Category Archives: Văn Hóa

Trụ đá Asoka (Ấn độ) — Xuất xứ và ý nghĩa

asoka
Vua Asoka (304-232 trước tây lịch), một vị vua Ấn Độ, vốn hung tàn bạo ngược thống lãnh một vùng lãnh thổ lớn nhờ vào các cuộc chinh phạt mở mang bờ cõi liên tiếp thành công. Sau khi lên ngôi được 8 năm, vua Asoka mở cuộc chiến ở Kalinga (nay thuộc bang Orissa, Ấn Độ). Sau trận chiến Kalinga, phần thắng thuộc về vua Asoka, nhưng con số 100 000 người bị giết và 150 000 người bị bắt làm tù binh đã đánh thức vị vua này về sự tàn bạo và vô lý của chiến tranh. Mốc lịch sử này đánh dấu sự quay về với Đạo Phật của vua Asoka.

Từ khi quy y Tam Bảo, nhà vua trở nên người nhân từ, hiền lành và đem tâm ôn hòa nhân từ cai trị quần dân, dùng chính sách hòa bình và thành tín trong bang giao với các nước láng giềng theo tinh thần Phật pháp. Nhà vua thay tiếng trống trận bằng tiếng trống Pháp, coi việc chinh phục lòng dân bằng đạo đức là chiến thắng tối hậu. Nhờ thực hành chánh pháp, từ một bạo chúa, vua Asoka từ bỏ chính sách đàn áp xâm lăng và theo đuổi đường lối hòa bình đức trị. Nhà vua cho lập các bia đá và ghi vào đó những chủ trương của nhà vua, cùng những lời hay ý đẹp nhắc nhở về lối sống đạo đức, làm thiện, tránh ác cho dân chúng rồi cho đặt ở các nơi công cộng dễ thấy. Ví dụ ở bia ký số VI ghi rằng:

“Thiên tử, Vua Piyadasi phán rằng: Trong quá khứ, những việc khẩn trương hoặc các chứng từ không hề được đệ trình hoàng thượng thường xuyên. Nhưng nay trẫm ra lệnh này, với các việc như vậy, các quan có thể đến gặp trẫm bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, dù trẫm đang ăn, đang ở trong hậu cung, trong cấm cung, trên long xa, trong ngự giá, trong thượng uyển hay đang cầu nguyện. Và khi một ban bố hay tuyên dương bằng khẩu lệnh, hoặc vì quốc sự khẩn cấp trẫm ủy quyền cho các quan đại thần, mà gây nên sự bất đồng hay bàn cãi trong triều thì phải báo cho trẫm biết ngay, dù đang ở nơi đâu. Đó là mệnh lệnh của trẫm.

Trẫm không bao giờ bằng lòng với mình về những việc Trẫm làm. Trẫm cho rằng việc làm cho thần dân sống an ổn là nhiệm vụ cao cả nhất của trẫm, và cốt lõi của việc này là phải chính mình tận lực. Đối với trẫm, không có điều gì quan trọng hơn là đời sống an ổn của thần dân, và tất cả những nỗ lực của trẫm chỉ là trả nợ chúng sinh để mưu cầu hạnh phúc cho họ trong đời này và đạt đến thiên giới trong kiếp sau.

Vì vậy trẫm lệnh cho Pháp Dụ này được khắc ra. Mong pháp dụ này trường tồn và các con, cháu và chắt của trẫm noi theo vì sự an sinh cho mọi người. Tuy nhiên đây là một việc khó nếu không nhiệt tâm và tận lực.”

King Asoka's rock edict
King Asoka's rock edict

(Thus speaks the Beloved of the Gods, the king Piyadassi. In the past the quick dispatch of business and the receipt of reports did not take place at all times. But 1 have now arranged it thus. At all times, whether I am eating, or am in the women’s apartments, or in my inner apartments, or at the cattle-shed, or in my carriage, or in my gardens – wherever I may be, my informants should keep me in touch with public business. Thus everywhere I transact public business. And whatever I may order by word of mouth, whether it concerns a donation or a proclamation or whatever urgent matter is entrusted to my officers, if there is any dispute or deliberation about it in the Council, it is to be reported to me immediately, at all places and at all times.
This I have commanded. In hard work and the dispatch of business alone, I find no satisfaction. For I consider that I must promote the welfare of the whole world, and hard work and the dispatch of business are the means of doing so. Indeed there is no better work than promoting the welfare of the whole world. And whatever may be my great deeds, I have done them in order to discharge my debt to all beings. I work for their happiness in this life, that in the next they may gain heaven. For this purpose has this inscription of Dhamma been engraved. May it endure long. May my sons, grandsons, and great grandsons strive for the welfare of the whole world. But this is difficult without great effort.)

Hầu như tất cả 33 pháp dụ hiện có của vua Asoka đều có nội dung tích cực như vậy. Ngoài việc lập các pháp dụ ở nhiều nơi trên khắp lãnh thổ, một điều đặc biệt nữa là, sau khi quy y Phật giáo, vua Asoka đến chiêm bái Tứ Động Tâm – bốn di tích lịch sử gắn liền với các sự kiện chính trong cuộc đời Đức Phật. Đến đâu, nhà vua ra lệnh khắc bia đá để làm tưởng niệm đến đó. Các trụ đá, bia ký và pháp dụ Asoka còn lưu giữ tại các viện bảo tàng ngày nay là những dấu ấn ghi lại sự tôn kính, ngưỡng mộ Đức Phật và Đạo Phật của một vị vua thuần thành, một vị vua chủ trương cai quản quốc gia bằng tinh thần từ bi và hài hòa của Phật pháp.

Trị vì một lãnh thổ rộng hơn diện tích Ấn Độ bây giờ, đảm bảo đời sống thái bình thịnh vượng cho người dân, cai trị đất nước bằng đạo đức có thể nói là thành công vĩ đại nhất của vị vua Phật tử anh minh này. Hình ảnh vua Asoka trở thành biểu tượng lý tưởng cho những nhà lãnh đạo chân chính.

Trụ đá Asoka
Trụ đá Asoka
Chính vì chính sách quản lý và điều hành quốc gia của vua Asoka quá lý tưởng như vậy, ngay sau khi độc lập, biểu tượng đầu trụ đá bốn sư tử do vua Asoka dựng ở Sarnath được chọn làm quốc huy của Ấn Độ và một phần biểu tượng này được chọn làm một phần của lá cờ tổ quốc như một sự tri ân người xưa và khuyến khích người nay.

Trụ đá bốn đầu sư tử của vua Asoka

Trụ đá có bốn đầu sư tử được vua Asoka cho khắc dựng tại thánh địa ở Sarnath, khi nhà vua đến chiêm bái thánh tích này. Nơi đây, Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên và chính nơi đây, tăng đoàn đầu tiên được thành lập, Trụ đá này cao 50 feet (15.24 mét). Trên trụ đá có khắc chỉ dụ của vua Asoka rằng “không ai được gây chia rẽ trong tăng đoàn”. Nét đặc biệt của trụ đá Asoka ở Sarnath là đầu trụ được khắc bốn sư tử (các trụ đá ở nơi khác chỉ có một sư tử hoặc một con vật khác), dựa lưng vào nhau, đặt trên một trụ ngắn tròn. Trên bề mặt của trụ ngắn này có bốn bánh xe Pháp gồm 24 căm xen kẽ với bốn con vật xung quanh: một con voi, một con bò đực, một con ngựa và một con sư tử. Tiếp nối với đoạn hình trụ là đế bán cầu hình hoa sen dốc ngược.

banhxe Bốn đầu sư tử quay về bốn hướng chỉ cho chánh pháp của Đức Phật, từ vườn Lộc Uyển, nơi Ngài thuyết bài pháp đầu tiên và là nơi tạo dựng trụ đá này, được truyền bá khắp bốn phương. Bánh xe tượng trưng cho Phật pháp luân chuyển khắp mọi nơi mọi chốn. Sau này, các tổ chức Phật giáo chọn hình ảnh bánh xe pháp để trang trí, làm logo và biểu tượng cho tổ chức mình với ý nghĩa tương tự.

Bốn con vật trên trụ đá bốn đầu sư tử ở Sarnath được các nhà nghiên cứu giải thích là tượng trưng cho bốn giai đoạn trong cuộc đời của Đức Phật. Voi tượng trưng cho ý niệm về giấc mơ của hoàng hậu Maya, mẹ của thái tử Sĩ Đạt Ta (sau này là Đức Phật), Bà nằm mộng thấy coi voi trắng chui vào bên hông phải, rồi Bà thọ thai thái tử.

4 con vật và 4 bánh xe
4 con vật và 4 bánh xe
Con bò đực là tượng trưng cho sự sung mãn hạnh phúc trần gian khi Đức Phật còn là một thái tử sống trong hoàng cung. Con ngựa tượng trưng cho sự ra đi tìm đường giải thoát khỏi khổ đau cho nhân loại. Đêm vượt thành xuất gia, thái tử ra đi trên một con ngựa. Con sư tử tượng trưng cho cuộc đời hành đạo viên mãn của Đức Phật. Pháp Ngài truyền giảng như tiếng rống của sư tử đánh thức bao con người lìa bến mê sang bờ giác. Bốn đầu sư tử là biểu tượng cho những nền tảng căn bản của Phật pháp là chân lý, hoà bình, lòng khoan dung và lòng từ bi.

Bên cạnh cách giải thích có tính tôn giáo, một số người giải thích trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath theo cách phi tôn giáo. Theo cách giải thích này thì bốn đầu sư tử tượng trưng cho sự thống lãnh khắp bốn phương của vua Asoka. Bánh xe pháp tượng trưng cho cho sự lãnh đạo sáng suốt của vua Asoka và bốn con vật tượng trưng cho các lãnh địa của Ấn Độ thời bấy giờ dưới sự thống lãnh của vua Asoka. Dù giải thích bằng cách nào đi nữa, không ai phủ nhận một sự thật là vua Asoka, sau khi quay về quy y Tam Bảo và thực hành Phật pháp, đã áp dụng tinh thần Phật pháp để trị quốc an dân.

Hình ảnh trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath ngày nay được tìm thấy ở đâu?

Trụ đá nguyên thủy ở Sarnath và viện bảo tàng Sarnath

Trụ đá nguyên thủy
Trụ đá nguyên thủy

Trụ đá vua Asoka cho khắc dựng tại Sarnath được xác định là khoảng năm 250 trước tây lịch. Trụ đá ấy, qua năm tháng thời gian, đã bị gãy đổ. Phần thân trụ, còn bốn đoạn gãy và các mảnh vỡ, được lưu giữ ngay trên thánh địa nơi đánh dấu Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên, bắt đầu vận chuyển bánh xe chánh pháp. Các đoạn trụ này được bao bọc trong một rào chắn, có mái che, cùng trong khuôn viên thánh tích, cách tháp Dhamek (tháp do vua Asoka xây đồng thời với trụ đá) không xa. Đầu trụ là bốn đầu sư tử như đã mô tả ở trên, được lưu giữ tại viện bảo tàng Sarnath ngay gần khu thánh tích.

Quốc huy Ấn độ
Trên quốc huy Ấn Độ

Biểu tượng bốn đầu sư tử của trụ đá Asoka tại Sarnath được chọn làm quốc huy của đất nước Ấn Độ vào ngày Ấn Độ tuyên bố dân chủ, ngày 26 tháng 1 năm 1950. Phần đế nửa hoa sen dốc xuống được cắt đi, thay vào đó là hàng chữ văn tự Devanagari “Satyameva Jayate” nghĩa là “chỉ có chân lý là chiến thắng” (Truth Alone Triumphs). Trên quốc huy, hình chụp trụ đá thấy được ba đầu sư tử dựa vào nhau, đầu sư tử thứ tư bị khuất. Ba trong bốn bánh xe được nhìn thấy, một bánh xe ngay chính giữa và hai bánh xe hai bên. Bốn con vật trên trụ đá chỉ thấy được con ngựa bên trái và con bò đực bên phải. Voi và sư tử khuất đằng sau.

.

Trên tiền: Vì được chọn làm quốc huy, nên hình ảnh trụ đá sư tử Asoka bốn đầu này xuất hiện trên tiền giấy cũng như tiền cắc Ấn Độ. Ở tiền giấy, biểu tượng quốc huy xuất hiện ở góc dưới bên trái. Ở tiền cắc, biểu tượng này lớn hơn, nằm trên một mặt của đồng tiền.

Tiền Ấn độ
Tiền Ấn độ
Tiền cắc Ấn độ
Tiền cắc Ấn độ

Trên tem: biểu tượng quốc huy này cũng được chọn in trên tem thư.

Tem Ấn độ
Tem Ấn độ

Trên đầu giấy viết thư của các cơ quan nhà nước: Biểu tượng quốc huy xuất hiện trên tựa đề các đơn, thư của các cơ quan nhà nước.

Đầu thư chính phủ
Đầu thư chính phủ

Trên cơ sở của tổ chức chính quyền và các cơ sở ngoại giao của Ấn Độ ở nước ngoài

IndiaNationallogo

Trên hộ chiếu: như hộ chiếu của bao quốc gia khác, trang bìa hộ chiếu công dân Ấn Độ có biểu tượng quốc huy.

Hộ chiếu Ấn độ
Hộ chiếu Ấn độ

India flag
Trên cờ tổ quốc: Bánh xe Pháp Asoka trên đế trụ đá Sarnath được chọn đặt vào vị trí trung tâm của lá cờ tổ quốc từ năm 1947, khi Ấn Độ giành được độc lập. Cờ Ấn Độ có ba sọc ngang với ba màu vàng sậm, trắng và xanh biển, ở giữa là bánh xe 24 căm. Bánh xe Pháp này được đặt ở vị trí trung tâm lá cờ, chiếm ba phần tư (3/4) chiều cao phần màu trắng.

Rõ ràng, khi chọn đầu trụ đá bốn sư tử của Asoka, một vị vua Phật tử làm quốc huy của đất nước, các nhà lãnh đạo Ấn Độ muốn biểu dương và noi gương tinh thần trị quốc an dân bằng đạo đức của vị vua anh minh này nhằm hướng đến một xã hội thái bình, thịnh vượng. Ngày nay, trên bề mặt, Đạo Phật không còn hưng thịnh trên đất Ấn. Thế nhưng sâu thẳm trong triết lý sống, văn hóa, sinh hoạt và thơ nhạc, người Ấn thể hiện tinh thần, tính chất và nội hàm của Đạo Phật rất nhiều. Biểu tượng trụ đá bốn đầu sư tử của Asoka tại Sarnath và ảnh hưởng của biểu tượng này đến đất nước và con người Ấn Độ cho đến ngày nay là một điển hình.

Hằng Như

“Ba anh em Dango”

Năm 1999 lần đầu tiên đến Nhật, mình tình cờ nghe bài hát “Dango 3 kyodai” (3 anh em nhà Dango). Lúc đó, đi đến đâu cũng nghe vang bài hát này. Khoảng thời gian này, bài hát “Dango 3 kyodai” đã trở thành cơn sốt ở Nhật, nhận được rất nhiều giải thưởng của hiệp hội âm nhạc Nhật Bản và được xem là “Song of the year” vào năm 1999! 😀

Hôm nay, xin được giới thiệu một chút với các bạn về ý nghĩa của “Dango” cũng như bài hát “Danyo 3 kyodai” này!

1) Ý nghĩa của Dango:

Mitarashi Dango
Mitarashi Dango

Dango nói chung là một loại bánh được làm bằng bột gạo luộc sau khi vo viên (có nơi còn cho thêm đậu phụ tươi, riêng ở Hokkaido người ta dùng bột khoai tây thay vì bột gạo) và thường được xiên vào que tre, uống với trà xanh. Dango cơ bản chỉ là viên bột luộc nhưng để tạo hương vị riêng, người Nhật đã sáng tạo ra các cách kèm dango với mùi vị như: bọc nhân bên trong, hay bọc bột bên trong, rưới nước sốt lên.

Dango được chia ra làm 2 loại chính: gốc xì dầu và không xì dầu. Những loại dango có gốc xì dầu được phân theo 2 loại: vị mặn ngọt và vị mặn. Dưới đây là vài loại Dango.

Nori Dango
Nori Dango

* Vị mặn ngọt có gốc xì dầu: được ưa thích và biết đến rộng rãi nhất là Mitarashi dango. Mitarashi dango là loại dùng nước sốt rưới lên. Mitarashi dango thường được bán trong những quầy hàng nhỏ ở các lễ hội, chợ đêm… Có nguồn gốc từ cố đô Kyoto, giờ đây Matarashi Dango đã trở thành một món ăn nhanh rất phổ biến ở Nhật.

* Vị mặn có gốc xì dầu: ít phổ biến hơn gồm có: Shoyu Dango (Dango ăn với xì dầu không), Nori Dango (Dango rong biển) và Wasabi Dango (Dango mù tạt).

* Anko Dango: Đây là loại Dango phổ biến nhất với mứt đậu đỏ và rất ngọt. Có 2 loại mứt đậu đỏ: mứt thô (hạt đậu không nghiền) và mứt tinh (hạt đậu được nghiền kỹ).

Anko Dango
Anko Dango

* Hanami Dango hay Sanshoku Dango: Đúng như tên gọi, loại dango này có 3 màu: hồng, trắng và xanh. Nó được gọi là Hanami Dango vì theo truyền thống người Nhật ăn loại Dango này vào mùa xuân khi ngắm hoa anh đào.

* Tsukimi Dango: Dango xếp thành hình kim tự tháp đặt trên khay ăn vào trung thu khi ngắm trăng, đôi khi được làm hình chú thỏ đáng yêu. 

Hanami Dango
Hanami Dango

2) Bài hát “Dango 3 kyodai”:

Dưới đây là video clip về bài hát “Dango 3 kyodai”. Mời các bạn thưởng thức.

Và để có thể hiểu được nội dung bài hát, mình xin được dịch sơ lược bài hát như dưới đây! 😀

“Dango được xiên vào que tre, 3 anh em Dango xếp thành 1 hàng,
3 anh em Dango được rưới xì dầu.
Trên cùng là anh cả, dưới cùng là em út,
Bị kẹp ở giữa là anh hai
Anh cả thì luôn nghĩ về em trai, em út thì nghĩ về anh trai, còn anh giữa cho mình là số một.
Nếu được sinh ra lần nữa thì chúng ước mong cả 3 sẽ được xiên cùng 1 que.
Nếu được thì lần này muốn thành Dango được trét đầy mứt đậu đỏ.
Vào một ngày, anh em cãi nhau chỉ vì việc ai chín vàng hơn ai, và thế là 3 anh em Dango rời nhau. Nhưng chúng nhanh chóng làm hòa lại với nhau.
Hôm nay 3 anh em Dango vào kệ tủ và ngủ trưa. Do ngủ quên, nên sáng dậy cả 3 đều bị khô cứng.
Mùa xuân đến thì ngắm hoa anh đào, mùa thu đến thì ngắm trăng. Cả năm đều là Dango, 3 anh em nhà Dango”

Loan Subaru
.

Chào mừng Ngày Quốc tế Lao động

1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)
1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)

Chào các bạn,

Ngày 1/5 là Ngày Quốc tế Lao Động, còn gọi là “Ngày Tháng Năm” (May Day). Đây là ngày lễ tại nhiều quốc gia trên thế giới, dành để tôn vinh lao động và gây dựng đoàn kết lao động trên thế giới.

Tại Mỹ và Canada, Ngày Lao Động là ngày Thứ hai đầu tiên của tháng 9. Cho năm nay (2009), Ngày Lao Động ở Mỹ và Canada là ngày 7 tháng 9. Ngày Lao Động tháng 9 này có nguồn gốc từ Canada. Ngày 3 tháng 9 năm 1872, một số nghiệp đoàn ở Canada biểu tình chống việc chính phủ bắt một số nhân công tuần hành “đòi tuần làm việc 58 giờ” trong một cuộc biểu tình trước đó vài tháng. Cuộc biểu tình tháng 9 thành công. Ngày 23.7.1894, thủ tướng Canada John Thompson ký sắc lệnh ấn định Ngày Lao Động trong tháng 9.

Tại Mỹ, kể tử ngày 5 tháng 9 năm 1882, nghiệp đoàn cũng đã bắt đầu tuần hành hàng năm vào đầu tháng 9 như ở Canada. Và năm 1894, năm Canada chính thức nhận Ngày Lao Động tháng 9, thống thống Mỹ Grover Celveland cũng chấp nhận Ngày Lao Động tháng 9 như Canada, để cạnh tranh với Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5, là ngày Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đã chọn là Ngày Quốc Tế Lao Động và được cả thế giới đồng ý.

Nhưng, lịch sử có nhiều chuyện buồn cười, và lãnh đạo thế giới đôi khi hành động như trẻ con :-), vì Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5 có nguồn gốc từ Mỹ !!

Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Khởi đầu với biến cố Haymarket, ngày Thứ ba, 4.5.1886, tại Quảng trường Haymarket ở Chicago. Ba ngày trước đó, 1.5.1886, hàng chục nghìn nhân công ở Chicago và các thành phố khác đã biểu tình đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Ngày 4/5, cảnh sát đàn áp, một trái nổ không biết ai ném, giết chết một nhân viên cảnh sát. 8 lãnh đạo nghiệp đoàn bị bắt. 7 người bị tuyên án tử hình và 1 người án tù 15 năm, dù là không có bằng chứng gì nối cuộc ném bom với các lãnh đạo nghiệp đoàn, và cho đến ngày nay người ta vẫn không xác minh được là ai đã ném bom. Hai người án tử hình sau đó được thống đốc bang Illinois giảm xuống thành án chung thân. Trước ngày tử hình, một người tự tử trong tù, 4 người bị đưa ra pháp trường.

Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Vụ án này làm giới lao động và báo chí nước Mỹ phẩn nộ, đưa đến nhiều đấu tranh của lao động ở Mỹ cũng như tại các nơi khác trên thế giới. Năm 1888, Hiệp Hội Lao Động Mỹ (AFL — American Federation of Labor) quyết đinh chọn ngày 1.5.1890 (kỷ niệm biến cố Haymarket) để biểu tình tranh đấu đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Năm 1889, chủ tịch AFL, Samuel Gompers, gửi một lá thư đến hội nghị đầu tiên của Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đang họp ở Paris, đề nghi một cuộc đấu tranh quốc tế cho “Ngày làm việc 8 tiếng.” Đệ Nhị Quốc Tế liền quyết định gọi một “cuộc biểu tình quốc tế vĩ đại” cùng một ngày trên khắp thế giới, vào ngày 1 tháng 5.

Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay
Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay

Chúng ta có thể đọc bài sau đây trên VietNamNet, viết ngày 1.5.2007.


Lịch sử ngày Quốc tế Lao động 1/5

(VietNamNet) – Hằng năm, người lao động trên toàn thế giới lại cùng nhau kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5. Tại Việt Nam, đây là một ngày mà mọi người dân ai ai cũng được nghỉ ngơi, vui chơi không phải làm việc. Tuy vậy, không phải ai cũng biết được lịch sử cũng như ý nghĩa trọng đại của ngày Quốc tế Lao động, nhất là các bạn trẻ thế hệ 8X, 9X.

Trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động, vấn đề thời gian lao động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.

Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland
Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland

Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ.

Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: “…Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ”. Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không kiếm cớ chối từ.

1.5.1948 New York City
1.5.1948 New York City

Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!” Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston… hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ làm 8 giờ.

Những cuộc biểu tình tại Chicago diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt… Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: “Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến như vậy”.

1.5.2008 New York City
1.5.2008 New York City

Ngày 20/6/1889, ba năm sau “thảm kịch” tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Frederic Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước.

Từ đó, ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Năm 1920, dưới sự phê chuẩn của Lê Nin, Liên Xô (cũ) là nước đầu tiên cho phép người dân được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng kiến này dần dần được nhiều nước khác trên thế giới tán thành.

Tại Việt Nam, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập – tự do – dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 1/5/1938, một cuộc biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi, nhà văn, nhà báo… Đây là cuộc mit-tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ (1936 – 1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo của Đảng ta.

Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của hai giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội.

L.A (dịch từ Internet)

Chúc các bạn một Ngày Quốc Tế Lao Động vui vẻ thoải mái, không lao động !

Mến,

Hoành

Chè Hoa

trahoa1
Chè Hoa (Scented tea) hay còn gọi Chè Xông Hoa, Chè Hương Hoa, Chè Ướp Hoa, là một trong những loại chè đặc biệt của Trung Quốc, được ướp từ Trà Xanh, Hồng Trà, Trà Ô Long với các loại hoa tươi khác nhau, vì vậy chè được mang tên của các loại hoa. Hiện được sản xuất nhiều tại các tỉnh Phúc Kiến, Giang Tô, Triết Giang, Quảng Tây, Tứ Xuyên, An Vĩ, Hồ Nam, Giang Tây, Hồ Bắc, Vân Nam…

Nguồn gốc của Chè Hoa

1) Nguồn gốc từ Triều Tống (Công Nguyên năm 960): Trong sử sách có lưu truyền lại rằng một trong những vật cống cho Vua Quan thường được chọn thời đó là loại Trà Xanh thượng đẳng được ướp với Hương Long Não (một loại hương liệu), nhưng đến cuối đời Tống do một vài quan niệm cho rằng Hương Long Não ảnh hưởng đến mùi vị thật của Chè do đó đã có những quy đinh cấm người dân không được dùng các loại hương liệu để ướp chè.

trahoa3

2) Được bắt đầu từ Triều Minh: Dựa vào những ghi chép tỉ mỉ được lưu lại thì những năm 1564-1639 là thời kỳ các loại chè của Trung Quốc phát triển một cách rầm rộ, trong đó cách ướp Chè Hoa được cải tiến một cách vượt bậc. Loại Hoa thường được chọn để ướp là Hoa Nhài, Hoa Hồng, Hoa Mai, Hoa Cúc, Hoa Bo Bo, Hoa Sen… Các Hoa được chọn để ướp phải là những hoa vẫn chưa nở (vì lúc đó nhụy hoa vẫn giữ nguyên vị thơm của mình). Lượng hoa được dùng để ướp dựa vào lượng chè, vì hoa nhiều quá thì mùi chè sẽ bị nồng, hoa ít quá sẽ không thơm, do đó thường là ba phần chè một phần hoa.

trahoa4

Cách ướp chè thì lại tùy thuộc vào từng loại hoa khác nhau mà thay đổi. Ví dụ 1: Cách ướp(木樨花) Hoa Mộc(?) là trước khi cho Hoa vào bình sứ phải ngắt hết cuống hoa, làm sạch bụi bẩn và đuổi côn trùng bám trên Hoa. Đầu tiên đổ một lớp Chè mỏng vào bình sứ, sau đó đổ một lớp hoa 木樨花 lên trên… xen kẽ cho đến khi đầy bình, dùng loại giấy trúc bịt kín miệng, cho bình sứ vào trong nồi đất hấp nóng lên, sau đó lấy ra để nguội, rồi dùng một miếng giấy bọc chỗ chè hoa này lại đem sấy khô lên là có thể dùng được.

trahoa5

Ví dụ 2: Cách ướp chè Hoa Sen (莲花茶): Đợi đến lúc mặt trời đã lặn, chọn những bông sen to vẫn chưa nở, tách các cánh sen ra rồi đổ chè xanh lên trên nhụy hoa, úp các cánh sen lại và dùng dây buộc chặt, đến sáng hôm sau ngắt toàn bộ số Sen đó và đổ phần Chè Xanh đã được ướp vào một tờ giấy, đem bọc kín lại và sấy khô lên, sau đó lại đem phần chè đã sấy khô đổ vào một bông Sen khác để ướp… ướp và sấy lặp đi lặp lại ít nhất 3 lần là có thể dùng được.

Từ những ghi chép này ta có thể thấy cách ướp chè, cách chọn nguyên liệu, lượng hoa được dùng, số lần ướp, số lần sấy khô… có rất nhiều điểm tương đồng với công nghệ sản xuất Chè Hoa hiện nay.

trahoa6

3) Được hình thành từ Triều Thanh: Sử sách có ghi chép từ những năm(1851-1861) tại Phúc Châu đã hình thành những xưởng thủ công chế biến Chè với quy mô lớn. Một vài xưởng lớn như Tràng Lạc Bang, Đại Sinh Phúc, Lí Tường Xuân… đã vận chuyển Chè Hoa Nhài đến phía Bắc, đầu tiên là một vài vùng lớn như Thiên Tân, Bắc Kinh, sau đó lan dần ra các vùng khác, và cho đến bây giờ đã trở thành một trong những loại chè thượng hạng của Trung Quốc.

Kiều Tố Uyên
DSH, Hồ Nam, Trung Quốc

Câu chúc lành của người Ireland

irishblessing

Mong con đường vươn lên để gặp bạn
Mong gió luôn ở phía sau lưng bạn thổi tới
Mong mặt trời chiếu sáng ấm áp trên khuôn mặt bạn
Những đợt mưa nhẹ rơi trên cánh đồng của bạn.
Và tới khi chúng ta gặp lại nhau.
Cầu Chúa gìn giữ bạn trong bàn tay của Ngài.
Cầu Chúa ở cùng bạn, và ban phước cho bạn
Mong bạn trông thấy con cái của các con của bạn.
Mong bạn ít gặp sự không may,
Giàu ơn phước
Mong bạn không biết gì ngoài hanh phúc
Từ hôm nay trở đi. Mong con đường vượt lên để gặp bạn.
Mong gió ở phía sau lưng bạn thổi tới
Mong những tia nắng ấm của mặt trời chiếu xuống nhà bạn
Và mong cánh tay của một người bạn luôn ở gần bạn.
Mong cỏ xanh là vạt cỏ bạn bước lên.
Mong trời xanh là bầu trời trên đầu bạn
Mong thuần khiết là niềm vui sướng quanh bạn
Mong thật tâm là những trái tim yêu bạn

Nguyễn Minh Hiển dịch

irishblessing1

Irish blessing

May the road rise to meet you,
May the wind be always at your back.
May the sun shine warm upon your face,
The rains fall soft upon your fields.
And until we meet again,
May God hold you in the palm of his hand.
May God be with you and bless you:
May you see your children’s children.
May you be poor in misfortune,
Rich in blessings.
May you know nothing but happiness
From this day forward.May the road rise up to meet you
May the wind be always at your back
May the warm rays of sun fall upon your home
And may the hand of a friend always be near.
May green be the grass you walk on,
May blue be the skies above you,
May pure be the joys that surround you,
May true be the hearts that love you.
.

Thánh ca Câu chúc lành
.

Khantoke

khantoke1Khantoke là một trong những di sản văn hóa của miền Bắc Thái Lan. Cho đến ngày nay, Khantoke vẫn được dùng để gọi tên của những bữa ăn trưa hay tối do chủ nhà tự tay làm để mời khách vào những dịp lễ tết hay kỷ niệm như lễ cưới, khánh thành nhà mới, mừng sinh nhật, tiệc mừng thăng chức, mừng thọ. 

 

Bệ đặt khay trong bữa ăn Khantoke thường là những chiếc bàn tròn, thấp, chân gắn vào đáy tròn của khay. Khay ăn Khantoke (đôi khi được gọi tắt là toke) ban đầu được làm từ những khúc gỗ tếch rỗng, tiện và khắc bằng máy. Đôi khi người ta cũng dùng cả tre và mây để thay cho gỗ tếch, do đó những chiếc khay ăn Khantoke được làm từ tre, mây và phủ một lớp sơn mài giờ đây đã trở nên rất phổ biến ở Thái. khantoke21 Điểm thú vị ở những bữa ăn truyền thống Khantoke là sự kết hợp của những vũ điệu cổ điển cùng âm nhạc và những món ăn tuyệt hảo. Các vũ điệu Thái như một sự phơi bày những cảm xúc trong muôn vàn ý thơ. Xuất phát từ vũ điệu hoàng cung của vua Siam, những vũ điệu này đã lan rộng đến tận những nước phương đông như kinh đô Angkor của Khmer và được các vũ công biểu diễn thành công, làm toát lên được vẻ cao quý, trang trọng. 

Bạn phải dùng tay vê một ít xôi đặt trong những giỏ tre đan thành những viên nhỏ, tròn. Sau đó, nhúng những nắm xôi này vào đĩa đựng các món ăn chính. Khi ăn, bạn không nên đưa cả tay vào miệng, như vậy sẽ rất bất lịch sự và làm mất đi sự tao nhã của bữa ăn. Sau khi ăn hết, rửa sạch tay và vê những nắm xôi tiếp theo. Tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp địa vị trong xã hội cùng nhau ăn theo cách ăn truyền thống này trong các bữa ăn kỉ niệm lễ hội văn hóa hay các bữa tiệc gia đình. Chính điều đó đã khiến cho cách ăn này trở nên dễ dàng hơn và thêm phần thanh lịch hơn. 

khantoke-danceKhi các thực khách đã dùng được nửa bữa ăn của mình, ban nhạc cổ điển sẽ hòa tấu cho đoàn vũ công biểu diễn trong những trang phục đẹp mắt, hoặc đôi khi là những diễn viên múa. Đó là những vũ điệu rất riêng của miền Bắc Thái Lan, hoàn toàn khác biệt so với những vũ điệu vẫn được trình diễn ở Angkor hay Ayutthaya, và được bắt nguồn từ lịch sử, nền văn hóa, từ lối sống của người dân khu vực này. Chương trình biểu diễn trở nên đặc sắc hơn khi các vũ công hướng dẫn các thực khách nhảy và mời họ cùng tham gia, tạo một không khí đầm ấm, thân mật vui vẻ cho đoạn kết của chương trình.

Loan Subaru

 

Bồ Đề đạo tràng– Bihar, Ấn Độ

Bodh Gaya, Bồ Đề đạo tràng, tại Bihar, Ấn Độ là nơi linh thiêng nhất của Phật giáo trong danh sách Di Sản Văn HóaThế Giới. Nơi đây, dưới cội bồ đề, hơn 25 thế kỷ về trước, thái tử Siddartha Gotama, đạt giác ngộ thành Phật.

Vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, vua Asoka, người có công rất lớn trong việc chấn hưng và quảng bá Phật giáo, đã xây một đền thờ nơi đây.

Sau nhiều ngàn năm, nó trở thành hùng vĩ hơn, và ngày nay là trung tâm hành hương của tín đồ Phật giáo khắp thể giới, cũng như nơi tham quan cho các du khách yêu văn hóa. Cây Bồ Đề đức Phật đã ngồi tu vẫn còn đó cho đến ngày nay.

Click vào ảnh để xem video.

Nguồn gốc Vịt quay Bắc Kinh

beijingkaoya
Vịt Quay Bắc Kinh, ở Mỹ gọi là Peking Duck, là món khoái khẩu của Goerge Bush bố và George Bush con. Tại nhà hàng Peking Gourmet Inn ngoài rìa thủ đô Washington, mỗi lần Bush bố hay Bush con đến là khỏi phải gọi món ăn. Nhân viên nhà hàng biết món ăn khoái khẩu của 2 vị, trong đó có Vịt quay Bắc Kinh. (Tdhoanh chú thích)

Vịt quay Bắc Kinh đã có lịch sử rất lâu đời và được người dân Trung Quốc mệnh danh là món ăn số một thiên hạ. Món ăn này đặc biệt được ưa chuộng trong cung đình Đại Thanh. Còn bây giờ thì đã là một thương hiệu nổi tiếng trong các món ăn của người Trung Quốc. Vịt Bắc Kinh thuộc loại thủy cầm, thịt mềm, mùi vị thơm, chứa nhiều chất dinh dưỡng và đặc biệt là chứa Unsaturated fatty acid, một chất rất tốt với hệ tim mạch. Trong da của Vịt còn chứa một hàm lượng cao Collagen protein có tác dụng làm đẹp. Do đó,vịt quay Bắc Kinh được coi là món ăn bảo vệ cho sức khỏe của người già cũng như trẻ em.

pekingduck
Truyền thuyết nguồn gốc Vịt quay Bắc Kinh

Đến tận bây giờ người ta vẫn không xác định được nguồn gốc rõ ràng của Vịt quay Bắc Kinh. Đại thể gồm 4 loại truyền thuyết khác nhau:

1. Người Hàng Châu( Đại Nguyên) cho rằng Thời Nam Tống có rất nhiều tiệm ăn Lâm An được gây dựng lên, và dịch vụ ăn uống thời đó rất thịnh hành. Lâm An nổi tiếng bởi món vịt nướng của mình,vì vịt ở đây thường được lấy từ vùng sông nước Chiết Giang và được nướng một cách rất công phu. Khi Nguyên diệt Tống ,đã có rất nhiều người làm thuê cho Lâm An bị bắt làm tù binh, trong đó có rất nhiều người là đầu bếp, từ đó món vịt nướng đã được lưu truyền đến Bắc Kinh. Trải qua nhiều thời đại khác nhau và đến giờ được cải biến thành Vịt quay Bắc Kinh, món ăn yêu thích của rất nhiều người.

2. Người Nam Kinh (Đại Minh) cho rằng từ khi Chu Minh lập thủ phủ tại Nam Kinh, thì Nam Kinh đã nổi tiếng bởi các món vịt muối, vịt giòn, vịt sấy , vịt nướng, vịt trăm vị… Khi thủ phủ được chuyển đến Bắc Kinh thì các món vịt của Nam Kinh cũng được lưu truyền đến đó, do đó món vịt nướng có nguồn gốc từ Nam Kinh .

pekingduck1
3. Người Bắc Kinh thì cho rằng 800 năm về trước, khi Kim triều dựng thủ phủ tại Bắc Kinh, thời đó Bắc Kinh là một vùng rừng núi rậm rạp, có nhiều kênh rạch, mương ngòi bao quanh nên chim chóc hội tụ sinh sống tại đây rất nhiều, đặc biệt là loài vịt trắng. Loại vịt này đầu tiên chỉ được người dân săn bắn rồi chuyển vào cung đình để chế biến món ăn phục vụ cho vua quan, về sau thì người dân đã bắt về nuôi và thuần hóa thành vịt ngày nay .Có rất nhiều cách chế biến, quay khác nhau, nhưng đến giờ đã thống nhất thành một quy trình nhất định và hiện giờ thì Vịt quay Bắc Kinh đã trở thành một thương hiệu rất nổi tiếng .

4. Người Tây An thì cho rằng món vịt quay có từ triều đại Đường, Võ Tắc Thiên lập ra chính sách Chu để trị nước ( Công Nguyên năm 690). Trong cuộc bắn cung hạ Hạc đọ tài của Trương Dị (một quần thần rất được sùng ái của Võ Tắc Thiên) với em trai của mình là Trương Xương thì Trương Dị đã bắn hạ được rất nhiều vịt trắng và ngỗng trời. Trương Dị đã đem toàn bộ số vịt và ngỗng săn bắn được nhốt vào một cái cũi sắt to, sau đó dùng than củi thiêu bên dưới, khi lửa bốc lên thì toàn bộ số vịt đều chạy đi chạy lại cho đến khi bị thui trụi lông và thiêu chết. Trương Dị đã lấy vịt nướng được mời Võ Tắc Thiên nếm thử và cũng từ đó món vịt nướng trở thành món ăn yêu thích trong cung đình .

Kiếu Tố Uyên
DHS, Hồ Nam, Trung Quốc

Eric Lewis — Bùng nổ trên phím piano

Nhạc sĩ Piano Eric Lewis đang đẩy bước chuyển hóa kế tiếp của nhạc Jazz — trộn những nốt nhạc blues cổ điển, với những đường nhạc tự do (improvisations) tế nhị, và những âm điệu của nhạc “Rock thay đổi” (alternative rock hay alt rock), trình tấu như một tín đồ hoàn toàn ngây ngất trong thánh linh.

Trong video này, Eric Lewis trình diễn bản “Going Under” của Evanescence, với ngọn lửa bùng nổ trên phím dương cầm !!
.

Rượu trong hôn lễ của người Hoa

chinesewedding
Chào các bạn,

Chị Kiều Tố Uyên, tức là Yuan, có nói chuyện với mình mấy hôm nay trên dotchuoinon. Bài này Tố Uyên gởi đến sau khi mình mời Tố Uyên viết trong cuộc đối thoại.

Tố Uyên, từ Gia Lâm, Hà Nội, là du học sinh ở Trung Quốc. Tố Uyên hiện đang theo học thạc sĩ về chuẩn đoán hình ảnh y học. Hiện giờ Tố Uyên là nghiên cứu sinh năm 1 của trường XiangYa school of Medicine, Central South University, Hồ Nam.

Cám ơn Tố Uyên rất nhiều. Cứ tiếp tục vậy nhé. Chúng ta cũng cần biết thêm rất nhiều về văn hoá của các quốc gia láng giềng. Nếu các bạn có người thân hay bạn bè ở các nước có thể chia sẻ hiểu biết văn hóa với tất cả các anh chị em chúng ta, mong các bạn chuyển lời mời của mình đến các bạn ấy. Mọi người cứ liên hệ trực tiếp với mình về tdhoanh@gmail.com. Vấn đề này lớn hơn và quan trọng hơn bản thân Đọt Chuối Non. Đây là gia tăng hiểu biết của chúng ta về các dân tộc anh em láng giềng.

Cám ơn Tố Uyên. Chúc Tố Uyên và các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành.

chinesewedding7
Rượu trong hôn lễ của người Hoa

女儿酒 (Nữ Nhi Tửu) của người phía Nam Trung Quốc: Người Phương Nam khi sinh con gái mới được vài tuổi đã bắt đầu dạy con tự ủ rượu. Rượu ủ được đem chôn sâu dưới đất đợi đến khi con gái đến tuổi gả chồng sẽ đươc đào lên để mời khách uống. Loại rượu này đã được truyền bá rộng rãi và hiện giờ trở thành một trong những loại rượu nổi tiếng của Trung Quốc với tên “花雕酒”(Rượu Chạm Hoa). Chất rượu không khác gì so với các loại rượu thông thường khác, chỉ đặc biệt ở cái hũ đựng rượu. Loại hũ này khi vẫn còn chôn sâu trong lòng đất đã được chạm khắc các hình cây cỏ, chim chóc, núi non…và khi được đào lên sẽ được trang trí thêm bởi nhiều màu sơn khác nhau .

chineseweddingwine
交杯酒 (Tục tráo cốc rượu): Đây là một nghi lễ truyền thống trong lễ cưới của người dân Trung Quốc, có từ đời Đường và đến đời Tống thì thịnh hành. Dùng chỉ mầu thắt thành nút đồng tâm nối hai cốc rượu lại với nhau. Trong đêm động phòng chú rể sẽ ngồi phía bên trái cô dâu, người chủ trì (thường chọn một phụ nữ trung tuổi có phúc khí tốt), và một đôi nam nữ trẻ (đại diện cho người đưa dâu và người đón dâu) sẽ đứng đối diện với Tân Lang và Tân Nữ. Đôi nam nữ này dưới sự chỉ đạo của người chủ trì sẽ múc bánh trôi nước cho tân lang và tân nữ, sau đó rót đầy hai cốc rượu (rượu được chọn thường là rượu Chạm Hoa ) để mời tân lang và tân nữ. Mỗi người sẽ chỉ nhấp một chút, rượu còn thừa sẽ được đổ lẫn vào nhau rồi phân thành hai cốc nhằm ngụ ý “Trong anh có em, trong em có anh.” Khi uống rượu thì tân lang va tân nữ sẽ ngoặc hai cánh tay lại với nhau để biểu thị sự gắn bó lâu dài.

chineseweddingteaforparents

谢亲席 (Lễ tạ ơn Cha Mẹ) của người dân tộc Mãn: Gia đình nhà trai trước lễ cưới một ngày sẽ phải chuẩn bị một trác rượu đặt trong một hộp lễ. Sau đó nhà trai cho người đại diện khiêng đến nhà gái để tạ ơn công nuôi dưỡng của gia đình ngà gái. Ngoài ra cũng phải chuẩn bị một trác rượu cho “Lễ tạ ơn bà mối” (谢媒席) để tỏ lòng biết ơn.

接风酒 (Tiếp Phong Tửu–Rượu đãi khách, hay còn có nghĩa là rượu nhập môn ) và 出门酒 (Rượu xuất môn) của người Đạt Oát Nhĩ : Đại diện bên nhà gái đến nhà trai sẽ được Cha mẹ chú rể tận tay rót đầy hai cốc rượu, gọi là “rượu đãi khách ” hay “rượu nhập môn”. Người được mời phải uống hết rượu, ngụ ý đã là người chung một nhà. Sau hôn lễ, nếu gia đình nhà gái ở xa thì thường lưu lại nhà thông gia một đêm đến sáng hôm sau thì về. Khi tiễn bên dâu gia (nhà gái), ông bà thông gia thường đứng phía trong sát cánh cửa, kính cẩn mời khách uống “rượu xuất môn”.

chinesewedding8
回门酒 (Rượu hồi môn): Ngày thứ hai sau lễ cưới, tân lang và tân nữ sẽ phải 回门 (hồi môn ), tức về nhà gái để thăm hỏi cha me, và bên nhà gái sẽ phải chuẩn bị sẵn “Rượu hồi môn” để đón hai người. Rượu hồi môn chỉ gồm bữa ăn trưa do đó tân lang tân nữ không đươc phép ngủ lại .

会亲酒 (Rượu gặp mặt): Loại rượu này được dùng trong lễ đính hôn,sau khi uống 会亲酒 , có nghĩa là việc hôn nhân đã được định đặt và có hiệu lực, do đó cả bên nam hoặc bên nữ đều không được phép tự ý hủy hôn ,từ hôn.

Kiều Tố Uyên

I’m a believer — The Monkees

themonkees

The Monkees là môt ban nhạc 4 người, thành lập năm 1966 tại Los Angeles để đóng một chương trinh nhạc kịch hàng tuần trên TV. Nhóm này có 4 người–Micky Dolenz, Davy Jones, Michael Nesmith, và Peter Tork. Chương trình TV chỉ sống được 3 năm, 1966-1968, nhưng The Monkees đã nổi tiếng như một ban nhac trẻ trình diễn sống, ngoài việc đóng nhạc kịch trên TV. Có một năm nào đó trong thập niên 70s, một cuốn phim của The Monkees đã được chiếu ở Sài Gòn như là phim hài ngày Tết.

Trong thập niên 1980s các chương trình TV và nhạc của The Monkees ăn khách trở lại ở Mỹ. Ngày nay một vài đài truyền hình tại Mỹ thỉnh thoảng có chiếu lại các chương trình cũ của The Monkees.

Hiện nay The Monkees vẫn có website để liên lạc thường xuyên với fans.

Bản nhạc I’m believer là một bản nhạc rất nổi tiếng, và ngày nay vẫn còn nghe thường xuyên trên các đài radio nhạc rock nhẹ.

I’m A Believer

I thought love was
Only true in fairy tales
Meant for someone else
But not for me
Love was out to get me
That’s the way it seems
Disappointment haunted
All my dreams

And then I saw her face
Now I’m a believer
Not a trace
Of doubt in my mind
I’m in love
I’m a believer
I couldn’t leave her
If I tried

I thought love was
More or less a given thing
The more I gave the less
I got, oh yeah
What’s the use in trying
All you get is pain
When I needed sunshine
I got rain

And then I saw her face
Now I’m a believer
Not a trace
Of doubt in my mind
I’m in love
I’m a believer
I couldn’t leave her
If I tried

What’s the use in trying
All you get is pain
When I wanted sunshine
I got rain

And then I saw her face
Now I’m a believer
Not a trace
Of doubt in my mind
I’m in love
I’m a believer
I couldn’t leave her
If I tried

Then I saw her face
Now I’m a believer
Without a trace
Of doubt in my mind
Now I’m a believer
Yeah, yeah, yeah
Yeah, yeah, yeah
I’m a believer
Then I saw her face
I’m a believer
Not a trace
Of doubt in my mind
I’m a believer

Composed by: Neil Diamond
The Monkees

.

Tôi là một tín đồ

Tôi hằng nghĩ rằng
Tình yêu chỉ có trong truyện cổ tích
Cho người khác
Không phải cho tôi
Tình yêu cứ đi hành tôi
Hình như nó là vậy
Thất vọng ám ảnh
Các giấc mơ của tôi

Và rồi tôi thấy mặt nàng
Bây giờ tôi là một tín đồ
Chẳng một dấu vết
Nghi ngờ nào trong đầu
Tôi đang yêu
Tôi là một tín đồ
Tôi không rời nàng được
Dù nếu tôi cố rời.

Cố gắng đề làm gì
Chỉ đớn đau thôi
Khi tôi cần nắng
Tôi gặp mưa

Và rồi tôi thấy mặt nàng
Giờ đây tôi là một tín đồ
Chẳng một dấu vết
Nghi ngờ nào trong đầu
Tôi đang yêu
Tôi là một tín đồ
Tôi không rời nàng được
Dù nếu tôi cố rời.

Và rồi tôi thấy mặt nàng
Giờ đây tôi là một tín đồ
Chẳng một dấu vết
Nghi ngờ nào trong đầu
Tôi là một tín đồ
Vâng, vâng, vâng
Vâng, vâng, vâng
Tôi là một tín đồ
Rồi tôi thấy mặt nàng
Tôi là một tín đồ
Chẳng một dấu vết
Nghi ngờ nào trong đầu
Tôi là một tín đồ

Và rồi tôi thấy mặt nàng
Giờ đây tôi là một tín đồ
Chẳng một dấu vết
Nghi ngờ nào trong đầu
Tôi đang yêu
Tôi là một tín đồ

Trần Đình Hoành dịch
.

Chào mừng Ngày Hành Chính và Ngày Trái Đất

secretaryday

Hôm nay, ngày 22 tháng 4 năm 2009 là Ngày Hành Chính và Ngày Trái Đất.

Ngày Hành Chính (tên gọi trước đây là ngày Thư ký) là ngày các sếp thường chuẩn bị cho người trợ lý đắc lực của mình một món quà nhỏ nhưng đầy ý nghĩa như hoa, quà tặng, một ngày nghỉ có trả lương hoặc một bức thiệp chức mừng. Ngày lễ hội này được tổ chức hàng năm vào ngày thứ tư của tuần cuối cùng trong tháng tư.

Ngày Thư ký được ra đời từ năm 1952 tại Mỹ, nhờ vào nỗ lực của ông Harry F.Klemfuss nhằm khuyến khích và nâng cao giá trị nghề thư ký, vốn được coi là một công việc bận rộn nhưng buồn chán và không nhiều danh vọng. “Tuần Lễ Thư ký quốc gia” đầu tiên được tố chức vào tuần từ ngày 1 tháng 6 đến ngày 7 tháng 6 năm 1952, trong đó, ngày 4 tháng 6 là “Ngày Thư ký quốc gia”. Tuy nhiên, năm 1955, thời điểm tổ chức “Tuần lễ Thư ký quốc gia” thay đổi và dời vào tuần cuối cùng của tháng 4.

Năm 1981, tên gọi của nó được đổi thành “Tuần Lễ Thư ký”, và đến năm 2000, một lần nữa lại được đổi tên thành “Tuần Lễ Hành Chính”, với đối tượng không chỉ là Thư ký, mà bao gồm cả nhân viên làm công việc hành chính, những người quanh năm bận rộn với một núi việc không tên, luôn biết lắng nghe, luôn luôn chia sẻ, cẩn thận và nhẫn nại.

earthbluemarblewestterra

Ngày Trái Đất

Hàng năm, khắp nơi trên thế giới chào đón hai ngày Trái Đất: ngày Trái Đất 21 tháng 3 (trùng với ngày Xuân Phân) và ngày Trái Đất 22 tháng 4. Ngày Trái Đất xuân phân là ngày Liên Hiêp Quốc công nhận, nhắm vào tình yêu và đoàn kết giữa mọi người. Ngày Trái Đất 22 tháng 4 được tổ chức nhằm nâng cao ý thức của mọi người về môi trường cũng như có những hành động thiết thực cho mô trường thế giới mà ta đang sống.

Ngày Trái Đất 22 tháng 4 được sáng lập bởi Thượng Nghị Sĩ người Mỹ Senator Gaylord Nelson và lần đầu tiên được tổ chức vào mùa xuân 1970, đánh dấu sự khởi đầu về phong trào môi trường trên thế giới, và khuyến khích mọi người đưa ra các ý tưởng về sinh thái, bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức về ô nhiễm đất đai, không khí và nước.

Từ đó đến nay, ngày 22 tháng 4 được xem là ngày quốc tế về Trái Đất, và được hưởng ứng cũng như được tổ chức rộng rãi ở 140 quốc gia trên khắp thế giới.

Loan Subaru

Ngụ Ngôn Từ Một Giấc Mơ

susanboyle
Câu chuyện của Susan Boyle là ngụ ngôn thời hiện đại của chúng ta. Người phụ nữ trung niên này là một ca sĩ rất tài năng, và đức hạnh, là người con hiếu thảo chăm sóc bà mẹ góa nhiều năm cho đến khi bà qua đời 2 năm trước.

Vì sao Susan Boyle bị cười nhạo khi cô bước ra sân khấu trong cuộc thi vòng loại “ Nước Anh Có Tài Năng 2009” vào một đêm thứ bảy. Cuộc thi này đã kéo dài từ tháng 1 đến tháng 2 / 2009.

Người phụ nữ này, mới đây thất nghiệp,  sống một cuộc đời lặng lẽ , chỉ có ca hát làm lẽ sống; mà kinh nghiệm ca hát của cô chỉ giới hạn ở ban đồng ca nhà thờ và hát Karaoke

Khi mới được sinh ra , cô bị thiếu oxy, và do đó rất khó khăn trong học tập. Khi đi học cô học chậm ; với mái tóc quăn, cô thường bị bắt nạt, chủ yếu bằng những lời nặng nhẹ, chê bai, và mắng mỏ. Cô đã kể với một phóng viên rằng những lời nhục mạ của bạn học thời ấy đã để lại những vết sẹo trong tâm hồn cô.

Cô không có bạn trai, là một người lạ lẫm với chuyện yêu đương lãng mạn, chưa bao giờ được hôn, chưa từng có một lần hò hẹn. “Thật đáng xấu hổ !”, cô nói. Và ca hát là chiếc bè cứu đắm cho cuộc đời cô.

Cô sống với cha mẹ trong một ngôi nhà 4 phòng nhỏ ở West Lothian, và khi cha cô chết 10 năm trước, cô chăm sóc mẹ và hát trong ca đoàn.

Khi ban giám khảo và khán giả nhìn thấy người phụ nữ trung niên, to béo, ăn mặc có vẻ quê mùa, vụng về, bước lên sân khấu,  họ bắt đầu cười khỉnh. Khi cô nói cô muốn có một sự nghiệp ca hát sánh ngang với Elaine Paige ( một danh ca 61 tuổi của nước Anh), tất cả khán giả đều sửng sốt . Khi cô nói với giám khảo Simon Cowell, rằng cô đã không có cơ hội để phát triển sự nghiệp ca hát của mình cho đến bây giờ đã 47 tuổi , 3000 khán giả cười phá lên và 3 giám khảo không nén được cũng  phì cười. Nhưng khi cô cất tiếng hát bài I Dreamed a Dream ( Tôi Đã Mơ một Giấc Mơ) trong vở nhạc kịch Les Miserables ( Những Người Khốn Khổ), tất cả mọi người như bị thôi miên và sau đó hoan hô nồng nhiệt.

Simon Cowell nói giọng của cô “đặc biệt”, Amanda Holden xúc động đến rơi lệ khi nghe cô hát, và người giám khảo thứ ba , Piers Morgan, thừa nhận tài nghệ của cô là độc đáo lạ thường nhất trong 3 năm ông làm giám khảo cuộc thi này.

Giấc mơ của Susan Boyle đã thành hiện thực. Chúng ta học được gì từ câu chuyện như cổ tích, ngụ ngôn thế kỷ 21 này?

1. Nếu không có tài năng thực sự, cô hẳn đã là nạn nhân và đối tượng của những lời nhạo báng, mỉa mai, hay thương hại.

2. Cô rất can đảm, thực sự dũng cảm khi chịu đựng những điều bất hạnh của cuộc đời từ thời thơ ấu, cho đến khi đã bước qua tuổi thanh xuân vẫn không có tình yêu đôi lứa. Trong cảnh ngộ như thế, cô vẫn không đánh mất ước mơ , vẫn đam mê ca hát và kiên trì rèn luyện cho tài năng theo cách của mình : sống âm thầm giản dị và có ích : chăm sóc cha mẹ  và hát trong ca đoàn. Nếu không có sự dũng cảm,  ý chí kiên trì, và niềm tin vào ước mơ cũng như năng lực bản thân, cô hẳn đã không thắng nổi mặc cảm, quên đi  những vết sẹo ấu thơ,  và không dám tham gia vào cuộc thi tuyển chọn  tài năng của nước Anh

3. Dù bên ngoài cô như một con vịt xấu xí, cô vẫn rất đẹp trong tâm hồn, với  lòng hiếu thảo,  và tài năng, cô đã tỏa sáng bằng giọng hát của  thiên thần của mình.

4. Chúng ta thêm một lần nữa đọc và suy ngẫm lại những câu ngạn ngữ đã được học từ lâu: “Đừng đánh giá con người qua bề ngoài”, “Cái đẹp thực sự là cái đẹp ở bên trong tâm hồn”; “Dù trong cảnh ngộ nào, không được đánh mất ước mơ “; “Có công mài sắt, có ngày nên kim .“

Mời các bạn nghe bài hát “I Dreamed A Dream “ mà Susan Boyle đã hát trong cuộc thi nói trên :

http://www.youtube.com/watch?v=9lp0IWv8QZY
.

I Dreamed A Dream

There was a time when men were kind,
And their voices were soft,
And their words inviting.
There was a time when love was blind,
And the world was a song,
And the song was exciting.
There was a time when it all went wrong…

I dreamed a dream in time gone by,
When hope was high and life, worth living.
I dreamed that love would never die,
I dreamed that God would be forgiving.
Then I was young and unafraid,
And dreams were made and used and wasted.
There was no ransom to be paid,
No song unsung, no wine, untasted.

But the tigers come at night,
With their voices soft as thunder,
As they tear your hope apart,
And they turn your dream to shame.

He slept a summer by my side,
He filled my days with endless wonder…
He took my childhood in his stride,
But he was gone when autumn came
And still I dream he’ll come to me,
That we will live the years together,
But there are dreams that cannot be,
And there are storms we cannot weather!
I had a dream my life would be
So different from this hell I’m living,
So different now from what it seemed…
Now life has killed the dream I dreamed..

.

I Dreamed A Dream (In Les Miserables)

Tôi đã mơ một giấc mơ
Đã có một thời người ta tử tế
Giọng nói của họ nhẹ nhàng,
Và ngôn từ của họ mời mọc.
Đã có một thời tình yêu mù quáng
Và thế giới là một bài ca
Và bài ca ấy thật là kích thích.
Đã có một thời mọi việc không êm xuôi…

Tôi từng mơ giấc mơ của một thời đã qua,
Khi hi vọng còn đầy và cuộc đời đáng sống.
Tôi đã mơ rằng tình yêu không bao giờ chết,
Tôi đã mơ rằng Chúa sẽ thứ tha.
Khi ấy tôi còn trẻ và không hề sợ hãi,
Và những giấc mơ được đắp xây, sử dụng, và bỏ phí.
Không có tiền chuộc nào để trả,
Chẳng bài ca nào không hát, chẳng rượu nào không uống.

Nhưng đàn hổ đến về đêm,
Bằng chất giọng dịu dàng như sấm,
Chúng xé nát hi vọng của bạn,
Và chúng khiến hi vọng của bạn biến thành nỗi nhục,

Chàng ngủ cạnh tôi suốt một mùa hè
Chàng làm đầy những ngày của tôi bằng diệu kỳ bất tận
Chàng lấy tuổi thơ tôi trong bước chàng đi

Và tôi vẫn mơ chàng sẽ đến.
Rằng chúng tôi sẽ sống những năm tháng cùng nhau,
Nhưng có những giấc mơ không bao giờ là thực
Và những cơn bão tố ta không thể chống chọi!

Tôi đã có một giấc mơ rằng đời tôi sẽ
Khác xa địa ngục tôi đang sống,
Giờ đây khác xa những gì tôi tưởng
Giờ đây cuộc đời đã giết giấc mơ tôi đã mơ..

Huỳnh Huệ tổng hợp và dịch