Category Archives: Văn Hóa

Cuồng nhiệt cùng Ozomatli

Chào các bạn,

Anh Trần Bá Thiện vừa gửi link đến bài phóng sự anh viết trên Tuổi Trẻ về sinh hoạt của ban nhạc latin rock Azomatli của Los Angeles, Mỹ, hiện đang thăm viếng Việt Nam với tư cách đại sứ văn hóa. Chúng ta post lại bài đó ở đây, vì nó có nhiều hình ảnh rất đẹp, rất vui.

Cám ơn anh Thiện nhiều nhé.
.

TTO – Hơn 2.000 khán giả có mặt tại Trung tâm ca nhạc Lan Anh (TP.HCM) tối 13-5 đã có một đêm nhạc tưng bừng cùng ban nhạc từng ba lần đoạt giải Grammy Ozomatli. 1 giờ 15 phút với hơn 10 bài hát đa thể loại, từ rap, hip hop đến rock alternative… Ozomatli đã cống hiến cho khán giả những giây phút cuồng nhiệt với âm nhạc.

Xem video clip ban nhạc Ozomatli

Đêm nhạc còn có sự góp mặt của nghệ sĩ nhạc dân tộc Hồ Nga.

Chiều nay (14-5), tại Nhà văn hóa Thanh niên (TP.HCM), Ozomatli có buổi biểu diễn đặc biệt dành cho trẻ bụi đời, trẻ em khuyết tật, tàn tật và người có HIV.

Một số hình ảnh của đêm diễn:

GIA TIẾN

Tưng bừng với các bạn trẻ khiếm thị Thiên Ân

Sáng 13-5-2009, hội trường Mái ấm khiếm thị Thiên Ân, Tân Bình, TP.HCM rộn rã với âm nhạc Latin chân phương trần trụi, mộc mạc nhưng đầy quyến rũ. Không cần hệ thống xử lý âm thanh hiện đại, không cần hào quang của các giải Grammy, những đại sứ văn hóa trong nhóm Ozomatli tiến lên sân khấu và tự giới thiệu mình bằng ngôn ngữ âm nhạc.

Ozomatli – Ảnh: Xuân Huy

Sau vài ca khúc nhộn nhịp của Ozomatli, Y Byoc (đọc là Bờ dóc) một bạn khiếm thị người dân tộc Tây nguyên đã đáp lễ bằng những ca khúc mang âm hưởng núi rừng như “Em muốn sống bên anh trọn đời”.

Y Byoc (đọc là Bờ dóc) – Ảnh: Xuân Huy

Chủ và khách hết sức phấn khích bởi âm nhạc của nhau. Hơn 40 cử tọa trong hội trường chợt gào lên tán thưởng khi tiếng kèn Saxophone của Ozomatli tấu giai điệu bài… “Cả nhà thương nhau”. Mọi người cuồng nhiệt ca vang bài hát này cùng với tiếng nhạc đệm của Ozomatli. Chủ và khách hòa quyện vào nhau. Hai nền văn hóa hòa vào nhau. Chất liệu âm nhạc Việt được làm mới trong phần nền bổ túc của âm nhạc Latin rock.

Kết thúc phần nói với nhau bằng ngôn ngữ âm nhạc, các thành viên Ozomatli và các bạn khiếm thị Thiên Ân rôm rả chuyện trò. Những câu tiếng Anh bập bẹ và những khuôn mặt hân hoan ấm áp tình thân trao cho nhau…

Giao lưu với học sinh – Ảnh Xuân Huy

TRẦN BÁ THIỆN

Réo rắt tiếng sáo Shakuhachi

Shakuhachi
Shakuhachi

Shakuhachi có nghĩa là 1.8 foot = 30.3 cm. Đây là một nhạc cụ truyền thống tiêu biểu làm bằng tre ở Nhật, gọi là sáo tre Shakuhachi. Du nhập vào Nhật từ Trung quốc khoảng cuối thế kỷ thứ 7, sáo tre Shakuhachi phát triển ở Nhật như một nhạc cụ độc đáo, gợi lên một âm hưởng sâu lắng trong tâm hồn. 

Sáo này làm từ giống tre Madake, có 4 lỗ ở phía trước và 1 lỗ ở phía sau. Vì vậy đôi khi người phương Tây cũng gọi nó là “sáo tre 5 lỗ”. Năm lỗ này đủ để tạo ra các nốt trong mọi âm vực. Trên thực tế, số lượng lỗ thổi nhỏ đã khiến âm thanh của sáo Shakuhachi trở nên réo rắt, đôi lúc khá chói tai. Tuy rất đơn giản, nhưng sáo tre Shakuhachi đòi hỏi người chơi không chỉ tập trung cao độ ở chiếc môi, mà phải rất thành thạo trong việc kiểm soát hơi thổi (phải thổi trong 117 nhịp thở). Sáo Shakuhachi được coi như là một công cụ tinh thần độc quyền của môn phái Zen sáo tre. Ðây là nhạc cụ truyền thống của Nhật Bản được các thiền sư Komusou (“nhà sư hư vô” ) ngày xưa hay thổi các bản nhạc thiền khi đi hành thiền. 

Tre Madake
Tre Madake

Theo truyền thuyết, Kyochiku – một thầy tế lễ – người sáng lập môn phái thiền Myoan đã mê đi trong khi thực hành thổi sáo trong ngôi đền ở Ise. Ông mơ thấy mình đơn độc trên một chiếc thuyền giữa biển đầy mù sương và nghe một âm thanh lạ từ trên trời. Khi sương tan dần, ông lại nghe một âm thanh kỳ diệu khác. Tỉnh dậy, ông lập tức thể hiện những âm thanh bí ẩn đó vào các dụng cụ bằng tre, và tạo ra ba khúc nhạc: “Koku” (Empty sky), “Kyorei” (Empty bell), và “Mukaiji” (misty sea). Ðó là “Ba tấu khúc xưa” rất đặc trưng và mẫu mực cho nhạc thiền “Koku” – một điệu nhạc thanh thản và trầm lặng, được chơi với sáo Shakuhachi. Dòng nhạc này coi như thể hiện được quan niệm Hư Vô của Phật giáo.

Nhà sư Komusou
Nhà sư Komusou

Phong cách chơi sáo chủ yếu theo truyền thống của đền Myoan ở Kyoto. Âm thanh chính của nó là “tiếng thì thào của gió qua động tre” dùng để thư giãn và thiền. Sáo tre Shakuhachi là một nhạc cụ được sáng tạo một cách bất ngờ, đơn giản, nhưng trong tay các bậc thầy có thể trình tấu một loạt các âm thanh từ đơn giản đến phức tạp và truyền cảm như tiếng nói của con người, dựa trên trực quan và tinh thần của người biểu diễn. Diễn đạt âm thanh là để đạt cao trình độ phát triển của tinh thần.

 

Dưới đây là video clip một nhà sư Komusou đang thổi sáo Shakuhachi ở Nagoya (một thành phố lớn thứ 4 ở Nhật, thuộc vùng Trung bộ, trung tâm đảo Honshu).

 

 

 

Đảo Socotra tuyệt đẹp – “Galapagos của Ấn Độ Dương”

SocotraSocotra là một phần của quần đảo gồm 4 đảo, nằm trên Ấn Độ Dương cách Somalia 250km và Yemen 340km, thuộc nước Cộng Hòa Yemen. Quần đảo này tách ra khỏi châu Phi cách đây hàng triệu năm, và nằm khuất trong vịnh Aden, là khu bảo tồn sinh vật độc nhất trên thế giới. 

Nơi này có ảnh hưởng hết sức quan trọng đối với hệ động – thực vật, vì sự đa dạng sinh học cao với hệ động thực vật phong phú, đặc biệt rất nhiều loài trong đó là loài đặc hữu – nghĩa là không có ở ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Thực vật ở đây đã được bảo tồn và duy trì một cách tự nhiên qua hàng triệu năm, có những loài đã tồn tại từ cách đây… 20 triệu năm. 

Cây huyết rồng
Cây huyết rồng

Một trong những nét ấn tượng nhất của đảo Socotra là cây huyết rồng, có hình dáng kỳ dị, mọc trên những ngọn núi cao và có thể sống tới 500 năm. Nhựa của nó màu đỏ, được dùng để trang trí, làm thuốc nhuộm hoặc dùng trong y học. Đây là loài thực vật mang lại sự huyền bí và nổi tiếng cho quần đảo này. 

Tuy khí hậu khắc nghiệt, nóng và khô, nhưng thật ngạc nhiên là cây cối ở đây phát triển rất nhanh. Bãi cát rộng, trải dài tới các dãy núi đá vôi với các hang động (dài khoảng 7km) và các ngọn núi cao tới 1525m.

Bông hồng sa mạc
Bông hồng sa mạc

Cư dân trên đảo đa số là người Ả Rập, Somali và Nam Á, theo đạo Hồi và nói tiếng Soqotri – tiếng địa phương của Ả Rập. Chỉ có khoảng 50,000 người sống trên đảo này. Họ sống bằng nghề đánh bắt thủy hải sản, nuôi trồng gia súc, trồng chà là, và gần đây là du lịch.

Chính vì sự huyền bí, cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và đa dạng về sinh học, vào tháng 7/2008, UNESCO đã chính thức công nhận đảo Socotra là di sản thiên nhiên thế giới.

Loan Subaru
.

 

“Tui là gấu”, Utada Hikaru

Chào các bạn,

Cả tuần nay, mình thấy các bạn rất nhiệt tình, và cũng khá vất vả (?) chiến đấu với mục “Thách thức Anh ngữ hàng ngày” của anh Hoành và chị Huệ. Vì thế, để giúp các bạn thư giãn vài phút, cũng như giúp các bạn nạp thêm chút năng lượng trước khi bắt tay vào “xử” các bài tập Thách thức Anh ngữ của tuần này, xin được giới thiệu với các bạn video clip bài hát “Tui là gấu”. 

BearĐây là một bài hát khá nổi tiểng, do ca sĩ trứ danh người Nhật – Utada Hikaru sáng tác, lấy cảm hứng từ con gấu nhồi bông của chị. Bài hát này được phát thanh và phát sóng lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 2006, trong chương trình “Mina no Uta” (Everybody’s song, đối tượng chủ yếu là trẻ em). Ngay sau khi phát sóng, và thể theo yêu cầu nồng nhiệt của khán thính giả, bài hát này được phát liên tiếp trong suốt 4 tháng (từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 1 năm 2007) và cũng liên tục đứng đầu trong bảng xếp hạng đĩa đơn J-POP ở Nhật trong năm 2006. 

Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một tuần thật vui! 😀

À, do bài hát bằng tiếng Nhật, nên mình xin lược dịch một chút để các bạn có thể hiểu được nội dung!

Tui là gấu

Tui không phải là xe hơi, mà là gấu

Tui không đi được, nhưng tui có thể khiêu vũ

Tui không nói được, nhưng tui có thể hát

Tui là gấu, gấu, gấu.

 

Tui là gấu

Tui ghét cãi nhau lắm

Đối thủ của tui là con tôm chiên

Kiếp trước chắc tui là kẹo sô-cô-la

Tui là gấu, gấu, gấu.

 

Xin chào, tui tên là Gấu

Bạn có khỏe không?

 

Tui là gấu

Mùa đông thì buồn ngủ lắm

Buổi tối thì

“Chúc anh gối ngủ ngon nhé” (Note: anh gối: cái gối)

Buổi sáng thì

“Chào buổi sáng, anh gối nhé”

Tôi là gấu, gấu, gấu

Tôi là gấấ…uuuu. 

 

Chào mừng ngày Phật Đản PL 2553

Buddha
Chào các bạn,

Hôm nay, Thứ bảy 9.5.2005, rằm tháng tư âm lịch, là Lễ Phật Đản PL. 2553, tức là Đức phật sinh ra 2553 năm về trước. Đọt Chuôi Non cầu chúc tất cả các bạn một Lễ Phật Đản nhiều tình yêu và an lạc.

Trong post này chúng ta có các thông tin sau đây:

1. Toàn văn thông điệp Phật Đản PL 2553, của Hoà thượng Thích Phổ Tuệ, Pháp Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

2. Link đến Giác Ngộ online:

    . Tòa Tổng Giám Mục TP HCM chúc mừng Phật đản PL. 2553

    . Chủ tịch UBTƯMTTQVN gửi thư chúc mừng Phật tử nhân Đại lễ Phật đản PL. 2553

    . Thông tin và hình ảnh Phật Đản 2009 khắp nơi

3. Hình ảnh về Ngày Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 tại Việt Nam, một ngày quan trọng cho Phật giáo Việt Nam.

4. Lời chào mừng của Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn gửi đến các Phật tử toàn thế giới, do mình dịch sang Việt ngữ.

Chúc các bạn cuối tuần nhiều Phật lộc.

Mến,

Hoành
.

Thông điệp Phật Đản PL.2553-2009 của Đức Pháp chủ GHPGVN
.

Hoà thượng Thích Phổ Tuệ
Hoà thượng Thích Phổ Tuệ

Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Hòa chung không khí đại hoan hỷ và hòa hợp của Tăng Ni, Phật tử trên khắp hành tinh, hôm nay các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cũng như mỗi cơ sở tự viện trong toàn quốc, Tăng Ni, Phật tử cả nước long trọng tổ chức Đại lễ Kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Từ Phụ giáo chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – Phật lịch 2553, dương lịch 2009. Thay mặt Ban Thường trực HĐCM và nhân danh cá nhân, tôi có lời cầu chúc đến chư tôn đức giáo phẩm, cùng toàn thể quý vị Đại đức Tăng Ni, cư sĩ Phật tử ở trong nước và ở nước ngoài thân tâm thường an lạc, Phật sự thành tựu.

Kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Bản Sư là sự kiện quan trọng của mỗi người Phật tử, đó cũng là cơ duyên để mỗi chúng ta khẳng định sự trong sáng của giáo lý Đức Phật và sự đóng góp của Phật giáo trong suốt chiều dài hơn 2.500 năm qua đối với nhân loại. Tư tưởng giáo lý về hòa bình, từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha và tự giác ngộ đối với chính bản thân mỗi người vẫn luôn là kim chỉ nam đối với người con Phật trên con đường tu tập và phụng sự đạo pháp, dân tộc, đó cũng là tư tưởng phù hợp với sự tiến bộ xã hội. Đây chính là cốt lõi mà chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn và trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp thích hợp trong việc giải quyết những vấn đề của thời đại như nghèo đói, chiến tranh, xung đột tôn giáo, sắc tộc và công bằng xã hội.

vesak1
Hai nghìn năm hiện diện, đồng hành với dân tộc và trở thành tôn giáo của dân tộc, Phật giáo Việt Nam phát huy những giá trị tích cực của giáo lý Đức Phật, góp phần tích cực đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nhiều hoạt động Phật sự ích đạo lợi đời được các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và cá nhân mỗi Tăng Ni, Phật tử quan tâm chú trọng, triển khai toàn diện không chỉ ở trong nước mà còn đối với cộng đồng quốc tế và cộng đồng Phật tử Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài. Thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, tôi có lời tán thán công đức đến các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như cá nhân mỗi chư tôn giáo phẩm và Tăng Ni, Phật tử đã không ngừng tinh tấn, phụng sự Đạo pháp và Dân tộc để Phật pháp được xương minh, thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc.

Nhân dịp ngày Đản sinh của Đức Bản Sư, tôi kêu gọi các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và mỗi Tăng Ni, Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, với vai trò trách nhiệm của mình, hoàn thành tốt mọi Phật sự để thiết thực chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo Thế giới lần thứ VI được tổ chức tại Việt Nam vào trung tuần tháng 11 năm 2010.

Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh.

TM. Ban Thường trực
Hội đồng Chứng minh GHPGVN
Pháp chủ

Hòa thượng THÍCH PHỔ TUỆ
.

vesak

Tòa tổng Giám mục chúc mừng Phật đản PL. 2553 – DL. 2009

Chủ tịch UBTƯMTTQVN gửi thư chúc mừng Phật tử nhân Đại lễ Phật đản PL. 2553

Thông tin và hình ảnh Phật Đản 2009 khắp nơi
.

Lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc (United Nations Vesak) 2008
: Ngày Phật Đản 2008 là một dấu mốc lớn cho Phật giáo Việt Nam. Đó là Lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc đầu tiên tại Việt Nam. Hơn 10 nghìn ngọn nến đã được thắp sáng trong Sân Vận Động Quốc Gia Mỹ Đình cho hoà bình, thịnh vượng và hạnh phúc của thế giới.

Năm 1999 Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đồng ý mừng Lễ Phật Đản hằng năm tại Liên Hiệp Quốc, và từ năm 2000 đến nay, các quốc gia (mà đa số là) Phật giáo đã thay phiên tổ chức Ngày Phật Đản Liên Hợp Quốc tại nước mình. Năm 2008 là năm cho Việt Nam.

Các bạn có thể click vào ảnh dưới đây để xem một số hình ảnh về Ngày Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008.

Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008, Hà Nội
Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008, Hà Nội

.

Làm chứng cho một Tinh Thần Nghèo Khó: Tín hữu Thiên Chúa Giáo và Phật tử đối thoại

peace
Các bạn Phật tử thân mến,

1. Lễ Phật Đản là một cơ hội tốt để chúng tôi gửi đến các bạn, với tư cách đại diện Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, lời chúc mừng thành thật và cầu mong thân thiết: Cầu chúc lễ Phật Đản một lần nữa mang hân hoan và tĩnh lặng đến quả tim của mọi Phật tử trên thế giới. Ngày lễ thường niên này cho tín hữu Công giáo một cơ hội để chào mừng bạn bè và láng giềng Phật tử, và nhờ đó làm các thân tình bằng hữu thêm khắng khít cũng như tạo thêm thân tình mới. Các ràng buộc thân thiết này cho phép chúng ta chia sẻ với nhau những niềm vui, những hy vọng và những kho tàng tâm linh.

2. Trong khi làm mới lại cảm giác gần gũi với các bạn Phật tử trong thời đại này, càng ngày ta càng thấy rõ là cùng nhau chúng ta có thể đóng góp, trong cung cách trung thành với truyền thống tâm linh riêng của mình, vào phúc lợi của cộng đồng của chúng ta, cũng như cộng đồng nhân loại trên thế giới. Chúng tôi cảm nhận sâu xa thử thách trước mắt chúng ta đến từ, môt bên là hiện tượng nghèo đói càng ngày càng lan rộng trong nhiều hình thức, một bên là sự theo đuổi sở hữu vật chất không ngừng và bóng tối tràn ngập của chủ nghĩa tiêu thụ.

3. Như Đức Giáo Hoàng Benedict XVI mới nói đây, có hai loại nghèo rất khác nhau, đó là nghèo “tự nguyện” và nghèo “phải chống” (bài giảng ngày 1 tháng 1 năm 2009). Cho tín hữu Thiên chúa giáo, nghèo tự nguyện là cái nghèo cho phép chúng ta theo chân chúa Giêsu Kitô. Khi tự nguyện như thế, nguời Thiên chúa giáo sắn sàng để đón nhận ân huệ của chúa Giêsu, người đã vì chúng ta mà thành nghèo khổ dù người rất giàu có, để nhờ sự nghèo khổ của ngài mà chúng ra trở thành giàu có (2 Corinthians 8, 9). Chúng tôi hiểu rằng nỗi nghèo khổ này có ý nghĩa cao nhất là làm cái tôi trở thành trống rỗng, nhưng chúng tôi cũng hiểu một ý nghĩa nữa là chúng ta chấp nhận chính mình, với mọi tài năng và giới hạn của mình. Nghèo khó như vậy làm cho chúng ta sẵn lòng để nghe Thượng đế và nghe các anh chị em của chúng ta, cởi mở với các anh chị em, và kính trọng các anh chị em như là những cá nhân đáng kính. Chúng ta trân trọng mọi sáng tạo, kể cả các thành quả của con người, nhưng chúng ta được dạy là phải làm như vậy với tự do và tri ân, ân cần và kính trọng, với một tinh thần vô chấp cho phép chúng ta sử dụng mọi sản phẩm của thế giới như là chúng ta không sở hữu đìều gì nhưng lại nắm giữ mọi điều. (2 Corinthians 6, 10).

Nhà Thờ Phát Diệm VN
Nhà Thờ Phát Diệm VN

4. Đồng thời, như Giáo Hoàng Benedict nói, “có một loại nghèo khổ, một loại tước đoạt, mà Thượng đế không muốn và cần phải chống; loại nghèo khổ ngăn cản các cá nhân và gia đình sống với đầy đủ nhân phẩm; loại nghèo khổ xúc phạm công lý và bình đẳng và, do đó, đe doạ sự sống chung hoà bình.” Hơn nữa, “trong các xã hội giàu có tiền tiến, có bằng chứng về sự đi ra ngoài lề, cũng như nghèo khổ về tình cảm, đạo đức và tâm linh, trong những nguời có nội tâm lạc hướng với đủ mọi chứng bệnh dù là họ rất sung túc về kinh tế.” (Thông điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới 2009, chú thích 2).

5. Khi người Công giáo suy gẫm như thế này về ý nghĩa của nghèo khổ, chúng tôi cũng chú tâm đến kinh nghiệm tâm linh của các bạn, các bạn Phật tử thân ái. Chúng tôi xin cám ơn các bạn về việc làm chứng đầy hứng khởi của các bạn về vô chấp và tri túc thường lạc. Các sư thầy, sư cô, và nhiều Phật tử trong các bạn sống cuộc sống nghèo khổ “tự nguyện”, sự nghèo khổ nuôi dưỡng quả tim con người, làm giàu rất nhiều cho đời sống với trí tuệ sâu xa soi chiếu ý nghĩa của hiện hữu, và quyết tâm bền vững trong việc thăng tiến thiện tâm của toàn thể cộng đồng nhân loại. Một lần nữa, xin cho phép chúng tôi được nói lời chào mừng tận đáy lòng và chúc tất cả các bạn một Lễ Phật Đản nhiều hạnh phúc.

Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn
Hồng Y Jean-Louis Tauran
Giám Đốc

Tổng Giám Mục Pier Luigi Celata
Tổng Thư Ký

Trần Đình Hoành dịch

Đại Học Trung Nam Học Viện Y Tương Nhã

Đại Học Trung Nam Học Viện Y Tương Nhã (中南大学湘雅医学院)
(Xiang Ya School of Medicine Central South University)

Học viện y Tương Nhã
Học viện y Tương Nhã ngày xưa
Khu trường cũ
Khu trường cũ
Khung cảnh trường
Khung cảnh trường
Khu nhà học chính
Khu nhà học chính
Công viên trong bệnh viện trường
Công viên trong bệnh viện trường
Lưu học sinh các nước -- Noel 2008
Lưu học sinh các nước -- Noel 2008
Cùng nhau làm Nem Rán và Chả Nướng
Cùng nhau làm Nem Rán và Chả Nướng
Đi dạo bên sông Tương sau những buổi học
Đi dạo bên sông Tương sau những buổi học
Picnic của phe ta
Picnic của phe ta

Chào các bạn!

Mình là nghiên cứu sinh năm 1 tại Học Viện Y Tương Nhã của Đại học Trung Nam, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.

Trong Học Viện Y có 5 sinh viên Việt và toàn Đại Học Trung Nam có 11 người. Mấy hôm nay mình đã post một số bài về văn hoá Trung quốc. Hôm nay mình chia sẻ với các bạn về trường của mình nhé.

Hoc Viện Y Tương Nhã trước kia có tên Đại Hoc Y Tương Nhã, xây dựng năm 1914 do Yale-China Association, hội hữu nghi giữa Trung quốc và Đại Học Yale của Mỹ.

Tỉnh Hồ Nam thường được gọi tắt là 湘 (Tương), còn Yale trong tiếng Hán được phiên âm là 雅 (Nhã) do đó trường được mang tên “Tương Nhã ”.

Năm 2000, Đại Học Y Tương Nhã cùng Đại Học Công Nghiệp Trung Nam (中南工业大学)và Học Viện Đường Sắt Trường Sa(长沙铁道学院)sát nhập thành Đại Học Trung Nam (Central South University). Đây là đại học khá lớn ở miền Nam Trung quốc thuộc tỉnh Hồ Nam.

Hồ Nam có Động Đình Hồ (Lạc Long Quân và Âu Cơ) và sông Tương (chàng tại đầu sông Tương, thiếp tại cuối sông Tương, cùng uống nước sông Tương, tương tư nhưng không tương kiến), rất quen thuộc với văn hoá Việt Nam, Thành cổ Phụng Hoàng như trong bài trước mình đã giới thiệu, hay núi Hành Sơn (một trong 5 ngọn núi có độ cao nhất của Trung Quốc), v.v….

Học Viện Y Tương Nhã là một trong những trường Tây Y được thành lập sớm nhất tại Trung Quốc . Tháng 9 năm 1996, Học Viện được xếp vào tốp “211 công trình trọng điểm Quốc Gia.” Học Viện là 1 trong 5 trường ở Trung Quốc đã thành lập hệ 8 năm Học Viện Y Dược . Hoc Viện có 10 chuyên nghành đào tạo chính quy, và đến năm 2003 trường được chọn là 1 trong 5 trường đại học thí điểm mang tiêu chuẩn Quốc Tế.

Học viện hiên nay có 1773 viên chức (không bao gồm bệnh viện trực thuộc ), trong đó có 179 Giáo Sư, 387 Phó Giáo Sư, 627 Giảng Viên, và khoảng 120,000 sinh viên.

Học Viện có diện tích hơn 77,000 m2 ( không bao gồm bệnh viện trực thuộc). Ngoài khu nghiên cứu, khu giảng dạy và thư viên, trường còncó nhà ăn dành cho sinh viên, khu kí túc xá, ngân hàng, bưu điện, siêu thị, khu giao lưu văn hóa, cung thể thao, sân vận động…

Các hoạt động giao lưu đối ngoại của trường rất sôi nổi, hiện trường đã thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị với hơn 100 trường đại học và hơn 300 cơ sở nghiên cứu khoa học của 25 Quốc Gia và khu vực.

Học Viện Y Tương Nhã hiên có 5 lưu học sinh Việt Nam, và toàn Đại Học Trung Nam thì có 11 sinh viên Việt Nam. Bọn mình ở đây tuy ít nhưng sống đoàn kết và vui lắm. Ngoài việc học tâp, tham gia các hoạt động của trường, của khoa, thì bọn mình còn có hoạt động riêng của người Việt.

Ví dụ như buổi chiều mọi người thường đợi mình đi làm về rồi cùng nhau đi tập thể duc. Cuối tuần thì cả bọn cùng nhau đi siêu thị mua đồ ăn và tất nhiên trong những ngày nghỉ bọn mình thường cùng nhau nấu các món ăn Việt như Nem Rán, Bánh Xèo, Thịt Cuốn, Chè Đậu Xanh …(hi kể ra bọn mình cũng khéo tay đấy chứ :-)).

Sống xa nhà nhưng ngày lễ tết cổ truyền gì của dân tộc bọn mình đều nhớ và tham gia rất nhiệt tình. Thường thì các bạn bên Trung Nam sôi nổi hơn Tương Nhã, nhưng khi bên đó có tổ chức gì thì bên Tương Nhã bọn mình đa phần đều có mặt đầy đủ . Mình là người lớn tuổi nhất ở đây, nhưng khi được sống bên các bạn trẻ, được hòa nhập cùng lứa tuổi sinh viên mình thấy cuộc sống xung quanh mình thật vui vẻ, lúc nào cũng tràn ngập tiếng cười, niềm vui.

Mình hy vọng thông qua câu chuyện về cuộc sống xa nhà của các bạn Tương Nhã nói riêng, mình mong rằng các bạn lưu học sinh ở những nơi khác cũng có những ngày tháng vui vẻ như bọn mình nhé.

Chúc các bạn một ngày mới vui vẻ !

Mến,

Kiều Tố Uyên
DSH, Hồ Nam, Trung Quốc

Lễ hội Đoan ngọ Gangneung, Hàn Quốc

danoDano – Lễ hội Đoan Ngọ còn được coi là “Ngày của thần linh” là ngày 5 tháng 5 âm lịch hàng năm. Con số 5 là biểu tượng cho sức sống và thông thái, đồng thời ngày 5/5 với con số 5 được lặp lại 2 lần được coi là một điềm may. Tại những cộng đồng nông nghiệp, Dano là một ngày lễ hội, một ngày để nghỉ ngơi sau một mùa thu hoạch lúa mạch và gạo. Đây cũng là một lễ hội cầu một vụ mùa bội thu.

dano4 Trong khi Dano, một lễ hội theo mùa vốn bắt nguồn từ Trung Quốc và sau đó được lan truyền tới các quốc gia trong khu vực Đông Bắc Á vào thời trung cổ, những thế hệ kế tiếp đã đã biến Danoje – lễ hội Đoan ngọ khu vực Gangneung thành một lễ hội tổng hợp hết sức độc đáo của bán đảo Triều Tiên. Nói một cách khác, Danoje tại Gangneung, tỉnh Gangwon, là một lễ hội địa phương nhằm khơi dậy tinh thần cộng đồng của người dân sinh sống tại khu vực phía Đông của rặng Daegwallyeong tại Yeong-dong. Trong suốt lễ hội này, người dân bày tỏ sự kính trọng đến 3 vị thần giám hộ: Tướng Kim Yusin thời Silla – người có công đóng góp vào lần đầu tiên thống nhất bán đảo; Tăng lữ Beomil – tăng lữ xuất thân tại Gangneung, nhà lãnh đạo về mặt tinh thần của những vị tổ tiên sáng lập ra triều đại Goryeo; một nữ nhân trong lịch sử hiện thân cho sự đau khổ do thiên tai và những gian khổ trong cuộc đời.

 Danoje khu vực Gangneung được đánh giá cao với lịch sử dài gần 1000 năm, dano1phản ánh lịch sử và cuộc sống của tầng lớp thường dân. Đặc biệt, nền tảng về tinh thần của lễ hội này là sự pha trộn các tôn giáo truyền thống của dân tộc Hàn như Nho giáo, Đạo Shaman, Đạo Phật và Đạo Lão, đồng thời diễn ra với rất nhiều các lễ hội và chương trình biểu diễn đa dạng. Âm nhạc, các điệu múa, các tác phẩm văn học, kịch và các tác phẩm thủ công được đưa vào lễ hội này đều mang giá trị nghệ thuật cao.

Ngoài ra, Danoje khu vực Gangneung cũng được coi là cơ hội để gìn giữ văn hóa truyền thống. Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, người dân có dịp tiếp xúc với những nghi lễ mang tính chất tôn giáo như Dano Gut (một nghi lễ đạo shaman), kịch mặt nạ, Nongak và Nongyo (nông nhạc) và rất nhiều di sản văn hóa hữu hình có giá trị nghệ thuật cao.

Là một nguyên mẫu lễ hội văn hóa của dân tộc Hàn, Danoje đóng vai trò không chỉ là một kênh truyền tải văn hóa truyền thống mà còn cả những kinh nghiệm mang tính giáo dục. Lễ hội kéo dài trong 30 ngày thu hút hơn 1 triệu du khách trong và ngoài nước, trong đó có 230 nghìn người dân khu vực Gangneung.

dano2

Nét độc đáo về mặt văn hóa, cộng với giá trị lớn về mặt nghệ thuật của lễ hội Danoje khu vực Gangneung – Di sản văn hóa quan trọng số 13, đã được UNESCO công nhận. Đồng thời lễ hội này đã được công nhận là Kiệt tác di sản truyền miệng & di sản hữu hình của nhân loại vào ngày 25/11/2005.

 

 

 

Chùa Bửu Thắng và Nhà Tình Thương Cô Nhi

dsc00710Ngày Phật đản sinh thứ 2553 lại về với tinh thần từ bi và giải thoát đau khổ cho chúng sinh, trong tình thương yêu bao la của Đức Phật. Những giá trị nhân bản cao đẹp của Phật giáo, những lời dạy của Đức Phật về những hạnh lành, việc thiện đã và đang được giới tăng ni Phật tử chung sức chung lòng thực hiện với ước mong giúp cho cuộc sống của mọi người luôn tươi đẹp, hạnh phúc. Tinh thần Phật đản thực sự là hướng thiện và nhân ái, và không chỉ tĩnh tâm cầu nguyện, người Phật tử phải tích cực trong cuộc sống, biết yêu thương giúp đỡ những mảnh đời khốn khó và bất hạnh.

Một địa chỉ quen thuộc để chúng tôi tìm đến mỗi mùa Phật đản là chùa Bửu Thắng, trụ trì là sư cô Huệ Hướng. Hôm nay tôi cùng những người bạn trở lại thăm chùa. Từ ngày đầu tiên viếng chùa nhân Phật đản 5 năm về trước đến nay , tôi không bao giờ quên được những ánh mắt trẻ thơ vương nét buồn ở nhà Tình Thương – Cô Nhi chùa Bửu Thắng. Những ánh mắt đen láy, ngây thơ, những khuôn mặt ngơ ngẩn vì bệnh Down, những người già nằm liệt giường ấy như một ám ảnh khiến tôi nao lòng từ ngày ấy.

Chùa Bửu Thắng, nằm trên quốc lộ 14, cách thành phố Buôn Ma Thuột 38 km. Trước năm 2001 đây là một ngôi chùa dột nát hoang phế. Năm 2001 sư cô Huệ Hướng về trụ trì và ngay trong năm này, ngoài việc tu tập Đạo Pháp, chùa chỉ có 1 sư cô và 2 sa di đã tham gia hoạt đông từ thiện dù còn vô vàn khó khăn về cơ sở vật chất. Đến cuối năm 2001, chùa đã nuôi dưỡng 20 người gồm người già yếu bệnh tật không nơi nương tựa, lẫn cô nhi và các trẻ sơ sinh bị người ta vất bỏ trước cổng chùa. Đến nay số người già trẻ mà chùa Bửu Thắng phải cưu mang đã lên tới 161. Trong số này có 46 người già yếu, 78 trẻ em cô nhi, đặc biệt là 21 người khuyết tật gồm cả trẻ và già. 15 người là các sư cô và sa di, trong đó có 6 người đang theo học Phật học tại Đại học Vạn Hạnh cũng do nhà chùa chu cấp. Những người khuyết tật mà chúng tôi đến thăm số đông là bị thuơng tật ở tay chân, và người già, người bệnh tâm thần, bại não sơ sinh và bệnh Down, ở các em độ tuổi 15, 18. Khi nhìn những người bất hạnh này, chúng tôi vừa thấy xót thương cho họ, vừa cảm phục hạnh từ bi của những tu sĩ chùa Bửu Thắng!

dscf02042
Theo lời sư cô trụ trì, các sư cô và sa di ở chùa Bửu Thắng đã cố gắng hết sức để vượt qua những thời kỳ vô cùng khó khăn tưởng như không trụ được để xây dựng và phát triển hoạt động của ngôi chùa như hiện nay. Chùa vừa mới khánh thành ngôi chánh điện được xây trang nghiêm năm trước. Ngoài việc là nơi thờ tự, tu tập và hoằng pháp với gần 500 tín đồ là người dân tộc Ê Đê, chùa đã ghi một dấu ấn đậm nét trong lòng mọi khách thập phương đến lễ và viếng chùa với hoạt động từ thiện xã hội chăm lo Nhà Tình Thưong và Cô Nhi.

Chùa hiện có một dãy nhà gồm 5 phòng cho người già yếu, và một nhà gồm 3 phòng cho trẻ em (do tổ chức Care to Help xây tặng). Được biết cho đến nay chùa chủ yếu là tự thân vận động nhờ vào những tấm lòng vàng, của khách thập phương, tâm từ bi của thiện nam tín nữ cúng dường làm từ thiện, chứ chưa nhận được nguồn tài trợ giúp đỡ thường xuyên của cá nhân hay tổ chức nào. Bằng nỗ lực phi thường và từ tâm của Phật tử, sư cô trụ trì Huệ Hướng đã thực sự làm thay đổi cơ sở vật chất của chùa để chăm lo cho những mảnh đời bất hạnh, khốn khó. Những tiện nghi cho sinh hoạt tuy đã được cải thiện dần nhờ sự phát tâm từ bi cúng dường để làm việc thiện của khách thập phương nhưng đều thiếu và còn hạn chế đối với cả người già và con trẻ. Ví dụ các bé trong độ tuổi chưa thôi nôi phải nằm võng chứ không có nôi, một sân rộng ngay trước lớp học chưa có điều kiện tráng xi măng như ước  mong của các sư cô, và cô giáo. Đất cao nguyên này, dẫu mưa hay nắng, cái sân ấy vẫn đầy bụi và lầy lội. Đó là nơi các cháu nhỏ lớp mẫu giáo, lớp 1 chơi đùa, chạy nhảy, ngồi và té ngã trên đó.Một cái sân ciment còn chưa có, nên ước mơ có một sân chơi cho các cháu vẫn chỉ là mơ ước của mọi người trong chùa.

Đến nay trong chùa có một lớp học cho các cháu nhỏ, một phòng khám bệnh có 2 bác sĩ tự nguyện thay phiên đến giúp khám và trị bệnh cho hơn 160 con người (kể cả các tu sĩ) nhưng rất thiếu thốn về thuốc men. Hôm nay chúng tôi đến, trong đoàn có các bác sĩ của bệnh viện Thiện Hạnh             ( thành phố Buôn Ma Thuột ) vào thăm và tặng 2  thùng thuốc gồm nhiều loại. Các bác sĩ  đã khám các bệnh chuyên khoa như da liễu và sẽ tiếp tục cấp thuốc chủng ngừa viêm gan siêu vi. Nhưng nhu cầu về cuộc sống của các cụ già, học hành và vui chơi của các em bé vẫn còn là nỗi lo canh cánh bên lòng của sư cô trụ trì, một tu sĩ bình dị, vóc người bé nhỏ mà mang cả một tâm nguyện lớn lao vừa tu tập vừa cứu giúp cho đời, vừa mới đây đã được nhà nước phong tặng Anh Hùng Lao Động Thời Đại Mới ngày 26/4/2009.

dsc00730

Do đó với tình hình khó khăn chung về đời sống, lạm phát giá cả như hiện nay, thiết nghĩ phải lo ăn, lo học, lo thuốc men cho hơn 160 con người là cả một vấn đề lớn vượt quá khả năng nhà chùa bởi nguồn tài chính không ổn định. Đã không ít lần sư cô trụ trì phải đi vào tận thành phố Hồ Chí Minh xin được ít gạo cũ để cứu đói cho những người bất hạnh này trong lúc ngặt nghèo. Nói chi đến tấm bánh hay cây kẹo cho các trẻ cô nhi. Tôi không sao quên được những nụ cười trên những khuôn mặt ngây thơ và ngây ngô vì bệnh tật khi cầm những cái kẹo được người lễ chùa đem tặng cho trong ngày lễ Phật đản.

Các tín đồ Phật giáo với truyền thống nhân đạo, hành thiện với quan niệm:
“Dù xây chín bậc phù đồ.
Không bằng làm phúc cứu cho một người”
luôn tích cực đi đầu trong hoạt động xã hội từ thiện có lẽ sẽ quan tâm đến công tác từ thiện của ngôi chùa Bửu Thắng để góp phần thiết thực hổ trợ cho chùa và những người già, em bé được cưu mang ở đây.

Nhân ngày Phật đản, nhớ đến các cô nhi, và những người khốn khó, chúng tôi viết về ngôi chùa với tâm nguyện sao cho những cuộc đời bất hạnh ở đây được nhiều người biết đến và giúp đỡ để chùa có thể duy trì và phát triển Nhà Tình Thương-Cô Nhi- làm vơi bớt nỗi đau của họ.

Số ĐT của chùa: 05003573523
Số ĐT di động: 090534 8564

Huỳnh Huệ

Đám cưới truyền thống Campuchia

Đám cưới người Campuchia thường được tiến hành trong 3 ngày:

Ngày vào lu: Là ngày đầu tiên của đám cưới. Đầu tiên nhà gái phải dựng ở nhà mình một lều tân lang, bên cạnh đó là lều tiếp khách và lều bếp núc. Chú rể khi đến nhà cô dâu thì vào luôn lều tân lang.

cambodian-wedding-21Ngày th hai: Từ sáng sớm, bố mẹ và bạn bè hai gia đình đến nhà cô dâu tổ chức lễ cúng tổ tiên, cầu nguyện, phù hộ cho đôi vợ chồng trẻ. Buổi chiều tổ chức lễ cắt tóc. Sau 3 tiếng trống phù dâu và phù rể sẽ cắt tóc cho cô dâu, chú rể trong tiếng hát “Bài ca cắt tóc”, một người của đội nhạc đại diện cho cô dâu chú rể múa hát. Tổ chức nghi lễ này là để xoá tan những điều không may mắn của hai người. Cuối cùng là lễ tụng kinh. Cô dâu, chú rể quỳ trước mặt 4 nhà sư, hai tay chắp trước ngực, 4 nhà sư tụng kinh trong khoảng nửa tiếng.

Tiếp theo là tiệc cưới, ăn xong thì hát múa. Nam nữ thanh niên quây quần xung quanh cô dâu, chú rể hát múa đến tận đêm khuya, hát múa xong thì tổ chức lễ buộc dây. Cô dâu chú rể ngồi xếp vòng tròn, hai tay chắp lại trước ngực, bố mẹ hai người sẽ lần lượt buộc dây vào cổ tay hai người. Điều này tượng trưng cho mối quan hệ với hai gia đình gắn bó chặt chẽ.cambodian-wedding-3

Ngày th ba: Là ngày bái đường. Nghi lễ do một người già cả chủ trì, phần lớn được tổ chức ở chùa chiền. Khi tổ chức lễ, đội nhạc sẽ tấu lên ca khúc bái đường. Sau đó đến tiết mục song ca của cô dâu chú rể và mọi người hát tập thể. Cuối cùng người chủ trì nghi thức sẽ phân phát trầu cau cho người nhà. Mọi người rắc hoa tươi lên cô dâu, chú rể để chúc phúc.

Sau khi kết thúc nghi lễ bái đường, người hát lúc nãy sẽ hát bài ca quấn chiếu cỏ và cuốn cái chiếu cỏ lúc nãy hai người ngồi và đem bán đấu giá. Khi ấy, cô dâu, chú rể phải bỏ tiền ra mua lại và đem vào trong phòng tân hôn, chiếc chiếu này sẽ được trải trên giường của họ. Sau đó, chủ hôn sẽ giao chú rể cho cô dâu trước mặt mọi người, đám cưới cũng kết thúc tại đó.

Dưới đây là một đoạn video clip về lễ cắt tóc trong tiếng hát “Bài ca cắt tóc”. Mời các bạn thưởng thức.

Loan Subaru
.

Thành cổ Phụng Hoàng

cph1

cph2

cph3

cph4

cph5

cph6

cph7

Tương Tây nơi trú ngụ của người dân tộc Miêu và Thổ có một thành cổ rất nổi tiếng mang tên Thành cổ Phụng Hoàng.

Thành cổ này nằm ven phía Tây của tỉnh Hồ Nam, với tổng diện tích 1751.1km2, Nam Bắc dài 66 km, Đông Tây rộng 50 km.

Tổng nhân số là 390.000 người. Toàn huyện phân thành 9 xã 22 thôn, là nơi hội tụ của nhiều dân tộc thiểu số, trong đó chủ yếu là người dân tộc Miêu và Thổ ( chiếm hơn một nửa).

Khí hậu ôn hòa. Nhiệt độ trung bình trong năm là 15.9C, lượng mưa trung bình là 1308.1mm, cách Trương Gia Giới khoảng 200km.

Thành cổ Phụng Hoàng có lịch sử rất lâu đời. Sử sách có lưu lại rằng đời Đường nơi đây là huyện Dương.

Đời Nguyên、Minh có rất nhiều trại quân được đóng tại đây.

Đến đời Thanh được đổi tên thành “Trấn Can”. Thời kì này bắt đầu xây dựng một vài Đình ven bờ Giang Đà (một nhánh nhỏ của sông Trường Giang (Dương Tử) chảy bao quanh thành cổ ), với vật liệu chủ yếu là tre trúc chặt trong rừng, và được gọi là Đình Phụng Hoàng.

Đến năm 1797 thì các Đình được nâng cấp và xây dựng hàng loạt hai bên bờ sông tạo thành Thành nhỏ trên sông và được đổi tên thành Thành Phụng Hoàng.

Nơi đây có rất nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như Động Kì Lương (奇梁洞), Cung Triều Dương(朝阳宫), Cung Vạn Thọ (万寿宫), Miếu Thiên Vương(天王庙), Điện Đại Thành(大成殿), Lầu Hà Xương(遐昌阁), Tháp Vạn Danh(万名塔), Thành Nam Trường(南长城), Trại Bàn Đá(石板寨), Cầu Hoàng Ti(黄丝桥古城)….tất cả đã tạo thành một bức họa tuyệt diệu, và góp phần cho Phụng Hoàng được mệnh danh là Thành cổ đẹp nhất Trung Quốc.

Nhân kiệt địa linh, phong cảnh hữu tình, là nơi kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên, con người, phong tục tập quán…

Vào khoảng tháng 2 bạn có thể đến đây du xuân, dự những buổi lễ khấn thần Thổ Địa.

Tháng 3 có tết Thanh Minh.

Tháng 4 có lễ Tứ Nguyệt Bát “四月八节”( lễ hội lớn nhất của người dân tộc Miêu)…

Tại đây cứ 5 ngày lại họp chợ một lần, thời gian họp chợ của các thôn thường khác nhau, do đó tại Phụng Hoàng gần như ngày nào cũng có họp chợ. Người ta đến đây không chỉ đơn thuần trao đổi hàng hóa mà người Miêu cho rằng đây cũng là nơi tranh tài, tranh sắc của những cô gái trẻ. Do đó đến Thành Cổ Phụng Hoàng bạn không chỉ dùng mắt để ngắm nhìn phong cảnh mà còn phải dùng tâm linh để cảm nhận nét đẹp văn hóa nơi đây .

Các bạn có thể đến tham trang web của thành cổ Phụng Hoàng ở đây.

Kiều Tố Uyên
DHS, Hồ Nam, Trung Quốc

Ngày trẻ em 5 tháng 5, Nhật Bản

Vào những ngày đầu tháng năm, trên những vùng quê Nhật Bản bạn sẽ bắt gặp hình ảnh những chú cá chép màu sắc sặc sỡ đang bơi lội trên bầu trời xanh. Và nếu có dịp đi đến thăm những gia đình có bé trai, bạn sẽ được ngắm nhìn những bộ áo giáp, mũ của các samurai, hay những hình nộm samurai được trang trí trong phòng khách. Tất cả những điều này là một trong những nghi thức cầu chúc cho sự trưởng thành của những bé trai ở những gia đình người Nhật Bản. 

Koinobori
Koinobori

Ở Nhật Bản, có tất cả 5 ngày quan trọng nhằm đánh dấu sự thay đổi của thời điểm chuyển mùa trong năm. Ngày 5 tháng 5 là một trong những ngày quan trọng đó (Tết đoan ngọ), là ngày báo hiệu cho một mùa xuân, mùa cây xanh đâm chồi nảy lộc, mùa sinh trưởng của tất cả mọi loài, đồng thời cũng là giai đoạn dễ phát sinh dịch bệnh, dễ đau ốm do chuyển tiết, chuyển mùa. Bắt nguồn từ những phong tục, nghi lễ được tiến hành trong dịp lễ tết Đoan ngọ của Trung Quốc, gia đình Nhật hoàng và giới quý tộc triều đình cũng tổ chức việc phân phát lá thuốc phòng bệnh, hay tổ chức những buổi lễ phi ngựa bắn cung nhằm phòng trừ tà ma ác quỷ.

Đến thời Kamakura (1185 -1333: bắt đầu thời kì Samurai), các tập tục này được các gia đình Samurai thay đổi bằng việc treo những lá cờ (Nobori), mũ giáp (Kabuto), hay những vũ khí chiến đấu trước cổng và hàng rào nhà mình. Còn với người dân thường thì thay thế bằng những mũ giáp và hình nộm Samurai to lớn, dũng mãnh được làm từ giấy.

Kabuto
Kabuto

Cho đến thời Edo, việc chính phủ Nhật quy định đây là ngày lễ quan trọng trong năm càng làm cho phong tục này lang rộng trong dân gian. Có một điều khác biệt ở đây là ở các gia đình dân thường vì không có cờ để treo như các gia đình Samurai, thay vào đó là những Koinobori (cờ cá chép) rất được yêu thích.

Cờ cá chép bắt nguồn từ chuyện kể về một loại cá chép sống ở sông Hoàng Hà (Trung Quốc) vượt dốc bơi lên thượng nguồn. Do vậy người xưa cho rằng đây là loài cá xuất thế, làm biểu tượng cầu mong cho những đứa trẻ trong nhà sau này lớn lên có thể tự thân lập nghiệp, thành công trên đường đời. Nếu bạn chú ý hơn nữa sẽ thấy cờ cá chép có ba màu sắc: đen, đỏ, xanh biểu hiện cho người cha, người mẹ và trẻ con.

Theo thuyết ngũ sắc:

* Màu đen biểu hiện cho nước vào mùa đông. Mùa đông là mùa vạn vật đều tĩnh lặng, ít hoạt động. Người cha theo quan điểm của người xưa là người phải trầm tính. Còn nước là nơi bắt nguồn của mọi sự sống.

* Màu đỏ là màu của lửa vào mùa hạ. Lửa làm cho vạn vật sinh trưởng dồi dào, cũng là biểu hiện cho trí tuệ. Mùa hạ là mùa sinh sôi nảy nở của muôn loài. Nên có thể nói là biểu trưng cho hình ảnh người mẹ.

* Màu xanh là màu biểu hiện cho cây vào mùa xuân,mùa cây cối đâm chồi nảy lộc, vươn thẳng, biểu hiện cho lớn lên của đứa trẻ.

 Như vậy, ba chú cá chép biểu hiện cho sự an định và cung cấp nguồn sống, trí tuệ và nuôi dưỡng, sự trưởng thành và phồn vinh, là những yếu tố không thể thiếu được trong một gia đình đầm ấm, làm cơ sở cho sự trưởng thành hài hòa của những đứa trẻ.

kodomo-no-hi-11Gần đây, do các gia đình sống trong thành phố, vì không có sân vườn để có thể treo cờ cá chép, nên cờ cá chép cũng được thu nhỏ lại để có thể treo ở ban công, cửa sổ trong nhà . Đồng thời, bên cạnh cờ cá chép còn có chong chóng, các sợi dây đủ màu sắc cũng được treo cùng, bay phất phơi trong gió.

 

Dưới đây là 1 đoan video clip với bài hát “Koinobori”. Mời các bạn thưởng thức.

William Arthur Ward

williamarthurward

Xin giới thiệu với các bạn William Arthur Ward, một nhà giáo dục lỗi lạc của nước Mỹ .

William Arthur Ward (1921-1994), tác giả của Fountains of Faith ( Suối Nguồn của Niềm Tin).

Ông là tác giả của rất nhiều danh ngôn được trích dẫn nhiều nhất Hơn 100 bài báo, bài thơ và suy tưởng của ông đã được xuất bản trong các tạp chí như Reader’s Digest, This Week , The Upper Room, Together, The Adult Teacher, The Adult Student, Science of Mind, Sunshine, vv… Mục Danh Ngôn trên báo Fort Worth Star –Telegram của ông được đề cao không chỉ Mỹ mà ở nước ngoài.

Sinh ra và lớn lên ở bang Louisiana, ông tham gia vào quân đội Mỹ năm 1942 và trải qua 4 năm quân ngũ ở Philippines . Ông tốt nghiệp Đại học Mc Murry, nhận bằng Thạc sĩ tại trường Đại học Oklahoma, và Tiến sĩ Luật danh dự ở trường này vì những đóng góp to lớn về học thuật, giáo dục, văn chương, nhân văn và xã hội của ông. Ông tham gia làm quản lý giáo dục tại Đại học Texas Wesleyan ở Fort Worth và nhiều cơ sở giáo dục khác.

Tiểu sử của ông được nêu trong Who’s Who – Giáo Dục của nước Mỹ , và Who’s Who- Quan Hệ Xã Hội.

Có thể nêu ra vài câu trong số nhiều danh ngôn nổi tiếng nhất của ông như :

1. “The pessimist complains about the wind; the optimist expects it to change; the realist adjusts the sails.”

Người bi quan phàn nàn về gió; người lạc quan mong muốn nó đổi chiều, người thực hiện điều chỉnh những cánh buồm.

2. “The more generous we are, the more joyous we become. The more cooperative we are, the more valuable we become. The more enthusiastic we are, the more productive we become. The more serving we are, the more prosperous we become.”

Chúng ta càng độ lượng, chúng ta càng vui tươi. Chúng ta càng hợp tác, chúng ta càng trở nên quý giá. Chúng ta càng hăng hái, chúng ta càng sáng tạo. Chúng ta càng phụng sự, chúng ta càng giàu có.

Và câu thứ ba là một trong những lời vàng của tôi cũng như các đồng nghiệp:

3. “The mediocre teacher tells. The good teacher explains. The superior teacher demonstrates. The great teacher inspires.”

Người thầy trung bình nói. Người thấy tốt giảng giải. Người thầy giỏi chứng minh. Người thầy tuyệt vời truyền cảm hứng.

Sau đây là bài thơ WHILE của William Arthur Ward

TRONG KHI

Hãy tin tưởng trong khi ai khác nghi ngờ.
Hãy hoạch định trong khi ai khác chơi đùa.
Hãy học hỏi trong khi ai khác đang ngủ.
Hãy quyết định trong khi ai khác trì hoãn.
Hãy chuẩn bị trong khi ai khác mơ màng.
Hãy bắt đầu trong khi ai khác do dự.
Hãy làm việc trong khi ai khác mơ ước.
Hãy tiết kiệm trong khi ai khác lãng phí.
Hãy lắng nghe trong khi ai khác đang nói.
Hãy mỉm cười trong khi ai khác cau mày.
Hãy ca ngợi trong khi ai khác chỉ trích.
Hãy kiên trì trong khi ai khác từ bỏ.

WHILE

Believe while others are doubting.
Plan while others are playing.
Study while others are sleeping.
Decide while others are delaying.
Prepare while others are daydreaming.
Begin while others are procrastinating.
Work while others are wishing.
Save while others are wasting.
Listen while others are talking.
Smile while others are frowning.
Commend while others are criticizing.
Persist while others are quitting.

Chúng ta cùng thực hiện những “Hãy” mà  William Arthur Ward đã nêu trên và trước hết hãy là người lạc quan và người bắt tay thực hiện.

Chúc các bạn một ngày vui

Trụ đá Asoka (Ấn độ) — Xuất xứ và ý nghĩa

asoka
Vua Asoka (304-232 trước tây lịch), một vị vua Ấn Độ, vốn hung tàn bạo ngược thống lãnh một vùng lãnh thổ lớn nhờ vào các cuộc chinh phạt mở mang bờ cõi liên tiếp thành công. Sau khi lên ngôi được 8 năm, vua Asoka mở cuộc chiến ở Kalinga (nay thuộc bang Orissa, Ấn Độ). Sau trận chiến Kalinga, phần thắng thuộc về vua Asoka, nhưng con số 100 000 người bị giết và 150 000 người bị bắt làm tù binh đã đánh thức vị vua này về sự tàn bạo và vô lý của chiến tranh. Mốc lịch sử này đánh dấu sự quay về với Đạo Phật của vua Asoka.

Từ khi quy y Tam Bảo, nhà vua trở nên người nhân từ, hiền lành và đem tâm ôn hòa nhân từ cai trị quần dân, dùng chính sách hòa bình và thành tín trong bang giao với các nước láng giềng theo tinh thần Phật pháp. Nhà vua thay tiếng trống trận bằng tiếng trống Pháp, coi việc chinh phục lòng dân bằng đạo đức là chiến thắng tối hậu. Nhờ thực hành chánh pháp, từ một bạo chúa, vua Asoka từ bỏ chính sách đàn áp xâm lăng và theo đuổi đường lối hòa bình đức trị. Nhà vua cho lập các bia đá và ghi vào đó những chủ trương của nhà vua, cùng những lời hay ý đẹp nhắc nhở về lối sống đạo đức, làm thiện, tránh ác cho dân chúng rồi cho đặt ở các nơi công cộng dễ thấy. Ví dụ ở bia ký số VI ghi rằng:

“Thiên tử, Vua Piyadasi phán rằng: Trong quá khứ, những việc khẩn trương hoặc các chứng từ không hề được đệ trình hoàng thượng thường xuyên. Nhưng nay trẫm ra lệnh này, với các việc như vậy, các quan có thể đến gặp trẫm bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, dù trẫm đang ăn, đang ở trong hậu cung, trong cấm cung, trên long xa, trong ngự giá, trong thượng uyển hay đang cầu nguyện. Và khi một ban bố hay tuyên dương bằng khẩu lệnh, hoặc vì quốc sự khẩn cấp trẫm ủy quyền cho các quan đại thần, mà gây nên sự bất đồng hay bàn cãi trong triều thì phải báo cho trẫm biết ngay, dù đang ở nơi đâu. Đó là mệnh lệnh của trẫm.

Trẫm không bao giờ bằng lòng với mình về những việc Trẫm làm. Trẫm cho rằng việc làm cho thần dân sống an ổn là nhiệm vụ cao cả nhất của trẫm, và cốt lõi của việc này là phải chính mình tận lực. Đối với trẫm, không có điều gì quan trọng hơn là đời sống an ổn của thần dân, và tất cả những nỗ lực của trẫm chỉ là trả nợ chúng sinh để mưu cầu hạnh phúc cho họ trong đời này và đạt đến thiên giới trong kiếp sau.

Vì vậy trẫm lệnh cho Pháp Dụ này được khắc ra. Mong pháp dụ này trường tồn và các con, cháu và chắt của trẫm noi theo vì sự an sinh cho mọi người. Tuy nhiên đây là một việc khó nếu không nhiệt tâm và tận lực.”

King Asoka's rock edict
King Asoka's rock edict

(Thus speaks the Beloved of the Gods, the king Piyadassi. In the past the quick dispatch of business and the receipt of reports did not take place at all times. But 1 have now arranged it thus. At all times, whether I am eating, or am in the women’s apartments, or in my inner apartments, or at the cattle-shed, or in my carriage, or in my gardens – wherever I may be, my informants should keep me in touch with public business. Thus everywhere I transact public business. And whatever I may order by word of mouth, whether it concerns a donation or a proclamation or whatever urgent matter is entrusted to my officers, if there is any dispute or deliberation about it in the Council, it is to be reported to me immediately, at all places and at all times.
This I have commanded. In hard work and the dispatch of business alone, I find no satisfaction. For I consider that I must promote the welfare of the whole world, and hard work and the dispatch of business are the means of doing so. Indeed there is no better work than promoting the welfare of the whole world. And whatever may be my great deeds, I have done them in order to discharge my debt to all beings. I work for their happiness in this life, that in the next they may gain heaven. For this purpose has this inscription of Dhamma been engraved. May it endure long. May my sons, grandsons, and great grandsons strive for the welfare of the whole world. But this is difficult without great effort.)

Hầu như tất cả 33 pháp dụ hiện có của vua Asoka đều có nội dung tích cực như vậy. Ngoài việc lập các pháp dụ ở nhiều nơi trên khắp lãnh thổ, một điều đặc biệt nữa là, sau khi quy y Phật giáo, vua Asoka đến chiêm bái Tứ Động Tâm – bốn di tích lịch sử gắn liền với các sự kiện chính trong cuộc đời Đức Phật. Đến đâu, nhà vua ra lệnh khắc bia đá để làm tưởng niệm đến đó. Các trụ đá, bia ký và pháp dụ Asoka còn lưu giữ tại các viện bảo tàng ngày nay là những dấu ấn ghi lại sự tôn kính, ngưỡng mộ Đức Phật và Đạo Phật của một vị vua thuần thành, một vị vua chủ trương cai quản quốc gia bằng tinh thần từ bi và hài hòa của Phật pháp.

Trị vì một lãnh thổ rộng hơn diện tích Ấn Độ bây giờ, đảm bảo đời sống thái bình thịnh vượng cho người dân, cai trị đất nước bằng đạo đức có thể nói là thành công vĩ đại nhất của vị vua Phật tử anh minh này. Hình ảnh vua Asoka trở thành biểu tượng lý tưởng cho những nhà lãnh đạo chân chính.

Trụ đá Asoka
Trụ đá Asoka
Chính vì chính sách quản lý và điều hành quốc gia của vua Asoka quá lý tưởng như vậy, ngay sau khi độc lập, biểu tượng đầu trụ đá bốn sư tử do vua Asoka dựng ở Sarnath được chọn làm quốc huy của Ấn Độ và một phần biểu tượng này được chọn làm một phần của lá cờ tổ quốc như một sự tri ân người xưa và khuyến khích người nay.

Trụ đá bốn đầu sư tử của vua Asoka

Trụ đá có bốn đầu sư tử được vua Asoka cho khắc dựng tại thánh địa ở Sarnath, khi nhà vua đến chiêm bái thánh tích này. Nơi đây, Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên và chính nơi đây, tăng đoàn đầu tiên được thành lập, Trụ đá này cao 50 feet (15.24 mét). Trên trụ đá có khắc chỉ dụ của vua Asoka rằng “không ai được gây chia rẽ trong tăng đoàn”. Nét đặc biệt của trụ đá Asoka ở Sarnath là đầu trụ được khắc bốn sư tử (các trụ đá ở nơi khác chỉ có một sư tử hoặc một con vật khác), dựa lưng vào nhau, đặt trên một trụ ngắn tròn. Trên bề mặt của trụ ngắn này có bốn bánh xe Pháp gồm 24 căm xen kẽ với bốn con vật xung quanh: một con voi, một con bò đực, một con ngựa và một con sư tử. Tiếp nối với đoạn hình trụ là đế bán cầu hình hoa sen dốc ngược.

banhxe Bốn đầu sư tử quay về bốn hướng chỉ cho chánh pháp của Đức Phật, từ vườn Lộc Uyển, nơi Ngài thuyết bài pháp đầu tiên và là nơi tạo dựng trụ đá này, được truyền bá khắp bốn phương. Bánh xe tượng trưng cho Phật pháp luân chuyển khắp mọi nơi mọi chốn. Sau này, các tổ chức Phật giáo chọn hình ảnh bánh xe pháp để trang trí, làm logo và biểu tượng cho tổ chức mình với ý nghĩa tương tự.

Bốn con vật trên trụ đá bốn đầu sư tử ở Sarnath được các nhà nghiên cứu giải thích là tượng trưng cho bốn giai đoạn trong cuộc đời của Đức Phật. Voi tượng trưng cho ý niệm về giấc mơ của hoàng hậu Maya, mẹ của thái tử Sĩ Đạt Ta (sau này là Đức Phật), Bà nằm mộng thấy coi voi trắng chui vào bên hông phải, rồi Bà thọ thai thái tử.

4 con vật và 4 bánh xe
4 con vật và 4 bánh xe
Con bò đực là tượng trưng cho sự sung mãn hạnh phúc trần gian khi Đức Phật còn là một thái tử sống trong hoàng cung. Con ngựa tượng trưng cho sự ra đi tìm đường giải thoát khỏi khổ đau cho nhân loại. Đêm vượt thành xuất gia, thái tử ra đi trên một con ngựa. Con sư tử tượng trưng cho cuộc đời hành đạo viên mãn của Đức Phật. Pháp Ngài truyền giảng như tiếng rống của sư tử đánh thức bao con người lìa bến mê sang bờ giác. Bốn đầu sư tử là biểu tượng cho những nền tảng căn bản của Phật pháp là chân lý, hoà bình, lòng khoan dung và lòng từ bi.

Bên cạnh cách giải thích có tính tôn giáo, một số người giải thích trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath theo cách phi tôn giáo. Theo cách giải thích này thì bốn đầu sư tử tượng trưng cho sự thống lãnh khắp bốn phương của vua Asoka. Bánh xe pháp tượng trưng cho cho sự lãnh đạo sáng suốt của vua Asoka và bốn con vật tượng trưng cho các lãnh địa của Ấn Độ thời bấy giờ dưới sự thống lãnh của vua Asoka. Dù giải thích bằng cách nào đi nữa, không ai phủ nhận một sự thật là vua Asoka, sau khi quay về quy y Tam Bảo và thực hành Phật pháp, đã áp dụng tinh thần Phật pháp để trị quốc an dân.

Hình ảnh trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath ngày nay được tìm thấy ở đâu?

Trụ đá nguyên thủy ở Sarnath và viện bảo tàng Sarnath

Trụ đá nguyên thủy
Trụ đá nguyên thủy

Trụ đá vua Asoka cho khắc dựng tại Sarnath được xác định là khoảng năm 250 trước tây lịch. Trụ đá ấy, qua năm tháng thời gian, đã bị gãy đổ. Phần thân trụ, còn bốn đoạn gãy và các mảnh vỡ, được lưu giữ ngay trên thánh địa nơi đánh dấu Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên, bắt đầu vận chuyển bánh xe chánh pháp. Các đoạn trụ này được bao bọc trong một rào chắn, có mái che, cùng trong khuôn viên thánh tích, cách tháp Dhamek (tháp do vua Asoka xây đồng thời với trụ đá) không xa. Đầu trụ là bốn đầu sư tử như đã mô tả ở trên, được lưu giữ tại viện bảo tàng Sarnath ngay gần khu thánh tích.

Quốc huy Ấn độ
Trên quốc huy Ấn Độ

Biểu tượng bốn đầu sư tử của trụ đá Asoka tại Sarnath được chọn làm quốc huy của đất nước Ấn Độ vào ngày Ấn Độ tuyên bố dân chủ, ngày 26 tháng 1 năm 1950. Phần đế nửa hoa sen dốc xuống được cắt đi, thay vào đó là hàng chữ văn tự Devanagari “Satyameva Jayate” nghĩa là “chỉ có chân lý là chiến thắng” (Truth Alone Triumphs). Trên quốc huy, hình chụp trụ đá thấy được ba đầu sư tử dựa vào nhau, đầu sư tử thứ tư bị khuất. Ba trong bốn bánh xe được nhìn thấy, một bánh xe ngay chính giữa và hai bánh xe hai bên. Bốn con vật trên trụ đá chỉ thấy được con ngựa bên trái và con bò đực bên phải. Voi và sư tử khuất đằng sau.

.

Trên tiền: Vì được chọn làm quốc huy, nên hình ảnh trụ đá sư tử Asoka bốn đầu này xuất hiện trên tiền giấy cũng như tiền cắc Ấn Độ. Ở tiền giấy, biểu tượng quốc huy xuất hiện ở góc dưới bên trái. Ở tiền cắc, biểu tượng này lớn hơn, nằm trên một mặt của đồng tiền.

Tiền Ấn độ
Tiền Ấn độ
Tiền cắc Ấn độ
Tiền cắc Ấn độ

Trên tem: biểu tượng quốc huy này cũng được chọn in trên tem thư.

Tem Ấn độ
Tem Ấn độ

Trên đầu giấy viết thư của các cơ quan nhà nước: Biểu tượng quốc huy xuất hiện trên tựa đề các đơn, thư của các cơ quan nhà nước.

Đầu thư chính phủ
Đầu thư chính phủ

Trên cơ sở của tổ chức chính quyền và các cơ sở ngoại giao của Ấn Độ ở nước ngoài

IndiaNationallogo

Trên hộ chiếu: như hộ chiếu của bao quốc gia khác, trang bìa hộ chiếu công dân Ấn Độ có biểu tượng quốc huy.

Hộ chiếu Ấn độ
Hộ chiếu Ấn độ

India flag
Trên cờ tổ quốc: Bánh xe Pháp Asoka trên đế trụ đá Sarnath được chọn đặt vào vị trí trung tâm của lá cờ tổ quốc từ năm 1947, khi Ấn Độ giành được độc lập. Cờ Ấn Độ có ba sọc ngang với ba màu vàng sậm, trắng và xanh biển, ở giữa là bánh xe 24 căm. Bánh xe Pháp này được đặt ở vị trí trung tâm lá cờ, chiếm ba phần tư (3/4) chiều cao phần màu trắng.

Rõ ràng, khi chọn đầu trụ đá bốn sư tử của Asoka, một vị vua Phật tử làm quốc huy của đất nước, các nhà lãnh đạo Ấn Độ muốn biểu dương và noi gương tinh thần trị quốc an dân bằng đạo đức của vị vua anh minh này nhằm hướng đến một xã hội thái bình, thịnh vượng. Ngày nay, trên bề mặt, Đạo Phật không còn hưng thịnh trên đất Ấn. Thế nhưng sâu thẳm trong triết lý sống, văn hóa, sinh hoạt và thơ nhạc, người Ấn thể hiện tinh thần, tính chất và nội hàm của Đạo Phật rất nhiều. Biểu tượng trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath và ảnh hưởng của biểu tượng này đến đất nước và con người Ấn Độ cho đến ngày nay là một điển hình.

Hằng Như

“Ba anh em Dango”

Năm 1999 lần đầu tiên đến Nhật, mình tình cờ nghe bài hát “Dango 3 kyodai” (3 anh em nhà Dango). Lúc đó, đi đến đâu cũng nghe vang bài hát này. Khoảng thời gian này, bài hát “Dango 3 kyodai” đã trở thành cơn sốt ở Nhật, nhận được rất nhiều giải thưởng của hiệp hội âm nhạc Nhật Bản và được xem là “Song of the year” vào năm 1999! 😀

Hôm nay, xin được giới thiệu một chút với các bạn về ý nghĩa của “Dango” cũng như bài hát “Danyo 3 kyodai” này!

1) Ý nghĩa của Dango:

Mitarashi Dango
Mitarashi Dango

Dango nói chung là một loại bánh được làm bằng bột gạo luộc sau khi vo viên (có nơi còn cho thêm đậu phụ tươi, riêng ở Hokkaido người ta dùng bột khoai tây thay vì bột gạo) và thường được xiên vào que tre, uống với trà xanh. Dango cơ bản chỉ là viên bột luộc nhưng để tạo hương vị riêng, người Nhật đã sáng tạo ra các cách kèm dango với mùi vị như: bọc nhân bên trong, hay bọc bột bên trong, rưới nước sốt lên.

Dango được chia ra làm 2 loại chính: gốc xì dầu và không xì dầu. Những loại dango có gốc xì dầu được phân theo 2 loại: vị mặn ngọt và vị mặn. Dưới đây là vài loại Dango.

Nori Dango
Nori Dango

* Vị mặn ngọt có gốc xì dầu: được ưa thích và biết đến rộng rãi nhất là Mitarashi dango. Mitarashi dango là loại dùng nước sốt rưới lên. Mitarashi dango thường được bán trong những quầy hàng nhỏ ở các lễ hội, chợ đêm… Có nguồn gốc từ cố đô Kyoto, giờ đây Matarashi Dango đã trở thành một món ăn nhanh rất phổ biến ở Nhật.

* Vị mặn có gốc xì dầu: ít phổ biến hơn gồm có: Shoyu Dango (Dango ăn với xì dầu không), Nori Dango (Dango rong biển) và Wasabi Dango (Dango mù tạt).

* Anko Dango: Đây là loại Dango phổ biến nhất với mứt đậu đỏ và rất ngọt. Có 2 loại mứt đậu đỏ: mứt thô (hạt đậu không nghiền) và mứt tinh (hạt đậu được nghiền kỹ).

Anko Dango
Anko Dango

* Hanami Dango hay Sanshoku Dango: Đúng như tên gọi, loại dango này có 3 màu: hồng, trắng và xanh. Nó được gọi là Hanami Dango vì theo truyền thống người Nhật ăn loại Dango này vào mùa xuân khi ngắm hoa anh đào.

* Tsukimi Dango: Dango xếp thành hình kim tự tháp đặt trên khay ăn vào trung thu khi ngắm trăng, đôi khi được làm hình chú thỏ đáng yêu. 

Hanami Dango
Hanami Dango

2) Bài hát “Dango 3 kyodai”:

Dưới đây là video clip về bài hát “Dango 3 kyodai”. Mời các bạn thưởng thức.

Và để có thể hiểu được nội dung bài hát, mình xin được dịch sơ lược bài hát như dưới đây! 😀

“Dango được xiên vào que tre, 3 anh em Dango xếp thành 1 hàng,
3 anh em Dango được rưới xì dầu.
Trên cùng là anh cả, dưới cùng là em út,
Bị kẹp ở giữa là anh hai
Anh cả thì luôn nghĩ về em trai, em út thì nghĩ về anh trai, còn anh giữa cho mình là số một.
Nếu được sinh ra lần nữa thì chúng ước mong cả 3 sẽ được xiên cùng 1 que.
Nếu được thì lần này muốn thành Dango được trét đầy mứt đậu đỏ.
Vào một ngày, anh em cãi nhau chỉ vì việc ai chín vàng hơn ai, và thế là 3 anh em Dango rời nhau. Nhưng chúng nhanh chóng làm hòa lại với nhau.
Hôm nay 3 anh em Dango vào kệ tủ và ngủ trưa. Do ngủ quên, nên sáng dậy cả 3 đều bị khô cứng.
Mùa xuân đến thì ngắm hoa anh đào, mùa thu đến thì ngắm trăng. Cả năm đều là Dango, 3 anh em nhà Dango”

Loan Subaru
.

Chào mừng Ngày Quốc tế Lao động

1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)
1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)

Chào các bạn,

Ngày 1/5 là Ngày Quốc tế Lao Động, còn gọi là “Ngày Tháng Năm” (May Day). Đây là ngày lễ tại nhiều quốc gia trên thế giới, dành để tôn vinh lao động và gây dựng đoàn kết lao động trên thế giới.

Tại Mỹ và Canada, Ngày Lao Động là ngày Thứ hai đầu tiên của tháng 9. Cho năm nay (2009), Ngày Lao Động ở Mỹ và Canada là ngày 7 tháng 9. Ngày Lao Động tháng 9 này có nguồn gốc từ Canada. Ngày 3 tháng 9 năm 1872, một số nghiệp đoàn ở Canada biểu tình chống việc chính phủ bắt một số nhân công tuần hành “đòi tuần làm việc 58 giờ” trong một cuộc biểu tình trước đó vài tháng. Cuộc biểu tình tháng 9 thành công. Ngày 23.7.1894, thủ tướng Canada John Thompson ký sắc lệnh ấn định Ngày Lao Động trong tháng 9.

Tại Mỹ, kể tử ngày 5 tháng 9 năm 1882, nghiệp đoàn cũng đã bắt đầu tuần hành hàng năm vào đầu tháng 9 như ở Canada. Và năm 1894, năm Canada chính thức nhận Ngày Lao Động tháng 9, thống thống Mỹ Grover Celveland cũng chấp nhận Ngày Lao Động tháng 9 như Canada, để cạnh tranh với Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5, là ngày Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đã chọn là Ngày Quốc Tế Lao Động và được cả thế giới đồng ý.

Nhưng, lịch sử có nhiều chuyện buồn cười, và lãnh đạo thế giới đôi khi hành động như trẻ con :-), vì Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5 có nguồn gốc từ Mỹ !!

Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Khởi đầu với biến cố Haymarket, ngày Thứ ba, 4.5.1886, tại Quảng trường Haymarket ở Chicago. Ba ngày trước đó, 1.5.1886, hàng chục nghìn nhân công ở Chicago và các thành phố khác đã biểu tình đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Ngày 4/5, cảnh sát đàn áp, một trái nổ không biết ai ném, giết chết một nhân viên cảnh sát. 8 lãnh đạo nghiệp đoàn bị bắt. 7 người bị tuyên án tử hình và 1 người án tù 15 năm, dù là không có bằng chứng gì nối cuộc ném bom với các lãnh đạo nghiệp đoàn, và cho đến ngày nay người ta vẫn không xác minh được là ai đã ném bom. Hai người án tử hình sau đó được thống đốc bang Illinois giảm xuống thành án chung thân. Trước ngày tử hình, một người tự tử trong tù, 4 người bị đưa ra pháp trường.

Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Vụ án này làm giới lao động và báo chí nước Mỹ phẩn nộ, đưa đến nhiều đấu tranh của lao động ở Mỹ cũng như tại các nơi khác trên thế giới. Năm 1888, Hiệp Hội Lao Động Mỹ (AFL — American Federation of Labor) quyết đinh chọn ngày 1.5.1890 (kỷ niệm biến cố Haymarket) để biểu tình tranh đấu đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Năm 1889, chủ tịch AFL, Samuel Gompers, gửi một lá thư đến hội nghị đầu tiên của Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đang họp ở Paris, đề nghi một cuộc đấu tranh quốc tế cho “Ngày làm việc 8 tiếng.” Đệ Nhị Quốc Tế liền quyết định gọi một “cuộc biểu tình quốc tế vĩ đại” cùng một ngày trên khắp thế giới, vào ngày 1 tháng 5.

Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay
Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay

Chúng ta có thể đọc bài sau đây trên VietNamNet, viết ngày 1.5.2007.


Lịch sử ngày Quốc tế Lao động 1/5

(VietNamNet) – Hằng năm, người lao động trên toàn thế giới lại cùng nhau kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5. Tại Việt Nam, đây là một ngày mà mọi người dân ai ai cũng được nghỉ ngơi, vui chơi không phải làm việc. Tuy vậy, không phải ai cũng biết được lịch sử cũng như ý nghĩa trọng đại của ngày Quốc tế Lao động, nhất là các bạn trẻ thế hệ 8X, 9X.

Trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động, vấn đề thời gian lao động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.

Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland
Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland

Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ.

Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: “…Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ”. Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không kiếm cớ chối từ.

1.5.1948 New York City
1.5.1948 New York City

Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!” Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston… hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ làm 8 giờ.

Những cuộc biểu tình tại Chicago diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt… Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: “Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến như vậy”.

1.5.2008 New York City
1.5.2008 New York City

Ngày 20/6/1889, ba năm sau “thảm kịch” tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Frederic Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước.

Từ đó, ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Năm 1920, dưới sự phê chuẩn của Lê Nin, Liên Xô (cũ) là nước đầu tiên cho phép người dân được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng kiến này dần dần được nhiều nước khác trên thế giới tán thành.

Tại Việt Nam, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập – tự do – dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 1/5/1938, một cuộc biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi, nhà văn, nhà báo… Đây là cuộc mit-tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ (1936 – 1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo của Đảng ta.

Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của hai giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội.

L.A (dịch từ Internet)

Chúc các bạn một Ngày Quốc Tế Lao Động vui vẻ thoải mái, không lao động !

Mến,

Hoành