Tag Archives: Thơ

Khi nhà thơ buộc phải “ngoại tình” với thơ

(Nhân đọc bài QUAN HỌ­­ KHÔNG NGOẠI TÌNH của Nguyễn Nguyên Bảy)

Nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy gửi bài thơ này cho tôi với một lời chú thích: “Đây là bài hóa giải mọi oan ức hận thù của anh, bài này anh mơ viết bao năm nay bây giờ mới viết được.” (Thư điện tử)

Nguyễn Nguyên Bảy khiêm nhường tự nhận là “người thơ nghiệp dư”, nhưng thực ra đó là một tác giả rất có ý thức về sự nghiệp thơ ca của mình, và rất chuyên nghiệp. Nhà nghiên cứu văn học Đỗ Quyên (Canada) có lần viết cho tôi: “Nguyễn Nguyên Bảy là tác giả thật kì khôi; tôi chưa hình dung hết, có lẽ vì chưa đạt được “cảnh giới”. Hình như cánh “chuyên nghiệp” kính nhi viễn chi loại tác giả như vậy. Có điều này tôi chưa hiểu rõ: dường như ở Thơ và Người Thơ Nguyễn Nguyên Bảy có sự chen lấn nhau, khiến cho Thơ (văn bản) bị Người Thơ cưỡng bức. Tác giả tự nhận là “nghiệp dư” có lẽ là vậy chăng? Hay tác giả coi đời sống thơ như một thứ đạo, mà tác phẩm chỉ là phó sản của Sống Đạo? Thiển ý, đây là nút để mở thơ Nguyễn Nguyên Bảy ra đọc.”( Thư điện tử)

Tôi buộc phải viện dẫn lời chuyên nghiệp của bạn để mong có một bàn đạp khả dĩ góp phần lý giải một bài thơ chứa những nội dung hình tượng quá phong phú và quá phức tạp như bài thơ này. Tôi còn cho rằng: đây là bài thơ đau xót nhất và đồng thời cũng nồng ấm bậc nhất của Nguyễn Nguyên Bảy!

Continue reading Khi nhà thơ buộc phải “ngoại tình” với thơ

Tổ quốc nhìn từ biển – Nguyễn Việt Chiến

VNEXPRESS

“Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển/ Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa/ Ngàn năm trước con theo cha xuống biển/ Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa”, những vần thơ được Nguyễn Việt Chiến viết ra từ năm 2009, đang được lan truyền mạnh mẽ trong cộng đồng.
> Những vần thơ hay về quê hương, đất nước

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến trong một chương trình đọc thơ.
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến trong một chương trình đọc thơ.

Dưới đây là cuộc trò chuyện giữa nhà thơ Nguyễn Việt Chiến với VnExpress.

– Sau khi được đăng tải trên báo Thanh Niên, bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” của ông được lan truyền mạnh mẽ trên mạng. Ông có thể chia sẻ về sự ra đời của bài thơ?

Continue reading Tổ quốc nhìn từ biển – Nguyễn Việt Chiến

Chim Hòa Bình bay qua thời gian và những nỗi đau

( Đọc bài thơ “Lời chim câu” của Nguyễn Nguyên Bảy )

Thời gian vừa qua, những bài thơ của NNB tựa một sự tổng kết, chiêm nghiệm những gì đã trải qua trên đường đời- như chùm thơ về Mẹ, và mới đây nhất là về Tình nghĩa trăm năm gói trong chùm “Lời chim câu”. Quen biết anh từ khi tôi còn ở tuổi thanh xuân, thuộc không ít thơ anh qua nhiều giai đoạn, song cứ mỗi lần tiếp nhận một bài thơ mới của anh, tôi đều thấy ngỡ ngàng bởi sự say mê không mệt mỏi của anh trong việc khám phá thế giới bản thân mình bằng thơ ca. Nhưng dường như, đối với người thi sĩ có phần lạ lùng bí hiểm này, Nghệ thuật chữ nghĩa càng ngày càng trở nên chỉ là thứ phương tiện sau rốt. Anh tối giản câu chữ bóng bẩy, phép tu từ, mỗi câu thơ chỉ giống như lời nói thô mộc hàng ngày, hoặc chắc nịch như tục ngữ, ngọt sắc như ca dao, thậm chí đưa cả lời chú thích nặng thông tin vào cấu trúc thơ, thế nhưng, hiệu quả thơ thực bất ngờ khiến người đọc không thể chỉ đọc một lần câu thơ, khổ thơ, bài thơ ấy, kích thích họ bằng chính trải nghiệm của mình để khám phá thêm ý nghĩa và sự lý thú của chúng… Đằng sau những câu thơ, hình tượng thơ đó là toàn bộ cuộc sống đầy trăn trở ngẫm ngợi, chất chứa niềm thương yêu của người viết, và chứa đựng một nội hàm văn hóa sâu xa.

Continue reading Chim Hòa Bình bay qua thời gian và những nỗi đau

Người Mẹ trong hoài niệm và tâm thức dân gian của một người con.

 

(Đọc ba bài thơ về Mẹ của Nguyễn Nguyên Bảy)

Nguyễn Anh Tuấn

Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy có ba bài thơ liên hoàn viết về người Mẹ đã khuất của anh.

Nếu như trong “Thơ NNB I”, nhà thơ đã dựng được tượng đài tinh thần kỳ vĩ về người cha của mình qua trường ca “Sông Cái mỉm cười”, thì trong “Thơ NNB II” này, với ba bài thơ ngắn về mẹ, anh làm thế nào để hình tượng mẹ tương xứng với hoài niệm của chính anh?

Ta hãy đi vào từng bài.

1. Phật Hát

Yếm thắm không bỏ bùa sư
Mà sư cứ đòi xoa yếm thắm
Mẹ bảo này trọc đầu
Trong ngực tôi có Phật
Trọc đầu có sợ ố cà sa?

Continue reading Người Mẹ trong hoài niệm và tâm thức dân gian của một người con.

Thơ Thẩn Với Thơ Cùng Bằng Việt

Nguyễn Nguyên Bảy đò đưa

Tối thứ Bảy, 31/7/2010, tại Trung Tâm Văn Hóa ngôn Ngữ Đông Tây, Hà Nội, nhà thơ Bằng Việt đã đò đưa thơ tôi (Nguyễn Nguyên Bảy) thế này. Hình ảnh và Băng ghi âm:

    Nguyễn Nguyên Bảy là người làm thơ cùng thời với tôi,với Lưu Quang Vũ,Vũ Quần Phương,Trúc Thông…tức là cùng lứa những nhà thơ khói lửa chống Mỹ.Nhưng anh đã rẽ sang một lối khác sau khi xuất hiện khá ấn tượng trên báo chí và phát thanh (anh làm việc ngành phát thanh).Chúng tôi nghĩ là anh đã bỏ thơ chạy theo một tình yêu khác. Nhưng sau bốn chục năm,Nguyễn Nguyên Bảy đã quay trở lại với thơ,kỳ lạ,sang trọng và làm choáng tất cả với tập thơ Nguyễn Nguyên Bảy đồ sộ 500 trang mà tôi và các bạn đang cầm trong tay, có trước mặt lúc này.

    Continue reading Thơ Thẩn Với Thơ Cùng Bằng Việt

Thủng thẳng với thơ… (Phần 14, cuối)

 

Tôi nhắm nghiềm mắt hồi lâu
Mới hay cái ngủ từ đầu ngủ ra

Chương Cuối, Trằn Trọc Tu Thân

Lời phi lộ chương đầu tôi tỏ ra là một người khinh miệt chủ nghĩa kinh nghiệm, nhưng qua 13 chương đò đưa thơ này, tôi đã tỏ ra là một người kinh nghiệm chủ nghĩa. Đó là một hư xấu, một giả dối. Độc giả (nếu đọc nó) hãy coi đây là một tự đánh giá, hay là một tâm sự mà cảm thông cho; vì tất nhiên đối với bất kỳ người cầm bút nào cũng cần đánh giá từng giai đoạn để thấy hiện tại và tương lai, để xét minh trên phương diện người làm thơ, nên hay không nên tiếp tục công việc của mình.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (Phần 14, cuối)

Thủng thẳng với thơ… (phần 13)

 

    Việc tu vần đã khiến cho những câu thơ viết ra đạt được những tiêu chuẩn nhất thiết phải có của nó, về tính họa trong thơ, tính nhạc trong thơ, tính tư tưởng trong thơ…

    …Nói cách khác, hình ảnh, hình tượng, triết lý, trí tuệ đều làm nên bởi câu chữ, mà câu chữ sử dụng trong thơ là câu chữ của vần điệu.

    Sẽ có người nói rằng: Thơ tự do chính là thơ không vần! Đúng, nó không nằm trong qui luật vần thông thường, nó tuân theo qui luật vần ẩn, vần kín kín đáo nằm trong nhịp điệu, trong các thanh bằng chắc và chấm phẩy. Đó là sự tự do trong giới hạn thơ, chứ tuyệt nhiên không phải tự do là muốn lắp ghép từ ngữ thế nào cũng được…

Những Người Đãi vàng

Thực ra trong cách nói văn vẻ này tôi không chỉ dừng lại ở việc chọn chữ. Mà phải nói khái quát một quá trình chọn: Hình tượng, hình ảnh, câu, chữ, vần điệu…

Quá trình chọn được tiến hành như thế nào?

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 13)

Cá hồi ngược về nguồn để đẻ trứng

 

Chào các bạn,

Dưới đây là video về cảnh đàn cá hồi đỏ đang chạy ngược dòng để đẻ trứng.

Cá hồi là loại cá sinh ra ở các suối nước ngọt, sau đó sẽ di cư theo sông ra sống ở biển. Sau khoảng từ 1 tới 5 năm trưởng thành ở biển, salmon sẽ quay lại vùng suối nơi chúng được sinh ra để đẻ trứng.

Đây là một cuộc trở về gai góc vì phải lội ngược nước đi lên vùng cao. Nhiều cá hồi sẽ chết trên chuyến đi ngược dòng vì kiệt sức, và vì bị người hay gấu bắt. Và những con cá mẹ đến được đầu nguồn, sẽ đẻ trứng, và chết sau khi đẻ.

Một chuyến đi về nguồn như thế có thể dài đến 1400 km và lên cao tới 2,100 m đẻ trứng.

Nhà thơ Trần Mộng Tú đã viết “Mùa Thu, Tình Yêu và Cá Hồi” dưới đây.

Chúc các bạn một ngày về nguồn 🙂

Hiển

Mùa Thu, Tình Yêu và Cá Hồi

Mùa thu đã đến đây
con suối đẹp nhất làng đang ngập đầy thuyền lá.

Sao anh không về cùng cá Hồi
để em được làm những chiếc vẩy lấp lánh
em sẽ mang thai
em sẽ sanh những chiếc trứng màu hồng ở trong dòng suối cũ
như con cá hồi chết sau những lần sanh nở
những chiếc vẩy sẽ không còn nữa
trên lưng anh
em sẽ chết cùng với mùa thu.

Continue reading Cá hồi ngược về nguồn để đẻ trứng

Thủng thẳng với thơ… (phần 12)

    Tình trạng thơ không có tứ hiện rất phổ biến và nhiều người mắc phải. Những bài thơ này thường kể lể dài dòng, miên man, vấn đề tung ra vung vãi, hình ảnh và hình tượng chạy xa chủ đề. Nói tóm lại là người đọc chẳng hiểu nhà thơ định nói gì…

    Muốn làm thơ có tứ, thì việc tập dượt ban đầu phải như người học sinh làm luận, cả trong tư duy và khi viết, luôn luôn tự hỏi mình: Câu này có phục vụ cho điều mình định nói không. Lúc đầu, phương pháp sáng tác này có thể hơi lố bịch, thêm cái khô khan, cứng ngắc và không có vẻ gì là công việc của một nghệ sĩ. Nhưng từ những lao động cơ bản này công việc làm thơ dần dà trở nên vững chắc con đường thành tựu. Ví như người diễn viên chèo vất vả khi học những làn điệu cổ trước khi cập nhật những làn điệu cách tân.

Xương Cốt Của Thơ

Thật thú vị khi nói về xương cốt của thơ. Xương cốt của thơ chính là cái tứ, bài thơ cần thiết phải có xương cốt, cần phải có tứ.

Nên định nghĩa thế nào là tứ thơ?

Trước hết hãy nói công việc mở đầu cho một bài thơ. Đối với một bài thơ tôi thường bắt đầu bằng hai phương pháp khác.

1. Đã thuộc rất mạch lạc vấn đề mình sẽ viết, thuộc đến nỗi – như tôi đã nói ở trên – chỉ việc đặt bút xuống và mặc cho dòng thơ cuốn mình đi, cuốn cho đến chữ cuối cùng dừng lại, là bài thơ đã kết thúc. Chẳng những tôi thuộc lòng nội dung mà còn thuộc lòng cả hình thức biểu hiện. Đối với phương pháp này tôi có thể trả lời một cách dũng cảm: Mình viết cái gì và đã viết như thế nào.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 12)

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền” – Mặt ai ?

 
Góp thêm một cách hiểu câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử

Dương Hiền Nga

Trong thời gian qua, đã có rất nhiều bài viết trao đổi về câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” trên mặt báo. Để trả lời câu hỏi “mặt chữ điền” là gương mặt của ai? Mặt cô gái hay chàng trai, cho đến này dường như vẫn chưa thật ngã ngũ một cách thỏa đáng.

Theo tôi, nên đặt câu thơ và chỉnh thể nghệ thuật Đây thôn Vĩ Dạ để xem xét sẽ thấy đây là câu thơ tả cảnh thôn Vĩ chứ không phải tả mặt người.

Continue reading “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” – Mặt ai ?

Tinh thần yêu nước trong thơ Nguyễn Khắc Nhu

 

Tượng đài cụ Nguyễn Khắc Nhu tại quê hương Yên Dũng, Bắc Giang
Ông sinh năm 1881, tại làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xuất thân trong một gia đình Nho học, thuở nhỏ ông theo học khoa cử, năm 1912 đi thi Hương đứng đầu cả xứ Bắc Kỳ nên đương thời gọi là Đầu Xứ Nhu, gọi tắt là Xứ Nhu. Ông không chỉ là một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân đảng, với chức vụ trưởng ban lập pháp, người có vai trò quan trọng trong đường lối đấu tranh vũ trang của Việt Nam Quốc Dân đảng, mà còn là một nhà thơ chân chính. Mỗi trang, mỗi dòng như chính cuộc đời bi hùng của ông, chứa chan tinh thần yêu nước, thương nòi.

Là một nhà nho chân chính, hết lòng yêu quê hương đất nước, ông chủ trương đấu tranh vũ trang chống thực dân cướp nước dành chính quyền, vì vậy thơ ông khác hẳn với những nhà nho đương thời: Đó là hơi thở của dân gian, mang cái hồn trí tuệ và tầm cao thời đại. Nơi ông sinh ra là cái nôi của nhiều làn điệu dân ca và văn học dân gian. Ngay từ nhỏ ông đã từng theo một phương chèo đi khắp miền Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn. Những làn điệu dân ca đầy chất trí tuệ, nhưng không kém phần lạc quan thấm vào ông từ lúc nào. Chí lớn, hoài bão của ông được thể hiện rõ nét trong thơ. Đây là câu đối treo trên tường lớp học, cùng bản đồ thế giới:

Continue reading Tinh thần yêu nước trong thơ Nguyễn Khắc Nhu

Thủng thẳng với thơ… (phần 11)

    Cái tưởng tượng trong thơ ảo nhưng mà thực không nhưng mà có, vô lý nhưng mà hữu lý…

    Trí tưởng tượng có mức độ thượng và hạ cách của nó. Hạ cách của trí tưởng tượng diễn ra dưới dạng liên tưởng, suy tưởng. Dạng này thường nặng nề về hình thức, nêu không biểu đạt một cách tinh tế thì dễ sa vào sự gán ghép khiên cưỡng – gán ghép cho từng hình ảnh, hình tượng, gán ghép diễn ra trong từng câu thơ. Thượng cách của trí tưởng tượng là sự bay bổng của một tâm hồn thơ, một trí tuệ thơ, trong từng bài hoặc từng khổ thơ. Người đọc chỉ cảm thấy một cái gì say sưa, một cái gì cao hơn cuộc sống thực nhưng vẫn là cuộc sống, một cái gì rất thơ. Thượng cách của trí tưởng tượng sử dụng rất nhuyễn, rất ảo, rất lôgích một chuỗi hình ảnh, hình tượng xảy ra trong cuộc đời đã được thơ hóa bằng trí tuệ nhà thơ.

Từ Trời Đất Đến Trăng sao…

Phải đến thế kỷ thứ 21, may ra bước chân của con người mới thực sự đặt lên mặt trăng, trong khoảng không vũ trụ mới bay lượn những con tàu…Nhưng từ vạn năm nay, trí tưởng tượng đã đưa con người tới đó. Xã hội vũ trụ trong trí tưởng tượng của con người cũng hệt như xã hội con người vậy, những thiên thần, thiên tướng, những tiên nữ, tiên đồng…Chẳng những thế mà còn có Giáng Kiều Tú Uyên bích câu kỳ ngộ, lại có thằng Cuội ngồi gốc cây đa, để trâu ăn lúa gọi cha hời hời…Với trí tưởng tượng, con người như có cánh bay, sao Hỏa sao Kim đều cũng hóa nên gần.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 11)

Gọi bạn tình

 

Thơ  Trần Vân Hạc– Lời bình của Lâm Thị Thanh Trúc

 
Dậy đi em
Dậy đi em
Anh hồi hộp nâng khèn
Trăng vàng sóng sánh
Dặt dìu dòng suối âm thanh
Nhà sàn đợi chờ thao thức
Đầu khèn
chạm vào hò hẹn
Sao hôm đậu xuống mái nhà
Đêm trở mình da diết nhớ sàn hoa
Đầu khèn
chạm vào đợi chờ
Sao mai lung linh cửa sổ
Hội hái hoa ban nọong ơi
Trái tim chung đôi e ấp lời bầy tỏ
Đầu khèn
chạm vào mong nhớ
Trăng neo khau cút bâng khuâng
Trinh trắng hoa ban
Thắm tình hoa mạ
Cầu thang rạo rực rung rinh
Em như nàng tiên mùa xuân
Bước ra từ câu khắp

Continue reading Gọi bạn tình

Thủng thẳng với thơ… (phần 10)

 

    … lục bát… và song thất lục bát…

    Vì sao lại phải nghiên cứu phép làm thơ truyền thống ? Phải nghiên cứu phép làm thơ truyền thống, bởi đấy là hồn cốt của mọi phép làm thơ khác. Cũng ví như đất vậy, đất làng ta trồng ra hạt lúa làng ta…

    Nắm được vững chắc các phép làm thơ dân tộc thì việc sử dụng các thể thơ mới không còn là điều khó khăn nữa. Bởi lẽ, tất cả các thể thơ mới đều tôn trọng và mở rộng các cách hiệp vận, cách gieo nhạc điệu, các đồng hưởng, điệp từ và tiểu đối như ở các thể thơ dân tộc. Không có sự kế thừa ấy quyết không phải là thơ Việt.

Luận Về Những Chiếc Áo Của Thơ

Tôi có ý định viết về phép làm thơ lục bát của Nguyễn Du và phép làm thơ song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm, nhưng ý định ấy chưa thực hiện được, vì tôi cứ có ý chờ những chuyên gia nghiên cứu về luật thơ viết những nguyên lý đó. Tôi đã nói điều này với Thầy tôi và yêu cầu Người viết. Nhưng cho đến nay Người cũng chỉ mới hứa sẽ bắt đầu.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 10)

Thủng thẳng với thơ… (phần 9)

    Sự cô đọng là cốt lõi của thành công. Do đó sự tự loại bỏ những hình ành, hình tượng không cần thiết, cắt những ý, những câu không thuộc về chủ đề là một “đau lòng” đáng có. Chính cái đó đã quyết định sự thành công.

    Ngày xưa, các bài thơ ngắn được qui định bởi niêm luật rất nghiêm ngặt, sự gò bó này có làm khó dễ cho nội dung tư tưởng, song lại đòi hỏi người làm thơ phải có nhiều công phu và muốn có thơ hay người viết đã trả đúng giá cho nó. Biết bao nhiêu bài tứ tuyệt, bát cú, đã thành bất tử chỉ với 4 câu hay 8 câu. Ngày nay, các bài thơ gọi là ngắn đã không còn là ngắn nữa, 50 câu như tôi nói cũng được coi là ngắn, nhưng dưới 100 câu cũng chưa phải thơ dài. Do sự mở rộng ước lệ dài ngắn này, đã khiến tính cô đọng của thơ có bị giảm sút, nguyên nhân chính là do người viết nhiều tham lam. Cái tinh túy của vàng, bạc lẫn quá nhiều với quặng và sỏi đá. Người đọc phải thanh lọc rất nhiều mới được những hạt bạc, hạt vàng.

Loại Thể Những Khúc Ca

Trong quá trình lao động, tôi đã cố gằng sử dụng gần hết các thể loại có thể sử dụng được để biểu đạt thơ. Tuy vậy, vẫn không đúc rút được kinh ngiệm gì đáng kể, chưa định được qui luật đã là sự nhảm nhí, định một khuôn mẫu cho thơ mà hổ thẹn ư?

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 9)