Chào các bạn,
Mình mới khám phá ra danh sách này trên vietnamtourism.com. Dù là đa số chúng ta không có dịp tham dự đa số các lễ hội trong danh sách này. Liếc qua danh sánh một tí cũng cho ta một tí khái niệm toàn cảnh về một khía cạnh của văn hóa Việt Nam
Mình sẽ cố nhớ post nó mỗi tháng (trừ khi có cô cậu sinh viên nào đó muốn xung phong làm việc này. Nếu vậy, thì cho mình biết nhé 🙂 )
Các links trong bài dưới đây không hoạt động ở đây, chỉ hoạt động trong site chính tại vietnamtourism.com 🙂
Thời gian: 29/1 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Đối tượng suy tôn: Thần làng, thần cây.
Đặc điểm: Cúng 2 cây cổ thụ “cây bố và cây mẹ”, cúng những người hy sinh vì nước và vì bản làng. Các trò chơi thi leng hao, hát lán cô, đu, chơi cờ gỗ. (Chi tiết)
Thời gian: 1/2 và 11 – 12/6.
Địa điểm: Xã Đức Bác, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối tượng suy tôn: Thánh Ông, Bát Nàn công chúa (tướng của Hai Bà Trưng), ông tổ hát xoan.
Đặc điểm: Lễ cầu đinh, đua thuyền sang Phượng Lâu (bên kia sông) cướp giỏ thóc (bó mạ) mang về, hát xoan.
Thời gian: Tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Tại núi rừng Tây Bắc, tỉnh Điện Biên.
Đặc điểm: Ngày hội hoa ban không chỉ là ngày hội của tình yêu của các chàng trai cô gái Thái mà còn là dịp để người Thái cầu mùa, cầu phúc; là dịp để bày tỏ đạo hiếu đối với ông bà, cha mẹ. (Chi tiết)
Thời gian: 16-18/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng suy tôn: Phật, Thánh linh Thần tướng.
Đặc điểm: Hành hương lễ phật. (Chi tiết)
Thời gian: 7/2 âm lịch.
Địa điểm: Làng Viêm Xá (làng Diềm), xã Hòa Long, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Đức Vua Bà (bà tổ của dân ca quan họ).
Đặc điểm: Lễ giỗ tổ quan họ có hát quan cầu đảo, quan họ trùm đầu, và trò chơi cướp quả cầu nước. (Chi tiết)
Thời gian: 10 – 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Trương Hống, Trương Hát.
Đặc điểm: Cầu mùa, hát quan họ, chạy (kéo) chữ, chơi cướp cầu. (Chi tiết)
Thời gian: 22 – 27/1 âm lịch.
Địa điểm: Thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Đối tượng suy tôn: Thân Công Tài, quan đầu phủ có công khai phá mở chợ Kỳ Lừa giao thương buôn bán với người Hoa.
Đặc điểm: Lễ rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ, hát sli (dân tộc Nùng), hát lượn (dân tộc Tày). (Chi tiết)
Thời gian: 7 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Đặng Cương, huyện An Dương, Tp. Hải Phòng.
tượng suy tôn: Cao Sơn, Quí Minh và Chàng Rồng – Thần bản trang sở tại giúp vua Hùng đánh Thục.
Đặc điểm: Tế thần, thi bánh chưng, bánh giầy, đấu vật.
Thời gian: 16 – 18/1 âm lịch.
Địa điểm: Phường Đằng Hải, quận Hải An, TP. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: Ngô Quyền, người mở đầu thời đại tự chủ cho nước ta, đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938.
Đặc điểm: Tế lễ, dâng hương, tham quan di tích lịch sử bãi cọc Bạch Đằng. (Chi tiết)
Thời gian: 8 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Quận Lê Chân, Tp. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: Lê Chân, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
Đặc điểm: Lễ rước mũ, cỗ tế chay. (Chi tiết)
Địa điểm: Xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng làng và 5 anh em họ Vương giúp Lê Đại Hành phá giặc Tống: Vương Đức Minh, Vương Đức Xuân, Vương Đức Hồng, Vương Thị Đào, Vương Thị Liễu.
Đặc điểm: Rước 6 kiệu với đội múa rồng và múa lân đi đầu.
Địa điểm:Đền Đa Hoà và đền Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, Hưng Yên.
Đối tượng tôn vinh:Chử Đồng Tử và hai vị phu nhân Tiên Dung Công chúa và Tây Sa Công chúa.
Đặc điểm:Lễ rước trên bộ của 9 xã từ các đình làng về đền Đa Hoà; 8 xã khác tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng về đền Dạ Trạch; hát trống quân. (Chi tiết)
Thời gian: 2 – 10/2 âm lịch. Chính hội 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Đức Thánh Tản Viên.
Đặc điểm: Thi đánh cá tế thánh Tản Viên, làm tiệc cá,múa rối, hát đúm, đáo đĩa. (Chi tiết)
Thời gian: 2 – 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Liên Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng Lữ Gia đại vương.
Đặc điểm: Trò đón ông đám, cướp bông. (Chi tiết)
Thời gian: 2/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Long Châu, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
Đặc điểm: Cúng (giỗ bà Trần), cầu kinh, múa rồng, múa rối nước. (Chi tiết)
Thời gian: 30/1 – 2/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đặc điểm: Lễ tế, lễ rước, đấu vật, tổ tôm điếm, hát chèo. (Chi tiết)
Thời gian: 15/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thanh Thủy, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Đối tượng suy tôn: Vũ Cố, một tướng tài của Lê Lợi đã tham gia đánh giặc Minh trên sông Đáy.
Đặc điểm: Tế thánh, đua thuyền, phóng lao, hát đối nam nữ trên thuyền, hát giao duyên. (Chi tiết)
Thời gian: 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn An Cổ, xã Thụy An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng suy tôn: Phạm Hải (Nam Hải đại vương).
Đặc điểm: Rước thần, tế, chơi đấu vật, cờ tướng, hát chèo. (Chi tiết)
Thời gian: 15 – 18/2 âm lịch.
Địa điểm: Làng Thanh Đàm, xã Nam Tân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Đối tượng suy tôn: Thủy thần.
Đặc điểm: Rước và thả hến. (Chi tiết)
Thời gian: 15 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Diẽn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đối tượng suy tôn: Thần Thục An Dương Vương.
Đặc điểm: có lễ yết cáo tại đền, lễ rước kiệu thần, tế thần, các sinh hoạt văn hoá: có hát ví, hát phường vải, hát tuồng, chèo, đốt pháo bông, thả đèn hoa. (Chi tiết)
Thời gian: Tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng làng.
Đặc điểm: Cúng ở đình thờ Thành hoàng, cúng trời đất, cầu yên mùa màng. (Chi tiết)
Thời gian: 6 – 7/2 âm lịch: Lễ nhập tịch.
Địa điểm: Xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng: Sứ quân Nguyễn Siêu.
Đặc điểm: Lễ hạ đồ và thượng đồ. (Chi tiết)
Thời gian: 13/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thần Nguyễn Bông và ngài Trần Toàn.
Đặc điểm: Hội làng có trò chơi “đi cầu noi” (Chi tiết)
Thời gian: 8 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Phạm Tu (đình ngoại), Chu Văn An (đình nội).
Đặc điểm: Rước kiệu từ đình nội ra đình ngoại, diễn tuồng, chọi gà, đánh cờ bỏi. (Chi tiết)
Thời gian: 9/2 âm lịch.
Địa điểm: 32 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Linh Lang đại vương (theo truyền thuyết là con thứ 4 của vua Lý Thánh Tông), Mẫu Thiên Tiên Lý Huệ Tông.
Đặc điểm: Rước, múa trống, cướp lụa đỏ. Có mười ba làng trại và nhiều cộng đồng khác như ở Đình Bảng (Bắc Ninh), Bồng Lai (Hà Tây) cũng về dự hội. (Chi tiết)
Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thánh Độc Cước sơn tiên, Lê Khôi – công thần thời Lê, thổ thần.
Đặc điểm: Thi thả thơ, hát ca trù. Đặc sản có bánh khoái và hàng mây tre đan. (Chi tiết)
Thời gian: 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Đình Giảng Võ, đường Giảng Võ, quận Đống Đa, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bà Chúa Kho.
Đặc điểm: Lễ tế của 13 làng trại anh em. Trò chơi: cờ người, bắt vịt, múa rối cạn, rối nước. (Chi tiết)
Thời gian: 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Tp. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Phật Mẫu Man Nương, Pháp Vân (Bà Nành), Đức Phật Thích Ca, Đức Trần Hưng Đạo.
Đặc điểm: Tục cúng, nâng cây phan. (Chi tiết)
Thời gian: 12 – 15/2 âm lịch.
Địa điểm: Đình Cót, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Các thần Cao Sơn, Diêm La, Mộc Tinh, hai vị bản thổ (hoàng cung Trịnh Thục phu nhân, Tràng Hán anh linh Đại tướng quân).
Đặc điểm: Rước lớn 7 kiệu (5 long ngai bài vị, một kiệu sắc – kiệu phù hương, một kiệu chum nước). (Chi tiết)
Thời gian: 14/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Trung Kính, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Hùng Nộn công (thời vua Hùng).
Đặc điểm: Cúng lợn giống đen tuyền, hát ca trù, vật, bắt vịt trong ao, đi cầu treo, tổ tôm điếm, thi thổi cơm. (Chi tiết)
Thời gian:10/2 âm lịch.
Địa điểm:Xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bạch Hạc Tam Giang, Túc Chinh công chúa.
Đặc điểm:Ngày hội có kết chạ với các làng lân cận. Chỉ cúng bằng cơm tẻ, muối vừng. Chơi trò trận giả ném cát. (Chi tiết)
Thời gian: 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Vũ Phục (ông Dầu), Đỗ Thị Thiện (bà Dầu).
Đặc điểm: Kiệu bay, thi bánh giầy, chè kho. (Chi tiết)
Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.
Địa điểm: Mọc Quan Nhân, Mọc Chính Kinh, Mọc Cự Lộc, Mọc Giáp Nhất, Mọc Phùng Khoang, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Đoàn Thượng, Lã Liệu, Hùng Lãng Công, Phùng Luông.
Đặc điểm: Rước kiệu qua 5 làng, múa rồng, múa sư tử. (Chi tiết)
Thời gian: 18/1 âm lịch.
Địa điểm: Làng Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bà Lý Nhũ Thái Lão (tổ sư nghề thuốc nam).
Đặc điểm: Lễ dâng hương, dân đến lễ và xin thuốc. (Chi tiết)
Thời gian: 10 – 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
Đối tượng suy tôn: Bà Thu Bồn (người Chăm).
Đặc điểm: Đua thuyền, rước cộ. (Chi tiết)
Tên thật: Hứa Vĩnh Sước
Dân tộc: Tày
Sinh năm: 1948
Nơi sinh: Trùng Khánh, Cao Bằng
Bút danh: Y Phương
Thể loại: thơ, kịch
Các tác phẩm:
– Người núi Hoa (1982)
– Tiếng hát tháng giêng (1986)
– Lửa hồng một góc (1987)
– Lời chúc (1991)
– Đàn then (1996)
– Thơ Y Phương (2002)
Vài bài thơ của Y Phương:
Tên làng
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Ba mươi tuổi từ mặt trận về
Vội vàng cưới vợ
Ba mốt tuổi tập tành nhà cửa
Rào miếng vườn trồng cây rau
Hạnh phúc xinh xinh nho nhỏ ban đầu
Như mặt trời mới nhô ra khỏi núi
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Mang trong người cơn sốt cao nguyên
Mang trên mình vết thương
Ơn cây cỏ quê nhà
Chữa cho con lành lặn
Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Lần đầu tiên ôm tiếng khóc lên ba
Lần đầu tiên sông núi gọi ông bà
Lần đầu tiên nhóm lửa trên mặt nước
Lần đầu tiên sứ sành rạn nứt
Lần đầu tiên ý nghĩ khôn lên
Ý nghĩ khôn lên nỗi buồn thấm tháp
Bàn chân từng đạp bằng đá sắc
Trở về làng bập bẹ tiếng đầu tiên
Ơi cái làng của mẹ sinh con
Có ngôi nhà xây bằng đá hộc
Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt
Có niềm vui lúa chín tràn trề
Có tình yêu tan thành tiếng thác
Vang lên trời
Vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con
Phố Xưa
Phố xưa
Bây giờ vẫn như xưa
Những mái nhà nâu
Những cột nhà đen
Đêm đêm lép bép ngọn đèn.
Tôi đi trên con đường xưa
Tránh đứa trẻ đang bò chơi bi
Tránh ông già lim dim sưởi nắng
Tránh người yêu xưa đầu đường áo trắng
Con trên vai đi thẳng chẳng nhìn ai
Giận nhau lâu
Nhớ nhau dài
Tôi trở về tìm người yêu xưa ở phố
Em gọi
Nhưng tôi không ngoái cổ
Giả vờ đi.
Mùa hoa
Mùa hoa
Mùa đàn bà
Mặt đỏ phừng
Thừa sức vác ông chồng
Chạy phăm phăm lên núi.
Mùa hoa
Mùa đàn ông
Mệt như chiếc áo rũ
Vừa vịn vừa đi vừa ngái ngủ.
Nói với con
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con
Văn thư, sách vở, bản đồ ghi là Ngọc Lạc, nhưng đến nơi nghe gọi và thấy các bảng hiệu ghi là Ngọc Lặc. Cả hai tên cùng tồn tại. Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai
Các xã trong huyện Ngọc Lặc đều có tên hai chữ Hán: Thạch Lập, Phúc Thịnh, Mỹ Tâm, Ngọc Sơn, Ngọc Khê vv…Các làng thì một số có tên hai chữ Hán như Lập Thắng, Điền Sơn…còn hầu hết là tên một chữ: Làng Ngán, làng Chạy, làng Nhớ, làng Quên, làng Thi, làng Mới, làng Mỏ, làng Móng, làng Chả, làng Thượng, làng Hạ, làng Vải, làng Mốc, làng Mí, làng Beo vv…Nghe rất vui nhưng tìm hỏi xuất xứ không ai biết rõ. Cũng như mọi người nói về vua Lê một cách kính cẩn, gọi là “cố Lê Lợi”, nhưng những chuyện xưa”năm tê năm tặc” chỉ còn truyền khẩu một cách mơ hồ. Những khe Sống, đồng Chó…người nói thế này, người nói thế nọ, rất khác nhau.
Thị trấn Ngọc Lặc nằm giữa cánh đồng, bốn bên là những dãy núi đỉnh nhọn đâm lên trời cao dáng vẻ trông thật hùng vĩ, đường bệ hơn hết là núi Sắt. Trung tâm thị trấn là chợ Phố Cống. Từ chợ đi ra có phố Lê Lợi rồi phố Lê Lai. Gọi là phố nhưng đường không rộng lắm, hai bên đường nhựa vẫn là bùn đất, rơm rạ vương vãi. Tuy vậy cũng đủ các mặt hàng: tạp hóa, quần áo, giày dép, xe máy…Và có dịch vụ trang trí nội thất, trang điểm cô dâu, quán cà phê vang tiếng nhạc. Thức ăn bày bán khá nhiều trong chợ là những thúng nhộng tằm, con nhộng lớn, màu xanh nhạt.
Nhiều loại nhà cửa xen lẫn nhau: nhà gác, nhà ngói, nhà lợp lá cọ – là thứ lá gồi trong thơ Tú Xương “Nhà gỗ năm gian lợp lá gồi”. Lá cọ làm kỹ lợp đến 20 – 30 năm chưa hư, sơ sài thì cũng phải 10 năm. Khi các bác sĩ đang làm cho chương trình Y tế cộng đồng tại đây đề nghị đồng bào cho biết về ngôi nhà mà họ mơ ước thì câu trả lời là những “nhà ngói bằng” – tức là nhà đúc. Giới thiệu kiểu nhà ngói ở miền xuôi, họ cười cười bảo: “Nhà xây mà có mái, lợp ngói thì đâu có hơn gì lợp lá cọ?” Ra khỏi trung tâm thị trấn vào các bản đồng bào Mường là nhà sàn với những cột bằng cây luồng, một loại cây họ tre, lớn hơn, dài hơn, suôn hơn tre. Cửa lên nhà cũng ở phía chái nhưng không chính giữa như nhà sàn Tây Nguyên mà dịch qua bên trái. Xã Mỹ Tâm - Ru Mường
Sau lưng phố là ruộng chia thành nhiều luống nhỏ, luống này chín vàng, luống kia tươi xanh, luống nọ đã gặt. Trong một cánh đồng có thể thấy nhiều giai đoạn thời vụ trên những mảng màu khác nhau, nổi bật bên nhau. Vài ba con trâu đi trên đường phố, chiếc mõ mang ở cổ kêu lóc cóc lóc cóc, đến đoạn trống chưa có nhà trâu rẽ xuống ruộng.
Buổi sáng mùa đông ấy dứt mưa đã mấy hôm, trời chợt có gió hong khô và nắng lên ấm áp. Đường vào bản đã ráo, bước trên mặt đất mềm thấy bàn chân êm êm. Mặt hồ Đầm Thi gợn từng nếp sóng lăn tăn. Bãi sỏi bờ suối màu vàng sậm, hoa pháo nở đỏ từng xâu dài. Không khí thoáng đãng, hít thở thật nhẹ nhàng. Phong cảnh có nét gì đó rất thoáng và rất lạ giống như những truyện đường rừng của Lan Khai. Thỉnh thoảng có tiếng còi xe cũng dịu dàng. Trẻ em sạch sẽ, xinh xắn và lễ phép, gặp chúng tôi chào hỏi vui vẻ. Chỉ còn một ít người già mặc y phục dân tộc Mường, nam nữ thanh niên đều mặc Âu phục. Phụ nữ bới tóc cao, con gái để tóc dài, xõa ra hoặc kẹp lại bỏ sau lưng.
Ở đây rượu rất ngon và hình như người nào cũng sành về rượu. Ngồi uống rượu bỗng nhớ chuyện xưa. Thời Lê Lợi khởi binh, lực lượng nòng cốt ban đầu hẳn là đồng bào vùng Ngọc Lặc, Thọ Xuân. Biết bao nhiêu là gian khổ, “khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, khi Khôi Huyện quân không một lữ” đã cùng chia nhau chén rượu nghĩa tình. “Đầu giao hưởng sĩ phụ tử chi binh nhất tâm…”, nguyên bản Bình Ngô đại cáo như thế và các dịch giả đã diễn nôm thành “Gắn bó một lòng phụ tử rót rượu ngọt để khao quân” hoặc ”Mở tiệc khao quân chén rượu ngọt ngào, khắp chiến sĩ một lòng phụ tử”… Đầu giao hưởng sĩ…Đem rượu được biếu đổ xuống lòng suối để ba quân cùng nếm, rượu hòa nước lã bỗng hóa ra chén rượu ngọt ngào…
Buổi tối đến Ngọc Lặc chúng tôi được thưởng thức ngay món canh lá đắng. Hôm sau có dịp nhìn tận mắt loại cây ấy. Lá đắng là tên gọi đúng vị của nó, mọc từ thân ra, có hình dạng giống như lá sắn mì. Từ cuống chính tỏa thành chín cuống phụ, mỗi cuống phụ một lá, thân lá dài từ 5,6cm đến 20cm, rộng độ 4-5cm, chỗ gần cuống tròn hơn, thân lá nhọn, hai mặt lá đều màu xanh đậm. Lá đắng nấu với thịt nạc băm nhỏ. Mới ăn vào đắng lắm. So với canh lá đắng thì canh khổ qua (không luộc chần) chẳng thấm thía gì. Vậy mà khi đã nuốt xong, vị đắng tan hết, còn lại vị ngọt. Ăn lần thứ nhất có thể chưa cảm nhận được canh lá đắng ngon thế nào, sau lần thứ hai đã thấy nhớ, lần thứ ba và những lần tiếp theo sẽ không quên món canh độc đáo này của Ngọc Lặc…
Một chiến binh tên Nobushige đến gặp Hakuin, và hỏi: “Có thiên đàng và địa ngục không?”
“Anh là ai?” Hakuin hỏi.
“Tôi là một hiệp sĩ đạo,” người chiến binh trả lời.
“Anh, chiến sĩ!” Hakuin kêu lên. “Vua chúa nào dùng anh làm cận vệ? Mặt anh nhìn như mặt ăn mày.”
Nobushige quá giận và bắt đầu rút kiếm ra, nhưng Hakuin tiếp tục: “Anh cũng có kiếm nữa! Kiếm của anh chắc là quá cùn để chặt đầu tôi.”
Trong khi Noshibughe rút kiếm Hakuin nói: “Đây cửa địa ngục đang mở.”
Nghe những lời này, chàng hiệp sĩ đạo nhận ra kỹ luật của thiền sư, bỏ kiếm lại vào bao và gập người chào.
“Đây cửa thiên đàng đang mở,” Hakuin nói.
.
Bình:
• Hakuin là thiền sư Vậy À của tông Lâm Tế mà ta đã nhắc đến trước đây.
• Trong đa số truyền thống tâm linh và triết lý, thiên đàng và hỏa ngục ở trong tâm ta. Nhưng đa số tín đồ lại cứ nghĩ đó là hai nơi đâu đó ở một thế giới bên ngoài. Cho nên khi họ đang ở trong địa ngục họ không biết họ đang ở trong địa ngục. Và họ tốn phí cả đời chạy đuổi theo một ảo ảnh của thiên đàng đâu đó.
Tâm dẫn đầu các pháp,
Tâm làm chủ, tâm tạo;
Nếu với tâm ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
…
Tâm dẫn đầu các pháp,
Tâm làm chủ, tâm tạo,
Nếu với tâm thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau…
Thánh kinh Thiên chúa giáo viết: Lần nọ, các thầy luật Pharisees hỏi khi nào thì Nước Thiên Đàng (Nước Chúa) sẽ đến, Chúa Giêsu trả lời: “Nước Thiên Đàng không đến với sự quan sát cẩn thận của các bạn, và người ta sẽ không nói, ‘Nó ở đây,’ hay ‘Nó đằng kia,’ vì Nước Thiên Đàng ở trong bạn.” Luke 17:20-21.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
The Gates of Paradise
A soldier named Nobushige came to Hakuin, and asked: “Is there really a paradise and a hell?”
“Who are you?” inquired Hakuin.
“I am a samurai,” the warrior replied.
“You, a soldier!” exclaimed Hakuin. “What kind of ruler would have you as his guard? Your face looks like that of a beggar.”
Nobushige became so angry that he began to draw his sword, but Hakuin continued: “So you have a sword! Your weapon is probably much too dull to cut off my head.”
As Nobushige drew his sword Hakuin remarked: “Here open the gates of hell!”
At these words the samurai, perceiving the master’s discipline, sheathed his sword and bowed.
Chắc mọi người chúng ta ai cũng rất quen với tác phẩm ‘Dế mèn phiêu lưu ký’ của nhà văn Tô Hoài. Hồi bé mình rất thích câu truyện này bởi những tình tiết ‘hoành tráng bạo lực’ và muốn sau này trở thành anh hùng như chàng dế.
Bây giờ cảm giác muốn trở thành ‘anh hùng rơm’ đã không còn nữa. Mình rất thích bài hát ‘Dế Mèn’ của Bức Tường (có thể coi là nhóm nhạc rock đầu tiên của Việt Nam). Không hiểu sao khi nghe bài này mình lại nhớ đến câu chuyện ‘Dế mèn phiêu lưu ký’ ngày xưa và tự nhắc nhở mình đừng có “Cậy sức đôi Càng to, chẳng coi ai xung quanh ra sao” ^^
Trời vén mây nhìn xuống, gió hắt cơn mưa phùn
Đành tiễn đưa chàng Dế, dù một thời buồn phiền chưa nguôi
Làn gió man mác đàn kiến chập trùng, chập trùng
Tiễn đưa dế mèn sang bên kia thế gian
Thời Dế non hợm hĩnh, thích rong chơi phiêu bạt
Cậy sức đôi Càng to, chẳng coi ai xung quanh ra sao
Nào ai khuyên răn Dế cùng gật gù, nhưng rồi:
Nước đổ lá khoai, nước đổ lá khoai
Thời dế non háu đá, có muốn ai hơn mình
Nào biết đâu Trời cao, phận “Cạn tầu ráo máng”
Thì thôi dế ơi cũng đă cạn rồi một thời
Thứ tha cuối cùng tiễn đưa cuối cùng
Muôn loài rộng lòng tiễn đưa chàng Dế
Sinh thời “bướng mệnh” Càng to hiếu chiến
Tha lỗi lầm xưa nào đâu khó nhọc
Nhỏ giọt nước mắt tiễn đưa thôi khép lại
Trước khi Ninakawa qua đời thiền sư Ikkyu đến thăm ông. “Tôi dẫn độ cho anh nhé?” Ikkyu hỏi.
Ninikawa trả lời: “Tôi đến đây một mình và tôi đi một mình. Thiền sư giúp tôi được gì?”
Ikkyu nói: “Nếu anh nghĩ là anh thật có đến và đi, đó là ảo tưởng của anh. Để tôi chỉ cho anh con đường trên đó chẳng có đến, chẳng có đi.”
Với các lời giảng, Ikkyu đã chỉ ra con đường rõ ràng đến nỗi Ninakawa mỉm cười và từ trần.
.
Bình:
• Ikkyu chính là người con trai nhận di chúc của mẹ trong bài Di Chúc ta đã nói qua. Người ta nói rằng Ikkyu là con không chính thức của Thiên hoàng Go-Komatsu.
Ikkyū (一休宗純 Ikkyū Sōjun, 1394-1481) là một thiền sư và thi sĩ lập dị hàng đầu trong lịch sử Thiền tông Nhật Bản. Ikkyu học nhiều thầy, nhưng không thích chùa chiền và cái mà Ikkyu cho là đạo đức giả và sự lười biếng của các nhà sư, nên chỉ sống lang thang ngoài đường. Tuy vậy Ikkyu vẫn có nhiều bạn bè trong giới thi ca và nghệ sĩ.
Ikkyu thích ăn ngon, thi ca, âm nhạc, và công khai ca tụng tình dục (sex) như là một phần tự nhiên của đời sống con người. Ikkyu có người yêu là cô ca kỹ mù Mori và làm một số bài thơ về nàng. Người ta cho rằng Ikkyu là người đã tạo ra truyền thống Thiền Chỉ Đỏ (Red Thread Zen), một nhánh của thiền Lâm Tế chấp nhận tình dục (sex) và cho phép các sư và ni được lập gia đình.
Dù Ikkyu thích đi lang thang và không ưa chùa chiền, khi chùa Daitoku-ji, một chùa Lâm Tế lớn ở Tokyo, bị hủy hoại trong trận nội chiến Ōnin (応仁の乱 Ōnin no Ran, 1467 – 1477), Thiên hoàng Go-Tsuchimikado chỉ định Ikkyū làm sư trụ trì. Ikkyu bất đắc dĩ phải nhận lời, và có công rất lớn trong việc gầy dựng chùa này trở lại. Chức vụ này cũng đặt Ikkyu vào vị trí truyền nhân chính thức và quan trọng của dòng thiền Lâm Tế.
Ikkyu có ảnh hường rất lớn trong văn hóa phổ thông của Nhật ngày nay. Các trẻ em xem Ikkyu là một anh hùng, thường xuyên phê phán quan chức sư sãi. Có rất nhiều sách truyện và phim hoạt hoạ trẻ em nói về cuộc đời Ikkyu.
Ikkyu cũng ảnh hưởng nhiều đến thi ca và nghệ thuật Nhật và góp phần lớn trong việc đưa Thiền vào mọi lãnh vực của đời sống Nhật.
• Ikkyu đã nói gì với Ninakawa?
Dĩ nhiên là ta không biết. Tuy nhiên, Ikkyu có để lại nhiều bài thiền thi, trong đó bài nổi tiếng nhất là “Các Bộ Xương” (Skeletons), tóm tắt những điều quan trọng để “để lại” như là một di chúc. Có lẽ điều gì đó Ikkyu đã nói với Ninakawa cũng không ngoài bài thơ này. Bài thơ nói sâu hơn về các điểm mà mẹ của Ikkyu đã để lại cho Ikkyu trong chúc thư ngắn ngủi của bà nhiều năm về trước, chứng tỏ là lời mẹ đã không bao giờ phai trong lòng Ikkyu.
Các Bộ Xương, một tuyệt tác văn chương, với đạo pháp sâu sắc:
Các bộ xương
Này các thiền sinh, hãy tọa thiền chăm chỉ, và các bạn sẽ nhận ra rằng tất cả mọi thứ sinh ra trên đời này rốt cuộc chỉ là không, kể cả chính ta và mặt mũi nguyên thủy của hiện hữu. Tất cả mọi thứ đều từ không mà ra. Cái không nguyên thủy là “Phật”, và tất cả các từ tương tự khác — Phật tính, Phật vị, Phật tâm, Giác Ngộ, Tổ, Thượng đế — chỉ là những cách diễn tả khác nhau của cùng một cái không. Hiểu sai điều này thì bạn sẽ rơi vào địa ngục.
Một đêm… một bộ xương thảm hại hiện ra và nói những lời này:
Một cơn gió thu buồn rầu
Thổi qua thế giới
Cỏ tranh dợn sóng,
Trong khi chúng ta trôi đến đầm lầy,
Trôi ra biển.
Làm được gì
Với tâm trí của một người
Lẽ ra thì nên sáng
Nhưng dù hắn choàng áo thầy tu
Hắn chỉ để cuộc đời vuột qua hắn?
Gần sáng tôi thiếp đi, và trong mơ tôi thấy tôi bị nhiều bộ xương bao vây… Một bộ xương đến gần tôi và nói:
Ký ức
Bỏ chạy và
Không còn hiện diện.
Tất cả đều là những giấc mơ trống rỗng
Chẳng ý nghĩa gì.
Vi phạm sự thật của vạn vật
Và lảm nhảm về
“Thượng đế” và “Phật”
Thì bạn sẽ không bao giờ tìm thấy
Đường thật.
Tôi thích bộ xương này… Hắn thấy mọi sự rất rõ, như chúng là. Tôi nằm đó với tiếng gió giữa những hàng thông thì thầm trong tai và ánh trăng thu nhảy múa trên mặt.
Cái gì không là mơ? Ai sẽ không kết thúc là một bộ xương? Chúng ta hiện diện như là những bộ xương có da bao bọc – đàn ông đàn bà – và mê đắm nhau. Nhưng khi hơi thở chấm dứt, da vỡ, sinh lý biến mất, và chẳng còn cao thấp. Bên dưới lớp da của người mà ta đang ôm ấp vuốt ve chẳng gì khác hơn là một bộ xương khô. Hãy nghĩ đến điều đó – cao và thấp, trẻ và già, đàn ông và đàn bà, tất cả đều như nhau. Hãy tỉnh thức về điều hệ trọng này và bạn sẽ lập tức hiểu ý nghĩa của “không sinh và không tử”.
Nếu các mảnh đá
Có thể là vật nhắc nhở
Đến người chết,
Thì các cối giã trà
Có thể là mộ bia tốt hơn.
Con người thật sự là những sinh linh đáng sợ.
Một vầng trăng
Sáng và trong
Trên bầu trời không một gợn mây;
Vậy mà chúng ta loạng choạng
Trong bóng tối của thế giới.
Nhìn kỹ đi – ngưng thở, gỡ lớp da, và tất cả mọi người rốt cuộc nhìn như nhau. Không cần biết bạn sống bao lâu, kết quả không thay đổi (kể cả hoàng đế). Vất đi cái ý niệm là “tôi hiện hữu.” Trao thân mình cho những đám mây trôi trong gió, và đừng mong sống mãi.
Thế giới này
Chỉ là
Cơn mơ thoáng qua
Vậy sao lại run sợ
Nó biến mất?
Quãng đời của bạn đã được định sẵn và mọi cầu khẩn với thần linh để kéo dài nó ra đều vô ích. Hãy tập trung tâm trí vào một vấn đề lớn của sống và chết. Đời sống tận cùng bằng sự chết, đó là điều hiển nhiên.
Các đột biến của cuộc đời
Dù đau nhức,
Dạy chúng ta
Đừng bám chặt
Vào thế giới phù du này.
Tại sao người ta
Tốn phí trang sức
Trên bộ xương này
Khi nó đã được định phải biến mất
Chẳng lưu dấu vết?
Thân thể nguyên thủy
Phải trở về
Nơi nguyên thủy của nó:
Đừng tìm
Cái không tìm được.
Không ai thực sự biết
Bản chất của sinh
Hoặc nơi ở thật:
Chúng ta trở về nguồn
Và trở thành cát bụi.
Nhiều con đường bắt đầu
Từ chân núi
Nhưng tại đỉnh núi
Tất cả chúng ta ngắm nhìn
Một vầng trăng sáng.
Nếu tại cuối cuộc hành trình
Không có nơi
An nghỉ cuối cùng
Thì chúng ta không cần phải sợ
Lạc đường.
Không có khởi đầu,
Không có chấm dứt;
Tâm ta
Sinh ra và chết:
Cái không của không!
Lơ đểnh
Và tâm
Chạy loạn xạ;
Kiểm soát tâm
Và bạn có thể gạt nó sang một bên.
Mưa, mưa đá, tuyết và băng:
Tất cả đều rời rạc
Nhưng khi rơi xuống
Chúng trở thành một dòng nước
Của con suối trong lòng thung lũng.
Những cách hiển lộ
Chân Tâm đều khác nhau
Nhưng trong mỗi một cách
Ta có thể thấy
Cùng một sự thật thiêng liêng.
Hãy lấp kín con đường của bạn
Bằng lá thông rụng
Để không ai có thể
Biết được
Nơi ở thật của bạn.
Thật vô ích
Những tang lễ không ngừng trên núi Toribe:
Những người than khóc không nhận ra
Họ sẽ là người kế tiếp hay sao?
“Cuộc đời phù du!”
Chúng ta suy tư nhìn cảnh
Khói bay trên núi Toribe:
Nhưng khi nào chúng ta nhận ra
Rằng ta đang ở trên thuyền hỏa táng?
Tất cả chỉ là hão huyền!
Sáng nay,
Một người bạn khỏe mạnh,
Chiều nay,
Vài sợi khói hỏa táng.
Tội nghiệp!
Khói chiều trên núi Toribe
Bị thổi lồng lộn
Tới lui
Với gió.
Khi hỏa táng
Nó thành tro,
Và thành đất khi chôn.
Phải chăng chỉ có tội lỗi của ta
Là còn sót lại?
Tất cả tội lỗi
Đã phạm
Trong ba thế giới (*)
Sẽ phai mất
Cùng với tôi.
Thế giới là vậy đó. Những kẻ không nắm được lẽ vô thường của thế giới kinh ngạc và sợ thất thần vì những thay đổi đó. Rất ít người ngày nay kiếm tìm sự thật của Phật pháp, và các tu viện thì trống rỗng. Các sư ngày nay đa số là dốt nát và lãng tránh ngồi thiền như là một phiền phức; họ lười biếng thiền định, họ tập trung vào trang trí chùa chiền. Thiền tọa của họ là giả tạo, và họ chỉ mang mặt nạ các nhà sư – những chiếc áo chùng họ mang sẽ trở thành những bộ áo giáp tra tấn một ngày nào đó.
Trong vũ trụ của sinh và tử, sát sinh sẽ đưa vào địa ngục, tham lam đưa đến tái sinh thành ma đói; si mê làm người ta tái sinh thành súc vật; sân hận biến người ta thành quỷ. Tuân theo giới luật và bạn sẽ tái sinh là người. Làm việc thiện và bạn sẽ lên hàng trời. Trên sáu cõi này còn bốn cấp độ của Phật tử Trí Tuệ, tổng cộng là 10 cõi giới. Tuy nhiên, một Niệm Giác Ngộ cho thấy tất cả các cõi giới này đều là không, chẳng có gì giữa chúng, và ta chẳng nên ghê tởm, sợ hãi hay ham mê chúng. Hiện hữu chẳng là gì hơn một làn mây mỏng trên bầu trời mênh mông hay bọt bóng trên mặt nước. Không một niệm nào khởi sinh trong tâm, nên không có điều gì được tạo sinh. Tâm và vật là một, và là không, tuyệt đối chẳng nghi ngờ.
Sự sinh của con người cũng như lửa – bố là đá lửa, mẹ là hòn đá, và tia lửa tóe ra là đứa con. Lửa được khởi sinh từ các thành tố căn bản và cháy cho đến khi hết nguyên liệu. Sự ân ái giữa bố và mẹ tóe ra tia sống. Vì bố mẹ không có điểm khởi đầu, nên họ cũng chập choạng mờ ra; tất cả mọi thứ đến từ không – nguồn của mọi hình sắc. Hãy tự giải thoát mình khỏi hình sắc và trở về với nền tảng khởi thuỷ của hiện hữu. Từ nền tảng này, cuộc đời đi ra, nhưng hảy xả bỏ luôn cả ý niệm này.
Chẻ toang ra
Một cây se-ri
Và chẳng có đóa hoa nào cả
Nhưng gió xuân
Mang đến hàng loạt bông hoa!
Không có cầu
Nhưng mây đi lên nhẹ nhàng
Đến tận thiên đàng;
Chẳng cần phải lệ thuộc vào điều gì cả
Phật Thích Ca dạy.
Phật Thích Ca thuyết pháp trong 50 năm, và khi đệ tử Ca Diếp hỏi ngài tinh yếu của giáo pháp, Phật nói, “Từ đầu đến cuối ta chưa hề nói lời nào,” và đưa lên một đóa hoa. Ca Diếp mỉm cười và Phật trao đóa hoa cho Ca Diếp, và nói những lời này: “Con đã nắm được Diệu Tâm của Chánh Pháp.” “Ý thầy là sao?” Ca Diếp hỏi. “Năm mươi năm thuyết giảng của thầy,” Phật nói, “hằng mời gọi con luôn luôn, như là gọi đứa trẻ vào vòng tay với lời hứa phần thưởng.”
Đóa hoa giáo pháp này không thể diễn tả được bằng vật thể, ý niệm hay lời nói. Nó không phải là vật chất hay tâm linh. Nó không phải là kiến thức. Giáo Pháp của chúng ta là Đóa Hoa của Một Cổ Xe chở tất cả Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó mang 28 tổ sư Ấn Độ và 6 tổ sư Trung quốc; nó là nền tảng nguyên thủy của hiện hữu – tất cả hiện hữu. Tất cả mọi sự đều không có điểm khởi đầu và như vậy tất cả đều gồm trong nó. Tám cảm quan (**), bốn mùa, tứ đại (đất, nước, lửa, gió), tất cả đều đến từ không, nhưng ít người nhận ra điều này. Gió là hơi thở, lửa là hoạt động, nước là máu; khi xác thân bị chôn hay đốt nó trở thành đất. Nhưng tứ đại cũng không có khởi đầu và chẳng bao giờ trường tồn.
Trong thế giới
Mọi thứ, chẳng trừ gì,
Đều không thật:
Ngay cả sự chết cũng là
Hư ảo.
Ảo tưởng tạo ra ảo ảnh là dù thân xác chết, linh hồn vẫn tồn tại – đây là một lầm lỗi lớn. Người giác ngộ nói rằng cả thân xác và linh hồn tan biến với nhau. “Phật” là không, và trời và đất trở về với nền tảng nguyên thủy của hiện hữu. Tôi đã gạt qua một bên 80 ngàn quyến kinh và gởi đến các bạn tinh túy trong quyển ngắn này. Nó sẽ mang an lạc đến với các bạn.
Viết điều gì
Để lại
Cũng lại là một loại mơ nữa
Khi tôi tỉnh thức tôi biết rằng
Sẽ chẳng có ai đọc nó.
Thiền sư Ikkyu
Trần Đình Hoành dịch từ tiếng Anh
TĐH chú thích:
(*) Ba thế giới (tam giới) là dục giới (thế giới của ham muốn), sắc giới (thế giới của hình sắc), vô sắc giới (thế giới vô hình).
(**) Tám giác quan đây là ngũ quan của cơ thể – sắc, thanh, hương, vị, xúc – và 3 cảm quan về ý: ý thức, mạt-na thức, a-lại-da thức.
Skeletons
Students, sit earnestly in zazen, and you will realize that everything born in this world is ultimately empty, including oneself and the original face of existence. All things indeed emerge out of emptiness. The original formlessness is the “Buddha,” and all other similar terms — Buddha-nature, Buddhahood, Buddha-mind, Awakened One, Patriarch, God — are merely different express- ions for the same emptiness. Misunderstand this and you will end up in hell.
One night . . . a pitiful -looking skeleton appeared and said these words:
A melancholy autumn wind
Blows through the world;
The pampas grass waves,
As we drift to the moor,
Drift to the sea.
What can be done
With the mind of a man
That should be clear
But though he is dressed up in a monk’s robe,
Just lets life pass him by?
Toward dawn I dozed off, and in my dream I found myself surrounded by a group of skeletons . . . . One skeleton came over to me and said:
Memories
Flee and
Are no more.
All are empty dreams
Devoid of meaning.
Violate the reality of things
And babble about
“God” and “the Buddha”
And you will never find
the true Way.
I liked this skeleton . . . . He saw things clearly, just as they are. I lay there with the wind in the pines whispering in my ears and the autumn moonlight dancing across my face.
What is not a dream? Who will not end up as a skeleton? We appear as skeletons covered with skin — male and female — and lust after each other. When the breath expires, though, the skin ruptures, sex disappears, and there is no more high or low. Underneath the skin of the person we fondle and caress right now is nothing more than a set of bare bones. Think about it — high and low, young and old, male and female, all are the same. Awaken to this one great matter and you will immediately comprehend the meaning of “unborn and undying.”
If chunks of rock
Can serve as a memento
To the dead,
A better headstone
Would be a simple tea-mortar.
Humans are indeed frightful beings.
A single moon
Bright and clear
In an unclouded sky;
Yet still we stumble
In the world’s darkness.
Have a good look — stop the breath, peel off the skin, and everybody ends up looking the same. No matter how long you live the result is not altered[even for emperors]. Cast off the notion that “I exist.” Entrust yourself to the wind-blown clouds, and do not wish to live for ever.
This world
Is but
A fleeting dream
So why be alarmed
At its evanescence?
Your span of life is set and entreaties to the gods to lengthen it are to no avail. Keep your mind fixed on the one great matter of life and death. Life ends in death, that’s the way things are.
The vagaries of life
Though painful,
Teach us
Not to cling
To this floating world.
Why do people
Lavish decoration
On this set of bones
Destined to disappear
Without a trace?
The original body
Must return to
Its original place:
Do not search
For what cannot be found.
No one really knows
The nature of birth
Nor the true dwelling place:
We return to the source,
And turn to dust.
Many paths lead from
The foot of the mountain
But at the peak
We all gaze at the
Single bright moon.
If at the end of our journey
There is no final
Resting place
Then we need not fear
Losing our way.
No beginning,
No end;
Our mind
Is born and dies:
The emptiness of emptiness!
Let up
And the mind
Runs wild;
Control the [mind]
And you can cast it aside.
Rain, hail, snow, and ice:
All separate
But when they fall
They become the same water
Of the valley stream.
The ways of proclaiming
The Mind all vary
But the same heavenly truth
Can be seen
In each and every one.
Cover your path
With fallen pine needles
So no one will be able
To locate your
True dwelling place.
How vain
The endless funerals at the
Cremation grounds of Mount Toribe:
Don’t the mourners realize
That they will be next?
“Life is fleeting!”
We think at the sight
Of smoking drifting from Mount Toribe:
But when will we realize
That we are in the boat?
All is vain!
This morning,
A healthy friend;
This evening,
A wisp of cremation smoke.
What a pity!
Evening smoke from Mount Toribe
Blown violently
To and fro
By the wind.
When burned
It becomes ashes,
And the earth when buried.
Is it only our sins
That remain behind?
All the sins
Committed
In the Three Worlds
Will fade away
Together with me.
This is how the world is. Those who have not grasped the world’s impermanence are astonished and terrified by such change. Few today seek Buddhist truth, and the monasteries are largely empty. Priests now are mostly ignorant and shun zazen as a bother; they are derelict in their meditation, concentrating on decorating their temples. Their zazen is a sham, and they are merely masquerading as monks – the robes they sport will become the heavy coats of torture someday.
Within the cosmos of birth and death, the taking of life leads to hell; greed leads to rebirth as a hungry ghost; ignorance causes one to be reborn as an animal; anger turns one into a demon. Follow the precepts and you will attain rebirth as a human being. Do good deeds and you ascent to the level of the gods. Above these six realms there are four levels of the Wise Buddhists, altogether ten realms of existence. However, One Thought of Enlightenment reveals them to be formless, with nothing in between, and not to be loathed, feared, or desired. Existence is perceived as being nothing more than a wispy cloud in the vast sky or foam on the water. No thoughts arise in the mind, so no elements are created. Mind and objects are one and empty, beyond any doubts.
Human birth is like a fire – the father is the flint, the mother the stone, and the resulting spark is the child. The fire is ignited with the base elements and burns until it exhausts the fuel. The lovemaking between the father and mother produces the spark of life. Since the parents are without beginning, they too flicker out; all things emerge from emptiness – the source of every form. Free yourself from forms and return to the original ground of being. From this ground, life issues forth, but let go of this too.
Break open
A cherry tree
And there are no flowers
But the spring breeze
Brings forth myriad blossoms!
Without a bridge
Clouds climb effortlessly
To heaven;
No need to rely on
Anything Gotama Buddha taught.
Gotama Buddha proclaimed the Dharma for fifty years, and when his disciple Kashyapa asked him for the key to his teaching, Buddha said, “From beginning to end I have not proclaimed a single word,” and held up a flower. Kashyapa smiled and Buddha gave him the flower, saying these words: “You posses the Wondrous mind of the True Law.” “What do you mean?” asked Kashyapa. “My fifty years of preaching,” Buddha told him, “has been beckoning to you all the while, just like attracting a child into one’s arms with the promise of a reward.”
This flower of the Dharma cannot be described in physical, mental or verbal terms. It is not material or spiritual. It is not intellectual knowledge. Our Dharma is the Flower of the One Vehicle carrying all the Buddhas of the past, present, and future. It holds the twenty-eight Indian and six Chinese patriarchs; it is the original ground of being – all there is. All things are without beginning and are thus all-inclusive. The eight senses, the four seasons, the four great elements (earth, water, fire, wind), all originate in emptiness, but few realize it. Wind is breath, fire is animation, water is blood; when the body is buried or burned it becomes earth. Yet these elements too are without beginning and never abide.
In this world,
All things, without exception,
Are unreal:
Death itself is
An illusion.
Delusion makes it appear that though the body dies, the soul endures – this is a grave error. The enlightened declare that both body and soul perish together. “Buddha” is emptiness, and heaven and earth return to the original ground of being. I’ve set aside the eighty thousand books of scripture and given you the essence is this slim volume. This will bring you great bliss.
Writing something
To leave behind
Is yet another kind of dream
When I awake I know that
There will be no one to read it.
Zen Master Ikkyu
John Stevens translated from Japanese
(Trần đình Hoành dịch và bình)
.
The True Path
Just before Ninakawa passed away the Zen master Ikkyu visited him. “Shall I lead you on?” Ikkyu asked.
Ninakawa replied: “I came here alone and I go alone. What help could you be to me?”
Ikkyu answered: “If you think you really come and go, that is your delusion. Let me show you the path on which there is no coming and going.”
With his words, Ikkyu had revealed the path so clearly that Ninakawa smiled and passed away.
Taiko, một tướng quân ở Nhật vào thời Tokugawa, học trà đạo gọi là Cha-no-yu, với trà sư Sen no Rikyu, một vị thầy về loại nghệ thuật diễn tả an lạc này.
Cận tướng của Taiko là Kato xem sự say mê trà đạo của chủ là bê trễ công việc quốc gia, nên Kato quyết định phải giết Sen no Rikyu. Hắn giả vờ viếng thăm trà sư và được mời vào uống trà.
Trà sư, rất thành thạo trong nghệ thuật của thầy, liếc mắt qua là biết ngay ý định của viên võ tướng, nên trà sư mời Kato để kiếm ở ngoài trước khi vào phòng cho nghi lễ trà đạo, giải thích rằng trà đạo chính là biểu hiện của an bình.
Kata không nghe theo. “Tôi là võ tướng,” hắn nói. “Tôi luôn luôn mang kiếm theo người. Trà đạo hay không trà đạo, tôi giữ kiếm với tôi.”
“Được. Cứ mang kiếm vào và uống trà,” Sen no Rikyu bằng lòng.
Ấm nước đang sôi trên bếp than. Đột nhiên Sen no Rikyu nghiêng ấm nước. Hơi nước bốc xì xèo, khói và tro bay đầy phòng. Viên võ tướng giật mình chạy ra ngoài.
Trà sư xin lỗi. “Đó là lỗi của tôi. Vào lại và uống tí trà. Kiếm của anh bị dính đầy tro, tôi có nó đây, sẽ chùi nó sạch sẽ và trả lại cho anh.”
Trong thế kẹt này, chàng võ tướng biết là mình không thể giết trà sư được, hắn bèn bỏ luôn ý định đó.
.
Bình:
• Theo truyền thuyết, trà do thiền sư Nhật Eichu (永忠) mang về từ Trung quốc, và năm 815 Eichu dâng trà xanh sencha cho Thiên hoàng.
Đến thế kỷ 12, thiền sư Eisai, cũng từ Trung quốc về, giới thiệu cách dùng trà bột gọi là Matcha mà ngày nay vẫn còn dùng trong nghi lễ trà đạo. Nghi thức Matcha này được dùng đầu tiên trong các tu viện Phật giáo.
Đến thế kỷ 13, thời Shogun Kamakura, giới võ sĩ đạo (Samurai) nắm toàn quyền cai trị và trà đạo trở thành một dấu hiệu qúy tộc.
Đến thế kỷ 16, mọi người Nhật đều uống trà, và trà sư Sen no Rikyu trong truyện này, được xem là thầy về trà đạo cho đến ngày nay. Sen no Rikyu là học tò của Takeno Jōō’s, và đi theo triết lý ichi-go ichi-e của thầy, dạy rằng mỗi cuộc gặp gỡ đều quý báu vì không bao giờ có thể lập lại được.
Sen no Rikyu thiết lập các nguyên lý của trà đạo gồm: Hòa (和 wa), kính (敬 kei), thanh (清 sei), và tĩnh (寂 jaku)—là các nguyên lý vẫn còn sử dụng trong trà đạo ngày nay. (Nguồn: wikipedia).
• Trà đạo là một hình thức thiền tập, và các thiền sư uống trà thường xuyên. Đây chính là trà thiền, tức là chánh niệm trong thiền học–tập trung tư tưởng vào việc mình đang làm, như là nấu nước, múc trà, khuấy trà, mời trà, uống trà… Bởi vậy, trong khi sửa soạn trà, chủ và khách chẳng ai nói gì cả, chỉ tập trung tư tưởng vào việc làm trà, và khi uống cũng rất ít nói. Đó là trà thiền.
• Các thiền sư thường là trà sư. Và dĩ nhiên là khi quen tĩnh lặng thì sự nhậy cảm của ta tăng lên rất cao. Sen no Rikyu nhận ra tâm ý của Tako cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Điều quan trọng là cách xử sự nhẹ nhàng lịch sự của Sen no Rikyu làm Tako biết là vị trà sư này đã đọc được hết ý nghĩ của mình. Mình không phải là đối thủ của ông ta. Rút lui là thượng sách.
• Điều quan trọng khác nữa là trà sư cho Tako con đường rút lui trong danh dự, không bóc trần ý định của hắn ra ánh sáng để ép hắn vào đường cùng.
(Trần Đình Hoành bình)
.
The Tea-Master and The Assassin
Taiko, a warrior who lived in Japan before the Tokugawa era, studied Cha-no-yu, tea etiquette, with Sen no Rikyu, a teacher of that aesthetical expression of calmness and contentment.
Taiko’s attendant warrior Kato interpreted his superior’s enthusiasm for tea etiquette as negligence of state affairs, so he decided to kill Sen no Rikyu. He pretended to make a social call upon the tea-master and was invited to drink tea.
The master, who was well skilled in his art, saw at a glance the warrior’s intention, so he invited Kato to leave his sword outside before entering the room for the ceremony, explaining that Cha-no-yu represents peacefulness itself.
Kato would not listen to this. “I am a warrior,” he said. “I always have my sword with me. Cha-no-yu or no Cha-no-yu, I have my sword.”
“Very well. Bring your sword in and have some tea,” consented Sen no Rikyu.
The kettle was boiling on the charcoal fire. Suddenly Sen no Rikyu tipped it over. Hissing steam arose, filling the room with smoke and ashes. The startled warrior ran outside.
The tea-master apologized. “It was my mistake. Come back in and have some tea. I have your sword here covered with ashes and will clean it and give it to you.”
In this predicament the warrior realized he could not very well kill the tea-master, so he gave up the idea.
Thời thượng cổ có một vị Quan Lang (1) sức vóc cao lớn, nhà vua ban tên là Cao cho nên lấy Cao làm họ. Cao sinh hạ được hai người con trai, con cả tên là Tân, con thứ tên là Lang (2). Hai anh em giống nhau như đúc, trông không thể phân biệt nổi. Đến năm 17, 18 tuổi, cha mẹ đều từ trần, hai anh em đến theo học đạo sĩ họ Lưu. Nhà họ Lưu có một người con gái tuổi cũng khoảng 17, 18, muốn kết làm vợ chồng. Nàng chưa biết người nào là anh, mới bày một chén cháo và một đôi đũa, cho hai anh em cùng ăn. Người em nhường anh ăn trước. Nàng về nói với cha mẹ xin làm vợ người anh, tình vợ chồng ngày càng nồng thắm.
Về sau, người anh có thể đối xử lạt lẽo với em, người em tự lấy làm tủi hổ, cho rằng anh lấy vợ rồi nên quên mình, bèn không cáo biệt mà bỏ đi. Đi tới giữa rừng, gặp một dòng suối sâu, không có thuyền để qua, đau đớn khóc lóc mà chết, hóa thành một cây cau mọc ở ven bờ. Người anh ở nhà không thấy, từ giã vợ đi tìm. Tới chỗ đó, thấy em đã chết, gieo mình chết, hóa thành phiến đá, nằm ôm quanh gốc cây. Người vợ thấy chồng đi lâu không về bèn đi tìm chồng, tới chỗ này thấy chồng đã chết, cũng gieo mình ôm lấy phiến đá mà chết, hóa thành một cây dây leo cuốn quanh phiến đá, lá có mùi thơm cay (tức là dây trầu). Cha mẹ nàng họ Lưu đau xót vô cùng, bèn lập miếu thờ. Người trong vùng đi ngang qua chỗ đó đều đốt hương cúng vái, ca tụng anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa.
Khoảng tháng bảy tháng tám, khí nóng chưa tan, Vua Hùng đi tuần thú, dừng chân nghỉ mát ở trước miếu, thấy cây lá xum xuê, giây leo chằng chịt, vua leo lên phiến đá xem xét, hỏi rồi mới biết có chuyện như vầy, than thở hồi lâu, truyền cho bầy tôi hái lấy lá trầu, vua nhai rồi nhổ bọt lên phiến đá, thấy có sắc đỏ, mùi vị thơm ngon bèn lấy mang về. Rồi cho lấy lửa nung đá làm thành vôi, lấy vôi ăn với trái cau và lá trầu, mùi vị thơm nồng, dòn, ngọt, má đỏ môi hồng, nên cho thiên hạ ai ai cũng trồng cau trầu khắp nơi, gặp việc cưới hỏi, tế lễ lớn nhỏ đều lấy trầu cau làm đầu. Đó chính là cây cau, cây trầu và vôi vậy.
Nguồn gốc cau trầu nước Nam ta là như thế đó.
Chú thích:
1) Đời Hùng Vương, con trai gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương
2) Tân Lang: chữ Hán 檳榔, hai chữ Tân Lang ghép lại chữ Hán có nghĩa là cây cau.
(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.
Bình:
• Tục nhai trầu và cau là tục lệ chung từ thời cổ đại tại nhiều quốc gia vùng Nam Châu Á Thái Bình Dương–Ấn Độ, Pakistan, vài tỉnh ở Trung Quốc, Thái Lan, Sri Lanka, Papua New Guinea, Bangladesh, Đài Loan, Miến Điện, Kampuchia, Solomon Islands, Lào, Maldives, Indonesia, Phi Luật Tân, và Việt Nam.
Tại các nơi này trầu cau thường là một phần của giao tế xã hội, có lẽ vì tích cách kích thích nhè nhẹ của nó, như là chúng ta uống rượu nhẹ ngày nay. Cau còn được dùng nhiều trong y học cổ truyền, như thuốc trừ đau răng và sán lãi.
Trong tiếng Anh, cau là areca nut (không phải là betel nut như nhiều người lầm tưởng), và lá trầu là betel leaf. Ăn trầu (nhai trầu cau) là “chewing areca nut and betel leaf”.
• Dù lý do giải thích (em thấy anh có vẻ thương chị dâu hơn mình nên bỏ đi) nghe gượng ép và không hợp lý mấy, bài này rất rõ là sự chấm dứt của tình trạng một người phụ nữ sống chung với 2 anh em dưới một mái nhà. Đây là một dấu hiệu khác của sự dẫy chết của chế độ mẫu hệ trong văn hóa chính thức của người Việt, nói đúng ra là người Kinh. Vì văn hóa mẫu hệ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay tại vài bộ tộc miền cao của nước ta.
Theo tục nối dây của người Êđê chẳng hạn, khi người chồng mất, người phụ nữ có quyền lấy một người khác trong gia đình chồng, như là anh hay em chồng, hay chú chồng, cháu chồng, v.v… để tiếp tục “nối dây” cho hai gia đình. Dĩ nhiên, đó không phải là đa phu, nhưng nó nói rằng liên hệ tình cảm giữa người phụ nữ và thân nhân bên nhà chồng là chuyện trong vòng lễ giáo một lúc nào đó, không phải là chuyện vô đạo đức đến mức sống chung trong một mái nhà cũng là chuyện không nên, như truyền thống Khổng giáo mà truyện này ám chỉ.
(Trong truyền thống đa thê của Trung quốc, đàn ông có thể lấy vài chị em một nhà, nhưng đàn bà chì có một chồng. Chồng chết thì ở vậy nuôi con. Tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.)
• Lịch sử cổ đại của Việt Nam có nhiều điểm chính chỉ ra chế độ mẫu hệ:
— Truyện Hồng Bàng là huyền thoại, dù là có vẻ phụ hệ bên ngoài, nhưng như đã phân tích, tính mẫu hệ rất nặng trong truyện.
— Kế đến là An Dương Vương, lại là huyền thoại, dù là đàn ông, nhưng nhân vật chính trong đó là phụ nữ, Mỵ Châu, nắm bí mật quốc gia. Chẳng thấy chàng hoàng tử nào của An Dương Vương có mặt.
— Hai vị vua đầu tiên trong lịch sử (không phải là huyền thoại) là Hai Bà Trưng.
— Người tên tuổi kế tiếp trong lịch sử, đến cả 400 năm sau, là Triệu Thị Trinh, tức Bà Triệu.
— Sách sử nói hai thứ sử của nhà Hán cai trị Việt Nam là Nhâm Diên (Giao Chỉ) và Tích Quang (Cửu Chân) phải dạy dân ta cưới hỏi và các lễ nghĩa khác. Dĩ nhiên không phải vì dân Việt không biết các lễ nghĩa này, nhưng có lẽ dân Việt dùng một lễ nghĩa khác—lễ nghĩa mẫu hệ thay vì lễ nghĩa phụ hệ của Khổng giáo từ Trung quốc.
• Các tên dùng trong truyện trầu cau rất thú vị:
1. Quan Lang họ Cao, rất gần âm Cau. Phải chăng cây cau có tên đó vì cao?
2. Theo Nguyễn Hữu Vinh, Tân Lang (tên hai cậu con trai), chữ Hán viết chung có nghĩa là “cây cau”.
Nhưng “tân lang” cũng có nghĩa là “người đàn ông mới”, đại diện cho văn hóa mới, phụ hệ, từ phương Bắc?
3. Tên của “hai” cậu (Tân và Lang) lại có nghĩa là “một” cây cau, hay “một” người đàn ông. Đây là nghĩa lý chính trong tục “nối dây”: Tất cả các người đàn ông trong một gia đình là “một” sợi dây để nối vào vợ. (Hay ngược lại).
4. Họ của cô con gái là họ Lưu. Một trong những nghĩa thông dụng nhất của chữ “lưu” mà ta vẫn dùng cho đến ngày nay là “giữ lại, lưu lại”.
Vậy thì giữ lại gì? Thưa, giữ lại đạo nghĩa (cổ truyền), vì trong truyện bố cô gái là đạo sĩ họ Lưu.
5. Và họ nhà trai, là Quan Lang, tức là quyền lực chính trị.
Rất rõ đây là đụng chạm giữa hai nền văn hóa: Văn hóa mẫu hệ cũ tại bản xứ, và văn hóa mới của quyền lực chính trị từ phương Bắc sang.
Hậu quả là sống theo kiểu cũ không được, thì chết để cùng sống chung mỗi khi ai đó ăn trầu.
Những ngày đầu tháng 3 này ở miền Đông Bắc nước Mỹ thời tiết thay đổi thật kỳ diệu. Chỉ trước thứ 7 tuần trước, trời còn xám và lạnh, mà sau thứ 7 chủ nhật ngày 8/3 vừa rồi, thời tiết ấm hẳn và ông mặt trời chiếu sáng cả ngày.
Ánh nắng vàng trải đều trên các ngọn cây tuy chưa ra lá. Nắng ấm tràn vào xe cộ trên đường. Trời nắng, xanh và cao hơn. Mình bắt đầu đi bộ buổi trưa để tập thể dục. Chỉ sau chủ nhật cuối tuần này, cả nước Mỹ sẽ bắt đầu ngày mới sớm hơn một tiếng để ngày có nhiều ánh sáng mặt trời hơn. 🙂
Chúng ta hôm nay hãy cùng nghe bài hát “Here comes the sun” của ban nhạc Beatles nói về sự vui mừng chào đón sự đến của mặt trời tuyệt vời đó nhé. 🙂
“Here comes the sun” được sáng tác bởi George Harrison và ra mắt trong album “Abbey Road” của Beatles vào năm 1969. George kể như sau về bài hát trong Beatles Anthology:
“Here Comes the Sun” was written at the time when Apple was getting like school, where we had to go and be businessmen: ‘Sign this’ and ‘sign that’. Anyway, it seems as if winter in England goes on forever, by the time spring comes you really deserve it. So one day I decided I was going to sag off Apple and I went over to Eric Clapton’s house. The relief of not having to go see all those dopey accountants was wonderful, and I walked around the garden with one of Eric’s acoustic guitars and wrote “Here Comes The Sun”.
“Mặt trời đến đây rồi được viết vào thời điểm mà (hãng thu âm) Apple thích trường học, nơi chúng tôi phải đi và làm dân kinh doanh: ‘ký cái này’ và ‘ký cái kia’. Dù sao, tưởng như mùa đông ở nước Anh kéo dài mãi mãi, khi mùa xuân đến bạn thực sự xứng đáng (vì đã đợi mùa xuân mỏi cổ?). Do đó một ngày tôi quyết định bỏ Apple sớm và qua nhà Eric Clapton chơi. Sự thoải mái của việc không phải thấy hội kế toán ẩm ương đó thật tuyệt vời, và tôi đi dạo quanh vườn với một trong những cây ghi ta của Eric và viết “Here Comes The Sun”.
Sau đây chúng ta có 3 video, 2 video đầu do George Harrison, ca sĩ/nhạc sĩ thể hiện. Đặc biệt ở video thứ 2 là do George và những người bạn chơi trong buổi hòa nhạc cho Bangladesh vào năm 1971 ủng hộ cho đất nước Bangladesh sau cuộc chiến tranh giành độc lập và tai nạn thiên nhiên. Video thứ 3 là độc tấu ghi ta bài hát này của anh Per-Olov Kindgren. Sau đó là lời nhạc.
Chúc các bạn một ngày mặt trời đến,
Hiển.
Here Comes The Sun – George Harrison
.
Concert for Bangladesh: Here Comes The Sun.
.
Per-Olov Kindgren plays Beatles’ Here Comes The Sun in his arrangement for classical guitar
The Beatles – Here Comes The Sun
Artist: The Beatles
Here comes the sun, here comes the sun,
and I say it’s all right
Little darling, it’s been a long cold lonely winter
Little darling, it feels like years since it’s been here
Here comes the sun, here comes the sun
and I say it’s all right
Little darling, the smiles returning to the faces
Little darling, it seems like years since it’s been here
Here comes the sun, here comes the sun
and I say it’s all right
Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…
Little darling, I feel that ice is slowly melting
Little darling, it seems like years since it’s been clear
Here comes the sun, here comes the sun,
and I say it’s all right
It’s all right
Một phần lớn độc giả của vườn chuối là các bạn du học sinh đang theo học các chương trình Thạc Sĩ, Tiến Sĩ ở nước ngoài. Hôm nay mình giới thiệu với các bạn bài hát vui “Ph.D blues” để cùng cười mỉm với các anh chị em đang làm tiến sĩ và phần nào giúp các bạn tính toán chuyện học tiến sĩ hiểu được phần nào tâm sự nhé 🙂
Mình hồi trước cũng ngồi phòng thí nghiệm cả ngày nên mình có lẽ hiểu được phần nào nỗi vất vả, sự thử thách rất ly kỳ thú vị của các anh chị em nghiên cứu sinh. Cùng trên hành trình lên tây trúc thỉnh kinh, cũng có bao suy tư đời thường khác xen vào “cuộc sống kinh kỳ với bút nghiên” 🙂
Tâm sự này được chia sẻ trong bài hát Ph.D blues sau đây. Ph.D blues được sáng tác bởi hai anh bạn Frans Prins and Pascal Wilhelm khi họ làm nghiên cứu sinh về lĩnh vực tâm lý giáo dục ở trường Leiden, Hà Lan. Các bạn có thể đọc thêm về “dự án Ph.D blues ở trang web của bài hát 🙂
Dưới đây là video của bài hát, trước đó là lời dịch Việt, sau đó là lời nhạc Anh.
Chúc các bạn một ngày “Ph.D sunshine” 🙂
Hiển.
.
Điệu sầu Tiến Sĩ
Tôi là sinh viên tiến sĩ
Tôi làm việc đêm ngày
Tôi đang viết luận án
Và lãnh lương ăn mày.
Tôi nghĩ đến kinh doanh
Nhưng chẳng quyết định được
Tôi đợi và đợi
Rốt cuộc vào đường khoa học
Lấy một mảnh bằng, nếu bạn chẳng biết làm gì
Tôi tìm phiêu lưu
Tôi tìm chân lý
Tôi đọc
Mọi thứ tôi lục được
Tiêu cả hai tháng cạnh máy photo
Đến mờ cả mắt
Rồi cần thêm thống kê
Và ngạc nhiên thay
Thấy chẳng có gì liên hệ.
Thiên đàng là đây sao?
Lấy một mảnh bằng, nếu bạn chẳng biết làm gì
Tôi tìm phiêu lưu
Tôi tìm chân lý
Bàn luận với một hai
Tay đàn anh
Khen họ đấo để
Vì cái Tôi họ cần được vuốt ve.
Rồi tôi gởi bài tường trình đến tòa báo
Vào mùa thu
Đến mùa xuân bài bị gạt bỏ
Vì thí nghiệm không đủ mẫu.
Lấy một mảnh bằng, nếu bạn chẳng biết làm gì
Bạn biết tôi cảm giác thế nào không?
Tôi cảm như cọp trong sở thú.
Phải thuyết trình
Trong cuộc họp lớn thật lớn.
Tôi trong cuộc học lớn này
Chẳng có ma nào tham dự.
Về đến nhà, vợ đã bỏ đi
Vì nàng chẳng hiểu được.
Theo đuổi khoa học
Làm bạn cô đơn cuối đường.
Theo đuổi khoa học
Làm bạn cô đơn cuối đường.
Theo đuổi khoa học
Làm bạn cô đơn cuối đường.
Ph.D. Blues
Ph.D. Blues (Prins/Wilhelm)
I’m a Ph.D. student,
I’m working night and day.
I’m writing a dissertation,
and get a lousy pay.
I thought I’d be in business,
but I could not decide.
I waited and I waited,
and ended up in science.
Getting a degree. If you don’t know what to do.
I was looking for adventure
I was looking for the truth.
I started out with reading,
all pieces I could find.
Spent two months at the xerox,
till I was half blind.
Then I needed some data,
and much to my surprise.
I found low correlations,
Is this paradise?
Getting a degree. If you don’t know what to do.
I was looking for adventure
I was looking for the truth.
Having a discussion,
with a senior or two.
Giving all these compliments,
’cause their egos need a boost.
Then I sent my work to a journal,
it was in the fall.
In springtime it got rejected,
’cause my sample was too small.
Getting a degree. If you don’t know what to do.
You know how I feel?
Feel like a tiger in the zoo.
Had to do a presenation,
at a big big big conference.
I was in this great symposium,
which no one would attend.
When I got home my love had left me,
’cause she could not understand.
Leading your life in science,
makes you lonely in the end.
Getting a degree. If you don’t know what to do.
Leading a life in science,
Makes you lonely in the end.
Leading a life in science,
Makes you lonely in the end.
Leading a life in science,
Makes you lonely in the end.
Từ Thanh Hóa theo quốc lộ 47 đi về hướng tây, ruộng đồng và xóm làng nối tiếp. Núi Vọng Phu xa mờ in màu xanh đậm hơn lên nền trời có dáng người mẹ dắt con rõ hơn núi Mẹ Con ở tây bắc Khánh Hòa, đi trong đồng Tuy Hòa (Phú Yên) thấy hai đỉnh cao thấp liền nhau, đúng nghĩa Mẹ/Con chứ không hề bồng bế, ngóng trông.
Đã đến Lam Kinh, trời chiều đầy mây xám âm u.Một vài tia nắng lóe lên rồi tắt ngấm. Không gian thật tĩnh mịch.Ở đây có dấu vết của một khúc mương rộng. Người hướng dẫn bảo đó nguyên là con sông đào, tên là sông Ngọc. Ông Lê Hối, tiền bối ba đời của vua Lê Lợi từ Ngọc Lặc đưa gia đình về đây xây dựng cơ ngơi. Sông dẫn nước về cái hồ gọi là Hồ Tây. Bắc qua sông có cầu Bạch Ngọc, thượng gia hạ kiều. Năm 1433 điện Lam Kinh được xây dựng, sau đó là những bia, mộ các vua Lê, nay thuộc xã Xuân Lâm huyện Thọ Xuân, huyện nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Thanh Hóa. Qua khỏi sông đào thấy một hố trũng sâu, được biết xưa là một giếng nước lớn.
Cung điện Lam Kinh còn lại là một bãi cỏ rộng. Rải rác khắp bãi cỏ, xếp hàng ngay ngắn là những phiến đá táng chân cột, phần dưới hình vuông mỗi cạnh chừng 6 tấc, phần trên là khối viên trụ nội tiếp, màu đen xám, nhẵn láng. Vài ba con rồng đá không còn đủ hình dạng, con thì vỡ đầu, con thì mất thân, con thì rạn nứt. Nhìn những chân cột ta có thể hình dung được bề thế nguy nga của cung điện Lam Kinh ngày ấy. Nền phía trong cao hơn, và như để chống đỡ sự đổ nát, có chất một dãy bao cát mà phần lớn đã mục rách, trông thật thảm thương! Một vài người dân nói: “Cho đến năm 1960 cung điện Lam Kinh còn khá tốt, sau đó mới bị dỡ phá”. Chúng tôi nhìn chung quanh, nhận biết khá rõ ràng dấu tích của chân thành. Ở một góc là cây đa già tua tủa rễ phụ. (Mấy năm sau, xem truyền hình thấy Lam Kinh được trùng tu, tôi mừng thầm. Không phải mừng việc trùng tu mà mừng mình được đến Lam Kinh khi còn là phế tích hoang tàn, khỏi phải chứng kiến một Lam Kinh mới toanh, chẳng biết chỗ nào thật chỗ nào giả). Trong nhà bảo tàng có trưng bày mấy viên gạch xây thành, khối chữ nhật có hai lỗ vuông để đóng chốt lại với nhau, ghi số đo: dài 75cm, rộng 20cm, cao 15cm, nặng 43kg. Gạch nền cung điện lớn hơn, dài 85cm, rộng 40cm, cao 15cm, nặng đến 85kg.
Vào trong nữa là mộ vua Lê Thái Tổ. Qua khỏi hàng trụ biểu đến vòng thành thấp. Nền sân lát gạch. Bốn con voi quay đầu vào mộ. Hai bên mỗi bên một hàng các con vật: kỳ lân, tê giác, ngựa, cọp. Rồi hai vị quan văn võ. Tất cả đều bằng đá, nét chạm khắc có phần đơn sơ. Mộ vua hình chữ nhật, xây gạch, không có hoa văn, họa tiết. Một bệ nhỏ hình chữ nhật để cắm nhang. Dẫu là mộ thật hay mộ giả thấy cũng rất giản dị, hết sức giản dị.
Bia Vĩnh Lăng dựng ở phía trước, góc ngoài thành nơi có cây đa già. Nhà bia mới xây lại, phía trước thềm còn dấu hai chân cột cũ. Bia thì người hướng dẫn nói vẫn là bia xưa, cao 2,97m, rộng 1,94m, dày 0,27m. Chân rùa đội bia có 6 móng, móng cuối bị khuyết, nhỏ hơn. Hình rồng chạm trên bia trông giống con rắn, nhỏ và dài, uốn lượn gấp khúc nhiều đoạn, chân có 3 móng. Tại Bảo tàng lịch sử Hà Nội có một bia Vĩnh Lăng phục chế, đường nét còn mới, sắc sảo.
Bên kia đường đi Ngọc Lặc là lăng mộ của các vua Lê Thái Tông, Thánh Tông, Hiển Tông, Túc Tông và bà Ngọc Dao… hoang vu hơn. Có chỗ bia đã mất chỉ còn con rùa và con rùa cũng không có đầu!
Chiều đang xuống nhanh. Trên tàn cây những con ve sầu réo dài từng khúc ca buồn. Bãi cỏ sẫm màu lại, gần với màu của những khối đá chân cột. Vài ba con bò vừa bước đi chậm chạp vừa nhởn nhơ gặm cỏ. Rừng núi Lam Kinh dần dần chìn ẩn trong màn sương đang dần dần hiện lên. Người già nhất trong nhóm chúng tôi, ông Ba Nhữ, mắt mơ màng đọc hai câu thơ Thanh Quan:
Ikkyu, một thiền sư nổi tiếng thời Ashikaga, là con của Thiên hoàng. Khi thiền sư còn nhỏ, mẹ của thiền sư rời bỏ cung điện và vào chùa học thiền. Bởi vậy hoàng tử Ikkyu thành thiền sinh. Khi mẹ của Ikkyu qua đời, bà để lại cho thầy một lá thơ, viết rằng:
Gởi Ikkyu:
Mẹ đã xong việc ở đời này và bây giờ mẹ trở lại với Vĩnh Hằng. Mẹ mong con thành một thiền sinh giỏi và sẽ đạt được Phật tánh. Con sẽ biết là mẹ ở trong địa ngục hay không và mẹ có luôn ở cùng con không.
Nếu con thành một người hiểu được rằng Phật và đệ tử của ngài là Bồ Đề Đạt Ma là tôi tớ của con, con có thể ngưng học và đi cứu nhân độ thế. Phật giảng 49 năm và trong khoảng thời gian đó thấy chẳng phải nói một chữ nào. Con nên biết tại sao. Nhưng nếu con không biết nhưng muốn biết, tránh suy nghĩ vô ích.
Mẹ,
Không sinh, không chết.
Ngày 1 tháng 9
Tái bút: Giáo pháp của Phật là cốt để giác ngộ người khác. Nếu con lệ thuộc vào bất cứ pháp môn nào, con cũng chỉ là một côn trùng dốt nát. Có đến 80 nghìn quyến sách về Phật học và nếu con phải đọc hết các sách này mà vẫn không thấy được tánh thật của con, con sẽ không hiểu được lá thơ này. Đây là di chúc của mẹ.
.
Bình:
• Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung quốc truyền dạy Thiền và được xem là Tổ sư sáng lập Thiền tông của các tông phái đại thừa ngày nay (Mahayana).
Phật và Bồ Đề Đạt Ma là thầy. Nhưng các vị thầy này chỉ có một mục đich duy nhất là phục vụ học trò, giúp học trò đắc ngộ, các vị thầy này chẳng có mục đích gì khác cho chính các vị, nên nói là “Phật và Bồ Đề Đạt Ma là tôi tớ của con.”
Người thực sự nhận thức được điều này, thì:
1. Không tôn thờ Phật hay Tổ sư là người giải thoát mình; biết rằng chính mình phải tự mình giải thoát mình;
2. Thuyết gỉảng giáo pháp và giúp đở thế nhân với thái độ là mình là tôi tớ của họ;
3. Và như thế tức là đã đạt được “vô ngã”, tức là đã ngộ.
Cho nên lúc này là lúc có thể ngưng học để ra đời cứu nhân độ thế.
• Phật thuyết giảng 49 năm nhưng chẳng nói lời nào: Trong Kinh Đại Niết Bàn, trước khi nhập diệt, Đức Phật nói: “Như Lai thường không thuyết pháp… vì pháp vốn vô tánh. Như Lai dầu giảng nói tất cả pháp nhưng thường không chỗ nói.” (Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Qúy Đức Vương Bồ Tát, thứ 22).
Ngôn từ không bao giờ chính xác để nói lên điều gì. Nói chỉ là nói tạm, vì chẳng cách nào khác để truyền đạt tư tưởng cho đa số người. Vì vậy, dù là Phật đã giảng thuyết 49 năm, nhưng không có lời nào là tuyệt đối đến mức mọi người cứ khư khư nắm giữ nó. Tùy nghi liệu thế mà hiểu. Cho nên, giảng thuyết nhiều mà lại chẳng nói lời nào là thế.
Muốn đắc ngộ, phải rời bỏ văn tự, không mắc kẹt vào ngôn từ: “Vì Như-Lai và chánh giải thoát rời danh tự. Do đó nên đức Như-Lai đối với tất cả pháp, không chướng ngại, không đắm-trước mà đặng chơn thật giải thoát.” (Kinh Đại Niết Bàn, Phẩm Văn Tự, thứ 13).
• Nếu hiểu điều này thì tốt. Nếu không hiểu được, thì “tránh suy nghĩ vô ích”, vì đã suy nghĩ thì phải suy nghĩ bằng văn tự trong đầu mình, tức là lại càng kẹt vào văn tự, không thoát ra được.
• Mẹ “không sinh không chết”: Vì mẹ, cũng như tất cả mọi thứ khác trong vũ trụ, là một biểu hiện của Sự Thật, Chân Như, Như Lai, Phật tính, Vĩnh Hằng… như sóng là biểu hiện của đại dương. Sóng có và mất, nhưng đại dương luôn ở đó. Biểu hiện phù du thấy đó mất đó, nhưng Sự Thật thì thường hằng, luôn ở đó, không sinh không diệt.
Cho nên lấy cái nhìn bằng mắt mà nói thì mẹ có sinh có tử, nhưng lấy Sự Thật mà nói thì mẹ là (một phần của) Sự Thật, mẹ không sinh không tử, “mẹ đã xong việc ở đời này và bây giờ mẹ trở lại với Vĩnh Hằng.”
• Giáo pháp cũng chỉ là văn tự và lời nói, tức là không tuyệt đối được, và ta không thể mắc kẹt vào, chấp vào giáo pháp. Giáo pháp chỉ là phượng tiện giúp ta qua sông. Qua sông bỏ bè.
• Tánh thật (chân tánh) của con, cũng như của mẹ và của tất cả mọi thứ khác trong vũ trụ, là Phật, là Sự Thật, là Chân Như, là Như Lai, là Vĩnh Hằng. Nếu con không biết được điều này, con chẳng hiểu được mẹ nói gì trong thơ.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
The Last Will and Testament
Ikkyu, a famous Zen teacher of the Ashikaga era, was the son of the emperor. When he was very young, his mother left the palace and went to study Zen in a temple. In this way Prince Ikkyu also became a student. When this mother passed on, she left him a letter. It read:
To Ikkyu:
I have finished my work in this life and am now returning into Eternity. I wish you to become a good student and to realize your Buddha-nature. You will know if I am in hell and whether I am always with you or not.
If you become a man who realizes that the Buddha and his follower Bodhidharma are your own servants, you may leave off studying and work for humanity. The Buddha preached for forty-nine years and in all that time found it not necessary to speak one word. You ought to know why. But if you don’t and yet wish to, avoid thinking fruitlessly.
Your Mother,
Not born, not dead.
September first.
P.S. The teaching of Buddha was mainly for the purpose of enlightening others. If you are dependent on any of its methods, you are naught but an ignorant insect. There are 80,000 books on Buddhism and if you should read all of them and still not see your own nature, you will not understand even this letter. This is my will and testament.
Thứ sáu cuối tuần trước, vừa tới công ty mình vào luôn phòng bếp công ty để cất đồ ăn trưa (đồ ăn thừa từ tối hôm qua) vào tủ lạnh. Gặp anh Ken trong bếp, anh hỏi “bạn thế nào?”, và mình trả lời “I feel good” 🙂 Mà đúng thật, thời tiết hôm thứ sáu đã bắt đầu nắng ấm của mùa xuân. Mùa đông qua rồi! 🙂
Anh Ken cười bảo: Bạn là James Brown à?
Mình lớ ngớ một lúc thì được anh Ken giải thích là “I feel good” là một hit quá nổi tiếng của James Brown. Anh kể về James Brown là người có giọng hát rất soulful, được gọi là “Bố già của nhạc soul” (Godfather of Soul), và một trong những người tiên phong của phong trào Rock and Roll ở Mỹ. Mình bảo anh Ken là để mình giới thiệu bài hát này trên website nhé? Anh Ken hoan hô nhiệt liệt 🙂
“I feel good” là một bài hát dấu ấn của James Brown, nói về cảm xúc “tốt” của anh ta ra sao khi có được người yêu. Như là đường và gia vị. Trong bài hát này chất giọng nhạc soul, gào, và rú của James Brown được thể hiện vô cùng sống động.
Bài hát này của James Brown đã đứng đầu bảng xếp hạng Billboard trong 6 tuần liên tiếp, và xếp thứ 78 trong 500 bài hát Rock and Roll vĩ đại nhất của mọi thời đại.
I FEEL GOOD
James Brown
Whoa-oa-oa! I feel good, I knew that I would, now
I feel good, I knew that I would, now
So good, so good, I got you
Whoa! I feel nice, like sugar and spice
I feel nice, like sugar and spice
So nice, so nice, I got you
{ sax, two licks to bridge }
When I hold you in my arms
I know that I can’t do no wrong
and when I hold you in my arms
My love won’t do you no harm
and I feel nice, like sugar and spice
I feel nice, like sugar and spice
So nice, so nice, I got you
{ sax, two licks to bridge }
When I hold you in my arms
I know that I can’t do no wrong
and when I hold you in my arms
My love can’t do me no harm
and I feel nice, like sugar and spice
I feel nice, like sugar and spice
So nice, so nice, I got you
Whoa! I feel good, I knew that I would, now
I feel good, I knew that I would
So good, so good, I got you
So good, so good, I got you
So good, so good, I got you
HEY!!
Dưới đây chúng ta có 3 video đều của James Brown. Video thứ nhất do James Brown biểu diễn live show ở sâu khấu. Video thứ hai do anh hát và khiêu vũ ở “bữa tiệc trượt tuyết” và video thứ 3 là James Brown với điệu nhảy trượt mê hồn.
Lúc Seisetsu giảng dạy tại chùa Engaku ở Kamakura, thiền sư cần phòng ốc rộng hơn, vì nơi giảng dạy của thầy đã quá chật. Umezu Seibei, một thương gia ở Edo, quyết định là sẽ tặng 500 đồng vàng, gọi là ryo, vào việc xây trường rộng thêm. Umeza mang tiền đến cho thiền sư. Tranh Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma do thiền sư Seisetzu vẽ
Seisetsu nói: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.”
Umezu trao bao vàng cho Seisetsu, nhưng không hài lòng với thái độ của thiền sư. Một người có thể sống cả năm với chỉ 3 ryo, nhưng thương gia này không nhận được cả một tiếng cám ơn.
“Trong bao đó có 500 ryo,” Umezu nhắc khéo.
“Anh đã nói cho tôi biết rồi,” Seisetsu trả lời.
“Dù tôi là một thương gia giàu có, 500 ryo vẫn là rất nhiều tiền,” Umezu nói.
“Anh muốn tôi cám ơn anh?” Seisetsi hỏi.
“Thầy nên làm vậy,” Umezu trả lời.
“Tại sao tôi nên cám ơn?” Seisetsu thắc mắc. “Người cho nên cám ơn.”
.
Bình:
• Seisetsu Genjo Seki hay Seisetsu Genjyo Seki, (1877-1945), là thiền sư dòng Lâm Tế, từ thiền sư Hakuin Vậy À mà ra. Trong thập niên 1920, Seisetsu là sư trụ trì của chùa Tenryu ở Nhật.
Chùa Engaku trong truyện này là một chùa Lâm Tế rất lớn, và là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng cùa Nhật ngày nay. Chúng ta đã nói đến chùa Engaku trong bài Không nước không trăng về ni cô Chiyono.
• Bố thí là một thực hành lớn trong nhà Phật. Con đường Bồ-tát (Bồ Tát Đạo) có 6 nhánh qua sông (lục độ ba-la-mật), tức là sáu phương cách thực hành (“hạnh”) để đến giác ngộ, trong đó Bố thí là “hạnh” đầu tiên–Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Cho đi cái mình có là cách đương nhiên nhất để thực hành “vô ngã” (“không có cái tôi”).
• Bố thí thế nào? Kinh Kim Cang, đoạn 4 viết: “Bồ tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí. Này Tu-bồ-đề, Bồ tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng. Vì cớ sao? Nếu Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường.”
Câu này có nhiều tầng triết lý rất sâu xa, tuy nhiên nói giản dị theo cách sống hàng ngày của chúng ta thì câu này có thể hiểu là bố thí mà chẳng cầu gì cả, chẳng để được thấy tên mình trong danh sách (sắc), hay nghe được tên mình (thanh), hay tiếng tăm lừng lẫy của mình (hương), hay để nếm vị vinh quang của mình (vị), hay sờ được tên mình khắc trên bia đá (xúc), hay vì bất kỳ điều gì trong vũ trụ (pháp).
Bố thí với một tâm hoàn toàn rỗng lặng. Ngay cả dùng đạo pháp làm chủ đích của bố thí cũng không. Đoạn 14, Kinh Kim Cang viết: “Nếu Bồ-tát trụ nơi pháp mà làm việc bố thì thì ắt như người vào trong tối không thể thấy. Nếu Bồ-tát tâm không trụ pháp mà hành bố thí thì như người có mắt lại thêm ánh sáng mặt trời chiếu soi, thấy các thứ hình sắc.”
(Ghi chú: Bố thí không vì mình mà vì đạo pháp thì hay lắm rồi, vẫn hơn không. Nhưng bố thí mà vượt qua được cả tầng “vì đạo pháp” này mới là chân ngộ của Bồ tát).
Bố thí tự nhiên như hít thở. Bố thí tự nhiên như khát nước thì uống nước mà chẳng hề suy nghĩ gì. Đó mới là bố thí hạnh của Bồ-tát.
• Đương nhiên là bố thí mà cần cám ơn như Umezu là không nên rồi. Và đương nhiên là một câu cám ơn cũng chẳng tốn công gì mà thiền sư Seisetsu lại không thể nói một tiếng cho vui vẻ cả làng. Nhưng, có lẽ là thiền sư biết tâm tính Umezu và cố tình im lặng để dạy cho Umezu một bài học về Phật pháp.
• Nhưng tại sao thiền sư nói “Người cho nên cám ơn”?
Thưa, vì bố thí là hạnh Bồ tát, mà muốn thực hành hạnh này thì phải có người nhận. Nếu không có người nhận thì không thể làm việc bố thí được. Mang tiền ra vất ngoài sa mạc không phải là bố thí. Cho nên, người cho phải cám ơn người nhận đã tạo cho mình một cơ hội để thực hành hạnh bố thí.
Chú ý, câu đầu tiên thiền sư nói khi Umezu mang tiền vào: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.” Tức là, tôi cho chú cơ hội làm việc bố thí.
• Không nên xem đây là một cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai người, Umezu và thiền sư, xem ai thắng.
Đa số mọi người trong chúng ta đều như Umezu, đều muốn nghe cám ơn khi bố thí–không những cám ơn mà còn phải cám ơn trên radio, TV, báo chí, Internet thì mới hả dạ. Umezu chẳng ai xa lạ hơn là cái tôi của mỗi người chúng ta.
Nhưng điều chúng ta không biết, và thiền sư Seisetsu muốn dạy, là: Người cho phải cám ơn người nhận.
Trần Đình Hoành dịch và bình
.
The Giver Should Be Thankful
While Seisetsu was the master of Engaku in Kamakura he required larger quarters, since those in which he was teaching were overcrowded. Umezu Seibei a merchant of Edo, decided to donate five hundred pieces of gold called ryo toward the construction of a more commodious school. This money he brought to the teacher.
Seisetsu said: “All right. I will take it.”
Umezu gave Seisetsu the sack of gold, but he was dissatisfied with the attitude of the teacher. One might live a whole year on three ryo, and the merchant had not even been thanked for five hundred.
“In that sack are five hundred ryo,” hinted Umezu.
“You told me that before,” replied Seisetsu.
“Even if I am a wealthy merchant, five hundred ryo is a lot of money,” said Umezu.
“Do you want me to thank you for it?” asked Seisetsi.
“You ought to,” replied Umezu.
“Why should I?” inquired Seisetsu. “The giver should be thankful.”
“Quê hương là gì hả mẹ,
Sao mà cô dạy phải yêu?
Quê hương là gì hả mẹ,
Ai đi xa cũng nhớ nhiều?”
Những câu thơ quen thuộc đó trong bài thơ “Quê hương” của nhà thơ Đỗ Trung Quân. Quê hương ta đó thật yên ả, thanh bình…đó là nguồn cảm hứng của biết bao nhà thơ, nhà văn, của biết bao nhạc sĩ. Đã có rất nhều người thành công, và cũng đã có rất nhiều tác phẩm có giá trị. Bên cạnh những giai điệu mượt mà, nhẹ nhàng, giản dị của bài thơ đó, tôi còn bắt gặp những hình ảnh, những giai điệu rất riêng, rất Việt , được thể hiện qua giọng ca mộc mạc, sâu lắng của ca sĩ Thùy Chi, tôi đang muốn nói tới bài hát “Quê tôi” của nhạc sĩ Anh Minh.
Bài hát được mở đầu bằng tiếng sáo diều vi vút của lũ trẻ chăn trâu khi chiều về. Gió lên càng làm diều bay cao, bay xa, và sáo diều lại càng da diết hơn nữa. Đẹp làm sao, thân thương làm sao hình ảnh làng quê Việt. Lời ca cất lên nhẹ dịu như tiếng mẹ, tiếng bà ru à ời năm nao. Ẩn hiện sau những ca từ đó là hình ảnh của mái đình rêu phong, của cây đa cổ thụ nghiêng bóng tuế nguyệt, của cánh đồng mênh mông, dào dạt hương lúa chín ruộm …Quê hương ta đó là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ của biết bao người. Lớn lên từ làng quê, và khi ra đi, họ vẫn mang trong trái tim mình hình ảnh quê hương yêu dấu…mãi mãi, không nhạt phai…
Trong những giây phút bộn bề của cuộc sống này, hãy dành chút thời gian để thưởng thức bài hát đã và đang làm rung động lòng người này, bạn nhé.
Nguyễn Thu Hiền
.
Quê tôi
Quê tôi có cánh diều vi vu, xa sau lũy tre làng
Trưa trưa dưới mái đình rêu phong là bóng mát ngày thơ
Quê tôi có cánh đồng bao la, thắm hương lúa lên đồng
Liêu xiêu mái tranh nghèo đơn sơ, trở về nhé tuổi thơ tôi
ĐK:
Quê tôi sớm tinh mơ, tiếng gà gọi cha vác cuốc ra đồng
Ai đem nắng đong đầy tới vai, cháy những giọt mồ hôi
Quê tôi với con người chân phương, ai xa níu chân về
Quê hương bước ra từ câu thơ, đẹp như lời mẹ ru.