Category Archives: Video & PPS

Ngụ Ngôn Từ Một Giấc Mơ

susanboyle
Câu chuyện của Susan Boyle là ngụ ngôn thời hiện đại của chúng ta. Người phụ nữ trung niên này là một ca sĩ rất tài năng, và đức hạnh, là người con hiếu thảo chăm sóc bà mẹ góa nhiều năm cho đến khi bà qua đời 2 năm trước.

Vì sao Susan Boyle bị cười nhạo khi cô bước ra sân khấu trong cuộc thi vòng loại “ Nước Anh Có Tài Năng 2009” vào một đêm thứ bảy. Cuộc thi này đã kéo dài từ tháng 1 đến tháng 2 / 2009.

Người phụ nữ này, mới đây thất nghiệp,  sống một cuộc đời lặng lẽ , chỉ có ca hát làm lẽ sống; mà kinh nghiệm ca hát của cô chỉ giới hạn ở ban đồng ca nhà thờ và hát Karaoke

Khi mới được sinh ra , cô bị thiếu oxy, và do đó rất khó khăn trong học tập. Khi đi học cô học chậm ; với mái tóc quăn, cô thường bị bắt nạt, chủ yếu bằng những lời nặng nhẹ, chê bai, và mắng mỏ. Cô đã kể với một phóng viên rằng những lời nhục mạ của bạn học thời ấy đã để lại những vết sẹo trong tâm hồn cô.

Cô không có bạn trai, là một người lạ lẫm với chuyện yêu đương lãng mạn, chưa bao giờ được hôn, chưa từng có một lần hò hẹn. “Thật đáng xấu hổ !”, cô nói. Và ca hát là chiếc bè cứu đắm cho cuộc đời cô.

Cô sống với cha mẹ trong một ngôi nhà 4 phòng nhỏ ở West Lothian, và khi cha cô chết 10 năm trước, cô chăm sóc mẹ và hát trong ca đoàn.

Khi ban giám khảo và khán giả nhìn thấy người phụ nữ trung niên, to béo, ăn mặc có vẻ quê mùa, vụng về, bước lên sân khấu,  họ bắt đầu cười khỉnh. Khi cô nói cô muốn có một sự nghiệp ca hát sánh ngang với Elaine Paige ( một danh ca 61 tuổi của nước Anh), tất cả khán giả đều sửng sốt . Khi cô nói với giám khảo Simon Cowell, rằng cô đã không có cơ hội để phát triển sự nghiệp ca hát của mình cho đến bây giờ đã 47 tuổi , 3000 khán giả cười phá lên và 3 giám khảo không nén được cũng  phì cười. Nhưng khi cô cất tiếng hát bài I Dreamed a Dream ( Tôi Đã Mơ một Giấc Mơ) trong vở nhạc kịch Les Miserables ( Những Người Khốn Khổ), tất cả mọi người như bị thôi miên và sau đó hoan hô nồng nhiệt.

Simon Cowell nói giọng của cô “đặc biệt”, Amanda Holden xúc động đến rơi lệ khi nghe cô hát, và người giám khảo thứ ba , Piers Morgan, thừa nhận tài nghệ của cô là độc đáo lạ thường nhất trong 3 năm ông làm giám khảo cuộc thi này.

Giấc mơ của Susan Boyle đã thành hiện thực. Chúng ta học được gì từ câu chuyện như cổ tích, ngụ ngôn thế kỷ 21 này?

1. Nếu không có tài năng thực sự, cô hẳn đã là nạn nhân và đối tượng của những lời nhạo báng, mỉa mai, hay thương hại.

2. Cô rất can đảm, thực sự dũng cảm khi chịu đựng những điều bất hạnh của cuộc đời từ thời thơ ấu, cho đến khi đã bước qua tuổi thanh xuân vẫn không có tình yêu đôi lứa. Trong cảnh ngộ như thế, cô vẫn không đánh mất ước mơ , vẫn đam mê ca hát và kiên trì rèn luyện cho tài năng theo cách của mình : sống âm thầm giản dị và có ích : chăm sóc cha mẹ  và hát trong ca đoàn. Nếu không có sự dũng cảm,  ý chí kiên trì, và niềm tin vào ước mơ cũng như năng lực bản thân, cô hẳn đã không thắng nổi mặc cảm, quên đi  những vết sẹo ấu thơ,  và không dám tham gia vào cuộc thi tuyển chọn  tài năng của nước Anh

3. Dù bên ngoài cô như một con vịt xấu xí, cô vẫn rất đẹp trong tâm hồn, với  lòng hiếu thảo,  và tài năng, cô đã tỏa sáng bằng giọng hát của  thiên thần của mình.

4. Chúng ta thêm một lần nữa đọc và suy ngẫm lại những câu ngạn ngữ đã được học từ lâu: “Đừng đánh giá con người qua bề ngoài”, “Cái đẹp thực sự là cái đẹp ở bên trong tâm hồn”; “Dù trong cảnh ngộ nào, không được đánh mất ước mơ “; “Có công mài sắt, có ngày nên kim .“

Mời các bạn nghe bài hát “I Dreamed A Dream “ mà Susan Boyle đã hát trong cuộc thi nói trên :

http://www.youtube.com/watch?v=9lp0IWv8QZY
.

I Dreamed A Dream

There was a time when men were kind,
And their voices were soft,
And their words inviting.
There was a time when love was blind,
And the world was a song,
And the song was exciting.
There was a time when it all went wrong…

I dreamed a dream in time gone by,
When hope was high and life, worth living.
I dreamed that love would never die,
I dreamed that God would be forgiving.
Then I was young and unafraid,
And dreams were made and used and wasted.
There was no ransom to be paid,
No song unsung, no wine, untasted.

But the tigers come at night,
With their voices soft as thunder,
As they tear your hope apart,
And they turn your dream to shame.

He slept a summer by my side,
He filled my days with endless wonder…
He took my childhood in his stride,
But he was gone when autumn came
And still I dream he’ll come to me,
That we will live the years together,
But there are dreams that cannot be,
And there are storms we cannot weather!
I had a dream my life would be
So different from this hell I’m living,
So different now from what it seemed…
Now life has killed the dream I dreamed..

.

I Dreamed A Dream (In Les Miserables)

Tôi đã mơ một giấc mơ
Đã có một thời người ta tử tế
Giọng nói của họ nhẹ nhàng,
Và ngôn từ của họ mời mọc.
Đã có một thời tình yêu mù quáng
Và thế giới là một bài ca
Và bài ca ấy thật là kích thích.
Đã có một thời mọi việc không êm xuôi…

Tôi từng mơ giấc mơ của một thời đã qua,
Khi hi vọng còn đầy và cuộc đời đáng sống.
Tôi đã mơ rằng tình yêu không bao giờ chết,
Tôi đã mơ rằng Chúa sẽ thứ tha.
Khi ấy tôi còn trẻ và không hề sợ hãi,
Và những giấc mơ được đắp xây, sử dụng, và bỏ phí.
Không có tiền chuộc nào để trả,
Chẳng bài ca nào không hát, chẳng rượu nào không uống.

Nhưng đàn hổ đến về đêm,
Bằng chất giọng dịu dàng như sấm,
Chúng xé nát hi vọng của bạn,
Và chúng khiến hi vọng của bạn biến thành nỗi nhục,

Chàng ngủ cạnh tôi suốt một mùa hè
Chàng làm đầy những ngày của tôi bằng diệu kỳ bất tận
Chàng lấy tuổi thơ tôi trong bước chàng đi

Và tôi vẫn mơ chàng sẽ đến.
Rằng chúng tôi sẽ sống những năm tháng cùng nhau,
Nhưng có những giấc mơ không bao giờ là thực
Và những cơn bão tố ta không thể chống chọi!

Tôi đã có một giấc mơ rằng đời tôi sẽ
Khác xa địa ngục tôi đang sống,
Giờ đây khác xa những gì tôi tưởng
Giờ đây cuộc đời đã giết giấc mơ tôi đã mơ..

Huỳnh Huệ tổng hợp và dịch

Lắng nghe Việt Nam 1

lnvn5
Chào các bạn,

Bạn Phạm Thành Nhơn đã khởi hành sáng sớm chúa nhật 19.4.2009 và đã đi được 86km, qua Sài Gòn, Long An, Tiền Giang và Bến Tre, khi gởi những hình ảnh và thông tin đầu tiên về “headquarters.” Mình đã thông tin đến các các bạn ngay sau khi nhân được tin (khoảng 4 giờ sáng, giờ Washington DC). Và hôm nay, thứ hai 20.4.2009 mình và bà xã đã dùng những hình ảnh đầu tiên để soạn môt slideshow, chia sẻ cùng Nhơn và các bạn.

Các bạn muốn gởi đến Nhơn vài dòng ủng hộ tinh thần, có thể dùng các địa chỉ sau:

Email: nhonpt@gmail.com
Mobile: (+84) – 987 728 911
YIM: companion7_18
Skype: nhonpt
Web: http://www.nhonpt.com

Và dĩ nhiên là trang Lắng Nghe Việt Nam trên Đọt Chuối Non.

Xin click vào ảnh dưới đây để xem và download slideshow

Mến,

Hoành

Đàn tranh Koto Nhật Bản

kotoKoto là một loại đàn Tam thập lục. Nó đã từng được dùng như một nhạc khí chính trong dàn nhạc thính phòng, chơi theo lối nhạc cổ truyền Nhật Bản. Chiều dài của Koto vào khoảng 180cm. Một cậy đàn Koto truyền thống có 13 dây, được căng ngang qua 13 thanh ngựa đàn có thể dịch chuyển được ở suốt dọc chiều dài đàn. Người chơi điều chỉnh âm cơ bản của đàn bằng cách di chuyển 13 ngựa đàn này trước khi chơi.

kotostringsCác sử gia cho rằng Koto ra đời vào khoảng thế kỉ XV – XIII trước Công nguyên ở Trung Quốc. Ban đầu đàn chỉ có 5 dây, sao đó tăng lên 12, và cuối cùng là 13 dây. Đó là đàn Koto 13 dây được du nhập vào Nhật trong thời Nara (710-794). Thời gian đầu, loại đàn này chỉ được chơi trong cung đình, sau đó nó được chơi chủ yếu bởi những nhạc công mù (hầu hết những dòng nhạc Nhật tiền cận đại đều được những nhạc công mù, thầy tu và người trong hoàng cung chơi).

Vào thế kỉ XVII (thời Edo), Yatsuhashi Kengyo (1614-1685), một trong những bậc thầy chơi Koto trong giới nhạc công mù, đã thành công trong việc chuyển Koto thành nhạc cụ độc tấu. Và vì vậy ông được biết đến như cha đẻ của phong cách chơi Koto hiện đại. Đến thế kỉ XX, Michio Miyagi (1894-1956), cũng là một nhạc công Koto mù, đã đưa phong cách nhạc phương Tây vào âm nhạc của Koto.

koto-playingBan đầu, Koto thường được chơi cùng với các nhạc khí bộ dây và bộ khí khác, nhưng sau này, người ta đã dùng nó để độc tấu. Nó cũng thường được chơi với shamisen và shakuhachi (một loại sáo làm từ tre) hoặc để đệm hát.

Trong các loại nhạc cụ truyền thống của Nhật Bản, Koto có lẽ là loại nhạc cụ quen thuộc và phổ biến nhất. Trong những ngày lễ hội đầu năm, người ta thường song tấu với shakuhachi làm nhạc nền, và vào mùa hoa anh đào, mọi người thường được nghe giai điệu quen thuộc, chơi bằng đàn Koto.

Dưới đây là một đoạn video clip có nhạc nền được chơi bằng đàn Koto. Mời các bạn thưởng thức.

Thế giới kỳ diệu thay!

illustration_art_of_children_b10-psd-012Thói quen nghe nhạc của mọi người ở các độ tuổi rất khác nhau, như thời gian nghe, không gian, loại nhạc, giai điệu, nhạc sĩ và ca sĩ…. . Nhưng chắc chắn chẳng ai có thể phủ nhận giá trị của âm nhạc trong đời sống chúng ta. Từ những bài hát dân ca, những câu ca dao mẹ ru ngày ta còn bé tí teo, cho đến khi ta thành những cô cậu nhóc thiếu niên hát những bài thiếu nhi, và lớn hơn chút nữa ở tuổi bắt đầu thích nghe và hát những bài tình ca. Đó là chưa kể đến tác dụng của nhạc đỏ, còn gọi là nhạc cách mạng. “Các ca khúc nhạc đỏ thường để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ kháng chiến , truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng, cũng có cả những bài hát trữ tình, thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng.” (Wikipedia)

Một trong những thói quen của tôi đầu ngày khi ngồi vào bàn làm việc, hay khi có chút thời gian giải lao giữa giờ làm việc là chọn một bản nhạc vui để nghe. Tôi thực sự thấy tác dụng tốt của một bản nhạc vui: rộn ràng và vui vẻ bắt đầu một ngày làm việc, và thư giãn giữa giờ để sau đó tiếp tục với công việc.

Hai bản nhạc sau sẽ đem lại cho người nghe sự sảng khoái, tươi vui, và yêu đời hơn chỉ với 1 cái click: WHAT A WONDERFUL WORLD!

Thế giới này thực sự kỳ diệu các bạn ạ, cho dù có những lúc lòng ta nặng trĩu ưu tư, có khi mọi việc không như ta mong muốn.

Thế giới này, và cuộc đời vẫn tuyệt vời vì ta được sống, vì ta có những thứ thiên nhiên ban tặng hào phóng: trời xanh, mây trắng, cầu vồng bảy sắc, chim xanh bay lượn, ánh dương rạng rỡ của ngày, và cả bóng đêm bí ẩn, hoa hổng thắm, những nụ cười trên khuôn mặt người trên đường, những câu chào của bạn bè, trẻ em khóc cười, lớn lên, hiểu biết, có gia đình yêu thương , và nhất là có những giấc mơ của mỗi chúng ta (có hay không các vì sao băng), những giấc mơ về một khát vọng, một nơi chốn bình yên đâu đó tít trên cao, cao hơn chiếc cầu vồng.

Và âm nhạc tuyệt vời nữa.

1/ BÀI THỨ NHẤT : WHAT A WONDERFUL WORLD

Bản nhạc này do Louis Armstrong trình bày. Ông là nghệ sĩ kèn trumpet và ca sĩ nhạc jazz, trưởng ban nhạc, được xem là một nghệ sĩ lớn có ảnh hưởng rất quan trọng đến lịch sử nhạc jazz của nước Mỹ. Chúng ta sẽ ngạc nhiên hơn khi biết người nghệ sĩ này đã lớn lên và vượt qua thời thơ ấu khốn khổ trong một gia đình có hoàn cảnh bi đát dường nào.

Ông sinh năm 1901, mất năm 1971, sinh ra và sống thời thơ ấu trong khu nghèo nhất, khu ổ chuột của New Orleans, bang Louisiana, Mỹ. New Orleans, một thành phố có đặc trưng văn hóa đa dạng, với sự hòa trộn độc đáo âm nhạc của người da màu, nhạc ragtime, các khúc quân hành, và nhạc blue buồn.

Ông nội của Armstrong là nô lệ gốc Phi. Cha mẹ ông không cưới nhau mà có con. Khi ông còn nhỏ, cha ông William Armstrong (1881–1922) bỏ nhà đi theo người đàn bà khác. Mẹ ông, Mayann Armstrong (1886–1942) sau đó bỏ ông cho bà nội nuôi. Khi Armstrong lên 5, mẹ ông về sống với gia đình, từ đó ông chỉ gặp cha mình những lần lễ lạc. Ông theo học trường Fisk School và bắt đầu thích nghe nhạc Creole (một loại nhạc của người da đen lai) . Louis Armstrong cố gắng kiếm tiền bằng cách bán báo, lượm thức ăn bán lại cho nhà hàng, nhưng gia đình ông quá túng thiếu đến nỗi mẹ ông phải làm nghề mại dâm. Armstrong làm nghề kéo xe chở than đến Storyville, và lai vãng các sàn nhảy, chổ chứa, để hóng nghe các ban nhạc trình tấu. Ông đã bắt đầu học nhạc như thế đó.

Mặc dù từ khi còn bé, ông đã có thể chơi nhạc chuyên nghiệp, nhưng ông chỉ chơi nhạc ở quê nhà. Đến năm 22 tuổi (1922), ông mới lên Chicago gia nhập ban nhạc của King Oliver. Sau đó vào năm 1925 , ông rời ban nhạc của Oliver và lên New York để gia nhập giàn nhạc giao hưởng Fletcher Henderson, và nhanh chóng nổi tiếng trong làng âm nhạc tại đây. Rất nhiều những bản nhạc thành công vang dội “bán chạy nhất“ của ông liên tục ra đời vào những thập niên 20, 30. Louis Armstrong bắt đẩu nổi tiếng từ thập niên 1920, sử dụng kèn cornet và trumpet điệu luyện. Ông đặt nền móng và tạo ảnh hưởng lớn cho phong trào nhạc jazz, chuyển hướng chơi nhạc từ trình diễn sáng tác tùy hứng chung sang hình thức trình diễn độc tấu. Ngoài cách bấm và thổi kèn độc đáo, ông còn có giọng hát khàn rất đặc biệt, thường uốn vặn âm điệu, lời ca của bài hát nhiều kiểu, với mục đích biểu cảm. Ảnh hưởng của Louis Armstrong không chỉ trong lãnh vực nhạc jazz mà còn lan sang nhạc pop trong thập niên 1960.

Theo bình luận gia âm nhạc Steve Leggett, Armstrong “có lẽ là người có ảnh hưởng lớn nhất trong nền ca nhạc Mỹ trong thề kỷ 20.”

Armstrong lớn lên từ giai cấp xã hội hèn mạt nhất, trong một thị trấn bị kỳ thị, nhưng lại có nền âm nhạc sâu đậm, nóng bỏng – lúc bấy giờ gọi là nhạc “ragtime” (thời đói rách) chứ chưa gọi là nhạc jazz. Tuy thời thơ ấu ông sống trong cảnh đói nghèo, Louis Armstrong không cho rằng đó là điều đáng buồn mà là nguồn cảm hứng vô biên, ông từng nói: “Mỗi khi tôi nhắm mắt thổi cái kèn của tôi – tôi nhìn thẳng vào trái tim của thành phố New Orleans xa xưa … Nó đem lại cho tôi một cái gì đó để tôi bám vào mà sống.

I see trees of green, red roses, too
I see them bloom for me and you
And I think to myself what a wonderful world.

I see skies of blue and clouds of white
Bright blessed days., dark sacred nights
And I think to myself what a wonderful world

The colors of a rainbow so pretty in the sky
Also on the faces of people going by
I see friends shaking hands saying how do you do
They’re really saying I love you.

I hear babies cry I watch them grow
They’ll learn much more than I’ll ever know
And I think to myself what a wonderful world

And I think to myself …..what a wonderful world
Yes I think to myself …….what a wonderful world.

Tôi nhìn thấy cây cối xanh tươi, và cả những đóa hồng đỏ thắm
Tôi thấy hoa nở cho tôi và cho bạn
Và tôi thầm nghĩ thế giới kỳ diệu biết bao

Tôi nhìn thấy bầu trời xanh… những đám mây trắng
Những ngày lành bừng sáng… những đêm tối thiêng liêng
Và tôi thầm nghĩ cuộc đời kỳ diệu biết bao!

Những sắc màu của chiếc cầu vồng trên trời sao đẹp thế!
Và cả trên nét mặt của những người đang bước qua tôi
Tôi nhìn thấy bạn bè bắt tay nhau chào hỏi
Họ đang thực sự nói câu: Tôi yêu bạn

Tôi nghe tiếng trẻ thơ khóc
Tôi nhìn các bé lớn lên
Các bé sẽ học – biết được nhiều hơn tôi có thể biết
Và tôi thầm nghĩ… thế giới kỳ diệu biết bao
Và tôi thầm nghĩ… thế giới này kỳ diệu biết bao

2/ BÀI THỨ HAI : SOMEWHERE OVER THE RAINBOW/ WHAT A WONDERFULWORLD

Somewhere Over the Rainbow là một bài hát do Harold Arlen viết nhạc, E.Y. Harburg soạn lời và được trình diễn lần đầu năm 1939 bởi ca sĩ-diễn viên Judy Garland cho bộ phim The Wizard of Oz. Tác phẩm này được coi là một trong những ca khúc đáng nhớ nhất của âm nhạc và điện ảnh Hoa Kỳ thế kỷ 20, nó được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ bình chọn là bài hát của thế kỷ 20 và cũng được Viện Phim Mỹ xếp đầu tiên trong danh sách 100 ca khúc đáng nhớ nhất của điện ảnh Hoa Kỳ thế kỷ 20

Bài hát này do Alvin and the Chipmunks trình bày

Somewhere over the rainbow way up high
And the dreams that you dream of once in a lullaby
Somewhere over the rainbow blue birds fly
And the dreams that you dream of, dreams really do come true
Someday I’ll wish upon a star, wake up where the clouds are far behind me
Where trouble melts like lemon drops
High above the chimney tops is where you’ll find me
Somewhere over the rainbow bluebirds fly
And the dreams that you dare to, oh why, oh why can’t I?
Well I see trees of green and red roses too,
I’ll watch then bloom for me and you
And I think to myself, what a wonderful world
Well I see skies of blue and I see clouds of white and the brightness of day
I like the dark and I think to myself, what a wonderful world
The colors of the rainbow so pretty in the sky
are also on the faces of people passing by
I see friends shaking hands saying, How do you do?
They’re really saying, I, I love you
I hear babies cry and I watch them grow,
They’ll learn much more than we’ll know
And I think to myself, what a wonderful world
Someday I’ll wish upon a star, wake up where the clouds are far behind me
Where trouble melts like lemon drops
High above the chimney tops is where you’ll find me
Somewhere over the rainbow way up high
And the dreams that you dare to, oh why, oh why can’t I?

Ooooo oooooo oooooo

Ở một nơi nào đó đó trên chiếc cầu vồng
Trên cao
Và những giấc mơ bạn đã mơ
Một thời trong một bài hát ru
Ở nơi nào đó trên chiếc cầu vồng
Chim xanh bay
Và những giấc mơ bạn đã mơ
Những giấc mơ ấy thực sự thành hiện thực
Một ngày nào đó tôi sẽ ước có một ngôi sao
Thức dậy nơi những đám mây ở xa tít phía sau tôi
Nơi mà những ưu phiền chảy tan
Như những viên kẹo chanh
Bạn sẽ tìm thấy tôi trên cao bên trên chóp ống khói
Ở nơi nào đó trên chiếc cầu vồng chim xanh bay
Và giấc mơ bạn dám mơ, ồ, tại sao tôi không thể mơ nhỉ?
A, tôi thấy cây cối xanh tươi, và cả hoa hồng đỏ thắm nữa
Tôi sẽ ngắm hoa nở cho tôi và bạn
Và tôi thầm nghĩ .. cuộc đời kỳ diệu biết bao
A, tôi thấy những khung trời xanh biếc , và những đám mây trắng ngần
Và ngày tươi sáng
Tôi cũng thích bóng đêm và tôi thầm nghĩ
Thế giới này tuyệt vời biết bao
Những sắc màu của chiếc cầu vồng trên trời sao đẹp thế
Và cả trên nét mặt của những người đang bước qua tôi
Tôi nhìn thấy bạn bè bắt tay nhau chào hỏi
Họ đang thực sự nói câu: Tôi yêu bạn
Tôi nghe tiếng trẻ thơ khóc
Tôi nhìn các bé lớn lên
Các bé sẽ biết nhiều hơn tôi có thể biết
Và tôi thầm nghĩ .. thế giới kỳ diệu biết bao
Một ngày nào đó tôi sẽ ước có một ngôi sao
Thức dậy nơi những đám mây ở xa tít phía sau tôi
Nơi mà những ưu phiền chảy tan
Như những viên kẹo chanh
Bạn sẽ tìm thấy tôi trên cao bên trên chóp ống khói
Ở một nơi nào đó cao trên chiếc cầu vồng
Và giấc mơ bạn dám mơ, ồ, tại sao tôi không mơ được nhỉ?

Huỳnh Huệ dịch và tổng hợp

Tranh giấy cắt dân gian Trung Quốc

jinzu5bTranh giấy cắt được làm hoàn toàn bằng thủ công, chỉ cần một chiếc kéo, một tờ giấy màu là bạn đã có ngay những bức tranh bằng giấy với những hình ảnh thiên nhiên sống động. Tranh cắt giấy thể hiện tập quán, thẩm mỹ và thị hiếu khác nhau của các vùng miền trên khắp đất nước Trung Quốc

Tranh giấy cắt là một trong những nghệ thuật dân gian lưu hành nhất tại Trung Quốc. Cội nguồn tranh giấy cắt có từ bao giờ thì khó mà có thể tra cứu được. Thế nhưng, hơn nghìn năm trước, tranh giấy cắt đã được dùng để trang trí và tạo hình nghệ thuật. Theo sách sử ghi chép, phụ nữ thời nhà Đường từng lấy tranh giấy cắt để làm trang sức trên đầu, hoặc còn có tập tục dùng tranh giấy cắt hình cánh bướm để đón xuân. Đến thời nhà Tống thế kỷ thứ 12, có người dùng tranh giấy cắt nhỏ để trang trí cho lễ vật quà tặng, có người dán tranh giấy cắt lên rầm cửa và cửa sổ, hoặc trang trí tường, gương và đèn lồng. Từ đó đã xuất hiện nghệ nhân chuyên nghề tranh giấy cắt.

Tranh giấy cắt có đủ hình thù, đủ loại. Từ động vật nhỏ đáng yêu như con chim, con cá… đến những nhân vật trong truyền thuyết dân gian, những hình tượng trong tác phẩm văn học cổ điển, mặt nạ Kinh kịch …đều có trong tranh giấy cắt.

jianzhiDo tập quán, thẩm mỹ và thị hiếu của nhân dân các địa phương Trung Quốc khác nhau, phong cách tranh giấy cắt của các địa phương mang bản sắc riêng của mình. Tranh giấy cắt miền Bắc phóng khoáng, mạnh mẽ, mang nhiều đề tài quy mô, tranh giấy cắt miền Nam xinh xắn, thường có cảnh non nước. Người xưa thường dùng giấy màu đỏ để cắt, bởi họ tin rằng màu đỏ sẽ đem lại cho họ sự may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống. Song bất kể là mang đề tài gì, tranh cắt giấy đều đòi hỏi phải truyền thần như thật.

pic1Với những người nghệ nhân tài hoa, để tạo ra một bức tranh giấy hoàn hảo, họ cần có đầy đủ dao kéo kích cỡ khác nhau để cắt. Tranh giấy cắt có thể cắt từng tờ một, cũng có thể một lần cắt nhiều tờ. Với những hình ảnh đơn giản có thể cắt trực tiếp, với những hình phức tạp thì thường phải thiết kế bản mẫu trước, rồi in lên mặt giấy, sau đó dùng mười mấy con dao khắc đường nét hình ảnh lên đó. Tranh giấy cắt đòi hỏi sự tỉ mẩn và kiên nhẫn đến từng chi tiết.

Hiện nay, tranh cắt giấy đã từ trang trí cho sinh hoạt hằng ngày, phát triển thành một loại hình nghệ thuật riêng biệt. Hình ảnh tranh giấy cắt cũng không ngừng phong phú theo thời đại phát triển, tô điểm thêm cho cuộc sống muôn màu.

Loan Subaru

 

Vietnam Veterans Memorial — Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam

Vietnam Veterans Memorial chụp từ vệ tinh
Vietnam Veterans Memorial chụp từ vệ tinh

Một trong những nơi thu hút khách du lịch nhiều nhất ở Washington DC là Vietnam Veterans Memorial–Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam, tưởng niệm các chiến binh Mỹ đã hy sinh trong trận chiến tại Việt Nam. Đây là chứng tích cho cuộc chiến lâu nhất trong lịch sử nước Mỹ. Mỗi năm trung bình có khoảng 3 triệu người thăm viếng.

VVM với Đài Tưởng Niệm Washington (Tháp bút chì) phía cuối ảnh
Vietnam Veterans Memorial với Đài Tưởng Niệm Washington (Tháp bút chì, trắng) phía cuối ảnh

Vietnam Veterans Memorial là một đài tưởng niệm đầy ấn tượng, bởi vì khác với những đài tưởng niệm khác thường đứng hùng dũng trên mặt đất và màu trắng, Vietnam Veterans Memorial là một hình chữ V dài bằng đá hoa cương đen, đứng thấp dưới mặt đất, trên đó khắc tên của 58.256 chiến binh Mỹ tử trận và mất tích tại Việt Nam, khoảng 1.200 người trong số này được ghi là mất tích.

Nếu từ ngoài công viên nhìn vào người ta không thể thấy Đài tưởng niệm này vì nó ở dưới lòng đất. Các cựu chiến binh Mỹ chỉ gọi Đài tưởng niệm này là “The Wall” (Bức Tường).
vietnammemorialwall

Đồ án chữ V này do May Ying Lin, một nữ sinh viên kiến trúc năm thứ 3 tại Đại Học Yale vẽ, thắng cuộc thi vẽ mẫu gồm 1.421 đồ án dự thi năm 1981. Vào lúc đó đồ án thắng cuộc của May Ying Lin gây rất nhiều tranh cãi vì đó là bài cô làm cho một bài tập trong lớp học về vẽ một kiến trúc tang chế (funerary design).

The Three Soldiers
The Three Soldiers

Bức Tường gồm có hai cánh của chữ V, dài tổng công 75 m. Hai cánh đều nằm dưới mặt đất, phía sau lưng là đất, vùng đất phía trước được vạt xuống để tạo khoảng trống cho Bức Tường. Hai đầu cánh của Bức Tường bắt đầu chiều cao khoảng 20 cm, cao từ từ đến điểm cao nhất là đỉnh chữ V — 3 m.

Bức Tường được khánh thành ngày 13 tháng 11 năm 1982, sau một cuộc diễn hành của các cựu chiến binh. Đến tháng 1 năm 1982, bức tượng The Three Soldiers (Ba Chiến Sĩ) được mang vào đặt gần Bức Tường, đề làm giảm bớt vẻ tang chế cùa đồ án nguyên thủy.

Vietnam Women's Memorial
Vietnam Women's Memorial

Các kỹ vật tại Bức Tường
Các kỹ vật tại Bức Tường

Ngày 11 tháng 11 năm 1983, Đài Tưởng Niệm Phụ Nữ (Phục Vụ Tại) Việt Nam — Vietnam Women’s Memorial — được khánh thành. Đài tưởng niệm này là môt bức tường các nữ y tá đang làm việc cứu thương, đặt gần Bức Tường.

Ngày nay Bức Tường được xem là “nơi chữa lành vết thương của những người bị ảnh hưởng bởi một trong những cuộc chiến gây chia rẽ nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ.” Hầu như ngày nào ta cũng thấy có người đặt dưới chân Bức Tường một lá thơ, một bó hoa, một lá cờ, hay một kỹ vật nào đó. Cơ quan quản lý Bức Tường có cả kho các thơ từ và kỹ vật này.

Đây là nơi người Việt cũng nên thăm viếng, vì Bức Tường vừa giúp ta hiểu thêm một tí về tâm thức người Mỹ vừa có thể giúp ta chữa lành một phần vết thương trong tâm thức của chính ta.

Dưới đây là video lễ khánh thành Bức Tường năm 1982, và video kỹ niệm 25 năm ngày thành lập Bức Tường–26 tháng 3 năm 2007.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

.

Vương Quốc Bhutan

Quốc kỳ Bhutan
Quốc kỳ Bhutan

Bhutan có thể xuất phát từ từ ‘Bhu-Utthan’ trong tiếng Phạn có nghĩa “cao nguyên”. Một giả thuyết khác cho rằng nó là sự Phạn hóa, từ Bhoṭa-anta có nghĩa “nơi chấm dứt của Tây Tạng” hay “phía nam Tây Tạng”. Tuy nhiên, một số người Bhutan gọi đất nước họ là Druk Yul, còn người dân là Drukpa. Cái tên Dzongkha (và Tây Tạng) cho đất nước này là Druk Yul (Vùng đất của Rồng Sấm). Vì sự thanh bình và thanh khiết của đất nước, cũng như những phong cảnh tại đó, Bhutan ngày nay thỉnh thoảng được gọi là Shangri-La cuối cùng.

Bản đồ Bhutan
Bản đồ Bhutan

Vương quốc Bhutan là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại Nam Á, nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Toàn bộ nước này đều là đồi núi ngoại trừ một dải đồng bằng cận nhiệt đới nhỏ ở vũng viễn nam bị phân cắt bởi các thung lũng được gọi là Duars. Độ cao tăng dần từ các đồng bằng cận nhiệt đới lên các đỉnh Himalaya băng tuyết vượt quá 7,000 m. Nền kinh tế truyền thống của Bhutan dựa trên lâm nghiệp, chăn nuôi, và nông nghiệp, nhưng chúng chưa chiếm tới 50% Tổng sản phẩm quốc nội hiện nay bởi Bhutan đã trở thành nước xuất khẩu thủy điện. Cây trồng, du lịch, và hỗ trợ phát triển (chủ yếu từ Ấn Độ) hiện cũng giữ vai trò quan trọng. Một cuộc điều tra dân số toàn quốc tiến hành tháng 4 năm 2006 cho thấy nước này có 672,425 người. Thimphu là thủ đô đồng thời là thành phố lớn nhất nước.

Bhutan là một trong những quốc gia cô lập nhất trên thế giới. Những ảnh hưởng nước ngoài và ngành du lịch bị nhà nước quản lý để bảo tồn nền văn hoá Phật giáo Tây Tạng truyền thống. Đa số người Bhutan hoặc học tại trường Phật giáo Tây Tạng Drukpa Kagyu hoặc trường Nyingmapa. Ngôn ngữ chính thức là Dzongkha (dịch nghĩa “ngôn ngữ của dzong”). Bhutan thường được miêu tả là nền văn hóa Phật giáo Himalaya truyền thống duy nhất còn sót lại.

Về lịch sử và văn hóa: Bhutan có liên hệ với vùng láng giềng Tây Tạng phía bắc, tuy nhiên về chính trị và kinh tế hiện vương quốc này có quan hệ gần gũi hơn với Ấn Độ.

taktshangBhutan đã trở thành một chế độ quân chủ từ năm 1907. Vua Jigme Singye Wangchuck, người từng có một số động thái hướng tới một chính phủ lập hiến, đã thông báo vào tháng 12 năm 2005 rằng ông sẽ thoái vị năm 2008 nhường chỗ cho người con trai lớn. Ngày 14 tháng 10 năm 2006, ông thông báo sẽ thoái vị ngay lập tức, và con trai ông – Jigme Khesar Namgyal Wangchuck, lên kế ngôi. Ngày 22 tháng 4 năm 2007, theo quyết định của hoàng gia, cuộc bầu cử nghị viện lần đầu tiên trong lịch sử đất nước được dự định tổ chức vào năm 2008.

Loan Subaru
.

Ngọn núi thiêng Kailash, Tây Tạng

 kailash_north2Kailash là đỉnh núi cao nhất trong dãy núi Gangdise to lớn, với độ cao 6,600m so với mực nước biển. Núi này nằm gần hai hồ thiêng: Manasarowa và Rakshastal. Với đặc điểm riêng, Kailash là địa điểm linh thiêng được tôn sùng nhất thế giới nhưng hiếm người thăm viếng, một siêu thánh địa của cả bốn nền tôn giáo: Đạo Phật, Đạo Hindu, Đạo JainsĐạo Bon, với hàng tỉ tín đồ. 

kailash_south_sideTuy thế, hàng năm không có hơn một nghìn người hành hương Kailash. Sự kỳ lạ này được lý giải vì ngọn núi nằm ở phía tây hẻo lánh của Tây tạng nên di chuyển rất khó khăn và đây thường là những chuyến đi đầy nguy hiểm. Thời tiết ở đây quanh năm buốt giá, có thể thay đổi đột ngột nên những người hành hương buộc phải mang theo rất nhiều đồ dự trữ cần thiết cho suốt cuộc hành trình. 

Kailash có nghĩa là Kho báu hay Vị thánh của núi tuyết. Đỉnh núi rất nhọn, trông như một kim tự tháp vươn lên chọc trời xanh. Nhìn từ phía Nam, những khối băng dựng đứng và những tảng đá đâm ngang trông giống như biểu tượng chữ thập ngoặc 卐 trong Phật giáo, thể hiện quyền năng bất diệt của Đức Phật. Kỳ diệu hơn, những đám mây sẽ tụ thành chòm ngay trên đỉnh núi vào những ngày đẹp trời khiến người ta nghĩ đến phúc lành.

Tín đồ Phật giáo tin rằng Đức Phật đã có chuyến viếng thăm kỳ diệu đến Kailash vào thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, trong khi đạo Phật chỉ thâm nhập vào Tây Tạng thông qua Nepal và Ấn Độ vào thế kỷ thứ 7 sau công nguyên.

lake-manosaravar1Hầu hết những người hành hương đến Kailash đều nhúng mình xuống Hồ Manosaravar gần đó, một nơi cực kỳ linh thiêng và dĩ nhiên cũng vô cùng lạnh giá. Từ “manas” có nghĩa là trí tuệ hoặc tỉnh thức. Manasaravar có nghĩa là Hồ tỉnh thức và khai sáng. Kế bên Manasaravar là Rakshastal, hay còn gọi là Rakshas: Hồ ma quỷ. Cuộc hành hương đến ngọn núi thiêng và 2 hồ thần kỳ này là một trải nghiệm thay đổi cuộc sống và là một cơ hội để nhìn một số kỳ quan trên toàn bộ hành tinh.

Loan Subaru
.

212 độ — Thêm một độ

Tại 211 độ Fahrenheit nước nóng. Tại 212 độ F nước sôi. Và đi theo nước sôi là hơi nước. Và hơi nước có thể tạo năng lượng chạy máy. Chỉ thêm một độ là có thể tạo ra tất cả khác biệt. Và, chỉ thêm một độ cố gắng trong doanh nghiệp hay đời sống là có thể tạo ra cách chia giữa người khá và người vĩ đại.
.

Yosakoi

Sáng nay (10/4), lễ hội Hoa Anh Đào đã khai mạc rất hoành tráng tại Hà Nôi bằng một điệu múa truyền thống của Nhật – Yosakoi, được trình diễn bởi hơn 500 diễn viên không chuyên. Nhân dip lễ hội Hoa Anh Đào, mình cũng muốn giới thiệu với các bạn đôi nét về điệu múa này (bài giới thiệu về Yosakoi mình nhận được sáng nay!)

yosakoiYosakoi – là một loại hình nghệ thuật hiện đại đặc trưng của Nhật Bản được khai sinh từ tỉnh Kochi vào năm 1954, xuất phát từ một điệu múa truyền thống về mùa hè của Nhật. ‘Yosakoi’ là phương ngữ của Kochi, nghĩa là ‘Đêm nay mời bạn đến’. Điệu múa này là sự kết hợp giữa các động tác múa truyền thống, nền nhạc hiện đại cùng với dụng cụ múa đặc sắc Naruko tạo nên một Yosakoi rất sôi động và mạnh mẽ. Các điệu múa thường được dàn dựng cho những đội múa đông người. Ai cũng có thể tham gia múa Yosakoi, bất kể tuổi tác hay giới tính. Đây cũng là sự kiện nổi bật trong các kỳ lễ hội ở Nhật. Điệu múa đi kèm với các bài dân ca của Kochi với cái tên Yosakoi-Buchi.

yosakoi97Trang phục mặc khi biểu diễn Yosakoi rất phong phú, trong đó loại áo khoác truyền thống happi và áo yukata phối màu rực rỡ là hai thứ thường được sử dụng nhất. Các đội múa cũng thường tự thiết kế trang phục dựa trên các sự kiện lịch sử, theo xu thế thời trang thịnh hành hay theo y phục dân tộc.

Từ năm 1954, Yosakoi đã phát triển mạnh ở Nhật Bản với lễ hội hàng năm của các đội trên toàn quốc. Không những thế, sức mạnh của điệu múa đã vượt qua ngoài biên giới Nhật Bản và rất được yêu thích trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.

Năm qua trong lễ hội hoa anh đào được tổ chức ở Việt Nam, tiết mục diễu hành Yosakoi là 1 trong những tiết mục được đón xem nhiệt tình nhất. Tất cả các đội, khuôn mặt tươi cười cùng với những điệu múa Yosakoi sôi động đã làm nên một ngày hội giao lưu văn hóa tuyệt vời.

Người nằm mơ rất đẹp

sleepingbeauty
Chào các bạn,

Beautiful Dreamer là bản nhạc rất nổi tiếng, do Stephen Foster viết trước khi ông chết năm 1864, lúc 37 tuổi. Stephen Foster viết tổng cộng khoảng 200 bản nhạc và được xem là “cha đẻ của âm nhạc Mỹ quốc”.

Bing Crosby (1903-1977) là một ca sĩ rất nổi tiếng của Mỹ, với rất nhiều tài, kể cả khiêu vũ. Chúng ta có video Bing Crosby hát bài Beautiful Dreamer dưới đây.

The Beatles cũng có bản Beautiful Dreamer, chuyển từ nhạc nhẹ nguyên thủy sang nhạc kích động. Chúng ta cũng có 2 video bản này của The Beatles, theo sau video của Bing Crosby. Video 1 có hình ảnh rõ ràng, vì vậy nhiều người thích xem. Video 2 hình rất mờ, nhưng là phim quay The Beatles hát bản Beautiful Dreamer có lẽ khi còn ở Liverpool, lúc chưa ai biết The Beatles là ai.

Chúc các bạn một ngày vui !

Hoành

.

Người nằm mơ rất đẹp

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh,
Ánh sao và sương khuya đang đợi chờ em;
Ồn ào thế giới cộc cằn nghe cả ngày,
Đã được ánh trăng ru ngủ, đi mất hết rồi !

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, nữ hoàng của bài nhạc của anh,
Hãy nghe anh theo đuổi em bằng âm điệu dịu dàng;
Những lo lắng của đám đông trong đời đã rời xa.

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !
Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, ngoài khơi
Ngư nhân đang hát bài truyện hoang sơ
Trên dòng suối nhỏ hơi nước đã đọng về
Đợi lúc dần tan khi ngày sáng đến.

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy chiếu sáng tim anh,
Như đầu ngày chiếu sáng suối con và biển cả;
Rồi tất cả đoàn mây sầu muộn sẽ lìa xa.

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !

Trần Đinh Hoành dịch

.

Beautiful Dreamer

Beautiful dreamer, wake unto me,
Starlight and dewdrops are waiting for thee;
Sounds of the rude world heard in the day,
Lull’d by the moonlight have all pass’d away!

Beautiful dreamer, queen of my song,
List while I woo thee with soft melody;
Gone are the cares of life’s busy throng.

Beautiful dreamer, awake unto me!
Beautiful dreamer, awake unto me!

Beautiful dreamer, out on the sea,
Mermaids are chaunting the wild lorelie;
Over the streamlet vapors are borne,
Waiting to fade at the bright coming morn.

Beautiful dreamer, beam on my heart,
E’en as the morn on the streamlet and sea;
Then will all clouds of sorrow depart,

Beautiful dreamer, awake unto me!

Poem and lyric by Stephen Foster

Beautiful Dreamer sang by Bing Crosby

.

.

The Beatles — Beautiful Dreamer 1
.


.

The Beatles — Beautiful Dreamer 2
.