Trong kho tàng âm nhạc dân gian các tộc người Tây Nguyên, dân ca chiếm một vị trí đáng kể. Những năm đất nước còn tạm chia làm hai miền, thông qua những người con Tây Nguyên tập kết ra Bắc, luôn gìn giữ trong tâm hồn mình nỗi đau đáu về một miền quê đầy âm thanh của gió, của rừng đại ngàn, mà dân ca các dân tộc Tây Nguyên được truyền bá và phổ biến rộng rãi . Mỗi dân tộc một tính cách, một chất liệu âm nhạc dân gian khác nhau, độc đáo và phong phú. Chúng tôi không có tham vọng nói hết được về dân ca các dân tộc Tây nguyên,bởi trong kho tàng đồ sộ đó,mỗi dân tộc thiểu số anh em đều có thể tự hào về những nét đặc sắc,độc đáo riêng biệt trong dân ca của dân tộc mình.Dân ca ,như hơi thở của con người,như miếng cơm nướng thơm trong ống nứa trên bếp lửa hồng,bầu nước suối trong mát ngọt lành.Dân ca không chỉ quen thuộc ,mà còn gắn bó hàng ngày với cuộc sống của bà con các dân tộc thiểu số.Điều đặc biệt ở đây là nó nằm trong tâm thức,trong máu thịt của mỗi con người,nên các nghệ nhân không phải chỉ có giọng hát hay,mà còn ứng tác ngay qua những làn điệu có sẵn ấy,những nội dung mới rất có vần có điệu nữa. Các cán bộ thông tin muốn động viên thanh niên đi nghĩa vụ quân sự bằng lời hát ư? Có ngay ! Chị cộng tác viên dân số muốn vận động kế hoạch hóa gia đình ư ? Chờ một chút nhé,xong rồi đấy ! Đoàn kết dân tộc à ? Kêu gọi sản xuất hả ? Được thôi ! Còn đề tài tình yêu thì muôn thuở,lúc nào cũng có thể cất lên say đắm

Rằng : “Em ơi / Ướt váy ta phơi cành cây tang/ Ướt khố ta vắt lên cây Tung/ Ướt người ta cùng sưởi bên lửa hồng/ Xuống suối cùng anh bắt cá/ Lên rừng với em hái rau/ Ta sống bên nhau mãi mãi”. (dân ca Êđê)
Không cần phải yêu cầu,chỉ cần có người muốn nghe,thêm một chút men cho la đà lâng châng nữa,là có thể hát sáng đêm, nhất là hát giao duyên nam
nữ. Và khi đó “say nhau rồi chẳng cần nữa rượu ơi”
Dân ca Tây nguyên là vậy.Những lúc nghỉ ngơi tránh nắng trưa dưới bóng cây knia trên rẫy,những khi ngừng tay cắt lúa trên đồng, đêm trăng sáng gái trai gọi nhau nơi đầu sàn, các lễ cầu cúng Yang diễn ra thường xuyên theo nông lịch..vv..,chính là dịp để tụ họp nhau,và không thể thiếu những lời hát cất lên .
Có thể chia dân ca các dân tộc Tây nguyên ra làm hai thể lọai chính : Loại hát nói (recitativ) và loại hát có nhịp điệu (tempo.
Thể loại hát nối phổ biến nhất chính là phương tiện thể hiện trường ca – sử thi . Người Mnông ở DakLak còn có thể loại hát – kể gia phả bằng văn vần rất độc đáo, mà hầu như dòng họ nào cũng có người thuộc nằm lòng, để tránh sự kết hôn nhầm lẫn giữa những người trong cùng một họ. Trong một lần đi sưu tầm tại xã Nâm Nung, huyện Krông Nô tỉnh Daklak, chúng tôi đã bật máy ghi âm đến 10 phút , chỉ để ghi một trong những gia phả của dòng họ như thế.
Hát nói thường không có nhạc cụ đệm, như một thứ tự sự, nghĩ gì nói đấy, với khách đến thăm, với cha mẹ già héo, với người thân đi về thế giới bên kia , dặn dò con cháu những điều hay lẽ phải, phán xử theo luật tục,bày tỏ niềm vui mừng, nỗi buồn bã với bất cứ sự việc gì diễn ra trong làng buôn, kon, plei, bon . . . hay trong gia đình.
Ngược lại, những bài dân ca có nhịp điệu thường được đệm bằng các loại ting ning, t’rưng, đinh năm . . . rộn ràng.

Nội dung của các bài dân ca rất đa dạng, bất cứ một điều gì trong cuộc sống cũng có mặt trong lời hát. Chỉ cần có một cuộc tụ tập, một chút rượu cho la đà, hoặc đơn giản là có mặt cả hai phiá nam và nữ, là có thể khởi hứng cho ca hát.
a) Dân ca trong lao động sản xuất:
Đại đa số các dân tộc ở Tây nguyên (trừ một số dân cư trú tại những vùng trũng dọc theo các triền sông ĐăkKrông, Sông Ba, sông Ayun Pa, Sông Krông ana . . có canh tác lúa nước một vụ) sản xuất theo phương thức luân canh nương rẫy, chọc lỗ tra hạt và theo tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, thì việc cúng kiến các Yàng để cầu cho mùa màng tươi tốt là điều không thể thiếu. Những bài cầu cúng trong các lễ nghi theo nông lịch, cũng có xuất xứ giai điệu từ dân ca, và là nguồn gốc của thể lọai hát- kể trường ca.
Để cúng thần đất khi lập buôn người chủ làng khấn :
“Tôi dẫn dắt gia đình/Tôi dẫn dắt làng buôn/Cầu thần chớ nói lời giận dữ/ Cầu thần chớ mắng mỏ thân tôi”( Bài cúng Mnông)
Trong lễ cúng hồn luá phải cầu xin :
“Búi rơm cho to tựa tranh lợp nhà /Hỡi hạt thóc to,/Hỡi hạt thóc bé /Nay mau về với ta”( Bài cúng K’Ho)
Đầu mùa sản xuất phải có lễ cầu mưa :
“Buôn đằng Đông mây lui nhanh xuống/Buôn đằng Tây mây cuốn nhanh lên/Ước sao cho được trận mưa to/Ước sao cho được cả mưa rào” (Bài cúng Ê đê )
Đến lúc gieo hạt lại phải cầu xin :
“Này rượu một ché, gà một con/gà Yàng ăn gan, rượu Yang ngậm cần/Yang thêm bông cho lúa, thêm hạt cho kê/Sâu ở gốc rễ hãy bắt sạch trơn/Mọc lên được búp/Đức nên được trái”. (Bài cúng Jrai)
Được muà lớn phải tạ ơn, hiến sinh bằng trâu :
“Tiết trâu đã xoa lên đầu/Cho dân làng sống lâu khỏe mạnh/Cho đầy chòi lúa bắp”.( Bài cúng Sê đăng)
Phổ biến nhất là khi nghỉ ngơi, người ta đều có thể ca hát, giống như các hình thức hát ví, hát lý, hát đố trong lao động sản xuất của người Việt.
b) Dân ca trong cuộc sống đời thường :
Nhiều dân tộc Tây nguyên có hệ thống luật tục bằng văn vần, do những người thông thái trong buôn, plêi nắm giữ. Khi có việc xảy ra ở trong cộng đồng cần có sự phân xử, họ là người đứng ra thay mặt chủ làng “cầm cân nảy mục”. Đây là sự tập hợp những câu răn dạy về phương thức đối nhân xử thế giữa cá nhân với cộng đồng, với thiên nhiên, như lời người già hay cha mẹ Ê đê dạy con cái :
“Con gái (phải) biết rõ thân họ/Con trai biết rõ thân ta/Bò trâu biết ai là chủ”
Đi xúc cá ngưòi Ktu hát :
“Vừa thả lứơi, vừa bơi/cá mắc vào lưới/Trắng như bã mía rơi:
“Ăn” ong trên rừng cũng thành lời ca :
“Ong như lúa vãi/Ong giống rũ nằm cho đông/leo lên tận ổ Ktưng/Lấy cho hết mật rừng, mật cây”.(dân ca Êđê)
Đến cơn ho cũng được hát thành lời :
“Cơn ho khôc khôc/Cơn ho trăng cho/Cơn ho đầy trời/Cơn ho đầu rừng
(Dân ca Mnông)
Nhiều nhất ,hay nhất là những bài hát đố, hát giao duyên, chỉ cần ngồi kề bên nhau, hát lên một câu là có người đối đáp lại ngay. Ngắm người yêu chàng trai Bâhnar ca ngợi.
“Em thắm đẹp như hoa cheng rét/Tóc như suối nguồn êm trôi/Cuối rừng anh nhìn em ngẩn ngơ “
Không lấy được nhau thì họ dám thề thốt :
“Hai ta chết sẽ nằm chung một hòm/Em hoá thành thần chớp sáng/Anh hoá thành thần sét thét vang”.(Dân ca Ê đê)
Trong lễ cưới cũng có sự hát đối đáp giữa nhà trai với nhà gái :
Nhà gái thách thức :
“Hai sừng trâu cong vút đều nhau/Con trâu mộng béo tròn/Nhiều tấm vải sặc sỡ”
Nhà trai đáp :
“Chúng tôi có nhiều cồng chiêng /Có nồi to, nồi nhỏ/Gả con cho chúng tôi/Sẽ trọn đời chung sống”.(dân ca Ca tu)
Nội dung của các bài dân ca của dân tộc Tây nguyên có thể đế cập tới mọi vấn đề liên quan đến đời sống của con người, với rất nhiều làn điệu khác nhau, đặc biệt là thể lọai hát nói. Hát nói cũng chính là một trong những đặc trưng riêng của các dân tộc miền núi Việt Nam, hầu như dân tộc nào cũng có. (Điều này đã chứng minh qua những cuộc “ Liên hoan hát dân ca các dân tộc Việt Nam” do Đài TNVN và Đài THVN tổ chức từ 1998 trải qua đã nhiều năm ), có rất nhiều nội dung và làn điệu. Mà đỉnh cao của hát nói, hát kể chính là thể lọai trường ca.
Trước khi đất nước hoàn toàn giải phóng , đi đến thống nhất, chúng ta vẫn thường biết đến dân ca, dân nhạc Tây nguyên qua thang âm ngũ cung: “Son si #đo mi #pha son“ có những quãng nửa cung rất ấn tượng.
Rất nhiều nhạc phẩm của các tác giả không công tác ở Tây nguyên, nhưng yêu thích âm nhạc Tây nguyên, thường dựa trên thang âm ngũ cung này. Nhưng thực ra, thang âm trên chỉ là đặc trưng âm nhạc của hai dân tộc có khu vực cư trú tương đối đan xen và gần kế với nhau là Jrai và Bana mà thôi. Riêng các tộc người Êđê, Mnông, K’Ho, Mạ …có những thang âm riêng, không có nhiều những quãng nửa cung liền bậc như Jrai và Bânar.
Mỗi một dân tộc thiểu số Tây nguyên , đều có thang âm riêng tiêu biểu cho dân nhạc của mình. Thanh âm #Đô mi #pha sol si chỉ là thang âm thường được dùng nhất trong âm nhạc dân gian Bana và Jrai, chứ không phải là đặc trưng của tất cả dân ca Tây Nguyên .
Linh Nga Niê Kdăm
TĐH: Sau đây mời các bạn thưởng thức một số dân ca Tây Nguyên trên Youtube
Người Ta Cười – Dân ca X’tiêng – Kim Anh
.
Lời Tỏ Tình – Dân ca Jlai – Ksor H’Hoanh & Ksor Thức
.
Em Đẹp Như Hoa Pơ Lang – Dân ca Bơhnar
.
Ma Dieng (Hát Mừng Lứa Đôi) – Dân ca Roglay – Cao Dy
.
Đôi Ta Chung Một Con Đường – Dân ca Xơđang – A Vân
.
Dùng Làng – dân ca Kơ-ho
.
Hat Ayray (Gọi Anh Về) – Dân ca Êđê – Mi Na
.
Tiếng Chim Rô Túk Báo Mùa – Dân ca Chu Ru – Rô Đa Nai Trần
.
Yang Bay Minority Dance
.
Hát Ru – Dân ca Êđê – Hji Na Bya
.
Lời Dặn Dò – Dân ca Êđê – Ami Dhu’k
.
Giai Điệu Bu Roong – Dân ca Tây Nguyên – H’ Plơ
.
Nàng Tiên – Dân ca K’ho – CII K’Mhô
.
Giữ Rẫy Đuổi Chim – Dân ca Bahnar – A Long




Chào các bạn,
Gì nữa nhỉ? Đó là sự tự hào về công ty của họ. Gì nữa nhỉ? Đó là marketing sản phẩm, nâng cao kiến thức cho người tiêu dung. Tạo ra thêm việc làm và thu nhập từ vé vào cửa và dịch vụ giải trí. 🙂
Giữa các màn của cuộc đối thoại, khán giả được mời hát cùng Sing Along với hai diễn viên dẫn chương trình các bài hát trong tờ giấy đính kèm làm không khí rất sinh động vui vẻ. Hai diễn viên hát không cần nhạc đệm nhưng người này dùng giọng hát đệm cho người kia. Ai cũng cảm thây phấn kích, đặc biệt là các bạn trẻ em 🙂
yện cụ thể của hãng Hershey các bạn có thể đọc thêm ở Internet, điều đặc biệt mà sau đó ai cũng nhớ là vì bà Hershey không thể có con, ông bà Hershey đã tạo ra một quỹ từ lợi nhuận của công ty để hỗ trợ tài chính cho một trường học cho các trẻ em mồ côi. Và trường học đó đã giúp đỡ rất nhiều trẻ mồ côi có cơ hội đi học từ đầu thế kỷ 20 tới ngày nay 🙂
Còn người Banar có đàn T’rưng nước. Khác với những loại đàn xử dụng trong nhà, người Banar làm đàn bên bờ suối, lợi dụng sức nước kéo sợi dây buộc những chiếc dùi nhỏ, gõ vào nhiều ống nưá, phát lên tiếng kêu trầm bổng rất vui tai. Người Banar Rngao ở Kon tum cũng có đàn đánh bằng sức nước. gọi tên Ting gling. Cấu tạo cũng như chiếc đàn t’rưng. Trước tiên,người ta chặt nhiều ống nứa dài ngắn khác nhau, treo thẳng đứng ven bờ suối. Những ống to, dài có âm thanh trầm. Những ống ngắn, nhỏ, có âm thanh cao. Có nhiều những thanh gỗ được buộc thành dây chuyền, nối liên hoàn từ một gàu nước buộc nơi dòng chảy xuôi của con suối, đến những ống nứa. Mỗi khi gàu đầy, nghiêng đi, nước đổ xuống, kéo theo sự chuyển động của hệ thống dây chuyền.Những thanh gỗ lập tức cũng chuyển động, gõ vào thân những ống nứa buộc dựng đứng, phát ra tiếng kêu. Lần lượt từ cao đến thấp. Hoặc theo thẩm mỹ thính giác của người nghệ nhân làm nên cây đàn. Khi đã đổ hết nước, chiếc gàu chuyển động trở lại vị trí cũ, cũng lay động những sợi dây. Các dùi gỗ lại đập vào ống nứa. Chiếc gàu cứ liên tục nâng lên, trĩu xuống, đổ đi như thế, tạo ra hàng chuỗi những âm thanh trầm bổng. Ấy chính là T’rưng nước, gõ suốt đêm ngày trên dòng suối.




Chào các bạn,


Đường đi Vĩnh Lộc đất sỏi rộng rãi, có đoạn trải dài một màu đỏ khá tươi. Hai bên đường nhìn tận xa xa những ngọn đồi thấp, phẳng nhấp nhô nối tiếp nhau, thỉnh thoảng xen vào một mặt hồ, một vũng đầm. Gần sát là mía và sắn. Mía xanh mượt lá, sắn cao hơn đầu người. Buổi sáng trời âm u, gió se se khô, thoáng lạnh. Đứng ở Cầu Kiểu nhìn xuống dòng Sông Mã thuyền đậu san sát. Nơi chân trời dãy núi màu lam với những đỉnh nhọn kỳ vĩ.
Cửa Đông cũng chỉ có một cổng và chỉ còn phần vòm cong như Cửa Tây. Có chỗ sườn đất thoai thoải do mặt thành đổ xuống, dưới chân thành một đàn gà con bươi tung tóe mớ rơm mới. Vài cậu bé chăn bò, vài phụ nữ quang gánh…họ chỉ cho tôi đền thờ Bình Khương nương.