Buổi sáng nghe một bản nhạc vui vui dễ thương để bắt đầu một ngày. 🙂
“I love the Mountains” (Tôi Yêu Núi Rừng) là một bản dân ca Mỹ rất giản dị và dễ thương.
Tôi yêu núi rừng
Tôi yêu những dãy đồi cuồn cuộn
Tôi yêu hoa
Tôi yêu thủy tiên
Tôi yêu ngồi bên lửa
Khi trời sẫm tối
Gần đây công ty nhạc trẻ em Beat Boppers Children’s Music phát hành bản nhạc này dưới tên I Like the Flowers (Tôi Thích Hoa), đổi chữ Love thành Like, và đảo ngược hai câu hát từ dưới lên trên, để mở đầu bằng I like the flowers thay vì I love the mountains.
Thế là bản nhạc dân ca người lớn, trở thành thịnh hành cho trẻ em!
Dưới dây là lời ca cho trẻ em, sau đó là lời dân ca nguyên thủy, và video rất vui và dễ thương cho trẻ em và những người lớn với quả tim con nít 🙂 Mời các bạn thưởng thức.
Chúc mọi người một ngày tươi trẻ ! 🙂
Hoành
.
I Like the Flowers
I like the flowers
I like the daffodils
I like the mountains
I like the rolling hills
I like the fireside
When the lights are low
Boom de-ah-da
Boom de-ah-da
Boom de-ah-da
Boom de-ah-da
Lời dân ca nguyên thủy “I Love The Mountains”
I love the mountains I love the rolling hills, I love the fountains, I love the daffodils, I love the fireside, When all the lights are low. Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da.
I love the Rockies I love the lakes and plains, I love the desert, I love the falling rains, I love the redwood firs, The golden eagle and all the birds. Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da.
I love Mt. Rushmore, I love Niagra Falls, I love the Grand Canyon, I love when thunder calls, I love the starry night, When Lady Liberty Shines her light. Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da. Boom.
I Like the Flowers – by Beat Boppers Children’s Music
Cồng Chiêng và một nét văn hóa thiêng liêng của Tây Nguyên và là di sản văn hóa nhân loại như UNESCO công nhận. Văn hóa Tây Nguyên thường được viết và đọc như là vấn đề riêng của các bộ tộc Tây Nguyên. Nhưng, Tây Nguyên là Việt Nam và văn hóa Tây Nguyên là văn hóa Việt Nam. Chúng ta cần cùng quan tâm với anh chị em Tây Nguyên.
Bài tường trình về buổi thảo luận sau đây có nhắc đến chị Linh Nga của chúng ta trong đó–một tiếng nói chính cho Tây Nguyên. (Cám ơn, chị Linh Nga)
Sau đó là một câu chuyện cảm động mình tình cờ đọc được trên Nhân Dân về tình cảm cả đời cho đến lúc chết của Già E Mướt ở Chư M’gar (Đắc Lắc) đối với cồng chiêng.
(VietNamNet)-Nhà nước chi nhiều tiền để bảo tồn cồng chiêng, nhưng đã có ai hỏi ý kiến bà con xem họ nghĩ thế nào chưa?
Chiêng trong lễ bỏ mả ở làng Phung (xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai)
Truyền dạy cồng chiêng để làm gì?
Cũng đồng thuận với việc phải bảo vệ các nghệ nhân, nhưng TS Lê Thị Minh Lý, Cục phó Cục Di sản văn hóa lại nhắc hội thảo nhớ đến một đối tượng trung tâm rộng lớn hơn nhiều là cộng đồng chủ thể của di sản, bởi chính họ mới quyết định họ muốn giữ cái gì và giữ như thế nào? Các nhà khoa học hay nhà quản lý đều không thể áp đặt họ nếu họ không muốn. Theo TS Lý, xu thế đi ngược lại quá khứ, cố tìm ra “nguyên gốc” của di sản rồi mới bảo vệ là sai lệch với tinh thần của công ước UNESCO về bảo vệ di sản phi vật thể. Việc tập huấn vì thế phải là tập huấn để cộng đồng nhận thức rõ về di sản của họ, cũng như việc kiểm kê di sản phải có sự tham gia của chính cộng đồng, để thông qua quá trình kiểm kê ấy, mỗi cộng đồng sẽ quyết định họ sẽ giữ không gian văn hóa cồng chiêng ra sao?
Ý kiến của TS Lê Thị Minh Lý được nhà nghiên cứu Linh Nga Niê Kdam bổ sung bằng một câu chuyện thực. Việc truyền dạy cồng chiêng diễn ra tại rất nhiều làng ở Tây Nguyên, già làng muốn truyền dạy, lớp trẻ cũng muốn học, nhưng học xong thì để làm gì? Không lẽ chỉ để khi nào có khách, có hội diễn mới đánh? Không còn môi trường cho cồng chiêng thì tôn vinh nghệ nhân hay truyền dạy cũng không khiến cồng chiêng sống được.
Không vì hại cồng chiêng mà không làm du lịch!
Nhiều đại biểu lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc đưa nghệ thuật cồng chiêng phục vụ du lịch, nhất là việc đưa các lễ hội có tính thiêng như lễ bỏ mả, lễ đâm trâu… ra sân khấu. Chưa kể, việc trình diễn sẽ “làm hư” lớp trẻ, khi họ chỉ học vài bài để trình diễn, chứ không đi sâu tìm hiểu bảo tồn, phát huy vốn cổ. “Đừng biến cồng chiêng thành đơn điệu, vô hồn, sân khấu hóa” là lời kêu gọi của nhiều đại biểu trong hội thảo.
Không đồng tình với quan điểm trên, TS Nguyễn Văn Lưu (Bộ VH-TT-DL) lại cho rằng du lịch sẽ dẫn dắt con người đến với di sản, tạo ra việc làm, nguồn lực tài chính, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của chính quyền, cộng đồng để bảo tồn phát huy văn hóa. “Không thể vì những tác hại của du lịch có thể tác động đến di sản (như suy giảm giá trị truyền thống, ô nhiễm môi trường văn hóa…) mà không làm du lịch. Chính quyền và cộng đồng chủ nhân di sản sẽ phải điều chỉnh để phát triển du lịch theo hướng bền vững“, TS Lưu kết luận.
Mặc quần jean, áo phông thì làm sao chơi cồng chiêng?
Chủ đề được thảo luận sôi nổi nhất của hội thảo là việc phải ứng xử ra sao với sự biến đổi không thể ngừng lại của không gian văn hóa cồng chiêng. TS Nguyễn Hữu Thông, phân viện Viện Nghiên cứu VHNT Huế cho rằng phải chấp nhận sự thật khách quan, rằng cồng chiêng đã mất đi giá trị vật chất, tinh thần. Khi xưa cồng chiêng là gia sản của dòng họ, là uy tín của làng bản, còn bây giờ những giá trị đó đã được thay thế bằng nhà cửa, xe máy, tủ lạnh… Giá trị nghệ thuật của cồng chiêng chỉ thật sự cao khi gắn với đời sống tâm linh, khi tạo ra sự thông thiên trời đất với con người. “Mất đi tính thiêng ấy thì riêng âm nhạc cồng chiêng lại không phải là đỉnh cao gì ghê gớm. Cồng chiêng thiếu không gian thiêng sẽ như cá bị tách khỏi nước, chỉ còn là cá ươn, cá khô, cá chết”, TS Thông mạnh mẽ.
Ông Nguyễn Đức Tuấn (Văn phòng Bộ VH-TT&DL tại Đà Nẵng) thẳng thắn thừa nhận, với những cộng đồng không còn không gian, việc tổ chức lễ hội sẽ không có tác dụng. Mặc quần jean, áo phông thì làm sao chơi cồng chiêng? Đường đi qua địa phương nào thì thanh niên ở đó không còn tha thiết với trang phục dân tộc, âm nhạc dân tộc nữa. “Ta có xây nhà rông văn hóa cho bà con thì họ cũng không chăm chút. Họ xem đó như nhà sinh hoạt của nhà nước thôi“, đó là ông Tuấn còn chưa nói thẳng việc nhà rông “văn hóa” lợp mái tôn khác xa với nhà rông của bà con. Có đại biểu còn thẳng thắn nêu câu hỏi: “Sau festival này, cồng chiêng sẽ ra sao? Không lẽ festival chỉ là dịp gặp gỡ để vui vẻ?”.
Nhà nước không vào cuộc thì các nhà khoa học chỉ bàn cho vui thôi!
Giải pháp mà nhiều đại biểu đưa ra là ngoài việc làm chậm lại sự thay đổi của không gian văn hóa truyền thống với rừng, làng, giọt nước…, phải tạo ra không gian mới cho nghệ thuật cồng chiêng. Bà Linh Nga một lần nữa nhấn mạnh việc phải có những người nghiên cứu bản địa am hiểu văn hóa, hướng dẫn bà con để các cộng đồng tự ý thức về di sản rồi tự mình khôi phục những gì bà con muốn, hoặc giúp bà con tạo ra môi trường mới. “Nhà nước chi nhiều tiền để bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng, nhưng đã có ai hỏi ý kiến bà con xem họ nghĩ thế nào chưa? Ta kiểm kê cồng chiêng, nhưng có kiểm kê nhà rông, nhà dài, kiểm kê nghệ nhân, kiểm kê làng nghề không?”, TS Nga chất vấn.
Các nhà nghiên cứu đến từ Nhật Bản, Hà Lan, Canada đều khẳng định không thể đề cập đến tính nguyên bản của di sản trong việc bảo tồn, phải chấp nhận sự thay đổi với môi trường và chỉ có cộng đồng chủ thể của di sản khi nhận thức đầy đủ mới quyết định được họ sẽ muốn cồng chiêng thay đổi thế nào.
Nhiều nhà nghiên cứu của ta thực tế hơn lại băn khoăn nhiều đến vấn đề kinh phí, “nếu cộng đồng không đủ ăn, không biết chữ thì khó hy vọng họ bảo tồn và phát huy cồng chiêng” như lời TS Trương Bi.
Ông Phạm Sanh Châu, Tổng thư ký Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam đưa ra hai kiến nghị rất được chú ý: Hội nghị có thể làm bản kiến nghị gửi UNESCO đề xuất tài trợ cho công tác giáo dục và tuyên truyền (trích từ quỹ di sản phi vật thể). Ngoài ra, nếu ta đã có những mô hình “hứa hẹn” bảo vệ thành công di sản phi vật thể, UNESCO sẽ hỗ trợ khoản tiền lớn hơn. “Năm nay chỉ có 2 nước đề xuất thôi, còn 1.7 triệu Euro của quỹ đang… bỏ không”, ông Châu “bật mí”.
Thật tiếc vì những ý kiến tâm huyết của hội thảo lại không được lãnh đạo cấp cao của tỉnh, của Bộ lắng nghe đến phút cuối. Như GS Tô Ngọc Thanh khẳng định: “Nếu nhà nước không vào cuộc thì các nhà khoa học ngồi đây bàn chỉ cho vui thôi“.
NDĐT- Trước cuộc sống có quá nhiều biến chuyển như hiện nay, việc gìn giữ, kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của cha ông để lại là điều không phải dễ dàng. Đối xử với những di sản văn hóa phi vật thể ở Tây Nguyên cũng vậy, rất cần những người có tâm huyết uốn nắn, định hướng… để nguồn mạch văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc mình không mai một và đứt gãy.
Khi bí mật trên dầm nhà hé lộ
Những anh chị làm công tác văn hóa lâu năm ở huyện Chư M’gar (Đác Lắc) kể: Người dân ở buôn Rai (xã Ea Tal) chẳng bao giờ quên “chuyện nhà” ông E Mướt xảy ra hồi cuối tháng 7 vừa rồi.
Chuyện rằng: Già E Mướt tuổi đã hơn tám mươi mùa rẫy. Ông nằm liệt giường cả tháng trời, cơm cháo gì nuốt cũng không trôi, thế mà vẫn không chịu nhắm mắt để về với “thế giới ông bà”. Con cháu trong nhà phải cơ khổ vì ông cứ chết đi, sống lại không biết bao nhiêu lần. Họ phải chạy vạy đủ cách, kể cả việc cầu xin Yàng, khấn vái thần linh để làm sao cho ông ra đi được thanh thản. Thế mà vẫn không được như ý nguyện, đôi mắt ông E Mướt cứ mở trừng trừng nhìn lên dầm nhà như khẩn khoản một điều gì đó cơ mật mà không thể nói ra.
Đã ba ngày trôi qua vẫn thế, hoảng quá anh Y Tiếp, con trai ông bắc thang trèo lên dầm nhà xem thử thì mới phát hiện một bộ chiêng cổ (7 cái) được bọc trong những chiếc bao tải cất cẩn thận. Y Tiếp đem xuống và mở ra từng chiếc chiêng đã lên màu đen trũi. Đôi mắt người sắp chết nhìn theo như ngấn lệ.
Biết đây là điều mong mỏi cuối cùng của ông già trước khi từ giã cõi đời này, mọi người không ai nói với ai lời nào, họ chỉnh tề ngồi vào vị trí của dàn chiêng và bắt đầu diễn tấu. Những âm thanh thiêng liêng ngân lên lúc trầm, lúc bổng trong không gian tưởng chừng như đông đặc lại và vô cùng huyền hoặc. Lúc đó, đôi mắt già Y Mướt mới từ từ khép lại và “yên ngủ” như thể không còn điều gì vướng bận nữa…
Chị H’Hoa (cán bộ Phòng VH-TT huyện Chư M’gar-Đác Lắc) bảo, sau câu chuyện cảm động và có sức lay động sâu xa này, mọi người tìm hiểu ra mới biết cách đây cả chục năm, khi cồng chiêng bị người ta bán đi không thương tiếc vì nhiều lý do: hoặc là đời sống kinh tế khó khăn, lễ hội thưa vắng dần nên không có môi trường để diễn xướng; hoặc là một bộ phận theo đạo Tin Lành nên không cần nó nữa, vì thế cụ E Mướt âm thầm cất giữ bộ chiêng quí truyền đời của mình mà không ai hay biết.
Đến khi bí mật trên được phát hiện mọi người mới hiểu ra một điều: di sản của cha ông cũng có lúc thăng trầm, dâu bể… song, không vì một lý do thường nhật nào đó mà dễ dàng mất đi. Nó được những người như già E Mướt bảo tồn và gìn giữ cho đến hơi thở cuối cùng, dù bất kỳ dưới hình thức nào.
Anh Y Nan, Phó trưởng Phòng VH-TT huyện Chư M’gar nói rằng, đến bây giờ con cháu cụ mới hiểu ra và thấm thía điều đó. Tiếng chiêng cũng như các giá trị văn hóa truyền thống khác ở vùng đất này như được tiếp thêm nguồn xúc cảm mới để ngân vang và thăng hoa thêm.
Câu chuyện đầy xúc động của gia đình già E Mướt được những người làm công tác văn hóa ở đây lấy làm gương cho lớp trẻ trong việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức bảo tồn và gìn giữ vốn văn hóa cha ông. Và thật không ngờ nó có sức lay động đến thế, hầu hết thanh niên nam nữ ở các buôn làng đều hiểu ra ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong câu chuyện, nên tự nguyện tham gia nhiều lớp dạy đánh chiêng được tổ chức thường xuyên trên địa bàn.
Đến nay, Chư M’gar là một trong những huyện dẫn đầu về phong trào bảo tồn, gìn giữ và phát huy vốn văn hóa truyền thống của tỉnh. Hầu hết các buôn làng đều thành lập được những đội chiêng trẻ để cùng với thế hệ cha anh họ, tự tin góp mặt trong những dịp hội hè của cộng đồng dân tộc mình tổ chức như một sự tiếp nối tiềm tàng và đáng trân trọng.
Ai sẽ lưu giữ ký ức?
H’Hoa tâm sự, đời sống kinh tế của bà con đã khá hơn trước rất nhiều. Vì thế qua nhiều lễ hội truyền thống được phục dựng, số thành viên trong từng cộng đồng cũng tham gia ngày càng nhiều, càng thân thiết với nhau hơn. Bên cạnh cồng chiêng cùng nhiều nhạc cụ khác được mọi người chăm chút, hồi sinh… thì những làn điệu dân ca, dân vũ – vốn đã trở thành ký ức của người già cũng đang được thế hệ trẻ có tâm huyết sưu tầm, biên soạn và phổ biến trở lại.
Chẳng hạn như điệu múa cổ T’Lang Grư (chim Grư bay lên), Khớt H’gơr (hát múa trong nghi lễ bọc trống)… đã được H’Hoa và các chị H’Duôn, H’Nhé, H’Yang ở xã Ea Tul lĩnh hội từ những người già, hoặc lục lọi lại trong ký ức thời thơ bé để truyền dạy lại cho nhiều thiếu nữ ở các buôn làng. Chính những thiếu nữ này là “hạt nhân” ươm mầm và nhân rộng ra cho bạn bè cùng trang lứa.
Cô bé H’Lina vui lắm khi được các cô, bà mình truyền dạy cho những điệu múa tưởng chừng đã thất truyền. Cô bé thành thật : “Vòng xoang bình thường trong các dịp lễ hội thì ai cũng biết và múa được. Nhưng điệu múa cổ như T’Lang Grư, hay Khớt H’gơr… thì gần đây em mới biết nhờ theo học những lớp dân ca, dân vũ do chị H’Hoa dạy cho. Hóa ra dân tộc mình có điệu múa đẹp và kiêu hãnh đến thế.”.
Những cô gái trẻ trung, xinh đẹp trong tư thế vươn mình và xòe đôi bàn tay mềm mại như cánh chim Grư đang bay lên, chở đầy khát vọng và mơ ước của mình, của cộng đồng trên nền chinh T’Lang Grư nhún nhảy, nhuốm chút mơ màng…thì quả thật không gì có men say hơn thế. Ngược lại, Khớt Hgơr thì thành kính, dịu dàng trong từng bước chân, nét mặt đều hướng về một tâm điểm như để chia sẻ, nhận lấy mối đồng cảm và tri ân với cộng đồng, khiến bất kỳ ai có mặt cũng được yên vui, vỗ về.
Những bước nhảy ấy, họ không chỉ học được từ những bài học của cha ông mình, mà họ còn tích lũy, kế thừa bằng cả niềm đam mê và vốn hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ về dòng chảy liền mạch của đời sống văn hóa mỗi cộng đồng từ ngàn xưa cho đến hôm nay.
Có lần một sư đoàn quân đội Nhật tập trận, và một số sĩ quân thấy cần phải lập bộ chỉ huy trong thiền viện của Gasan. Gasan Jôseki (1276-1366)
Gasan bảo đầu bếp: “Cho các sĩ quan các món đơn giản như chúng ta ăn.”
Các sĩ quan tức giận, bởi vì họ quen được ưu đãi. Một sĩ quan đến gặp Gasan và nói: “Ông nghĩ chúng tôi là ai? Chúng tôi la chiến binh, hy sinh mạng sống cho tổ quốc. Tại sao ông không đối xử với chúng tôi tương xứng?”
Gasan trả lời cứng rắn: “Anh nghĩ chúng tôi là ai? Chúng tôi là chiến binh của nhân loại, nhắm vào cứu vớt tất cả mọi sinh linh.”
.
Bình:
• Gasan Jôseki (1276-1366) là một thiền sư quan trọng của dòng thiền Tào Động (Soto). Gasan đầu tiên học Thiên Thai Tông, nhưng sau khi gặp thiền sư Tào Động Keizan ở Kyoto, Gasan theo làm đệ tử của Keizan. Tuy nhiên Keizan có gởi Gasan đến học với các thiền sư khác, đặc biệt là thiền sư Lâm Tế Kyôô Unryô, trước khi truyền chức cho Gasan. Về sau Gasan là sư trụ trì thứ hai của chùa Sôjiji, trong 40 năm, và sau đó là sư trụ trì thứ tư của chùa Yôkôji trong một thời gian ngắn. Gasan đóng một vai quan trọng trong việc phát triển dòng thiền Tào Động tại Nhật.
• Thực ra thì các sĩ quan không nên ăn cơm của dân như thế, vì khi đánh trận thật không có ai nấu ăn sẵn cho ăn. Lẽ ra muốn tập trận tốt thì phải làm y như thật, là phải tự lo việc ăn uống.
Thái độ các sĩ quan này cho thấy đây là một nhóm quan binh hống hách chuyên hà hiếp dân. Chính vì vậy mà Gasan, dù lịch sự với họ, vẫn phải giữ thái độ cứng rắn.
• Câu trả lời của Gasan “Chúng tôi là chiến binh của nhân loại, nhắm vào cứu vớt tất cả mọi sinh linh,” chỉ có vị thầy đã đạt đạo mới nói được thế, vì đạt đạo rồi mới thấy được rằng điều mình đã trải nghiệm và liễu ngộ thì quan trọng cho mọi người trên thế giới đến thế nào.
Những người ngớ ngẩn thường nghĩ rằng sư sãi chẳng sản xuất gì cho xã hội và chỉ là gánh nặng cho xã hội vì sống nhờ cúng dường của người khác. Sư sãi chưa nắm được đạo cũng không thể thấy và tin vào vai trò quan trọng của mình cho thế giới. Chỉ có các bậc chân tu mới thấy được điều đó, và mới đủ tự tin để nói nó ra.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Soldiers of Humanity
Once a division of the Japanese army was engaged in a sham battle, and some of the officers found it necessary to make their headquarters in Gasan’s temple.
Gasan told his cook: “Let the officers have only the same simple fare we eat.”
This made the army men angry, as they wre used to very deferential treatment. One came to Gasan and said: “Who do you think we are? We are soldiers, sacrificing our lives for our country. Why don’t you treat us accordingly?”
Gasan answered sternly: “Who do you think we are? We are soldiers of humanity, aiming to save all sentient beings.”
Có ai đó đã nói với tôi : “SỐNG là để làm được cái gì cho người đương thời và những kẻ hậu sinh để khỏi phụ cái công của bậc tiền bối.”
Trước đây, tôi luôn hỏi mình “SỐNG để làm gì?”, và sau nhiều lần ngồi một mình ở quán trà đá ^^ thả lòng trôi theo những đám mây, ngắm những dòng người vội vã bon chen trên đường, bất chợt tôi hiểu ra. SỐNG là để trải nghiệm, để tận hưởng niềm vui và cả nỗi buồn, để tận hưởng vị ngọt và đắng của cuộc đời. Có lẽ suy nghĩ của tôi thật đơn giản phải không bạn ^^
Sống làm sao để rồi, khi tuổi ta đã già, tóc ta đã bạc. Ta mỉm cười (dù có thể lúc đó không còn chiếc răng nào) nhìn lại những tháng ngày ‘đáng sống’ đã qua. ^^
Nhớ lúc anh còn trẻ
Và em còn trẻ
Thời gian ngừng trôi,
Ta chỉ biết đến tình yêu
Em là người yêu đầu, anh cũng vậy
Chúng ta yêu nhau và rồi em khóc
Nhớ lúc…
Hãy sống hết mình ‘mình nhé !’
Xin gữi đến các bạn bài hát : Remember When của Alan Jackson, biết đâu đấy, sau khi nghe bài hát này bạn lại có cùng suy nghĩ với tôi. ^^
Chúc các bạn một ngày an lành ! 🙂
Phan Thế Danh
Remember when I was young
and so were you
Time stood still,love was all we knew
You were the first, so was I
We made love and then you cried
Remember when
Remember when we vowed the vows
and walked the walk
Gave our hearts, made the start, it was hard
We lived and learned, life threw curves
There was joy, there was hurt
Remember when
Remember when old ones died and new were born
And life was changed, disassembled, rearranged
We came together, fell apart
And broke each other’s hearts
Remember when
Remember when the sound of little feet
was the music
We danced to week to week
Brought back the love, we found trust
Vowed we’d never give it up
Remember when
Remember when thirty seemed so old
Now lookn’ back it’s just a steppin’ stone
To where we are,
Where we’ve been
Said we’d do it all again
Remember when
Remember when we said when we turned gray
When the children grow up and move away
We won’t be sad, we’ll be glad
For all the life we’ve had
And we’ll remember when
Có những con đường không thể tới thành Rome, nhưng Khau Vai thì tới…
Một người đi tìm một người
Bao nhiêu người đi tìm bao nhiêu người?
Khau Vai buồn như đá
Nước mắt người già mài trên đá
Đâu rồi thời rung reng vàng bạc lắc đồng?
Em kìa, những cây sa mộc lặng lẽ trong thung
Chúng đang nghĩ gì?
Em đang nghĩ gì?
Nếu một mai mình không lấy được nhau
Em có đi tìm anh
Qua điệp trùng đá sắc
Những Khau Vai bầm dập dấu chân người?
Trời ơi Khau Vai
Khau Vai nhìn qua nước mắt
Bao bong bóng về trời
Thương buồn gửi lại…
Những cuộc tình vụng dại
Những cuộc tình khôn ngoan
Đã sống và chết ở nơi này
Không khôn ngoan không vụng dại
Chỉ lặng chìm như đá
Chỉ bời bời như mây
Chúng ta sa mộc chiều nay
Em hai mươi thoắt thành ngàn tuổi
Em có anh xa xót thế này sao?
Quỳ trước núi mà tin thôi em ạ
Ai trong đời chẳng có một Khau Vai
Nhọn sắc đá tai mèo
Cứa vào thương nhớ
Hãy nhìn nhau nhìn nhau trước gió
Em sẽ thấy một Khau Vai trong số phận chúng mình.
Trần Hòa Bình
.
KHAU VAI
Some roads lead not to Rome, yet to Khau Vai …
Someone looks for someone
How many look for how many?
Khau Vai is as sad as stone
The elder’s tears corrode stone
Where is the time of clinking gold and silver and bronze bracelets?
Sweetheart, the quiet cunninghamias in the dell
What are they thinking?
What are you thinking?
If one day we coudn’t marry
Would you look for me
Over the immense sharp cliffs
In the Khau Vais crushed under people’s footsteps?
O Heaven! Khau Vai!
Khau Vai seen through tears
Balloons returning to heaven
Just sorrows left…
Innocent loves
Wise loves
Lived and died here
Neither wise nor innocent
Just quietly submerged as stones
Just chaotically piled up as clouds.
Us two – among the Cunninghamias this afternoon
You twenty turn suddenly into a thousand years old
You have me, why still this tormented?
Just kneel before the mountains and believe, sweetheart!
Who in the world doesn’t have a Khau Vai
Pointed sharp cat-ears rocks
Cutting into grief
Just look at each other, look each other in the wind
You will see a Khau Vai in our destiny.
Lục bát, lâu nay ta hay có thói quen xem nó thuần Việt. Nhưng không. Đây là thể thơ gần như của chung của các dân tộc Đông Nam Á. Bởi cơ cấu ngôn ngữ dị biệt nên “lục bát” mỗi nơi phát triển mỗi khác. Ngay từ cuối thế kỉ XVI – đầu thế kỉ XVII được ghi nhận là thời điểm ra đời của sử thi Akayet Dewa Mưno, lục bát Chăm đã rất chuẩn mực. Trước đó nữa, trong panwơc pađit ca dao Chăm, lục bát là thể thơ được độc quyền sử dụng. Chăm gọi nó là thể ariya. Thử xét qua lục bát Việt và Chăm.
1. Lục bát Chăm gieo vần lưng. Chữ thứ sáu dòng lục hiệp với chữ thứ tư dòng bát:
Thei mai mưng deh thei o
Drơh phik kuw lo yaum sa urang
Ai đến từ đằng kia xa
Giống người yêu ta riêng chỉ một người
Hiện tượng này cũng thấy trong ca dao Việt:
Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
2. Ariya gieo cả vần bằng lẫn vần trắc. Ở trường hợp này, người Chăm gieo vần cũng khá linh hoạt, họ không nhất thiết cứ một cặp bằng rồi đến một cặp trắc. Có khi cả đoạn dài tác giả chỉ sử dụng độc vần bằng, nhưng đột hứng chúng ta thấy vần trắc xuất hiện:
Mai baik dei brei pha crong
Tangin dei tapong kauk luk mưnhưk
Bbuk ai tarung yuw harơk
Tangin dei pơk nhjwơh yuw tathi
Về đi em cho đùi gác
Bàn tay em vuốt, đầu xức dầu thơm
Tóc anh bù rối như rơm
Tay em vuốt thì mượt như lược chải
Đây là loại vần dù hiếm nhưng cũng có xuất hiện trong thơ ca dân gian Việt:
Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi
Nhưng không như ở lục bát Việt, vần trắc tồn tại khá bình đẳng với vần bằng trong ariya Chăm. Thậm chí trong một bài thơ dài, nó gần như đứng xen kẽ.
3. Tiếng Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết nên khác với lục bát Việt, số lượng tiếng được đếm trong ariya Chăm cũng khác. Có hai trường hợp xảy ra:
– Dạng đếm âm tiết: dòng lục gồm sáu âm tiết và dòng bát tám âm tiết, không lệ thuộc vào lượng chữ trong câu thơ.
– Dạng đếm theo lượng trọng âm của từ: Hiện tượng đọc lướt, nén chữ (compression), hay nuốt âm (elision) là chuyện bình thường gần như là thuộc tính của ngôn ngữ đa âm tiết, nhất là trong sáng tác thơ ca. Tiếng Chăm không là ngoại lệ. Dấu vết của cách đếm này cũng có mặt trong vài bài ca dao Việt xưa:
Mình nói dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ ta thấy con mình bò
Con mình những trấu cùng tro
Ta đi xách nước tắm cho con mình
Nhưng khi lục bát Việt phát triển ổn định, nó dừng lại ở 6-8. Các cách tân sau này không quan tâm đến lượng âm tiết trong câu mà đặt nặng ở vắt dòng và nhất là ngắt nhịp. Thì lục bát Chăm vẫn phát triển theo kiểu trương nở.
4. Về thanh điệu: Cũng như thanh điệu trong lục bát Việt xưa, ariya Chăm phát triển khá linh hoạt. Linh hoạt cả khi thanh điệu của lục bát Việt ổn định ở: Bằng Trắc Bằng / Bằng Trắc Bằng Bằng. Lục bát Việt khi xưa có vần trắc. Và khi bài thơ hơn hai cặp lục bát có lối gieo cả vần bằng lẫn trắc thì chúng mang dáng dấp của thể song thất lục bát.
Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti
Nhện ơi nhện hỡi mầy đi đàng nào
5. Ngoài các thể lục bát kể trên, người Chăm còn có thể pauh catwai (biến thể từ ariya) mà mỗi cặp lục bát đều đứng biệt lập như một bài thơ hoàn chỉnh với đầy đủ ý nghĩa, được kết nối liên hoàn đến cả mấy trăm câu mà vẫn thống nhất qua giọng điệu, tư tưởng. Hình thức không khác mấy so với Choka (trường ca) của Nhật (Choka là Shika: 5-7 âm được kết nối liên hoàn).
6. Đến nay, các nhà nghiên cứu chưa thể khẳng định thời điểm ra đời của lục bát, càng không biết dân tộc nào khai sinh ra nó nữa. Nhưng điều chắc chắn là có sự ảnh hưởng và tác động qua lại. Từ thập niên 50 của thế kỉ trước, giới làm thơ Chăm có sáng tác theo thể lục bát thuần Việt: ổn định, chỉ gieo vần bằng và hiệp vần ở chữ thứ 6 dòng bát. Dù vậy, cái khung của ngôn ngữ đa âm tiết vẫn chưa hết “gò bó” thể ariya Chăm. Để nó không bao giờ hết là nó, nghĩa là đặc trưng Chăm.
(Phần I này lược tóm từ: “So sánh lục bát Chăm – Việt”, Tạp chí Văn hóa – nghệ thuật, số 9, 2001).
II. Các dòng/ khuynh hướng lục bát Việt
Không kể các tác phẩm cổ điển sáng tác theo thể lục bát như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên,… lục bát hiện đại Việt Nam phát triển theo 4 dòng chính.
– Dòng lục bát dân gian, mà lục bát Nguyễn Bính là rất tiêu biểu. Nhịp thơ nhịp nhàng, ngôn ngữ dung dị dễ hiểu, hình ảnh thơ quen thuộc và gần gũi với đời sống thôn quê Việt Nam. Rất gần với ca dao. Sau Nguyễn Bính, đã có nhiều nhà thơ đi theo và phát triển xu hướng lục bát này, Đồng Đức Bốn đậm hơn cả.
– Dòng lục bát trí tuệ. Có thể xem Lửa thiêng của Huy Cận thời Thơ Mới là thành tựu mở đầu. Mới mẻ ở đề tài và ý tưởng, ngôn từ trí tuệ và chắt lọc bên cạnh là độ nén của ý thơ tạo nên thứ thi pháp rất hiện đại.
– Dòng lục bát huyền ảo. Dòng này nẩy nở và phát triển mạnh ở miền Nam thời sáng tác [và ảnh hưởng] Phật giáo thịnh hành: Huy Tưởng, Tuệ Mai và nhất là Phạm Thiên Thư với Động hoa vàng (1973) và Trại hoa đỉnh đồi (1975). Ngôn ngữ thơ mơ mơ hồ hồ bên cạnh hình ảnh mông lung, ý tưởng thiếu rành mạch, tạo một cảm giác miên man, mong manh, huyền ảo. Bài thơ đôi lúc chuyển nhịp khá bất ngờ.
– Dòng lục bát hậu hiện đại. Mở đầu bằng Bùi Giáng. Sáng tác của ông giai đoạn sau, nhất là các bài thơ mà tỉ lệ từ Hán Việt lấn át. Có khi bài thơ chỉ là một chuỗi liên hệ âm, thanh, vần, phép nói lái trong ngôn ngữ nối tiếp hoặc chồng chéo lên nhau, lồng vào nhau như thể một ma trận chữ vô nghĩa; rồi cả chuỗi hình ảnh, ý nghĩ dẫm đạp lên nhau, xô đẩy, nhảy cóc rối tù mù. Bài “Ngẫu hứng” đã được Nguyễn Hưng Quốc bình rất độc đáo.
Một hôm gầu guốc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Bôm ha? đạn hả? bao gồm
Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen.
Sau Bùi Giáng, ta thấy Nguyễn Duy sáng tác theo xu hướng này, nhưng không đậm bằng. Các bạn trẻ Sài Gòn sau đó đẩy lục bát hậu hiện đại đi xa hơn nữa.
Bên cạnh bốn dòng trên, ta còn thấy sự thể Du Tử Lê đã cố ý cắt nát lục bát bằng các dấu chấm, phẩy, gạch chéo… để tạo nhịp mới, nhịp chỏi cho thể thơ vốn khá mềm mại này – một cố ý thuần kĩ thuật.
Nằm nghe – chăn gối rơi. Cùng
tháng năm bằn bặt.- Phật còn ở không
Tôi nhìn – tôi rất chon von
núi non âm bản. – rừng son vẽ.- Buồn
Hôm nói chuyện ở Lớp Cử nhân tài năng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh vào năm 2006, một sinh viên tụng ca lục bát Đồng Đức Bốn, bị tôi hỏi vặn: bạn đã đọc lục bát Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư chưa? Câu trả lời là – chưa! Tôi nói: thế thì bạn chưa thể bàn về lục bát được. Đơn giản, nếu là độc giả phổ thông, bạn có thể cảm [cúm, mạo] nhận hay khen chê tùy hứng, nhưng khi bạn đang ngồi giảng đường để trở thành người đọc chuyên nghiệp ở thì tương lai (nhà phê bình, giáo viên dạy văn,…) thì bạn cần đọc hệ thống, nghĩa là phải nhận diện thơ lục bát trong tiến trình của nó. Không thể khác.
Trên đây, tôi chỉ phân loại mang tính gợi ý. Đề tài gợi mở nhiều hướng nghiên cứu rộng và sâu hơn.
Một thương gia mang 50 cuộn bông gòn trên vai, ngừng để tránh nắng dưới mái một căn chòi trong đó đứng một tượng Phật lớn bằng đá. Rồi anh ta ngủ thiếp đi, và khi anh tỉnh dậy hàng hóa của anh đã biến mất. Anh lập tức trình báo với cảnh sát.
Một quan tòa tên O-oka mở cuộc điều tra. “Chắc ông Phật đá này ăn trộm,” quan tòa kết luận. “Ông ta lẽ ra là phải lo lắng cho mọi người, nhưng đã không làm tròn nhiệm vụ. Bắt hắn.”
Cảnh sát bắt tượng Phật đá và khiêng tượng về tòa. Một đám đông ồn ào chạy theo tượng, tò mò muốn biết quan tòa sẽ ra hình phạt thế nào.
Khi O-oka ra ngồi ghế xử, ông mắng đám đông ồn áo. “Quí vị có quyền gì mà ra trước tòa cười giỡn thế này? Quí vị khinh thường tòa án và đáng bị phạt vạ và phạt tù.”
Mọi người lật đật xin lỗi. “Tôi sẽ phải phạt tiền quí vị,” quan tòa nói, “nhưng tôi sẽ bỏ qua nếu mỗi người mang đến cho tòa một cuộn bông gòn trong vòng ba ngày. Người nào không làm sẽ bị bắt.”
Một trong những cuộn bông mọi người nộp được người thương gia nhận ra ngay là cuộn bông của anh ta, nhờ đó tìm ra người ăn trộm ngay. Người thương gia tìm lại được hàng hóa, và tòa trả các cuộn bông lại cho mọi người.
.
Bình:
• Tượng Phật đá chỉ là cục đá vô tri, chẳng có quyền năng gì hơn một cục đá. Quan tòa xử tượng đá như thần thánh, chỉ là một phương cách để giúp người.
Tượng Phật trong chùa hay trong nhà ta cũng chỉ là tượng vô tri. Chúng ta cung kính với tượng, thực ra là để chúng ta tự giúp chúng ta. Tượng chẳng làm gì cả.
• Người tốt thì dùng tượng để giúp người. Người xấu cũng có thể giả vào “quyền năng” của tượng để lừa lọc người.
• Chính vì con người thường quên mất Chúa Phật trong tâm mình, mà hay tôn thờ các tượng gỗ tượng đá, nên 1500 trước công nguyên, trong Mười Điều Răn của Cựu Ước, điều răn thứ 2 có câu: “Các ngươi không được làm cho mình một hình tượng nào, dù theo hình dáng của bất kỳ điều gì trên trời hay dưới đất hay dưới đại dương.” Exodus 20:4.
(Ngày nay các chi phái Tin Lành – Protestantism – vẫn còn tuân theo điều răn này, nhưng các chi phái khác của Thiên Chúa Giáo thì đã dẹp bỏ nó cả hơn nghìn năm).
Một lần khác khi Đan Hà thiền sư ghé lại một thiền viện, vì trời lạnh nên ông lấy pho tượng Phật trên chánh điện xuống đốt để sưởi ấm. Sư trụ trì trách ông bất kính với một pho tượng thiêng liêng, thì ông trả lời rằng ông đốt để lấy xá lợi, vị sư tưởng ông ngờ nghệch, bèn cười mà hỏi vặn lại ông làm sao tìm được xá lợi trong pho tượng gỗ, Đan hà bèn cười to mà rằng: “Thế sao sư lại trách ta đốt gỗ?”
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Arresting the Stone Buddha
A merchant bearing fifty rolls of cotton goods on his shoulders stopped to rest from the heat of the day beneath a shelter where a large stone Buddha was standing. There he fell asleep, and when he awoke his goods had disappeared. He immediately reported the matter to the police.
A judge named O-oka opened court to investigate. “That stone Buddha must have stolen the goods,” concluded the judge. “He is supposed to care for the welfare of the people, but he has failed to perform his holy duty. Arrest him.”
The police arrested the stone Buddha and carried it into the court. A noisy crowd followed the statue, curious to learn what kind of sentence the judge was about to impose.
When O-oka appeared on the bench he rebuked the boisterous audience. “What right have you people to appear before the court laughing and joking in this manner? You are in contempt of court and subject to a fine and imprisonment.”
The people hastened to apologize. “I shall have to impose a fine on you,” said the judge, “but I will remit it provided each one of you brings one roll of cotton goods to the court within three days. Anyone failing to do this will be arrested.”
One of the rolls of cloth which the people brought was quickly recognized by the merchant as his own, and thus the thief was easily discovered. The merchant recovered his goods, and the cotton rolls were returned to the people.
Từng đôi lúc bị xuống tinh thần? Thất nghiệp? Người yêu dỗi hờn? Ai chẳng có lúc nhỉ 🙂
Tất cả những tình huống có đều đã được dự tính trước, kiểu gì chúng cũng thỉnh thoảng lại xảy ra một lần. Vậy tại sao lại phải lo lắng nhỉ? 🙂
Lý luận như thế thì cũng có lý nhưng thực tế thì khó có thế không lo lắng được khi cơn lo lắng ấp đến. Nhưng, âm nhạc có sức mạnh lắm, nó sẽ giải tỏa tâm trạng của bạn với giai điệu cảm hứng hơn ngôn từ có thể truyền tải nhiều. Hôm nay chúng ta hãy nhẹ nhàng dậm chân theo nhịp bài hát “Don’t worry Be happy” của Bobby McFerrin nhé 🙂 Bài hát cởi bỏ từng nút lòng rất hiệu nghiệm, dù bạn đang có lo lắng hay không 🙂
“Don’t worry be happy” được sáng tác bởi nhạc sĩ Bobby McFerrin vào năm 1988. Bài hát này đứng thứ nhất trong bảng xếp hạng Billboard 100 của năm 1988 trong 2 tuần liền và là bài hát của năm trong năm 1989. Điệp khúc của bài hát “Don’t worry be happy” được lấy từ lời của nhà hiền triết người Ấn Độ Meher Baba, “Do your best. Then, don’t worry; be happy in My love. I will help you”. 🙂
Dưới đây chúng ta có ba video. Video thứ nhất là Don’t worry be happy do Bob Marley thể hiện. Video thứ hai là đoạn phim cười vui do nhân viên của công ty Nature’s Sunshine quay. Thật tuyệt với nếu làm việc cho một công ty như thế nhỉ? Và bài hát thứ ba, do một anh hát rong hát vang đem cảm hứng cho những người đi trên đường phố Luân Đôn ở nước Anh. Sau đó là lời nhạc.
Chúc các bạn một ngày hạnh phúc không ưu tư,
Hiển.
Don’t worry, be happy!
Bobby McFerrin – Don’t Worry Be Happy (Official Music Video)
Bobby Mc Ferrin – Don’t Worry Be Happy
Here’s a little song I wrote
You might want to sing it note for note
Don’t worry, be happy.
In every life we have some trouble
But when you worry you make it double
Don’t worry, be happy.
Don’t worry, be happy now.
CHORUS:
Don’t worry, be happy. Don’t worry, be happy.
Don’t worry, be happy. Don’t worry, be happy.
Ain’t got no place to lay your head
Somebody came and took your bed
Don’t worry, be happy.
The landlord say your rent is late
He may have to litigate
Don’t worry, be happy.
CHORUS:
(Look at me — I’m happy. Don’t worry, be happy.
Here I give you my phone number. When you worry, call me,
I make you happy. Don’t worry, be happy.)
Ain’t got no cash, ain’t got no style
Ain’t got no gal to make you smile
Don’t worry, be happy.
‘Cause when you worry your face will frown
And that will bring everybody down
Don’t worry, be happy.
CHORUS:
(Don’t worry, don’t worry, don’t do it.
Be happy. Put a smile on your face.
Don’t bring everybody down.
Don’t worry. It will soon pass, whatever it is.
Don’t worry, be happy.
I’m not worried, I’m happy…)
Chào các bạn,
Mình mới khám phá ra danh sách này trên vietnamtourism.com. Dù là đa số chúng ta không có dịp tham dự đa số các lễ hội trong danh sách này. Liếc qua danh sánh một tí cũng cho ta một tí khái niệm toàn cảnh về một khía cạnh của văn hóa Việt Nam
Mình sẽ cố nhớ post nó mỗi tháng (trừ khi có cô cậu sinh viên nào đó muốn xung phong làm việc này. Nếu vậy, thì cho mình biết nhé 🙂 )
Các links trong bài dưới đây không hoạt động ở đây, chỉ hoạt động trong site chính tại vietnamtourism.com 🙂
Thời gian: 29/1 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Đối tượng suy tôn: Thần làng, thần cây.
Đặc điểm: Cúng 2 cây cổ thụ “cây bố và cây mẹ”, cúng những người hy sinh vì nước và vì bản làng. Các trò chơi thi leng hao, hát lán cô, đu, chơi cờ gỗ. (Chi tiết)
Thời gian: 1/2 và 11 – 12/6.
Địa điểm: Xã Đức Bác, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối tượng suy tôn: Thánh Ông, Bát Nàn công chúa (tướng của Hai Bà Trưng), ông tổ hát xoan.
Đặc điểm: Lễ cầu đinh, đua thuyền sang Phượng Lâu (bên kia sông) cướp giỏ thóc (bó mạ) mang về, hát xoan.
Thời gian: Tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Tại núi rừng Tây Bắc, tỉnh Điện Biên.
Đặc điểm: Ngày hội hoa ban không chỉ là ngày hội của tình yêu của các chàng trai cô gái Thái mà còn là dịp để người Thái cầu mùa, cầu phúc; là dịp để bày tỏ đạo hiếu đối với ông bà, cha mẹ. (Chi tiết)
Thời gian: 16-18/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng suy tôn: Phật, Thánh linh Thần tướng.
Đặc điểm: Hành hương lễ phật. (Chi tiết)
Thời gian: 7/2 âm lịch.
Địa điểm: Làng Viêm Xá (làng Diềm), xã Hòa Long, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Đức Vua Bà (bà tổ của dân ca quan họ).
Đặc điểm: Lễ giỗ tổ quan họ có hát quan cầu đảo, quan họ trùm đầu, và trò chơi cướp quả cầu nước. (Chi tiết)
Thời gian: 10 – 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Trương Hống, Trương Hát.
Đặc điểm: Cầu mùa, hát quan họ, chạy (kéo) chữ, chơi cướp cầu. (Chi tiết)
Thời gian: 22 – 27/1 âm lịch.
Địa điểm: Thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Đối tượng suy tôn: Thân Công Tài, quan đầu phủ có công khai phá mở chợ Kỳ Lừa giao thương buôn bán với người Hoa.
Đặc điểm: Lễ rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ, hát sli (dân tộc Nùng), hát lượn (dân tộc Tày). (Chi tiết)
Thời gian: 7 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Đặng Cương, huyện An Dương, Tp. Hải Phòng.
tượng suy tôn: Cao Sơn, Quí Minh và Chàng Rồng – Thần bản trang sở tại giúp vua Hùng đánh Thục.
Đặc điểm: Tế thần, thi bánh chưng, bánh giầy, đấu vật.
Thời gian: 16 – 18/1 âm lịch.
Địa điểm: Phường Đằng Hải, quận Hải An, TP. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: Ngô Quyền, người mở đầu thời đại tự chủ cho nước ta, đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938.
Đặc điểm: Tế lễ, dâng hương, tham quan di tích lịch sử bãi cọc Bạch Đằng. (Chi tiết)
Thời gian: 8 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Quận Lê Chân, Tp. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: Lê Chân, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
Đặc điểm: Lễ rước mũ, cỗ tế chay. (Chi tiết)
Địa điểm: Xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng làng và 5 anh em họ Vương giúp Lê Đại Hành phá giặc Tống: Vương Đức Minh, Vương Đức Xuân, Vương Đức Hồng, Vương Thị Đào, Vương Thị Liễu.
Đặc điểm: Rước 6 kiệu với đội múa rồng và múa lân đi đầu.
Địa điểm:Đền Đa Hoà và đền Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
Đối tượng tôn vinh:Chử Đồng Tử và hai vị phu nhân Tiên Dung Công chúa và Tây Sa Công chúa.
Đặc điểm:Lễ rước trên bộ của 9 xã từ các đình làng về đền Đa Hoà; 8 xã khác tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng về đền Dạ Trạch; hát trống quân. (Chi tiết)
Thời gian: 2 – 10/2 âm lịch. Chính hội 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Đức Thánh Tản Viên.
Đặc điểm: Thi đánh cá tế thánh Tản Viên, làm tiệc cá,múa rối, hát đúm, đáo đĩa. (Chi tiết)
Thời gian: 2 – 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Liên Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng Lữ Gia đại vương.
Đặc điểm: Trò đón ông đám, cướp bông. (Chi tiết)
Thời gian: 2/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Long Châu, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
Đặc điểm: Cúng (giỗ bà Trần), cầu kinh, múa rồng, múa rối nước. (Chi tiết)
Thời gian: 30/1 – 2/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đặc điểm: Lễ tế, lễ rước, đấu vật, tổ tôm điếm, hát chèo. (Chi tiết)
Thời gian: 15/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thanh Thủy, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Đối tượng suy tôn: Vũ Cố, một tướng tài của Lê Lợi đã tham gia đánh giặc Minh trên sông Đáy.
Đặc điểm: Tế thánh, đua thuyền, phóng lao, hát đối nam nữ trên thuyền, hát giao duyên. (Chi tiết)
Thời gian: 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn An Cổ, xã Thụy An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng suy tôn: Phạm Hải (Nam Hải đại vương).
Đặc điểm: Rước thần, tế, chơi đấu vật, cờ tướng, hát chèo. (Chi tiết)
Thời gian: 15 – 18/2 âm lịch.
Địa điểm: Làng Thanh Đàm, xã Nam Tân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Đối tượng suy tôn: Thủy thần.
Đặc điểm: Rước và thả hến. (Chi tiết)
Thời gian: 15 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Diẽn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đối tượng suy tôn: Thần Thục An Dương Vương.
Đặc điểm: có lễ yết cáo tại đền, lễ rước kiệu thần, tế thần, các sinh hoạt văn hoá: có hát ví, hát phường vải, hát tuồng, chèo, đốt pháo bông, thả đèn hoa. (Chi tiết)
Thời gian: Tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng làng.
Đặc điểm: Cúng ở đình thờ Thành hoàng, cúng trời đất, cầu yên mùa màng. (Chi tiết)
Thời gian: 6 – 7/2 âm lịch: Lễ nhập tịch.
Địa điểm: Xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng: Sứ quân Nguyễn Siêu.
Đặc điểm: Lễ hạ đồ và thượng đồ. (Chi tiết)
Thời gian: 13/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thần Nguyễn Bông và ngài Trần Toàn.
Đặc điểm: Hội làng có trò chơi “đi cầu noi” (Chi tiết)
Thời gian: 8 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Phạm Tu (đình ngoại), Chu Văn An (đình nội).
Đặc điểm: Rước kiệu từ đình nội ra đình ngoại, diễn tuồng, chọi gà, đánh cờ bỏi. (Chi tiết)
Thời gian: 9/2 âm lịch.
Địa điểm: 32 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Linh Lang đại vương (theo truyền thuyết là con thứ 4 của vua Lý Thánh Tông), Mẫu Thiên Tiên Lý Huệ Tông.
Đặc điểm: Rước, múa trống, cướp lụa đỏ. Có mười ba làng trại và nhiều cộng đồng khác như ở Đình Bảng (Bắc Ninh), Bồng Lai (Hà Tây) cũng về dự hội. (Chi tiết)
Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thánh Độc Cước sơn tiên, Lê Khôi – công thần thời Lê, thổ thần.
Đặc điểm: Thi thả thơ, hát ca trù. Đặc sản có bánh khoái và hàng mây tre đan. (Chi tiết)
Thời gian: 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Đình Giảng Võ, đường Giảng Võ, quận Đống Đa, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bà Chúa Kho.
Đặc điểm: Lễ tế của 13 làng trại anh em. Trò chơi: cờ người, bắt vịt, múa rối cạn, rối nước. (Chi tiết)
Thời gian: 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Tp. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Phật Mẫu Man Nương, Pháp Vân (Bà Nành), Đức Phật Thích Ca, Đức Trần Hưng Đạo.
Đặc điểm: Tục cúng, nâng cây phan. (Chi tiết)
Thời gian: 12 – 15/2 âm lịch.
Địa điểm: Đình Cót, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Các thần Cao Sơn, Diêm La, Mộc Tinh, hai vị bản thổ (hoàng cung Trịnh Thục phu nhân, Tràng Hán anh linh Đại tướng quân).
Đặc điểm: Rước lớn 7 kiệu (5 long ngai bài vị, một kiệu sắc – kiệu phù hương, một kiệu chum nước). (Chi tiết)
Thời gian: 14/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Trung Kính, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Hùng Nộn công (thời vua Hùng).
Đặc điểm: Cúng lợn giống đen tuyền, hát ca trù, vật, bắt vịt trong ao, đi cầu treo, tổ tôm điếm, thi thổi cơm. (Chi tiết)
Thời gian:10/2 âm lịch.
Địa điểm:Xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bạch Hạc Tam Giang, Túc Chinh công chúa.
Đặc điểm:Ngày hội có kết chạ với các làng lân cận. Chỉ cúng bằng cơm tẻ, muối vừng. Chơi trò trận giả ném cát. (Chi tiết)
Thời gian: 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Vũ Phục (ông Dầu), Đỗ Thị Thiện (bà Dầu).
Đặc điểm: Kiệu bay, thi bánh giầy, chè kho. (Chi tiết)
Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.
Địa điểm: Mọc Quan Nhân, Mọc Chính Kinh, Mọc Cự Lộc, Mọc Giáp Nhất, Mọc Phùng Khoang, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Đoàn Thượng, Lã Liệu, Hùng Lãng Công, Phùng Luông.
Đặc điểm: Rước kiệu qua 5 làng, múa rồng, múa sư tử. (Chi tiết)
Thời gian: 18/1 âm lịch.
Địa điểm: Làng Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bà Lý Nhũ Thái Lão (tổ sư nghề thuốc nam).
Đặc điểm: Lễ dâng hương, dân đến lễ và xin thuốc. (Chi tiết)
Thời gian: 10 – 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
Đối tượng suy tôn: Bà Thu Bồn (người Chăm).
Đặc điểm: Đua thuyền, rước cộ. (Chi tiết)
Tên thật: Hứa Vĩnh Sước
Dân tộc: Tày
Sinh năm: 1948
Nơi sinh: Trùng Khánh, Cao Bằng
Bút danh: Y Phương
Thể loại: thơ, kịch
Các tác phẩm:
– Người núi Hoa (1982)
– Tiếng hát tháng giêng (1986)
– Lửa hồng một góc (1987)
– Lời chúc (1991)
– Đàn then (1996)
– Thơ Y Phương (2002)
Vài bài thơ của Y Phương:
Tên làng
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Ba mươi tuổi từ mặt trận về
Vội vàng cưới vợ
Ba mốt tuổi tập tành nhà cửa
Rào miếng vườn trồng cây rau
Hạnh phúc xinh xinh nho nhỏ ban đầu
Như mặt trời mới nhô ra khỏi núi
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Mang trong người cơn sốt cao nguyên
Mang trên mình vết thương
Ơn cây cỏ quê nhà
Chữa cho con lành lặn
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Lần đầu tiên ôm tiếng khóc lên ba
Lần đầu tiên sông núi gọi ông bà
Lần đầu tiên nhóm lửa trên mặt nước
Lần đầu tiên sứ sành rạn nứt
Lần đầu tiên ý nghĩ khôn lên
Ý nghĩ khôn lên nỗi buồn thấm tháp
Bàn chân từng đạp bằng đá sắc
Trở về làng bập bẹ tiếng đầu tiên
Ơi cái làng của mẹ sinh con
Có ngôi nhà xây bằng đá hộc
Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt
Có niềm vui lúa chín tràn trề
Có tình yêu tan thành tiếng thác
Vang lên trời
Vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con
Phố Xưa
Phố xưa
Bây giờ vẫn như xưa
Những mái nhà nâu
Những cột nhà đen
Đêm đêm lép bép ngọn đèn.
Tôi đi trên con đường xưa
Tránh đứa trẻ đang bò chơi bi
Tránh ông già lim dim sưởi nắng
Tránh người yêu xưa đầu đường áo trắng
Con trên vai đi thẳng chẳng nhìn ai
Giận nhau lâu
Nhớ nhau dài
Tôi trở về tìm người yêu xưa ở phố
Em gọi
Nhưng tôi không ngoái cổ
Giả vờ đi.
Mùa hoa
Mùa hoa
Mùa đàn bà
Mặt đỏ phừng
Thừa sức vác ông chồng
Chạy phăm phăm lên núi.
Mùa hoa
Mùa đàn ông
Mệt như chiếc áo rũ
Vừa vịn vừa đi vừa ngái ngủ.
Nói với con
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con
Văn thư, sách vở, bản đồ ghi là Ngọc Lạc, nhưng đến nơi nghe gọi và thấy các bảng hiệu ghi là Ngọc Lặc. Cả hai tên cùng tồn tại. Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai
Các xã trong huyện Ngọc Lặc đều có tên hai chữ Hán: Thạch Lập, Phúc Thịnh, Mỹ Tâm, Ngọc Sơn, Ngọc Khê vv…Các làng thì một số có tên hai chữ Hán như Lập Thắng, Điền Sơn…còn hầu hết là tên một chữ: Làng Ngán, làng Chạy, làng Nhớ, làng Quên, làng Thi, làng Mới, làng Mỏ, làng Móng, làng Chả, làng Thượng, làng Hạ, làng Vải, làng Mốc, làng Mí, làng Beo vv…Nghe rất vui nhưng tìm hỏi xuất xứ không ai biết rõ. Cũng như mọi người nói về vua Lê một cách kính cẩn, gọi là “cố Lê Lợi”, nhưng những chuyện xưa”năm tê năm tặc” chỉ còn truyền khẩu một cách mơ hồ. Những khe Sống, đồng Chó…người nói thế này, người nói thế nọ, rất khác nhau.
Thị trấn Ngọc Lặc nằm giữa cánh đồng, bốn bên là những dãy núi đỉnh nhọn đâm lên trời cao dáng vẻ trông thật hùng vĩ, đường bệ hơn hết là núi Sắt. Trung tâm thị trấn là chợ Phố Cống. Từ chợ đi ra có phố Lê Lợi rồi phố Lê Lai. Gọi là phố nhưng đường không rộng lắm, hai bên đường nhựa vẫn là bùn đất, rơm rạ vương vãi. Tuy vậy cũng đủ các mặt hàng: tạp hóa, quần áo, giày dép, xe máy…Và có dịch vụ trang trí nội thất, trang điểm cô dâu, quán cà phê vang tiếng nhạc. Thức ăn bày bán khá nhiều trong chợ là những thúng nhộng tằm, con nhộng lớn, màu xanh nhạt.
Nhiều loại nhà cửa xen lẫn nhau: nhà gác, nhà ngói, nhà lợp lá cọ – là thứ lá gồi trong thơ Tú Xương “Nhà gỗ năm gian lợp lá gồi”. Lá cọ làm kỹ lợp đến 20 – 30 năm chưa hư, sơ sài thì cũng phải 10 năm. Khi các bác sĩ đang làm cho chương trình Y tế cộng đồng tại đây đề nghị đồng bào cho biết về ngôi nhà mà họ mơ ước thì câu trả lời là những “nhà ngói bằng” – tức là nhà đúc. Giới thiệu kiểu nhà ngói ở miền xuôi, họ cười cười bảo: “Nhà xây mà có mái, lợp ngói thì đâu có hơn gì lợp lá cọ?” Ra khỏi trung tâm thị trấn vào các bản đồng bào Mường là nhà sàn với những cột bằng cây luồng, một loại cây họ tre, lớn hơn, dài hơn, suôn hơn tre. Cửa lên nhà cũng ở phía chái nhưng không chính giữa như nhà sàn Tây Nguyên mà dịch qua bên trái. Xã Mỹ Tâm - Ru Mường
Sau lưng phố là ruộng chia thành nhiều luống nhỏ, luống này chín vàng, luống kia tươi xanh, luống nọ đã gặt. Trong một cánh đồng có thể thấy nhiều giai đoạn thời vụ trên những mảng màu khác nhau, nổi bật bên nhau. Vài ba con trâu đi trên đường phố, chiếc mõ mang ở cổ kêu lóc cóc lóc cóc, đến đoạn trống chưa có nhà trâu rẽ xuống ruộng.
Buổi sáng mùa đông ấy dứt mưa đã mấy hôm, trời chợt có gió hong khô và nắng lên ấm áp. Đường vào bản đã ráo, bước trên mặt đất mềm thấy bàn chân êm êm. Mặt hồ Đầm Thi gợn từng nếp sóng lăn tăn. Bãi sỏi bờ suối màu vàng sậm, hoa pháo nở đỏ từng xâu dài. Không khí thoáng đãng, hít thở thật nhẹ nhàng. Phong cảnh có nét gì đó rất thoáng và rất lạ giống như những truyện đường rừng của Lan Khai. Thỉnh thoảng có tiếng còi xe cũng dịu dàng. Trẻ em sạch sẽ, xinh xắn và lễ phép, gặp chúng tôi chào hỏi vui vẻ. Chỉ còn một ít người già mặc y phục dân tộc Mường, nam nữ thanh niên đều mặc Âu phục. Phụ nữ bới tóc cao, con gái để tóc dài, xõa ra hoặc kẹp lại bỏ sau lưng.
Ở đây rượu rất ngon và hình như người nào cũng sành về rượu. Ngồi uống rượu bỗng nhớ chuyện xưa. Thời Lê Lợi khởi binh, lực lượng nòng cốt ban đầu hẳn là đồng bào vùng Ngọc Lặc, Thọ Xuân. Biết bao nhiêu là gian khổ, “khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, khi Khôi Huyện quân không một lữ” đã cùng chia nhau chén rượu nghĩa tình. “Đầu giao hưởng sĩ phụ tử chi binh nhất tâm…”, nguyên bản Bình Ngô đại cáo như thế và các dịch giả đã diễn nôm thành “Gắn bó một lòng phụ tử rót rượu ngọt để khao quân” hoặc ”Mở tiệc khao quân chén rượu ngọt ngào, khắp chiến sĩ một lòng phụ tử”… Đầu giao hưởng sĩ…Đem rượu được biếu đổ xuống lòng suối để ba quân cùng nếm, rượu hòa nước lã bỗng hóa ra chén rượu ngọt ngào…
Buổi tối đến Ngọc Lặc chúng tôi được thưởng thức ngay món canh lá đắng. Hôm sau có dịp nhìn tận mắt loại cây ấy. Lá đắng là tên gọi đúng vị của nó, mọc từ thân ra, có hình dạng giống như lá sắn mì. Từ cuống chính tỏa thành chín cuống phụ, mỗi cuống phụ một lá, thân lá dài từ 5,6cm đến 20cm, rộng độ 4-5cm, chỗ gần cuống tròn hơn, thân lá nhọn, hai mặt lá đều màu xanh đậm. Lá đắng nấu với thịt nạc băm nhỏ. Mới ăn vào đắng lắm. So với canh lá đắng thì canh khổ qua (không luộc chần) chẳng thấm thía gì. Vậy mà khi đã nuốt xong, vị đắng tan hết, còn lại vị ngọt. Ăn lần thứ nhất có thể chưa cảm nhận được canh lá đắng ngon thế nào, sau lần thứ hai đã thấy nhớ, lần thứ ba và những lần tiếp theo sẽ không quên món canh độc đáo này của Ngọc Lặc…
Một chiến binh tên Nobushige đến gặp Hakuin, và hỏi: “Có thiên đàng và địa ngục không?”
“Anh là ai?” Hakuin hỏi.
“Tôi là một hiệp sĩ đạo,” người chiến binh trả lời.
“Anh, chiến sĩ!” Hakuin kêu lên. “Vua chúa nào dùng anh làm cận vệ? Mặt anh nhìn như mặt ăn mày.”
Nobushige quá giận và bắt đầu rút kiếm ra, nhưng Hakuin tiếp tục: “Anh cũng có kiếm nữa! Kiếm của anh chắc là quá cùn để chặt đầu tôi.”
Trong khi Noshibughe rút kiếm Hakuin nói: “Đây cửa địa ngục đang mở.”
Nghe những lời này, chàng hiệp sĩ đạo nhận ra kỹ luật của thiền sư, bỏ kiếm lại vào bao và gập người chào.
“Đây cửa thiên đàng đang mở,” Hakuin nói.
.
Bình:
• Hakuin là thiền sư Vậy À của tông Lâm Tế mà ta đã nhắc đến trước đây.
• Trong đa số truyền thống tâm linh và triết lý, thiên đàng và hỏa ngục ở trong tâm ta. Nhưng đa số tín đồ lại cứ nghĩ đó là hai nơi đâu đó ở một thế giới bên ngoài. Cho nên khi họ đang ở trong địa ngục họ không biết họ đang ở trong địa ngục. Và họ tốn phí cả đời chạy đuổi theo một ảo ảnh của thiên đàng đâu đó.
Tâm dẫn đầu các pháp,
Tâm làm chủ, tâm tạo;
Nếu với tâm ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
…
Tâm dẫn đầu các pháp,
Tâm làm chủ, tâm tạo,
Nếu với tâm thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau…
Thánh kinh Thiên chúa giáo viết: Lần nọ, các thầy luật Pharisees hỏi khi nào thì Nước Thiên Đàng (Nước Chúa) sẽ đến, Chúa Giêsu trả lời: “Nước Thiên Đàng không đến với sự quan sát cẩn thận của các bạn, và người ta sẽ không nói, ‘Nó ở đây,’ hay ‘Nó đằng kia,’ vì Nước Thiên Đàng ở trong bạn.” Luke 17:20-21.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
The Gates of Paradise
A soldier named Nobushige came to Hakuin, and asked: “Is there really a paradise and a hell?”
“Who are you?” inquired Hakuin.
“I am a samurai,” the warrior replied.
“You, a soldier!” exclaimed Hakuin. “What kind of ruler would have you as his guard? Your face looks like that of a beggar.”
Nobushige became so angry that he began to draw his sword, but Hakuin continued: “So you have a sword! Your weapon is probably much too dull to cut off my head.”
As Nobushige drew his sword Hakuin remarked: “Here open the gates of hell!”
At these words the samurai, perceiving the master’s discipline, sheathed his sword and bowed.
Chắc mọi người chúng ta ai cũng rất quen với tác phẩm ‘Dế mèn phiêu lưu ký’ của nhà văn Tô Hoài. Hồi bé mình rất thích câu truyện này bởi những tình tiết ‘hoành tráng bạo lực’ và muốn sau này trở thành anh hùng như chàng dế.
Bây giờ cảm giác muốn trở thành ‘anh hùng rơm’ đã không còn nữa. Mình rất thích bài hát ‘Dế Mèn’ của Bức Tường (có thể coi là nhóm nhạc rock đầu tiên của Việt Nam). Không hiểu sao khi nghe bài này mình lại nhớ đến câu chuyện ‘Dế mèn phiêu lưu ký’ ngày xưa và tự nhắc nhở mình đừng có “Cậy sức đôi Càng to, chẳng coi ai xung quanh ra sao” ^^
Trời vén mây nhìn xuống, gió hắt cơn mưa phùn
Đành tiễn đưa chàng Dế, dù một thời buồn phiền chưa nguôi
Làn gió man mác đàn kiến chập trùng, chập trùng
Tiễn đưa dế mèn sang bên kia thế gian
Thời Dế non hợm hĩnh, thích rong chơi phiêu bạt
Cậy sức đôi Càng to, chẳng coi ai xung quanh ra sao
Nào ai khuyên răn Dế cùng gật gù, nhưng rồi:
Nước đổ lá khoai, nước đổ lá khoai
Thời dế non háu đá, có muốn ai hơn mình
Nào biết đâu Trời cao, phận “Cạn tầu ráo máng”
Thì thôi dế ơi cũng đă cạn rồi một thời
Thứ tha cuối cùng tiễn đưa cuối cùng
Muôn loài rộng lòng tiễn đưa chàng Dế
Sinh thời “bướng mệnh” Càng to hiếu chiến
Tha lỗi lầm xưa nào đâu khó nhọc
Nhỏ giọt nước mắt tiễn đưa thôi khép lại
Trước khi Ninakawa qua đời thiền sư Ikkyu đến thăm ông. “Tôi dẫn độ cho anh nhé?” Ikkyu hỏi.
Ninikawa trả lời: “Tôi đến đây một mình và tôi đi một mình. Thiền sư giúp tôi được gì?”
Ikkyu nói: “Nếu anh nghĩ là anh thật có đến và đi, đó là ảo tưởng của anh. Để tôi chỉ cho anh con đường trên đó chẳng có đến, chẳng có đi.”
Với các lời giảng, Ikkyu đã chỉ ra con đường rõ ràng đến nỗi Ninakawa mỉm cười và từ trần.
.
Bình:
• Ikkyu chính là người con trai nhận di chúc của mẹ trong bài Di Chúc ta đã nói qua. Người ta nói rằng Ikkyu là con không chính thức của Thiên hoàng Go-Komatsu.
Ikkyū (一休宗純 Ikkyū Sōjun, 1394-1481) là một thiền sư và thi sĩ lập dị hàng đầu trong lịch sử Thiền tông Nhật Bản. Ikkyu học nhiều thầy, nhưng không thích chùa chiền và cái mà Ikkyu cho là đạo đức giả và sự lười biếng của các nhà sư, nên chỉ sống lang thang ngoài đường. Tuy vậy Ikkyu vẫn có nhiều bạn bè trong giới thi ca và nghệ sĩ.
Ikkyu thích ăn ngon, thi ca, âm nhạc, và công khai ca tụng tình dục (sex) như là một phần tự nhiên của đời sống con người. Ikkyu có người yêu là cô ca kỹ mù Mori và làm một số bài thơ về nàng. Người ta cho rằng Ikkyu là người đã tạo ra truyền thống Thiền Chỉ Đỏ (Red Thread Zen), một nhánh của thiền Lâm Tế chấp nhận tình dục (sex) và cho phép các sư và ni được lập gia đình.
Dù Ikkyu thích đi lang thang và không ưa chùa chiền, khi chùa Daitoku-ji, một chùa Lâm Tế lớn ở Tokyo, bị hủy hoại trong trận nội chiến Ōnin (応仁の乱 Ōnin no Ran, 1467 – 1477), Thiên hoàng Go-Tsuchimikado chỉ định Ikkyū làm sư trụ trì. Ikkyu bất đắc dĩ phải nhận lời, và có công rất lớn trong việc gầy dựng chùa này trở lại. Chức vụ này cũng đặt Ikkyu vào vị trí truyền nhân chính thức và quan trọng của dòng thiền Lâm Tế.
Ikkyu có ảnh hường rất lớn trong văn hóa phổ thông của Nhật ngày nay. Các trẻ em xem Ikkyu là một anh hùng, thường xuyên phê phán quan chức sư sãi. Có rất nhiều sách truyện và phim hoạt hoạ trẻ em nói về cuộc đời Ikkyu.
Ikkyu cũng ảnh hưởng nhiều đến thi ca và nghệ thuật Nhật và góp phần lớn trong việc đưa Thiền vào mọi lãnh vực của đời sống Nhật.
• Ikkyu đã nói gì với Ninakawa?
Dĩ nhiên là ta không biết. Tuy nhiên, Ikkyu có để lại nhiều bài thiền thi, trong đó bài nổi tiếng nhất là “Các Bộ Xương” (Skeletons), tóm tắt những điều quan trọng để “để lại” như là một di chúc. Có lẽ điều gì đó Ikkyu đã nói với Ninakawa cũng không ngoài bài thơ này. Bài thơ nói sâu hơn về các điểm mà mẹ của Ikkyu đã để lại cho Ikkyu trong chúc thư ngắn ngủi của bà nhiều năm về trước, chứng tỏ là lời mẹ đã không bao giờ phai trong lòng Ikkyu.
Các Bộ Xương, một tuyệt tác văn chương, với đạo pháp sâu sắc:
Các bộ xương
Này các thiền sinh, hãy tọa thiền chăm chỉ, và các bạn sẽ nhận ra rằng tất cả mọi thứ sinh ra trên đời này rốt cuộc chỉ là không, kể cả chính ta và mặt mũi nguyên thủy của hiện hữu. Tất cả mọi thứ đều từ không mà ra. Cái không nguyên thủy là “Phật”, và tất cả các từ tương tự khác — Phật tính, Phật vị, Phật tâm, Giác Ngộ, Tổ, Thượng đế — chỉ là những cách diễn tả khác nhau của cùng một cái không. Hiểu sai điều này thì bạn sẽ rơi vào địa ngục.
Một đêm… một bộ xương thảm hại hiện ra và nói những lời này:
Một cơn gió thu buồn rầu
Thổi qua thế giới
Cỏ tranh dợn sóng,
Trong khi chúng ta trôi đến đầm lầy,
Trôi ra biển.
Làm được gì
Với tâm trí của một người
Lẽ ra thì nên sáng
Nhưng dù hắn choàng áo thầy tu
Hắn chỉ để cuộc đời vuột qua hắn?
Gần sáng tôi thiếp đi, và trong mơ tôi thấy tôi bị nhiều bộ xương bao vây… Một bộ xương đến gần tôi và nói:
Ký ức
Bỏ chạy và
Không còn hiện diện.
Tất cả đều là những giấc mơ trống rỗng
Chẳng ý nghĩa gì.
Vi phạm sự thật của vạn vật
Và lảm nhảm về
“Thượng đế” và “Phật”
Thì bạn sẽ không bao giờ tìm thấy
Đường thật.
Tôi thích bộ xương này… Hắn thấy mọi sự rất rõ, như chúng là. Tôi nằm đó với tiếng gió giữa những hàng thông thì thầm trong tai và ánh trăng thu nhảy múa trên mặt.
Cái gì không là mơ? Ai sẽ không kết thúc là một bộ xương? Chúng ta hiện diện như là những bộ xương có da bao bọc – đàn ông đàn bà – và mê đắm nhau. Nhưng khi hơi thở chấm dứt, da vỡ, sinh lý biến mất, và chẳng còn cao thấp. Bên dưới lớp da của người mà ta đang ôm ấp vuốt ve chẳng gì khác hơn là một bộ xương khô. Hãy nghĩ đến điều đó – cao và thấp, trẻ và già, đàn ông và đàn bà, tất cả đều như nhau. Hãy tỉnh thức về điều hệ trọng này và bạn sẽ lập tức hiểu ý nghĩa của “không sinh và không tử”.
Nếu các mảnh đá
Có thể là vật nhắc nhở
Đến người chết,
Thì các cối giã trà
Có thể là mộ bia tốt hơn.
Con người thật sự là những sinh linh đáng sợ.
Một vầng trăng
Sáng và trong
Trên bầu trời không một gợn mây;
Vậy mà chúng ta loạng choạng
Trong bóng tối của thế giới.
Nhìn kỹ đi – ngưng thở, gỡ lớp da, và tất cả mọi người rốt cuộc nhìn như nhau. Không cần biết bạn sống bao lâu, kết quả không thay đổi (kể cả hoàng đế). Vất đi cái ý niệm là “tôi hiện hữu.” Trao thân mình cho những đám mây trôi trong gió, và đừng mong sống mãi.
Thế giới này
Chỉ là
Cơn mơ thoáng qua
Vậy sao lại run sợ
Nó biến mất?
Quãng đời của bạn đã được định sẵn và mọi cầu khẩn với thần linh để kéo dài nó ra đều vô ích. Hãy tập trung tâm trí vào một vấn đề lớn của sống và chết. Đời sống tận cùng bằng sự chết, đó là điều hiển nhiên.
Các đột biến của cuộc đời
Dù đau nhức,
Dạy chúng ta
Đừng bám chặt
Vào thế giới phù du này.
Tại sao người ta
Tốn phí trang sức
Trên bộ xương này
Khi nó đã được định phải biến mất
Chẳng lưu dấu vết?
Thân thể nguyên thủy
Phải trở về
Nơi nguyên thủy của nó:
Đừng tìm
Cái không tìm được.
Không ai thực sự biết
Bản chất của sinh
Hoặc nơi ở thật:
Chúng ta trở về nguồn
Và trở thành cát bụi.
Nhiều con đường bắt đầu
Từ chân núi
Nhưng tại đỉnh núi
Tất cả chúng ta ngắm nhìn
Một vầng trăng sáng.
Nếu tại cuối cuộc hành trình
Không có nơi
An nghỉ cuối cùng
Thì chúng ta không cần phải sợ
Lạc đường.
Không có khởi đầu,
Không có chấm dứt;
Tâm ta
Sinh ra và chết:
Cái không của không!
Lơ đểnh
Và tâm
Chạy loạn xạ;
Kiểm soát tâm
Và bạn có thể gạt nó sang một bên.
Mưa, mưa đá, tuyết và băng:
Tất cả đều rời rạc
Nhưng khi rơi xuống
Chúng trở thành một dòng nước
Của con suối trong lòng thung lũng.
Những cách hiển lộ
Chân Tâm đều khác nhau
Nhưng trong mỗi một cách
Ta có thể thấy
Cùng một sự thật thiêng liêng.
Hãy lấp kín con đường của bạn
Bằng lá thông rụng
Để không ai có thể
Biết được
Nơi ở thật của bạn.
Thật vô ích
Những tang lễ không ngừng trên núi Toribe:
Những người than khóc không nhận ra
Họ sẽ là người kế tiếp hay sao?
“Cuộc đời phù du!”
Chúng ta suy tư nhìn cảnh
Khói bay trên núi Toribe:
Nhưng khi nào chúng ta nhận ra
Rằng ta đang ở trên thuyền hỏa táng?
Tất cả chỉ là hão huyền!
Sáng nay,
Một người bạn khỏe mạnh,
Chiều nay,
Vài sợi khói hỏa táng.
Tội nghiệp!
Khói chiều trên núi Toribe
Bị thổi lồng lộn
Tới lui
Với gió.
Khi hỏa táng
Nó thành tro,
Và thành đất khi chôn.
Phải chăng chỉ có tội lỗi của ta
Là còn sót lại?
Tất cả tội lỗi
Đã phạm
Trong ba thế giới (*)
Sẽ phai mất
Cùng với tôi.
Thế giới là vậy đó. Những kẻ không nắm được lẽ vô thường của thế giới kinh ngạc và sợ thất thần vì những thay đổi đó. Rất ít người ngày nay kiếm tìm sự thật của Phật pháp, và các tu viện thì trống rỗng. Các sư ngày nay đa số là dốt nát và lãng tránh ngồi thiền như là một phiền phức; họ lười biếng thiền định, họ tập trung vào trang trí chùa chiền. Thiền tọa của họ là giả tạo, và họ chỉ mang mặt nạ các nhà sư – những chiếc áo chùng họ mang sẽ trở thành những bộ áo giáp tra tấn một ngày nào đó.
Trong vũ trụ của sinh và tử, sát sinh sẽ đưa vào địa ngục, tham lam đưa đến tái sinh thành ma đói; si mê làm người ta tái sinh thành súc vật; sân hận biến người ta thành quỷ. Tuân theo giới luật và bạn sẽ tái sinh là người. Làm việc thiện và bạn sẽ lên hàng trời. Trên sáu cõi này còn bốn cấp độ của Phật tử Trí Tuệ, tổng cộng là 10 cõi giới. Tuy nhiên, một Niệm Giác Ngộ cho thấy tất cả các cõi giới này đều là không, chẳng có gì giữa chúng, và ta chẳng nên ghê tởm, sợ hãi hay ham mê chúng. Hiện hữu chẳng là gì hơn một làn mây mỏng trên bầu trời mênh mông hay bọt bóng trên mặt nước. Không một niệm nào khởi sinh trong tâm, nên không có điều gì được tạo sinh. Tâm và vật là một, và là không, tuyệt đối chẳng nghi ngờ.
Sự sinh của con người cũng như lửa – bố là đá lửa, mẹ là hòn đá, và tia lửa tóe ra là đứa con. Lửa được khởi sinh từ các thành tố căn bản và cháy cho đến khi hết nguyên liệu. Sự ân ái giữa bố và mẹ tóe ra tia sống. Vì bố mẹ không có điểm khởi đầu, nên họ cũng chập choạng mờ ra; tất cả mọi thứ đến từ không – nguồn của mọi hình sắc. Hãy tự giải thoát mình khỏi hình sắc và trở về với nền tảng khởi thuỷ của hiện hữu. Từ nền tảng này, cuộc đời đi ra, nhưng hảy xả bỏ luôn cả ý niệm này.
Chẻ toang ra
Một cây se-ri
Và chẳng có đóa hoa nào cả
Nhưng gió xuân
Mang đến hàng loạt bông hoa!
Không có cầu
Nhưng mây đi lên nhẹ nhàng
Đến tận thiên đàng;
Chẳng cần phải lệ thuộc vào điều gì cả
Phật Thích Ca dạy.
Phật Thích Ca thuyết pháp trong 50 năm, và khi đệ tử Ca Diếp hỏi ngài tinh yếu của giáo pháp, Phật nói, “Từ đầu đến cuối ta chưa hề nói lời nào,” và đưa lên một đóa hoa. Ca Diếp mỉm cười và Phật trao đóa hoa cho Ca Diếp, và nói những lời này: “Con đã nắm được Diệu Tâm của Chánh Pháp.” “Ý thầy là sao?” Ca Diếp hỏi. “Năm mươi năm thuyết giảng của thầy,” Phật nói, “hằng mời gọi con luôn luôn, như là gọi đứa trẻ vào vòng tay với lời hứa phần thưởng.”
Đóa hoa giáo pháp này không thể diễn tả được bằng vật thể, ý niệm hay lời nói. Nó không phải là vật chất hay tâm linh. Nó không phải là kiến thức. Giáo Pháp của chúng ta là Đóa Hoa của Một Cổ Xe chở tất cả Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó mang 28 tổ sư Ấn Độ và 6 tổ sư Trung quốc; nó là nền tảng nguyên thủy của hiện hữu – tất cả hiện hữu. Tất cả mọi sự đều không có điểm khởi đầu và như vậy tất cả đều gồm trong nó. Tám cảm quan (**), bốn mùa, tứ đại (đất, nước, lửa, gió), tất cả đều đến từ không, nhưng ít người nhận ra điều này. Gió là hơi thở, lửa là hoạt động, nước là máu; khi xác thân bị chôn hay đốt nó trở thành đất. Nhưng tứ đại cũng không có khởi đầu và chẳng bao giờ trường tồn.
Trong thế giới
Mọi thứ, chẳng trừ gì,
Đều không thật:
Ngay cả sự chết cũng là
Hư ảo.
Ảo tưởng tạo ra ảo ảnh là dù thân xác chết, linh hồn vẫn tồn tại – đây là một lầm lỗi lớn. Người giác ngộ nói rằng cả thân xác và linh hồn tan biến với nhau. “Phật” là không, và trời và đất trở về với nền tảng nguyên thủy của hiện hữu. Tôi đã gạt qua một bên 80 ngàn quyến kinh và gởi đến các bạn tinh túy trong quyển ngắn này. Nó sẽ mang an lạc đến với các bạn.
Viết điều gì
Để lại
Cũng lại là một loại mơ nữa
Khi tôi tỉnh thức tôi biết rằng
Sẽ chẳng có ai đọc nó.
Thiền sư Ikkyu
Trần Đình Hoành dịch từ tiếng Anh
TĐH chú thích:
(*) Ba thế giới (tam giới) là dục giới (thế giới của ham muốn), sắc giới (thế giới của hình sắc), vô sắc giới (thế giới vô hình).
(**) Tám giác quan đây là ngũ quan của cơ thể – sắc, thanh, hương, vị, xúc – và 3 cảm quan về ý: ý thức, mạt-na thức, a-lại-da thức.
Skeletons
Students, sit earnestly in zazen, and you will realize that everything born in this world is ultimately empty, including oneself and the original face of existence. All things indeed emerge out of emptiness. The original formlessness is the “Buddha,” and all other similar terms — Buddha-nature, Buddhahood, Buddha-mind, Awakened One, Patriarch, God — are merely different express- ions for the same emptiness. Misunderstand this and you will end up in hell.
One night . . . a pitiful -looking skeleton appeared and said these words:
A melancholy autumn wind
Blows through the world;
The pampas grass waves,
As we drift to the moor,
Drift to the sea.
What can be done
With the mind of a man
That should be clear
But though he is dressed up in a monk’s robe,
Just lets life pass him by?
Toward dawn I dozed off, and in my dream I found myself surrounded by a group of skeletons . . . . One skeleton came over to me and said:
Memories
Flee and
Are no more.
All are empty dreams
Devoid of meaning.
Violate the reality of things
And babble about
“God” and “the Buddha”
And you will never find
the true Way.
I liked this skeleton . . . . He saw things clearly, just as they are. I lay there with the wind in the pines whispering in my ears and the autumn moonlight dancing across my face.
What is not a dream? Who will not end up as a skeleton? We appear as skeletons covered with skin — male and female — and lust after each other. When the breath expires, though, the skin ruptures, sex disappears, and there is no more high or low. Underneath the skin of the person we fondle and caress right now is nothing more than a set of bare bones. Think about it — high and low, young and old, male and female, all are the same. Awaken to this one great matter and you will immediately comprehend the meaning of “unborn and undying.”
If chunks of rock
Can serve as a memento
To the dead,
A better headstone
Would be a simple tea-mortar.
Humans are indeed frightful beings.
A single moon
Bright and clear
In an unclouded sky;
Yet still we stumble
In the world’s darkness.
Have a good look — stop the breath, peel off the skin, and everybody ends up looking the same. No matter how long you live the result is not altered[even for emperors]. Cast off the notion that “I exist.” Entrust yourself to the wind-blown clouds, and do not wish to live for ever.
This world
Is but
A fleeting dream
So why be alarmed
At its evanescence?
Your span of life is set and entreaties to the gods to lengthen it are to no avail. Keep your mind fixed on the one great matter of life and death. Life ends in death, that’s the way things are.
The vagaries of life
Though painful,
Teach us
Not to cling
To this floating world.
Why do people
Lavish decoration
On this set of bones
Destined to disappear
Without a trace?
The original body
Must return to
Its original place:
Do not search
For what cannot be found.
No one really knows
The nature of birth
Nor the true dwelling place:
We return to the source,
And turn to dust.
Many paths lead from
The foot of the mountain
But at the peak
We all gaze at the
Single bright moon.
If at the end of our journey
There is no final
Resting place
Then we need not fear
Losing our way.
No beginning,
No end;
Our mind
Is born and dies:
The emptiness of emptiness!
Let up
And the mind
Runs wild;
Control the [mind]
And you can cast it aside.
Rain, hail, snow, and ice:
All separate
But when they fall
They become the same water
Of the valley stream.
The ways of proclaiming
The Mind all vary
But the same heavenly truth
Can be seen
In each and every one.
Cover your path
With fallen pine needles
So no one will be able
To locate your
True dwelling place.
How vain
The endless funerals at the
Cremation grounds of Mount Toribe:
Don’t the mourners realize
That they will be next?
“Life is fleeting!”
We think at the sight
Of smoking drifting from Mount Toribe:
But when will we realize
That we are in the boat?
All is vain!
This morning,
A healthy friend;
This evening,
A wisp of cremation smoke.
What a pity!
Evening smoke from Mount Toribe
Blown violently
To and fro
By the wind.
When burned
It becomes ashes,
And the earth when buried.
Is it only our sins
That remain behind?
All the sins
Committed
In the Three Worlds
Will fade away
Together with me.
This is how the world is. Those who have not grasped the world’s impermanence are astonished and terrified by such change. Few today seek Buddhist truth, and the monasteries are largely empty. Priests now are mostly ignorant and shun zazen as a bother; they are derelict in their meditation, concentrating on decorating their temples. Their zazen is a sham, and they are merely masquerading as monks – the robes they sport will become the heavy coats of torture someday.
Within the cosmos of birth and death, the taking of life leads to hell; greed leads to rebirth as a hungry ghost; ignorance causes one to be reborn as an animal; anger turns one into a demon. Follow the precepts and you will attain rebirth as a human being. Do good deeds and you ascent to the level of the gods. Above these six realms there are four levels of the Wise Buddhists, altogether ten realms of existence. However, One Thought of Enlightenment reveals them to be formless, with nothing in between, and not to be loathed, feared, or desired. Existence is perceived as being nothing more than a wispy cloud in the vast sky or foam on the water. No thoughts arise in the mind, so no elements are created. Mind and objects are one and empty, beyond any doubts.
Human birth is like a fire – the father is the flint, the mother the stone, and the resulting spark is the child. The fire is ignited with the base elements and burns until it exhausts the fuel. The lovemaking between the father and mother produces the spark of life. Since the parents are without beginning, they too flicker out; all things emerge from emptiness – the source of every form. Free yourself from forms and return to the original ground of being. From this ground, life issues forth, but let go of this too.
Break open
A cherry tree
And there are no flowers
But the spring breeze
Brings forth myriad blossoms!
Without a bridge
Clouds climb effortlessly
To heaven;
No need to rely on
Anything Gotama Buddha taught.
Gotama Buddha proclaimed the Dharma for fifty years, and when his disciple Kashyapa asked him for the key to his teaching, Buddha said, “From beginning to end I have not proclaimed a single word,” and held up a flower. Kashyapa smiled and Buddha gave him the flower, saying these words: “You posses the Wondrous mind of the True Law.” “What do you mean?” asked Kashyapa. “My fifty years of preaching,” Buddha told him, “has been beckoning to you all the while, just like attracting a child into one’s arms with the promise of a reward.”
This flower of the Dharma cannot be described in physical, mental or verbal terms. It is not material or spiritual. It is not intellectual knowledge. Our Dharma is the Flower of the One Vehicle carrying all the Buddhas of the past, present, and future. It holds the twenty-eight Indian and six Chinese patriarchs; it is the original ground of being – all there is. All things are without beginning and are thus all-inclusive. The eight senses, the four seasons, the four great elements (earth, water, fire, wind), all originate in emptiness, but few realize it. Wind is breath, fire is animation, water is blood; when the body is buried or burned it becomes earth. Yet these elements too are without beginning and never abide.
In this world,
All things, without exception,
Are unreal:
Death itself is
An illusion.
Delusion makes it appear that though the body dies, the soul endures – this is a grave error. The enlightened declare that both body and soul perish together. “Buddha” is emptiness, and heaven and earth return to the original ground of being. I’ve set aside the eighty thousand books of scripture and given you the essence is this slim volume. This will bring you great bliss.
Writing something
To leave behind
Is yet another kind of dream
When I awake I know that
There will be no one to read it.
Zen Master Ikkyu
John Stevens translated from Japanese
(Trần đình Hoành dịch và bình)
.
The True Path
Just before Ninakawa passed away the Zen master Ikkyu visited him. “Shall I lead you on?” Ikkyu asked.
Ninakawa replied: “I came here alone and I go alone. What help could you be to me?”
Ikkyu answered: “If you think you really come and go, that is your delusion. Let me show you the path on which there is no coming and going.”
With his words, Ikkyu had revealed the path so clearly that Ninakawa smiled and passed away.
Taiko, một tướng quân ở Nhật vào thời Tokugawa, học trà đạo gọi là Cha-no-yu, với trà sư Sen no Rikyu, một vị thầy về loại nghệ thuật diễn tả an lạc này.
Cận tướng của Taiko là Kato xem sự say mê trà đạo của chủ là bê trễ công việc quốc gia, nên Kato quyết định phải giết Sen no Rikyu. Hắn giả vờ viếng thăm trà sư và được mời vào uống trà.
Trà sư, rất thành thạo trong nghệ thuật của thầy, liếc mắt qua là biết ngay ý định của viên võ tướng, nên trà sư mời Kato để kiếm ở ngoài trước khi vào phòng cho nghi lễ trà đạo, giải thích rằng trà đạo chính là biểu hiện của an bình.
Kata không nghe theo. “Tôi là võ tướng,” hắn nói. “Tôi luôn luôn mang kiếm theo người. Trà đạo hay không trà đạo, tôi giữ kiếm với tôi.”
“Được. Cứ mang kiếm vào và uống trà,” Sen no Rikyu bằng lòng.
Ấm nước đang sôi trên bếp than. Đột nhiên Sen no Rikyu nghiêng ấm nước. Hơi nước bốc xì xèo, khói và tro bay đầy phòng. Viên võ tướng giật mình chạy ra ngoài.
Trà sư xin lỗi. “Đó là lỗi của tôi. Vào lại và uống tí trà. Kiếm của anh bị dính đầy tro, tôi có nó đây, sẽ chùi nó sạch sẽ và trả lại cho anh.”
Trong thế kẹt này, chàng võ tướng biết là mình không thể giết trà sư được, hắn bèn bỏ luôn ý định đó.
.
Bình:
• Theo truyền thuyết, trà do thiền sư Nhật Eichu (永忠) mang về từ Trung quốc, và năm 815 Eichu dâng trà xanh sencha cho Thiên hoàng.
Đến thế kỷ 12, thiền sư Eisai, cũng từ Trung quốc về, giới thiệu cách dùng trà bột gọi là Matcha mà ngày nay vẫn còn dùng trong nghi lễ trà đạo. Nghi thức Matcha này được dùng đầu tiên trong các tu viện Phật giáo.
Đến thế kỷ 13, thời Shogun Kamakura, giới võ sĩ đạo (Samurai) nắm toàn quyền cai trị và trà đạo trở thành một dấu hiệu qúy tộc.
Đến thế kỷ 16, mọi người Nhật đều uống trà, và trà sư Sen no Rikyu trong truyện này, được xem là thầy về trà đạo cho đến ngày nay. Sen no Rikyu là học tò của Takeno Jōō’s, và đi theo triết lý ichi-go ichi-e của thầy, dạy rằng mỗi cuộc gặp gỡ đều quý báu vì không bao giờ có thể lập lại được.
Sen no Rikyu thiết lập các nguyên lý của trà đạo gồm: Hòa (和 wa), kính (敬 kei), thanh (清 sei), và tĩnh (寂 jaku)—là các nguyên lý vẫn còn sử dụng trong trà đạo ngày nay. (Nguồn: wikipedia).
• Trà đạo là một hình thức thiền tập, và các thiền sư uống trà thường xuyên. Đây chính là trà thiền, tức là chánh niệm trong thiền học–tập trung tư tưởng vào việc mình đang làm, như là nấu nước, múc trà, khuấy trà, mời trà, uống trà… Bởi vậy, trong khi sửa soạn trà, chủ và khách chẳng ai nói gì cả, chỉ tập trung tư tưởng vào việc làm trà, và khi uống cũng rất ít nói. Đó là trà thiền.
• Các thiền sư thường là trà sư. Và dĩ nhiên là khi quen tĩnh lặng thì sự nhậy cảm của ta tăng lên rất cao. Sen no Rikyu nhận ra tâm ý của Tako cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Điều quan trọng là cách xử sự nhẹ nhàng lịch sự của Sen no Rikyu làm Tako biết là vị trà sư này đã đọc được hết ý nghĩ của mình. Mình không phải là đối thủ của ông ta. Rút lui là thượng sách.
• Điều quan trọng khác nữa là trà sư cho Tako con đường rút lui trong danh dự, không bóc trần ý định của hắn ra ánh sáng để ép hắn vào đường cùng.
(Trần Đình Hoành bình)
.
The Tea-Master and The Assassin
Taiko, a warrior who lived in Japan before the Tokugawa era, studied Cha-no-yu, tea etiquette, with Sen no Rikyu, a teacher of that aesthetical expression of calmness and contentment.
Taiko’s attendant warrior Kato interpreted his superior’s enthusiasm for tea etiquette as negligence of state affairs, so he decided to kill Sen no Rikyu. He pretended to make a social call upon the tea-master and was invited to drink tea.
The master, who was well skilled in his art, saw at a glance the warrior’s intention, so he invited Kato to leave his sword outside before entering the room for the ceremony, explaining that Cha-no-yu represents peacefulness itself.
Kato would not listen to this. “I am a warrior,” he said. “I always have my sword with me. Cha-no-yu or no Cha-no-yu, I have my sword.”
“Very well. Bring your sword in and have some tea,” consented Sen no Rikyu.
The kettle was boiling on the charcoal fire. Suddenly Sen no Rikyu tipped it over. Hissing steam arose, filling the room with smoke and ashes. The startled warrior ran outside.
The tea-master apologized. “It was my mistake. Come back in and have some tea. I have your sword here covered with ashes and will clean it and give it to you.”
In this predicament the warrior realized he could not very well kill the tea-master, so he gave up the idea.