Category Archives: Văn

Nhà thơ Hữu Loan qua đời

Chào các bạn,

Nhà thơ Hữu Loan, tác giả của tuyệt tác Màu Tím Hoa Sim, đã qua đời tại quê nhà ở Thanh Hóa, ngày 18 tháng 3, 2010, lúc 21 giờ, hưởng thọ 95 tuổi.

Màu Tím Hoa Sim, ai đọc qua mà không buồn da diết!
Cuộc tình trong thời nhiễu loạn phân ly…

Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ hậu phương…

Chiến tranh không có quy luật phân ly!

Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt…

Tiểu sử

Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học Thành chung ở Thanh Hóa, đậu tú tài Tây năm 1938 tại Hà Nội (vì vậy ở quê thường gọi là cậu Tú Loan). Thời đó, bằng tú tài rất hiếm, rất ít người có nên ông được mời vào làm trong Sở Dây thép (Bưu điện) Hà Nội nhưng ông không làm mà đi dạy học và đã từng là cộng tác viên của các tập san văn học xuất bản tại Hà Nội. Năm 1939 ông tham gia Mặt trận Bình Dân rồi về tham gia Mặt trận Việt Minh tại thị xã Thanh Hóa.

Năm 1943, ông gây dựng phong trào Việt Minh ở quê nhà, và khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, rồi được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tình nguyện đi bộ đội, phục vụ trong sư đoàn 304 và làm chính trị viên tiểu đoàn, đồng thời làm chủ bút tờ Chiến Sĩ của sư đoàn.

Tháng 2 năm 1948, lúc ấy ông 32 tuổi, được nghỉ phép hai tuần lễ, về quê cưới cô Lê Đỗ Thị Ninh là người học trò cũ mới 16 tuổi, con gái của ông bà tham Kỳ, một gia đình nền nếp, gia sản có tới hàng trăm mẫu ruộng ở Thanh Hoá mà trước đây ông đã từng làm gia sư dạy kèm cho các con của ông bà suốt nhiều năm liền. Cô Ninh yêu ông bằng một tình yêu kỳ lạ, nửa như người anh, nửa như người thầy. Ông cũng coi cô bé xinh đẹp 16 tuổi đó nửa như em gái, nửa như cô học trò vì khi ông mới đậu tú tài, được ông bà tham Kỳ nhờ đến dạy học cho hai người anh của cô Ninh thì cô mới 8 tuổi. Sau, ông cũng làm gia sư cho cô luôn.

Cưới nhau xong, ông lại lên đường ra mặt trận. Sư đoàn lúc ấy ở vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Ba tháng sau, tháng 5 – 1948, từ ngoài mặt trận, ông được tin người vợ trẻ tuổi ở nơi quê nhà vắn số: cô giặt đồ ở ngoài sông, xảy chân ngã xuống sông, bị nước cuốn đi, chết đuối. Ông quá đau khổ, định sẽ ở vậy suốt đời, đồng thời đem nỗi lòng mình viết thành những câu thơ rồi dần dần thành bài Màu tím hoa sim đầy kỷ niệm. Mấy năm sau – khoảng các năm 1951-1953 – bài thơ này nổi tiếng, được lưu truyền trong dân chúng nhưng bị phê bình là “ủy mị, mang tính chất tiểu tư sản”!

Năm 1954, sáu năm sau ngày vợ chết, hoà bình lập lại nhưng chuyện đấu tố diễn ra. Bộ đội đóng ở Nghệ An, ông về nhà chơi, được biết ở làng bên có một gia đình địa chủ ngày trước vẫn tiếp tế lương thực cho sư đoàn của ông, nay bị đấu tố chết rất thê thảm, chỉ trừ cô gái 17 tuổi tên Phạm Thị Nhu thì được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, cấm không cho ai được phép liên lạc. Ông nhớ tới ơn xưa, bèn đi tìm xem cô ta ra sao thì gặp cô đang đói khát, mặt mũi lấm lem, quần áo rách rưới, đang đi mót những củ khoai người ta bới xong còn sót lại ở ngoài cánh đồng, chùi sơ rồi bỏ vào miệng ăn sống. Thấy ông, cô khóc rưng rức vì cảnh khốn cùng của mình và cho biết ban đêm cô ngủ trong một ngôi miếu hoang, chỉ sợ có kẻ làm bậy và không hiểu mình sẽ tồn tại được bao lâu. Ông rất thương xót, đồng thời cũng nhớ tới những kỷ niệm mà hồi trước, khi cô còn nhỏ, ông dạy học ở xã bên ấy, cô thường núp nghe ông giảng truyện Kiều.

Ông quyết định đem cô về nhà cha mẹ và lấy cô làm vợ. Cấp trên không đồng ý. Ông là đảng viên, lại trưởng phòng Tuyên huấn kiêm chính trị viên tiểu đoàn, không được lấy con cái địa chủ, nếu lấy thì sẽ bị đuổi khỏi quân đội và bị khai trừ khỏi đảng. Tính ông ngang bướng, ông chấp nhận điều kiện thứ hai và cô Phạm Thị Nhu trở thành người vợ sống với ông cho đến bây giờ, sinh cho ông được 10 người con cùng với 37 đứa cháu như chúng ta sẽ biết.

Đầu năm 1955, ra khỏi quân đội, ông về Hà Nội xin vào làm việc tại báo Văn Nghệ. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án quyết liệt những tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, ám hại lẫn nhau vv… Như trong tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót và trong truyện ngắn Lộn sòng, ông coi mình là nạn nhân và phê phán một cách gay gắt.

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị đi cải tạo mấy năm rồi được thả, cho về địa phương và bị quản chế tại địa phương. Hiện nay tất nhiên lệnh quản chế đó đã hết từ lâu nhưng ông vẫn sống tại quê nhà.

Các tác phẩm

Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào. Một số bài thơ đã được phổ biến trên các báo chí của ông: Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Yên mô, Hoa lúa, Tình Thủ đô…

Tại miền Nam, bài Màu tím hoa sim đã được các nhạc sĩ Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng và Duy Khánh phổ nhạc… Trong đó bài của Dzũng Chinh và Phạm Duy là nổi tiếng nhất.

Vào tháng 10 năm 2004, Màu tím hoa sim đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: vitek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng. (Nguồn: datviet.com)

Để tưởng niệm Hữu Loan, sau đây là:

1. Nguyên văn bài thơ Màu Tím Hoa Sim

2. Bản dịch bài thơ sang tiếng Anh (“Berryflower Violet”) của TĐH.

3. Video bài thơ Màu Tím Hoa Sim, do Quốc Anh ngâm.

4. Video bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”, Phạm Duy viết, do Elvis Phương hát.

5. Video bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim”, Dzũng Chinh, do Phương Dung hát.

6. Audio link “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, do Hương Lan và Duy Quang hát.

7. Video bản “Chuyện Hoa Sim” của Anh Bằng, do Như Quỳnh hát.

8. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do chính Duy Khánh hát.

9. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do Giao Linh hát.

10. Tiếp theo đó là lời kể của Hữu Loan về cuộc tình đã tạo nên bài thơ này.

Các bài thơ khác của Hữu Loan có thể đọc tại linh này.

Cầu xin cho linh hồn Hữu Loan được an lạc nơi chín suối.

Hoành

Màu Tím Hoa Sim

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh.
Tôi người vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh bết bùn
Đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.

Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi.
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
Người trai khói lửa
Mà chết
Người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được nhìn nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng;
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát
trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…).

Hữu Loan

Berryflower Violet

She had three brothers in the army
The younger ones
some weren’t yet talking
When her hair was still soft

I was a soldier
away from home
Loving her as a little sister
The wedding day
she didn’t ask for a new dress
I wore army uniform
The hobnail boots
Battlemud-smeared
Lovely she smiled
beside the odd husband

I came back from the front
Wedding done, I left.
From the far war zone
I thought of her, uneasy
Marrying in war time
Who leaves and would return?
If I don’t come back
how pitied would it be
for the little wife waiting
in the country evenings…

Yet the boy in the firing lines didn’t die
but died
the little girl behind
I came back
seeing her not
My mother sat by her tomb in darkness
The wedding day’s flowerpot
had become an incense vessel
besieged in expired coldness

Her hair was soft
too short to pin up
O my beloved, the last minute
we couldn’t hear each other
we couldn’t see each other even once
Those days she loved violet berryflowers
Her dress was berryflower violet
Those days
night lamp
small shadow
She mended for her husband the shirt
those days…

An afternoon
rain over the forest
the three brothers in the northeastern front
received words of the sister’s death
before the wedding news
An early autumn wind
made the river waters creep
The little brother grew up
lost
looking at the sister’s picture
When came the early autumn wind
the grass withered by the tombstone

In the afternoons
my platoon passes through berry hills
berryflower hills infinitely long in the afternoons
Berryflower violet
endlessly purples the desolate afternoons
Looking at the torn shirt shoulder
I sing
in the flower’s color
“My shirt is torn by the seam
My wife died
My mother has not yet mended it.”

TĐH translated
(June 13, 1998, March 2, 2000; March 18, 2010)

 

Bài thơ Màu Tím Hoa Sim – Quốc Anh ngâm


.

Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà – Phạm Duy – Elvis Phương


.

Những Đồi Hoa Sim – Dũng Chinh – Hương Lan & Duy Quang (Nhấn chuột vào đây)

.

Chuyện Hoa Sim – Anh Bằng – Như Quỳnh


.

Màu Tím Hoa Sim – Duy Khánh (nhấn chuột vào đây)
.

Màu Tím Hoa Sim – Duy Khánh – Giao Linh (nhấn chuột vào đây)

Đôi lời tự thuật của chính tác giả bài thơ nổi tiếng trên:

Phần 1: Mà chết người gái nhỏ hậu phương…

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.  Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được.  Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ….Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn….Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh …” …Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã  chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chổ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : 
Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá!  Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đến vụ Nhân văn Giai phẩm

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng.  Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…

Vợ nhà thơ Hữu Loan – Bà Phạm Thị Nhu

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.

Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công.  Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
 
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no….Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.
 
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
 
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

© Hữu Loan

Phiên tòa không có luật sư

Trước cửa phòng xử án hôm nay đông nghịt người. Chưa đến giờ mở cửa họ đã túm tụm xôn xao bàn tán về vụ xử săp diễn ra. Một bà tuổi độ trung niên, giọng không mấy thiện cảm :

_ Nói gì thì nói, chứ chị mà giết em là chuyện khó mà tha thứ.

Một ông trán hói ngắt ngang :

_ Tôi không nghĩ vậy, bởi việc gì xảy ra cũng có nguyên do của nó Hơn nữa đây lại là một hành vi tự vệ.

Một thanh niên trẻ tuổi thêm vào :

_ Cái sảy nó nảy cái ung. Chắc rằng cô ấy cũng không tự nhiên mà hành động như vậy, vả lại thằng Long này cũng có phải là đứa hiền lành gì đâu.

Một người khác gật đầu đồng tình :

_ Đúng đó, cái thằng đó chết thì cũng đáng lắm, chẳng ai thương xót gì cái lọai ấy cả. Thứ ấy sống chỉ gây họa cho gia đình và xã hội thôi. Chỉ tội nghiệp…

Một bà già khác thở dài :

_ Khổ thân con bé, thường ngày nó hiền lành, chịu thương chịu khó lám cơ, giờ xảy ra chuyện thế này mẹ nó chết lên chết xuống cũng phải.

Một người dàn ông nóng nảy nói :

_ Nhà nước mình phải ban hành một đạo luật nghiêm khắc để trừng trị cái lọai thanh niên hư hỏng này mới được. Càng ngày chúng càng lộng hành quá trớn, lọan xã hội lên cũng vì chúng nó.

_ Tôi cũng nghĩ thế. Khổ nỗi, cứ con hư là đổ tại gia đình,vì gia đình nuông chiều, vì gia đình bỏ bê, vì gia đình giáo dục không đúng cách, vì thế nọ vì thế kia. Nhưng mà các ông cứ bà cứ nghĩ xem, con cái chỉ thực sự trong tay chúng ta từ khi sinh ra cho đến khi 10 tuổi. Sau đó thì sao ? Bố mẹ thì còn phải lo bươn trải cho đủ thứ chi tiêu của chúng. Mà nào có phải một đứa, nhà nào cũng vài ba đứa cả. May mà lâu nay thực hiện việc sinh đẻ có kế họach, nếu không thì còn ối cảnh nhôi nhai đầu đường xó chợ. Lại vào cái thời đại Tây hóa này, bao nhiêu diễn biến, lôi kéo của xã hội, nó đâu nằm trong sự kiểm sóat của chúng ta được. Đấy, nhan nhản không biết bao nhiêu là tệ nạn xã hội, lũ trẻ thì chỉ biết cắm đầu đùa theo những cái gọi là “nhịp sống mới”, có biết phân biệt hay dở là thế nào đâu. Mà học cái hay thì khó thì lâu, chứ học cái dở thì mau lắm, hư hỏng rồi thì cứ cha mẹ mà hành. Những luân lý giáo dục căn bản cho đạo đức thì chúng chê là cổ hủ, là lạc hậu …

_ Chính là ở chỗ đó. Nước ta đang đà phát triển, tất yếu là phải mở rộng cửa, cái được là có những bước phát triển khả quan, đem lại nhiều cơ hôi cho dân mình, nhưng cái mất là lớp trẻ ngày nay sống buông tuồng, vô bổ . Chúng cứ cho rằng thế mới là văn mình, hiện đại, sành điệu, rặt là những ngón nghề ăn chơi trác táng, lọc lừa, dối trá, xảo quyệt. Bố mẹ thì cho rằng con cái cứ đến trường là đã dủ, cắm đầu cắm cổ để đáp ứng bao nhiêu nhu cầu của nó, mà chẳng mấy khi hiểu hết được con mình đang trở thành lọai người như thế nào. Ăn chơi quá đà rồi trở thành kẻ cướp lúc nào không hay. Đấy, như cái thằng Long này đấy. Lúc còn bé ai cũng khen là thông minh, lễ phép, vậy mà dổ đốn tự bao giờ.

_ Cũng một phần do mẹ nó nuông chiều từ bé, con trai thứ mà như con trai một, muốn gì được đó, ai mách cho thói hư gì của nó lại bênh. Nếu cha nó không mất sớm và thằng Luân anh nó không bị bại liệt nặng thế chắc nó không đến nỗi. Đúng là thương con mù quáng thì bằng mười hại con.

_ Có lần chính quyền địa phương góp ý, bảo làm đơn cho nó đi giáo dục tập trung một thời gian, may ra …nhưng mẹ nó lại sợ nó hận gia đình lại còn tệ hơn.

_ Nghe nói nó hăm về đốt nhà mà.

_ Đa số những gia đình có con hư đều lâm vào tình trạng bất lực, họ không còn khả năng khống chế nó, nhưng lại không dám nhờ pháp luật can thiệp, thế nên mói càng ngày càng quá.

_ Thì mấy thằng tội phạm đao búa mà báo đài hay đưa tin đó, cải tạo hết hạn nó về còn quậy phá hơn trước, bảo là quậy bù. Tôi mà có quyền cứ đem bắn hết chúng đi. Tòan là thứ rác rưởi, chỉ tốn cơm còn mang họa.

_ Nhưng vấn đề là ở chỗ, luật pháp của ta lấy nhân đạo làm nền, không muốn coi thường sinh mạng, cho dù tội nặng dến thế nào thì cũng tìm cách cải hóa nhân đạo nhất, quá mạng mới phải tử hình.

_ Thế nên một số bất hảo phi nhân tính càng được thể. Như luật bóng đá, hai thẻ vàng thành một thẻ đỏ là xong. Nhân đạo cũng tùy từng trường hợp từng đối tượng, không thể nhân đạo với quỷ, nhân đạo với nó để nó đi hại biết bao người khác, thế có công bằng không ?

_ Công bằng….

Cuộc tranh luận tạm gián đọan khi cánh của phòng vụt mở. Chỉ giây lát những dãy ghế đã kín người, những ai chậm chân đành đứng ngòai cửa.
Tiếng chuông hiệu rung lên, cả phòng im phắc. Khi hội đồng xử án đã ngồi vào chỗ, bị cáo được dẫn ra trước vành móng ngựa. Đó là một cô gái khỏang gần 30 tuổi, dáng mảnh khảnh, làn da mét xanh, phờ phạc, dấu vết của những trải nghiệm bất thường. Nhìn cô gái, không ai có thể tin dượcdó là người đã cầm dao giết chính em trai mình. Phiên tòa bắt đầu.

_ Vào ngày…tại ..đã xảy ra một vụ án mạng. Bị cáo là Vũ thị Tú Linh, đã gây án với em trai ruột là Vũ Thành Long. Nguyên nhân do quá trình xô xát giữa những người trong gia đình. Được biết đây không phải là lần đầu tiên Vũ Thành Long có hành vi gây mất trật tự. Nạn nhân từ lâu thuộc thành phần bất hảo của địa phương, không nghề nghiệp, không nơi cư trú ổn định. Chỉ trở về nhà mỗi khi có vấn đề đòi hỏi tiền bạc. Điều này đã được xác nhận từ chính quyền địa phương đến cư dân cùng địa bàn. Vào ngày…giờ …Vũ Thành Long có về gây sức ép cới gia đình để đòi hỏi một số tiền lớn. Bà…là mẹ của nạn nhân đã không thể đáp ứng được sự đòi hỏi đó, Vũ Thành Long đã dùng búa đập phá tủ để tự lấy tiền, bất chấp sự phản đối của gia đình. Anh Đinh Quang Minh là người hàng xóm cạnh nhà đã chứng kiến sự việc qua cửa sổ đối diện cho biết. Thành Long đã xô ngã mẹ mình, khi bà lao vào ngăn cản, tiếp đó là anh Vũ Thành Luân, anh trai của nạn nhân đã bị bại liệt cả hai chân từ nhỏ, đã lết vào ôm chân Long kéo ra. Vũ Thành Long vố bản chất hung hãn lại thêm bị ngăn cản hành vi, nên đã co chân đạp Vũ Thành Luân ngã vật ra sau, và gầm lên : Mày dám cản tao hả ? Tao cho mày chết…Y nói xong thì xông đến chộp vào cổ Thành Luân nghiến răng bóp chặt. Vừa lúc đó bị cáo Vũ thị Tú Linh chạy từ dưới nhà bếp lên, tay đang cầm theo một con dao, cô hét : Long, mày bỏ tay ra ngay mày định giết anh Luân hả ? Tên Long vẫn bóp chặt cổ anh trai, mặt Thành Luân đã tím lại, Tú Linh lại thét lên : Mày không bỏ anh Luân ra tao chém mày đó …Nghe vậy, tên Long quay lại thách thức : Mày có giỏi cứ chém tao coi. Và y buông cổ anh trai ra vồ lấy chị mình. Trong lúc hỏang hốt và giận dữ bị cáo Vũ thị Tú Linh đã vung con dao lên, vừa đúng lúc Thành Long ập tới, lưỡi xuyên qua cổ họng nạn nhân, y ngã xuống và tử vong. Biên bản được lập tại hiện trường vào lúc….

Tiếng ồn ào từ những hàng ghế, lại một hồi chuông nhắc nhở. Vị chánh án quay sang hỏi bị cáo :

_ Bị cáo Vũ thị Tú Linh, hãy trả lời thành thật trước tòa. Sự thật xảy ra có đúng như bản án đã nêu không ?

Cô gái nói với vẻ bình tĩnh :

_ Dạ thưa quý tòa, đúng ạ.
_ Bị cáo có biết khi sử dụng một hung khí có đầu nhọn và lưỡi sắc ấy, thì có thể gây thương tích hoặc dẫn đến tử vong cho người khác không ?
_ Dạ thưa quý tòa, có biết ạ.
_ Vậy khi thực hiện hành động đâm mũi dao vào cổ đối phương, cụ thể là em trai mình, bị cáo đã phản ứng theo sự tự vệ hay cố sát ?

Tú Linh im lặng một lúc, khi cô chưa trả lời thì vị chánh án nói tiếp :

_ Bị cáo có cần đến luật sư không ? Tòa sẽ chỉ định.

Tú Linh lắc đầu :

_ Thưa quý tòa, tôi không nhờ luật sư. Tôi xin tự trả lời.

Vị chánh án gật đầu, Tú Linh tiếp :

_ Tôi không muốn nhờ luật sư, vì luật sư sẽ biện hộ cho ai và bào chữa cho ai, vì khi tôi hành động, nửa là tự vệ, nửa là cố sát.

Tiếng “Ồ” vang lên hàng lọat, câu trả lời đã gây sự kinh ngạc cho tất cả mọi người. Vị chánh án khẽ nhíu mày, dường như ông đang chờ đợi một câu trả lời khác, nhưng chẳng có gì ngăn lại được lời đã thốt ra, ông lai hỏi

_ Cố sát ? Vậy là bị cáo đã nhận tội ?
_ Vâng. Tôi nhận tội.
_ Vì sao bị cáo lại làm một việc trái đạo lý con người như vậy ?

Tú Linh nhếch mép cười buồn :

_ Thưa quý tòa, nếu nói về đạo lý, thì có đạo lý nào cho phép con cái về hành hung cho mẹ để thỏa mãn nhu cầu riêng của mình ? Đạo lý nào cho phép một người có hành vi bạo động với một người không có khả năng tự vệ, lại là người có cùng huyết thống, khi hành vi đó có thể dẫn đến tử vong ? Thưa quý tòa, tôi thừa nhận việc ra tay sát hại em trai mình là tội lỗi nhưng tôi không thể làm khác được khi gia đình tôi đã phải chịu đựng sự khổ sở ấy đã bao năm rồi. Thú thật, đối với gia đình tôi đã coi Vũ Thành Long như không có từ lâu rồi, nhưng thật khó khăn mỗi lúc nó về sinh sự khi cần tiền. Vì vậy, nếu cho rằng đây là sự đánh đổi, thì tôi xin chấp nhận sự đánh đổi này để đem lại sự bình yên cho gia đình tôi.

Tú Linh dứt câu, cả gian phòng lặng đi. Bỗng từ hàng ghế phía trên òa lên một tiếng khóc, đó là tiếng khóc của bà mẹ khốn khổ. Đứa con gái bên cạnh cũng bật khóc theo ôm lấy mẹ. Mốt số người tham dự cũng rân rấn nước mắt. Vị chánh án qua một lúc im lặng, hỏi :

_ Bị cáo còn có gì muốn nói nữa không ?

Tú Linh đưa mắt nhìn xuống mẹ và em gái, rồi thở dài :

_ Thưa quý tòa, tôi không dám cầu xin sự khoan hồng, mức độ định án thế nào thì tùy pháp luật, tôi rất bình tâm mà thi hành án. Còn lời cuối cùng mà tôi muốn nói là…là…Vâng, đối với tôi thì thật đã quá muộn để thay đổi sự đáng tiếc này, bởi nếu nhà nước ta có một khung hình nào cụ thể dể giáo dục những thanh niên hư hỏng như Thành Long, một khi gia đình đã không đủ khả năng giáo dục nó nữa, thì chắc…-Tú Linh nghèn nghẹn – Tôi không biết phải nói thế nào vì cha mẹ sinh con trời sinh tính. Có ai muốn mình lại có một người thân không nên người như thế đâu, nhưng với xã hội ngày nay thì gia đình không thể đủ sức níu lại sự căn bản đạo đức cho những thanh thiếu niên. Vì vậy mà,,,mà thôi, tôi chỉ hy vọng sẽ không còn những sự đánh đổi thảm thương như thế này nữa …

Những giọt nước mắt giàn ra trên đôi gò má xanh tái. Vị chánh án :

_ Phiên tòa tạm dừng mười lăm phút để nghị án.

Tú Linh dược hai nữ cảnh sát đưa vào, cô còn ngóai lại nhìn mẹ và em gái mình. Đám đông nhao nhao tranh luận :

_ Chắc chắn là phải giảm án thôi …tôi là tôi cho trắng án luôn…đâu có được, chỉ là án nặng hay nhẹ thôi …

_ Khi luận tội, người ta phải xem xét nguyên nhân và hòan cảnh phạm tội chứ. Mà như vậy rõ ràng phạm tội khi bất khả kháng, nguyên nhân thì quá khắc nghiệt, theo tôi mức án sẽ không thể theo luật định thông thường mà phải có đặc cách miễn giảm . …Để rồi xem…

_ Đấy, các ông các bà nào có giặc trong nhà thì hãy coi chừng…

_ Cô ta nói phải đấy, phải có biện pháp mạnh với lọai tội phạm này mới được. Cũng bởi nó chỉ đủ gan phá quấy trong nhà, vừa phần tình cảm vừa phần sĩ diện, không ai dám kiện cáo gì, nên chúng nó mới lộng hành như thế. Chứ phá quấy bên ngòai người ta để cho yên à …

_ Cái thứ khôn nhà dại chợ trước sau gì rồi cũng chết đường chết chợ thôi, gia đình có của đâu mà cho nó phá mãi, ăn quen nhịn không quen đi ăn cướp thì không đủ gan, đi ăn cắp thì no đòn, chỉ có rúc vào xó nào mà chết thôi chứ còn gì nữa…Chuông báo rồi kìa, ta vào đi các vị .

Vị chánh án đứng dậy tuyên đọc :

_ Bản tòa xét thấy bị cáo Vũ thị Tú Linh vì hòan cảnh đặc biệt mà phạm tội, nạn nhân Vũ Thành Long lại là một đối tượng khá nguy hiểm, một kẻ đã coi thường nhân cách giá trị đạo dức, lại có những hành vi hung đồ luôn đe dọa sự an nguy cho gia đình, rất cần phải trừng trị để đem lại an ninh trật tự cho xã hội. Vì vậy, mức đinh án cho bị cáo Vũ thị Tú Linh không thực thi theo khung hình luật thông thường. Nay tòa tuyên án : Bị cáo Vũ thị Tú Linh …ba năm tù giam …

Tiếng re hò òa lên như chợ vỡ. Bà mẹ từ hàng ghế chạy vội lên, Tú Linh vừa mừng vừa tủi ôm chầm lấy mẹ, cô nức nở :

_ Mẹ ơi ! Xin mẹ tha tội cho con…

Bà mẹ ôm chặt con gái, nghẹn ngào :

_ Không, con không có tội Linh à…

Cô em gái cũng đã dứng bên cạnh, bệu bạo nói với chị :

_ Chị cố gắng lên nha, em sẽ đi thăm nuôi chị thường xuyên.
_ Anh Luân sao rồi em ?
_ Ảnh đỡ nhiều rồi chị, nay ảnh bắt đầu ăn cơm được rồi.
_ Em ráng chăm sóc mẹ và anh Luân nhé, hết ba năm chị về…

Tú Linh chợt ngước lên cao thầm nói “ Long ơi ! Xin em đừng óan hận chị , chị mong em sớm đầu thai thành một người khác để được sống một cuộc đời hạnh phúc tốt đẹp hơn. Nếu có kiếp sau, chị em mình sẽ là chị em tốt , em nhé …”

Đàm Lan

Untitled – Không đề

KHÔNG ĐỀ

Quê hương là tổ quốc, cũng được gọi là cố quận
Tùy theo cảm quan riêng
người ta tự nói lên tâm tình của mình
mỗi khi bày tỏ lòng yêu nước.

Một chủ đề của Wuhoainam
trích đăng hai câu thơ của Lương Tử Đức:

“Gió đồng rửa mặt tha hương
Ta về quê chữa vết thương giang hồ”

Lòng tôi đắm trong tâm tình sâu lắng
khi  đọc hai câu thơ trên

Nhiều người  đã dịch câu thơ này
từ Việt Văn sang Anh Văn

Không dám múa rìu qua mắt thợ
Chỉ bằng lòng cảm mến câu chữ của tác giả
tôi  cố công tìm hiểu nội dung, hình thức của câu thơ

Thơ Lục Bát,
một thể loại thơ đặc biệt trong nền thi ca Việt Nam
Thể thơ này gồm:
Một câu sáu chữ
Một câm tám chữ
Chữ thứ sáu trong câu tám chữ
phải cùng vần với chữ thứ sáu của câu sáu chữ

Thí dụ:

“Gió đồng rửa mặt tha hương
Ta về quê chữa vết thương giang hồ”

Chữ “hương” và chữ “thương“
cùng vần “ương”

Lương Tử  Đức ký thác điều gì trong thơ?
Chúng ta ngay lập tức nhận biết
Tác giả hân hoan khi trở về quê hương
Ngọn gió quê nhà thật an nhiên, tươi mát
Khiến ông vui mừng thanh thản
Khiến ông quên những nỗi đau khổ
Suốt thời gian phải vật lộn với những nỗi thăng trầm ở phương xa

Nhiều người bảo
Dịch thuật làm hỏng ý nghĩa của nguyên tác
Thật không thể tin được!
Nhưng diều này dường như không sai.

Thật rất khó nếu chuyển dịch từng câu chữ cứng ngắc theo nghĩa đen
Để giao hưởng và hoà nhập vào tâm tình của tác giả
Dịch giả cần nắm bắt rõ ý tình
Chọn hình thức và câu chữ thích hợp khi chuyển dịch.

Bằng kiến thức khiêm tốt hạn hẹp của mình
Tôi chuyển dịch thơ của Lương Tử Đức như sau:


“The country’s breeze is so cool and nice
To calm down my terrible life in exile
Coming back home I mind
To heal my errant wounds on sight.”


“Ngọn gió quê nhà mát hướng

Xoa dịu khổ đau tha phương
Trở về lòng ta an hưởng
Chữa lành cội rễ bi thương”

Vivian
2:30am Sunday 27 September, 2009

UNTITLED

Country is Nation, also is called Home
Depending on people’s particular impressions,
they describe their own thoughts
what they would like to express their home love.

In Wuhoainam’s topic
I see two sentences was extracted
from Lương Tử Đức’s poetry:


“Gió đồng rửa mặt tha hương
Ta về quê chữa vết thương giang hồ”

I fall in my deeply vivid sentiments
as I read the two sentences above.

There were some people to translate these sentences
from Vietnamese into English
I dare not to show off my little skill to people
who are obviously the past masters at it.

For respecting the author’s work
I try to comprehend
both the style and the meaning of the poetical sentences

“Thơ Lục Bát” is the special verse of the Vietnamese poetry
This verse includes:

One sentence is named six-word line metre
Another is named eight-word line metre
The sixth word of an eight-word line metre
must have the same rhyme
with the sixth word of an six-word line metre.

For example:

“Gió đồng rửa mặt tha hương
Ta về quê chữa vết thương giang hồ.”

The word “hương” and the word ” thương”
has the same rhyme: “ương”

What was Lương Tử Đức’s heart to entrust into his verses?
We all can recognize easily that
Lương Tử Đức was happy when he was home
So cool and nice is his country’s breeze
Home makes him feel comfortable and happy
Home also heals his terrible pains during the times
he had battled against his vicissitudes of life

Many people said
The translation betrays the original work
What an unbelievable thought!
But this seems the truth.

It is hard to translate every single word with its concret meaning
For making sense and harmonizing with the author’s emotions
The translators should catch up the poet’s thoughts and meanings
Then they try to use the best words and forms
as well as they can for translating.
By my short and little knowledge,
I try to translate Lương Tử Đức’s poetical sentences
as follow:

The country’s breeze is so cool and nice
To calm down my terrible life in exile
Coming back home I mind
To heal my errant wounds on sight.”

Vivian
2:30am Sunday 27 September, 2009

Mênh mông chiều vàng


Nằm về phía gần cuối con đường Nguyễn Công Trứ, quán cà phê có cái tên nghe thật êm đềm, hiền dịu “Yên Nhung”. Chủ quán quả là người có óc mỹ thuật. Dựa vào cấu thể địa hình, quán được bài trí thật đặc biệt. Khuôn viên chính của quán như rơi vào giữa thung lũng xanh. Ngăn giữa đôi bờ là một con suối nhỏ, dòng chảy thoai thỏai, đôi khúc uốn khéo, đủ để tại nên một âm thanh róc rách, rủ rỉ như một bản nhạc không lời. Con suối chia đôi hai sườn đồi. Tạm gọi Nam đồi và Bắc đồi. Phía Nam đồi, thẳng xếp từng hàng cây cà phê ngắt xanh, từ trên cao nhìn xuống, người ta sẽ dễ dàng liên tưởng đến một đòan quân đang rùng rùng ra trận. Vào mùa hoa trổ, thì dù ai khó tính đến đâu, cũng phải nghiêng mình đánh rơi mảnh hồn giữa rừng hoa phô săc khoe hương, chao đùa với gió. Nhất là vào lúc những tia nắng đầu tiên trong ngày xuất hiện. Cả vườn hoa không khác gì những nàng tiên nữ đang nhởn nhơ xiêm áo vẫy lượn. Mùa quả chín thì khác, thư khách có thể an nhàn ngồi nhâm nhi từng giọt cà phê đậm đà đặc quánh nơi Bắc đồi, mà thỏa thuê tầm mắt chiêm ngưỡng bức tranh tuyệt bích của thiên nhiên. Bức tranh sống động ấy được phối màu một cách rất tài tình. Nhữg chùm quả đỏ rực ôm tròn những cành nhánh, chập chờn giữa màu xanh của lá. Lấm chấm trong mảng đỏ xanh ấy là sắc trắng điểm của một vài nụ hoa dậy thì. Cả ba gam màu đều có sức mạnh tuyệt đối, nhưng khi được đan phối vào nhau thì chúng trở nên thật hài hòa, viên mỹ. Thiên nhiên quả là một họa sĩ đặc biệt tài hoa, tài hoa đến độ bất kỳ một bậc danh họa nào cũng phải buông lời cảm thán.

Phía Bắc đồi, đây mới là công trình đáng kể của người kiến tạo. Những dãy bàn được kê xếp theo lối bậc thang. Những mô hình “tổ ấm chim câu” được nhã ý ưu tiên vào những góc khuất lặng, đủ bảo đảm một thế gới riêng cho hai người. Xa xa hơn chút nữa là những chiếc bàn đôi, thanh thản dưới bóng dù hoặc mái lá che tầm tầm vừa không khuất người. Những chiếc bàn này chủ yếu đươc đặt ở những tầng dưới cùng, nơi đối diện với tòan cảnh đồi Nam. Khu vực này hầu như dành riêng cho những vị khách ưa xuất hồn đi mây về gió. Đa phần họ chỉ ngồi đấy ưu tư một mình, nếu có hai người thì cũng phải có chung một cảm sắc, âm thanh chất giọng gần như ít có cơ hội được góp mặt nơi đây. Nếu đi với một nhóm bạn đông hơn, thì sẽ có một số vị trí có mặt bàn hơi tròn, rộng, bằng đá nhẵn hay một gốc cây to cắt ngang, chung quanh là những chiếc ghê mây thon nhẹ. Lọai bàn chung này được kê đặt ở hai tầng trên cùng, vừa có thể thả tầm mắt quá cảnh tòan phần, vừa tự nhiên trò chuyện mà không phải giật mình, e dè vì những tiếng nói cười vô tư của mình làm khuấy động không gian riêng của ai đó. Xen giữa các lối đi là đư các lọai hoa, cây cảnh, rất phong phú về cả màu sắc, kiểu dáng lẫn tầm độ.

Tôi thường đến quán vào lúc nắng chiều đã nhàn nhạt. Chỉ cần dựng xe xong , giơ tay chào cô chủ quán rồi đi về phía chỗ ngồi quen thuộc, là khỏang hai phút sau sẽ có một phin cà phê đang chậm rãi nhỏ từng giọt đen sậm, thơm nồng. Gu cà phê của tôi thường được cô chủ quán chú ý hơn những người khác. Đó là lượng cà phê bọt phải nhiều hơn mức bình thường, sau khi chảy hết xuống ly, thì ly cà phê ấy lại ngâm vào nước sôi, vì thế, kèm theo phần cà phê của tôi là một chiếc bình thủy nhỏ. Không biết tôi có thuộc lọai quá cầu kỳ hay không ? Nhưng quả thật là vô cùng vô vị khi hớp phải một ngụm cà phê vừa lõang vừa nguội. Nếu cầm ly cà phê của tôi mà lắc khẽ, thì phải ít giây sau, lớp cà phê bám trên thành ly mới xuôi dần xuống hết được. Mỗi lần được nhấp một ngụm cà phê sóng sánh, đầm đậm vừa độ nóng, tôi thấy trong người thật khoan khóai dễ chịu. Vô cùng cảm ơn thổ nhưỡng của quê hương, đã đưa hạt cà phê thành cây công nghiệp mũi nhọn của tỉnh nhà, và hương vị thì bay xa tận ngòai biên giới.

Nơi tôi thường ngồi là dãy bàn đối diện với đồi Nam. Rất hài lòng với vị trí mình đã chọn, ngồi đây tôi tha hồ được tận hưởng những ưu đãi mà thiên nhiên ban tặng, tha hồ mặc mảnh hồn phiêu diêu đến tận cõi xa xanh nào. Nhất là vào cái khỏang không gian bảng lảng, tạn mạn của trời chiều, trong sự tĩnh lặng gần như tuyệt đối ở chung quanh. Bởi vào cái giờ nhỡ nhàng này, chẳng mấy ai lại đi ném quỹ thời gian của mình vào chốn ưu trầm, tư tịnh như nơi đây. Họa chăng chỉ những kẻ trót mang một nghiệp chướng như tôi thì mới cảm thấy nơi đây, vào lúc trời chiều này là cả một thiên đường, Không gia như say, cảnh vật như say, ông mặt trời cũng như say, thì lẽ nào một kẻ luôn yêu thích, luôn chắt chiu những nét đẹp của đời sống cho lâng lâng một cõi tâm hồn lại không say. Thường thì tôi ra đây dể tìm cho mình một cõi riêng, dù tạm bợ, nhưng cũng đủ cho tôi hóa giải những ưu tư, băn khoăn hoặc rối rắm trong lòng. Thật quá rẻ khi chỉ bằng giá một ly cà phê mà lai mua được nhiều đến thế.

Mọi lần tôi vẫn thao túng sự tự do của mình cho đến khi chiều sẫm, khi bóng hòang hôn đã dang rộng vòng tay ôm chòang vạn vật. Nhưng hôm nay, khoang trời tự do của tôi bị phá vỡ, hay nói đúng hơn là cõi riêng của tôi có sự đột nhập của một kẻ lạ mặt. Óai oăm ở chỗ tôi không thể trưng ra cái quyền sở hữu đặc biệt này, lạ nữa là hình như tôi cũng không có tí ti ý định trục xuất hắn thì phải. Hắn ngồi hơi chênh chếch hướng tôi, nên tôi chỉ có thể nhìn hắn theo chiều nghiêng nghiêng. Tôi tò mò quan sát hắn, chỉ riêng một chi tiết ngồi nắm cảnh với một cặp mảnh chai màu rêu đậm sù sù rên mắt đã đặt cho tôi một dấu hỏi to tướng rồi. Ai lại phí hòai một cảnh quan thiên nhiên tuyệt mỹ thế mà lại nhìn qua một lăng kính tối sầm sầm. Vì sao thì chắc tôi có thể tìm được lời giải đáp sau.

Hắn có một mái tóc dài, tuy khỏang cách hơi xa, nhưng tôi vẫn
có cảm giác là êm và mượt lắm, hẳn là hắn rất siêng xem chương trình truyền hình quảng cáo dầu gội đầu lắm. Khuôn mặt hắn, dù chưa có điều kiện ngắm chính diện, tôi vẫn có thể cam đoan rằng khá xinh. Nếu nhễm bệnh nghề nghiệp một tí, chắc tôi sẽ tả mũi hắn cao, mắt hắn trong, và đôi môi thì chắc chắn phải hồng, vì thay vào cái màu hơi thâm thâm khói thuốc như tôi, sẽ là môt chút son phơn phớt, nếu là lọai son gió nữa thì khỏi nói, chỉ cần thoa nhẹ, khi gặp gió sẽ dậy lên một màu hồng tươi diệu đàng. Người hắn hơi mảnh, vì chiếc ghế hắn ngồi vẫn còn thừa một khỏang ( chắc đủ chỗ cho tôi dấy nhỉ). Mảnh hồn hoang của tôi hôm nay lại ngoan ngoãn chịu ở nhà, và nó đang bận rộn giải trình hiện tuợng. Lý do gì mà hắn có mặt ở đây vào giờ này nhỉ ? Bởi là giờ cao điểm của “thiên chức” mà. Hay hắn có mẹ để nhõng nhẽo, có chị để cậy nhờ ? Không lẽ hắn có cùng một lý do như tôi ? Ờ mà sao tôi bỗng nhiên vô lý thế ? Có thế nào thì cũng là việc của hắn, liên quan gì đến tôi. Chẳng qua cái tính tò mò và hay lan man tâm tưởng làm vấn víu cái thằng tôi ấy mà. Nghĩ thế, nhưng tôi lại chẳng thể bứt khỏi sự suy tư về nhận vật lạ ấy. Bẻ gãy bao giả thiết, tôi vẫn không thể nào chọn được một sự lý giải mà có thể cho rằng hợp lý nhất, về thủ phạm phá vỡ cõi riêng và gieo cho tôi những vẩn vơ khó hiểu. Chỉ có mỗi một cách là nhấp nhấp đôi chân, băng qua những dãy ghế, đến gần với một lời hỏi han thật lịch sự. Nhưng cái ý định đó cứ chùng chình trong tôi, đường đột mà đi hỏi han một người chưa quen biết với những câu không đầu không cuối thì quá là vô duyên, vô lý. Vả lại người ấy dường như cũng đang có gĩ ngẫm ngợi lắm thì phải. Suốt bao lâu mà tôi chả thấy lắc lư tẹo nào, cũng chả thèm nhích cái tia nhìn sau cặp “Rạng đông” kia sang hàng xóm tí cho tôi có cớ gật đầu chào làm quen. Mà thôi, đừng nghĩ ngợi vớ vẩn nữa, nếu người ta đã muốn tĩnh lặng một mình, thì sự quấy rầy, cho dù là rất lịch sự đi nữa, vẫn là điều không nên một chút nào. Với mình cũng vậy thôi. Nên những gì mình đã không muốn thì đừng nên đem đến cho người khác, đó là nét văn hóa ứng xử tối thiểu nhất đấy. Tự nhắc nhở mình thế rồi tôi bỗng bật cười, người kia mà biết những gì lủng củng trong tôi nãy giờ chắc buồn cười lắm đấy.

Nắng chỉ còn sót lại vài tia lấp lóe, ông mặt trời đã ngà ngà, những cụm mây đã buông màn rủ trướng cho ông. Mọi lần thì giờ cũng là lúc tôi gửi lại bóng chiều cái chỗ ngồi của mình, nhưng hôm nay thì nán nán một tí nữa, ma ra chút cùng đường ra quầy thanh tóan sẽ tiện làm quen. Bỗng có một cô gái hiện ra trên lối đi, từng bậc bước xuống đến cạnh người ấy ghé tai nói nhỏ điều gì. Tôi như cảm thấy rất rõ sự miễn cưỡng của người ấy khi đứng dậy và đưa tay cho cô gái mới đến nắm. Tôi kinh ngạc đến sững sờ. Chúa ơi ! Hắn – người kia – cô gái ấy là một người khiếm thị. Hai cô gái chầm chậm bước lên từng bậc, từng bậc, bước chân tôi cũng tự nhiên mà đưa theo. Cơn chóang qua nhanh, không hiểu tại sao, ma xui hay quỷ khiến mà chiếc xe tôi cũng bon bon sau xe hai cô gái một đọan, rồi tần ngần trước cánh cổng có một màu tím lênh loang của một giàn hoa.

Đêm đến, tôi không thể nào dỗ mình vào giấc ngủ. Hình ảnh cô gái khỉếm thị ban chiều cứ ám ảnh, bao câu hỏi cứ chập chờn truy vấn tôi. Có vẻ sự khiếm thị của cô ấy không phải là từ bé, có vẻ như cô ấy đã từng biết khuôn vên cảnh vật của quán cà phê ấy, có vẻ cô ấy có một cảm niệm hay ấn tượng gì khá gắn bó với cảnh trí ấy. Bởi nếu chưa từng, thì không thể nào cô ấy lại đến đấy với một dáng vẻ đầy tâm trạng như vậy. Không chỉ do điều mà thường gọi là “bệnh nghề nghiệp”, mà từ bé, tôi luôn bồi hồi cảm trạng trước những hình ảnh không may của cuộc đời. Tôi trắc ẩn thương tâm cả trước cái chết của những con vật, mẹ tôi thường thở dài bảo “Mày rồi đa đoan lắm thôi con ạ, đàn ông con trai mà yếu đuối tình cảm quá”. Tính tình cũng như những điều bắt đầu cho một đời sống con người đều không phải là sự tự lựa chọn, phải sao thì hay vậy. Cho dẫu khi lớn lên, tôi cũng không đến nỗi ủy mị gì, nhưng so với các bạn trai, tôi sống thiên về sự trầm lắng nội tâm hơn. Để rồi thầm lặng đi vào một lọai hình công việc mà với những người giỏi tính tóan luôn cho rằng viển vông, hoang tưởng, bềnh bồng mây gió. Một thứ công việc không làm cho cái túi của tôi đầy đặn lên, nhưng luôn đem đến cho đời sống tinh thần của tôi những cảm xúc rất đẹp, những điều mà tôi biết, nếu có tiền cũng chưa chắc gì mua được, và tôi rất trân trọng nó. Còn suy nghĩ của mọi người tôi không quan tâm, vì họ không phải là tôi, làm sao họ hiểu được tâm tư, cảm thức của tôi là gì. Khi đã là môt sự lựa chọn, lại là sự lựa chọn có phần mặc nhận của số phận, thì mặc nhận cả những buồn vui, hay dở, được mất của nó.

Tôi vốn không tin vào những khả năng ngòai thực tế, nhưng tôi có một linh giác rất nhạy, trực cảm thường báo trước cho tôi những can hệ, không phải lúc nào cũng đúng, nhưng có thể nói là đa phần dự cảm báo đúng. Nên trong trường hợp này, tôi mơ hồ thấy có một cái gì đó không thể bỏ qua. Hay do sự mẫn cảm thái quá mà tôi cảm thấy vậy chăng ? Không, không hẳn thế. Chỉ với một góc nhìn dơn giản, một suy luận thông thường, cũng có thể hiểu được phần nào những trúc trắc của một số phận, và vấn đề không chỉ từ những gì đã diễn ra, mà còn cả những gì đang tiếp diễn . Bởi bàn chân con người luôn quay những ngón về phía trước, và đôi mắt thì chẳng bao giờ mọc ở sau lưng.

Những ngày sau, tôi vẫn lại qua trước cửa ngôi nhà ấy mà không tìm được cách gõ cửa. Lấy lý do gì chứ ? Và hỏi ai ? Ngay cả một cái tên cũng đang còn mờ mịt. Hỏi vu vơ ngớ ngẩn khéo người ta tưởng mới ở bệnh viện tâm thần mới sổng ra thì khốn. Mà cũng không thấy nhân vật ấy bước ra khỏi nhà để có cớ vờ làm người tốt bụng. Không lẽ chịu bó tay. Cũng đã có lúc tôi đánh rơi ý định, bởi cảm giác mình đang đi vào một chốn lênh đênh lãg đãng, không có ý nghĩa rõ rệt, không có mục đích rõ rệt, còn nữa, liệu khi có thể tiếp cận rồi, thì thái độ đối diện với vấn đề của nhân vật ấy sẽ thế nào ? Trong một phạm vi đơn thuần nhất, người ta vốn muốn tự điều chuyển lấy những vấn đề của cá nhân, không muốn có sự can thiệp, chi phối và tác động một cách trực tiếp và cụ thể từ những người chung quanh. Một tâm lý cá nhân nhất trong bản thể con người, chỉ ngọai trừ những khả năng ngòai tầm chủ động, thì người ta mới buộc phải chấp nhận một giải pháp ngọai vi. Lại càng khó khăn hơn khi với một người hòan tòan xa lạ, lại càng phải dè chừng với bao ý đồ bất hảo, nhất là với một tình trạng thiếu khả năng tự vệ. Nhưng vẫn cứ canh cánh trong tôi một hình ảnh mà tôi biết, tôi sẽ không thể tự giải thóat khỏi nó nếu không bắt tay vào một cái gì. Và rồi, trong cái khó tất ló cái khôn. Tôi vui mừng tự thưởng cho mình một ấm trà ngâu thơm phức. Từ đó, mỗi chiều chiều đến quán Yên Nhung cũng có một vật biết lên tiếng theo tôi. Cô chủ quán ngạc nhiên :

_ Anh định làm chàng nhạc sĩ lang thang đấy à ?
_ Thế cô có nhu cầu tận dụng không ?

Nụ cười thay cho câu trả lời. Vẫn chỗ ngồi quen thuộc với những chiều trông đợi, tôi có một niềm tin gần như chắc chắn sẽ gặp lại cô gái ấy. Sự kiên nhẫn luôn là một yếu tố cần thiết trong nhìều cảnh trạng, nhất là với sự chờ đợi. Thế rồi niềm tin và lòng kiên nhẫn đã giúp tôi đạt được kết quả. Một chiều, tôi khẽ reo thầm khi nhìn thấy hai cố gái trên những bậc thang dìu nhau xuống, có vẻ họ là hai chị em. Khi đưa cô gái khiếm thị vào chỗ ngồi rồi, cô em ghé tai nói nhỏ câu gì với chị với chị rồi trở lên. Sau khi phục vụ đem thức uống đến, cô gái lại buông mình vào sự trầm mặc. Bấy giờ tôi mới từ từ nhả tơ. Tôi cố tình chọn những bản nhạc buồn, cổ điển, có giai điệu nhẹ và sâu lắng, những bản nhạc có âm giai rất hợp với giutar. Tiếng đàn tôi vẫn thường được bạn bè khen là rất có hồn, thì giờ là lúc tôi thử nghiệm chính cái hồn của nó. Ban đầu hầu như cô gái không buồn chú ý đến, tuy có hơi một chút động tĩnh. Có lẽ cô cho răng một gã lãng tử dở hơi nào đem chút tài lẻ của mình ra khoe chăng ? Nhưng cổ nhân đã đúc kết rồi “nước rên siên siết thì đá tảng cũng phải mòn” huống nữa là màng nhĩ mỏng manh của một con người. Mà cũng đố ai thờ ơ được, khi trong chiều thanh tịnh, gió hiu hiu man mát, hương thơm dìu dịu từ các lòai hoa tỏa nhẹ, tiếng róc rách khe khẽ từ con suối xa vọng lại, hòa âm cùng trầm bổng điệu đàng , thì tâm hồn không lao xao hòai mặc hoặc có là gỗ đá vô tri mà thôi. Phán đóan sự chuyển bíến qua một vài biểu hiện cho dù khá kín đáo của đối phương, tôi biết tôi dang đi đúng hướng.

Thế rồi, ngày một ngày hai, không một lời hò hẹn, không một câu nhắc nhủ, nhưng gần như cô gái không vắng mặt chiều nào, điều này rõ ràng đã gây sự thắc mắc cho cô gái dẫn đường, và cô này ném cái nhìn hòai nghi, có phần nào như cảnh báo về phía tôi, khi nhận thấy khỏang cách của hai chỗ ngồi ngày càng cố tình ngắn hơn. Tiếng đàn của tôi ngày càng phát huy tốt tác dụng, nó đang nghiễm nhiên được một sự chấp nhận thầm lặng, và hẳn nó cũng đang đặt ra một số câu hỏi trong sự châp nhận ấy. Và rồi, cái gì đã trở thành một thói quen, thì khi vắng đi, người ta sẽ cảm thấy trống vắng và mong đợi.

Để chiều nay, cây đàn vẫn đó nhưng thanh âm của nó thì nhường chỗ cho sự sắp đặt có chủ ý của tôi. Khỏang cách giữa tôi và cô gái bây giờ chỉ là một cái bàn, nhưng dẫu sao nó cũng còn là một phân ranh đáng kể khi chưa được quyền vượt ngưỡng. Sau một lúc như chờ đợi, sự thông minh và nhạy cảm giúp cho cô gái đóan hiểu tình thế. Tôi chắc chắn điều đó qua khóe miệng khẽ cử dộng. Tôi vẫn cố tình nhường quyền chủ động cho đối phương. Khách đã gõ cửa, nhưng có mở hay không là tùy chủ nhân chứ. Và rồi…

_ Nếu đã cố tình, sao còn ngần ngại ?

Chủ nhà đã mở cửa rồi, còn đợi chờ gì nữa ?

_ Rất cảm ơn vì đã nhã ý tạo cơ hội cho tôi được làm quen. Nếu không có gì bất tiện, có thể cho tôi ngồi cùng bàn dược chứ ?

Một cái gật nhẹ. Cây giutar bây giờ chễm chệ một mình một bàn. Câu chuyên rất mau chóng lướt qua cái cầu xã giao, mau chóng trở nên thật tự nhiên và cởi mở, có lẽ vì chúng tôi đã “nói” với nhau nhiều rồi. Thì ra, cũng như tôi, cô gái cũng cảm giác một điều gì đó như thân quen, nhưng không phải từ cái nhìn đầu tiên, mà là từ tiếng đàn đầu tiên. Con đường ngắn nhất để con người có thể đến với nhau là chạm được vào một sở thích của miền tâm cảm. May mắn cho tôi đã tìm được đúng đường. Nỗi niềm chất chứa dã bao ngày, nay mới có dịp được thổ lộ trong một tâm trạng đầy xúc cảm.

Cô tên là Diệu Anh, lẽ ra đã có thể là một họa sĩ tài năng trong tương lai nếu con đường từ nhà đến cổng trường Văn hóa Nghệ thuật không bị cắt ngang bởi một tai nạn giao thông. Mọi thứ đổ sụp trong cô khi biết mình đã qua cơn nguy hiểm tính mạng nhưng lại mất hòan tòan khả năng thị giác. Thế giới đầy màu sắc tươi tắn quanh cô đã vĩnh viễn khép kín. Dù gia đình cô đã cố gắng hết sức những sự phát triển của y học vẫn không giúp gì được trong trường hợp này. Đã nhiều lúc trong cơn tuyệt vọng, Diệu Anh nghĩ mình thà chết đi còn hơn, nhưng những gnười thân quanh cô đâu dễ dàng để cho cô thực hiện ý định. Tâm trạng cô bức bối, hỏang lọan tưởng chừng như đến phát điên lên, khi bản thân bất lực đến không thể tự quyết cho mình môt việc gì dù nhỏ nhất. Không ít lần cô mất kiềm chế và đập phá tất cả những gì mà cô vớ được. Mọi sự an ủi, động viên đều không tác dụng. Cho đến một lần, mẹ cô đâu đớn gào lên “Con ơi ! Giá mà mẹ mù thay con được thù mẹ cũng sẵn lòng. Trời ơi ! Mẹ biết phải làm gì cho con đây ? Nhìn con thế này, mẹ đứt từng khúc ruột, con ơi !”. Câu gào khóc của mẹ đã dánh thức cô. Cô đau xót nhận ra cô đang làm khổ tất cả mọi người, trong khi bản thân lại không giúp gì được cho ai. Một thực tế phũ phàng và khắc nghiệt, nhưng không còn cách nào khác là cô buộc phải chấp nhận nó. Khi nhận thức được điều này, cô thu mình vào lặng lẽ. Để tự hóa lấy mình, để người thân bới phần lo lắng, và cũng để tìm ra cho mình một hướng tới, cô nhờ em gái thi thỏang dẫn mình đến quán cà phê này. Đây là nơi khi xưa cô rất yêu thích, và cũng là nơi cô dự định làm tác phẩm tốt nghiệp của mình.

Sau một chuỗi dài tự sự, Diệu Anh dừng lời, nơi khóe mắt run run hai giọt nước, tôi cũng lặng đi. Giây lát, Diệu Anh buồn bã nói thêm :

_ Chắc anh cũng thấy nơi đây thật tuyệt phải không ? Ngày trước, ước mong lớn nhất của tôi là đưa được cảnh sắc nơi đây vào tranh của mình. Thế mà…

Tôi vẫn không thể nói gì. Trong cuộc đời nhiều long đong trúc trắc này, con người ta không thể nào biết trước đuợc những biến cố ập đến cho mình vào lúc nào, và hòan tòan mất khả năng kháng cự khi nó ập đến. Để tiếp nhận và vượt qua được nó thật không dễ dàng một chút nào. Đôi mắt lại gần như đóng vai trò chủ động trong đời sống. “Thứ nhất đau mắt, thừ nhì nhức răng”. Chỉ mới là đau thôi, mà người ta đã liệt nó vào hàng thứ nhất của sự khó chịu, huống là mất hẳn, có khác nào một tấm màn đen phủ kín cả cuộc đời. Đôi mắt của Diệu Anh lại là một đôi mắt của người họa sĩ. Một đôi mắt biết cảm thụ vẻ đệp của những màu sắc, biết ghi nhận những lung linh huyền ảo của cuộc sống, hẳn đôi mắt ấy xưa kia cũng đã rất sáng trong, nồng nàn khi gửi trao những yêu thương cuộc đời. Vậy mà…Với một cô gái coa vóc người mảnh khảnh, có cuộc sống nội tâm phong phú, có một trái tim luôn thiết tha những cúc cảm, thì làm sao tránh khỏi sự đột quỵ trước một cú sốc quá lớn như thế. Nói gì với cô đây ? Những lời mang tính lên dây cót chỉ đem lại những phản cảm. Lại còn như khóet sâu vào vết thương khi người nghe có cảm giác là đang bị thương hại. Trong cô lúc này không còn sự tự tin, hy vọng, niềm tin yêu vào cuộc sống, mà chỉ có một áp lực tư tưởng rất lớn “Mình đang là gánh nặng cho mọi người”. Để cấy lại cho cô niềm vui sống, yêu đời, là một điều hết sứa khó khăn. Lấy gì làm chiếc gậy cho cô chống qua cơn bão lớn của cuộc đời ? Liệu tôi có làm được gì ? Hay rồi chỉ biết buông vài ba câu trắc ẩn ?

“Gặp gỡ là duyên, vương mang là nợ” Vốn dĩ con người ta gặp nhau trên cõi đời này thì phải có đủ cả nợ lẫn duyên. Một thời khác của định mệnh đã dẫn dắt phần số của những con người lồng vào nhau, để có thể đem đến cho nhau những buồn vui, khóc cười, những điều đã làm nên bản chất của cuộc đời này. Để tuơng hòa được với nhau trong bao lâu thì tùy thuộc vào độ dài ngắn của những nợ duyên ấy.

Nếu tự coi mình là một cái phao thì thật là một điều càn rỡ. Nhưng tự đáy lòng mình, chẳng biết có gì thôi thúc, mà tôi tự hứa sẽ cố làm được cho “Em” một điều gì đó. Bởi nếu tôi quay gót, vội vàng thối lui trước một chiếc thuyền con đang chòng chành con nước số phận, thì khác nào một con sóng có thể nhấn chìm, có thể dập tắt một chút lửa còn le lói trong một cõi lòng, ít ra tôi cũng xin được làm một thanh củi mục. Cho dù ngay lúc này tôi chưa thể nghĩ ra được phương cách nào khả dĩ, nhưng có lẽ rồi sẽ phải có, tôi tin chắc chắn là thế. Bởi đa số những phúc phận đời người không phải là vô nguyên bất lý. Nó đã từng có mấu chốt để khởi thủy, thì rồi nó sẽ phải có một đường diễn tiến, để tất yếu đi đến một kết cuộc nào đó, hay dở, nên hư , phần nhiều tùy thuộc vào khả năng nhận định và điều vận của mỗi người. Rốt cục, cây guitar một lần nữa trở thành điểm bấu của tôi, biến tôi thành một nhạc sư bất đắc dĩ cho em. Thường thì những ai có chút hồn nghệ sĩ đều khó bỏ ngòai tai cái âm giai trầm bổng, thanh thóat, trữ tình của tiếng đàn giuar. Em cũng không ngọai lệ, mà với người khiếm thị thì sự tinh nhạy gần như dồn hết cả vào đôi tai và đôi tay. Cũng may là trước khi bị tai nạn, Diệu Anh đã từng thử qua nhạc cụ này, nên một phần cơ bản em đã nắm được. Trí nhớ rất tốt của em đã có dịp phát huy tối đa. Chỉ khác lọai hình thuật nhưng nìềm đam mê thì như nhau. Diệu Anh dần bị cuốn hút vào thế giới âm thanh cũng say mê không khác gì thế giới màu sắc của em trước kia. Nỗi vui mừng của tôi trào lên khi một hôm em cất tiếng hát hòa cùng cung đàn. Giờ thì không những tôi, mà cả em cũng quyết tâm tìm lại mình trong lĩnh vực mới. Khi vốn liếng âm nhạc hạn hẹp của tôi hết nhẵn, tôi đưa em đến một vị nhạc sư nổi tiếng về môn giutar. Vị nhạc sư này cũng hết sức chăm sóc trường hợp đặc biệt của em. Thời gian là con dấu đỏ đóng lên sự quyết định của mọi vấn đê. Lĩnh hội được tất cả những kỹ năng cần thiết của nhạc thuật, cộng thêm nét sáng tạo và sự nhạy cảm của riêng mình, tiếng đàn của em ngày càng điêu luyện. Khỏi nói, những người thân của em vui thế nào khi thấy em dần trở lại là một Diệu Anh tươi tắn, yêu đời trước kia.

Cả hội trường đông nghẹt, lặng phắc theo tiếng dàn đầy ma thuật của Diệu Anh. Từng cung bậc biến tấu lúc cao trào, lúc trầm, lúc lặng theo những ngón tay nhịp nhàng thoăn thoắt của Diệu Anh lướt trên cần đàn. Đến lúc này tâm trạng tôi mới tạm bình ổn. Trước buổi biểu diễn, Diệu Anh hồi hộp một thì tôi lo lắng mười. Bao nhiêu kỳ công có nên cơm cháo gì không là trông cả vào lúc này. Bởi chốt d
điểm cuối cùng để đưa em trở lại với tin yêu, hòa nhập cùng cuộc sống, vững tin vào tương lai của mình, gần như tùy thuộc hòan tòan vào những tràng vỗ tay của quý vị khán giả này đây. Chỉ cần một sơ suất khiến em lỗi mất một nhịp nào đó, em mất bình tĩnh và tự tin thì tình thế không còn gì cứu vãn được nữa. Nhưng kìa, tràng vỗ tay đã nổi lên rồi, thật to và thật lâu. Và hoa, hoa nhiều đến nỗi em ôm không xuể. Phải đợi một lúc cho vòng người giãn bớt tôi mới đến được bên em. Vừa nghe tíếng tôi “Chúc mừng em”. Diệu Anh vụt òa khóc, úp mặt vào ngực tôi thổn thức “Anh ơi ! Em sống rồi” Tôi ôm chặt lấy em, chẳng rõ nước mắt em hay nước mắt tôi mà nhòe nhọet hết cả. Mẹ em đứng lặng sau cánh gà, nước mắt bà cũng ướt đầm hai má. Người mẹ nghẹn ngào chứng kiến phút hồi sinh của con gái mình. Tôi dìu em dến thả vào lòng người, một khỏanh khắc thinh lặng, thiêng liêng và rất đỗi ngọt ngào …

Đàm Lan

Ngôi trường của mẹ

Hồi ấy, làng Vân Hòa của tôi có trường công liên hương tại ấp Phước Hậu, nhưng làng quá rộng, từ nhà tôi ở ấp Bình Trị, hay ấp Bình Điền lân cận đến Phước Hậu đi bộ mất nửa buổi, vì vậy đa số trẻ con hai ấp này không đi học được. Nhỏ tuổi thì không đủ sức đi, tìm nhà quen gởi trọ cũng bất tiện. Lớn lên một chút thì còn lo giúp đỡ công việc gia đình, chăn trâu, dọn vườn, bẻ thơm… Để giải quyết việc này, cha tôi xin phép mở một “gia đình học hiệu” và cất gian trường bên cạnh nhà. Tuy nói là gia đình học hiệu nhưng thực tế cha tôi tìm thầy mời về dạy chương trình lớp Năm và lớp Tư cho cả trẻ con hai ấp Bình Trị, Bình Điền. Tôi còn nhớ thầy Vưu người Tuy Hòa và thầy Liên người tận ngoài Quảng Bình. Mẹ tôi có một gánh hàng xén, mỗi tháng chín phiên bán ở Chợ Đồn. Mọi chi phí cất trường, đóng bàn ghế, bảng đen, mua sổ sách bút mực cho thầy, việc ăn ở của thầy tại nhà tôi đều do mẹ tôi lo liệu, trích từ lợi tức trong gánh hàng xén ấy. Giữa tháng mẹ tôi “kiểng” thầy số tiền lương.

Học sinh chẳng những được học miễn phí, không phải đóng góp một khoản nhỏ nào, còn được tổ chức sinh hoạt như trường công, có bầy đàn, ca hát, tập các trò chơi, tìm dấu đi đường… Mấy môn này thì trẻ con thôn quê dễ rành lắm. Thay vì công bố vị thứ hàng tháng mẹ tôi xin thầy công bố vị thứ hàng tuần vào mỗi chiều thứ bảy. Trò nào học giỏi được thưởng. Phần thưởng là giấy manh, thước gạch, bút chì, ngòi viết và mực viên… cũng do mẹ tôi cung cấp. Hồi ấy chưa có tập vở, học trò dùng giấy manh đóng vở, tự gạch dòng bút chì để chép bài, làm bài. Ngòi viết có nhiều loại, chúng tôi gọi theo hình dạng là ngòi viết lá tre, ngòi viết rông, ngòi viết bầu và ngòi viết ễn. Mực viên dùng hai màu xanh và tím, một loại giống như viên thuốc aspirine, một loại viên hơi tròn. Mấy trò thường xuyên được thưởng thì giấy bút mực dư học cả năm, khỏi phải mua. Học ở đây xong, đứa nào cha mẹ cho học tiếp thì ra Phước Hậu vào lớp Ba, đứa nào không có điều kiện phải ở nhà thì cũng ít nhiều đã biết đọc biết viết.

Hai anh em tôi nhỏ nhất, cùng học một lớp. Thầy cho ra chơi là chạy vào nhà tìm kẹo bánh. Tôi rất thích loại kẹo bạc hà đựng trong ve thủy tinh hình giống như trái bầu, mỗi lần đi Dinh mẹ tôi mua về cho một vài ve. Cùng lớp, có mấy trò con trai ở Bình Điền lớn tuổi, đứng gần bằng thầy, dân làm ruộng đen thui và chắc nịch. Mấy trò con gái dân Xóm Chợ thì trắng trẻo ẻo lả… Chúng tôi hơn họ ở chỗ có một bộ “giáo khoa thư” và nhiều lúc được mẹ lật sách ra chỉ cho những hình vẽ, giảng giải. Thành ra trước khi biết chữ anh em tôi đã thuộc lòng, tranh nhau đọc câu: ”Sách này do Nha Học chánh Đông Pháp giao cho các ông Trần trọng Kim, Nguyễn văn Ngọc, Đặng đình Phúc và Đỗ Thận soạn. Nhà nước giữ bản quyền. Cấm không ai được in lại”, đã có những tờ tranh vẽ hình bà Trưng bà Triệu cỡi voi, ông Đinh Bộ Lĩnh bẻ bông lau làm cờ đánh giặc…

Học 24 chữ cái rồi vần xuôi, vần ngược, ráp vần, tập đọc… Vần xuôi nghe như cầu kinh, vần ngược nghe như thần chú. Khi biết đọc sách chỗ nào không hiểu tôi đem hỏi mẹ, được mẹ giảng giải rõ ràng. Bây giờ đã quên hết, chỉ còn nhớ hai chuyện. Chuyện thứ nhất, trong sách có hình vẽ một ông cỡi ngựa và nhiều người đang cuốc đất gánh đất hay làm gì đó, ghi là “Chánh tổng coi đê”. Con đường trước nhà tôi thỉnh thoảng có đồng bào dân tộc thiểu số cỡi voi đi qua. Voi, gọi là “ông bồ” tai to vòi dài… lạ lắm, cách ăn mặc của “thằng nài”, cái ống điếu, tiếng nói lơ lớ…cũng lạ lắm, vui lắm. Lúc ấy thường gọi chung đồng bào các dân tộc thiểu số là “người Đê”. Mỗi lần như vậy lũ trẻ chúng tôi gọi nhau đi “coi Đê”. Tôi lấy làm lạ, tại sao ông Chánh tổng cũng đi “coi Đê” như lũ nhóc chúng tôi. Mẹ tôi mới giảng cho biết về những con đê bên sông ngoài Bắc, trong hình là ông Chánh tổng đang trông coi dân chúng đắp sửa đê. Chuyện thứ hai, khi đọc bài “Trầu Cau” có câu “…người vợ chết hóa ra dây trầu không leo ở cây cau…”. Rõ ràng trong hình vẽ dây trầu quấn vào cây cau sao lại nói dây trầu không leo ở cây cau? Mẹ tôi giảng lại cho biết, xứ mình gọi là dây trầu thì ngoài Bắc gọi là dây trầu không.

Trong một năm thầy Liên dạy chúng tôi học hết chương trình lớp Đồng ấu và Dự bị để ra trường công liên hương học lớp Sơ đẳng (lớp Ba). Đầu năm 1945, chuẩn bị thi bằng Sơ học yếu lược, mỗi trò được cấp một giấy căn cước, dưới có chữ ký quan Tuần vũ tỉnh Phú Yên Trần văn Lý. Chữ ký dài, đầy đủ và rõ ràng, gần chữ v (văn) có một chữ v khác bằng bút chì màu đỏ. Tôi nói với mẹ: Quan Tuần vũ ký sai phải sửa lại chữ v. Mẹ tôi giảng cho biết đó là chỗ một thầy thông thầy phán đã xem trước, thấy đúng, làm dấu để quan Tuần vũ ký chứ không phải sai và sửa.

Tôi nhớ mãi chuyện này vì đây là lần cuối cùng chuyện trò cùng mẹ. Học lớp Ba tôi phải ở trọ, chủ nhật sau về thì mẹ tôi bệnh, rồi bệnh nặng và qua đời. Đau thương trùm lên gia đình tôi. Tiếp theo là những biến cố dồn dập của đất nước… Gia đình tôi rời khỏi làng Vân Hòa và xa cách mộ phần mẹ.

Bây giờ, mỗi khi hồi ức về mẹ, tâm tưởng tôi vẫn là tâm tưởng đứa trẻ lên bảy lên tám… Tôi tự hỏi: Bao nhiêu bạn bè thời thơ ấu ấy, nay ai còn ai mất, ai lưu lạc phương trời, ai đang ở làng quê, ai đã thành ông bà nội ngoại, kẻ giàu sang, người nghèo khó… Giữa bao nhiêu bận rộn của cuộc sống, có lúc nào họ nhớ lại những ngày học tại “nghĩa thục” của mẹ tôi không? Có lúc nào họ nhớ lại hình ảnh mẹ tôi không? Tôi nghĩ rằng họ không phải là kẻ bạc!

Trần Huiền Ân

Mùa xuân Tây Bắc trong tôi

Thế là đã ba cái tết tôi xa Tây Bắc, cũng là ba cái tết ở Thủ Đô phồn hoa và náo nhiệt, nhưng trong tôi vẫn không hề nguôi ngoai cái cảm giác hẫng hụt, như thiếu một cái gì vô cùng thân thiết, đã ăn sâu vào tiềm thức, vào máu thịt.

Dõi mắt về phương xa. Tôi cứ mường tượng đến những dải mây vắt ngang đỉnh Hoàng Liên cao vút, mỗi bình minh lại hồng rực, long lanh muôn sắc như chiếc khăn piêu trên “tằng cẩu” của người con gái Thái. Và đâu đây tiếng cười trong vắt lấp lánh, bay bổng, phấp phới cùng những dải tua mầu như tia nắng của quả còn hội xuân. Những nhịp xòe nồng say rộn ràng ánh lửa, những tấm lưng thon thả dịu dàng, những khuôn ngực thanh tân, những cần rượu thơm lừng mời gọi. Đâu đây mượt mà giai điệu bài “Tình ca Tây Bắc”: “Rừng xanh cây lá muôn đóa hoa mai chào đón xuân về”. Tôi như kẻ bị bỏ bùa mê, bị bao vây trong những bộn bề cảm xúc.

Ôi cái sắc hoa đào, hoa ban cùng muôn loài hoa rừng khoe sắc đua hương, thơm đến từng lá cây ngọn cỏ đã hóa thân trong mỗi nụ cười duyên, mỗi làn da trắng hồng, mỗi búp tay thon như búp măng rừng, mỗi đường nét tuyệt mỹ trên tấm thân ngà ngọc của người sơn nữ. Để rồi người bạn tôi – nhà văn Thế Sinh đã từng không cầm lòng được phải thốt lên: “Kinh côm nôm tẳng” – tiếng Thái là eo thon ngực nở, mà anh từng thả hồn trong cái ký nổi tiếng: “Miền gái xinh”. Còn tôi như say men rượu cần, trước vẻ đẹp nhuần nhị tuyệt mỹ của những cô sơn nữ như ánh bình minh mai sớm: “Nả ấc nọi nôm túm nàm tong” – tiếng Thái là ngực nhỏ nhọn như gai vông đồng, huyền ảo trong tản văn: “Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc”!

Mỗi con đèo, mỗi cánh rừng, mỗi dòng suối, những thửa ruộng bậc thang đều như những kiệt tác của tạo hóa ẩn chứa bao huyền thoại cùng khát vọng được sống, được yêu.
Con đường 6 mới được tôn tạo, lên cổng trời hun hút dãy Pha Đin, trong bạt ngàn hoa ban và lau trắng. Mỗi bông hoa ban như lời thơ trong câu chuyện tình bất hủ “Sống chụ son sao” – “Tiễn dặn người yêu” và những bông hoa lau dập dờn trong gió như đang chụm đầu thì thầm lời hẹn những mùa yêu. Đây Thuận Châu, đây Tuần Giáo… Con đèo quanh co gấp khúc hiểm trở xứng với tên gọi: “Pha Đin” – nơi đất gặp trời. Người già kể cho tôi, xưa các thế lực chúa đất bao đời tranh giành nhau đều lấy dãy núi hiểm trở này làm chỗ dựa, vì thế còn có tên gọi khác: Pú Chinh (núi chiến tranh).

Tôi nhớ mãi lần cùng đoàn giáo viên thế hệ năm 1959 lên thăm Sơn La, Thạc sỹ Lò Mai Cương của trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Sơn La, người đầu tiên của Việt Nam số hóa thành công chữ Thái, cùng phó giám đốc sở Khoa học công nghệ Sơn La – Cà Văn Chung, người số hóa lịch Thái được áp dụng trong nông lịch và bộ lịch Thái tổng hợp 200 năm, cùng các bạn người Thái đón tôi như đón người nhà. Các anh chị khoe những thành tựu của Sơn La và của “Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái”. Tôi chia vui cùng các bạn mà lòng không khỏi xao xuyến bồi hồi. Mới ngày nào Sơn La, Tây Bắc còn là vùng đất xa xôi, nghèo nàn và lạc hậu, thì nay đã là những điểm sáng trên bản đồ đất nước.
Tôi miên man đi trong ký ức những Điện Biên, Lai Châu, những con suối “Nậm Na”, “Nậm Rốm”, những tên đất đã trở thành tên lịch sử: “Mường Thanh” – Điện Biên, “Mường Than” – Than Uyên, “Mường Tấc” – Phù Yên, rồi vượt đèo “Khau Phạ” – sừng trời về Mường Lò, Yên Bái, nơi tôi đã từng sống và công tác 30 năm trời. Để rồi trong lòng chợt ngân lên câu ca dao thơm hương nếp mới: “Mường Lò gạo trắng nước trong/ Ai đi đến đó lòng không muốn về”.

Vâng Mường Lò không chỉ là đất tổ của người Thái đen Tây Bắc, là cánh đồng rộng thứ hai Tây Bắc. Con suối “Nậm Xia” – suối nước mắt, tên gọi cũ của suối “Nậm Thia” vắt ngang cánh đồng Mường Lò trong nắng xuân ngời muôn ánh bạc. Mỗi con đường mới mở, mỗi cánh rừng, mỗi mầm xuân và trong từng câu “khắp”, điệu “xòe”, ánh mắt giao duyên đều ngời sáng cất lên những cồn cào day dứt và ước mơ của bao thế hệ: “Ngày xưa, có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi nọ. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng. Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát, với những chú cá sỉnh mình thon, chắc lẳn, vậy mà xuân này sao nhớ lạ lùng. Những sóng vàng ngày xuân của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi.

Tôi chợt nhớ tới hình ảnh nghệ nhân Lò Văn Biến ôm đàn tính thả hồn trong những điệu “khắp”. Ông như pho sử sống của người Thái Mường Lò, đã từng sưu tầm và dịch nhiều tác phẩm của dân tộc Thái, ông đã cùng tôi biên soạn “Bộ tài liệu dạy tiếng và chữ Thái cổ Mường Lò” và dịch tác phẩm thơ: “Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng”… Trước tết, khi nhà văn Trần Nhương đưa nhà văn Nguyễn Tiến Lộc từ Canada về, lên Yên Bái và vào thăm Mường Lò, ông nhờ nhà văn Trần Nhương gọi cho tôi dặn đi dặn lại: “Tết về chơi, nhớ lắm đấy!”. Rồi cô gái trẻ Cầm Thị Nghiệp, sinh viên trường Cao đẳng văn hoá nghệ thuật Yên Bái, từng là học sinh xuất sắc lớp chữ Thái cổ do nghệ nhân Lò Văn Biến mở cũng gọi: “Bác ơi, tết về chơi bác nhé, năm nay vui lắm”. Trong tôi cồn lên một nỗi nhớ thật khó gọi tên, con tim cứ nhẩy lên như nhịp trống hội xòe. Những kỷ niệm về những mùa xuân Tây Bắc ùa về lâng lâng trong ký ức, thân thuộc, nhung nhớ đến nao lòng. Và luôn tin rằng Mường Lò, Yên Bái nói riêng và Tây Bắc nói chung, với những người con ưu tú như nghệ nhân Lò Văn Biến, thạc sỹ Lò Mai Cương, phó giám đốc Cà Văn Chung cùng cô sinh viên Cầm Thị Nghiệp… mỗi mùa xuân sẽ thay da đổi thịt rất nhiều. Còn với cô sinh viên Thanh Nga của trường đại học Văn hóa – khoa Dân tộc học, một lần ngẫu nhiên đọc bài viết của tôi về “nét đẹp bài hát mừng dâu mới của người Thái Mường Lò” đã bị chinh phục bởi vẻ đẹp nguyên sơ của phong tục tập quán và các làn điệu dân ca Thái, cô đã quyết định làm đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Thanh Nga cho biết, có một số sinh viên cũng làm đề tài về văn hóa Thái và cô quyết tâm mùa xuân này nhất định sẽ lên Tây Bắc, để hiểu thêm về văn hóa Thái và được mùa xuân Tây Bắc chắp cánh. Thế mới biết sức hút của văn hóa Thái Tây Bắc lớn lao biết chừng nào.

Tôi miên man trong suy tư. Nếu không có mấy chục năm trời gắn bó cùng những mùa xuân Tây Bắc, để rồi cái hơi cái hồn Tây Bắc thấm trong tôi từ lúc nào, thì tôi đâu có được vốn sống phong phú làm nên những trang văn thơ như hôm nay. Những tên đất, con người lịch sử và huyền thoại của Tây Bắc, cùng bao thiên truyện tôi được nghe các nghệ nhân kể bên bếp lửa, bao hội “xòe” cùng những điệu “khắp” Thái, những lễ hội dân gian của các dân tộc cùng hương rượu cần ngọt lịm, là mạch nguồn sáng tạo trong tôi. Nếu thiếu đi hơi ấm của mùa xuân Tây Bắc, chắc cuộc đời tôi sẽ nghèo đi nhiều lắm. “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” là đây chăng, để rồi xuân này giữa Thủ Đô đang hối hả nhịp sống mới hướng tới lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tôi chợt nhận ra Tây Bắc mùa xuân với một vẻ đẹp mới, trong sáng vô ngần.

Hà Nội xuân 2010
Trần Vân Hạc

Một đêm trừ tịch

Chung cư ở sâu trong con đường nhỏ của thành phố Midway (*) , là lãnh địa của các lão niên đã gần đất xa trời. Những con người gần đất xa trời ấy, gồm cả nam lẫn nữ, sống hết sức đơn độc, thầm lặng, khép kín trong chung cư dành cho họ. Chung cư này có tên gọi hẳn hoi, được đặt dưới sự bảo trợ của một nhà thờ. Nhưng để tránh sự dòm ngó của những kẻ hiếu kỳ. Và cũng vì dáng vẻ cổ xưa của nó, ta tạm gọi đó là bộ lạc Ráng Chiều của các tộc trưởng đã về hưu, một bộ lạc không có trẻ con, nhiều lề thói.

Như đã giới thiệu ở trên: Bộ lạc Ráng Chiều là nơi qui tụ những người gần như đã rũ sạch bụi trần. Họ là đôi vợ chồng già không con cháu. Hoặc con cháu không còn muốn biết đến họ. Họ cũng có thể chỉ là cụ ông hoặc cụ bà cô độc, một mình một bóng thơ thẩn trước buổi chiều tà của tuổi thọ. Họ sống bằng tiền hưu trí, được xã hội và các đoàn thể tôn giáo chăm sóc. Họ dường như không còn thuộc về cõi sống. Thế giới của họ là đáy sâu nội ngã, là hố thẳm nội tâm, là suy tư quán tưởng. Họ có vẻ nghễng ngãng, hay nghe sai những câu nói đời thường. Nhưng lại nhạy bén với các tiếng động, dù thật khẽ. Sự nhạy bén ấy, không phải để cưu mang sức sống mãnh liệt của loài người. Mà chỉ để biểu lộ sự khó chịu, sự cáu kỉnh khi phải nghe những tạp âm nhố nhăng, nhốn nháo ấy. Ta gọi đó là hiện tượng dị ứng với tiếng động.

Hiện tượng này được các cư dân sống trong vùng lân cận biết đến. Người nọ rỉ tai người kia. Nên bất kỳ ai đi ngang vùng cấm địa của tiếng động, đều phải nhón chân nhẹ bước. Đi bộ thì nhón chân. Còn đi xe thì sao ? Xe cộ cồng kềnh, bốn bánh to đùng làm sao nhón…?! Nghĩ đến đây, ta đặc biệt biết ơn các kỹ sư tiên khởi của ngành ô tô. Các vị ấy có lẽ cũng tri giác được việc gì đó…Nên đã đặt hệ thống hãm thanh cho máy móc. Tóm lại : Không cần biết xe mới toanh hay cũ kỹ. Hễ cứ đi qua bộ lạc Ráng Chiều, người ta có thói quen giảm ga, gài số chậm.

Sự có mặt của những người khách lạ, đã làm đảo lộn thể chế quen thuộc của bộ lạc. Một sớm mờ sương, khi các cụ còn nằm yên trong nệm ấm. Bỗng giật thót người vì một tiếng két thật to, tiếp theo một tiếng rít thật dài, và hàng loạt tiếng gầm rú đáng sợ của con quái vật chết tiệt nào đó.

Đồng loạt cửa sổ của các phòng ngủ mở toang, một hiện tượng thật bất thường ! Qua từng khung cửa vuông vắn, ta có thể thấy những mái tóc bạch kim lúc lắc, để gọng kính trên mũi liên tục dáo dác dò tìm, xem con quái vật từ hành tinh nào rơi xuống, mà to mồm đến thế. Các cụ chỉ thấy bốn con người đang đứng quanh hai chiếc xe mù mịt khói ! Toàn bộ những cái miệng móm mém, không hẹn đều kêu “Lạy Chúa tôi” cùng một lúc. Dăm ba cụ sau khi kêu, vẫn còn cẩn thận lấy tay dí lấy dí để vào cái kính trên mũi, cho sát sàn sạt con mắt, để xem có đúng là hai chiếc xe đã gầm rú như điên không? Tạ ơn Chúa! Quả thực là xe, chứ không có con quái vật nào rách trời rơi xuống.

Thoắt một cái các cửa sổ đều khép. Liền tức thì như có phép đi xuyên tường, các cụ thùng thình trong bộ quần áo ngủ, đứng dàn hàng ngang trước cửa nhà, nhăn nhó dò xét khách lạ. Cùng với các cụ, ta nhìn xem: Họ là ai?

Ba cô gái, một chàng trai, thế hệ thứ hai của nước Việt lưu vong. Họ, những kẻ đương xuân, còn rất trẻ so với các lão niên đã thất thập cổ lai hy, đang lúng túng trước cái nhìn thiếu thiện cảm của bậc trưởng thượng không cùng nòi giống. Các cô gái gần như muốn khóc. Chàng trai chốc chốc lại đưa tay vuốt tóc.

May thay, giữa lúc phần thắng chưa biết thuộc về ai, có bóng người đi vội đến. Cả khách lạ lẫn các lão niên đều thở ra nhẹ nhõm. Thì ra đấy là ông linh mục. Ông ra dấu bảo khách lạ hãy bình tâm. Xong ông đến gần các cụ nhỏ to điều gì không biết. Chỉ thấy các khuôn mặt đang nhăn nhó, tự nhiên thư giãn. Các cặp kính thôi không di động. Ai nấy lặng lẽ vào nhà. Buổi sáng lại yên tĩnh, như bao buổi sáng đã từng yên tĩnh trong bộ lạc Ráng Chiều.

Còn lại ông linh mục và khách lạ. Thoạt đầu ta cứ ngỡ bốn người khách cùng quen biết, cùng đến từ một nơi. Không phải thế đâu. Ba cô gái là một nhóm. Chàng trai đi đơn lẻ. Qua câu chuyện họ trao đổi với nhau, trong lúc mang hành lý vào nơi ông linh mục qui định là chỗ ở cho họ. Ta được biết : Ba cô gái học ngành điều dưỡng. Họ được giới thiệu đến nơi này làm việc, để thực hành phần lý thuyết đã học. Còn chàng trai..? Anh là bạn của ông linh mục. Hình như đi lãng du để viết thiên ký sự nào đó… Hay là tìm ý thơ phổ nhạc thì phải… Cây đàn guitar trên tay. Túi hành lý trên vai có quyển sách dày cộm, cho phép ta suy diễn về anh như vậy.

Kể từ buổi sáng mờ sương hôm ấy, căn phòng nhỏ vẫn bỏ trống ở cuối hành lang bên trái, là thư phòng của chàng trai. Còn căn hộ xinh xắn có rèm xanh buông rủ, vốn là nhà khách của bộ lạc, trở thành nơi cư ngụ của ba cô sinh viên. Họ sẽ ở đây hết mùa đông. Gần cuối mùa xuân, họ lại trở về chốn cũ.

Họ sống trong bộ lạc, tuân thủ lề luật sẵn có, tịnh không biểu hiện một sai phạm nào, dù rất nhỏ. Sáng sáng chàng trai đi đâu rất sớm, sẩm tối mới về. Ba cô gái đi trễ hơn một chút. Họ đến phòng ăn, phòng đọc sách, phòng sinh hoạt, phòng dưỡng bệnh của bộ lạc, giúp đỡ các cụ đúng bổn phận của một nữ điều dưỡng tương lai.

Cứ thế, các tộc trưởng của bộ lạc dần quen với bốn người trẻ tuổi. Tuy vẫn không nói thêm gì ngoài nụ cười, lời chào ban sáng, ban tối. Nhưng chỉ cần nhìn ánh mắt trìu mến của các cụ mỗi khi gặp bốn con người trẻ trung ấy, ta biết các cụ yêu quí họ.

Hình như dáng dấp nho nhã của chàng trai, làm sống dậy thuở thư sinh tay trắng mộng đầy của các cụ ông. Hình như đường nét thanh tú của ba cô gái, gợi nhớ thuở trâm cài lược giắt của các cụ bà. Không nói ra, nhưng cụ ông nào cũng tự nhủ: “Thằng bé hệt như tôi thời trai trẻ”. Không nói ra, nhưng cụ bà nào cũng ngầm so sánh: ” Ba con bé dễ thương quá. Tôi bằng tuổi chúng cũng thế đấy!”

Và đã xảy ra một điều kỳ diệu trong đêm trời tối đen như mực. Đêm ấy, nếu như ở quê nhà, bốn người trẻ sẽ đón giao thừa theo lễ nghi cổ truyền của dân tộc. Nhưng ở đây, xứ lạ quê người, một ngày như mọi ngày, đêm trừ tịch có gì là thiêng liêng…?!

Ba cô gái từ lúc về phòng cứ loay hoay, tíu tít làm điều gì đó…Họ lấy thứ nọ, nhặt thứ kia bỏ vào ba cái túi, mỗi người cầm một túi. Rồi cô tắt đèn. Cô mở cửa. Cô bấm khóa. Người trước kẻ sau lặng lẽ đi qua dãy hành lang bên trái. Họ dừng lại, gõ cửa thư phòng của chàng trai. Chàng trai đang ngồi tư lự, bỗng giật mình. Và càng giật mình hơn, khi cánh cửa rộng mở cho thấy ba cô gái…! Cũng cần biết thêm một điều: Từ buổi sơ giao, khi tình cờ đến bộ lạc Ráng Chiều trong cùng một thời điểm, cả bốn người chỉ cười chào nhau lúc chạm mặt, chứ chưa hề chuyện vãn bao giờ.

Không để chàng trai hỏi, một cô lên tiếng:

– Anh cho phép chúng em vào chơi chứ…?

Chàng trai ngỡ ngàng:

– Ơ…Vâng…! Xin mời các cô

Phòng chỉ có một bàn một ghế. Chàng trai chưa biết xử trí cách nào, các cô đã cho ý kiến:

– Ta cứ ngồi cả xuống thảm, anh ạ

Chàng trai mỉm cười. Anh không biết mình phải làm chủ, hay nên làm khách trong tình huống bất ngờ này. Phụ nữ thật nhạy cảm. Các cô cấu tay nhau. Một cô vừa xuýt xoa vừa bảo:

– Chúng em quả có hơi đường đột. Nhưng không định tước quyền gia chủ của anh đâu. Xin anh tự nhiên cho.

Chàng trai nói trong tiếng cười:

– Vâng! Xin mời chúng ta cùng ngồi xuống.

Bốn người vừa ngồi xuống. Ba cô gái đã làm ảo thuật. Chàng trai tròn mắt nhìn bánh, mứt, hạt dưa, kẹo, ấm trà, tách nước…tuần tự đi ra từ ba cái túi. Anh thấy mình lúng túng:

– Ơ…,tôi thật không ngờ…!

Một cô nói thay các bạn:

– Chẳng việc gì phải ngờ, anh ạ. Đêm nay chờ đón giao thừa, chúng em xin mời anh cùng uống trà, ăn mứt để nhớ quê nhà.

Cả bốn người cùng nâng tách. Trà nóng có vị ngọt đắng của tâm sen, có vị nồng ấm của gừng già. Hình như giao thừa sắp điểm. Hình như năm mới sắp về. Khi hương trà thấm đậm vào tận tâm hồn của họ.

Chàng trai ân cần nhìn ba cô gái, lời thật như lòng:

– Cảm ơn các cô đã cho uống trà, ăn mứt. Nhưng hình như chúng ta chưa biết tên nhau…?

Các cô tươi cười giới thiệu:

– Em là Lang Bian.

– Em là Đam Ri.

– Còn em là Bến Nghé.

Chàng trai cười như chưa bao giờ cười:

– Sao không là Huế, Sài Gòn, Hà Nội cho đủ cả ba miền?

Ba cô gái cười khanh khách:

– Cũng muốn vậy, nhưng chúng em không thể ôm cả núi sông. Thế anh đại diện cho đồng bằng sông Cưủ Long, hay vùng châu thổ sông Hồng, hay là người hoàng phái của sông Hương núi Ngự…?

Chữ nghĩa quá! Ví von quá! Chàng trai thấy mình cũng bắt đầu văn vẻ:

– Tôi sinh ở ải Nam Quan. Mới vừa hai tuổi mẹ đã gánh vào tận mũi Cà Mau.

Đam Ri trầm trồ:

– Giang hồ dọc ngang sớm quá, hèn chi tướng mạo trông phi thường.

Chàng trai cứ thế mà cười. Anh chợt nhớ câu ca dao: “ Ba cô đội gạo lên chùa…”. Ba cô này phải chăng cũng muốn học sách người xưa…?!

Lang Bian nhìn anh không chớp mắt:

– Anh định gán cho chúng em hình tượng gì vậy…? Gọi anh là Đất Mũi nhé ?

Chàng trai kêu to:

– Ấy chớ, tôi tuy có đi qua đất Mũi, nhưng không hề cắm câu làm nhà ở đó.

Bến Nghé dí dỏm:

– Thế mẹ gánh anh từ ải Nam Quan vào tận mũi Cà Mau, xong hạ thúng ở chỗ nào ?

Chàng trai phì cười:

– Ở Hà Tiên.

Ba cô gái dài giọng:

– HàTiên cơ à…! Khéo chọn nơi ăn chốn ở nhỉ!

Tưởng cũng nên mở ngoặc ở đây. Bốn người trẻ đều có tên gọi hẳn hoi. Nhưng chả hiểu sao, đêm nay họ bỗng dưng lấy địa danh nơi sinh trưởng để giới thiệu về mình. Có lẽ hồn thiêng sông núi. Có lẽ nỗi nhớ gia đình. Đã khiến xui họ làm như vậy. Và ta, chẳng nên xét nét. Cứ việc gọi họ là Lang Bian, là Đam Ri, là Bến Nghé, là Hà Tiên cho hợp với lòng họ.

Chàng trai Hà Tiên đứng lên lấy cây đàn trên vách. Anh búng nhẹ vào dây phím. Những âm thanh trầm bổng, theo từng ngón tay tài hoa phát ra thành suối nhạc. Và đất trời bỗng nghe:

“Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm là đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về.
Xuân âm u lắt leo trong nguồn suối mơ
Mừng reo rồi theo nắng lên từ cha chói chan lòng mẹ”
(1)

Cứ thế họ: Những Lang Bian, Đam Ri, Bến Nghé, Hà Tiên của vùng trời quê hương say sưa hát. Cung đàn giọng hát hòa quyện vào nhau, âm vang sao mà tha thiết. Cô Bến Nghé thì thầm:

– Ở nhà, giờ này mẹ và các em của em chắc đang sửa soạn cúng giao thừa. Trên bàn thờ cha thế nào cũng có hoa huệ, trà sen. Khi còn sống, ngày tết cha thích uống trà sen, thích cắm hoa huệ, thích chưng chậu quất trong nhà. …

Sàigòn vào xuân đẹp lắm. Thời gian nhịp nhàng trôi. Mọi tất bật đời thường biến mất. Trung tâm thành phố với những con đường được bao phủ bởi hàng cây dầu cao vút. Trái dầu nhẹ rơi quay tròn trước gió, lá sẽ đong đưa… Người ta thấy lòng tịnh yên, nhất là khi đi giữa chiều hôm, nghe chuông nhà thờ vang trong không gian xám. Từng tiếng bing boong dặt dìu, nhặt khoan như muốn nâng hồn người lên cõi trời cao. Cả thành phố đắm chìm trong tiếng ngân nga, sâu lắng của chuông nhạc đạo….

Cô Bến Nghé mỉm cười. Nụ cười rạng rỡ. Cơ hồ cô đang đứng trước Vương Cung Thánh Đường SàiGòn, nghe chuông chiều rơi trên thành đô quen thuộc. Tiếng chuông diệu kỳ, nhặt khoan tận đáy lòng cô, làm rung động tâm hồn ba người bạn.

Cô Đam Ri bùi ngùi:

– Chị làm em nhớ nhà quá. Nhà em ở Bảo Lộc, ngay đường vào thác Đam Ri. Đêm giao thừa lạnh lắm. Cha đốt lửa ngoài vườn, vừa để canh nồi bánh chưng, vừa để hong người cho ấm. Ngồi giữa ánh lửa bập bùng, nhìn trời đen thẩm, nghe âm vang thác đổ, lòng em không quên cũng chẳng nhớ điều gì.

Sáng mùng một, sau khi chúc tuổi cha mẹ, sau khi nhận phong bao lì xì, mấy anh chị em rủ nhau du xuân. Thác Đam Ri là điểm đến. Lạ lắm. Cũng thác ấy, nước ấy…Mà sao ngồi chiêm ngắm sự kỳ vĩ, bí ẩn, hoang vu của giòng thác giữa màn sương mỏng đầu xuân, lòng em phát sinh những cảm quan rất dị thường. Giòng khói bốc lên, do nguồn nước từ trên cao đổ xuống, tạo cho cảnh quang một vẻ thanh thoát huyền diệu, hệt như chốn bồng lai tiên cảnh. Còn vực sâu thăm thẳm của thác, lại gợi nhớ một cõi đi không về…!

Cô Đam Ri mắt nhòa lệ. Ba người bạn đều thấy nước mắt chảy ngược vào hồn, khi nhìn thấu giòng thác Đam Ri đang ầm ầm tuôn đổ trong lòng cô gái trẻ. Lang Bian nói rất khẽ:

– Đam Ri này, chúng mình cùng đi trên từng cây số quê hương đấy. Muốn đến cao nguyên Lang Bian phải đi qua Bảo Lộc. Cao nguyên Langbian được vinh danh nhờ thành phố ĐaLạt. ĐaLạt khói tỏa, sương lồng, cây xanh, lá biếc. Nhà mình ở trên đồi Mai Anh. Đứng trên đồi Mai Anh, thấy toàn cảnh ĐaLạt. Xuân về, ĐaLạt mặc áo hoa muôn sắc, “ cỏ non xanh tận chân trời..”. Câu thơ này của Nguyễn Du, nên tặng riêng ĐaLạt lúc vào xuân…

Vườn nhà mình có hoa hồng, ngọc lan, nguyệt quế, hoàng lan… Đầu năm, cha hái ngọc lan mừng tuổi mẹ. Mẹ kết vòng nguyệt quế chúc tuổi cha. Anh em mình kết hoa hồng biếu cha mẹ, lấy lan vàng tặng nhau. Xuân sang rất diệu kỳ! Một ngày nào đó trở về cố hương, mình xin mời các bạn lên chơi ĐaLạt.

Ba cô gái thẫn thờ….Hồn họ có chuông chiều ngân vang, có thác nguồn tuôn đổ, có hoa nở bốn mùa, có mẹ cha để thương nhớ. Anh Hà Tiên buông đàn trầm tư. Anh thấy bao lớp sóng xô trong tâm thức…Và anh kể rất dịu dàng:

– Tôi lớn lên ở Hà Tiên, quen thấy cuộc đời cư dân ở đó được bao bọc bởi những chuyện truyền kỳ có từ thời Mạc Cửu. Lịch sử đất nước đã đi qua bao nhiêu truông dài hưng phế, từ triều đại này sang chính kiến khác. Điều đó dường như không là gì cả, đối với lòng người đất Đông Đô.

Cha mẹ tôi một đời lao khổ. Tết đến, vẫn chắt chiu những đồng tiền mới mừng tuổi cho con. Những đồng tiền mới ấy, sau lại được chắt chiu cho con vượt biển.

Tôi ra đi khi biển Đông dậy sóng. Bao nhiêu người đã vùi xác dưới trùng dương. Mẹ tôi khóc trong chùa Tam Bảo (2) , nguyện xin Quán Thế Âm Bồ Tát giúp tôi vượt biển an bình. Cha đưa tôi xuống thuyền, ánh sao mờ nhạt nhòa hòn Phụ Tử. Sóng nước âm vang huyền thoại: Ngày xưa, hai cha con người ngư phủ hiền lương, đã chết thảm sau cuộc chiến kiêu hùng với ba mươi bảy con thuồng luồng, khiến tôi thương cha bịn rịn trước phút lên đường.

Cha tôi chết không được gặp con! Ngày tôi có thể về cố hương, mẹ đã ra người thiên cổ! Các em tôi, mỗi đứa một cảnh đời nổi trôi! Tôi thật không vui khi trở về! Những ngày ở quê nhà, tôi hay lên thạch động. Hòn đá treo lửng lơ trên vách gợi nhớ truyền thuyết Thạch Sanh, gợi nhớ lời ru của mẹ thuở ấu thời :

“ Đàn kêu tích tịch tình tang
Ai đem công chúa lên hang mà ngồi…!”

Bây giờ ba cô gái đều khóc… Chàng trai im lặng sầu ! Căn phòng nhạt nhòa nước mắt. Đêm giao thừa ở đất khách quê người sao mà buồn thế…! Cây đàn lại ngân vang. Chàng trai hát với cả tâm tình:

“Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây…”
(3)

Ba cô gái cùng phụ họa:

“Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây…!”
(3)

Bỗng nhiên có tiếng gõ cửa dồn dập. Cung đàn giọng hát im bặt. Cả bốn người cùng đứng dậy. Cửa mở ra…Ba cô gái điếng người, núp vội sau lưng chàng trai. Thật đáng sợ! Trước mặt họ là tất cả tộc trưởng của bộ lạc Ráng Chiều.

Thôi nguy to rồi! Mải tâm sự ngắn dài, họ quên mất mình đang sống giữa vùng cấm địa của âm thanh! Giờ này đúng giao thừa! Năm mới đến trong hoàn cảnh không thuận lợi chút nào. Ba cô gái rùng mình, nhớ lại những cái nhìn thiếu thiện cảm của các cụ, lúc họ mới bước vào bộ lạc. Hôm ấy, may mà có ông linh mục. Đêm nay thì cứ gọi là…tận cùng bằng số…!


Chàng trai hình như không cùng chia sẻ nỗi lo sợ với ba cô gái. Anh vẫn nhẹ buông tiếng đàn, vẫn khe khẽ hát, vẫn như đang thấy Hà Tiên và thạch động trong khói huyền ! Anh mỉm cười với các tộc trưởng, đang mặt đối mặt với anh. Lạ thay, toàn bộ những cái miệng móm mém đều cười đáp lễ. Trước sự kiện đặc biệt này, ba cô gái cũng vội góp nụ cười.

Cụ ông và cụ bà Smith, đôi vợ chồng già nhất trong bộ lạc, dìu nhau bước lên một bước, cho gần chàng trai và ba cô gái. Họ nói “ Happy New Year”, ôm hôn thắm thiết, đặt vào tay từng người phong bao mừng tuổi đỏ tươi. Tiếp theo vợ chồng cụ Smith, các thành viên của bộ lạc Ráng Chiều, cũng đều biểu lộ với bốn người trẻ tuổi ấy, những cử chỉ thân thương như vậy.

Ba cô gái khóc òa. Chàng trai để giòng nước mắt chảy. Họ như đang đón giao thừa ở quê nhà, nơi có mẹ nhân từ, nơi có cha độ lượng, nơi có anh chị em hiền lành. Gia tộc muôn đời hệ trọng. Hôm nay, những cụ ông cụ bà mắt xanh da trắng, đã làm sống dậy tình gia tộc hệ trọng ấy. Cung đàn giọng hát lại vang lên:

“Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm là đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về…”
(1)

Những con người đã gần đất xa trời. Những con người tưởng như không còn thuộc về cõi thế. Những con người luôn dị ứng với tiếng động, đã mở lòng ra yêu thương bốn tâm hồn trẻ âm thầm đón xuân sang, trong nỗi nhớ quê hương ngút ngàn. Và phải chăng: Cõi lòng của những con người gần đất xa trời ấy, chính thật là quê hương, cho bốn tâm hồn trẻ được an bình!

Đêm trừ tịch đó, đêm duy nhất, bộ lạc Ráng Chiều không phải là vùng cấm địa của tiếng động.

Vivian
Tháng Hai, 2010

*********

* Chú thích:

(1) “Xuân Ca” của Phạm Duy
(3) “Chiều”. Thơ Hồ Dzếnh. Nhạc Dương Thiệu Tước
(2) Chùa Tam Bảo do Quốc Công Mạc Cửu xây cất. Nơi còn lưu giữ Tro Xương Thân Mẫu của ông
(*) Midway City, California

Văn và Hoa

Trong một buổi hội thảo về văn xuôi, nhà văn Cao Duy Thảo có phát biểu rằng văn chương không thể có phế phẩm, vì phế phẩm văn chương không thể dùng làm bất cứ thứ gì, việc gì. Một mớ gạch vỡ, ngói bể… còn đem làm nền, lót đường được. Miếng gỗ cưa hỏng, đục hỏng… còn đun bếp được. Nhả bánh “hư bột hư đường” hạ giá thành thức ăn gia súc. Văn chương mà hỏng chỉ vứt đi, vứt đi.

Vâng. Làm văn chương hỏng, bị vứt đi, thật tội nghiệp cho tác giả. Mất biết bao nhiêu tâm trí và công sức. Có thể tác giả đầy nhiệt tình nhưng thiếu khả năng, hoặc do một điều kiện khách quan tác động. Hóa ra cơ sự…

Cái đáng sợ trong văn chương đối với quần chúng là loại văn chương giả. Sự kiện éo le, hấp dẫn, từ ngữ bóng bẩy, cú pháp điêu luyện… tác giả tài tình như một phù thủy điều khiển âm binh, sai khiến những điều không thật này múa may, khoa trương làm lóa mắt người đọc và không ít người đọc bị mắc lừa, xúc động thật sự, có khi đi đến mê muội tin theo các điều giả ấy.

Ngược lại không phải không có trường hợp chính phẩm văn chương bị chê là khô khan, đơn giản, không khơi gợi được tình cảm nơi người đọc. Ở đây có thể ví như món ăn bổ mà không ngon, không khoái khẩu người thưởng thức nên không được ưa chuộng. Cũng có thể nói rằng như thế chưa phải là văn chương, bởi vì hai tiếng văn chương đã có ẩn ý là phải hay, mà đã là hay thì nội dung và hình thức song toàn.

Kinh nghiệm cuộc đời cho thấy cái gì là giả không thể tồn tại lâu dài, cũng như cái gì là thật không thể chìm khuất mãi. Một lúc nào đó, người đọc nhận ra ngay những éo le, hấp dẫn, bóng bẩy kia chỉ là lớp sơn hào nhoáng bên ngoài và người đọc hối hận: Tại sao lúc ấy ta lại tin như vậy, lại xúc động đến thế? Một khi đã “ngộ” những người đọc này càng khinh bỉ loại văn chương giả. Kẻ bi quan không còn chút niềm tin gì đối với văn chương, kẻ lạc quan gia công đi tìm điều thật.

Nói chuyện văn chương lại liên tưởng đến hoa.

Từ lâu có nhiều loại hoa giả. Lúc đầu còn thô thiển, càng ngày với kỹ thuật tinh vi nhiều loại hoa giả còn đẹp hơn hoa thật. Cùng với hoa thật, hoa giả đóng một vai trò quan trọng trong việc trang trí, khánh tiết. Có người chê hoa giả, cho là đồ giả thì không đáng quý, chẳng cần khen chê.

Cha tôi có bài thơ vịnh hoa giả:

Mượn tên đẹp đẽ cũng như ai
Cũng trúc, cũng lan, cũng thược, mai
Tết tới đua chen cùng chúng bạn
Xuân về hớn hở khắp trong ngoài
Nữ công chị hỡi trau tria với
Thưởng khách chàng ơi chớ phụ tài
Đành phận không hương nhưng có sắc
Đã từng lên án lại lên đài

Thật tình tôi không hiểu rõ ngụ ý của bài thơ là khen hay chê hoa giả, giả sử chê thì chê một cách khéo léo. Chỉ thấy rõ là khen tài người làm ra hoa, với quan niệm xưa đây là việc thủ công của nữ giới.

Nghĩ lại thì hoa giả đâu phải là hoa giả mà là sự phối hợp giữa mỹ thuật và kỹ xảo, người ta dùng một số nguyên liệu nào đó tạo ra một vật giả làm hoa, giống như hoa. Tác giả những hoa này nói thật nó là hoa giả, không đánh lừa người mua, vậy nó là “hoa giả thật”, nó không phải là hàng mị, hàng giả, hàng thứ phẩm, phế phẩm, hàng hỏng. Thích hay không thích là tùy ý từng người.

Hoa giả, nói cụ thể là hoa vải, hoa giấy, hoa ni-lông gì đó… là kết quả của sự bắt chước, mô phỏng, con người bắt chước trời đất, mô phỏng thiên nhiên mà tạo ra. Nó có cái nhược là không phải hoa thật hái từ cành cây, nó có cái ưu là là dùng được lâu, giữ cái đẹp được bền, không tàn, nên đỡ phải thay đổi, chứ theo giá cả bây giờ chưa chắc đã đỡ tốn.

Nhưng sở thích con người thường nhanh chóng thay đổi. Người sành điệu chơi hoa thật phải thay hoa luôn thì chơi hoa giả cũng phải thay luôn, nếu không sẽ bị “quê”, bị lạc hậu.

Hạng nghèo như tôi, không có tiền mua hoa thật và hoa giả, hai loại đều đắt cả. Thôi thì hái hoa dại trời cho, mọc ở bờ suối, vệ đường, sáng cắm, chiều bỏ… Cũng có màu sắc như ai và tự nghĩ rằng mình đây cũng biết yêu hoa, thưởng hoa như thiên hạ.

Trần Huiền Ân

Nợ Nần

Ôi cha là mỏi cái lưng, tôi dừng cuốc nhìn ánh chiều đang nhạt, chắc cũng hơn năm giờ rồi, thôi nghỉ, còn đi cho gà cho cá ăn nữa là vừa. Vừa lau mồ hôi, tôi vừa rẽ cỏ đi về phía căn nhà gỗ nho nhỏ bên rìa vườn. Khu vườn của tôi không lớn là mấy, chỉ hơn sáu nghìn mét vuông với vài trăm cây ăn trái. Sự chăm sóc sẽ không là nặng nhọc nếu có thêm một người phụ nữa. Có điều, không đơn giản khi tính đến chuyện ấy. Một người giúp việc đàng hòang, thật thà và nhiệt tình thì quả là một sự đánh đố khắc nghiệt trong thời buổi nhập nhòa đen trắng này. Tôi thường không quá xét nét người, nhất là những người vì sự khó khăn mà phải đem thân chịu sự sai bảo, phải gánh những phần việc nặng nhọc, nguy hiểm, đôi khi còn phải bưng tai bịt mắt mà chịu đựng những lời khó nghe từ những người đang nắm giữ phần sống của mình. Tôi lại dễ động lòng trắc ẩn, dễ cả tin vào những lời than thở, nỉ non, dễ nhắm mắt cho qua những thiếu sót nhỏ nhặt, dễ chấp nhận những yêu cầu, chỉ cần là không quá đáng của cái vế thường được gọi là “kẻ dưới”. Nói một cách chân thật nhất, tôi là một kẻ biết thương người, một kẻ luôn lấy hai chữ nhân tâm làm đầu, một kẻ thường không cho phép đem những ưu thế của mình đòi hỏi sự phục dịch đầy nhẫn nhục của người khác, và thật tình tôi không muốn làm phiền hay làm khổ bất kỳ ai trong mọi tình thế.

Nếu có thể cho đó là những ưu diểm thì không phải là không đáng. Có điều những ưu điểm đó lại biến thành những yếu điểm cho những người biết cách lợi dụng. Biết rõ nhược điểm của mình, nhưng tôi chẳng làm sao thay đổi được, đành vậy, trời sinh mỗi người mỗi tâm mỗi tính, hay nhờ dở chịu thôi. Cũng chính vì thế mà tuy công việc có phần vất vả, nhưng tôi chẳng dám mượn người giúp. E chuyện khó lòng về sau, tâm lý của người đi làm công thường chẳng mấy ai hết lòng với chủ. Họ cho rằng làm nhiều làm ít cũng bấy nhiêu lương, hết công hết sức làm chi cho uổng. Đã vậy họ luôn thừa cơ để tận dụng những cái lợi cho mình, chưa kể đến một lúc nào đó máu tham bốc mờ nhân trí, họ sẽ trực tiếp gây hại cho chủ. Thực tế đã quá nhiều những bài học thảm thương, nghĩ mà buồn cho thế thái, nhân cách, lương tri đôi khi chẳng đáng mấy đồng lẻ. Thôi thì đành chịu khó thêm chút nữa vậy, việc hôm nay làm không xong thì mai làm tiếp, sức mình đến đâu thì cày sâu đến đó vậy. Đa mang cho lắm chỉ tổ vác họa vào thân. Ấy thế mà rồi cũng xong khối việc, lâu lâu nhìn những gì đã qua đôi tay của mình, lại mỉm cười tự thưởng cho mình một câu “Được đấy”. Thì có mỗi một mình, không tự khen thì đợi ai khen nữa.
_ Chị ơi…
Tiếng gọi rụt rè khiến tôi ngỏanh ra cổng, một hình dáng lạ, ai thế nhỉ ? ai mà còn đến vào giờ này ?
_ Có việc gì đó em ?
Trong thời gian của câu hỏi, tôi đã lướt nhanh qua người đứng ngòai cổng. Một cô gái độ ngòai ba mươi, tay xách một túi hành lý như có vẻ ở xa tới, bộ quần áo cũ kỹ, hơi nhàu, gương mặt hốc hác, tái ngắt, lộ rõ vẻ mỏi mệt.
_ Chị…chị có cần người làm không ạ ?
_ Không em.
Nét thất vọng kèm theo chút gì như hỏang hốt.
_ Chị không cần thật ạ ?
Tôi gật đầu, cố như vớt vát, cô gái nói thêm :
_ Em hỏi mấy nhà gần đây, họ bảo chị ở một mình, lại vườn rộng , chắc sẽ cần người.
_ Thì cũng đúng thế đấy, nhưng chị tự lo liệu được, nên…
Tôi bỏ dở câu nói, nhìn nét mặt thẫn thờ của cô gái lạ, tôi chạnh lòng. Ánh mắt cô gái nhìn mông lung trong không gian tai tái giấc cuối ngày, ánh mắt bơ vơ, cô độc, ngơ ngác, lo âu và tuyệt vọng. Cô gái chợt khẽ nhăn mặt, đưa tay ôm bụng, tôi thóang thấy tấm áo gồ lên khỏang giữa, nhưng cô quay lại khẽ gật đầu chào tôi :
_ Cảm ơn chị, em đi.
Bước chân rã rời, không khó khăn gì mà không nhận thấy đó đang là một tình cảnh đáng lưu tâm. Tôi buộc miệng :
_ Em này…
Cô gái quay ngoắt lại, trong mắt như sáng lên :
_ Chị…
Tôi mở khóa cổng, bước hẳn ra ngòai, quét tia nhìn qua bụng cô gái, đúng là cô gái đang có mang, tôi nhẹ giọng :
_ Em ở xa đến đây à ?
_ Dạ , vâng.
_ Thế bây giờ em đi đâu ?
Cô gái cúi đầu, giọng hơi ướt :
_ Dạ…em không biết đi đầu nữa.
Tôi im lặng vài giây cân nhắc, rồi thở ra bảo :
_ Thôi, em vào đây đã.
Có vẻ bất ngờ, nhưng cô gái im lặng theo tôi.Vào đến nhà, tôi đưa một cái ghế tựa cho cô :
_ Em ngồi đây nghỉ tí cho dỡ mệt đi đã, chị làm xong mấy việc vặt rồi chị vào.
_ Chị có việc gì, em làm phụ với.
_ Thôi, em cứ nghỉ đi, chị làm xong ngay ấy mà.
Cô gái nghe lời, ngồi xuống ghế, tôi nhanh tay với những công việc cần thiết. Trong đầu ngồn ngộn những câu hỏi “Làm sao mà phải đi tìm việc làm trong lúc bụng dạ như thế ? Có uẩn khúc gì chăng ? Có chồng hay không có ? Chắc là không, chứ nếu có thì sao lại ra nông nỗi thế ? Mình cho người ta vào nhà như vậy có mạo hiểm quá không ? Mình có biết gì về người ta đâu ? Lỡ bị gài bẫy thì làm thế nào ? Nhưng chắc không phải thế đâu, nhìn mặt thấy có vẻ hiền lành lắm mà. Nếu không cho người như vậy vào nhà, chí ít là cũng nghỉ tạm qua một đêm thì mình lại không đang tâm. Chắc không sao đâu, hẳn là người ta gặp chuyện gì quá đáng nên mới như vậy. Thôi thì cứ giúp người ta qua lúc này đã, cũng chẳng dễ gì mà hại được mình. Đừng tự nhát mình thế chứ. “Nghĩ thế, tôi thấy yên tâm hơn. Xong hết việc, tôi bảo cô gái đi tắm rửa rồi ăn cơm. Sau bữa cơm, trông cô gái có vẻ khá hơn. Cô mở túi xách, lấy ra cái chứng minh thư đưa cho tôi :
_ Chị cầm đi ạ, chứng minh của em đấy.
Tôi cầm coi qua rồi trả lại, nói :
_ Thế này Sương ạ. Thực tình thì chị không có khả năng nhờ người giúp việc đâu. Lúc nãy thấy tròi sắp tối rồi, em lại bụng dạ thế này, nên chị bảo em vào nghỉ tạm qua đêm nay đã rồi mai tính.
_ Em cảm ơn chị. Bây giờ em mới dám nói, nếu chị không cho em vào thì chắc em cũng không biết mình có đi nổi mấy bước nữa không.
_ Thế nhà em ở đâu ?
Sương cúi mặt một lúc, rồi đưa tay lên chùi mắt, tôi im lặng, đóan biết cô sẽ nói gì đó cho tôi nghe. Đúng vậy, giây lát cô ngẩng lên nhìn tôi, mắt đỏ hoe :
_ Em xin lỗi chị, chuyện của em buồn lắm, nếu…
Hiểu cô nghĩ gì, tôi nói ngay :
_ Tuy không rõ cụ thể là em gặp chuyện gì, nhưng nhìn qua chị cũng đóan hiểu phần nào. Chị em mình gặp nhau hôm nay, cũng là có một chút duyên, nếu em có gì không vui, nói chị nghe xem chị có giúp được gì cho em không ?
_ Chị tốt quá, đúng là trời còn thương em, cho em được gặp chị thế này.
Ngưng một chút, Sương bắt đầu kể :
_ Nhà bố mẹ em ở ngòai Bắc cơ chị ạ. Em lấy chồng rồi theo chồng vào đây, cũng được hơn sáu năm rồi. Em có thai đứa này là đứa thứ hai, đứa đầu là con trai, đã gần bốn tuổi, nhưng phải gửi ông bà nội cũng ở ngòai Bắc, vì vợ chồng em vào đây còn khổ lắm, lo không nổi cho cháu. Em cũng đâu có định sinh nữa, nhưng bị lỡ nên phải đành để. Có điều, khổ vì làm ăn vất vả mấy em cũng cố chịu đựng được, nhưng cái khổ của em …(Sương ngừng lại và nấc lên, tôi khẽ thở dài, trông cô đau khổ quá)..Em khổ vì chồng em là nhiều nhất. Hầu như không ngày nào là anh ta không đánh em chị ạ …
_ Đánh ?
Sương khe khẽ gật đầu, lại đưa tay chùi mắt.
_ Em bầm mặt tím mày như cơm bữa, lúc đầu còn khóc lóc van xin, nhưng chẳng ăn thua gì, anh ta đánh chán tay thì thôi, không ai can được. Chính quyền thôn xã, bà con láng giềng can thiệp, anh ta bảo vọ tao thì tao dạy, đứa nào chõ mõm vào tao đánh luôn đứa đó. Anh ta còn đặt điều, vu cho em bao nhiêu là thói xấu để có cớ đánh đập, mà khổ nỗi, em thì đầu tát mặt tối suốt từ sáng sớm đến nửa khuya, có thò đi đâu được mà bảo là chơi bời, lê lết. Việc nhà lớn nhỏ chớ hề anh ta đụng tay, đi làm công cho người ta được đồng nào giữ riêng đi uống rượu hết, say rồi về nhè em đánh, tức bực ai ngòai đường cũng về nhè em đánh, không có tiền ăn nhậu về hành em.Vốn liếng được mấy sào đất trồng tỉa vặt vãnh chỉ gọi là đủ đắp đổi, em phải đi làm thuê cho người ta mới gọi là có tí tiền dành lo cho con.
Nhìn xuống bụng mình, Sương thở hắt :
_ Độ ba tháng nữa là em sinh, trong tay không có một đồng tiền nào, có cái nhà ọp ẹp anh ta cũng đốt mất rồi ..
_ Cái gì ? Đốt cả nhà á ?
_ Vâng. Hôm rồi say sỉn nổi khùng lên vác dao rượt em chạy khắp xóm, may mà cái thai không làm sao, đòi giết em không được thế là về đốt nhà. Chị bảo em còn khổ đến thế nào nữa. Còn được mấy cái quần áo phơi ngòai dây, khuya em lẻn về lấy rồi trốn đi đây. Nói thật với chị, hai ngày qua em chỉ có mỗi gói mì vào bụng. Không gặp được chị thì không biết…
_ Trời ơi trời !
Nếu nói là bịa thì người phụ nữ này không đủ tài để bịa được một câu chuyện như thế, mà thật thì…trời ơi, kinh khủng quá. Hốt nhiên tôi nghĩ về mình, may quá, tôi không bị gặp phải lọai đàn ông ấy. Cứ bảo đẹp xấu gì cũng lấy cho có tấm chồng mà nương tựa, nhưng chồng kiểu này thì chắp cả guốc lên mà vái.
_ Vậy anh em gia đình hai bên có biết không ?
_ Dạ biết cả đấy, nhưng cả hai gia đình đều ở xa, có vào cũng chỉ được dăm ngày là về, đâu lại đóng đó.
_ Chẳng lẽ em không làm cách nào để thóat khỏi cảnh ấy sao ?
_ Em biết làm cách nào bây giờ hả chị ? Con thì sắp hai đứa rồi, dù thế nào cũng phải có cha, mà em có đi đâu cũng chẳng thóat khỏi anh ta được, bỏ thì không cho bỏ, nhiều lúc em cũng mong anh ta bỏ em đi cho em đỡ khổ, một mình em làm nuôi con còn tốt gấp mấy lần. Nhưng mà rồi …
_ Vậy lúc trước thương nhau mà lấy hay bị ép gả ?
_ Dạ, do thương mà lấy, chứ mà bị ép nữa chắc em tự tử lâu rồi. Mà ngày chưa lấy nhau anh ta hiền lành tử tế lắm cơ, em nào ngờ.
Tôi thừ người, cái khổ của người đàn bà biết nói sao cho hết nhỉ ? Không chồng không con thì bảo là cô quả cô độc, lấy chồng rồi thì phải sống chết cả đời vì chồng vì con, gặp được người chồng tốt thì còn coi như có phước, gặp cái thứ trời đánh thánh đâm như vầy cũng phải cắn răng mà chịu. Cho dù cũng đã có không ít những người phụ nữ tìm cách bức thóat, có thóat được cũng đã mang đầy thương tích, cũng chẳng dễ dàng gì tìm lại được một hạnh phúc êm dềm.
Sương đã ngủ say, có lẽ cô đã quá mệt rồi, tôi còn trăn trở mãi không ngủ được. Câu chuyện của một người xa lạ giờ ở ngay bên tôi làm tôi bứt rứt. Tôi phải làm thế nào trong tình cảnh này đây ? Vốn tâm tính tôi ưa lo chuyện bao đồng, lại gặp một vấn đề nan giải này bảo sao tôi coi như không nghe được. Chuyện giữa đường cứ như đặt để vào tay, có lẽ giữa tôi và cô gái này có một chút duyên phận, bởi sự dẫn dắt ngẫu nhiên nhưng lại rõ ràng là có cơ sở. Nếu như cô ây gặp tôi vào một thời khắc khác, không phải là khi sâm sẩm tối, không phải trong bộ dạng quá thiểu não đến tội nghiệp như thế, và nếu tôi là một người lạnh lùng, vô cảm, thì chưa chắc đã có lúc này. Một mảnh đời vất vưởng đang trông vào chút lòng nhân đức của tôi, dù muốn dù không tôi cũng không thể nào đẩy con người khốn khổ này ra đường. Thôi thì…
Tờ mờ sáng Sương đã nhỏm dậy, tôi cũng đã thức giấc trước một lúc, thấy cô rón rén bước xuống giường, tôi lên tiếng :
_ Em dậy sớm thế ?
_ Dạ , em quen dậy vào giờ này, chị cũng dậy sớm thế ạ ?
_ Ừ , chị cũng quen rồi, việc nhà nông mà, có ai trễ muộn được đâu.
Cả hai loay hoay một lúc thì xong phần việc buổi sớm. Tôi đun nước nấu hai gói mì và ấm trà. ăn xong, tôi bảo Sương :
_ Sương này, chị nói thế này nhá.
Sương như nín thở nhìn tôi.
_ Nghe qua chuyện của em, chị thấy rất bức xúc, nhưng chưa biết rồi có giúp gì được cho em không. Trước mắt, em cứ ở lại đây, chị em rau mắm cũng xong thôi, rồi từ từ xem tình hình ra sao mới tính được.
Cô gái xúc động ứa nước mắt :
_ Em mang ơn chị quá, em không biết nói sao bây giờ nữa.
_ Không cần phải nói gì đâu, ai thì cũng làm như chị thôi. Còn công xá thì…
_ Không, không, chị dừng nói đến công xá, em được chị giúp cho thế này là quý lắm rồi, em không dám đòi hỏi gì hơn đâu, chị đừng nghĩ ngợi gì cả.
Tôi im lặng ngẫm nghĩ một chút rồi gật đầu :
_ Ừ thôi, để cho em thỏai mái tự nhiên, chị không nói chuyện ấy nữa, nhưng lúc nào mệt mỏi, em cứ việc nghỉ ngơi, không phải cố đâu nhé. Công việc chị thì cũng không nhiều, chị vẫn quen làm một mình cả đấy, nên em đừng có nghĩ ngợi lung tung mà cố quá, lỡ ảnh hưởng cháu thì chị không đền được đâu.
_ Dạ, chị cứ yên tâm, em tự biết sức mình mà.
Nói vậy thì nói chứ tâm trạng của người chịu ơn nó nặng lắm, tôi rất hiểu điều đó, nên mỗi lúc thấy Sương vã mồ hôi vì cố sức trong công việc thì tôi thấy mình rất khó chịu, tuy vẫn luôn nhắc chừng cô, nhưng đôi khi cũng vờ làm ngơ cho cô có được cảm giác đền đáp để có thể thỏai mái hơn trong sinh họat. Thấm thóat Sương đã ở cùng tôi hai tháng, nhìn bụng Sương mỗi ngày một to ra mà tôi thầm lo. Không biết sắp tới sẽ tính sao đây ? Chẳng lẽ để cô sinh nở ở nhà tôi luôn sao ? Thứ nhất là sự nguy hiểm khi sinh, vì khá xa cơ sở y tế, nhỡ đêm hôm chuyển bụng thì biết làm thế nào. Lại tôi cũng chẳng dư dả gì mà cưu mang cô mãi được, dù lòng có tốt đến đâu thì cũng phải có điều kiện hỗ trợ mới có thể tốt được. Tôi chưa từng vào cuộc, nhưng cũng thừa hiểu những gì cần phải có cho người phụ nữ vào lúc ấy. Biết làm sao đây ? Đi vay mượn để lo chuyện bao đồng chăng ? Chắc thiên hạ sẽ cười cho dữ lắm, nhưng nếu cùng quá cũng phải vậy thôi, ai cười thì cười, không lẽ kéo người ta lên nửa chừng rồi thả cho người ta rớt cái ịch xuống. Hóa ra không chỉ mình tôi nghĩ ngợi, mà nhân vật chính còn nghĩ ngợi hơn tôi nhiều.
_ Chị ơi, chị có đi phố chị gửi giùm em bức thư này nhé.
_ Gửi cho mẹ em à ?
_ Dạ vâng. Bữa giờ em không dám liên lạc, sợ chồng em biết chỗ đến tìm, gây phiền hà cho chị. Nhưng giờ thì phải vậy thôi, còn gần tháng nữa em sinh rồi, làm sao ở đây mà vạ chị mãi được. Em liên hệ với mẹ em, đê mẹ em vào đón em.
_ Thế thì chồng em cũng sẽ biết.
Sương thở dài :
_ Đành vậy thôi, em chỉ cố tránh để con em bình yên ra đời lúc này thôi, chứ làm sao tránh được anh ta cả đời này hở chị ?
Tôi im lặng, biết nói gì bây giờ. Một lúc Sương lại tiếp :
_ Cái số kiếp em nó thế thì phải chịu thế, chẳng làm sao khác được.
Số với kiếp. Cũng chẳng có cách lý giải nào khác hơn, không phải là số thì sao lại gặp người như thế. Người đàn bà lấy chồng là buộc mảnh đời mình vào một sợi chỉ, mặc giông gió đẩy đưa theo từng cơn nóng lạnh. Vui buồn, sướng khổ tùy thuộc vào tâm thái của người đàn ông. Có ra sao thì cha mẹ, anh em cũng không có quyền tham dự.Bảo rằng tạo hóa thì phải thế, trời sinh rà đàn ông đàn bà là để kết hợp lại với nhau, nhưng sao lại có những cuộc kết hợp đọa đày đến thế.
Thân cá nước đục, thân cò ăn đêm. Nhìn ánh mắt thất thần và gương mặt mét xanh của Sương khi nhìn thấy người đàn ông đi cùng mẹ cô cũng đủ hiểu đấy là ai. Anh ta ném một cái nhìn sáng quắc về phía vợ trước khi mở lời với tôi. Cái nhìn mà tôi là người ngòai cũng lạnh cả sống lưng. Một nỗi căm giận bùng lên trong tôi, nhưng tôi phải cố nén, nếu không, hẳn cô gái tội nghiệp kia sẽ phải gánh một hậu quả khủng khiếp .
_ Thì ra vợ tôi lâu nay ở nhà chị, thế chị và cô ấy quen biết thế nào?
Rõ là một câu nói gây hấn.
_ Chẳng thế nào cả, tôi cần người giúp việc, cô ta đến xin việc thì tôi cho vào làm, thế thôi.
Không cố tình chăng nữa, thì tôi cũng không đủ bình tĩnh để làm một chủ nhà lịch sự. Gã đàn ông nhìn tôi soi mói, sỗ sàng :
_ Sao lại đi thuê một người bầu bì nặng nhọc thế kia vào làm việc?
Tôi quắc mắc nhìn thẳng vào anh ta :
_ Thế thì tại sao vợ anh trong lúc bụng mang dạ chửa thế kia mà phải đi xin việc làm để kiếm miếng sống ?
Nếu tôi không phải là chủ nhà mà anh ta đang đứng, có lẽ tôi không tránh khỏi một động tác nào đấy từ gương mặt đỏ bự hầm hầm kia. Mẹ Sương len vào giữa tôi và anh con rể, ôn tồn :
_ Thôi chị thông cảm, vì vợ chồng chúng nó có chút chuyện không vui nên nó mới nóng thế. Chị cho tôi xin lỗi, cảm ơn chị đã giúp đỡ em nó lâu nay. Xin phép chị hôm nay cho chúng tôi đón em nó về.
_ Bác ạ, cháu không biết gì về chuyện riêng của hai người, nhưng quả thực là cháu rất lo cho Sương, tuy không quan hệ thân thiết gì, chị em cũng mới biết nhau đây thôi, nhưng cháu thấy gia đình nên quan tâm đến em nó nhiều hơn. Cháu là người ngòai mà còn không nỡ…
Người mẹ thở dài, trong đôi mắt bà một nỗi buồn dâng kín.
_ Vâng, cảm ơn chị. Chúng tôi ở xa quá nên đôi khi cũng không giúp em nó được nhiều. Thuyền theo lái, biết làm sao được.
Câu nói buông xuôi, phó mặc. Tôi nhìn về phía Sương, em hướng về tôi tia mắt khẩn cầu và khẽ lắc đầu. Tôi thở dài. Chỉ là một người dưng, tôi có quyền gì để thay đổi được số phận em. Đi đến trước mặt Sương, tôi kìm lắm để không ôm lấy em bởi hành động ấy lại không tốt cho em một chút nào, tôi móc túi lấy món tiền đã chuẩn bị sẵn, nhét vào tay Sương :
_ Em hãy cầm một chút này về lo cho cháu nhé.
_ Thôi , thôi chị …
_ Cầm đi cho chị vui, coi như chị cho cháu vậy. Mong sao em mẹ tròn con vuông. Nếu có nhớ đến chị hãy đặt tên con là Yên Yên nhé. Chị rất muốn mẹ con em sẽ được bình yên.
_ Chị…
Nước mắt Sương chảy tràn trên má, tôi nắm chặt tay em. Người mẹ đã đến bên cạnh, bà nhìn tôi, đôi mắt cũng rưng rưng.
_ Cảm ơn chị, cảm ơn chị nhiều lắm.
_ Thôi. mọi người đi đi không trễ xe.
Gã đàn ông khốn kiếp kia đã ra cổng từ lúc nào. Hai mẹ con Sương dìu nhau đi ra. Tôi tiễn đến cổng thì dừng lại. Họ còn phải đi bộ một quãng nữa mới đến trạm xe búyt. Gã kia cắm mặt đi trước, không cả một lời chào xã giao, hẳn gã còn căm tôi lắm vì câu hỏi móc ban nãy. Tôi nhìn theo dáng đi ì ạch của Sương mà thương quá. Chỉ cái tên cũng đã nói lên sự mỏng manh của một kiếp phận rồi. Có chút duyên nào đâu, chẳng qua chỉ là một thứ nợ nần mà thôi.

Đàm Lan

Người Xưa và Hoa Mai

Trong một bức tranh ta tưởng tượng, có lẽ nên tưởng tượng là phấn tiên trên giấy nhung, cụ Tiên Điền vẽ cảnh cuối xuân bên Tàu:

    Cỏ non xanh tận chân trời
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Một bức tranh khác, ta tưởng tượng là tranh thủy mặc, bác Vũ Đình Liên vẽ cảnh đầu xuân ngoài Bắc:

    Mỗi năm hoa đào nở
    Lại thấy ông đồ già
    . . .
    Năm nay đào lại nở
    Không thấy ông đồ xưa

Còn Phương Nam? Mùa xuân có hoa mai. Nhưng không phải riêng Phương Nam, trong văn học nghệ thuật Á Đông với bộ tứ bình “mai – lan – cúc – trúc”, hoa mai là tượng trưng mùa xuân.

Ngày xưa, không ai đem cây mai trồng trong chậu, như thế là giam hãm cái khí tiết thanh cao của mai. Cây mai là của trời đất, ủ sương, phơi nắng, dãi dầu cùng thảo mộc sơn khê. Chợt gặp người lính trạm bên đường, ta bẻ vội một cành mai, thay lá thư gởi thăm bạn cố tri. Hoa mai còn tượng trưng cho phái đẹp nên những bức tranh vẽ hoa mai bao giờ cũng có cành giao nhau thành chữ “nữ”.

Có những tác phẩm lấy hoa mai làm rường cột cho câu chuyện như Nhị độ mai, Mai đình mộng ký… Ngoài ra từ văn chương bác học của các đại danh đến văn chương bình dân, hoa mai được nhắc đến rất nhiều, trong nhiều sự hòa hợp, hơn hẳn các loài hoa khác.

Mai đi với trúc:


    – Mai khai phú quý, trúc báo bình an
    – Thờ ơ gió trúc mưa mai
    – Chắc rằng mai trúc lại vầy
    – Một nhà sum họp trúc mai
    – Ai đi đường ấy hỡi ai
    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

Mai đi với hạc:


    – Nghêu ngao vui thú yên hà
    Mai là bạn cũ hạc là người quen

    – Hỡi người mình hạc xương mai
    Ở miền thị tứ tìm ai chốn này?


Mai đi với tuyết:


    – Mai cốt cách tuyết tinh thần

Mai đi với liễu:


    – Gió đưa liễu yếu mai oằn
    Liễu yếu mặc liễu mai oằn mặc mai

Mai đi với cúc:


    – Nét buồn như cúc điệu gầy như mai

Mai đi với điểu:


    – Xem thơ biết ý gần xa
    Mai hòa vận điểu điểu hòa vận mai

Vân vân… Còn nhiều nữa.

Đi tìm một nhành mai, ai đã võ vẽ đọc thơ đều cúi đầu khi gặp Mãn Giác thiền sư:

    Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
    (Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
    Đêm qua, sân trước, một nhành mai)

Ngải Tuấn Mỹ, đời nhà Thanh có câu đối tặng Phó sứ Việt Nam Nguyễn Tư Giản đã được truyền tụng rộng rãi:


    Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
    Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

Ca ngợi hoa mai, nhưng cái thần tình của câu đối nằm ở vế trên, chuyện thập tải luân giao. Ông Viên Linh đã dùng vế ấy ghi nơi hộp thư tạp chí Thời Tập xuất bản trước năm 1975 tại Sài Gòn. Hộp thư không chỉ ghi những bài đã nhận mà là nơi giao lưu giữa người chủ trương, tòa soạn với bạn viết, bạn đọc. Ông Viên Linh là người có tài làm hộp thư, nhiều câu trả lời dí dỏm, rất hay. Mở tờ Thời Tập tôi cũng như nhiều người trước hết đọc mục hộp thư.

Trong Vang bóng một thời, truyện viết về thú chơi thả thơ, ông Nguyễn Tuân dẫn câu:

    Mộ thượng mai khai xuân hựu lão
    Đình biên hạc khứ khách không hoàn

Vẫn là mai đi với hạc. Vế dưới khiến ta nghĩ đến Hoàng Hạc lâu: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản. Vế trên cho ta hình dung ra cảnh không phải sầm uất cũng không phải hoang sơ, một cảnh xuân thật độc đáo. Hoa mai nở trên mộ, nét xuân càng già dặn.

Lúc nhỏ, mỗi khi trời tạnh mưa, nhìn dấu chân mèo chân gà đi trên sân ướt, cha tôi hay đọc câu đối, tôi không biết của người hay của ai:


    Võ hậu đình tiền, miêu túc mai hoa, kê túc trúc
    Dạ thanh thiên thượng, tinh hình đạn tử, nguyệt hình cung

Vế dưới bình thường: Đêm thanh, trên trời, những vì sao giống như viên đạn, mặt trăng giống như chiếc cung.

Vế trên thật hay: Sau cơn mưa, trước sân, dấu chân mèo in hình hoa mai, dấu chân gà in hình lá trúc.
Cái nhìn của tác giả thật sắc sảo, kết hợp giữa hình ảnh thực tế gần gũi ngay trước mắt là dấu chân mèo, dấu chân gà với ước lệ của thi và họa: hoa mai và lá trúc.

Tái bút: Ở trên tôi có nhận xét về câu đối này: “Vế dưới bình thường”. Nay thấy không phải là bình thường. Mờ sáng ngày 17-9-2009 (29 tháng 7 năm Kỷ Sửu âm lịch) tôi đi bộ dọc bờ sông Chùa (một phụ lưu của sông Đà Rằng trong phạm vi thành phố Tuy Hòa) chợt nhìn lên bầu trời, thấy còn vầng trăng mỏng, thật mỏng, chỉ là một đường cong, và chỉ duy nhất một ngôi sao cạnh đó, rõ ràng là tinh hình đạn tử nguyệt hình cung. Vế này tuy không xuất sắc như vế trên nêu lên hình ảnh dấu chân mèo và dấu chân gà, cũng chứng tỏ khả năng quan sát của tác giả thật độc đáo.

Trần Huiền Ân

Bài Văn Tả Cây Mai Nhân Dịp Xuân Về

Mấy tuần trước, khi tôi đang lặt lá Mai, bé Út (Hồng Ân, 3 tuổi) hỏi “tại sao?”. Tôi trả lời lặt lá đi cho Mai ra hoa. Bé cũng muốn lặt lá và sau vài lần thử tay nghề bằng cách bứt lá, tôi phải nói ngay rằng con làm vậy cây Mai đau. Bé hiểu ra và thì thầm xin lỗi cây Mai, còn dỗ dành ráng chút cho có hoa, rồi cẩn thận lặt ngay cuống từng chiếc lá. Tôi chợt nhớ bài văn tả cây Mai dịp Xuân về do chị Hồng Phúc của bé viết năm lớp 6:

“… Cả nhà vui vẻ quây quần bên cây Mai để lặt lá. Em làm theo lời mẹ dạy, chú ý lặt đúng cách từng chiếc lá, tưởng tượng như đang mở từng chiếc cửa sổ tí ti trên thân cây …”.

Tết này, mẹ gửi bài văn tả cây Mai của chị Hồng Phúc lên ĐCN và sẽ đọc cho Hồng Ân nghe nhé (vì con còn chưa biết chữ mà)

Mùa xuân đã về. Chẳng thua gì miền Bắc với hoa Đào sặc sỡ, miền Nam cũng tưng bừng đón Tết với hoa Mai rực vàng. Mai từ lâu đã trở thành một hình ảnh không thể thiếu trong ngày Tết, Mai – loài hoa đặc trưng của miền Nam- mang một bổn phận thiêng liêng là đem hết vẻ đẹp của mình làm đẹp cho miền Nam, cho đất nước trong những ngày xuân về.

Nhà em có một cây Mai. Ngày thường, Mai đứng một mình trong góc vườn, lặng lẽ giữa bao nhiêu là Quỳnh Anh, Lan, Cúc, Vũ Nữ… Ấy vậy mà Mai vẫn ung dung, thản nhiên lớn lên với dáng vẻ đơn sơ và giản dị. Cây Mai cao hơn em đến hai cái đầu. Nó khoác trên mình một chiếc áo xanh đậm điểm vài bông hoa vàng hoe.

Đến rằm tháng Chạp, Mai được đem ra giữa sân nhà. Nó bắt đầu được chú ý đến. Mai được mọi người chăm sóc, bón phân, tỉa cành và đặc biệt lặt lá – một công việc mà em rất thích. Vào sáng Chủ Nhật, cả nhà em vui vẻ quây quần bên cây Mai để lặt lá. Em làm theo lời mẹ dạy, chú ý lặt đúng cách từng chiếc lá, tưởng tượng như đang mở từng chiếc cửa sổ tí ti trên thân cây cho những nụ hoa mở mắt hé nhìn trời đất.

Khi tất cả những chiếc lá đã rời cành mẹ, cây Mai trở nên trơ trụi, khẳng khiu. Những cành cây tia ra như những nét phác thảo bằng bút kim của một bức tranh. Nhưng chính sự trơ trụi ấy lại mang một vẻ háo hức và tưng bừng, đem đến cho mọi người cảm giác mùa xuân về.
Không phụ lòng người chăm sóc, không để cành phải đợi lâu, những nụ hoa li ti đã bắt đầu xuất hiện. Thân cây trơ trụi được tô điểm bằng những chấm xanh non của mầm hoa, mầm lá.
Gần đến Tết, những nụ hoa lớn lên, phình tròn, nhõ bằng chiếc móng tay út. Nhìn cây Mai như có hàng trăm con bọ xanh âu yếm bám chặt vào cành, cố gắng làm đẹp cho cây và hứa hẹn một sự đơm hoa rực rỡ ngày Tết

Tết tới, Mai được đặt chễm chệ ở một vị trí trang trọng trong nhà. Mọi người lo đi sắm đồ Tết, chẳng để ý đến Mai nhiều. Hôm mồng Một Tết, mọi người vui vẻ trong những bộ đồ mới. Đến lúc này, nhìn qua cây Mai, ai cũng ngạc nhiên khi thấy nó cũng đã sẵn sàng trong bộ trang phục truyền thống của mình. Mai phủ hắp người một chiếc áo vàng rực rỡ của hoa, điểm thêm vài màu xanh non của lá. Chúng em trang trọng treo những lời chúc “ An khang thịnh vượng”, “ Vạn sự như ý”, … và những bao lì xì lên cây, chia sẻ lời chúc năm mới với loài hoa tuyệt đẹp này. Vậy là chiếc áo vàng của Mai còn được điểm những món đồ trang sức màu đỏ, thể hiện may mắn và tình thương yêu

Hoa Mai vàng tươi, rất đẹp. Cánh hoa mềm, mịn như nhung. Nhưng chỉ sau một vài ngày, những cành hoa ấy héo dần và từ từ rời cành xuống điểm tô cho đất. Đất trong chậu đầy một màu vàng của cánh Mai.
Hoa Mai rụng đi nhường chỗ cho những nụ hoa con con bung mình hé nở. Những cái nụ xanh be bé, điểm vài màu vàng ở đỉnh. Chúng em thay nhau đoán xem đâu là nụ hoa, đâu là nụ lá, nụ nào nở trước, nụ nào nở sau. Những chiếc nụ lá không được quan tâm nhiều nhưng vẫn hồn nhiên nở cánh trước cả nụ hoa

Sau tết, Mai vẫn cố gắng thể hiện hết vẻ đẹp còn lại của mình, hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng được giao. Dưói đất, hoa vàng rụng nhiều. Trên cây, lá xanh lớn lên . Hết Tết, hết mùa hoa Mai, đến lượt lá đua nhau trang trí cho cành. Mai lại khoác lên mình chiếc áo màu xanh thẫm.
Mai cũng “ điệu” như con người, cứ đến Tết là xúng xính trong bộ quần áo đẹp. Mai như một người bạn quen thuộc, chia sẻ ngày Tết với mọi người. Mai gắng sức mình tô đẹp cho ngày Tết. Mọi người quan tâm, làm đẹp cho Mai. Em yêu Mai, gia đình em yêu Mai, miền Nam này yêu Mai, cả đất nước Việt Nam cũng yêu Mai. Cây Mai- biểu tượng của may mắn, vui vẻ và hạnh phúc.

Hồng Phúc viết năm lớp 6 ( 2 năm trước )

Hoa mai sáu cánh

Trước đây hầu như nhà nào ở Huế cũng trồng mai trước sân- một hoặc nhiều cây tùy theo sở thích chủ nhân và diện tích đất. Nhà tôi cũng có hai cây. Và hai cây mai nầy đã chứng kiến bao buồn vui của gia đình tôi suốt mấy chục năm nay.

Hai cây mai được Ba tôi trồng trước khi có tôi hay ai trồng trước đó nữa thì tôi không rõ và cũng chưa lần hỏi, chỉ biết khi quan sát được đã thấy trước sân nhà, một bên phải và một bên trái. Cây bên trái có vẻ bị lấn át bởi cây bên trái về chiều cao, số nhánh và hoa nhưng cả hai đều có dáng đẹp với cành vươn cao, cành nghiêng nghiêng , cả cành ngang bướng bỉnh và cho hoa đẹp. Hoa năm cánh vàng rực với nhụy vàng lộng lẫy kết vòng tròn tròn như vương miện, tỏa hương dìu dịu trong nắng sớm ngày xuân. Ba tôi rất quí hai cây mai. Không kể mùa, ngày nào ông cũng để mắt tới. Khi thì vừa thức dậy; khi thì đi làm về; khi thì đang bế em tôi, ông đều nhìn hai cây mai với vẻ trìu mến.

Hai cây mai hình như cũng hiểu được tình cảm ông nên xanh tốt suốt mùa hè dể rồi đến hết mùa thu thì dần rụng lá và phô vẻ phong sương trụi trần cho đến quá giữa tháng chạp thì nhu nhú nụ xanh, cần mẫn đợi chờ và nở đúng vào dịp tết. Cũng đôi khi do thời tiết thế nào đó lá không rụng đúng chu kỳ, ông lại tự tay trảy bỏ. Chị em tôi thắc mắc thì được giải thích là làm vậy để cây ra hoa đúng tết. Tôi cũng phụ ông trảy những cành thấp với niềm hân hoan tỏ lộ. Ông hướng dẫn tỉ mỉ từ cách cầm cành đến cách trảy lá . Tay trái cầm từng nhánh nhỏ, tay phải cầm lá đưa ngược về sau để không làm trầy lớp vỏ ở mắc lá. Ông bảo đó là nơi chồi sẽ nứt ra với hoa và lá. Chồi hoa tròn, mọc hai bên. Chồi lá nhọn, mọc đầu nhánh. Ông dạy chúng tôi cách phân biệt như vậy Tôi và em trai lớn phụ giúp ông trong khi các em khác của tôi thi nhau nhặt lá làm tiền chơi mua bán. Mặt đứa nào đứa nấy hí hửng vì tiền có nhiều mà không phải hái ( Để chơi trò mua bán trẻ con như chúng tôi thường hái lá giả làm tiền). Tôi thường được ba khen vì không làm gãy nhánh trong khi thằng em thỉnh thoảng bị nhắc ( chả là cậu ta chưa cao bằng tôi nhưng lại ưa với cành cao nên mới vậy).

Trong tiết lạnh của mùa đông Huế nhìn cây mai trơ trụi thấy thương lắm. Những ngày mưa dầm trông càng thương hơn với vẻ cam chịu nhưng không ẻo lả khuất phục như các loại cây khác. Em tôi thường hỏi “ Cây lạnh không Ba” thì được nghe trả lời là “ Cây mai giỏi lắm, lạnh nhưng không kêu ca, còn lo tích nhựa để cho hoa đúng tết” khiến chị em tôi vừa phục Ba vừa phục cây mai. Tôi và em trai cũng bắc chước ông, ngày ngày săm soi ngó nghiêng và vui vẻ thông báo về tiến triển đâm chồi nẩy lộc cho Ba thường xuyên cứ như là ông không biết vậy .

Hai cây mai này có vẻ rất muốn làm vui lòng ba tôi nên lúc nào cũng nén lại chờ đúng sáng mồng một Tết mới xòe cánh, không phải đồng loạt mà rón rén trên từng chùm từng chùm nhỏ trong khi mai hàng xóm đã bung đầy từ nhiều ngày trước.Sỡ dĩ nói vậy vì ba tôi thích trò bói hoa mai với các con. Thành lệ từ bao giờ, sáng sớm mồng một là ông kêu chị em tôi ra sân bảo “ đố đứa mô tìm được hoa sáu cánh ba sẽ lì xì nhiều hơn” vì ông cho rằng mai sáu cánh báo hiệu sự may mắn cho cả nhà trong năm mới.Cả mấy đứa thi nhau ùa ra, thi nhau săm soi mong mình là người thấy. Mấy đứa em sau còn thấp bé nên ra sức nhón chân nhón gót tranh giành chỉ trỏ, chỉ tôi thường hay thấy trước vì có lợi thế chiều cao. Qua mồng hai hoa nở nhiều, hoa sáu cánh vì thế cũng dễ có nhưng ba tôi bảo chỉ linh nghiệm trong ngày mồng một. Mấy đứa em tôi không chịu, theo bắt đền ba cho bằng được. Trò bói hoa thật vui, đem lại bao nhiêu tiếng cười trong căn nhà đơn sơ.

Có một năm chúng tôi không bói mai được.

Từ giao thừa tiếng súng rộ khắp nơi. Sáng mồng một mẹ tôi líu ríu hớt hải đắt chúng tôi đến một nhà khác trong xóm kiên cố hơn để tránh đạn, không ai kịp thấy có hoa nào sáu cánh không. Chuyến đi đó không ngờ thành dài ngày với nhiều địa điểm khác nhau đến khi trở về mai đã rụng đầy sân , vàng xuộm một màu trên đất dưới mưa phùn ảm đạm. Chúng tôi mất ba từ những ngày đó, ngẩn ngơ mồ côi.

Mẹ tôi một mình chống chèo nuôi chúng tôi. Hai cây mai vẫn nở tàn nở tàn trước sân. Nhớ ba mấy chị em tôi lại ngắt lá, chờ hoa, tìm hoa sáu cánh với niềm hy vọng ba sẽ về đem theo tiếng cười và ánh nhìn ấm áp. Nhiều năm mai đơm nụ nhiều vô kể. Bao nhiêu người đi dạo tìm mua mai đã trả giá cao mong mẹ tôi bán nhưng bà đều từ chối. Bà giữ mai như giữ vật lưu niệm của ba tôi để tưởng nhớ ông.

Theo thời gian hai cây mai cao dần, muốn hái lá phải bắt thang nên chúng tôi chỉ trông chờ
vào trời đất và sân nhà lại vàng tươi khi tết đến xuân về.Rồi chị em lần lượt có vợ có chồng, lận đận mưu sinh, bận bịu con cái. Trò bói mai trở thành kỷ niệm.

Năm 1993, gia đình nhỏ của tôi chuyển đến Buôn Ma Thuột sinh sống. Tết đến dạo chợ hoa hoặc đến thăm nhà ai toàn thấy mai không phải năm mà là sáu, tám, hoặc mười hai cánh, chi chit chen nhau . Cây trồng trong sân thì tỏa nhánh tròn đều, vươn cả lên,dáng na ná đào, ít có cành ngang như mai nhà tôi xưa nên không có ý trồng dù công nhận rằng chúng đẹp.

Vài năm sau có người đem từ Huế vào tặng tôi một cây mai nhỏ. Hóa ra người nầy cũng như tôi, chỉ thích mai năm cánh nên đã nâng niu suốt hai ngày trời trên xe khách ( trước đây xe cộ không như bây giờ) để có mai Huế trên đất bazan.

Chính tay tôi trồng cây mai này ở mé sân trái, hồi hộp theo dõi mấy năm để rồi mừng vui khôn xiết khi lứa đầu tiên rụt rè khoe những hoa năm cánh tươi vàng.

Từ đó mẹ con tôi có thêm niềm vui chờ mai nở. Cũng thường đúng vào sáng mùng một tết hoa mới bung cánh dịu dàng. Nhớ ngày xưa lại săm soi tìm hoa sáu cánh như một hy vọng về sự may mắn có từ bé thơ bởi ba tôi. Kể lại với các con để cười để nhớ để rưng rưng…

Đất Ban Mê rất tốt, mưa nắng khác Huế nên mai thường ít rung lá đúng thời điểm. Các con tôi, đăc biệt là cô con gái lại cùng mẹ trảy lá. Có khi mẹ bân lại lụi hụi bắt ghế trảy một mình. Không có ai giành lá làm tiền như ngày tôi thơ bé bởi trẻ con không còn chơi trò mua bán như thế hệ chúng tôi thưở nào. Năm nay, thằng út lo việc thay mẹ và chị. Khi nụ hoa đầu tiên he hé chút vàng, cu cậu í ới gọi mẹ chỉ trỏ , hí hửng khoe thành tích. Đáng tiếc là hoa nở không đợi tết do năm nhuận – từ 20 tháng chạp – trước cả ngày ông Táo về trời. Sáng sáng tôi tranh thủ nghiêng ngó trước khi đến lớp, thong thả tí chút thì tìm góc đẹp đợi nắng đẹp chụp hình, loay hoay cành thấp cành cao ngắm ngắm tìm tìm bấm bấm. Vậy mà cũng đành chịu lọt mất vài thế hoa đẹp vì giờ giấc không cho phép.

Tết là mùa khô ở cao nguyên. Hiếm khi mưa, mưa phùn càng không có. Mai vườn nở trong ngọn nắng chói chang trông thật lạc lõng. Lại nhớ ngày xưa ở Huế, dưới màn xám nhạt mưa phùn màu vàng của mai thành ngọn lửa ấm áp, cháy trong tĩnh lặng.

Tiếc cái đẹp bị chìm lấp. Dù là chìm lấp dưới nắng trời.

Tôn Nữ Ngọc Hoa
Xuân con cọp.

Vệt vằn của cọp

VT VN CA CP

Trần thị LaiHồng

dịch The Tiger’s Stripes của Võ Đình*

Ngày xửa ngày xưa, bộ lông là niềm hãnh diện của cọp.  Trong bóng cây rừng, dưới ánh trăng, toàn thân cọp là một khối vàng uy nghi uyển chuyển uốn lượn.

Nhưng ngày nay, cọp khoác những vệt đen vằn vện làm hỏng cả bộ mã óng mượt toàn hảo ngày nào.  Với cọp, những vệt vằn vện đẹp đẽ đó ngó chẳng ra chi mà là dấu vết một trận đòn chí mạng.  Tuy nhiên, rồi cọp cũng quen sống với những vệt vằn vện này.  Và mỉa mai thay, những vệt vằn vện đó lại giúp cọp thêm dễ dàng trốn lẩn.  Ẩn mình trong đám cỏ tranh hay náu thân sau lùm cây chằng chịt, cọp lẫn vào cây cỏ, chẳng thể nào thấy được.

Tuy nhiên, khoan vội nghĩ là hồi còn nguyên bộ lông thẫm vàng óng mà cọp lại ít đáng khiếp sợ hơn. Cọp nổi danh nhanh nhẹn, uy vũ, tàn bạo, và tham lam.  Ai cũng biết sư tử no mồi chẳng buồn giết nữa.  Nhưng cọp thì khi nào cũng sẵn sàng tấn công.

*

Chính con thú đó đe dọa cư dân một làng vùng núi nọ.  Lâu nay dân làng sống yên ổn trong công việc hàng ngày, cho đến lúc nỗi hãi hùng bùng nổ như núi lửa.  Chưa đầy một tuần, cọp về làng ba lần.  Một con nghé, một con nghé nữa, rồi một con heo bự lần lượt biến.  Dân làng sợ hãi, hoang mang.  Con mãnh thú – dấu chân rất lớn rành rành để lại – hẳn là một con thú vô cùng xảo trá quỷ quyệt, nhanh nhẹn, và dũng mãnh.  Tấn công lặng lẽ không gây tiếng động, vì lũ chó mọi khi vẫn canh gác cẩn mật thế, lại im hơi lặng tiếng khác thường.  Những vòng rào tre bao quanh mấy căn nhà chẳng hề xiêu vẹo chút nào.

Một người dân làng lo mất gia súc, giận dữ đích thân canh thức cùng hai chàng trai khác đợi suốt đêm rình tên cọp sát thủ. Đối đầu ba tráng đinh giáo mác sắc nhọn, cọp rút chạy về rừng sau khi lẹ làng tàn bạo vồ một người.  Nạn nhân vỡ sọ chết tức tưởi tại trận.

Từ đó, Vua Cọp –  Chúa Sơn Lâm, Ông Hổ, Ông Ba Mươi, Ông Khái với vóc dạng gồ ghề – được cả làng nhắc nhở trong hãi hùng, khiếp sợ và căm hận.  Và cọp tung hoành hùng cứ toàn vùng thung lũng.

Lâu nay Vua Cọp để mắt đến một con trâu mộng đen mập hàng ngày cày ruộng dưới sự điều khiển của một bác nông dân.  Từ sau đám cỏ và bụi rậm trên đồi cao, Vua Cọp quan sát.  Cọp chưa muốn vội tấn công.  Cọp nghĩ:  “ Nếu con trâu mộng to mập dường ấy có bộ sừng nhọn hoắc dường ấy coi bộ mạnh vậy để tui phải đắn đo suy đi tính lại trước khi vồ nó, thì tên lực điền dũng mãnh kia hẳn phải nguy hiểm lắm mới làm chủ sai bảo được con trâu chứ !”

Ngày lại ngày, Vua Cọp càng nôn nóng.  Nhưng thay vì xuống núi tuôn vào cánh đồng liều một trân đẫm máu, cọp quỷ quyệt đủ khôn để vẫn ẩn mình chờ cơ hội.

Một buổi sáng, bác nông dân ra đồng như thường lệ, nhưng coi bộ bỏ quên vật gì ở nhà, để con trâu ở lại một mình trên ruộng.  Từ xa, cọp chăm chú theo dõi.  Một ý tưởng nẩy lóe trong đầu.  “Ta sẽ xuống lân la thân thiện với con trâu, và sẽ bất thần chộp khi nó chẳng ngờ.  Rồi ta sẽ dấu trâu trong bụi rậm.”  Vừa nhẹ nhàng bước, cọp vừa nghĩ tiếp: “Và khi tên lực điền trở lại, ta sẽ “xử lý” hắn khi không còn con trâu để trông cậy !”

Uyển chuyển nhanh nhẹn, Vua Cọp đến gần trâu, cố làm ra vẻ tử tế dịu ngọt: “Bậu trâu ơi !  Nghe nè !  Tui đến với bậu không có ý làm hại bậu đâu.  Tui chỉ muốn hỏi bậu mấy điều lâu nay cứ bận tâm hoài …”

Dầu khiếp đảm, con trâu hiền lành giữ bình tâm.  “Ồ, ông bạn đó à !  Ông bạn Chúa Sơn lâm !  Thiệt tử tế hết sức !  Có chuyện chi tui làm được nào ?”

“Ơ bậu ơi !”  Cọp nói, trong khi tiến thủ trong vị thế sẵn sàng thình lình nhảy vồ trâu, “Lâu nay tui ngưỡng mộ bậu lắm.  Khỏe quá !  Siêng quá !”  Cọp ngước mắt lên trời.  “Thiệt tui không thể tưởng nổi làm sao bậu kéo cái cày nặng nề này được.  Rồi cách bậu làm việc nữa !  Từ sáng sớm tửng bưng đến tối mịt chỉ nghỉ chút xíu vào trưa !  Tui nghĩ bậu thiệt tuyệt, tuyệt, bái phục bậu …”

Dầu khiếp hãi, trâu cũng khoái lắm.  Đấy, chính Vua Cọp đứng trong bùn ruộng đích thân ca ngợi trâu, con vật kéo cày hèn mọn !  Nhưng trâu không quên cảnh giác.  Hễ cọp nhích chân là trâu cũng nhích chân.  Vua Cọp luôn luôn đối đầu với cặp sừng lớn cong vút, nhọn lễu, chĩa thẳng vào mặt.

Cọp lập lại: “Tui nghĩ bậu thiệt dễ nể.  Có điều chẳng phải vì chủ của bậu, bác nông dân …”

Trâu lùi lại : “Chủ tui làm sao, hở ông bạn Vua Cọp?”

“Ờ … họ khoan họ rị, bậu ơi !  Tui nghĩ là bậu để ông ấy khai thác bậu cạn tàu ráo máng.  Tui chẳng biết ông ta sẽ làm thế nào mà kéo cái cày nặng nề này nếu không có bậu giúp.  Nhưng ông ta xử tệ với bậu, quá tệ.  Hò tắt hò rì túi bụi !  Cứ ra lệnh riết !  Rồi cái roi tre trong tay ông ta nữa … Ông ta quất cố mạng vào mông bậu từng ba bước một !  Tàn nhẫn !  Hung bạo quá là ông chủ của bậu.  Nếu tui là bậu thì …”

Nhưng cọp bị trâu ngắt lời.  Trâu chẳng muốn nghe ai nói xấu ông chủ mình.  Trâu ôn tồn:  “Ông bạn lầm rồi.  Ông ấy là một người tốt.  Ông phải ra lệnh để tui biết mà đi chứ.  Còn cái roi ông ấy dùng chẳng phải để đánh tui đau !  Da tui dày cộp nên cái roi ấy nhằm nhò chi !  Ngoài ra, ông ấy chăm sóc tui tử tế, cho tui rơm ăn và chuồng ở.  Cố nhiên ông ấy là chủ tui vì ông có trí khôn.”

“Trí khôn ?”  Vua Cọp nhảy nhổm lên, xích lại gần.  “Trí khôn là cái chi chi vậy cà?   Tui chưa hề nghe.  Trí khôn ngó ra làm sao?”

Trâu ngúc ngoắc đầu, chĩa sừng ngay mặt cọp.  “Tui không biết.  Tui cũng chưa hề tận mắt thấy cái trí khôn ra làm sao cả.  Nhưng tui biết ông ấy có trí khôn vì ai cũng nói thế.  Họ nói vì vậy mà ông ấy rất có uy thế và minh mẫn.  Nhân tiện lát nữa ông ấy trở lại đây, ông bạn có thể hỏi ông ấy về cái trí khôn.”

Tính tò mò của cọp nổi dậy.  Lần này cọp không cẩn thận như mọi khi. Cọp quyết định đợi bác nông dân trở lại.

Vừa ló dạng từ khúc quanh đường làng, bác nông dân chạm mặt cọp.  Nhưng từng được chỉ bảo cách ứng phó với tình hình như vậy, bác biết là không nên bỏ chạy.

Trâu cất tiếng gọi:  “Ông chủ ơi !  Bạn tui đây là Ông Vua Cọp nè.  Anh ta đòi coi cái trí khôn của ông !  Xin ông vui lòng cho anh ta coi cái trí khôn của ông đi !”

Cọp phụ họa theo: “Bác cho tui coi với nào !  Tui muốn coi cái trí khôn của bác, xin coi một lần thôi !  Có phải cái trí khôn giúp bác thông minh và có uy quyền không ?  Sao tui chẳng có cái trí khôn đó ???”

Hoàn hồn sau cơn khiếp hoảng, bác nông dân giang hai tay lên: “Được !  Được !  Chào ông cọp !  Sao ông không tới sớm một tí trước khi tui chạy về nhà lấy mo cơm trưa ?  Để tui biết mà đem cái trí khôn trở lại cho ông coi.  Nó bự lắm nặng lắm không phải lúc nào cũng kè kè vác theo bên mình.  Tui luôn luôn để trí khôn ở nhà.”

Cọp tiu nghỉu.  Nhưng nỗi thất vọng của cọp không làm hắn quên mục đích xuống núi là làm thịt cả con trâu mộng mập ú và bác nông dân kia.  Bây giờ cọp đứng gần chẳng thấy trâu mập người mạnh và nguy hiểm như nhìn từ xa.  “Ta có thể vồ chúng ngay bây giờ, ngay trên thửa ruộng này!”  Vừa nghĩ vậy, cọp vừa quật đuôi, sửa thế vồ mồi.

Bác nông dân nhanh nhẹn:  “Ồ!  Được rồi !  Được rồi !  Đừng ra bộ khổ sở vậy ông ơi !  Ông đã mất công từ rừng ra đây, tui không để ông về tay không chẳng thấy được cái trí khôn.  Tui sẽ trở lại ngay tức thì !”  Bác dợm chân, nhưng chưa được mươi bước, vội quay lại:  “Chiều ý Ngài Chúa Sơn Lâm, tui sẽ về nhà lấy cái trí khôn.  Nhưng tui không muốn để Ngài một mình với con trâu của tui.  Ai phụ tui cày ruộng nếu Ngài ăn thịt con trâu của tui?”

Cọp gầm gừ phản đối chẳng có ý làm thịt trâu, nhưng bác nông dân quyết không rời bước.  Bỗng bác hả hê vỗ đùi đen dét:  “Được rồi!  Nếu Ngài quyết tâm thấy cái trí khôn của tui cho kỳ được, thì Ngài hãy chịu khó để tui buộc Ngài vào gốc cây kia nhé?  Có vậy tui mới chẳng lo chi về con trâu của tui.”

Vua Cọp đảo mắt nhìn bác nông dân rồi nhìn con trâu, rồi lại nhìn bác nông dân rồi lại nhìn con trâu.  Coi chúng thiệt yếu hèn đối với cọp.  Bây giờ có ông chủ, trâu trở lại hiền lành thuần thục.  Trâu đứng đó, đầu hơi cúi xuống, mắt trầm tư đượm buồn.  Cọp nghĩ: “Và cái anh chàng nông dân kia !  Cái anh chàng yếu đuối kia !  Ta phải thấy cái trí khôn của hắn mới được.  Ta sẽ cướp cái trí khôn của hắn, rồi ăn tươi nuốt sống cả hai.”  Quyết tâm xong, Vua Cọp bằng lòng nghe lời bác nông dân.

Bác nông dân bắt cọp đứng thẳng trên hai chân sau, úp bụng ôm sát thân cây gần đó, lấy giây thừng lớn trói vòng con vật vào thân cây.  Vừa buộc chặt nút thắt cuối, bác tháo ngay cái cày khỏi lưng trâu, lấy hết sức lực thẳng cánh nện lên mình cọp.  Cọp đau đớn giận dữ gầm thét vang làng chuyển xóm.

Cuối cùng, cọp vùng vẫy thoát được một chân sau, chống lên thân cây, gồng mình ráng sức bứt đứt giây trói.  Nhưng thay vì quay lại vồ mồi, cọp cúp đuôi dông tuốt một mạch về rừng.

Kể từ đó cọp không còn như trước.  Vì cố ráng vùng thoát, cọp đã làm những vòng giây trói siết chặt phát nhiệt nóng đốt xém bộ lông vàng thành những vệt vằn vện quanh mình.

Bây giờ cọp mới hiểu cái trí khôn của con người là gì, nên thêm quỷ quyệt và là kẻ thủ không đội trời chung với loài người, trở thành con vật chuyên giết người ăn thịt.

Chẳng bao giờ cọp rời hang núi lúc ban ngày để mầy mò quấy nhiễu đám gia súc và chủ của chúng.  Bộ lông trên mình với những vết vằn vện luôn nhắc cọp nhớ đến mưu trí của loài người.

Xin bổ túc thêm phần cuối chuyện liên hệ đến con trâu, không có trong nguyên bản tiếng Anh.

Thấy chủ xử sự dùng trí khôn dạy một bài học để đời cho Vua Cọp, trâu khoái quá hả họng cười lăn cười bò, ngã bổ chửng vào gốc cây, va bập mõm vào tảng đá, gãy trọn cả hàm răng trên.  Và từ đó, trâu không có hàm răng trên nữa.  Cũng từ đó, ta có câu tục ngữ “chởm hởm như trâu mất hàm côi”**, ý chế nhạo chẳng có gì mất cả, vì vốn đã không có rồi.

*  Nguyên bản tiếng AnhThe Tiger’s Stripes của Võ Đình, trong tập chuyện kể dân gian Việt Nam có minh họa The Toad is The Emperor’s Uncle/Con Cóc là Cậu Ông Trời, nhà xuất bản Doubleday & Company, Inc, Garden City, New York, 1970

**  Côi có nghĩa là trên, tiếng Việt xưa, còn dùng tại vùng Thanh- Nghệ- Tĩnh và Quảng Bình/Quảng Trị/Thừa Thiên

A long time ago, the tiger’s coat was a source of great pride to him.  In the shadows of the forest, under the moonlight, the great feline’s body was an undulating and powerful mass of glittering gold.

But today, he loathes the irregular black stripes which mar his once perfect fur.  To him, these beautiful stripes look like nothing but the marks of a cruel slashing whip.  Nevertheless, he has learned to live with them.  And ironically, these very marks have made him even more elusive.  Lurking in the elephant grass or crouching behind a thicket, the tiger, blending into his surroundings, is all but invisible.

Let no one think for a moment, however, that when the tiger’s coat was of a uniform golden brown he was any less fearsome.  His reputation for swiftness and power, cruelty and greed was already established.  It is well known that a lion which has just eaten never kill.  The tiger, though, has always been ready for attack.

*

It was such an animal which had been terrorizing the population of a whole mountain village.  The people had been living peacefully in their day-to-day routine when suddenly fear erupted like a volcano.  In less than a week the tiger had visited their hamlet three times.  A calf, another calf, then a prize pig disappeared.  The villagers were afraid and puzzled. The large beast – his footprints were enormous – was a particularly cunning, swift, and strong one.  The raids had taken place noiselessly, because the dogs, usually vigilant, had kept quiet.  The bamboo fences surrounding the houses had remained undisturbed.

Afraid of losing any of his cattle, one man angrily mounted guard himself and, with two other men, waited all night for the killer.  Confronted by three men armed with spears and swords, the tiger beat a quick retreat, but not before he had swiftly and savagely struck one of the men.  The victim died of a fractured skull.  By now, the Tiger King, so name for his huge size, had become the most feared and hated creature in the whole valley. There, he reigned supreme.

For quite some time, the Tiger King had had his eyes on a big black buffalo he saw almost every day, pulling the plow in the field for its master.  From behind the grass and bushes of the hill, high above the village, the Tiger King often gazed down at the working team.  But as yet, the Tiger wanted no battle with them.  He thought, “If the big buffalo with his sharp horns seems so strong that I think twice before attacking it, how dangerous and powerful the man must be to remain its master!”

As the days passed the Tiger King became more and more impatient.  Still, instead of going to the field and risking a bloody fight, he was cunning enough to remain hidden and wait for the right moment.

One morning the farmer came to his rice field as usual, but apparently having forgotten something, he disappeared after a moment, leaving his buffalo behind.  From afar, the tiger watched all this.  “I will go and try to make friends with the buffalo,” the Tiger King thought suddenly, “and strike him when he least suspects it.  Then I’ll hide him in the bush,” he thought again, on the way down to the field, “and when the man returns, I will handle him without his buffalo’s help!”

Swiftly, the Tiger King approached the buffalo, trying to look as gentle as he could.  “Listen, friend, I have come with no harmful intentions.  I only want to ask you something which has been bothering me for some rime.”

Although frightened, the good buffalo remained calm.  “Oh, it’s you, friend Tiger!  How nice to see you!  What is this that I can do for you?”

“Well, friend buffalo.” The tiger said, maneuvering himself all the while into a good place from which to leap at the unsuspecting buffalo. “I have been admiring you for a long, long time now.  Your strength!  Your industry!”  The tiger raised his eyes toward heaven.  “How you can ever pull this heavy plow is beyond me.  And the way you work!  From dawn to dusk with but a short, short break at noon!  I think you are wonderful, friend buffalo, wonderful, admirable …”

Despite his fear, the buffalo was pleased.  Here was the Tiger King himself, standing in the mud of the field, praised him, the lowly plow-piller!  But he did not relax his guard.  Every time the tiger moved, he, too, moved.  The Tiger King always found the huge, curved, sharp horns facing him.

“I think you are admirable,” the Tiger King repeated.  “If it were not for your master, the farmer –”

“What of my master, friend Tiger?”  The buffalo inquired, somewhat taken aback.

“Well, now, don’t take offense, friend buffalo. I think you have been letting yourself be injustly exploited by that man.  I don’t know what he would do to pull this heavy plow without your help.  But he treats you badly, very badly.  Go!  Stop!  Left!  Right!  All those orders!  And that bamboo cane in his hand … He whips you every three steps you take!  What a cruel, hard man!  If I were in your place, I would …”

But the Tiger King was interrupted. The buffalo did not like to hear his beloved master abused.

“You are wrong, my dear friend,” he said to the Tiger King.  “The man is as good as he can be.  He has to give orders so I will know where to go.  And his whip is not meant to hurt me!  My skin is too thick for that wisp of bamboo!  Besides, he is kind and gives me food and ahelter.  And, of course, he is my macter because he has intelligence.

“Intelligence!”  interjected the Tiger King, edging closer.  “What’s that?  I have never herad of it before.  What does an intelligence look like?”

Shaking his head, the buffalo faced the tiger with hic horns.  “I don’t know.  I really don’t!  I have never seen it myself.  But I know he has it because people talk about it.  They say that that’s why he is so powerful and clever.  By the way, he will be back any moment now, and you could ask him about it yourself.”

The Tiger King’s curiosity was aflame.  For once he was not as cautions as he should be.  He decided to wait for the man’s return.

As soon as the farmer rounded the corner of the path, he came face to face with the tiger.  But having taught what to do in such a situation, the man knew better than to turn on his heels and run.

“Master!” the buffalo called to him, “Here is my friend, Tiger.  He asks to see your intelligence!  Won’t you please show it ti him?”

The Tiger King chimed in: “Show it to me, Farmer!  I want to see it, just for once. Is it true that it helps you to be clever and powerful? Why then haven’t I got it?”

Completely recoved now from the initial shock, the farmer threw his hands up:  “Well, well, good morning Mister Tiger, sir!  Why in heaven didn’t you come a bit earlier, before I went home to fetch my lunch?  I certainly would have brought my intelligence back to show you.  It’s too big and too heavy to carry around you know!  I always leave it at home.”

The tiger was thoroughly disappointed.  But his disappointment did not make him forget the the real reason he was there was to assault both buffalo and man.  Now that he was seeing them at close quarters, they didn’t look as big and dangerous as they had from afar.  “Perhaps I could try to take them on right here and now,” the Tiger King thought, and his tail began to quiver as it always did before an attack. … But quickly the farmer said to the tiger:   “Oh, all right, all right!  Don’t look so miserable, sir!  Since you came here all the way from the jungle, I don’t want you to go back without having seen it.  I’ll return in a moment.”  Thereupon the farmer turned on his heel and started home.  But before going to a dozen feet, he retraced his steps hurriedly and said to the tiger. “But look here!  To oblige you I’m willing to go all the way home to get my intelligence. But I don’t want to leave you alone here with my buffalo.  Who would help me plow my fields if you ate up my buffalo?”  The tiger protested vigorously that he had no intention of doing so, but the farmer was adamant and refuse to leave.

Suddenly the man slapped his thigh triumphantly.  “Well, if you want to see my intelligence so much, why don’t you let me tie you up to this tree here?  Then I wouldn’t worry about my buffalo.”

The Tiger King looked at the man, then at the buffalo, then back at the man, then back at his buffalo.  More than ever, they seemed so mild, so humble to him.  Now that his master was back, the buffalo was behaving in his usual docile, gentle way.  He was standing there with his head slightly bent down, his eyes thoughtful and sad.  “And the farmer!  That puny man!” thought the Tiger King.  “I have to see this fellow’s intelligence.  I will take it from him and then I will kill and eat them both.”  Having made up his mind, the Tiger King agreed to the farmer’s proposal.

Making the tiger stand upright against the trunk of a nearby tree, the man began to encircle the animal with yards of strong rope.  No sooner was the final knot tied than the farmer quickly unfastened the heavy plow from his buffalo, and with all his strength started to beat the captive tiger who roared in pain and fury.

Finally, maddened to the extraordinary strength, the Tiger King managed to get one of his hind feet against the tree and in one incredible push broke the strong binding rope.  But instead of turning upon his intended victims, he ran desperately for his life.

*

The tiger has never looked the same.  Having struggled so hard to free himself, he forced the rope to sear his fur, burning dark lines all over his body.

Because he knows now what man’s intelligence is, the tiger has become an even more treacherous and bitter enemy, an eternal “man-eater.”  Never again will he dare come down from his mountain lair in daylight to molest the domestic beasts or their masters.  His marred fur is always there to remind him of man’s cunning.

Nghĩ về mưa nắng trời xuân

Đọc tập hồi ký viết tay thấy cha tôi kể chuyện hồi những năm đầu thập niên 30 của thế kỉ trước song thân tôi “lưu lạc” vào Nam Kỳ. Sáu bảy năm trời xa quê, nhìn “thiên hạ” đón xuân ông cảm khái ngâm rằng:

Xuân mãn nam thiên phong thủy cựu
Nhơn tồn khách địa tuế thời tân


Hồi đó Tây chia nước ta thành ba kỳ, ba chế độ cai trị khác nhau. Dân Trung Kỳ vào Nam Kỳ coi đây là đất khách. Xuân về tết đến… đem lại thời gian mới nhưng người vẫn còn nơi đất khách nhớ về quê cũ. (Tương tự, Nguyễn Bính từ Bắc Kỳ vào đến Huế đã làm thơ rằng Chén rượu ly hương, trời, đắng lắm, rồi trong Hành phương nam cũng từng cảm khái với Đêm mưa đất khách). Thế nhưng, nghiệm trong câu trước thì dẫu phương nam hiện tại (lúc ấy) có là đất khách, cha tôi vẫn hiểu mình đang sống dưới trời nam, không riêng cho một kỳ nào. Khắp cả trời nam mọi người cùng đón xuân với phong tục tập quán tự ngàn xưa. Vậy là cha tôi không cô đơn nơi khách địa, ông đã bắt gặp cả phong thủy cựu bàng bạc khắp nơi giữa buổi tuế thời tân, bởi vì xuân mãn nam thiên, bởi vì mùa xuân không bao giờ lỗi hẹn.

Rồi khi tôi vừa chào đời song thân tôi trở về quê cũ. Tôi đã sống những ngày thơ ấu trong không khí vùng cao nguyên mùa dông lạnh buốt gió bấc mưa dầm. Dần dần mưa tạnh, run run chút nắng mong manh, lớp đất đóng rong trên mặt sân bóc lên những miếng bằng miệng chén, vỡ ra giòn vụn dưới bàn chân cho tôi sự thích thú nhẹ nhàng. Vài ba buổi chiều rồi năm bảy buổi chiều. Cái nắng như người bệnh yếu ớt ẻo lả ấy dần dần bình phục, mỗi hôm đậm thêm một chút, dần dần không biết tự lúc nào vẻ chói chang rực rỡ hiện rõ, trong màu sắc còn có hương thơm và hình như có cả vị ngọt. Chúng tôi ngớ ra y như con thú rừng ngẩng đầu vươn cao tầm nhìn để đánh hơi trong gió và thấy được: tết sắp tới rồi. Tuổi nhỏ chúng tôi chỉ biết có tết, sau này lớn lên, hồi tưởng mới nói: mùa xuân đang đến.

Tháng chạp hết mưa, buổi sáng đầy sương là báo hiệu buổi trưa nắng tốt mà giữa khuya càng thấm lạnh. Đến cuối tháng chạp thì nắng đẹp lắm, màu vàng tươi rói. Thế mà sang tháng giêng thì cái nắng ấy biến đâu mất. Nắng tháng giêng đã nghiêng sang màu hồng, hơi nặng, không vàng, không nhẹ như nắng tháng chạp. Và tháng giêng trời lại chuyển mùa, hay có những cơn mưa: mưa xuân.

Có thể nói thời tiết từ đông sang xuân thật rắc rối:

Cơ mầu tạo hóa bốn mùa vần
Đông: cuối ba mươi – mồng một: xuân
(Thơ Hồng Đức quốc âm)

Nhiều lần chiều hăm chín chiều ba mươi vẫn là nắng vàng tháng chạp, nhưng giữa khuya hoặc mờ sáng rắc xuống cơn mưa. Đôi lúc là cơn mưa khá lớn, nhưng mưa không lâu. Thông thường mưa nhỏ lay bay, mưa phùn lất phất. Đọc thơ Trung Hoa thấy ông thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên nhàn nhã đến mức ngày xuân mà ngủ quên không biết trời trăng mây nước gì, đến khi nghe tiếng chim kêu rộn ràng thức dậy tự hỏi: Đêm qua trời mưa gió hoa rụng ít nhiều?

Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu?
(Xuân Hiểu)


Khi chúng tôi trưởng thành mà chưa phải nhận trách nhiệm gia đình thì ngày tết cũng thật thoải mái, tưởng như đất trời trong gang tấc để vẽ vời cái gọi là giấc mộng sông hồ. Tết là dịp để rộng bước giao lưu, đi chơi đây đó. Thanh niên Miền Trung năm mươi năm trước phần đông hiền khô như cục đất, bước đầu tập uống la-ve, đọc cổ văn cố bắt chước theo cái buồn của người xưa nhưng chẳng thấy đâu mối sầu vạn cổ mà càng có điều vui để nói với nhau, nhìn bạn gái qua lăng kính Tự lực văn đoàn, thấy người nào cũng đẹp, cũng thánh thiện. Mưa xuân làm đôi má bạn trắng hơn, nắng xuân làm má bạn hồng hơn. Tết được đồng hóa với mùa xuân và mùa xuân đồng hóa với tuổi xuân, cho nên khi tết không chịu nán lâu hơn thời ta còn niên thiếu, Kiều Thệ Thủy viết:

Ai đem tâm sự mà thương nhớ
Cồn tóc mây xa ở cuối trời
Bạn cũ sông hồ năm bảy đứa
Biết còn trinh bạch những đôi môi?

Đời tôi trải nhiều buổi nguyên đán nắng hồng hơn những buổi nguyên đán mưa nhạt. Nhưng những buổi nguyên đán mưa nhạt còn đọng lại trong ký ức lâu hơn. Năm ấy tôi về ăn tết tại nhà bà cô ở làng Bình Chánh trong vùng châu thổ sông Cái Tuy An, sáng mồng một theo ông dượng lên chùa Đá Trắng. Đá Trắng là tên nôm, tên chính thức của chùa là A Lan Nhã sắc tứ Từ Quang tự. Trời mưa bụi lay bay, thoáng nhìn ta không biết ướt, nhưng vuốt tay lên đâu thì thấy nước ở đó. Tâm hồn tôi như lâng lâng khi dạo trong vườn tháp rêu phong, cứ nghĩ hoài đây là nơi gắn bó với những việc quan trọng của gia tộc. Trong cuộc khởi nghĩa Cần vương tại Phú Yên năm 1885 do Lê Thành Phương lãnh đạo, ông nội tôi lúc ấy hăm sáu tuổi là Quân thứ từ hàn, lo về văn thư bút lục, thường lãnh nhiệm vụ ra chùa Đá Trắng làm một khách vãn cảnh để gặp gỡ liên hệ với các bạn đồng tâm trong văn thân tỉnh Bình Định. Một buổi trưa nắng gắt tại dốc Đá Trắng ông đã gặp người phụ nữ gánh nước độ đường. Người phụ nữ ấy sau là bà nội tôi. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông nội tôi đưa bà lên Vân Hòa trú ẩn, về già lui xuống Phong Thái, căn dặn con cháu khi ông lâm chung chôn sâu trong hang đá. Cha tôi thì an táng ở Tuy Hòa. Thành ra cả họ Trần nhà chúng tôi chỉ có hai người dâu là bà nội tôi và mẹ tôi ngàn năm yên nghỉ tại Vân Hòa. Bởi lẽ ấy tôi dành trọn tình cảm sâu nặng cho làng quê.

Có một nguyên đán từ huyện lị tôi khăn gói lên đường làm chuyến đi xa. Đi xa là nói theo chữ nghĩa cho vui và nói theo giao thông cách trở thời tôi hai mươi tuổi chứ ba bốn trăm cây số thì giờ đây có xa gì. Từ quán trọ nhìn ra con đường vừa tu bổ, những hàng dương mới trồng xanh nhạt dưới màn mưa nhỏ. Chưa biết nhiệm sở sắp đến thế nào, bằng hữu sẽ gặp ra sao, tưởng tượng cũng có phần thích thú nhưng không khỏi phảng phất bâng khuâng xa cách cố nhân, sẽ không còn những lần lang thang từ phố huyện ra nhịp cầu xưa đến chân đồi Lá đôi mắt bạn nhìn xa xôi tận điểm cuối cùng.

Tôi mạn phép sửa một chữ trong thơ Vương Duy:

Huyện thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân

Và thoát dịch theo ý mình: Mưa mai rắc bụi huyện thành. Hàng dương quán trọ xanh xanh nhạt nhòa.

Tháng giêng bao gồm hai tiết lập xuân và vũ thủy. Từ lập xuân đến vũ thủy mưa xuân chỉ rơi rắc như bụi nhẹ. Mưa vũ thủy mới đáng mặt là mưa, mưa cho cây cối núi rừng, hoa đồng cỏ nội, ruộng đồng đất thổ, cho lúa bắp sắn khoai, mưa thật lớn, ào ào tuôn đổ, ép dẽ mái tranh, băng bờ tạo trổ, thật tươi trẻ, mạnh mẽ, dứt khoát từng cơn rồi tạnh ráo, tầng cao trở lại trong xanh, nõn nà mây trắng, mưa không dai dẳng lê thê, trời không âm u trì trệ. Nếu coi những cơn mưa bụi buổi nguyên đán khai xuân là mưa sơ sinh, mưa thơ ấu, thì mưa trong tiết vũ thủy là mưa tuổi hai mươi, bước vào giai đoạn trưởng thành, tràn trề mộng ước. Tiết vũ thủy năm ấy cha tôi làm thơ nôm vịnh cảnh ruộng đồng, có những câu:

Lúa nứt ngạnh trê thêm bộn gié
Đỗ ra trái đỉa lại nhiều hoa
Con chàng bắp nọ không lo háp
Mấy đám khoai kia chẳng sợ hà…


Thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên mới ngày nào đó nhàn hạ vô tư, sau giấc ngủ mùa xuân trễ tràng nghe tiếng chim kêu nghĩ chuyện hoa rụng ít nhiều thì tới lúc nào đó cuối năm trở về Nam Sơn không khỏi chạnh lòng thấy tóc bạc giục tuổi, mỗi năm một già, ngày xuân đưa năm cũ trôi đi hết:

Bạch phát thôi niên lão
Thanh dương bức tuế trừ…

Câu thơ ấy đang ứng với thế hệ chúng tôi. Có thể nhìn xuôi chiều thời gian từ ấu thời đến lão niên, cũng có thể nhìn ngược lại để điểm dừng ở tuổi ấu thời. Ba bữa tết, bảy ngày xuân, nắng mưa, mưa nắng… trong mỗi đời người đâu phải ít lần trải qua, cứ đến chu kỳ quay lại đúng hẹn, luôn luôn bao trùm lên tất cả, sông núi cỏ cây hoa lá và quan trọng hơn hết là trong lòng người. Cũng con đường ấy sáng mồng một mới hơn chiều ba mươi, cũng con người ấy hôm nay chỉnh tề mực thước hơn hôm qua. Cái mới của mùa xuân khiến cho mỗi tâm hồn trẻ trung vì biết phân định quá khứ đồng thời dự phóng tương lai.

Cho nên khi một cành mai phương nam, một cành đào đất bắc hay một khóm hoa núi, một tiếng chim rừng chợt báo tin xuân, con người ở chặng nào của cuộc đời đều sẵn sàng dọn lòng chuẩn bị hoan nghênh. Dù vui hay buồn, mưa hay nắng, ai ai cũng trải mở phong thủy cựu để đón tiếp tuế thời tân.

Trần Huiền Ân

Chỉ vì…

Thuyên Lam ngồi thừ trước thau quần áo đầy ngộn. Không khí ngột ngạt, oi bức khiến cô cảm thấy khó thở và mệt mỏi. Lam ngước lên hít vài hơi thở sâu rồi lại cúi xuống với công việc của mình. Tiếng con Bi Sắc sủa vang làm cô giật mình. Chống tay vào đầu gối lấy đà, Lam đứng dậy đi ra mở cửa. Cánh cửa vừa bật ra, Vi Hạ như một cơn gió ùa ào nhà, cùng lúc cái loa thường nhật của cô họat động tích cực :

_ Thuyên Lam, đóan thử xem, tao mua cho mày cái gì đây ? Có cả quà cho tụi nhỏ nữa nè, à mà tụi nó đâu hết rồi ?

Lam vừa cười vừa lắc đầu :

_ Mày thiệt. cái tánh chắc đến chết vẫn còn nguyên, mở miệng là ào ào, không kịp trả lời mày cho dủ nữa đó.

Vi Hạ cười :

_ Thì cái bản tính của tao là vậy rồi, khó bỏ lắm mày ơi ! Mày không nghe người ta nói “ Người chết cái nết vẫn còn “ à ? Mày đang làm gì đó ? Làm gì thì cũng bỏ đó đã, ngồi chơi với tao, có đến hai năm rồi tụi mình mới gặp lại nhau, phải không Lam ?

Lam kéo ghế ngồi xuống đối diện với Vi Hạ.Với tay lấy bình nước trà cô rót mời bạn. Vẫn Vi Hạ với một trường âm sắc của mình :

_ Sao ? Tụi nhóc vẫn khỏe hả ? Tố Nga có thi đậu đại hoc không ?

Thuyên Lam thóang buồn khẽ nói :

_ Cháu nó nghỉ học rồi.
_ Cái gì ? Cháu nó học giỏi lắm mà, sao dể nó nghỉ học, uổng vậy ?

Lam nhìn bạn không giấu vẻ u uẩn :

_ Tao không đủ khả năng cho nó học tiếp, mày thấy đó, nó còn bốn đứa em vẫn còn di học cả, tao chạy ăn cho chúng còn vất vả, làm sao lo đủ chi phí các khỏan. Con bé có hiếu lắm, nó thấy tao cực quá nên đòi nghỉ học ở nhà phụ má.

Vi Hạ thở dài đánh sượt :

_ Hồi đó tao nói mà không nghe, đẻ cho cố vào.

Thuyên Lam khổ sở :

_ Mày đừng trách tao chứ Hạ. Tao có muốn đâu, tại ổng cứ muốn tao sanh cho được một thằng con trai, thế mà tòan thị mẹt.
_ Lão muốn thì bảo lão đẻ. Sao ông trời không đày các lão làm đàn bà thử xem, có còn lên giọng được không ? Chỉ biết cho thỏa cái lòng mình, vợ khổ mặc vợ, đàn ông thật là quá ích kỷ.
_ Mày chưa phải làm vợ, mày nói cứng được, chứ vào lồng rồi không nói cứng được thế đâu, không thuận tình thí sớm tan cửa nát nhà thôi

Vi Hạ bỗng nhìn Lam chăm chú rồi gặng hỏi :

_ Nói vậy có nghĩa là mày đang hạnh phúc ?

Thuyên Lam chợt bối rối, cô vội quay đi, giọng lấp liếm :

_ Ừ thì tao vẫn hạnh phúc đấy thôi.
_ Đừng giấu tao Lam à, mày nên nhớ cái nghề của tao là giỏi bắt mạch tâm lý lắm đó nha.
_ Ưm…ừ thì cuộc sống mà, có ai được cái gì là tòan vẹn đâu, cũng phải có lúc này lúc khác chứ. Mà thôi, mày đừng có tra gạn tao nữa, ở lại ăn cơm luôn nhé ?
_ Thôi thôi, tao ăn rồi. Suy cho cùng chỉ sống độc thân như tao là khỏe, chẳng phải chiều lụy ai, chẳng phải lo nghĩ gì, muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm, không ai điều hành được mình hết.
_ Bây giờ còn trẻ thì thế, chứ mai mốt về già, không có con cái nó chăm sóc lúc đau lúc ốm, khi đó mới biết khổ đó nương à.

Vi Hạ xua tay , bật mấy câu thơ ứng khẩu :

    Chồng là nợ con là nần
    Rước vạ về làm khổ cái thân
    Quẩn quanh cứ hết cơm lại áo
    Xó bếp vùi lâu cũng thành đần

Đọc xong Vi Hạ nói :

_ Mỗi người có môt quan niệm riêng về cuộc sống, Chưa chắc mày đúng, không hẳn tao sai, quan trọng là có tìm được cho mình sự dễ chịu ha không. Con cái ư ? có thì cũng tốt, nhưng thử hỏi, khổ sở mấy chục năm ròng, mong nhờ chúng vài năm về già chắc đã được. Mà cũng chẳng có ai trên đời này sinh con để mong chuyện nhờ con cả. Nuôi chúng lớn khôn, chúng tự lo đựoc cho bản thân chúng đã là phước đức lắm rồi. Chuyện tạo hoá thì cứ đời nọ tiếp đời kia vậy thôi. Còn tao, tao tính rồi, thời đại bây giờ ngày càng dịch vụ hoá, cứ vào khoảng sáu mươi tuổi, đóng một cục vào một Trại dưỡng lão hay một dịch vụ y tế nào đó, khoẻ thì đi chơi, ốm về đấy nằm họ có nhiệm vụ phải chăm sóc, lại là chăm sóc tốt nữa, rồi làm luôn một cái giấy hiến xác, khi đến lúc có người đến dọn. Thế là khoẻ, chẳng phải cậy nhờ, phiền hà ai.
– Nếu thế được thì quá tốt, chắc tao cũng làm vậy cho khoẻ thân.
– Giờ mày gông trên xiềng dưới vầy rồi, làm sao được mà làm.

Thôi, mỗi người mỗi cảnh mỗi suy nghĩ. Có điều, làm gì thì làm, mày cũng phải chú ý đến sức khỏe một chút. Dạo này mày ốm đi nhiều đấy, lão Nhất Tiêu không bồi bổ gì cho vợ sao ?

Thuyên Lam né tránh đôi mắt bạn :

_ Tao vẫn khỏe re việc gì phải bồi bổ.
_ Ủa mà lão đâu ? Buổi trưa không về nhà ăn cơm à ?
_ Chắc hôm nay có cuộc nào đó vói anh em, chứ mọi ngày vẫn về nhà ăn cơm mà.
_ Mày mà không chỉnh đốn lại tòan diện coi chừng mất chồng đó nha. Đàn ông vốn mắt to hơn lòng mà, Nhất Tiêu lại đang rất phong độ nữa Thôi, ghé thăm mày một chút, giờ tao di đây, hôm nào rảnh rỗi rủ mày đi sắm ít đồ nhé.

Vi Hạ nói xong thì vội vã đứng dậy, cô không để ý thấy mặt bạn vừa tái đi. Lam tiễn bạn ra cửa, nhìn theo dáng đi nhanh nhẹn của bạn mà thở dài “ Ngày xưa mình vẫn tự hào là hơn nó, bây giờ thì…”

Gửi xe xong, khóac cái túi thổ cẩm lên vai, Vi Hạ thong dong bước vào khu chợ. Dãy hàng quần áo ngày chủ nhật đông tấp nập, sắp đến Giáng sinh rồi mà. Vi Hạ muốn mua cho mẹ con Thuyên Lam ít bộ đồ mới, tội nghiệp những dứa trẻ, quần áo cứ chuyền từ đứa này đến đứa khác. Tiêu chuẩn hàng năm mỗi đứa chỉ có hai bộ đồ mới mà Lam còn không dám mua lọai vải tốt, ngay cả bản thân Lam cũng chỉ quanh quẩn vài cái somi đã bạc, Hạ thấy thương cho bạn quá. Ngày xưa Lam là một khối nam châm của các chàng, một trong những hoa khôi của trường Tổng hợp, Hạ cũng đã ngầm ghen tị, thế mà giờ…Đã vốn ngại chuyện hôn nhân, thấy cuộc sống của Lam, Hạ càng sợ. Len trong dòng người một lúc, Vi Hạ chọn được một số vừa ý, đang đứng chờ người bán hàng gói lại, chợt Hạ nghe mọt giọng nói quen quen :

_ Em thích cái áo này không ? Anh thấy có vẻ hợp với em đó.
_ Nhưng màu này trông già quá anh ạ .

Nhìn về phía phát ra tiếng nói ấy, Vi Hạ sửng sốt :

_ Anh Nhất Tiêu …

Cặp mắt cô mở to hơn khi thấy người phụ nữ đi cùng Nhất Tiêu không phải là Thuyên Lam. Nhất Tiêu giật nảy người khi nhìn thấy Vi Hạ, mặt anh ta tái đi, lắp bắp :

_ Ủa…Vi Hạ đi chợ hả ?

Hạ không trả lời mà nhìn chằm chằm vào mặt Nhất Tiêu, làm anh ta càng lộ rõ vẻ luống cuống bất an. Nhìn thấy gói hàng mà người bán đang trao vào tay Vi Hạ, Nhất Tiêu hỏi cho có chuyện :

_ Hạ mua đồ cho ai mà nhiều thế ?

Đã hiểu ra vấn đề nên Hạ xẵng giọng :

_ Tôi mua để tặng vợ con anh đấy, tội nghiệp những đứa bé, chúng không có diễm phúc được chăm sóc.

Biết tính Vi Hạ, Nhất Tiêu cố nén :

_ Cảm ơn cô, thôi tôi đi trước nhé .
_ Khoan, anh chưa được đi, khi chưa giới thiệu cho tôi biết người bạn mới của anh là ai, để tôi được hân hạnh làm quen chứ ?

Cô gái đi cùng Nhất Tiêu có ý ngượng, vội kéo tay anh ta :

_ Thôi, mình về đi anh, em mệt lắm rồi.

Sẵn bản tánh cương trực, thẳng thắn, lại tức thay cho Thuyên Lam, Vi Hạ đâu dễ dàng dể hai người đi một cách êm thấm như vậy được, cô đứng sấn đến trước mặt cả hai, giọng giận dữ :

_ Nhất Tiêu. Anh là một thằng đàn ông khốn nạn. Ngày xưa anh khó khăn lắm mới lấy được Thuyên Lam, bây giờ hoa héo nhụy tàn, anh đi tìm cái mới. Anh còn có lương tâm trách nhiệm của một thằng đàn ông không ? Còn cô nữa, hẳn cô cũng biết rõ anh ta đã có vợ, vậy sao cô còn ngang nhiên xông vào phá hạnh phúc gia đình người khác, không lẽ cô không tìm nổi một người đàn ông cho riêng mình sao ?

Nhất Tiêu thẹn quá hóa giận, anh ta to tiếng :

_ Cô im đi, cô không có quyền chen vào chuyện của tôi. Nể cô là bạn vợ tôi, tôi bỏ qua đó, nếu cô còn nhiều chuyện thì đừng trách..
_ Thì anh làm gì tôi chứ ? Cũng chính vì tôi là bạn vợ anh nên tôi mới phải tốn hơi nhọc sức, nếu không, có các vàng tôi cũng không thèm xía vào chuyện tồi tệ thế này đâu. Anh đừng tưởng anh ngon lành mà hăm dọa tôi. Cái lọai đàn ông như anh khác gì lòai ong, khi còn mật thì rúc đầu vào hút, khi hết mật rồi thì quay ra đốt, anh…

Biết không lại nổi cái miệng Vi Hạ, lại thêm xung quanh những người hiếu kỳ đang đông dần. Nhất Tiêu kéo vội cô gái đi, không nói lời nào nữa. Vi Hạ cũng quày qủa đi ra chỗ gửi xe.

Thuyên Lam nước mắt giàn giụa, đôi vai rung lên từng hồi. Vi Hạ vẫn chưa nguôi cơn giận :

_ Không việc gì mà Lam phải khóc vì hắn, cho hắn một trận để hắn biết thế nào là lễ độ, đừng có hiền quá mà để người ta ăn hiếp.

Lam nghẹn ngào qua dòng lệ :

_ Vô ích thôi Hạ à, để làm gì cơ chứ, mình không đáp ứng được điều anh ta mong muốn thì đành chịu thôi…
_ Anh ta mong muốn điều gì ?
_ Một đứa con trai…Thuyên Lam lại khóc nấc lên.

Vi Hạ la lên :

_ Hắn đang ở thời đại nào đây chứ ? Đến giờ phút này mà vẫn còn ra giọng trọng nam khinh nữ à ? Như vậy, hắn không hề xem vợ là một người bạn đời, một người đồng cam cộng khổ vói hắn, mà chỉ là một cái máy đẻ, một thứ dụng cụ để thực thi ý muốn của hắn, một khi không đạt dược ý muốn thì có quyền thẳng tay vứt bỏ sao ? Không được, phải yêu cầu pháp luật can thiệp, không thể để cho những lọai dàn ông đó lộng hành, muốn chà đạp, dày xéo ai cũng được.

Thuyên Lam vội níu ta Hạ nài nỉ :

_ Vi Hạ à ! Tao biết mày vì tao mà tức giận, nhưng tao xin mày đừng làm gì hết, đừng Hạ à…

Hạ trố mắt nhìn Lam :

_ Mày chấp nhận chuyện đó dễ dàng vậy sao ?
_ Tao tin có một ngày anh ấy sẽ trở về. Mày hiểu cho tao, những đứa con tao cần có cha , cho dù chúng nó là con gái nhưng cũng là con của anh ấy , anh ấy sẽ quay về mà …

Nhìn vẻ mặt đau khổ tội nghiệp của bạn, Vi Hạ thừ người ra, ngồi phịch xuống cái ghế gần đó. Cô chợt hiểu chuyện gia đình thật quan trọng với một người phụ nữ, và vì sao người đàn bà lại có thể dễ dàng tha thứ cho chồng, dù họ có phải chịu đựng nhièu thiệt thòi và đau khổ đến đâu. Và Hạ biết, không thể đem tâm trạng và hòan cảnh của mình ra ứng dụng vào người khác được. Cơn giân đã trôi đi, còn lại trong Vi Hạ lúc này là tâm trạng thương cảm và nể phục người bạn gái yếu đuối của mình. Ôm lấy bờ vai gầy guộc của bạn, Hạ buồn buồn nói :

_ Lam đã nói vậy thì thôi, Hạ không ý kiến gì nữa, Lam hãy cố gắng chờ đợi điều Lam muốn, chỉ hy vọng anh ta còn sót lại một chút lương tâm.

Thuyên Lam gạt nước mắt gật đầu :

_ Lam sẽ cố gắng, tin rắng sẽ có ngày anh ấy hiểu ra. Chỉ vì anh ấy là con trai một…

Nhìn Thuyên Lam, Vi Hạ thấy cám cảnh cho cái thân phận đàn bà, không biết đến bao giờ xã hội mới thay đổi được cái định kiến ấy.

Thiên Kiều vừa bước vào nhà liền quẳng cái ví rồi lăn ra giường khóc ngất, Nhất Tiêu cuống quýt dỗ dành :

_ Thiên Kiều, anh xin lỗi, anh xin lỗi mà, tại anh…

Thiên Kiều vùng tay Nhất Tiêu ra hét lên :

_ Anh đi đi, đi ngay đi …tôi nhục nhã quá rồi…
_ Đừng vậy mà em, anh yêu em thật lòng mà, anh chỉ có em thôi, em đừng xua đuổi anh tội nghiệp, nín đi em, nín đi mà…

Thấy dỗ bằng miệng không ăn thua, Nhất Tiêu ôm chòang qua người Thiên Kiều, và mặc cho Kiều vùng vẫy cào cấu đến xước mặt. Nhất Tiêu vẫn cố gắng chiu đựng, lát sau đuối sức, Kiều dừng lại thở hổn hển, Nhất Tiêu hôn nhẹ vào môi cô thì thầm :

_ Thiên Kiều, anh yêu em, anh yêu em sốt đời…

Lòng tự ái của đàn bà được ve vuốt, Thiên Kiêu nằm im, hơn nữa cô vừa nghe cái bào thai trong bụng mình quẫy nhẹ. Thấy Kiều đã chịu yên, Nhất Tiêu mừng rơn, quên cả cái đau bị cào, anh ta âu yếm hỏi :

_ Cưng của anh, hết giận anh rồi phải không ?

Kiều còn giả nư quay mặt đi không nói. Nhất Tiêu tìm môi cô và lần tay vào trong áo cô, buộc cô phải mở mắt ra. Nhìn thấy những vết xước trên mắt Nhất Tiêu, Kiều hốt hỏang:

_ Trời … Anh có đau không ?
_ Không, không đau, chỉ cần em không giận, không đuổi anh là được rồi.

Thiên Kiều lườm dài một cái :

_ Ông thì khéo miệng lắm. Nhưng mà em không chịu nhục như vậy một lần nữa đâu nha, anh làm sao thì làm đó.
_ Yên tâm đi, sẽ không có chuyện đó lần thứ hai đâu.

Kiều chợt lo lắng :

_ Nhưng mà vợ anh…
_ Cô ta không dám động đên một cái lông chân em đâu, anh không ly dị là may lắm rồi, biết điều còn tốt, chứ làm ẩu thì…
_ Sao nghe nói ngày xưa khó khăn lắm anh mới lấy được chị ấy.
_ Chuyện ngày xưa thì nghĩa lý gì chứ. Có thế nào đi nữa mà không sinh cho anh được thằng con trai thì cũng vứt đi.
_ À, vậy ra chỉ vì thằng con trai mà anh mới đến với em, nếu em cũng sinh con gái thì sao ?
_ Bậy nào, em khác chứ. Em trẻ trung đáng yêu, lại có trình độ, học thức, chứ đâu có nhếch nhác như cô ta. Nưng anh chắc chắn em sẽ sinh con trai mà. Đừng lo.
_ Người ta đã phải sinh nở và lo toan cho năm đứa con, thì làm sao bì với em được. Em mà thế thì cũng có khác gì đâu.
_ Thôi không nói chuyện đó nữa, mệt óc. Giờ tới chuyện mình nè ..
_ Á …anh từ từ thôi…

Nhất Tiêu tái mặt khi nghe trưởng phòng hành chính kêu lên kiểm tra ngân quỹ. Một lỗ hổng khá lớn đủ để Nhất Tiêu đếm lịch vài năm. Lổ hổng đó lâu nay biến dần thành những thứ vật dụng đắt tiền trong nhà Thiên Kiều Mồ hôi nhỏ giọt Khi Nhất Tiêu đến gần cánh cửa trưởng phòng, đôi chân như muốn trì lại. Trong ba mươi sáu chước chỉ có một chước hay. Anh ta bỗng quay người bỏ chạy thật nhanh. Tông cửa đánh rầm, Nhất Tiêu lao vào nhà gọi váng :

_ Thiên Kiều…Thiên Kiều…nguy rồi…

Chợt Nhất Tiêu đứng sững nơi phòng ngủ, Thiên Kiều đang nhìn anh ta bằng đôi mắt đờ đẫn, trong tay cô là một tờ giấy. Không có thời gian đẻ hỏi, Nhất Tiêu giật mảnh giấy đưa lên mắt. Đó là tờ giấy siêu âm, hai chữ “Con gái” đập vào đầu anh ta như một nhát búa tạ. Nhất Tiêu từ từ khụy xuống, hai tay ôm đầu bất động …

Thiên Kiều chưa kịp định thần thì ngòai cửa có tiếng bước chân nhiều người, tòan thân cô như tê liệt khi những người mặc cảnh phục đọc lệnh bắt và xốc Nhất Tiêu lên lôi đi.

_ Nguyễn Vũ Thuyên Lam.

Nghe đến tên, Thuyên Lam vội bảo các con :

_ Đến phiên mẹ con mình vào thăm ba rồi kìa.

Nhất Tiêu bàng hòang khi nhìn thấy vợ và năm đứa con gái tay xách nách mang vào thăm nuôi. Cổ họng anh ta nghẹn cứng lại, cố gắng lắm anh ta mới có thể giữ được bình tĩnh, nhưng vẫn không thể mở miệng nói được lời nào. Thuyên Lam nhỏ nhẹ :

_ Anh đừng lo lắng nhiều, yên tâm cải tạo tốt , thời gian sẽ qua mau thôi.

Nhất Tiêu cúi đầu, những giọt nước mắt đàn ông rơi xuống. Lam lại nói :

_ Em và các con luôn chờ anh trở về.

Tố Nga , cô con gái lớn gọi anh :

_ Ba ơi ! Tui con nhớ ba lắm, ba mau về với tụi con nha ba.

Ngước mắt nhìn những đứa con vô tội, Nhất Tiêu nghẹn ngào :

_ Ba xin lỗi các con…chỉ vì…

Đàm Lan