Tag Archives: Song ngữ

Hạnh phúc trong công việc

Để mọi người hạnh phúc trong công việc, có ba điều cần thiết: Họ  cảm thấy phù hợp cho việc đó. Họ không phải làm việc đó quá nhiều. Họ có cảm giác thành công trong việc đó .

Nguyễn Hoàng Long dịch

.

In order that people may be happy in their work, these three things are needed: They must be fit for it. They must not do too much of it. And they must have a sense of success in it.

John Ruskin (1819 – 1900), Pre-Raphaelitism, 1850

l

Chuyển gửi – Transmission

Chào các bạn,

Tết năm 2008, khi anh Hoành post bài The Old Master (Ông Đồ Già) trên diễn đàn VNBIZ, mình gởi bản dịch của anh Hoành đến người bạn Mỹ lớn tuổi mà mình gọi là Uncle Hank. Uncle Hank lấy được hứng khởi từ bài The Old Master và viết một bài thơ tặng mình, có tên là Transmission.

Gần đây mình nhờ anh Hoành dịch ra tiếng Việt, gọi là Chuyển Gửi.

Hôm qua anh Hoành đăng bài The Old Master trên ĐCN. Nên hôm nay mình muốn chia sẻ bài thơ Transmission và câu chuyện nhỏ này đến các bạn.

Chúc cả nhà một ngày chuyển gửi! 🙂

Hiển

Chuyển gửi

Một mình trong quán sách cà phê.
Tôi ngồi và đọc và ngắm
người qua.
Một chàng Á châu đẹp trai
(người Phi, sau này tôi khám phá)
lượn ra lượn vào giữa những hàng sách.
Hắn thấy tôi.
Tôi thấy hắn.
Hắn đến và ngồi,
dù có cả hàng chục chiếc ghế dư,
ở chiếc bàn kế tôi.
Chằng nói với nhau lời nào.
Cũng chẳng chào hỏi.
Hắn mở cặp
và lôi ra một mớ bưu thiếp
và một sổ địa chỉ nhỏ.
Hắn viết và ký
(với hoa hòe bóng bẩy
của một chàng trai trẻ!)
tám hay mười thiệp.
“Tôi tưởng tôi là người cuối cùng trên thế giới
thực hành nghệ thuật cổ-lổ-xỉ này,”
tôi bắt chuyện.
“Cái gì? Gởi bưu thiếp
cho bạn bè lưu lạc khắp nơi
trên thế giới?
Đừng lo, ông nội.
Tôi sẽ trung thành với nó
mãi sau khi ông đã ra đi.”

TĐH dịch

Transmission

All alone in the bookstore cafe,
I sit and read and watch
the passers-by.
A handsome Asian man
(Filipino, I later find out)
weaves in and out of the stacks.
He notices me.
I notice him.
He comes and sits,
despite two dozen empty seats,
at the table next to me.
No words are exchanged.
No greetings yet.
He opens a briefcase
and extracts a stack of postcards
and a small “carnet d’addresses”.
He writes and signs
(with a young man’s pretentious
flourish!)
eight or ten of these.
“I thought I was the last man on earth
to practice this arcane craft,”
I offer.
“What? Sending postcards
to friends scattered all around
the world?
Don’t worry, grandfather,
I’ll be faithful to it
long after you are gone.”

Thanks for the inspiration.  Here is my Tet present to
you.  (When is Tet?)
Uncle Hank

Mưa hoa

Tu-bồ-đề là đệ tử của Phật Thích Ca. Sư có thể hiểu được uy lực của Không, quan điểm rằng không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.

Ngày nọ Tu-bồ-đề đang ngồi dưới gốc cây, trong trạng thái cực kỳ tĩnh lặng, Hoa bắt đầu rơi quanh ông.

“Chúng tôi ca ngợi ngài về đàm luận của ngài về Không,” các vị Phạm thiên thì thần với ông.

“Nhưng tôi đâu có đàm luận gì về Không,” Tu-bồ-đề nói.

“Ngài đã chẳng đàm luận gì về Không, chúng tôi đã chẳng nghe gì về Không,” các Phạm thiên trả lời. “Đó chính là Không.” Và hoa rơi trên Tu-bồ-đề như mưa.

Bình:

• Cảnh “mãn thiên hoa vũ” (mưa hoa đầy trời) nầy thường xảy ra trong kinh Phật, thông thường là khi Phật Thích Ca hay một vị Bồ Tát nào đó dạy một “pháp” rất lớn, rất vi diệu.

• Phạm thiên, lấy từ chữ Brahman trong Ấn giáo, là vua của một cõi trời.

• Chữ emptiness trong bản tiếng Anh được dịch ở đây với hai chữ khác nhau ở hai nơi: “Không”, và “tĩnh lặng” (khi Tu-bồ-đề ngồi dưới gốc cây).

“Không” là tất cả vũ trụ của ta (cả nội tâm lẫn ngoại tại).
“Tĩnh lặng” là một trạng thái nội tâm.

Trạng thái nội tâm của ta (tĩnh lặng, emptiness) cũng chính là vũ trụ của ta (Không, emptiness). Đây là một mệnh đề triết lý có thể được lý giải bằng những lý luận và từ ngữ triết lý phức tạp. Nhưng chúng ta có thể giản dị hóa vấn đề bằng quan sát rằng: “Khi tâm ta cực kỳ tĩnh lặng thì ta thấy thế giới quanh ta cực kỳ tĩnh lặng.”

Tức là, Vũ trụ ta thấy là do tâm ta thấy như vậy. Đây là quan niệm chủ quan về hiện hữu—Hiện hữu quanh ta chỉ có thể thấy được như tâm ta thấy.

Tức là, Vũ trụ mà ta thấy chỉ là l‎ý giải của tâm ta về vũ trụ ta nhìn.

Nghĩa là, mỗi người chúng ta “thấy” một vũ trụ, và vũ trụ ta thấy thì khác với vũ trụ người khác thấy.

Và nếu tôi không hiện hữu (ví dụ, tôi chết đi) thì vũ trụ tôi thấy cũng chết theo tôi. Không có tôi thì vũ trụ của tôi không hiện hữu.

Không có những người khác, thì những vũ trụ của họ cũng không hiện hữu.

Cho nên ta nói “Vũ trụ là do tâm ta sinh ra.” Nếu ta chết, vũ trụ của ta chết theo.


• Nhưng, dù là chúng ta chỉ có được cái nhìn chủ quan về hiện hữu thì hiện hữu vẫn phải “có” đó một cách khách quan, trong một dạng nào đó, dù là không ai nắm bắt được khách quan tính của nó. (Ngay cả nói nó “có” đó một cách khách quan cũng đã là sai rồi, vì “có” là hiện hữu, mà hiện hữu nào thì cũng chỉ là cái nhìn chủ quan méo mó, không bảo đảm, của tôi).

Ta gọi tính khách quan của vũ trụ là Không, vì không diễn tả được cách nào cả, ngoài việc dùng tạm tên “Không”; nếu diễn tả bằng ngôn từ, thì ngôn từ sẽ biến Không thành “l‎ý giải chủ quan của hiện hữu” mất rồi.

• Đó là ‎ý nghĩa của câu: “Không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.”

Không có gì hiện hữu đối với tôi ngoại trừ trong liên hệ chủ quan giữa nó với tôi—cái nhìn chủ quan của tôi về nó.

Không có gì hiện hữu với tôi ngoại trừ trong liên hệ giữa hình ảnh chủ quan của nó trong tâm trí tôi và một suy luận chủ quan của tôi là nó phải hiện hữu khách quan một cách nào đó (để tôi có thể nhìn và thấy nó một cách chủ quan).

Ngoài những cái nhìn chủ quan (méo mó) và suy luận chủ quan (méo mó) của tôi về chủ quan và khách quan, thì chẳng thể nói gì chính xác về hiện hữu cả.

Bên ngoài và bên trên những cái nhìn và suy luận này thì cùng lắm chỉ có một “cái” chính xác nhưng lại không diễn tả được–đó là Không, cái khách quan tính của hiện hữu mà vĩnh viễn tôi không thể nào mô tả hoặc nắm bắt được.

• Vì không thể mô tả và nắm bắt “Không” được, nên Tu-bồ-đề đã chẳng nói gì về Không, và chư thiên đã chẳng nghe gì về Không, và như thế Không là Không.

• Liên hệ chủ quan và khách quan là các từ triết lý tây phương. Ở Đông phương, người ta thường nói đến “tánh” (khách quan) và tướng (chủ quan), hay “thể” (khách quan) và “dụng” (chủ quan).

• Đây là vũ trụ quan của Phật giáo. Và đồng thời cũng là nhân sinh quan, khi Tu-bô-đề ở trong “subtime emptiness” (“cái Không vi diệu”, mà chúng ta đã dịch là “cực kỳ tĩnh lặng”).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Flower Shower

Subhuti was Buddha’s disciple. He was able to understand the potency of emptiness, the viewpoint that nothing exists except in its relationship of subjectivity and objectivity.

One day Subhuti, in a mood of sublime emptiness, was sitting under a tree. Flowers began to fall about him.

“We are praising you for your discourse on emptiness,” the gods whispered to him.

“But I have not spoken of emptiness,” said Subhuti.

“You have not spoken of emptiness, we have not heard emptiness,” responded the gods. “This is true emptiness.” And blossoms showered upon Subhuto as rain.

# 36

Tò mò


Chúng ta không ngừng tiến lên phía trước, mở những cánh cửa mới, và làm những điều mới, bởi vì chúng ta tò mò. Tính tò mò sẽ dẫn chúng ta đến những con đường mới.

Trần Thị Thu Hiền dịch

.

We keep moving forward, opening new doors, and doing new things, because we’re curious and curiosity keeps leading us down new paths.

Walt Disney

Ông đồ già – The old master

Chào các bạn,

Không là Tết nếu không có Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên. Dù rằng ngày nay ta có nhiều ông đồ trẻ viết thư pháp.

Mỗi dịp Tết về, đọc lại Ông Đồ Già để bùi ngùi cho một thời đã qua hay đang qua. Thay đổi và tiến hóa, dù là luật tự nhiên, cũng không khỏi làm ta bồi hồi mỗi khi ký ức vọng lại.

Mình đã dịch bài Ông Đồ Già sang tiếng Anh vài năm trước, hôm nay lại biên tập thêm một tí và post lại đây chia sẻ với các bạn.

Chúc cả nhà một mùa xuân đỏ như giấy thư pháp!

Hoành
.

The Old Master

Each year when the plum blossoms flowered
Back here came the old master
Spreading red scrolls and Chinese ink
At this busy street corner

Buyers of calligraphies
Many whispered admiringly
“The fine hand moves the brush
Like phoenix dances and dragon flies.”

But each year the guests came fewer
Where had they gone, those old admirers?
Red paper grieved and dulled
Black ink dried up in the forlorn bowl…

The old master still sat there
But passers-by no longer cared
Dead leaves dropped on the scrolls
Over the sky a mist rain blowed

This year the plum blossoms again flower
But the old master is here no longer
All the folks of yesterdays
Where do their souls now stay?

    Translated by TĐH
    (Virginia, Feb. 6, 2005, Jan. 29, 2008, Feb. 10, 2010)

.

Ông Đồ Già

    Vũ Đình Liên


Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.

Nhưng mỗi năm mỗi vắng,
Người thuê viết nay đâu ?
Giấy đỏ buồn không thấm
Mực đọng trong nghiên sầu …

Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay.
Lá vàng rơi trên giấy,
Ngoài giời mưa bụi bay.

Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ ?

Đời vui


Ồ, đời là một vòng nhạc kỳ diệu
Một mớ những hứng khởi bất ngờ
Và tình yêu không bao giờ lầm lỗi
Và tôi là Marie của Romania

Nguyễn Hoàng Long dịch

.

Oh, life is a glorious cycle of song,
A medley of extemporanea;
And love is a thing that can never go wrong;
And I am Marie of Romania.

Dorothy Parker (1893 – 1967), Not So Deep as a Well (1937)

Thắp Lửa Trong Lòng

.

Trong cuộc sống, một lúc nào đó ngọn lửa trong lòng chúng ta vụt tắt. Sau đó, nó lại bùng cháy mãnh liệt khi gặp một người khác. Chúng ta nên cảm ơn những người đã thắp lại ngọn lửa tinh thần.
.

LâmThanh Thanh dịch
.

In everyone’s life, at some time, our inner fire goes out. It is then burst into flame by an encounter with another human being. We should all be thankful for those people who rekindle the inner spirit.


~Albert Schweitzer