy” một vũ trụ, và vũ trụ ta thấy thì khác với vũ trụ người khác thấy.

Và nếu tôi không hiện hữu (ví dụ, tôi chết đi) thì vũ trụ tôi thấy cũng chết theo tôi. Không có tôi thì vũ trụ của tôi không hiện hữu.

Không có những người khác, thì những vũ trụ của họ cũng không hiện hữu.

Cho nên ta nói “Vũ trụ là do tâm ta sinh ra.” Nếu ta chết, vũ trụ của ta chết theo.


• Nhưng, dù là chúng ta chỉ có được cái nhìn chủ quan về hiện hữu thì hiện hữu vẫn phải “có” đó một cách khách quan, trong một dạng nào đó, dù là không ai nắm bắt được khách quan tính của nó. (Ngay cả nói nó “có” đó một cách khách quan cũng đã là sai rồi, vì “có” là hiện hữu, mà hiện hữu nào thì cũng chỉ là cái nhìn chủ quan méo mó, không bảo đảm, của tôi).

Ta gọi tính khách quan của vũ trụ là Không, vì không diễn tả được cách nào cả, ngoài việc dùng tạm tên “Không”; nếu diễn tả bằng ngôn từ, thì ngôn từ sẽ biến Không thành “l‎ý giải chủ quan của hiện hữu” mất rồi.

• Đó là ‎ý nghĩa của câu: “Không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.”

Không có gì hiện hữu đối với tôi ngoại trừ trong liên hệ chủ quan giữa nó với tôi—cái nhìn chủ quan của tôi về nó.

Không có gì hiện hữu với tôi ngoại trừ trong liên hệ giữa hình ảnh chủ quan của nó trong tâm trí tôi và một suy luận chủ quan của tôi là nó phải hiện hữu khách quan một cách nào đó (để tôi có thể nhìn và thấy nó một cách chủ quan).

Ngoài những cái nhìn chủ quan (méo mó) và suy luận chủ quan (méo mó) của tôi về chủ quan và khách quan, thì chẳng thể nói gì chính xác về hiện hữu cả.

Bên ngoài và bên trên những cái nhìn và suy luận này thì cùng lắm chỉ có một “cái” chính xác nhưng lại không diễn tả được–đó là Không, cái khách quan tính của hiện hữu mà vĩnh viễn tôi không thể nào mô tả hoặc nắm bắt được.

• Vì không thể mô tả và nắm bắt “Không” được, nên Tu-bồ-đề đã chẳng nói gì về Không, và chư thiên đã chẳng nghe gì về Không, và như thế Không là Không.

• Liên hệ chủ quan và khách quan là các từ triết lý tây phương. Ở Đông phương, người ta thường nói đến “tánh” (khách quan) và tướng (chủ quan), hay “thể” (khách quan) và “dụng” (chủ quan).

• Đây là vũ trụ quan của Phật giáo. Và đồng thời cũng là nhân sinh quan, khi Tu-bô-đề ở trong “subtime emptiness” (“cái Không vi diệu”, mà chúng ta đã dịch là “cực kỳ tĩnh lặng”).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Flower Shower

Subhuti was Buddha’s disciple. He was able to understand the potency of emptiness, the viewpoint that nothing exists except in its relationship of subjectivity and objectivity.

One day Subhuti, in a mood of sublime emptiness, was sitting under a tree. Flowers began to fall about him.

“We are praising you for your discourse on emptiness,” the gods whispered to him.

“But I have not spoken of emptiness,” said Subhuti.

“You have not spoken of emptiness, we have not heard emptiness,” responded the gods. “This is true emptiness.” And blossoms showered upon Subhuto as rain.

# 36

Những khúc ca xuân – series

11. Một Mùa Xuân Nho Nhỏ

Sáng tác: Trần Hoàn Lời thơ: Thanh Hải.

Trình bày: Anh Thơ


.

12. Ngày Tết Quê Em – Tam Ca Áo Trắng


.

13. Mùa Xuân Đến Rồi Đó

Sáng tác: Trần Chung Trình bày: NSƯT Thu Phương


.

14. Liên Khúc: Xuân Đã Về & Đón Xuân

Trình bày: Cẩm Ly & vũ đoàn ABC


.

15. Mùa Xuân Làng Lúa Làng Hoa (Thanh Hoa, 1981)


.

16. Đồn Vắng Chiều Xuân- Hiếu Thuận


.

17. Em Đã Thấy Mùa Xuân Chưa – Quang Dũng


.

18 Ngày Xuân Vui Cưới – Hoài Linh


.

19. Đám Cưới Đầu Xuân – Yến Khoa Thái Châu


.

20. Cánh Thiệp Đầu Xuân -Anh Cho Em Mua Xuan
Trình bày: Thanh Thuý- Thiên Kim

Đường hoa Nguyễn Huệ

Từ trước đến nay, Nguyễn Huệ vốn là một trong những con đường đẹp nhất thành phố. Trong hồi ức của tôi, đường Nguyễn Huệ gắn liền với bao kỷ niệm dễ thương của tuổi học trò. Trước giải phóng, đây là một con đường tuyệt vời với thật nhiều kiosque, chủ yếu là kiosque hoa và kiosque nhạc. Nhưng đặc biệt vào dịp cuối năm, đường Nguyễn Huệ biến thành một chợ hoa khổng lồ. Nhờ lợi thế nằm sát bến Bạch Đằng, nơi thuyền hoa, ghe hoa từ các tỉnh miền tây có thể dễ dàng cập bến và chuyển hoa lên bờ, suốt dọc chiều dài đường Nguyễn Huệ được bày bán đủ các loại hoa kiểng. Khi ba tôi mê mẩn với những chậu mai, má tôi tỉ mỉ chọn những chậu vạn thọ, cúc đại đoá, những chậu tắc dày đặc trái… tôi và lũ em thường tha thẩn vừa ăn kẹo kéo, vừa ngó nghiêng chỗ này chỗ nọ… Sau này, chợ hoa Nguyễn Huệ là nơi tôi điệu đàng làm dáng cùng hoa cỏ mùa xuân, ghi dấu tuổi hoa niên mơ mộng…

Mấy năm gần đây, Nguyễn Huệ là một địa chỉ không thể thiếu của người dân thành phố trong mấy ngày Tết. Đường hoa Nguyễn Huệ đã trở thành một thương hiệu, một biểu trưng cho văn hoá Sàigòn. Chắc không chỉ có tôi chờ đợi ngày đường Nguyễn Huệ bị phong toả làn xe hơi, quây kín lại để thực hiện đường hoa. Thỉnh thoảng, tôi lại cố tình chạy chầm chậm qua đường hoa, tò mò nhìn sâu vào bên trong qua những khe hở, ngắm lén, ngắm sớm đường hoa trước ngày khai mạc … Càng ngày đường hoa Nguyễn Huệ càng chuyên nghiệp hơn, thật sự là nét văn hoá- du lịch gắn liền với các hoạt động lễ hội ngày Tết phong phú. Ngoài hoa được tạo hình đa dạng bằng nghệ thuật sắp đặt, cả phong cảnh, sinh hoạt, đời sống đời thường cũng được thể hiện trên đường hoa. Những chú nông dân trong bộ bà ba đen ngồi xếp những chú cào cào bằng lá dừa nước, những câu đối được thầy đồ nắn nót trên giấy dó, những cụ già ngồi nắn tò he sặc sỡ, những quán chè tươi bày đâu đó dọc đường hoa.. luôn thu hút sự thích thú và chú ý của nhiều người, đặc biệt là du khách nước ngoài.

Năm nay là năm thứ chín, kể từ tết Giáp Thân 2004, đường hoa Nguyễn Huệ là địa chỉ được mong đợi, là một trong những điểm vui chơi giải trí của người dân thành phố. Chiều mai, 28 âm lịch, đường hoa mới hoàn tất những công đoạn cuối cùng để cống hiến vẻ đẹp tuyệt vời cho người dân thưởng lãm. Mình chưa có trong tay những bức ảnh của một đường hoa hoàn thiện. Tuy nhiên, hôm nay, chiều 27 tết, đến đường hoa vào ngày trước ngày khai mạc này, biết rằng đèn đã sáng 24/24 liên tục mấy ngày liền cho các anh chị công nhân làm việc quên ngày đêm trong khu vực đường hoa, rằng các anh chị nghệ nhân và công nhân đã phải ngủ lây lất trong những chòi tạm để kịp hoàn thành công trình, rằng có nhiều bác công nhân đang tranh thủ chợp mắt ngay trong cái nắng nóng sau bao giờ vất vả, tôi thật sự cảm kích những giọt mồ hôi đã âm thầm đổ xuống cho đường hoa lộng lẫy. Từ công sức của người nông dân tính toán, chăm chút  sao cho hoa nở vừa kịp tết, đến những thương nhân (đa phần là chính các chủ vườn) chèo chống con thuyền đưa hoa từ quê lên thành, từ  các nhà thiết kế hình dung một đường hoa trong mơ, đến các công nhân thực hiện từng thao tác chi tiết để giấc mơ đó thành hiện thực.

Với những tấm hình dưới đây, mình muốn giới thiệu với các bạn nét đẹp (tuy chưa hoàn chỉnh) của đường hoa, cùng nỗi vất vả của các anh chị nghệ nhân và công nhân củà Sàigòn Tourist, đơn vị chủ quản thực hiện đường hoa Nguyễn Huệ. Mình rất tự hào là những người dân thành phố, cũng như tất cả các bạn tỉnh khác về thăm đường hoa Nguyễn Huệ, đều biết yêu cái đẹp và biết trân trọng công sức của những người làm ra cái đẹp, nên chỉ có hoa bị héo tàn sau mấy ngày dãi nắng dầm sương, chứ chưa bao giờ có ai nhẫn tâm vùi hoa dập liễu…

Phó nháy này đang trong giai đoạn thực tập, mong cả nhà rộng lòng bỏ qua nếu chất lượng hình ảnh chưa vừa ý. Chúc cả nhà một mùa Xuân tràn ngập hoa và niềm vui.. 😆 😀 😛

Phạm Kiêm Yến

Chùm ảnh đường hoa Nguyễn Huệ (một ngày trước ngày khai mạc):

Nồng say xòe Thái Tây Bắc

Nói đến nền văn hóa của dân tộc Thái Tây Bắc là phải nói đến xòe. Xòe là các điệu múa dân gian bắt nguồn từ thực tế cuộc sống, được những người Thái – những nghệ sỹ dân gian thổi vào hơi thở của tình yêu, khát vọng vươn tới tự do, hạnh phúc, làm cho các điệu xòe lung linh, sống động và trường tồn.

Người Thái Tây Bắc sống giữa thiên nhiên hùng vỹ, cần cù sáng tạo trong công cuộc chính phục thiên nhiên, anh dũng quật cường chống lại kẻ thù hai chân và bốn chân. Mỗi khi hoàn thành một công việc trọng đại, mọi người lại nắm tay nhau quanh đống lửa nhẩy múa ăn mừng. Những điệu xòe hình thành, phát triển và hoàn thiện, mô phỏng những bước đi của cha ông khai phá đất đai, phát rẫy, trồng lúa, lấy nước, tung khăn, mời rượu… thực tế cuộc sống và những ước mơ, khát vọng được diễn tả sinh động và tinh thế.

Nói tới xòe Thái là phải nói tới các điệu xòe cổ:

Điệu “Khắm khen”: Quanh đống lửa, mọi người nắm tay nhau nhẩy múa. Đây là điệu múa mang tính sơ khai, biểu lộ sự gắn kết cộng đồng, mong ước một cuộc sống ấm no, hạnh phúc vẹn tròn.

Điệu “Khắm khăn mơi lẩu” – Nâng khăn mời rượu. Đây là điệu múa đầy chất trữ tình và ấm áp tình người, thể hiện lòng hiếu khách.

Điệu “Phá xí” – Bổ bốn, diễn tả tình đoàn kết của cộng đồng, hướng về tổ tiên, quê hương của mỗi thành viên.

Điệu “Đổi hôn” – múa tiến lùi, như muốn khẳng định dù đất trời có đổi thay, cuộc sống có như thế nào thì tình người vẫn luôn sắt son bền chặt.

Điệu “Nhuôm khăn” – tung khăn, là điệu xòe tưng bừng nhất, hay dùng khi mùa vụ bội thu, đám cưới, lên nhà mới…

Dần dần, từ các điệu xòe cổ, các nghệ nhân dân gian xây dựng được tới 32 điệu xòe mang bóng dáng các sinh hoạt thường ngày: “Xe cúp” – múa nón, xe tẳng chai” – múa chai, “Xe kếp phắc” – hái rau, “Xe cáp” – múa sạp…

Các điệu xòe nhịp nhàng sôi động trong tiếng trống, chiêng, khèn, pí, đàn tính, đôi khi có cả lời hát phụ họa cho thêm phần sinh động.

Các điệu xòe vòng sôi nổi bao nhiêu, thì các bài xòe điệu lại tinh tế duyên dáng bấy nhiêu. Triết lý âm dương, đất – trời, lửa – nước và ý nghĩa nhân sinh cao cả ẩn chứa trong các điệu xòe.

Người Thái có câu ca:

“Không xòe không tốt lúa
Không xòe thóc cạn bồ”

Qua mỗi bước xòe, người ta như được gột rửa tinh thần, gần gũi chan hòa với nhau hơn, yêu người, yêu đời để bước vào cuộc sống lao động với một niềm tin sáng trong phơi phới.

Sức hấp dẫn của xòe chính là sự sôi nổi, gần gũi mà đậm tình như hơi thở của cuộc sống. Xòe vòng luôn thu hút được tất cả mọi người, không phân biệt người già hay trẻ, lạ hay quen. Mọi người nắm tay nhau thân ái cùng bước xoay tròn quanh đống lửa theo chiều kim đồng hồ như sự phát triển của cuộc sống. Vì vậy xòe vòng luôn thu hút được cả với khách du lịch trong và ngoài nước. Xòe vòng có thể có số lượng lớn người tham gia. Đã từng có những vòng đại xòe với số lượng đông tới hàng ngàn người ở Yên Bái, Điện Biên vô cùng sôi động.

Trong chế độ thực dân, phong kiến, các điệu xòe và kiếp gái xòe chỉ là trò mua vui cho bọn quan lại thống trị. Ngọn lửa hội xòe bao lần run rẩy tưởng trừng bị tắt lụi, nhưng ngọn lửa trong trái tim những người Thái Tây Bắc vẫn nồng nàn tỏa sáng. Trong các làng bản, các nghệ nhân vẫn âm thầm truyền dạy cho các thế hệ con cháu những tinh hoa văn hóa của dân tộc mình.

Dưới ánh sáng cách mạng, ngọn lửa hội xòe hồi sinh. Lửa rực hồng mỗi đêm xòe ngày hội, lửa nhảy nhót trong những bước đi bay nhẩy, lửa rạo rực trong trái tim mỗi người dân Tây Bắc, những con người chịu thương chịu khó, cần cù anh dũng và làm chủ tương lai.

Ngày nay ở khắp miền Tây Bắc, mỗi làng bản, xã, phường đều có các đội văn nghệ, các đội xòe phục vụ cho đời sống cộng đồng, cho các đợt liên hoan văn nghệ, phục vụ du lịch. Cuộc sống mới chắp cánh cho bước xòe bay bổng.

Nếu có dịp hành hương lên Tây Bắc, có ai không trầm trồ thán phục trước những điệu xòe sôi nổi và tinh tế. Những cô gái, các mẹ, các chị hàng ngày đảm đang trong việc làm nương rẫy, quay ra dệt vải… giờ đây tươi trẻ hồn nhiên trong điệu dân vũ. Rồi khi các cô gái nâng chén rượu thơm, cất tiếng hát chân tình mà say đắm:

Đừng sợ say
Đây tay ngà
Chén đã dâng đầy
Ngọn lửa hội xòe được thắp lên, tiếng trống, tiếng khèn gọi mời tha thiết.
Vào đây anh
Tay cầm tay múa xòe cùng em…
Kìa hội vui
Vào đi anh!
Đừng để em cô đơn một mình…
Đôi tay ngà đón chờ người ơi!

Có ai cầm lòng được, để rồi trái tim thôi thúc bước vào vòng xòe huyền thoại rạng ngời ánh lửa và lòng người cứ phơi phới, rạo rực đắm say.

Trần Vân Hạc

Những khúc ca xuân – series

Xuân đã về trên cành lộc biếc
Xuân muôn phương trên Đọt Chuối Non
Xuân cho già trẻ sắt son
Xuân đi, vạn vật mãi còn mùa xuân


Đông tàn, Xuân đến. Đất trời tưng bừng khai hội cho lòng người rạo rực tình Xuân. Nhựa sống căng tràn. Sắc Xuân tươi thắm. Mùa của hi vọng. Mùa của yêu thương, cỏ cây hoa lá đua nở thắm tươi, trái tim của con người dường như trẻ lại và thấy yêu đời. Âm nhạc, đặc biệt nhạc Xuân luôn là một nguồn vui lớn, một món ăn tinh thần gần gũi và tự nhiên như thịt mỡ, bánh tét, bánh chưng và dưa hành. Nhạc Xuân ngân vang khúc reo vui, thể hiện những niềm hân hoan, những rung cảm của lòng người hoà vào tiết điệu của thiên nhiên. Do vậy nhạc Xuân của chúng ta vô cùng phong phú và đặc sắc.

Hôm nay Nhạc Xanh bắt đầu chương trình Những Khúc Ca Xuân trên Đọt Chuối Non. Các bạn sẽ thưởng thức những bản nhạc Xuân chọn lọc được yêu mến qua nhiều năm tháng bởi nhiều thế hệ. Các bạn sẽ nghe 50 bản nhạc xuân được post trong 4 ngày giáp Tết. Tất nhiên trong những ngày Tết ngoài nhạc yêu cầu được post vào ngày mồng một Tết, các bạn vẫn có thể trở lại với 50 bản nhạc này.

Hôm nay mời các bạn reo vang khúc hát giao mùa với 10 bài tân nhạc được xếp loại cổ điển đã làm say đắm bao người khi mùa về.

Xin được nói đôi điều về hai bản nhạc mở đầu trong số những bài mình yêu thích nhất

Bài thứ nhất là Xuân và Tuổi Trẻ, một sáng tác của La Hối – thơ Thế Lữ, do ca sĩ Ánh Tuyết thể hiện.. Nhạc sĩ La Hối ra đi khi còn rất trẻ chỉ mới 25 mùa xuân cho đời nhưng bài hát của người nghệ sĩ tài hoa này bất tử với ca từ và giai điệu tươi trẻ, lạc quan, yêu đời, tràn đầy khát vọng.

Có ai trong chúng ta không thấy lòng phơi phới, rạo rực khi nghe điệu Valse lã lướt reo vui như chính nhịp điệu mùa Xuân:

“Ngày thắm tươi bên đời xuân mới
Lòng đắm say bao nguồn vui sống
Xuân về với ngàn hoa đua thắm
Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng…”

Bài thứ hai : Em Ơi Mùa Xuân Đến Rồi Đó, của nhạc sĩ Trần Chung qua giọng ca tuyệt vời của NSND Lê Dung để tưởng nhớ đến người nữ nghệ sĩ lớn này. Đích thực đây là một bản tình ca Xuân về tình yêu, đất nước và con người. với những biểu tượng của mùa “ngàn hoa thắm đỏ”, và “chim én lướt bay về”.

Chàng trai gửi gắm cho người yêu những lời giản dị mà sâu sắc về cuộc đời , ước vọng, hạnh phúc, niềm riêng và tình chung.

“Em ơi mùa xuân đến rồi đó
Thắm đỏ ngàn hoa khát mặt trời”

Dần về sau, tiết tấu bài nhạc nhanh, rộn ràng như sức trẻ căng đầy với :

“Nghe không gian mênh mông trong lời ca yêu thương đến với muôn đời, Xuân ước vọng ngàn năm lại tới.”

Để rồi kết thúc với lời mời gọi tha thiết:

“ Này em hãy hát lên cùng mùa xuân mới xinh tươi
Em ơi mùa xuân đến rồi đó giang rộng vòng tay đón cuộc đời …”

Xin mời các bạn tiếp tục chia sẻ những cảm xúc về các bản nhạc của hôm nay.

Hình hoa mai là do mình chụp từ cây mai nhà mình trồng đã lâu đưa vào minh hoạ tặng các bạn.

Thân ái chúc các bạn một ngày 27 Tết tất bật mà tràn đầy niềm vu.

Huỳnh Huệ

1. Xuân và Tuổi Trẻ

Sáng tác : La Hối
Trình bày : Ánh Tuyết


.

2. Em ơi mùa xuân đến rồi đó

Sáng tác : Trần Chung
Trình bày: Lê Dung

Em ơi mùa xuân đến rồi đó
Thắm đỏ ngàn hoa khát mặt trời
Nghe không gian mênh mông trong lời ca yêu thương đến với muôn người, đến với muôn đời
Xuân ước vọng ngàn năm lại tới
Nghe lòng vui phơi phới
Kìa em nắng đã lên rồi mừng xuân hát lên thôi

***
Nghe em mùa xuân nói gì đó
Xúc động lòng ta trước cuộc đời
Qua bao nhiêu đau thương thêm mùa vui theo chim én đã bay về ríu rít ngang trời
Chim hót chào bàn tay dựng xây trên tầng cao có thấy
Mùa xuân náo nức công trường đồng lúa mới dâng hương

Em ơi mùa xuân mới gọi đó
Tiếng gọi tình yêu mới hiền hoà
Ôi xuân tươi bao la đang giục ta đi mau tới những chân trời đất mới đón người
Xây đắp ngàn mùa sau hạnh phúc trên đường ta đi tới
Này em hãy hát lên cùng mùa xuân mới xinh tươi
(Lặp lại từ ***)
Em ơi mùa xuân đến rồi đó giang rộng vòng tay đón cuộc đời ….


.

3. Ly Rượu Mừng ( Hợp Ca)

Sáng tác : Phạm Đình Chương

4. Hoa Xuân
Sáng tác : Phạm Duy

Trình bày : Đức Tuấn – Mỹ Linh và nhiều ca sĩ


.

5. Lời tỏ tình của mùa xuân

Sáng tác : Thanh Tùng
Trình bày: Đức Tuấn


.

6. Tết Đến Rồi –
Sáng tác : Từ Huy

Trình bày: Tam Ca Áo Trắng


.

7. Hoa Xuân
Sáng tác : Phạm Duy
Trình bày : Hà Thanh


.

8.Ngày Xuân Long Phụng Sum Vầy

Sáng tác : Quang Huy
Trình bày : Lam Trường , minh hoạ: vũ Đoàn The Friends


.

9. Anh Cho Em Mùa Xuân-

Sáng tác : Nguyễn Hiền
Trình bày: Hiếu Thuận


.

10. Anh cho em mùa xuân

Tứ ca: Lan Anh, Thanh Vân, Phi Nhung và Khả Tú