Tag Archives: Thơ

Daily English Discussion–Aug. 7, 09–Poem “Regrets”

Hi everyone,
flaringup
Hey, you guys, the talented Daklak Gang, the poets, and the poetry lovers out there, could you do me a personal favor.

Below is a poem entitled “Regrets”, which I wrote in English in 2000 and have edited it three times since.

Sometimes I wanted to translate it into Vietnamese, but every time I tried to start, I backed out. For some reason, I am not too excited about translating my own stuff, although I am more ready with other people’s writings.

So could you kindly translate this poem and make it into a beautiful Vietnamese piece for me to keep.

Thanks a million 🙂

Hoanh

.

Regrets

I regret the days and months we were together

When the sun was bright
the tamarind trees green
and the bomb explosions the city’s routine

When all I wanted was to hold you tight
and place a slight kiss on your lips

When the world was so huge
that life was closer to death than Saigon to Hanoi
or you to me

The fear of the unknown
beyond the first kiss
was larger than my valor
(though I wasn’t at all bothered
by the nightly exploding rockets)

Those days
gray monsoons
red flares
quiet eyes
wet hair

Love rolling in thunders in the heart

And I just wanted to kiss you slightly on the lips

Why didn’t I?

    TDH

Đường thi: Vô Đề, của Lý Thượng Ẩn

landscape

Các bạn thân mến,

Trong một lần giúp anh Ái tìm tác giả của bài thơ “Vô Đề” mình đã vô tình đọc được bài thơ “Tương kiến thời nan biệt diệc nan” của Lý Thượng Ẩn, mặc dù bài thơ này không đúng với bài thơ mà anh Ái cần tìm nhưng mình vẫn check rất nhiều tài liệu về bài thơ, và hôm nay mình xin được phép gửi đến các bạn và các anh chị trong ĐCN phần dịch phân tích về bài thơ này nhé, chúc mọi người một ngày tươi sáng


chinesepainting-woman
Lý Thượng Ẩn là một nhà thơ vào thời cuối của nhà Đường, đương thời ông cùng Đỗ Mục ngang danh. Nhưng, nếu xét về mặt ảnh hưởng đến đời sau thì ông lại vượt trội hơn hẳn Đỗ Mục. Cống hiến lớn nhất của ông trong lịch sử thơ ca, là làm phong phú thêm nghệ thuật thơ trữ tình. Trong thơ của mình, ông thường dùng những từ ngữ thanh tao để cấu tạo nên hình tượng tốt đẹp, gửi gắm những tình cảm sâu đậm và những hàm ý ẩn giấu vào trong thơ, làm cho người đọc cảm nhận được những vẻ đẹp vừa uyển chuyển nhưng lại rất mông lung. Thất ngôn luật tuyệt được coi là loại tác phẩm thể hiện được phong cách đặc sắc này của ông, trong đó các tác phẩm thuộc thể loại “Vô Đề” (đa phần là thất ngôn cận thể) được coi là điển hình. Thể thơ này không phải nhất thời nhất địa mà đa phần viết về tình yêu, vì nội dung của bài hay vì một lý do nào đó không tiện nói ra hoặc khó khăn trong việc chọn chủ đề để đặt cho bài thơ nên tác giả thường gọi là “Vô Đề”. Sau đây mình sẽ giới thiệu với các bạn một tác phẩm”Vô Đề”-“Tương kiến thời nan biệt diệc nan” của Lý Thượng Ẩn nhé:

无题 Vô Đề Vô Đề -(Tương kiến thời nan biệt diệc nan)

相见时难别亦难, Tương kiến thời nan biệt diệc nan,
东风无力百花残。 Đông phong vô lực bách hoa tàn.
春蚕到死丝方尽, Xuân tám đáo tử ti phương tận,
蜡炬成灰泪始干。 Lạp cự thành khôi lệ thủy can.
晓镜但愁云鬓改, Hiểu kính đản sầu vân tấn cải,
夜吟应觉月光寒。 Dạ ngâm ứng giác nguyệt quang hàn.
蓬山此去无多路, Bồng sơn thử khứ vô đa lộ,
青鸟殷勤为探看。 Thanh điểu ân cần vi thám khán.

    (phiên âm-Kiều Tố Uyên)

missing
Khó gặp nhau mà cũng khó xa,
Gió xuân đành để rụng trăm hoa.
Con tằm đến thác tơ còn vướng,
Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa.
Sáng ngắm gương buồn thay mái tuyết,
Đêm ngâm thơ thấy lạnh trăng ngà.
Bồng lai tới đó không xa mấy,
Cậy với chim xanh dọ lối mà.

    (dịch thơ-Khương Hữu Dụng và Tương Như)

Bài thơ này, thông qua lời nói của một người con gái để viết lên tâm trạng khi yêu. Trong đau thương, thống khổ nhưng vẫn luôn thể hiện được tình yêu nóng bỏng, khát vọng, kiên nhẫn… danh giới tình cảm sâu đậm dai dẳng, và rất phong phú.

Hai câu đầu, viết về mối tình trắc trở không có hạnh phúc và tâm trạng trữ tình của người con gái: vì gặp phải những trở ngại lớn, đôi tình nhân đã không còn cơ hội gặp được nhau, nỗi thống khổ vì xa cách làm cho người con gái này khó có thể chịu đựng được. Chữ “别” tức “biệt” trong câu đầu không phải chỉ lời nói chia tay trong hiện tại, mà chỉ sự xa cách trong quá khứ. Hai chữ “ 难”, chữ thứ nhất chỉ cơ hội gặp nhau khó, chữ thứ hai chỉ nỗi thống khổ khó có thể chịu đựng được. Các bậc tiền bối trong thơ đã từng viết “别日何易会日难” tức “Biệt nhật hà dị hội nhật nan” hay “别易会难得” tức “Biệt dị hội nan đắc”…đều nhấn mạnh sự khó khăn trong việc gặp lại, và nỗi khổ khi phải biệt ly.

Nhưng Lý Thượng Ẩn đã tiến xa hơn một bước trong việc bộc bạch: vì “tương kiến thời nan” cho nên “biệt diệc nan”- khó có thể cắt đứt, thống khổ khó có thể chịu đựng. Nhà thơ trong cùng một câu đã sử dụng hai lần từ “nan” tức”khó”, sự xuất hiện của chữ “nan” thứ hai vì trùng lập nên tạo cho người đọc có cảm giác đột ngột, nhưng thông qua đó lại có thể thấy được đây là sự biệt ly không có ngày gặp lại. Trạng thái đau khổ triền miên này người đọc không thể cảm nhân được trong câu “biệt dị hội nan đắc” nhưng trong “tương kiến thời nan biệt diệc nan” thì lại rất rõ.

morning

Cách dùng cảnh vật để phản ánh cảnh ngộ và tình cảm của con người dưới ngòi bút của Lý Thượng Ẩn là rất thường gặp, ta có thể cảm nhận được điều đó ngay trong bài thơ này trong việc phân tích câu thứ hai: Người con gái chữ tình này đã bị tổn thương đến mức vậy, lại đối mặt với cảnh vật vào cuối mùa xuân, tất nhiên càng làm người con gái này đau lòng và khó quên. Vào tiết cuối xuân, gió đông thổi lực không mạnh, trăm hoa tàn lụi, và hương sắc của mùa xuân cũng dần mất theo, sức người trước cảnh vật đó cũng không có cách nào cứu vãn được, lại thêm cảnh ngộ bất hạnh của bản thân và vết thương trong tâm linh, người con gái này cũng trôi theo mùa xuân và lụi tàn giống những bông hoa ngoài kia. Câu “Đông phong vô lực bách hoa tàn”, vừa miêu tả cảnh thiên nhiên, lại vừa phản ánh tâm trạng của người con gái trữ tình này, người vật giao nhau, tâm linh và tự nhiên đã kết hợp với nhau một cách tinh vi.

Bốn câu tiếp theo viết về tình cảm uẩn khúc một cách rõ nét hơn. Chữ “丝” tức “ti” trong câu “Xuân tám đáo tử ti phương tận” có cách đọc giống với chữ “思” tức “tư” nên chữ “ti” ở đây ngụ ý chỉ tương tư. Ý của toàn câu là chỉ sự tưởng nhớ của người con gái đến đối phương, giống như con tằm chỉ khi nào nhả hết tơ đến khi chết mới chịu dừng.

“Lạp cự thành khôi lệ thủy can” là một cách tự ví von bản thân, vì không được hội tụ nên đau khổ, nỗi đau này kéo dài mãi không kết thúc giống như nước mắt của cây nến chỉ đến khi nào nến cháy hết thành tro mới chịu thôi. Tưởng nhớ trong vô tận, mọi thứ trước mắt đều là vô vọng, do đó, người con gái này đã để cho nỗi đau của mình trôi theo dòng đời. Mặc dù biết là vô vọng nhưng người con gái này sống chết vẫn tưởng nhớ đến đối phương, và nguyện dành quãng đời còn lại của mình để yêu người đó.

Do đó trong hai câu này vừa thể hiện nỗi đau và bi thương trong thất vọng, lại vừa thể hiện tình yêu nóng bỏng và lòng kiên nhẫn theo đuổi đến cùng.Theo đuổi ở đây là vô vọng, nhưng trong vô vọng vẫn quyết tâm theo đuổi, do đó theo đuổi ở đây cũng đã được Lý Thượng Ẩn nhuộm màu bi quan. Những tình cảm này hình như tuần hoàn trong vô tận, khó có thể đoán nó sẽ dừng lại ở đâu. Nhà thơ chỉ thông qua hai hình ảnh để so sánh đã diễn tả được trạng thái tâm lý phức tạp của người con gái, qua đó có thể thấy khả năng liên tưởng của nhà thơ phong phú đến mức nào.
moon-chinese
Trong câu năm: “云鬓改” tức “vân tấn cải”, chỉ người con gái bị nỗi đau khổ giày vò nên đêm đến xoay ngang xoay dọc vẫn không ngủ được, đến mức tóc mái cũng rụng, dung mạo tiều tụy. “晓镜”tức “hiểu kính” chỉ sáng sớm dậy soi gương phát hiện tóc bị rụng nên sầu khổ, mà ở đây Lý Thợng Ẩn lại nhấn mạnh là “đản sầu”. Nếu chú ý các bạn sẽ phát hiện Lý Thượng Ẩn đã miêu tả một cách rất sinh động tâm trạng uẩn khúc của người con gái này. Bản thân vì đau khổ mà mất ngủ tiều tụy, sáng dậy vì phát hiện dung mạo tiều tụy mà đau khổ. Đau khổ trong đêm là vì tình yêu mà mình theo đuổi không thực hiện được, đến sáng hôm sau vì tiều tụy mà sầu, vì tình yêu mà hy vọng giữ được nét thanh xuân của mình. Nói tóm lại người con gái này vì tình yêu mà tiều tụy, vì đau khổ mà phiền muộn.

Đến câu thứ sáu “夜吟”tức “dạ ngâm”, người con gái từ bản thân mình đã tưởng tượng ra đối phương cũng đang đau khổ giống mình, đêm đến cũng mất ngủ và thường ngâm thơ để tưởng nhớ đến mình.  Ở đây nhà thơ đã mượn hình ảnh lạnh lẽo của ánh trăng để phản ánh tâm trạng cô đơn, lạnh giá của người con trai. Và từ “应” tức “ứng” trong câu này là một điều ước đoán, lường trước đã được Lý Thượng Ẩn khéo léo đưa vào trong câu thơ để qua đó giúp người đọc hiểu rằng những tâm tư của đối phương đều là do người con gái tưởng tượng ra mà thôi.

Nhưng tại sao nhà thơ lại có ngụ ý như vậy, chẳng phải vì muốn thông qua sự chủ động trong tưởng tượng của người con gái để nói lên người con gái này đã thấu hiểu được hết những suy nghĩ, tâm tư của đối phương đó sao. Càng tưởng tượng cụ thể, nỗi nhớ càng sâu sắc, càng làm cháy lên khát vọng hội ngộ.
blue bird after rain
Vì biết hội ngộ là vô vọng nên người con gái đành phải thông qua sứ giả để thay mình đến thăm đối phương và đây cũng là nội dung của hai câu kết cục . Trong thơ thời Đường thường dùng tiên lữ để ví von với người bạn tình, Thanh Điểu là một nàng tiên, Bồng Sơn là một núi tiên trong thần thoại truyền thuyết, cho nên Lý Thượng Ẩn đã dùng Bồng Sơn tượng trưng cho nơi ở của người con trai, và dùng Thanh Điểu làm sứ giả thay cho người con gái. Lý Thượng Ẩn thông qua việc gửi gắm hy vọng vào sứ giả làm kết cục, chứ không thay đổi cảnh ngộ đau khổ “tương kiến thời nan” của người con gái, và đó là hy vọng trong tuyệt vọng, con đường phía trước vẫn là xa tít mù tắp. Bài thơ đã kết thúc tại đây, nhưng nỗi đau khổ và sự quyết tâm đeo đuổi tình yêu của người con gái đó thì vẫn tiếp tục.

Bài viết này phần phiên âm do mình dịch, còn phần thơ do Khương Hữu Dụng và Tương Như dịch.

Cảm ơn anh Ái nhiều vì đã tìm giúp em  phần dịch thơ nhé.. À nếu các bạn có thể gửi lời dịch thơ thêm nữa cho bài thơ này thì rất hay.

Kiều Tố Uyên

Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc

Chào các bạn,

Dưới đây là bài bài báo nhà thơ Vương Trọng vừa viết về bài thơ Lời Thỉnh Cầu ở Nghĩa Trang Đồng Lộc, mà anh viết năm 1995, khắc lên bia xi-măng năm 2002, mình dịch ra Anh ngữ năm 2005 (biên tập lại năm 2008), và khắc song ngữ lên bia đá tại Nghĩa Trang Đồng Lộc tháng 1 năm 2009.
dongloc
Mình thăm Đồng Lộc tháng 5 năm 1995, trên một chuyến về thăm quê hương cụ Hồ tại Nghệ An, với một số Việt Kiều khác, do anh Nguyễn Ngọc Trân, trưởng Ban Việt Kiều Trung Ương tổ chức. Trên đường anh Trân cho xe ghé vào Đồng Lộc. Lúc đó mình hoàn toàn chẳng biết Đồng Lộc là gì cả.

Ấn tượng đầu tiên của mình là, đó là một vùng rất nghèo khổ, xác xơ, nóng đổ lửa… và nó làm cho mình có cảm giác buồn buồn vì cái nghèo của quê hương và cái khổ của dân quê. Mình vẫn luôn luôn như thế từ hồi 16, 17 tuổi.

Vào đến nơi, thấy mười ngôi mộ xi măng khiêm tốn nằm trên một ngọn đồi với vài bóng cây lưa thưa, giữa một vùng đồng khô cỏ cháy. Rồi từ từ hiểu chuyện, nhìn hố bom nơi các cô hy sinh, nhận biết rằmg các cô này cở tuổi mình hay có người chỉ sinh trước một hai năm, nhưng cuộc đời có quá nhiều khác biệt… làm cho mình thật là nhức nhối. Lúc đó mình “try to be connected” với các cô bằng cách nhờ anh Trân chụp một tấm ảnh mình ngồi bên cạnh một ngôi mộ. Tấm ảnh này có đăng trong báo Quê Hương (của Ban VKTW) sau chuyến đi đó.

Vì các cô trẻ mãi không già, cho nên mình luôn luôn có cảm tưởng các cô này là những người em gái bất hạnh của mình. Vì vậy, mình không quên các cô được những tháng năm sau đó. Hơn 10 năm sau, khi đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm lần đầu, ý tưởng đầu tiên đến trong đầu mình là 10 cô gái Đồng Lộc.

Đến năm 2005, 10 năm sau khi anh Vương Trọng viết bài thơ và 3 năm sau khi nó được khắc vào bia xi măng, chị Diệu Ánh (admin của VNBIZ forum) trong một chuyến du hành trên quốc lộ Trường Sơn, ghé qua Đồng Lộc, thấy bài thơ, chụp và gởi cho mình. Mình dịch ngay ra tiếng Anh và post trên VNBIZ. Đây là bài thơ duy nhất mà mình ứa nước mắt rất nhiều lần trong khi dịch.

Đến đầu năm 2008 chị Diệu Ánh gặp chị Minh Lý, phóng viên Hà Tĩnh nhưng hiện sống ở Vũng Tàu, chị Minh Lý biết anh Vương Trọng. Thế là mình chỉnh sửa lại bài thơ một tí nữa rồi nhờ chị Diệu Ánh và Minh Lý chuyển đến anh Vương Trọng. Anh Vương Trọng nói chuyện với anh Thế Ban, sở Văn Hóa Thể Thao Hà Tĩnh. Sở quyết định khắc cả bài nguyên thủy lẫn bài dịch vào bia đá, thay bia xi măng đã hao mòn quá nhiều. Tháng giêng 2009, bia đá hoàn thành.

Mình đã viết một bài hồi tháng ba năm nay (2009) về bài thơ này để chia sẻ với các bạn. Hôm nay chúng ta nghe câu chuyện từ phía anh Vương Trọng. Bài này của anh Vương Trọng đã đăng trên Văn Nghệ Công An ngày 20 tháng 7 năm 2009.

Cám ơn anh Vương Trọng. Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

.

Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc

    Vương Trọng
Vương Trọng
Vương Trọng

Từ khi Ngã ba Đồng Lộc trở thành khu di tích lịch sử của Thanh niên xung phong cả nước, khách tìm đến nơi này mỗi ngày một đông, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên. Có người nói rằng, chỉ cần đến nơi này một lần, bài học về giáo dục truyền thống tự nhiên thấm vào người, và lớp trẻ có điều kiện để nhận thức được cái giá của độc lập, tự do.

Gần đây có nhiều bạn trẻ sau khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, ra Hà Nội có tìm gặp tôi để trò chuyện. Có người tôi quen biết từ trước, nhưng cũng có kẻ tôi mới được gặp lần đầu. Nguyên nhân là vì một bài thơ của tôi đã được khắc đá và dựng lên ở nghĩa trang này. Hơn nữa, bài thơ đó lại được dịch ra tiếng Anh, khắc trên tấm bia đá cao 2,5 mét, rộng 1 mét, mặt này là bài thơ Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc của tôi, mặt kia là bản dịch của ông Trần Đình Hoành, một Việt kiều ở Mỹ. Bởi vậy tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn đọc về chuyện này.

Đài tưởng niệm Đồng Lộc
Đài tưởng niệm Đồng Lộc

Mùa hè năm 1995, lần đầu tôi đến thăm nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Mặc dù mười cô gái đã hy sinh trước đó 27 năm trời, thế nhưng khi đứng lặng trước hố bom đã giết các cô, khi thắp hương lần lượt cắm lên mười nấm mộ, cũng như khi chứng kiến những kỷ vật các cô để lại…, tôi tự nhủ phải viết một cái gì đấy để giải tỏa nỗi xúc động. Bút ký, tuỳ bút cũng có thể chuyển tải được cảm xúc này, nhưng vì trong đoàn còn có nhà văn Xuân Thiều, nhà văn Nam Hà, nên tôi nghĩ nên “nhường” văn xuôi cho hai vị cao niên này. Bởi thế trước mắt tôi chỉ còn một cửa hẹp là thơ.

Nhưng thơ về Đồng Lộc cũng không phải dễ, vì trước đó đã có nhiều người viết rồi, có bài khá nổi tiếng như của nhà thơ Huy Cận. Thế thì mình phải viết thế nào để không bị chìm lấp bởi những bài đã có. Sự hy sinh cùng một lúc của mười cô gái trẻ khi đang san lấp hố bom làm mọi người cảm động, nên khi nào trên mười ngôi mộ cũng có thật nhiều hương khói. Khi cắm những nén hương đang cháy lên mộ các cô, tôi tự hỏi, nếu mười cô gái hiển linh, họ sẽ nghĩ thế nào?

Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)
Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)

Qua tài liệu thu thập được, tôi biết số người hy sinh ở ngã ba này thật nhiều, riêng Trung đoàn phòng không 210 đã có 112 liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ mảnh đất này. Thế mà họ không có bia mộ để thắp hương, bởi thịt xương họ đã hoà trộn vào đất. Thế là cái ý tưởng dùng lời mười cô gái trò chuyện với các đoàn khách thăm viếng được nẩy sinh, và tôi thấy thuận lợi khi muốn chở ý tưởng: mọi chính sách, chế độ đối với những người đã hy sinh, nghĩ cho cùng là vì những người đang sống. Bởi vậy, xây dựng cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc cũng là một cách thể hiện sự biết ơn đối với các liệt sỹ đã hy sinh.

Bài thơ có bốn khổ thì ba khổ đầu là lời mười liệt sĩ nhắc người đến nghĩa trang nên nhớ thắp hương cho những liệt sĩ mà thân xác đã tan trong đất, khuyên các em nhỏ nên trồng cây, các bạn cùng trang lứa cố gắng sản xuất. Còn các cô chỉ ước có vài cây bồ kết…
ngabaDong Loc
Bài thơ tôi viết và in lần đầu vào năm 1995, đến năm 1998 lại xuất hiện trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc. Điều đáng nói là tập thơ này đã đến tay anh Nguyễn Tiến Tuẫn, là một trong ba anh hùng ở Đồng Lộc, thời mà mười cô gái hy sinh, anh đang phụ trách đơn vị Cảnh sát giao thông ở trọng điểm ác liệt này. Anh bảo rằng, anh bị bài thơ ám ảnh, và tự đặt cho mình phải làm một việc gì đó để giải toả sự ám ảnh này. Việc anh làm là lên huyện Hương Sơn tìm hai cây bồ kết con để đáp ứng lời thỉnh cầu của mười cô gái: ” Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang”. Hai cây bồ kết anh trồng rất cẩn thận, hố đào to, phân tro nhiều nên tốt rất nhanh.

Bốn năm sau, năm 2002 thì hai cây bồ kết đã cao tới ba, bốn thước; cây lớn vào mùa thu đã nở hoa. Một lần trở lại thăm nghĩa trang đúng lúc gặp một đoàn khách, biết anh là người đã trồng hai cây bồ kết này, mọi người rất cảm phục và hỏi anh từ ý nghĩ nào mà làm được việc hết sức độc đáo và tuyệt vời này? Anh trả lời là từ cảm xúc một bài thơ, thế là họ hỏi anh có nhớ bài thơ đó không. Anh nói rằng bài thơ đó anh đã thuộc, nhưng không quen đọc thơ trước đám đông, anh hứa với họ là nếu lần sau quay lại thì thế nào cũng được đọc bài thơ đó ở đây. Mọi người nghe, kể cả người giới thiệu khu di tích, ai cũng nghĩ anh nói thế cho qua chuyện, ai ngờ anh bắt đầu ý định khắc bài thơ ấy lên đá. Điều trước tiên là phải liên hệ với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, đơn vị phụ trách khu di tích này. Nghe anh trình bày ý định khắc đá bài thơ đó, mọi người tán thành và coi đây là một việc làm văn hoá. Thế là chiều ngày 14 tháng 8 năm 2002, bia đá cỡ 80cm . 40cm với bài thơ 25 câu chia thành bốn khổ, được khắc sâu và tô màu sơn vàng rất dễ đọc đã dựng lên cạnh hai cây bồ kết bên nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc.

10 Mộ
10 Mộ

Mấy năm năm nay, nhiều tờ báo đã đăng bài về chuyện này, và có nhiều bài đã gây xúc động người đọc. Ông Trịnh Xuân Tòng là cán bộ giảng dạy trường đại học Cần Thơ, đã nghỉ hưu; sau khi đọc bài báo của Ngô Vĩnh Bình nói về chuyện bài thơ và hai cây bồ kết, ông đã bỏ công mấy tuần liền để vẽ một bức tranh cỡ lớn với nhan đề : Múa dưới trăng, nỗi vui mừng khi có cây bồ kết . Trong bức tranh, ông đã vẽ mười cô gái liệt sĩ ở ngã ba Đồng Lộc, khi trăng lên đã cùng nhau nhảy múa, năm cô leo lên cây, năm cô múa trên đất. Trong bức tranh lớn đó, ông trích bốn câu thơ làm đề từ:

Ngày bom vùi, tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết…

Đặc biệt hơn, ông còn viết một bức thư cảm động Gửi mười em gái ngã ba Đồng Lộc. Bức tranh và bức thư này, báo QĐND đã giới thiệu trong số đặc biệt ra ngày 22- 12- 2002.

Gần đây tôi có dịp trở lại Đồng Lộc. Khác hẳn với quang cảnh tôi đã chứng kiến năm 1995, bây giờ ở khu di tích Đồng Lộc, đường sá rộng rãi, nhà cửa xây dựng khang trang, và đặc biệt cây cối quanh vùng tươi xanh như một vùng du lịch sinh thái. Không còn những vạt “cỏ may khâu nặng ống quần” khách đến thăm, không còn đồi Trọ Voi trọc lóc, lở lói. Nhiều cảnh tôi nhắc đến trong bài thơ đã lạc hậu so với bây giờ.

10 Cô
10 Cô

Đồng chí giới thiệu khu di tích hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thắp hương trên từng nấm mộ và đốt những quả bồ kết khô. Mấy năm nay, nhiều đoàn khách đến thăm khu di tích này thường đem theo những chùm quả bồ kết khô để đốt sau khi thắp nhang. Người đầu tiên đốt bồ kết ở đây là nhà văn Nguyễn Thế Tường, quê Quảng Bình, công tác tại Tuần báo Văn nghệ. Tháng 10 năm 2002, anh Tường gặp tôi ở Tuần báo Văn nghệ, khi anh sắp vào nghĩa trang Đồng Lộc, anh hỏi tôi có nhắn gì không. Tôi nói rằng, hai cây bồ kết mới ra hoa nhưng chưa có quả, tôi muốn nhờ anh mua hộ tôi một chùm bồ kết, vào đó đốt để viếng mười cô gái. Anh đã làm thế, và ngạc nhiên, khi vừa đốt mấy quả bồ kết thì bát hương lớn bỗng hoá, cháy bùng lên, làm mọi người ngạc nhiên và anh gọi điện cho tôi ngay. Ngẫu nhiên hay tâm linh? Anh bảo rằng mọi người có mặt hôm đó, kể cả những người quản lý khu di tích, không ai nghĩ là ngẫu nhiên.

Tôi tới bia đá khắc bài thơ của mình thì thấy có nhiều em sinh viên đang xúm xuýt mở sổ chép thơ. Biết tôi là tác giả, nhiều em xin chụp ảnh lưu niệm và hỏi chuyện quanh bài thơ. Bằng vi tính, nét chữ khắc đẹp, chỉ tiếc cắt khổ phần đầu không thật chính xác, vì bài thơ của tôi gồm bốn khổ, khổ đầu sáu câu chứ không phải bốn câu như đã khắc.

Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm
Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm

Sau đó không lâu, trong đoàn Việt kiều Mỹ về nước đến viếng nghĩa trang Đồng Lộc, có ông Trần Đình Hoành, một luật sư nhưng ham mê văn học, người đã từng dịch nhiều bài thơ của các nhà thơ Việt Nam ra tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ. Ông xúc động khi đọc bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” và muốn truyền sự xúc động đó cho du khách nước ngoài nên đã dịch bài thơ này. Giám đốc sở Văn hoá và Du lịch Hà Tĩnh là nhà văn Đức Ban, người rất hiểu tác dụng của thơ văn vào cuộc sống, đã cho bài thơ và bản dịch đó hiển hiện lên bia đá như các bạn đã thấy vào sáng 17 tháng giêng năm 2009.

Nhân đây tôi chép lại bản tiếng Việt và tiếng Anh đã khắc trên hai mặt bia đó.

Ô. Trương Tấn Sang, ủy viên Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá
Ô. Trương Tấn Sang, Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá

Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc

– Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa hãy dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.

– Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa
Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ
Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá
Thương các chị lắm phải không, thì hãy quay về
Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống
Các chị nằm còn khát bóng cây che.

– Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào
Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc
Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc
Về bón chăm cho lúa được mùa hơn
Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo
Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.

– Cần gì ư ? Lời ai hỏi trong chiều
Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.

Đồng Lộc, 5 – 7- 1995
Vương Trọng

.

Học sinh trường THCS Đồng Lộc
Học sinh trường THCS Đồng Lộc

A Request at Dong Loc Cemetery

That’s enough for ten bowls
The rest of incense, let’s save for others
We’re not the sole fallen ones
So much blood and bone was spent for Dong Loc
Memories, let’s spread evenly
Like grass in the valley, sunlight on the hill.

Look! Tongue-grass buds cling to the pants!
O you red-scarfed children standing straight by the tombs
You love us so much, don’t you?
Then, go home, find little plants
Plant them on Tro Voi Hill and on these bare lands
We’re so thirsty longing for some tree shades!

Twenty-seven years have passed, we haven’t grown a day
Three times changing bed, we’re now back in Dong Loc
Friends, if you love us, don’t cry!
Go back and tend the rice for better harvest
The last meal we ten had no rice
Just a handful of cassava, then out with hoes we went.

Our needs? One afternoon someone has asked
We’re not yet married and haven’t got a chance to love
When the bomb buried us all, our hair was enmeshed in dust
Lying here in these tombs, we haven’t got a chance to wash our hair
We ask that on the parched ground of this cemetery
Someone would grow some carob trees
That spread fragrance evenly in the ethereal incense smoke…

Dong Loc July 5, 1995
VUONG TRONG
Translated by TRAN DINH HOANH
( A Vietnamese Resident in The USA)

Hẹn chiêm bao

Chào các bạn,

Trân Sa, hiện đang ở Canada, là thi sĩ mình rất ái mộ. Chị sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, khu xóm mới, cũng cùng khu với và nhà bà thím mà mình ở trọ năm lớp 7 tại Trung Học Võ Tánh (ngày nay là Lý Tự Trọng).
tran-sa
Bài thơ này, mình đã phổ nhạc nhiều năm về trước (hình như khoảng 1992, và trong thập niên 90s mình hay đàn cho Phượng hát trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng). Mình dịch bài này ra tiếng Anh lần đầu năm 2000. Hôm nay lấy ra, mài dũa thêm một tí trước khi post.

Bài này có lẽ Trân Sa viết trong thập niên 80s hay đầu thập niên 90s, lúc liên hệ với Việt Nam còn chưa tốt, và các giấc mơ là những chuyến về thăm nhà thường xuyên cho mỗi người (dĩ nhiên là kể cả mình).

Chia sẻ cùng các bạn.

Hoành

.
nhahoang
Rendezvous In Dream

In dream I rush back
No one is left
In the yard of the ancient vows
The moon etches my lone shadow

Not even a goodbye
Life’s too short for waiting
Turbulent times have taken all
Leaving me with a color-turning leaf

The past returns not
Autumn weighs down on the shoulders
All around is wild grass
For what is a shoe mark left?

In dream I miss the rendezvous
Waking up—sunlight has whitened the sky
On the pillow, the teardrop has just dried
Looking out… a sole piece of cloud flows
Looking out… yes, a sole piece of cloud flows

Translated by TDH

.
moonlight
Hẹn chiêm bao

Chiêm bao tất tả tôi về
Thấy không còn ai ở đó
Mảnh sân xưa đã hẹn thề
Trăng tôi còn in một bóng

Không cả vài lời chia biệt
Đời quá ngắn để chờ nhau
Ly loạn dành phần tất cả
Chừa tôi chiếc lá thay màu

Dĩ vãng không còn trở lại
Mùa thu nặng xuống hai vai
Bốn bề hoang tàn cỏ dại
Làm chi còn một dấu hài

Chiêm bao tôi đành lỗi hẹn
Tĩnh ra nắng trắng khung trời
Giọt lệ vừa khô trên gối
Nhìn ra một chiếc mây trôi
Nhìn ra… ừ, chiếc mây trôi

    Trân Sa

Đường thi

Văn học thời Đường được coi là đỉnh cao của nền văn học Trung Quốc. Đặc biệt thơ ca cổ điển trong giai đoạn này phát triển đến mức tột đỉnh, và được coi là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Trong lịch sử hơn 300 năm của nhà Đường, đã có hơn 48900 tác phẩm thơ ca được viết và lưu truyền đến tận ngày nay. Một lượng lớn các tác phẩm đó cũng đã làm hơn 2300 thi nhân được ghi danh trong sử sách. Ý tưởng được gửi gắm vào trong thơ của Đường thơ chủ yếu là kết hợp chủ nghĩa thực tiễn và chủ nghĩa lãng mạn, về hình thức có các dạng:

Thơ Lý Bạch trên quạt
Thơ Lý Bạch trên quạt

– Thất ngôn bát cú (tức bài thơ có tám câu, mỗi câu bảy chữ).

– Thất ngôn tứ tuyệt (tức bài thơ có bốn câu, mỗi câu bảy chữ, thực chất là một bài “thất ngôn bát cú” đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối tạo thành),

– Ngũ ngôn tứ tuyệt (tức bài thơ có bốn câu, mỗi câu năm chữ, được biến thể từ bài thất ngôn tứ tuyệt: bỏ đi hai chữ đầu ở mỗi câu),

– Ngũ ngôn bát cú (tức bài thơ có tám câu, mỗi câu năm chữ, được biến thể từ bài thất ngôn bát cú: bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu mà thành).

Trong đó thất ngôn bát cú được coi là dạng thơ chuẩn, và các dạng còn lại được coi là thơ biến thể.

Các thi nhân nổi tiếng vào thời Đường chủ yếu là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Lý Hạ, Đỗ Mục…. Do chịu ảnh hưởng của các luồng tư tưởng khác nhau (Nho giáo, Đạo giáo, hay Phật giáo), do đó phong cách Làm thơ của các nhà thơ đời Đường cũng rất khác nhau. Thơ của Lý Bạch thì mang phong cách phóng túng, còn Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị thì lại theo khuynh hướng hiện thực kết hợp với trữ tình nhiều hơn.

Thơ Đường súc tích, đa dạng, phong phú, không chỉ nói lên được tâm tình, khát vọng của bản thân mà còn vẽ lên được những thực hiện đời sống lúc bấy giờ.

Lý Bạch
Lý Bạch

Lý Bạch

Theo sử sách ghi lại thì Lý Bạch là hậu duệ của tướng quân Lý Quảng (thời nhà Hán), sinh năm 701 tại Lũng Tây trong một gia đình khá giả, ngay từ nhỏ ông đã cùng cha của mình đi ngao du khắp nơi, được chứng kiến cuộc sống vất vả của người dân nghèo, vì thế trong ông hình thành tư tưởng không thích trốn quan trường và đến năm 16 tuổi ông đã chọn cuộc sống ẩn trên núi Đái Thiên.

Được 2 năm ông lại xuống núi và bắt đầu cuộc hành trình viễn du của mình dòng giã suốt 3 năm trời, khi đến Vân Mông ông đã cưới cháu gái của Hứa tướng, và cũng từ đó tiếng tăm thơ ca của ông đã vang rộng khắp nơi.

Đến năm 745 ông được người bạn thơ tiến cử vào cung để làm thơ hầu vua, nhưng được một thời gian do cách sống say xỉn, phóng túng ham chơi của mình ông đã bị mọi người trong triều ghét bỏ và thường nói xấu sau lưng, thấy vậy ông đã tự nguyện rời cung và tiếp tục cuộc sống ngao du đây đó khắp nơi.

Khoảng chừng 10 năm, sau đó ông lại về núi Lư ở ẩn. Được một thời gian ông lại về phủ của Vương Lân sống, do Vương Lân làm phản nên Lý Bạch cũng bị liên lụy và bị băt theo, ông đã bị đi đày khắp các vùng Động Đình, Tam Giác…sau đó được tha và đến năm 762 do tuổi già, sức yếu ông đã qua đời tại Đang Đồ.

Lý Bạch được người đời đặt danh là “诗仙” tức “Thi Tiên”. Ông là một người phóng khoáng, sôi nổi, nhiệt tình, tài hoa nhưng lại có phần gàn dở. Thơ ca của ông khí phách hào hùng nhưng lại rất phóng khoáng, ông thích dùng những từ ngữ sôi nổi để ca tụng phong cảnh núi non hùng vĩ của tổ quốc. Hiện các tác phẩm thơ ca của ông còn được lưu giữ khoảng hơn 990 bài, trong đó bài (Sắp mời rượu), (Hành lộ nan), (Tĩnh dạ tứ)…là những bài thơ tiêu biểu của ông và được mọi người truyền tụng.

Mời các bạn thưởng thức bài Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch:

    Tĩnh dạ tứ

    Đầu giường rọi ánh trăng soi,
    Làm ta cứ ngỡ như là màn sương.
    Ngẩng đầu trăng sáng như gương,
    Cúi đầu sao nhớ quê hương ngàn trùng.
    .

      (Bản dịch của Nguyễn Dương)

Đỗ Phủ
Đỗ Phủ

Đỗ Phủ

Cùng với Lý Bạch và Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ cũng là một trong những nhà thơ vĩ đại của Trung Quốc vào thời Đường. Ông được người đời mệnh danh là “诗圣” tức “Thư thánh”. Ông sinh năm 712 mất năm 770, xuất thân trong một gia đình quý tộc nhưng đã sa sút. Là một người ham học, có trí làm quan nên ông đã nhiều lần tới kinh đô để dự thi, nhưng đều không đỗ. Đến năm 755 Loạn An Lộc Sơn xảy ra khiến cho cuộc sống của ông phiêu bạt khắp nơi.

Ông đã tận mắt chứng kiến cảnh chết chóc, nạn đói và những ngược đãi bất công của xã hội, do đó trong thơ của ông luôn thể hiện những đồng cảm về cuộc sống thống khổ của người dân và phản ánh những hiên thực bất công của xã hội lúc bấy giờ. Thơ của ông vào thời đó không được đánh giá cao lắm nhưng đến thế kỷ thứ 9 thì thơ của ông dần dần được chú ý và đến thế kỷ thứ 11 thì lên tới mức cực điểm. Hiện các tác phẩm của ông còn được lưu giữ khoảng hơn 1400 bài, trong đó tiêu biểu là các bài (Binh xa hành), (Xuân vọng), (Tam biệt), (Tam lại)…

Mời các bạn thưởng thức bài Xuân vọng của Đỗ PHủ:

Đổ Phủ

    Xuân Vọng

    Nước tàn sông núi còn đây;
    Thanh xuân cây cỏ mọc đầy khắp nơi.
    Cảm thời hoa cũng lệ rơi;
    Chim kia cũng sợ hận người lìa tan.
    Lửa phong ba tháng lan tràn;
    Thư nhà đưa đến muôn vàng chắt chiu
    Xoa đầu tóc bạc ngắn nhiều,
    So le lởm chởm khó điều cài trâm.
    .

      (Bản dịch của Trần Trọng San)

Chúc các bạn một ngày mới vui vẻ nhé.

Kiều Tố Uyên
DHS, Hồ Nam, Trung Quốc

Tứ Tuyệt và Em

1. Em như nốt nhạc rời thả rớt giữa đời tôi
Nên có những đêm khuya chợt giật mình thảng thốt
Ôm riêng giấc mơ hoa mà nghe hồn xa xót
Bản tình ca không tên âm ỉ, u hoài.
angel-

2 Em mang linh hồn hoang dại
Tình yêu cấu thành từ gai gốc rừng sâu
Ta bươn bả một đời nay nhìn lại
Nhận biết tim mình chằng chịt những đường khâu.

3 Là thượng đế, là thánh thần, là tạo hóa
Anh có một Chúa và có nhiều tên gọi khác nhau
Anh có niềm đau
Em! Một tên gọi, thế thôi, và chỉ thế!

4 Đừng cường điệu tình yêu
Đừng gọi em là thiên thần, là đức mẹ
Với anh em hoài hoài là đứa trẻ
Lầm lạc hoài đến chẳng hiểu lòng anh!

5 Tất cả chân thành anh gửi về em
Nên với mọi cuộc tình anh là thằng lừa dối
Ngày phán xét anh hoàn toàn vô tội
Chúa biết con tim chỉ thật có một lần!

Nguyễn Tấn Ái

Dạ khúc

serenade2
Chào các bạn,

Bài thơ Dạ Khúc của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường rất đẹp và lãng mạn. Mình đã dịch ra tiếng Anh vài năm về trước. Hôm nay post ở đây để chia sẻ với các bạn. Và trong khi đọc, mời các bạn nghe Andre Rieu trình tấu violin với piano phụ họa, bản Dạ Khúc của Erico Tocelli (mà chị Loan Subaru đã giới thiệu trước đây).

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành.

.

Serenade

serenade3
Was there an evening like that evening
On hot sands I dragged back
Long way, thirsty lips blistered
You came gently as the rain

Was there an evening like that evening
Love filled the heart
You came bringing your whole Spring
As bright and warm as flowering

Was there an evening you stopped playing
And gave me the burning kiss
The pain started since
As sweet as fresh grapes

Was there a dream-besieged evening
Your brows curved pouting
On the pillow you loosed sadness
Tangled like blue silk strands

Was there an evening now still living
The moon shone eternity
You vowed an offering
Of your whole life to me

Is there an evening like this evening
My room drowned in darkness
Silent am I a shadow
The flower withers, and you don’t know.

    Translated by TDH

.


.


Dạ khúc

Serenity
Có buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có buổi chiều nào như chiều qua
Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến
Thăm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi
Cho tôi chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy
Ngọt ngào như trái nho tươi

Có buổi chiều nao mộng mị vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi
Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến
Cho anh trọn một đời ngựời

Có buổi chiều nào như chiều nay
Căn phòng anh bóng tối giăng đầy
Anh lặng thầm như là cái bóng
Hoa tàn một mình em không hay

    Hoàng Phủ Ngọc Tường
    100 Bài Thơ Tình Chọn Lọc, tr. 175
    Nhà XBGD, Hà Nội, 1994

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Tôi yêu, do đó tôi hiện hữu

Kathleen Raine
Kathleen Raine

Chào các bạn,

“Amo Ergo Sum” nghĩa là “tôi yêu, do đó tôi hiện hữu.” Đây là một câu nói có lẽ phát sinh từ câu nói bất hủ của Descartes, 31.3.1596 – 11.2.1650), cha đẻ của triết học tây phương hiện đại: “Cogito ergo sum” — tôi suy tư, do đó tôi hiện hữu.

“Amo Ergo Sum” nằm trong tập thơ “The Year One 1952” của Kathleen Jessie Raine (14.6.1908-6.7.2003), nữ thi sĩ Anh quốc, người được phong hàm danh dự “Commander of the British Empire” (một người chỉ huy của vương quốc Anh) năm 2000.

Chúc các bạn một ngày yêu nhiều !!

Hiển 🙂

.
Green Field
Tôi yêu, do đó tôi hiện hữu

Bởi tôi yêu
Mặt trời rót tia nắng vàng sống động
Rót vàng và bạc xuống biển.

Bởi tôi yêu
Trái đất trên trục sao
Nhảy múa ngất ngây

Bởi tôi yêu
Mây đi trên gió suốt những bầu trời rộng
Những bầu trời rộng đẹp, xanh sâu

Bởi tôi yêu
Gió thổi những cánh buồm trắng
Gió thổi qua những cánh hoa, gió thổi ngọt ngào

Bởi tôi yêu
Dương xỉ thành xanh, làm xanh cỏ, và xanh
Hàng cây trong suốt ánh mặt trời

Bởi tôi yêu
Chiền chiện vút cao từ đồng cỏ
Và tán lá tràn đầy tiếng chim ca

Bởi tôi yêu
Không khí mùa hè chập chùng với muôn ngàn cánh
Ngàn đôi mắt châu rực cháy trong ánh sáng

Bởi tôi yêu
Những vỏ sò muôn sắc trên cát
Mang hình hài đẹp và phức tạp như tư tưởng

Bởi tôi yêu
Có một lối đi vô hình ngang qua tầng trời
Chim bay lối đó, mặt trời và mặt trăng
Và tất cả các vì sao đi lối đó ban đêm

Bởi tôi yêu
Có con sông chảy suốt đêm trường

Bởi tôi yêu
Suốt đêm dòng sông chảy vào giấc ngủ tôi
Hàng vạn sinh linh ngủ trong vòng tay tôi
Và ngủ gật, và trôi chảy được nghỉ ngơi.

(Nguyễn Minh Hiển dịch)

.
Autumn Fields
Amo Ergo Sum

Because I love
The sun pours out its rays of living gold
Pours out its gold and silver on the sea.

Because I love
The earth upon her astral spindle winds
Her ecstasy-producing dance.

Because I love
Clouds travel on the winds through wide skies,
Skies wide and beautiful, blue and deep.

Because I love
Wind blows white sails,
The wind blows over flowers, the sweet wind blows.

Because I love
The ferns grow green, and green the grass, and green
The transparent sunlit trees.

Because I love
Larks rise up from the grass
And all the leaves are full of singing birds.

Because I love
The summer air quivers with a thousand wings,
Myriads of jewelled eyes burn in the light.

Because I love
The iridescent shells upon the sand
Takes forms as fine and intricate as thought.

Because I love
There is an invisible way across the sky,
Birds travel by that way, the sun and moon
And all the stars travel that path by night.

Because I love
There is a river flowing all night long.

Because I love
All night the river flows into my sleep,
Ten thousand living things are sleeping in my arms,
And sleeping wake, and flowing are at rest.

Kathleen Raine:
“Amo Ergo Sum”
The Year One (1952)

Hạ

Chieu nangvang.
Về ngang An Việt
chiều nghiêng nắng vàng
chừng như nuối tiếc
một thời chân hoang

Bờ tre lộng gió
tơi bời lá khô
em mang niềm nhớ
đi tìm hư vô

Em mang miền nhớ
đi tìm thiên thu
ta thành cơ nhỡ
rượu say khật khù

Nhớ lam chân núi
thương mờ đường quê
chiều ba mươi lẻ
dật dờ chân đi

aodai186
Bạn bè dăm bảy
chừ quên lối về
chén vàng nâng lẻ
cụng vào chân mây

Em mang nhan sắc
bán rao chợ đời
cuối mùa trinh trắng
chẳng còn đôi mươi

Em mang dấu ái
bán rao lọc lừa
ơi người tình lữ
đâu rồi mùa xưa

Ta chừ cô lẻ
mơ mùa xa xưa
nghêu ngao câu hát
cung thiếu cung thừa

Còn chăng ước cũ
còn chăng tuổi vàng
trang đời trống toát
chẳng đành lật sang

Về ngang An Việt
lòng như nắng vàng
ngày như lửa thắp
lênh loang chiều hoang.

Nguyễn Tấn Ái

Huế

Hue kinh thanh

 

Huế

Cố đô này

nơi vua chúa và các công nương
đã dõi mắt vượt núi non và biển cả
tìm bến đỗ cho đàn chim di Lạc

nơi em đã hát cho tôi
lời thì thầm của mẹ trên dòng Hương
ngày mẹ được tin con chết trên chiến trường

nơi linh hồn của bao vua chúa và chiến sĩ
vẫn lay động những đoá sen trong hào thành tĩnh lặng

đã bao lần
bị xé rách, đập tan và nghiến nát

để mỗi khi nhìn vào mắt em
dù trời có xanh, trong, và sáng
tôi vẫn chỉ thấy một cánh cò trắng bay giữa hoàng hôn

    (Chuyển ngữ từ Anh ngữ)

 

Hue

This imperial city

where kings and princesses
looked past mountains and seas
searching for a landing patch for the migratory Lac flock

where you have sung for me
the murmurs of a mother on the Huong river
the day she got word of her son’s death on the battlefield

where the souls of kings and warriors
still vibrate the lotus flowers on the tranquil moat

has been torn and beaten and crushed
time and time again

so that when I look at you in the eyes
though the sky may be blue and bright and transparent
I only see a white stork flying in the sunset.

    TDH, Washington DC, Nov. 5, 1999

Nhạn ảnh (thiền thi)

wildgeese
Nhạn ảnh

Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm

Thiền sư Hương Hải (1627-1715)

.

Nhạn và Bóng

Nhạn vút qua không
Bóng chìm nước lạnh
Để dấu: nhạn không có ý
Giữ bóng: nước cũng vô tâm

Võ Đình (1933-2009)

.

wildgeese3

A Wild Goose and Its Image

A wild goose, flies across the sky
Its wings reflect in the cold water
The bird does not mean to leave its image
The water has no desire to retain it

(trích Hương Thiền, Võ Đình dịch)

.

Giải thích:

Nhạn bay qua trời, ta cho đó là THỰC.
Ảnh nhạn bay dưới nước, ta cho đó là ẢO ẢNH.
Nhưng nhạn bay rồi, không còn dấu tích, chỉ còn khoảng trời KHÔNG. Đó là Ý.
Ảnh cũng thế, khi ảnh qua rồi không còn dấu tích, chỉ còn khoảng trời KHÔNG. Đó là TÂM.
Mọi điều ta cho là THỰC hay ẢO ẢNH đều chỉ là ảnh hình trong khoảnh khắc.
Chỉ có khoảng KHÔNG là tồn tại vĩnh viễn.
KHÔNG đó chính là TÂM Ý.
TÂM ta thanh tịnh như trời KHÔNG. Tất cả những gì đi qua tâm, dù ta cho là thực hay là ảo ảnh, cũng chỉ là phù du trong khoảnh khắc, như mây bay ngang trời. Mây đến mây đi. Trời KHÔNG luôn thanh tịnh.
Đau đớn, buồn rầu, tủi hổ, hờn giận, mừng vui, thất vọng, tuyệt vọng, công hầu khanh tướng–tất cả chỉ là những đám mây qua trời, trong khoảnh khắc. Bản chất của TÂM ta là không, là rỗng lặng.

Chúc các bạn một ngày vui. Sau đây mời các bạn thưởng thức ba bức tranh của anh Võ Đình

Nguyệt Cầm là tranh sơn dầu trừu tượng
Công Cha là tranh mộc bản. Con ngựa là tuổi của bố anh Võ Đình.
Nghĩa Mẹ là tranh mộc bản.

Mến,
Hoành
.

Nguyệt Cầm (Võ Đình 1933-2009)
.

Công Cha (võ Đình 1933-2009)
.

Nghĩa Mẹ (Võ Đình 1933-2009)

Bóng Nhạn – tranh Võ Đình

Hàng Châu và Bài thơ tình của Tế Hanh

Chiều trên Tây Hồ
Chiều trên Tây Hồ

Chào các bạn,

Các bạn đã đến Hàng Châu bao giờ chưa? Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một chút ít về phong cảnh nơi đây nhé.

Hàng Châu nằm ở phía Đông Nam của Trung Quốc, là thủ phủ của tỉnh Chiết Giang. Mọi người biết đến Hàng Châu không chỉ vì đó là một trong những thành phố thịnh vượng bậc nhất của Trung Quốc, mà do đây còn là một trong những địa điểm du lịch rất nổi tiếng, mỗi năm thu hút khoảng 20 triệu khách du lịch. Vì thế người Trung Quốc thường có câu cửa miệng là “Trên có Thiên Đường, dưới có Tô Châu, Hàng Châu” đấy các bạn ạ.

Tỉnh Chiết Giang
Tỉnh Chiết Giang

Sau đây là một vài địa điểm du lịch chính tại Hàng Châu:

1) Tây Hồ(西湖): Tên gọi cũ là Vũ Lâm Thủy, Hồ Tiền Đường, Hồ Tây Tử và đến đời Tống mới bắt đầu đổi tên thành Tây Hồ. Nằm ở trung tâm thành phố Hàng Châu, Nam Bắc dài 3.3km, Đông Tây rộng 2.8km, diện tích mặt hồ là 5.66km²., chiều sâu trung bình của nước hồ 2.27m.

 Bình hồ thu nguyệt ở Tây Hồ
Bình Hồ Thu Nguyệt ở Tây Hồ

Thưởng trăng tại Bình hồ thu nguyệt
Thưởng trăng tại Bình Hồ Thu Nguyệt

Tô đê và Bạch đê phân hồ thành 5 phần là: Ngoại Tây Hồ, Lí Tây Hồ, Lí Hồ, Nhạc Hồ,Tiểu Nam Hồ. Tây Hồ thông với sông Tiền Đường (tên cổ là sông Chiết Giang, Khúc Giang, Chi Giang, là dòng sông lớn nhất của tỉnh Chiết Giang, chảy ra vịnh Hàng Châu ), lượng nước đổ vào sông Tiền Đường mỗi ngày khoảng 30 vạn m3.

Trên đất nước Trung Quốc có khoảng 36 hồ được mang danh Tây Hồ, nhưng Tây Hồ của Hàng Châu là đẹp nhất,được Tô Đông Pha ( một nhà thơ ,thứ sử đời Tống) có viết rằng:”Thiên Hạ 36 Tây Hồ , Tây Hồ đẹp nhất vẫn là Hàng Châu.”

Tế Hanh cũng mở đầu “Bài thơ tình từ Hàng Châu”:

Tây Hồ, Hàng Châu
Tây Hồ, Hàng Châu

Anh xa nước nên yêu thêm nước
Anh xa em càng nhớ thêm em
Trăng Tây Hồ vời vợi thâu đêm
Trời Hàng Châu bốn bề êm ái

và kết bằng

Vơ vẩn tình chăn chập chờn mộng gối
Anh mơ thấy Hàng Châu thành Hà Nội
Nước Tây Hồ bỗng hoá nước Hồ Tây
Hai chúng mình cùng bước dưới hàng cây.

Mình có nguyên văn “Bài thơ tình ở Hàng Châu” ở cuối bài này. Mời các bạn thưởng thức.

Du học sinh VN bên Tây Hồ
Du học sinh VN bên Tây Hồ

Phong cảnh chủ yếu của Tây Hồ bao gồm : nhất Hồ, nhị Phong, tam Tuyền, tứ Tự, ngũ Sơn, lục Viên, thất Động, bát Mộ, cửu Khê, thập Cảnh (bao gồm: Tô Đê Xuân Hiểu, Liễu Lãng Văn Oanh, Hoa Cảng Quan Ngư, Khúc Viện Phong Hà, Nam Bình Văn Chung, Bình Hồ Thu Nguyệt , Lôi Phong Tịch Chiếu ,Tam Đàm Ấn Nguyệt, Đoạn Kiều Tàn Tuyết, Song Phong Pháp Vân).

Thập cảnh mới của Tây Hồ bao gồm: Linh Ẩn Thiền Tông(灵隐禅宗), Lục Hòa Thính Đào(六和听涛), Nhạc Mộ Thê Hà(岳墓栖霞), Tiền Từ Biểu Trung(钱祠表忠), Vạn Tùng Thư Duyên(万松书缘), Dương Đê Cảnh Hành(杨堤景行), Tam Đài Vân Thủy (三台云水), Mai Ổ Xuân Tảo (梅坞春早), Bắc Nhai mộng Tầm(北街梦寻).

Hổ Bào Mộng Tuyền (suối Hổ bào)
Hổ Bào Mộng Tuyền (suối Hổ bào)

2. Hổ Bào Mộng Tuyền (虎跑梦泉) : Nằm ở phía Nam của Tây Hồ, trên núi Đại Từ Sơn. Dân gian lưu truyền lại rằng đại sư Tính Không (性空大师) trong một lần đi khảo sát trên núi Đại Từ Sơn phát hiện ra phong cảnh nơi đây rất đẹp nhưng nhược điểm là không có nguồn nước nên quyết định đi nơi khác, bỗng dưng có thần nhân nói với đại sư rằng : sẽ có hai con hổ chạy đến đây để đào suối, và đến sáng hôm sau quả thật có 2 con hổ chạy đến núi Đại Từ Sơn để đào suối . Vì thế suối ở đây được mang danh Suối Hổ Bào.

Du khách đến Đại Từ Sơn chủ yếu là để ngắm suối, lắng nghe tiếng suối chảy, bình phẩm về suối , uống nước suối, nghe câu chuyện truyền kì về pháp sư Tính Không ,Tế Công , Hoằng Nhất… Nước suối nơi đây ngọt, trong, thuần, đậm đà, thanh khiết vô trùng. Do đó chè Long Tỉnh và nước suối Hổ Bào được coi là song sắc của Tây Hồ.

Hiện nay Suối Hổ Bào đã được cải tạo lại toàn bộ, khôi phục lại Tế Công Tháp Viện(济公塔院), La Hán Đường(罗汉堂)…

3) Nhạc Miếu (岳庙): Nằm ở phía Tây Bắc của Tây Hồ trên bờ Nhạc Hồ, được khởi công xây dựng vào công nguyên năm 1221, nhằm kỉ niệm người anh hùng dân tộc Nhạc Phi (岳飞) thời Nam Tống. Bên trong có miếu Trung Liệt, Khải Trung Từ và mộ Nhạc Phi. Trong miếu Trung Liệt có tượng đúc của Nhạc Phi, bên trên có dòng chữ “还我河山” tức ” Hãy trả lại sơn hà cho ta “, để tưởng nhớ đến công lao của ông .

4) Cô Sơn (孤山) : Nằm ở phía Tây Bắc của Tây Hồ, bốn mặt bị vây quanh bởi nước. Cô Sơn mặc dù không cao nhưng đứng trên Cô Sơn để ngắm nhìn phong cảnh Tây Hồ lại được cho là vị trí lý tưởng nhất. Phía nam chân núi có Lầu Văn Lan (文澜阁), bảo tàng Chiết Giang, nơi ngắm cảnh Tây Hồ, công viên Trung Sơn. Phía tây đỉnh núi có : Tòa Tây Linh Ẩn, phía tây chân núi có mộ của Thu Cẩn, phía đông bắc có Đình Phóng Hạc(放鹤亭)…. Đình Phóng Hạc được xây dựng để tưởng nhớ đến nhà thơ đời Tống, Lâm Hòa Tịnh (林和靖). Chung quanh Đình được trồng rất nhiều hoa Mai , và đây là một trong những địa điểm để du khách ngắm hoa mai trong dịp Xuân.

5) Linh Ẩn( 灵隐)- Phi Lai Phong (飞来峰): Linh Ẩn nằm ở phía Tây của Tây Hồ cạnh Phi Lai Phong. Truyền kỳ có lưu lại rằng cách đây 1600 năm đường tăng Huệ Lý (僧人慧理) khi đến Hàng Châu thấy cảnh núi non kì diệu nơi đây, đã nghĩ rằng đây là nơi trú ẩn của tiên nữ nên cho người dựng chùa tại đây và lấy tên là chùa Linh Ẩn.

Tại đây ngoài điện Thiên Vương còn có đình Lãnh Tuyền. Nghe nói khi Tô Đông Pha đến Hàng Châu làm thứ sử đã thường xuyên ngồi một mình trong đình Lãnh Tuyền để làm thơ.

Tây Hồ và Lục Hòa Tháp
Tây Hồ và Lục Hòa Tháp

Lục Hòa Tháp
Lục Hòa Tháp

6) Lục Hòa Tháp (六和塔): Nằm cạnh sông Tiền Đường trên núi hình nguyệt, được xây dựng vào thời Bắc Tống do chính Ngô Việt Vương chỉ đạo. Tháp gồm 7 mặt 8 tầng, cao 59.89m, trông rất hùng vĩ tráng lệ. Trèo lên tháp có thể thấy bao quát được toàn cảnh sông Tiền Đường. Hiện nay cạnh tháp Lục Hòa đã xây dựng thêm một tháp kiểu cổ mang tên Tháp Uyển (塔苑), vào bên trong Tháp Uyển có thể tham quan hơn 100 tháp cổ của các thời đại và các khu vực khác nhau. Phía bắc của Tháp Hòa Lục còn có Tháp Ứng Huyện Mộc (tháp được xây dựng theo mô hình tháp cổ của Đài Loan).

7) Thiên Đảo Hồ (千岛湖): Các khu thăm quan trên đảo bao gồm: Thiên Đảo Cảnh Tú, Bích Ba Vạn Khuynh, Quần Sơn Điệp Tú, Hiệp Ốc U Thâm, Động Thạch Kỳ Dị … Mấy năm gần đây Thiên Đảo Hồ đã được xây dựng và cải tạo lại nhiều, hiện trên Thiên Đảo Hồ còn có thêm 6 địa điểm du lịch khác là:Tiễn Sơn, Bình Phong, Mai Phong, Long Sơn, Thạch Lâm, vườn động vật.

Hoa đài tại Tam Đàm Bán Nguyệt (Tiểu Doanh Châu)
Hoa đào tại Tam Đàm Ấn Nguyệt (Tiểu Doanh Châu)

8)Tam Đàm Ấn Nguyệt (三潭印月): Hay còn gọi Tiểu Doanh Châu, là một trong 3 đảo có diện tích lớn nhất của Tây Hồ, cảnh quan phong phú nhất và được mệnh danh là danh cảnh số 1 của Tây Hồ. Đặc sắc của đảo là “湖中有岛、岛中有湖” tức “Trong Hồ có Đảo, trong Đảo có Hồ”. Tiểu Doanh Châu có dạng hình chữ Điền “田”, vòng ngoài và chữ thập bên trong được nối với nhau bởi cầu trong đảo. Cầu chia đảo thành 4 hồ riêng biệt, trung tâm của ốc đảo có dựng bức tường được khắc họa kín bởi thơ chữ tình. Phía Nam của Đảo là Tam Đàm Ấn Nguyệt, du khách đến đây chủ yếu là để thả đèn Hoa Đăng và ngắm nhìn ánh trăng phản chiếu trên mặt hồ vào ban đêm .

Đoạn Kiều tàn tuyết
Đoạn Kiều Tàn Tuyết

9) Đoạn Kiều Tàn Tuyết (断桥残雪) : Truyền thuyết lưu lại rằng nơi hẹn hò của Bạch Nương Tử và Hứa Tiên nằm trên đoạn đầu của Bạch Đê. Được mang tên Đoạn Kiều bắt đầu từ đời Đường, vì thời xưa trên cầu có cửa, trên cửa có thiềm che, khi tuyết rơi xuống đoạn giữa của cầu đều đọng phía trên thiềm và đoạn giữa cầu thường không có tuyết phủ lên, còn hai đầu cầu lại phủ đặc tuyết. Và khi đứng nhìn cầu từ xa sẽ có cảm giác như cầu bị đứt ở giữa do đó cầu được mang tên Đoạn Kiều.

10) Tô Đê Xuân Hiểu (苏堤春晓): Tô Đê trước đây còn được gọi là Tô Công Đê (苏公堤) , nằm ở phía tây nam của Tây Hồ, đầu Nam xuất phát từ Hoa Cảng Quan Ngư (花港观鱼), đầu Bắc tiếp Khúc viện Phong Hà (曲院风荷). Thời Tống, Tô Đông Pha khi đến Hàng Châu làm thứ sử đã ra lệnh nạo vét hồ và dùng bùn đắp thành đê bắc ngang qua hồ, với tổng chiều dài là 2.8km. Trên đê có 6 cầu là: Ánh Pha, Tỏa Lan, Vọng Sơn, Áp Đê, Đông Phố, Khoa Hồng. Và để tưởng nhớ đến công lao của ông con đê này đã được mang tên là Đê Tô.

Và sau đây là “Bài thơ tình ở Hàng Châu” của Tế Hanh. Mời các bạn thưởng thức.

Tây Hồ, Hàng Châu
Tây Hồ, Hàng Châu

Hồ Tây, Hà Nội
Hồ Tây, Hà Nội

Bài thơ tình ở Hàng Châu

Anh xa nước nên yêu thêm nước
Anh xa em càng nhớ thêm em
Trăng Tây Hồ vời vợi thâu đêm
Trời Hàng Châu bốn bề êm ái
Mùa thu đã đi qua còn gửi lại
Một ít vàng trong nắng trong cây
Một ít buồn trong gió trong mây
Một ít vui trên môi người thiếu nữ…
Anh đã đến những nơi lịch sử
Đường Tô Đông Pha làm phú
Đường Bạch Cư Dị đề thơ
Hồn người xưa vương vấn tự bao giờ
Còn thao thức trên cành đào ngọn liễu
Phong cảnh đẹp nhưng lòng anh thấy thiếu
Bức tranh kia anh muốn điểm thêm màu
Có hai ta cùng tựa bên cầu
Cho mặt nước Tây Hồ trong sáng nữa
Lá phong đỏ như mối tình đượm lửa
Hoa cúc vàng như nỗi nhớ dây dưa
Làn nước qua ánh mắt ai đưa
Cơn gió đến bàn tay em vẫy
Chúng mình đã yêu nhau từ độ ấy
Có núi sông và có trăng sao
Có giận hờn và có chiêm bao
Cay đắng ngọt bùi cuộc đời kháng chiến
Nói sao hết em ơi bao kỉ niệm…
Những ngày buồn nghĩ đến thấy vui vui
Những ngày vui sao lại thấy bùi ngùi
Anh không muốn hỏi nhiều quá khứ
Ngày đẹp nhất là ngày rồi gặp gỡ

Hồ Tây, Hà Nội
Hồ Tây, Hà Nội

Rời Tây Hồ trăng xuống Bắc Cao Phong
Chỉ mình anh với im lặng trong phòng
Anh ngước nhìn bức thêu trên vách:
Hai bóng người đi một hàng tùng bách
Bàn tay nào đã dệt nỗi lòng anh ?
Tiếng mùa xuân đem sóng vỗ bên mình
Vơ vẩn tình chăn chập chờn mộng gối
Anh mơ thấy Hàng Châu thành Hà Nội
Nước Tây Hồ bỗng hoá nước Hồ Tây
Hai chúng mình cùng bước dưới hàng cây.

Tế Hanh –1956

Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ.

Kiều Tố Uyên
Hồ Nam, Trung Quốc

Mẹ dạy tôi

MotherdayMẹ dạy tôi LÔGIC
‘Nếu con té từ cái đu gãy cổ, con chẳng thể đi cửa hàng với mẹ’

Mẹ dạy tôi Y HỌC
‘Nếu con không ngừng làm mắt lé, mắt con sẽ bị lé luôn ‘

Mẹ dạy tôi LẬP KẾ HOẠCH
‘Nếu con không đỗ kỳ thi chính tả, con sẽ chẳng kiếm được việc làm tốt nào đâu’

Mẹ dạy tôi về NGOẠI CẢM
‘Mặc áo lạnh vào, con cho rằng mẹ không biết khi nào con lạnh hay sao?’

Mẹ dạy tôi đương đầu với THÁCH THỨC
‘Con đang nghĩ gì? Trả lời mẹ khi mẹ nói với con. Đừng trả treo với mẹ’

Mẹ dạy tôi KHÔI HÀI
‘Khi cái máy cắt cỏ đó cắt mất mấy ngón chân con, đừng chạy đến tìm mẹ’

Mẹ dạy tôi LÀM SAO THÀNH NGƯỜI LỚN
‘Nếu chẳng ăn rau, con chẳng bao giờ khôn lớn’

Mẹ dạy tôi về DI TRUYỀN
‘Con giống hệt bố con

Mẹ dạy tôi về CỘI RỄ.’
‘Con nghĩ con sinh ra trong vựa lúa sao?’

Mẹ dạy tôi về KHÔN NGOAN DO TUỔI TÁC
‘Khi con bằng tuổi mẹ, con sẽ hiểu’

Mẹ dạy tôi về MONG ĐỢI
Hãy đợi khi bố về nhà

Mẹ dạy tôi về ĐÓN NHẬN
‘Con sẽ có nó khi ta về đến nhà’

Và điều ưa thích nhất suốt đời tôi : CÔNG CHÍNH
‘Một ngày kia con sẽ có con, mẹ hi vọng chúng sẽ giống con. Chừng đó con sẽ hiểu’

Ngoài tất cả điều này ra, mẹ dạy tôi cách sống
Cám ơn mẹ về những gì con đã học bao tháng năm qua.

Huỳnh Huệ dịch

Motherday1

My Mother Taught Me

My Mother taught me LOGIC…
“If you fall off that swing and break your neck, you can’t go to the store with me.”

My Mother taught me MEDICINE…
“If you don’t stop crossing your eyes, they’re going to freeze that way.”

My Mother taught me TO THINK AHEAD…
“If you don’t pass your spelling test, you’ll never get a good job!”

My Mother taught me ESP…
“Put your sweater on; don’t you think that I know when you’re cold?”

My Mother taught me TO MEET A CHALLENGE…
“What were you thinking? Answer me when I talk to you… Don’t talk back to me!”

My Mother taught me HUMOR…
“When that lawn mower cuts off your toes, don’t come running to me.”

My Mother taught me how to BECOME AN ADULT…
“If you don’t eat your vegetables, you’ll never grow up.”

My Mother taught me about GENETICS…
“You are just like your father!”

My Mother taught me about my ROOTS…
“Do you think you were born in a barn?”

My Mother taught me about the WISDOM of AGE…
“When you get to be my age, you will understand.”

My Mother taught me about ANTICIPATION…
“Just wait until your father gets home.”

My Mother taught me about RECEIVING…
“You are going to get it when we get home.”

and my all time favorite thing–JUSTICE
“One day you will have kids, and I hope they turn out just like YOU..then you’ll see what it’s like.”

In between all this, my Mother taught me how to Live! Thank you Mom for all I have learned these years.
Best Wishes for Mothers Day!

Ai đó đã nói

birdflying1

Someone Once Said

someone once said
that I was blind
because I could not see
what was in front of me.

ai đó đã nói
rằng tôi mù
vì tôi không thấy được
những gì trước mắt
.
.

someone once said
that I was deaf
because I could not hear
the call of someone who was very near.

ai đó đã nói
rằng tôi điếc
vì tôi không nghe được
tiếng gọi của ai đó rất gần.
.

someone once said
that I was dumb
because I could not speak
my mind while I was in the hot seat.
.

ai đó đã nói
rằng tôi câm
vì tôi không nói được
ý mình mỗi khi bị quay
.

birdsflying

and in reply I said
that I could see
the beauty of the world
I could see the beauty of a birds wings
when they unfurled
just before flight.

và tôi đáp
tôi có thể thấy
vẻ đẹp của thế giới
tôi có thể thấy vẻ đẹp của những cánh chim
khi chúng giang ra
trước khi tung cánh.
.

and in reply I said
that I could hear
the very beat of his heart
when he was happy or when in fear.

và tôi đáp
tôi có thể nghe
từng nhịp đập của trái tim anh
khi anh hạnh phúc hay sợ hãi.
.

and in reply I said
that a picture is worth a thousand words
so look about and you’ll see
that there are paintings and pictures
look around and you’ll see
that they are drawn and painted by me

và tôi đáp
một bức tranh đáng giá cả ngàn từ
vậy hãy nhìn xung quanh và bạn sẽ thấy
những bức tranh và bức họa
nhìn xung quanh và bạn sẽ thấy
chúng đang được vẽ và họa bởi chính tôi

Hirini Hohaia
Loan Subaru dịch

Điều tôi ước cho bạn

angle
What I Wish for You

I wish you Love so deep and true that you know that you ARE Love.

Tôi mong ước cho bạn, Tình yêu thật sâu và chân thật để bạn biết rằng, bạn LÀ Tình yêu.
.

I wish you joy that bubbles up from your toes and pours forth from your heart like a waterfall.

Tôi mong ước cho bạn, niềm vui sướng sủi tăm từ ngón chân của bạn, và tràn ra từ trái tim như một thác nước.
.

I wish you beauty that surpasses what the eyes can see or the mind can define.

Tôi mong ước cho bạn vẻ đẹp vượt qua những gì mắt có thể thấy hay trí óc có thể định nghĩa.
.

I wish you peace that you feel in every cell of your being as an abiding awareness that All is well.

Tôi mong ước cho bạn bình an, mà bạn cảm thấy trong từng tế bào của bạn như một nhận thức thường trực rằng, Tất Cả đều tốt đẹp
.

I wish you abundance in your Earthly life that you may be free to give the gifts of who you are.

Tôi mong ước cho bạn, sung túc trong cuộc sống trần thế, để bạn có thể tự do mang chính mình ra làm quà tặng.
.

Hãy cảm nhận năng lượng quanh ta
Hãy cảm nhận năng lượng quanh ta

I wish you experience of the Truth of Oneness that you may see the face of God in all beings and in every moment.

Tôi mong ước bạn có sự trải nghiệm của Sự thật nhất thể, để bạn có thể thấy khuôn mặt của Thượng đế trong mọi sinh linh và trong mọi thời điểm.
.

I wish for you what I wish for myself…that you remember who you are.

Tôi mong ước cho bạn điều tôi mong ước cho tôi… rằng bạn nhớ bạn là ai.

with Love and Gratitude,
Jacqueline

Với tình yêu và sự tri ân,
Jacqueline.

Nguyễn Minh Hiển dịch