CENTRAL HIGHLANDS TOMBHOUSE STATUES: UNIQUE SCULPTURES
Tượng nhà mồ là loại hình nghệ thuật điêu khắc độc đáo, một nét đặc sắc trong văn hoá cổ truyền Tây Nguyên. Các tác phẩm thuộc loại hình này được ra đời ở thời điểm lễ bỏ mả với mục đích phục vụ người chết (người Tây Nguyên gọi là hồn ma).
Tombhouse statue is a unique kind of sculpture and a distinctive trait in the traditional Central Highlands cultures. These artworks are produced at the time of the Grave-abandoning Feast, to serve the dead (which Central Highlanders call “spirits”.
Lễ bỏ mả là một lễ hội gắn liền với hầu hết các tộc người thiểu số có cuộc sống du canh, du cư trên địa bàn Tây Nguyên. Họ quan niệm rằng, chỉ khi nào lễ bỏ mả được tổ chức xong thì hồn ma mới thực sự trở về với tổ tiên, ông bà, để bắt đầu một “cuộc sống” mới ở thế giới bên kia. Kể từ đó, mối quan hệ giữa kẻ sống với người chết mới không còn. Mang ý nghĩa thiêng liêng như thế, nên lễ bỏ mả là một lễ lớn hàng năm, thu hút đông đảo người tham gia, thường diễn ra vào mùa xuân tại nghĩa địa các buôn làng.
Grave-abandoning Feast is deeply attached to most nomadic ethnic minorities living in the Central Highlands. They think that, only when the Grave-abandoning Feast has been conducted would the spirits really return to their ancestors, to start a new “life” in the other world. From that point on, the relationship between the dead and hís/her survivors no longer exists. Because of its sacred meaning, Grave-abandoning Feast is one of the big annual feasts, attracting large numbers of participants. It usually takes place at the villages’ cemeteries in springtime.
Để chuẩn bị tổ chức lễ, ngoài việc sửa sang nhà mồ, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, rượu cần…, người ta không quên làm tượng để đặt ở nhà mồ. Ở những ngôi nhà mồ to đẹp, tượng được làm bằng những loại gỗ quý có thể chịu được mưa nắng qua nhiều năm ở ngoài trời. Những cây gỗ này phải trên 10 năm tuổi (dài khoảng 2 sải tay, đường kính xấp xỉ 30cm) mới đủ tiêu chuẩn để làm tượng. Trước khi đẽo tượng, người ta phải cúng Thần Nhà Rông, Thần Bến Nước để xin phép.
Apart from repairing the tomb houses, and preparing cereals, food-stuffs and jar wines…, people also make statues to lay around the tomb houses for the grave-abandoning celebration. At big, beautiful tomb houses, the statues are made of different kinds of rare wood that can withstand the elements years after years. A tree has to be at least 10 years old (with circumsference of about 2 arm legnths and the diameter of about 30 cm) to meet the standards for statue making. Before starting to sculpt, local people must submit offerings to the god of Roong House and the god of Watering Place to get their permission.
Tượng nhà mồ thể hiện chủ yếu bằng các mảng, khối, chứ không quá đi sâu vào chi tiết. Tư thế, thần thái của tượng thì muôn hình muôn vẻ. Người bế con, người lấy nước, người mang gùi, người ngồi khóc, người đánh trống đánh chiêng, người chia phần cơm lam, người phụ nữ khoả thân… Đó chính là sự tái hiện cuộc sống thật một cách sinh động, phong phú. Các bức tượng còn trở nên ấn tượng hơn khi được tô điểm màu sắc xanh, đỏ, vàng, đen, trắng… Các nét hoa văn trên trang phục tượng cũng được phối màu rất linh hoạt.
Tombhouse statues are expressed mainly in generalities and masses, not focused on details. They may have many different forms and appearances, such as a mom holding her baby, a water fetcher, a person carrying a backbag, a drummer, a gong player, a person delivering bamboo rice, the naked woman… These statues describe life in a rich and vivid way. The statues become more striking when painted with different colors–green, red, yellow, black, white… The clothing patterns on the staues are lively mixed in colors as well.
Tượng nhà mồ đa dạng cả về kích cỡ, người ta thường dùng đơn vị đo là sải tay để ước lượng. Mỗi tượng trung bình được tính bằng một sải rưỡi, trong đó có nửa sải chôn xuống đất, một sải nhô lên là thân tượng. Tất cả tượng đều được chôn bao quanh khu nhà mồ.
Tombhouse statues are diversified in size, and local people use the arm length as the measurement unit. Each statue is measured by one and a half arm lengths, of which a half arm length is buried and the remainder of the statue’s body is jutted out above the ground. All the statues are planted around the tomb house.
Tượng nhà mồ Tây Nguyên, qua bàn tay sáng tạo của các nghệ nhân, chứa đựng những thông tin mang tính xã hội, cộng đồng sâu sắc. Chúng vừa là những tác phẩm nghệ thuật, vừa mang ý nghĩa tâm linh nhưng không hề tạo ra cảm giác cách biệt mà trái lại, rất thân quen, gần gũi với mọi người. Hầu như ở bất cứ buôn làng Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Xơ Đăng… nào, chúng ta cũng có thể bắt gặp những quần thể tượng nhà mồ. Vẻ quạnh hiu, u tịch của những bức tượng đã dần dần bớt đi vì du khách bốn phương ngày càng lui tới nhiều hơn để chiêm ngưỡng…
Central Highlands tombhouse statues, through the artisans’ hands, carry a lot of profound social and communal information. They are both artistic works and spiritual symbols, without generating any feelings of separation; on the contrary, they are so familiar and close to everyone. In almost all the villages of Jarai, Bana, Ede or Xedang…, we can encounter a complex of tombhouse statues. The statues’ solitary and silent looks have been disappearing little by little, because tourists from everywhere have been visiting them more and more to show admiration.
(Nguồn:Tiếng Việt: Báo Bình Thuận) Dịch sang Tiếng Anh: Jun Quan
Một trong những điểm đặc sắc của văn hóa Phi Luật Tân là các vũ điệu truyền thống. Vì có nhiều hải đảo với nhiều nhóm thổ dân khác nhau, cộng với ảnh hưởng Tây Ban Nha và Mỹ, Phi Luật Tân có cả trăm điệu vũ truyền thống, từ các vũ điệu thổ dân nguyên thủy, đến các vũ điệu mang nặng ảnh hưởng Tây Ban Nha.
Sau đây chúng ta sẽ xem qua một số vũ điệu này qua các video trên Youtube. Đa số các video này không có chất lượng cao về hình ảnh và âm thanh, tuy nhiên chúng cho ta một khái niệm rất rõ về vũ điệu.
Chúng ta sẽ có giải thích về ý nghĩa mỗi vũ điệu, ngay trước video.
.
Lulay là mjột điệu vũ quốc gia, với thay đổi nho nhỏ tùy theo vùng. Chúng ta có thể thấy ảnh hưởng quý phái của nhạc Valse Âu Châu trong vũ điệu này, và tiếng đàn mandolin.
.
Lawiswis Kawayan là vũ phổ thông của các vùng đảo Leyte and Samar. Các vũ công thường mặc trang phục như của các nông dân Visayan ở những vùng nà, đôi khi mày mè như nông dân trong các dịp lễ hội.
.
La Jota de Paragua. La jota là một loại vũ và hát trong truyền thống Tây Ban Nha. Paragua là tên cũ của tỉnh Palawan ngày nay. Điệu vũ ảnh có ảnh hưởng của Tây Ban Nha cổ điển (castillian) rất rõ rệt. Nhạc nền là nhạc Flamenco, dù là không chơi theo kiểu Flamenco guitar. Zapateados (bước chân), cubrados (cánh tay vòng), và Sevillana (áo quần rộng và nhiều giải ren, theo kiểu quý tộc của thue đo Seville cũ của Tây Ban Nha). Phụ nữ thướt tha với mantón (khăn quàng), và các ông or decorative shawl, trong khi các ông gõ nhịp với các phách nhịp (castanet) làm bằng tre.
Jota de Maninela: Là một lọai Jota (hát và vũ truyền thống Tây Ban Nha) ở vùng Manilam, thư đô Phi Luật Tân hiện nay. Các phách nhịp bằng tre cũng được dùng (như trong nhạc Flamenco của Tây Ban Nha). Nhưng ta có thể nhận thấy ảnh hưởng của các vũ điệu truyền thống của Âu châu ở đây.
.
KATSUDORATAN điễn tả “cách đi” của các vương phi của bộ lạc Maranao, sống quanh Hồ Lanao. Điệu vũ này thường được các vương phi biễu diễn trong các dịp lễ lạy quan trọng.
.
Kappa Malong. Đay là vũ malong theo truyền thống Hồi giáo, của dân Maranao. Malong là một chiếc khăn rộng quấn quanh người thành chiếc áo của người phụ nữ. Điệu vũ này là để trình bày cách mặc Malong. Video sau đây có hai phần, phần đầu giải thích chi tiết vũ điệu, phần sau là phần biểu diễn.
.
Vũ singkil mranaw. Đây là vũ điệu đi qua các thanh tre nhịp nhàng nỗi tiếng của Phi Luật Tân, từ bộ lạc Maranao.
.
Vũ Janggay. Janggay hay ‘Igal Janggay là một loại vũ pangalay (múa ngón tay) của bộ lạcTausug ở vùng bán đảo Sulu. Đây là vũ điệu có tính cách Á châu nhất trong các vũ điệu Phi Luật Tân. Các chuyển động trong vũ điệu giống như chuyển động trong vũ thuật kontaw silat.
.
Vũ Lumba. Lumba có nghĩa là “trang trí” hay “trình bày.” Đây là dịp để cho các gia đình trong cộng đồng trìnhbày cờ quạt gia đình, gọi là pandala. Các pandala có thể có nhiều màu sắc và hình thù khác nhau tùy theo từng gia đình, mỗi pandala biểu hiện cho chức vị và thế lực của một gia đình. Trong vũ điệu này, vũ không phải là điều chính, mf cờ và gió là chính. Vũ công làm thế nào để cờ bay cho thật đẹp là việc chính.
Điệu vũ này thường dùng trong các dịp lễ hội vui, đám cưới, thăng chức trong hòang tộc, v.v…
.
Vũ Kabpagagani. Kabpagagani, còn gọi là kapag-ani, có nghĩa là “mùa gặt”. Đay là vũ điệu của bộ lạc Maguindanaos ở đảo Kipangol và đảo Sinumpalay. Họ là nông dân và vũ điệu này biểu hiện các hoat động trồng lúa, và gặt lúa, đập lúa, xay lúa, làm sạch ruộng cho mùa sau… Vũ điệu này thường biểu diễn vào mùa gặt, nhất là dịp nghĩ sau mùa gặt.
.
Vũ Lanceros de Tayabas là một điệu vũ từ vùng Tayabas, dùng trong các màn biểu diễn Komedya. Komedya là một lọai nhạc kịch của người Phi Luật Tân theo công giáo, nói về thánh chiến giữa Công giáo và Hồi giáo, dĩ nhiêm là với Công giáo chiến thắng và người Hồi giáo đổi đạo qua công giáo. Lanceros de Tayabas hàm ý các dũng sĩ (knights và lanciers) của vua Arthur của Anh, người hùng trong cuộc chiến chống Hồi giáo.
Vũ Tumahik là một loạii vũ chiến tranh (war dance) do đàn ông của bộlạc Yakan biểu diễn để luyện tập kỹ thuật chiến đấu. Vũ bộ thường theo các bộ của vũ thuật, như là đi bằng đầu gối, nhào lộn, đá cao…
.
Vũ Bulaklakan là một vũ điệu của người công giáo Phi Luật Tân thường biểu diễn trong ngày lễ thánh Santa Cruz de Mayo (Thánh Giá tháng Năm) dẫn đường đoàn rước kiệu.
.
Vũ Jota Cabangan là một cuộc tán tỉnh giữa nam nữ, ở vùng Cabangan, Zambales, và thường được biểu diễn bởi tân lang và tân nương trong ngày lễ tiệc ngay trước ngày cưới (gọi là ngày sinadag).
.
Vũ Pastores là vũ dịp lễ Giáng Sinh, thương là nói về cấu chuyện các mục đồng viếng thăm chúa Giêsu. Các “mục đồng” đi đến hát từng nhà (gọi là daygon). Các daygon thường ằng tiến Waray của Phi, nhưng có bài bằng tiếng Tây Ban Nhà trôn với tiếng thổ dân diglot. Vũ là một phần của dịp hò hát vui sướng này.
.
Vũ Sinakiki là một vũ điệu vui của đảo Rapu-Rapu, Albay. Thường biểu diễn trong các dịp lễ hội nhiều màu sắc của tộc dân này. Vũ điệu này biểu thị một chú gà trống theo đuổi nàng gà mái.
.
Vũ Kumakaret là một vũ điệu nói về việc tán tỉnh của dân vùng sasa, tình Dorungan, Pnagasinan, Dân vùng này làm rượu, giấm và kèn tuba.
.
Vũ La Jota là một jota (hát và vũ) của vùng Paoay, Ilocos Norte. Các vũ công ăn mặc như nông dân Ilocano của vùng này.
.
Vũ Banga hay Vũ Nồi (đất) là vũ của vùng núi Kalinga. Dân vùng này là chiến binh có tiếng. Các nồi đất mang trên đầu trong khi vũ và giữ thăng bằng, cũng như các cô làm thế khi đi múc nước hàng ngày.
Hôm qua, ngày 17 tháng 8 chúng ta có một tin thật buồn: “Trẻ em nhiễm HIV bị từ chối đến trường”. Mình rất sốc và chắc chắn các bạn cũng rất đau lòng vì tin này.
Joan Baez trong Freedom March, Washington DC 1963
Có lẽ thích hợp hôm nay, mình giới thiệu với các bạn bài hát “We shall overcome”, bài hát mạnh mẽ nhất trong thế kỷ 20.
Bài hát khởi đầu là bản thánh ca do mục sư Charles Tindley sáng tác tại một nhà thờ người da đen ở Philadelphia năm 1901, hát về sự vươn tới sự tốt đẹp bằng trái tim sâu thẳm của con người, với sự giúp đỡ của Thượng đế, giữa nỗi thống khổ của cuộc sống.
Freedom March, Washington DC 1963
Bài hát được hát vào cuối mỗi ngày đình công trong những năm tháng rét mướt để tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho công nhân nhà máy thuốc lá của Mỹ ở South Carolina vào năm 1945.
Tới những năm 1950s, bài hát là bản quốc ca của những người đấu tranh dân sự bình quyền cho những người da đen ở Mỹ, bằng phương cách bất bạo động.
Tháng 8 năm 1963, ca sĩ Joan Baez dẫn đầu đoàn 300 ngàn người đồng ca hát vang “We shall overcome” trong cuộc biểu tình dân sự lớn nhất thế kỷ 20, the March on Washington, đòi việc làm, hòa hợp trường học và chống kỳ thị với người da màu ở Mỹ.
Martin Luther King, Freedom March, Washington DC 1963
Ở cuộc biểu tình này, mục sư Martin Luther King đã đọc bản diễn văn nổi tiếng “I have a dream” về giấc mơ hòa hợp giữa những người Mỹ da đen và da trắng.
Năm 1972, Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson dùng ngữ “We shall overcome” để nói với toàn nước Mỹ sau cuộc biểu tình bạo động “Bloody Sunday” đòi quyền dân sự, và hợp pháp hóa nhiều quyền lợi cho người da đen.
Ngày hôm nay, nước Mỹ đã có tổng thống đầu tiên người da đen, Barack Obama.
Bài hát đã đi vào dòng máu của dân Mỹ để vượt qua sự bất công, vượt qua những cơn bi kịch bằng sức mạnh của sự đoàn kết và trái tim trong sáng của con người. Khi đau buồn, từng câu từng chữ của bài hát mang sức mạnh ghê gớm. Có lẽ lời ngắn, đơn giản của bài hát là những từ ngữ mạnh mẽ nhất trong vốn tiếng Anh có thể có.
Tượng chúa Giêsu khóc, đài tưởng niệm nơi bị đánh bom ở Oklahoma, Mỹ
Sau vụ đánh bom khủng bố do một người da trắng ở Oklahoma năm 1995, nhiều nhà thờ khắp nước Mỹ hát “We shall overcome”.
Trong nhà thờ Unitarian Universalist ở Burlington Vermont vào năm 2007, mọi người nắm tay nhau hát bài hát này để chia sẻ sự cảm thông với đau buồn của chiến tranh ở Dafur, Sudan.
Bài hát cũng được dịch và hát lên ở Ấn Độ, phòng tráo chống kỳ thị ở châu Phi, Tiệp Khắc và nhiều nước khác trên thế giới.
Thánh giá tại đài tưởng niệm Oklahoma
Dưới đây là hai phiên bản của “We shall overcome” đều do ca sĩ Joan Baez hát.
Phiên bản 1 do chị hát ở đại hội nhạc Woodstock năm 1969, giữa đỉnh cao của phong trào phản đối cuộc chiến tranh Việt Mỹ.
Phiên bản 2 do chị hát rất ngẫu hứng vào tháng 7/2009 vừa rồi để gây quỹ cho ứng cử viên đảng Xanh. Ở bản 2, chị thay đổi lời bài hát thành các từ ngữ ủng hộ cho môi trường như “”We Do Not Need Disneyland”.
Lời nhạc theo sau videos.
Chúc các bạn một ngày khoan dung,
Hiển.
.
.
WE SHALL OVERCOME, Words and Music by Zilphia Hart., Frank Hamilton, Guy Carawan and Pete Seeger
We shall overcome,
We shall overcome,
We shall overcome, some day.
Oh, deep in my heart,
I do believe
We shall overcome, some day.
We’ll walk hand in hand,
We’ll walk hand in hand,
We’ll walk hand in hand, some day.
Oh, deep in my heart,
We shall live in peace,
We shall live in peace,
We shall live in peace, some day.
Oh, deep in my heart,
We shall all be free,
We shall all be free,
We shall all be free, some day.
Oh, deep in my heart,
We are not afraid,
We are not afraid,
We are not afraid, TODAY
Oh, deep in my heart,
We shall overcome,
We shall overcome,
We shall overcome, some day.
Oh, deep in my heart,
I do believe
We shall overcome, some day.
Có thể nói, các môn giải trí dân gian là một trong những yếu tố mang tính văn hóa truyền thống cao đẹp của mọi dân tộc. Sự tồn tại của nó đã đem lại cho con người những khoảnh khắc thăng hoa, giúp người già như trẻ lại, người lao động trở nên yêu đời hơn sau những giờ làm việc căng thẳng, và góp phần quan trọng trong việc giúp cho trẻ em có những giây phút thư giãn. Hôm nay mình muốn giới thiệu với các bạn đôi chút về nguồn gốc của trò chơi thả diều nhé:
Thú thả diều có nguồn gốc từ nghệ thuật làm mo vào thời cổ đại của người Trung Quốc. Nghe nói, chiếc diều đầu tiên xuất hiện là vào thời kỳ Xuân Thu (cách đây khoảng hơn 2000 năm) do người thợ có tên Lỗ Ban dùng gỗ chế tạo thành, thời đó cũng đã có sự xuất hiện của diều được làm bằng trúc và đến thời nhà Hán thì có sự xuất hiện của Diều được làm bằng giấy, được gọi là “纸鸢” tức “chỉ diên” (diều hình chim diều hâu), nhưng không được phổ biến rộng rãi cho lắm, do nghành giấy lúc này mới bắt đầu hình thành.
Vào thời cổ đại, cứ mỗi dịp tết Thanh Minh đến, sau khi đã làm lễ cúng bái tổ tiên, người dân Trung Quốc đều có phong tục thả diều. Người xưa cho rằng, thả diều có thể xua đuổi tà khí và những điều rủi ro, xúi quẩy. Họ ghi hết tên những loại bệnh dịch nguy hiểm lên trên thân diều, sau khi đã thả cho diều bay thật cao sẽ dùng kéo cắt đứt dây. Họ muốn nhờ gió đưa diều đến chân trời góc biển và đem theo những loại bệnh dịch này cách xa con người, tránh cho con cháu của họ thoát khỏi bệnh tật…Không những vậy diều còn được các nhà sư dùng với ý nghĩa cầu sự yên bình tốt lành, do đó mỗi lần diều rơi các nhà sư đều làm lễ cúng bái để xua đuổi tà khí và cầu an. Hay diều còn được coi là vật dâng hiến các đấng thần linh của vua và các quần thần trong những đêm trăng sáng….
Cùng với sự phát triển của thời đại, ý nghĩa của việc thả diều cũng dần dần thay đổi. Trong lịch sử, diều đã từng được dùng trong quân sự, hay để đưa tin tức…, có rất nhiều sử sách tư liệu đều nhắc đến việc khi quân của Hạng Vũ bị quân của Lưu Bang bao vây,tướng quân Hàn Tín (thời nhà Hán) đã dùng diều được làm bằng da trâu để thả lên trời, dựa vào độ dài của dây diều để ước tính khoảng cách đến Vị Ương Cung (nơi đang bắt giữ quân của Hạng Vũ)…
Đến giai đoạn giữa của nhà Đường (nền kinh tế lúc này phát triển phồn vinh ổn định), từ chức năng dùng trong quân sự diều đã được dùng trong việc giải trí, tiêu khiển…. Đồng thời cùng với sự phát triển của nghành giấy, nguyên liệu chế tạo diều từ gỗ, trúc, da trâu…cũng dần chuyển biến hoàn toàn sang chất liệu giấy. Diều đã dần dần đi sâu vào cuộc sống của người dân, và góp phần làm đa dạng, phong phú cho cuộc sống của họ.
Đến thời nhà Tống, diều được lưu truyền càng ngày càng rộng rãi hơn, trở thành trò chơi phổ thông của trẻ con. Đồng thời do nhu cầu của xã hội về diều càng ngày càng cao, nên việc chế tạo diều đã trở thành một ngành nghề được người dân công nhận.
Đến thời kì Minh Thanh, diều phát triển đến mức tột đỉnh. Từ kích cỡ, hình thức, kỹ thuật chế tạo, cách buộc dây lèo, nghệ thật hình họa, nghệ thuật âm thanh… đều tiến bộ vượt bậc so với các thời đại trước. Thời này đã bắt đầu dùng bản gỗ niên hoa để in các hình họa trên giấy làm thân diều, các nguyên liệu giấy thì rất đa dạng gồm: giấy thiếp, giấy chạm nổi, giấy tiễn…về âm thanh cũng có chuyển biến lớn, ở các thời đại trước chỉ dùng dây lèo mỏng gắn trên đầu diều, nhờ gió thổi sẽ phát ra âm thanh nghe giống tiếng đàn cổ, nhưng đến thời này thì người dân ở khu vực ven biển còn buộc thêm hồ lô…làm thành còi trên thân diều, khi thả diều sẽ phát ra âm thanh rất vui nhộn và to, cách đó vài mét đều có thể nghe thấy. Vào thời Minh Thanh cũng có rất nhiều văn học gia, họa gia đều lấy diều làm đề tài để sáng tác tác phẩm của mình, ví dụ như họa gia Từ Vị (Công nguyên 1521-1593) đã vẽ hơn 30 bức họa chuyên về diều và hiện các tác phẩm của ông vẫn còn được lưu giữ tại bảo tàng lịch sử Trung Quốc.
Tại Bắc Kinh, Thiên Tân, Sơn Đông, Tô Giang, Quảng Đông Dương Giang…là những nơi có nhiều xưởng sản xuất diều nổi tiếng của Trung Quốc. Các loại diều được chế tạo rất đa dạng, gồm có các loại hình họa về động vật như: gia cầm, sâu bọ, cá.. trong đó thường gặp nhất là hình chim yến, bướm, chuồn chuồn…cũng có các loại diều về các nhân vật thần thoại như Tôn Ngộ Không, hay các loại diều dạng chuỗi dài như hình con rết, hình rồng…Chế tạo diều, cần phải có nghệ thuật rất tinh xảo, người thả diều cũng cần phải có kỹ xảo riêng, có như vậy mới làm cho diều bay một cách vững trãi và tự do trên trời.
Thả diều hiện nay được coi là một hoạt động thể thao có lợi cho sức khỏe. Người dân Trung Quốc không chỉ coi thả diều là một hoạt động thể thao giải trí, mà còn dùng diều để treo trên tường, coi như một nghệ thuật trang trí và để thưởng thức. Hiên nay, diều của Trung Quốc đã được vận chuyển đến Nhật Bản, các nước Đông Nam Á, Âu Mỹ…và nhận được sự chào đón,ưa thích của rất nhiều người dân trên thế giới. Mấy năm gần đây, tại Sơn Đông hàng năm đều tổ chức lễ hội thả diều và có sự tham gia của rất nhiều nước trên thế giới, do đó, có thể coi Trung Quốc là quê hương và xứ sở của diều.
Ai yêu Đường thi cũng đều biết đến bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị.
Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu;
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.
Nhưng không mấy chúng ta thực sự nghe đàn tỳ bà, nhất là nghe nó một mình.
Đàn tỳ bà có một ngôi vị rất lớn trong văn học và thi ca Trung Quốc.
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỹ nhân hồi
(Lương Châu Từ của Vương Chí Hoán)
Dịch nghĩa:
Rượu bồ đào, chén dạ quang
Muốn uống nhưng tiếng tỳ bà đã giục lên ngựa
(Nếu) tôi nằm say trên chiến trường, bạn đừng cười
(Vì) xưa nay thời chiến chinh ai đi mà trở lại.
TDH
Đàn tỳ bà được xem là đàn Flamenco của Trung Quốc vì tỳ bà rất phổ thông trong âm nhạc truyền thống Trung Quốc, và cách biểu diễn, nhất là các tiếng rung nghe rất giống kỹ thuật tremolo của nhạc Flamenco.
Hôm nay chúng ta có ở đây bài Tỳ Bà Hành, qua lời dịch của Việt của Phan Huy Thực (có nơi ghi là Phan Huy Vịnh). Tiếp theo là lời tiếng Anh của Francis Chin; một bài dịch rất rõ nghĩa, đã đăng năm 1979 ở báo Business Times của Singapore.
Sau đó chúng ta có một số bản nhạc solo tỳ bà của Liu Fang, nhạc sĩ Trung Quốc, tuổi trẻ tài cao, danh cầm số một thế giới về tỳ bà. Tiếng đàn của Liu Fang khi vũ bão như sấm động, khi nhẹ nhàng như gió thoảng, khi nhức nhối như giọt lệ.
Liu Fang sinh năm 1974 tại thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Học tỳ bà năm 6 tuổi và 9 tuổi bắt đầu trình diễn. Năm 11 tuổi trình diễn cho Nữ Hoàng Anh Elizabeth khi bà qua thăm Trung Quốc năm 1985. Liu Fang cũng học thập lục huyền cầm, nhưng nổi tiếng ngày nay như là danh cầm tỳ bà số một trên thế giới. Năm 2001 chị được giải ‘Future Generation Millennium Prize’ của Hội Đồng Nghệ Thuật Canada, dành cho các nhạc sĩ dưới 30 tuổi. Chị đã trình diễn trên nhiều chương trình TV ở các nước trên thế giới. Đĩa Silk Sound của chị được giải Academie Charles Cros Award của Pháp (như là Grammy của Mỹ). Hiên nay chị ở Canada.
Sau các video trình diễn của Liu Fang là một bài viết nói thêm về Phan Huy Thực và bài dịch Tỳ Bà Hành, để các bạn cần tham khảo có thêm tài liệu.
Trước khi vào bài thơ Tỳ Bà Hành, Bạch Cư Dị có một lời giới thiệu về bài thơ. Lời này không thấy trong bản dịch tiếng Việt, nhưng có trong bản tiếng Anh của Francis Chin. Mình dịch lời giới thiệu này sang tiếng Việt, đặt trước bài dịch của Phan Huy Thực.
Kính mời!
Hoành
.
Giới thiệu (bởi Bạch Cư Dị)
Năm thứ mười đời Hoàng Đế Yuan Ho, tôi bị giáng chức và bị đày về huyện Jiu-jiang làm tùy viên. Mùa hè năm sau đó, khi tôi đang tiễn một người bạn ra đi, chúng tôi nghe trên thuyền bên cạnh có tiếng tỳ bà theo điệu nhạc kinh đô.
Hỏi thăm thì biết là người chơi đàn từng là một ca kỷ ở kinh đô ngày trước và ngày nay là vợ của một thương nhân. Tôi mời cô ấy qua thuyền tôi chơi nhạc. Cô ấy kể lại cho chúng tôi nghe chuyện đời cô và nỗi bất hạnh của cô. Từ ngày rời kinh đô đến nay tôi không hể thấy buồn, nhưng từ đêm hôm đó, tôi bắt đầu cảm nhận gánh nặng của cuộc đời đi đày của tôi. Vì vậy, tôi viết bài thơ 612 chữ này.
Say những luống ngại khi chia rẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
Đàn ai nghe vẳng bên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?
Dừng dây tơ nấn ná làm thinh
Dời thuyền ghé lại thăm tình,
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.
Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ,
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua,
Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng hay.
Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu;
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.
Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt,
Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu,
Dây to dường đổ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng.
Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu,
Trong hoa oanh ríu rít nhau,
Nước tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh.
Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt,
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ;
Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay.
Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,
Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao;
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắt lòng sông;
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời.
Rằng: “Xưa vốn là người kẻ chợ,
Cồn Hà Mô trú ở lân la;
Học đàn từ thuở mười ba,
Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên.
Gã thiện tài so phen dừng khúc,
Ả thu nương ghen lúc điểm tô,
Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua,
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn.
Vành lược bạc gãy tan dịp gõ,
Bức quần hồng hoen ố rượu rơi;
Năm năm lần lữa vui cười,
Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu.
Buồn em trảy, lại lo dì thác,
Sầu hôm mai đổi khác hình dong;
Cửa ngoài xe ngựa vắng không,
Thân già mới kết duyên cùng khách thương.
Khách trọng lợi khinh đường li cách,
Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi;
Thuyền không, đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng giãi, nước trôi lạnh lùng.
Đêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen”.
Nghe đàn ta đã chạnh buồn,
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời:
“Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau,
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.
Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm:
Sông Bồn gần chốn cát lầm,
Lau vàng, trúc võ, âm thầm quanh hiên.
Tiếng chi đó nghe liền sớm tối:
Cuốc kêu sầu, vượn hót véo von;
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,
Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng.
Há chẳng có ca rừng, địch nội?
Giọng líu lo buồn nỗi khó nghe.
Tỳ bà nghe dạo canh khuya,
Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.
Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca”.
Đứng lâu dường cảm lời ta,
Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây.
Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi;
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh.
(Người dịch: Phan Huy Vịnh
Xuất bản: Thơ Đường (tập 1) – NXB Văn học, 1987)
.
The Song of the Pipa
Introduction
In the 10th Year of Emperor Yuan Ho, I was banished and demoted to Jiu-jiang district as an assistant official. In the summer of the following year, as I was seeing a friend off, we heard from a neighbouring boat a pipa [four-string lute] played in the style of the Capital.
On inquiry, I learnt that the player used to be a sing-song girl from the Capital who was now married to a merchant. I invited her to my boat to play for us. She also related to us her story and unhappiness. Since my departure from the Capital I had not felt sad; but since that night, I began to feel the weight of my exile. So, I wrote this poem in 612 words:
By the head water of the Hsin-yang River
Where maple leaves and reeds sigh in the autumn wind,
I said goodbye to a friend departing in the night.
When I got down from my horse, my guest was already in the boat.
Silently, we lifted our cups for a final farewell toast
But the wine could not soothe our sadness
That rose with the rising tide and flooded the moon.
Suddenly we heard a pipa across the water.
I, the host, forgot my return, the guest the journey on.
In the darkness we asked for the player.
The music broke off, whoever wishing to reply seemed uncertain.
So we re-lit the lamp, reset our table with food and wine,
And moved our boat nearer, hoping to see the player.
But only after much urging did she appear
Still clutching her pipa that half-covered her face.
She turned the pegs and tested the strings
And as she strummed we could sense her deep feeling
For every note was heavy with thought
Telling a sorrowful tale of life.
With lowered brows and sure hands, she poured into the music
The limitless depths of her heart.
She plucked the strings, brushed them and swept on…
With a song of the Rainbow Skirt and the Six Little Ones.
The major chords chanted like falling rain,
The minor chords whispered secrets,
In a delightful medley
Like the clinking of pearls on a jade plate,
Like the notes of a nightingale among flowers,
Like the singing of a brook as its water rushed the bank.
A cold touch suddenly froze the music,
And in the silence we heard her innermost sorrow
For now the stillness told more than any music could.
A silver jar shattered and water gushed out,
And armoured horsemen clashed in their fighting gear.
Once more she swept all four strings like the tearing of silk.
East and west, the boats were hushed by her music,
While the autumn moon rose white above the water.
Finally she inserted the peg under the strings,
Adjusted her clothes, composed herself and told her story:
“I was a girl from the Capital,
living at the foot of the Hsia-mo Hill.
At thirteen, I had already mastered the pipa
and critics praised me as the best player ever.
I was familiar with the tunes of popular songs and dances
And my talent and beauty made many girl envious.
The young men of the city competed for my favours.
One song could bring me rolls of silk,
Jewelled hairpins and silver combs.
My clothes too were often crimsoned with wine.
Year after year, the feasting and laughter went on,
As autumn changed to spring in carefree abandon.
“Then my brother left for the Army and my aunt died.
Evening and morning passed and my beauty waned.
At last, no longer young, I was married to a merchant.
But he cares more for his business than his wife.
Last month, he left for Fouliang town to buy tea
Leaving me to look after an empty boat.
With only the moon and cold river for companions.
In the deep of the night, I dreamt of my girlhood
But the happy memories hastened my tears.”
When I heard her playing the pipa, I sighed
When I heard her story, I became sadder still.
“There are no strangers on the world’s horizon,
Meeting and sharing the same fate,
What does past acquaintance matter?
“A year ago, I left the Capital
To become a sick exile in this town.
The place is so forsaken there is no good music.
For an entire year I heard nothing of string or pipe.
My house near the river is low and damp,
Surrounded by reeds and rushes.
Morning and night, all I hear
Are the blood-cuddling cuckoo calls and the cries of apes.
“In spring mornings among the flowers
And under a moon in autumn nights,
I would bring wine, only to drink alone by the river.
There are mountain songs and village piping
But they cut my ears with their grating sound.
Tonight, hearing you play the pipa
Is like listening to fairy music from afar.
Don’t go just yet, but play us another tune
And I will compose the words of a song for you.”
Moved by my words she stood for a moment,
Then sitting down she began strumming anew.
But the forlorn notes were different from before
And everyone listening could not hold back their tears.
Who among them was most affected?
The author, a junior official, with his blue sleeves wet.
Translated by Francis Chin,
published June 9, 1979 in Business Times newspaper, revised May 24, 2008 for the Web
.
Bản này có nhan đề “Vua Chu cởi chiến bào” (King Chu doffs his armour — Ba Wang Xie Jia), là một bản nhạc tỳ bà truyền thống. Nói lại một câu chuyện thương tâm xảy ra năm 202 trước công nguyên.
.
Bản này tên là “Tuyết bay làm đẹp ngàn thông” (Swirl snow decorating the evergreen — Fei Hua Dian Cui). Đây là một bản nhạc rất nhẹ nhàng, ngược với các bản nhịp quân hành (như bản trên).
.
Bản này gọi là Trên Nhịp Vũ (On a theme to dance — Ge Wu Yin), do Liu Tianhua (1895-1932) viết. Video này là trình diễn tại hội chợ TFF Rudolstadt ngày 9 tháng 7 năm 2006, do German TV (ARD1) phát sóng.
.
Bản này Liu Fang biểu diễn cùng tiếng trống của Ziya Tabassian. Nhan đề Đêm lễ hội lửa trại (The night of bonfire festival) do Wu Junsheng soạn trong thập niên 1980s cho tỳ bà solo, thu hình buổi trình diễn ngày 27 tháng 3 năm 2002.
Gần đây do một sự tình cờ chúng tôi phát hiện được một bài viết có nhan đề “Tỳ bà hành bạt” chép chung trong cuốn Nam phong giải trào ở Thư viện Quốc gia (R1674). Bài dài khoảng 450 chữ. Sau lời bạt là nguyên văn chữ Hán bài “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị và lời dịch ra quốc âm. Đáng chú ý là bài viết có ghi cụ thể dòng lạc khoản “Minh Mệnh thập nhị niên ngô nguyệt trung hoán. (Hà ái) Nhâm Ngọ Hội nguyên Tiến sĩ Hình bộ Thị lang sung biện Nội các sự vụ Phương Trạch Hà Tốn Phủ cẩn bạt”. Hà Tốn Phủ chính là Hà Tông Quyền bạn đồng liêu với dịch giả bài Tỳ bà hành mà ở đoạn đầu lời bạt ông đã giới thiệu dịch giả là “Cựu Bộ trưởng Xuân Khanh” (Tên hiệu Phan Huy Thực).
Hà Tông Quyền (1789-1893) quê huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, đỗ Hội nguyên năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), lúc nhỏ đi học nổi tiếng thông minh, làm quan đến chức Lại bộ Tham tri, Sung đại thần Viện cơ luật, khi mất được truy tặng Thượng thư bộ Lại. Ông là một nhà khoa bảng nổi tiếng văn chương, được các sĩ phu đương thời ca ngợi. Ngoài thơ chữ Hán ông còn để lại 30 bài vịnh Kiều bằng chữ Nôm hưởng ứng cuộc thi vịnh Kiều do Minh Mệnh đề xướng năm 1830. Ông được Minh Mệnh tin dùng và thường xuyên được vào bái kiến nhà vua.
Trong lời bạt ông ca ngợi và đánh giá cao bài dịch “Tỳ bà hành” của họ Phan, đồng thời ông cũng nêu lên quan điểm về dịch thuật của mình là không nên quá chú trọng về mặt kỹ xảo mà làm sai lạc nội dung của nguyên tác. Qua lời bạt chúng ta còn được biết thêm về thời điểm ra đời của bản dịch (trước năm 1831).
Thực ra từ trước tới nay đã có nhiều người đề cập đến địch giả bài “Tỳ bà hành” nổi tiếng của Bạch Cư Dị. Ngay từ năm 1926 Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến cũng đã thông báo trên tạp chí Nam Phong dịch giả “Tỳ bà hành” là Phan Huy Thực. Tiếp đó Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Ly, Trương Linh Tử và sau này Phạm Văn Diêu, Tạ Ngọc Diễn, Hoàng Thị Ngọ cũng khẳng định như vậy. Khi viết về dòng họ Phan Huy ở Sài Sơn, GS. Phan Huy Lê cho biết gia phả họ Phan ở Thạch Châu và Sài Sơn đều chép thống nhất người dịch “Tỳ bà hành” là Phan Huy Thực. Chúng tôi cũng đã được đọc cuốn Phan tộc công phả hiện đang lưu giữ ở Thư viện Quốc gia (A2963) do Phan Huy Dũng – cháu nội Phan Huy Thực biên tập, trong đó có ghi tóm tắt tiểu sử 6 người con của Phan Huy ích. Trong đoạn nói về Phan Huy Thực, gia phả có ghi rõ các trước tác của ông như: Hoa thiều tạp vịnh, Tỳ bà hành diễn âm khúc, Nhân ảnh vấn đáp… Riêng đối với Phan Huy Vịnh thì gia phả không hề nói đến việc ông dịch “Tỳ bà hành”.
Như vậy gia phả họ Phan Huy là nguồn tư liệu duy nhất đáng tin cậy để xác định người dịch Tỳ bà hành và đồng thời cũng để đính chính những ngộ nhận lâu nay được gán ghép cho Phan Huy Vịnh. Sở dĩ có sự nhầm lẫn kéo dài có lẽ là do nguồn tư liệu của Trần Trung Viên trong cuốn Văn đàn bảogiám (soạn năm 1926) và nhất là cuốn Thi văn hợp tuyển dùng trong các trường trung học trước năm 1945 đã có ảnh hưởng sâu rộng trong giới học sinh lúc bấy giờ. Hai cuốn sách này gần đây đã được in lại vài ba lần nhưng vẫn không được đính chính, ngay cả bộ Từ điển văn học 2 tập in năm 1983-1984 cũng ghi Phan Huy Vịnh là người dịch “Tỳ bà hành” và Phan Huy Thực không có tên trong bộ Từ điển này (Cuốn Từ điển văn học bộ mới in năm 2004 đã có đính chính và bổ sung). Vì đã thành thói quen nên những cuốn sách mới gần đây như Thơ Đường trong nhà trường dùng cho học sinh Trung học, sinh viên và người yêu thích thơ Đường hoặc cuốn Bạch Cư Dị – Tỳ bà hành của Hồ Sỹ Hiệp tập hợp những bài viết của nhiều nhà nghiên cứu và cuốn Thơ Bạch Cư Dị của NXB Hội Nhà văn vừa mới in xong trong quí IV-2006, vẫn để tên người dịch là Phan Huy Vịnh.
Để góp thêm một minh chứng cho vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn lời bạt của Hà Tông Quyền cho bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực.
*
Lời bạt cho bài dịch “Tỳ bà hành”
“Tỳ bà hành” là tác phẩm của Bạch Lạc Thiên, các sĩ phu nước ta rất hâm mộ và đã diễn ra quốc âm, nhưng vì lời văn dài mà ngôn ngữ lại có phần mới nên đôi khi vẫn gặp những chỗ khó dịch và người dịch thường giữ lấy ý chính mà lại bỏ qua nhiều chi tiết trong nguyên bản. Khi dịch một bài văn nếu chỉ chú ý về mặt kỹ xảo (cầu công) mà không bám sát nội dung của nguyên tác thì có khác gì “gãi không đúng chỗ ngứa” và thử hỏi như vậy đã phải là người hiểu được thi sĩ họ Bạch chưa?
Khi tôi tiếp xúc với bài diễn âm của cựu Bộ trưởng Xuân Khanh họ Phan, tiên sinh bảo: Đó là bài tôi dịch ra đấy. Khi xem tôi thấy lời dịch bám sát nội dung, từng chữ từng câu răm rắp không sai mà âm vận thì lại vừa khoan thai vừa hùng tráng. Tôi đã ngâm nga, đọc đi đọc lại nhiều lần và rất lấy làm tâm đắc tưởng như đang được tiếp xúc với thi nhân cự phách đời Đường – người đang bị biếm trích ở đất Giang Châu trước cảnh thê lương của hơi thu và lau lách đìu hiu để tạo nên một thiên tuyệt bút, như đang được chứng kiến cảnh:
“Bình bạc vỡ tuôn đầy mặt nước Ngựa sắt dong sàn sạt tiếng đao” [1]
Tiên sinh đã diễn ra quốc âm trong lúc chưa gặp vận còn đang phải ẩn náu nơi sơn dã, chẳng khác cảnh sông Bồn và đã mượn chén rượu của người khác để giải nỗi sầu riêng, nếu không phải là người có thiên tư và chịu ảnh hưởng truyền thống học vấn của gia đình thì làm sao mà có được? Tiên sinh vốn sở trường về văn chương, thanh luật, nên âm vận trong câu dịch hài hoà toát lên cảnh phong lưu tao nhã, xứng đáng cùng với Lạc Thiên là những bậc hào hoa một thủa. Có những chỗ Lạc Thiên chưa diễn đạt hết thì tiên sinh lại dùng thanh âm mà giãi bày một cách tường tận.
Tôi thô vụng và quê mùa, không biết được nhiều, nhưng bề trên đã bảo, tôi không dám từ nan, bèn mạo muội viết ra lời bạt này và nếu như tác phẩm của tiên sinh nổi tiếng thì tôi cũng được thơm lây và cũng coi như được dự buổi tiễn đưa trong đêm trăng trên bến Tầm Dương để được cùng chia sẻ nỗi niềm u hoài của kẻ cô thần khoáng phụ, như thế còn gì sung sướng cho hơn, chắc tiên sinh cũng không cười tôi là kẻ ngông cuồng và Bạch Lạc Thiên cũng sẽ thông cảm cho tôi.
Trung tuần tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 12 (Hà ái) Nhâm Ngọ Hội nguyên Tiến sĩ Hình bộ Thị lang sung biện Nội các sự vụ Phương Trạch Hà Tốn Phủ cẩn bạt.
*
Qua lời bạt ta thấy Hà Tông Quyền đánh giá rất cao bài dịch của Phan Huy Thực. Trước Phan Huy Thực cũng đã có người dịch “Tỳ bà hành”. Trên tạp chí Văn học số 4/1975, Trần Thị Băng Thanh cho biết đã tìm được một bản dịch chép trong cuốn Thạch Động tiên sinh thi tập. Sau Phan Huy Thực, Phan Văn Ái cũng dịch “Tỳ bà hành” thành hai bài: một bài theo thể thất ngôn trường thiên, một bài theo thể thất ngôn bát cú. Trên tạp chí Nam Phong thỉnh thoảng cũng có sưu tầm được một vài bài dịch không đề tên người dịch. Tuy nhiên những bài xuất hiện trước và sau bản dịch của Phan Huy Thực đều không có mấy tiếng vang và đã nhanh chóng bị quên lãng. “Tỳ bà hành” được phổ biến rộng rãi và xem như một di sản văn học quí giá của Việt Nam chủ yếu là thông qua bản dịch của Phan Huy Thực. Nghệ thuật hát ca trù tồn tại đã lâu đời và từ khi có bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực thì nó đã lan nhanh và đã trở thành một điệu hát trữ tình, giàu chất thơ, nhạc điệu, làm phong phú và bổ sung thêm cho hàng chục làn điệu ca trù khác trong các ca quán thời xưa. Những người mê ca trù trước đây thường thuê thuyền đón ả đào hát “Tỳ bà hành” trong những đêm trăng huyền ảo để thưởng thức và làm sống lại nguồn cảm xúc của nhà thơ với người ca nữ trên bến nước Tầm Dương.
“Tỳ bà hành” không những là nguồn cảm hứng cho những nhà Nho tài tử và các bậc tao nhân mặc khách trước đây như Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh… mà cả những thi nhân hiện đại cũng mượn trăng nước Tầm Dương đưa vào tác phẩm của mình. Nhà thơ tình Xuân Diệu thì “Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người” hoặc “Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi”, Vũ Hoàng Chương cũng than “Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu”, nữ sĩ Ngân Giang thì “Bến Tầm Dương trăng nước một con thuyền, ngán tình canữ” và nhà thơ chân quê Nguyễn Bính thì dành Cây đàn tì bà cho một chuyện thơ dài.
Bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực là một kiệt tác đã có những câu thần bút làm say đắm bao thế hệ các nhà thơ. Xuân Diệu cũng đã phải thốt lên: “Ai đã đọc bản dịch ‘Tỳ bà hành’ quên những đoạn nào thì quên, thậm chí nếu quên cả bài, thì bốn câu mở đầu cũng không quên được”.
Bốn câu mở đầu đó là:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti
Nguyễn Hiến Lê cũng có nhận xét như sau khi ông so sánh mấy câu trên đây với câu thơ của Bạch Cư Dị:
“Mới đầu chúng ta thấy có cái gì khác nhau, mặc dù cũng bảy chữ và bản dịch rất sát nguyên bản: Tầm Dương giang đầu dạ tống khách không buồn, không vắng vẻ, không mông lung bằng Bến TầmDương canh khuya đưa khách. Tôi có cảm tưởng như vậy, có lẽ do chữ dạ dịch ra là canh khuya. Dạ (đêm) không gợi ý nhiều bằng canh khuya. Tài năng của họ Phan, tinh thần của tiếng Việt ở chỗ đó.
Đọc câu thơ thứ hai: Phong diệp địch hoa thu sắt sắt và câu dịch Quạnh hơithu lau lách đìu hiu thì câu của họ Phan làm tôi rung động hơn nhiều nhờ những chữ lau lách đìu hiu, cả chữ quạnh, chữ hơi nữa, vì tôi thấy lau lách buồn hơn địch hoa;hơi thu, đìu hiu gợi cảm hơn là thu sắt sắt.
Bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực là một tác phẩm toàn bích, và có lẽ cũng vì thế mà Tản Đà tài hoa cũng không dịch lại bài này và nhà thơ đã chọn một bài trường thiên nổi tiếng khác của Bạch Cư Dị là bài “Trường hận ca” và ông cũng đã thành công.
(Tác giả hiện làm việc tại Hội Ngôn ngữ học Việt Nam.)
[1]Lấy hai câu dịch của Phan Huy Thực để điển đạt ý “ngân bình thiết kỵ”.
Buôn Tuor Sra ( xã Nâm ka, Huyện Lăk, Đăk Lăk) là một vùng dân cư hỗn hợp, do những cuộc hôn nhân giữa nhóm tộc người Mnông Gar và người Êđê- Bih thuộc vùng Krông Nô mà hình thành.Địa bàn cư trú cũng nằm giữa trục giao lưu thông thương giữa huyện Lăk ( tỉnh Đăk Lăk ) và huyện Krông Nô( nay thuộc tỉnh Đăk Nông). Chính vì điều này mà cư dân trong buôn ứng xử theo phong tục tập quán của cả hai dân tộc Êđê và Mnông.
Đã cuối năm, mưa dứt hẳn. Dáng núi Nâm Ka in rõ nét trên bầu trời xanh ngăn ngắt.Màu đỏ ngầu của phù sa trên dòng Krông Knô nhạt dần. Dòng nước cũng không còn hung hãn cuồn cuộn đe doạ nữa, mà từ từ trở lại trong xanh, hiền hoà hẳn. Cà phê, lúa, bắp, đậu…đều đã ngoan ngoãn nằm im trong các chòi kho của mọi nóc nhà trong những buôn quanh chân núi Nâm ka. Dường như chúng cũng bằng lòng rủ nhau cùng nghỉ ngơi, sau những tháng ngày vật vã trên cành, ngoài đồng, giữa rẫy, chống chọi cùng mưa ,nắng và gió đại ngàn, để chín dần mà đem no đủ đến cho con người .
Nhà nhà trong buôn Tuôr Sra đều đã làm xong lễ đóng cửa kho lúa hoặc lễ ăn cơm gạo mới.
Ama Ben người Êđê Bih, vợ anh là người Mnông Gar. Đã học xong Trung học sư phạm ở tận ngoài thành phố Buôn Ma Thuột, lại ở riêng, nên Ama Ben không mấy chịu sức ép vì những tập quán và tín ngưỡng truyền thống của gia đình. Nhưng lần này thì anh phải nghe lời cha.
Về làm giáo viên trường tiểu học của xã đã được hai năm, công đoàn trường vừa ưu tiên cho anh được vay tiền của ngân hàng để mua chiếc xe máy đi dạy, đi họp cho thuận lợi ( Buôn Tuor Sra nằm ngay trung tâm xã, nhưng lại ở bên này con sông Krông Knô, nên việc đi lại khá khó khăn). Hai năm qua, cả gia đình anh trúng mùa lúa nước hai vụ. Đã không phải lo cái ăn giáp hạt, lại nhờ giá cà phê tăng, bán cũng được kha khá, có chút tiền để dành. Vợ chồng đã ra ở riêng, nên nhà Y Hung sắm được chiếc Tivi từ lâu, nay lại vừa mua thêm một bộ salon tiếp khách cho đàng hoàng. Với người ở vùng sâu, vùng xa cách trở như Tuor Sra và mấy Uôn quanh đây, thế này là nhà thày giáo “ hên” lắm. Chính vì vậy mà cha anh khuyên phải tổ chức một lễ tạ ơn các vị thần linh đã đem may mắn tới và xua đuổi cho gia đình những điều xui xẻo.
Từ mấy hôm trước , cả hai bên gia đình nội ngoại đều đã tất bật với công việc chuẩn bị cho lễ Chraih, nhất là làm rượu cần và kiếm các con thịt . Già làng Ama Huê của buôn Tuôr Sra, già làng Ama Biêng của buôn Boch…cùng mấy già làng cao tuổi khác, đã được mời đến bàn bạc. Khó ở chỗ là hai gia đình – hai tộc người khác nhau. Họ đã cùng chung sống như thế nhiều năm, không hề có chuyện phân biệt người Mnông, hay người Êđê. Gia đình nào muốn làm theo lệ tục nào thì làm. Thế nhưng lần này là nhà thày giáo, vừa cúng tạ ơn lại còn cúng xả xui nữa… làm sao cho đúng phong tục đây?
Hết mấy đêm gật gù bên vài ba ghè rượu cần, cuối cùng các già làng và cha cũng cho gọi vợ chồng Ama Ben tới, để nói cho rõ. Lễ Chraih này là mừng cho hai người thuận hoà, nên việc làm ăn mới phát triển, mua sắm được vật dụng đắt tiền cho gia đình. Do đó sẽ phải làm theo phong tục cả hai bên. Ở trong nhà, thày cúng – MJâo – sẽ làm lễ tạ ơn theo tập tục và cúng bằng tiếng Êđê. Còn thày bói – Jưr – sẽ làm lễ xin xả xui ngoài bờ sông, theo tập tục và cúng bằng tiếng Mnông. Do vậy mà lễ vật hiến sinh ngoài các con vật heo, gà, sẽ còn có cả con chó để làm vật xả xui. Làm sao phải đủ gạo thịt và rượu để lo cho ba phần : Cúng các Yang, đãi đằng bà con ăn tại chỗ và xẻ chia cho họ mang về nữa.
Các già làng đã cùng thoả thuận xong. Cả buôn và hai dòng họ xúm vào giúp lo cho vợ chồng Ama Ben. Ai đi mời khách gần khách xa thì đi. Ai vô rừng kiếm rau thì kiếm. Ghè rượu nhà nào mang tới góp cũng được buộc quanh Gơng giữa nhà. Ai có gì góp nấy : con gà, nắm gạo, gùi củi, lẫn mớ rau môn thục, trái đu đủ… Tiếng gà quang quác, heo eng éc lẫn trong tiếng chó sủa ăng ẳng đầy sân, khiến lũ heo, gà, chó trong buôn cũng nháo nhác gào nhặng xị cả lên.
Sương vừa tan trên mặt sông Krông Nô, cả thày cúng và thày bói đều đã có mặt ở nhà gia chủ. Những vị trung niên được phân công làm những con thịt hiến sinh cũng đã hoàn tất công việc của mình. Rượu lấy dâng các thần linh đã được thày cúng hút ra từ những chiếc ghè lớn nhất. Rượu huyết heo đựng trong bát đồng, Mjâo nhận lấy . Rượu huyết chó đựng trong vỏ bầu khô đã lên nước đen bóng, được giao cho Jưr.
Trong phòng, thày cúng Mjâo ôm một con gà trống sống ngồi trước mặt hai vợ chồng Ama Ben, trước mặt họ là chén rượu huyết, chén nước uống và những đĩa thịt heo bóp huyết đỏ hồng, chiếc đầu heo, con gà luộc vàng ươm, chén cơm trắng muốt, thuốc, trầu cau…đủ mỗi thứ một ít. “Ơ yang Atâo ! Yang Hruê, Yang Cư, Yang êlăn…Wit kơ buôn, wit kơ sang… Cơm thịt này Yang ăn, rượu này Yang uống…”. bằng tiếng Êđê, Mjâo bắt đầu gọi mời, kể lể. Nào là cảm tạ các Yang đã thương mà cho vợ chồng Ama Ben không chỉ cái chữ về dạy dỗ con cháu trong buôn, mà còn lúa , bắp đầy kho, cà phê bao đầy bao chất chồng… nhờ các Yang mà họ có tivi thấy được việc khắp mọi nơi, có xe máy đi về nhanh hơn con cáo chạy qua rừng; nay lại mới có thêm bộ bàn ghế đẹp nhất làng…Bơi hơi, Yang….! Ông nhúng miếng bông gòn vào chén rượu huyết, bôi lên chân Ama Ben ba lần. Nâng con gà lên quay ba vòng, lại lầm râm khấn vái trong tiếng chiêng sầm sập, sầm sập ở nhà ngoài. MJâo đứng dậy mang chén rượu huyết đi bôi lên thành bếp, cột nhà, cột kho lúa, lên cả những bao cà phê chồng chất nơi góc nhà. Vợ chồng Ama Ben nhón tay lấy một miếng cơm, mỗi thứ thức ăn một miếng. Vậy là xong nghi lễ , các Yang linh thiêng đã nhận tạ ơn, đã ban phước cho mùa sau cũng yên ổn làm ăn. Gia chủ cũng đã nhận phước lành của các Yang. Con gà trống là phần của Mjâo được mang về nhà.
Thày bói Jưr bây giờ mới bắt đầu phận sự của mình. Ôm bầu rượu huyết chó, ông dẫn Ama Ben và vài người nhà, mang theo trong chiếc gùi 1 tô thịt, một bát cơm, một chai rượu , 4 chiếc chân và đầu chó. Trong gùi còn có một nắm muối gói trong lá, một bộ quần áo cũ của chủ nhà, một gói hạt ngải, một chiếc cung và tên. Ra đến bờ sông, mấy người nhanh chóng dùng tre nứa dựng một chiếc bàn nhỏ để Jưr bày các thứ đồ cũng mang theo. Tất cả ngồi xổm quanh dàn cúng. Giọng khàn khàn của Jưr vang vang trên bờ sông vắng lặng, hoà lẫn trong tiếng u u của gió đại ngàn quật vào những đám cây cối xung quanh, nghe thật hoang dại và thần bí. Những con sóng vỗ bờ cát oàm oạp như có ma lực nào xô đẩy. “Ơ hồn mẹ hồn cha, hồn đất, hồn sông Krông Nô, núi Nâm Ka…Đây là cơm Ama Ben, lúa trên rẫy Ama Bu. Hãy nhận lấy mà xua đuổi cho họ mọi xui xẻo . Ơ Yang !”….Ông bắn mũi tên xuống sông, rảy muối về bốn hướng, rồi đập cho bẹp chiếc gùi. Sau đó đeo gói hạt ngải vào người Ama Ben, dùng rượu huyết chó bôi lên quần áo anh rồi bảo xuống sông tắm gội , rửa sạch những xui xẻo trong năm.
Ama Ben ở dưới sông lên, Jưr rẩy nốt chỗ muối còn lại, bôi hết rượu huyết chó lên người chủ nhà và khấn vái lần nữa. Bưng theo chiếc đầu chó và bầu rượu huyết, Ama Ben lội ra giữa dòng, thả trôi sông những thứ mang theo, kể cả quần áo đang mặc trên người (chỉ còn lại chiếc quần đùi), rồi lên bờ. (Xa xưa, các gia đình giàu có cúng xả xui bằng trâu, dê…hay bất cứ loài bốn chân nào, cũng đều phải đem đầu của con vật hiến sinh thả trôi sông sau khi cúng như thế).
Jưr và những người giúp lễ cùng đi ngồi tại chỗ ăn uống hết số rượu thịt còn lại, rồi mang những thứ gì còn để bên cạnh dàn cúng (gùi, chén đựng đồ ăn…) vứt hết xuống sông. Họ cùng nhau ra về. Nghi lễ xả xui vậy là xong. Các Yang đã nhận lễ, đã nhận lời không mang xui xẻo đến trong năm tới cho vợ chồng nhà Ama Ben.
Tiếng chiêng lan lan trong khắp buôn, mừng cho vợ chồng thày giáo năm tới cũng sẽ gặp nhiều may mắn. Rượu chảy rong róc trong cần, mùi con thịt nướng thơm tràn cả trong gió. Vui quá, vui quá! Không sót một ai trong buôn không đến chia xẻ cùng gia đình Ama Ben.
Khi một người nào đó hỏi về vai trò của tình bạn trong cuộc đời bạn, bạn sẽ trả lời sao? Một điều chắc chắn là không ai trong chúng ta coi nhẹ giá trị của tình yêu và tình bạn trong cuộc đời mình.
Có một bạn của Nhạc Xanh gửi cho mình câu hỏi nêu trên và một yêu cầu về Nhạc Xanh với ý rằng mình “hơi thiên về tình yêu khi post hơi nhiều tình ca mà ít quan tâm đến tình bạn”. Hôm nay xin được trả lời bạn trên chuyên mục này. Câu trả lời của mình rất đơn giản: Thiếu tình yêu và tình bạn thì cũng không có hạnh phúc. Tình bạn, như thế, còn quí giá với chúng ta hơn vàng hoặc kim cương, bởi hai thứ này không chắc mang lại cho ta hạnh phúc nếu thiếu đi tình yêu và tình bạn.
Ngay từ thời cổ đại những Aristotle (384- 322 BC), Epicurus (341-270 BC), và Cicéron, sử gia nổi tiếng thời La Mã cổ đại cũng đã khẳng định vai trò của tình bạn:
“Frienship ís one soul dwelling in two bodies. (Aristotle, triết gia Hi Lạp cổ đại)
Tình bạn là một tâm hồn trong hai thể xác.
“Of all the means which wisdom gives us to ensure happiness throughout ours lives, by far the most important is friendship”. ( Epicurus, triết gia Hi Lạp )
Trong tất cả các cách thức mà sự hiểu biết đem lại cho ta nhằm bảo đảm hạnh phúc trong cuộc đời, quan trọng nhất là tình bạn.
“ Friendship redoubles joys and cut grieves in halves”.
Tình bạn nhân đôi niềm vui và giảm đi một nửa nỗi buồn (Francis Bacon, 1561- 1626, triết gia và chính trị gia Anh)
Những câu nói sau đây cũng là những câu nói hay về tình bạn mà mình yêu thích:
“ A single rose can be my garden… a single friend, my world.” ( Leo Buscaglia) Chỉ một đóa hồng cũng đủ là một khu vườn cho tôi, … một người bạn, là thế giới của tôi.
A friend hears the song in my heart and sings it to me when my memory fails. ( Anonymous)
Bạn là người nghe được bài ca trong tim tôi, và hát lại cho tôi, khi trí nhớ của tôi đã mòn.
Hôm nay chúng ta cùng nhau nghe mấy ca khúc về tình bạn qua nhiều giọng hát với lời chúc bạn luôn có mặt trời của tình bạn cho mỗi ngày trong đời mình
1. THE FRIENDSHIP SONG- FRIENDS ARE QUIET ANGELS (Molly Pasutti )
.
Friends are quiet angels
Who lift us to our feet
When our wings have trouble remembering how to fly
They stand by us and give us
the strength to try
Friends are quiet angels
Who somehow make you see
The light that’s in the darkness
before the dawn
All at once the journey’s not so long
But it’s the laughter and the fun
Sometimes the feeling that we’re one
All the tears we cry together you and I
That will keep us heart to heart
as time goes by
Friends are quiet angels
Who fill your life with grace
Thrilled to share your joy
when a dream comes true
And on this special day
I’m blessed ’cause I can say
I’ve found a quiet angel
You’re a special angel
I found a quiet angel in you
Yo, I’ll tell you what I want, what I really really want,
So tell me what you want, what you really really want,
I’ll tell you what I want, what I really really want,
So tell me what you want, what you really really want,
I wanna, I wanna, I wanna, I wanna, I wanna really
really really wanna zigazig ha.
If you want my future forget my past,
If you wanna get with me better make it fast,
Now don’t go wasting my precious time,
Get your act together we could be just fine
I’ll tell you what I want, what I really really want,
So tell me what you want, what you really really want,
I wanna, I wanna, I wanna, I wanna, I wanna really
really really wanna zigazig ha.
If you wanna be my lover, you gotta get with my friends,
Make it last forever friendship never ends,
If you wanna be my lover, you have got to give,
Taking is too easy, but that’s the way it is.
What do you think about that now you know how I feel,
Say you can handle my love are you for real,
I won’t be hasty, I’ll give you a try
If you really bug me then I’ll say goodbye.
Yo I’ll tell you what I want, what I really really want,
So tell me what you want, what you really really want,
I wanna, I wanna, I wanna, I wanna, I wanna really
really really wanna zigazig ha.
If you wanna be my lover, you gotta get with my friends,
Make it last forever friendship never ends,
If you wanna be my lover, you have got to give,
Taking is too easy, but that’s the way it is.
So here’s a story from A to Z, you wanna get with me
you gotta listen carefully,
We got Em in the place who likes it in your face,
we got G like MC who likes it on an
Easy V doesn’t come for free, she’s a real lady,
and as for me..ah you’ll see,
Slam your body down and wind it all around
Slam your body down and wind it all around.
If you wanna be my lover, you gotta get with my friends,
Make it last forever friendship never ends,
If you wanna be my lover, you have got to give,
Taking is too easy, but that’s the way it is.
If you wanna be my lover, you gotta, you gotta, you
gotta,
you gotta, you gotta, slam, slam, slam, slam
Slam your body down and wind it all around.
Slam your body down and wind it all around.
Slam your body down and wind it all around.
Slam your body down zigazig ah
If you wanna be my lover.
.
3. BEST FRIEND SONG ( IN THE MOVIE My Best Friend’s Wedding)
Wishin’ and Hopin’
Originally by Dusty Springfield
Wishin’, and hopin’, and thinkin’, and prayin’,
Planning and dreamin’ each night of his charms.
That won’t get you into his arms
So if your’re looking for love you can share
All you gotta to is hold him, and kiss him, and love him,
And show him that you care.
Show him that you care, just for him.
Do the things that he likes to do.
Wear your hair just for him, ’cause,
You won’t get him, thinkin’ and a prayin’,
Wishin’ and hopin’.
‘Cause wishin’, and hopin’, and thinkin’, and prayin’,
Planning and dreamin’ his kisses will start.
That won’t get you into his heart!
So if you’re thinking how great true love is
All you gotta to is hold him, and kiss him, and squeeze him, and love him.
Yeah, just do it!
And after you do, you will be his.
You gotta show him that you care just for him.
Do the things that he likes to do.
Wear your hair just for him, ’cause,
You won’t get him, thinkin’ and a prayin’,
Wishin’ and a hopin’.
‘Cause wishin’, and hopin’, and thinkin’, and prayin’,
Planning and dreamin’ his kisses will start.
That won’t get you into his heart!
So if you’re thinking how great true love is!
All you gotta to is hold him, and kiss him, and squeeze him, and love him.
Yeah, just do it!
And after you do, you will be his.
You will be his.
You will be his!
.
4. YOU’RE MY BEST FRIEND ( TIM McGRAW)
I never had no one
I could count on
I’ve been let down so many times
I was tired of hurtin’
So tired of searchin’
‘Til you walked into my life
It was a feelin’
I’d never known
And for the first time
I didn’t feel alone
You’re more than a lover
There could never be another
To make me feel the way you do
Oh we just get closer
I fall in love all over
Every time I look at you
I don’t know where I’d be
Without you here with me
Life with you makes perfect sense
You’re my best friend
You’re my best friend, oh yeah
You stand by me
And you believe in me
Like nobody ever has
When my world goes crazy
You’re right there to save me
You make me see how much I have
And I still tremble
When we touch
And oh the look in your eyes
You’re more than a lover
There could never be another
To make me feel the way you do
Oh we just get closer
I fall in love all over
Everytime I look at you
And I don’t know where I’d be
Without you here with me
Life with you makes perfect sense
You’re my best friend
You’re my best friend
You’re more than a lover
There could never be another
To make me feel the way you do
Oh we just get closer
I fall in love all over
Everytime I look at you
And I don’t know where I’d be
Without you here with me
Life with you makes perfect sense
You’re my best friend
You’re my best friend (my best friend)
You’re my best friend (my best friend)
YOU’RE MY BEST FRIEND ( DON WILLIAMS)
.
You’re My Best Friend Lyrics
Artist(Band):Don Williams
Review The Song (1) Print the Lyrics
Send “You’re My Best Friend” Ringtones to Cell
Verse 1:
You placed gold on my finger.
You brought love like I’ve never known.
You gave life to our children
and to me a reason to go on.
Chorus:
You’re my bread when I’m hungry,
You’re my shelter from troubled winds,
You’re my anchor in life’s ocean,
but most of all You’re my best friend.
Verse 2:
When I need hope and inspiration
You’re always strong when I’m tired and weak.
I could search this whole world over
You’d still be everything that I need.
Chorus:
You’re my bread when I’m hungry,
You’re my shelter from troubled winds,
You’re my anchor in life’s ocean,
but most of all You’re my best friend.
You’re my bread when I’m hungry,
You’re my shelter from troubled winds,
You’re my anchor in life’s ocean,
but most of all You’re my best friend.
5. FRIENDSHIP SONG ( Carly Simon song in Pooh’s Heffalump Movie)
We stand shoulder to shoulder
We see eye to eye
We dive deep under water
We jump high in the sky
High
We stand shoulder to shoulder
We stand side to side
When one of us gets a tiny bit tired
One gives the other a ride
Ride
I’ve never had a best friend before
So I can’t be sure
What it feels like
But I think it feels more like this, I do
I think I feel more like myself
When I’m with you
Finding, finding
Losing and finding
Making, making a bond that is strong
Building, building a house for a friendship
Breathing a breath for our song
Song
For our song
.
6. Hymne A L’Amitie (Tiếng Pháp – Céline Dion)
Hymne a L’amitie Lyrics:
Si c’est un ami
S’il est pour toi
Ce que tu es pour lui
Celui qui peut t’aimer
Sans jamais te juger
Celui qui reste quand les autres t’ont déjà quitté
Je dis que si c’est un ami
Alors tu as bien réussi ta vie
Tu as déjà trouvé l’étoile du berger
Et tu n’es plus seul sur la route
Si c’est un ami
Donne ton pain et ton vin et ta vie
Et refais le monde comme l’ont fait trois cents fois
Don Quichotte et son vieux Sancho Panza
Si c’est ton ami
Dis-lui qu’il chante et puis chante avec lui
L’amitié c’est le plus beau pays
Si c’est un ami
S’il devient fou quand tu fais des folies
S’il te montre parfois qu’il avait peur pour toi
Si rien de moins que le meilleur ne le satisfait pour toi
Je dis que si c’est un ami
Alors tu as réussi ta vie
Chacun de son côté
On n’est que deux moitiés
A deux on franchit des montagnes
[ Find more Lyrics on http://www.mp3lyrics.org/BtP ]
Si c’est un ami
Donne ton pain et ton vin et ta vie
Et refais le monde comme
L’ont fait trois cents fois
Don Quichotte et son vieux Sancho Pança
Si c’est ton ami
Dis-lui qu’il chante et puis chante avec lui
L’amitié c’est le plus beau pays
Si c’est un ami
S’il a ton rire, s’il a tes larmes aussi
Si les mêmes colères
Le prennent quand la Terre
Avec ses trompettes et ses guerres
S’en va de travers
Je dis que si c’est un ami
Tu peux dire un grand merci à la vie
Puisqu’elle a fait de lui
Un frère que tu choisis
Et le compagnon de la chance
Si c’est un ami
Donne ton pain et ton vin et ta vie
Et refais le monde comme
L’ont fait trois cents fois
Don Quichotte et son vieux Sancho Pança
Si c’est ton ami
Dis-lui qu’il chante et puis chante avec lui
L’amitié c’est le plus beau pays
Si c’est un ami
Donne ton pain et ton vin et ta vie
Et refais le monde comme
L’ont fait trois cents fois
Don Quichotte et son vieux Sancho Pança
Si c’est ton ami
Dis-lui qu’il chante et puis chante avec lui
.
7. TRUE FRIEND ( Hannah Montana)
“True Friend”
[Verse 1]
We sign our cards and letters BFF
You’ve got a million ways to make me laugh
You’re lookin’ out for me; you’ve got my back
It’s so good to have you around
You know the secrets I could never tell
And when I’m quiet you break through my shell
Don’t feel the need to do a rebel yell
Cause you keep my feet on the ground
[Chorus 1]
You’re a true friend
You’re here till the end
You pull me aside
When something ain’t right
Talk with me now and into the night
‘Til it’s alright again
You’re a true friend
[Verse 2]
You don’t get angry when I change the plans
Somehow you’re never out of second chances
Won’t say “I told you” when I’m wrong again
I’m so lucky that I’ve found
[Chorus 2]
A true friend
You’re here till the end
You pull me aside
When something ain’t right
Talk with me now and into the night
‘Til it’s alright again
[Bridge]
True friends will go to the end of the earth
Till they find the things you need
Friends hang on through the ups and the downs
Cause they’ve got someone to believe in
[Chorus 3]
A true friend
You’re here till the end
You pull me aside
When something ain’t right
Talk with me now and into the night
No need to pretend
You’re a true friend
You’re here till the end
Pull me aside
When something ain’t right
Talk with me now and into the night
‘Til it’s alright again
You’re a true friend [3x]
.
8. WITH A FEW GOOD FRIENDS BY CARLY SIMON
With a few good friends
And a stick or two
A house is built at a corner called Pooh
With a friend and a stick
Or three or four
A house is built where it wasn’t before
With a window here
And there a door
And a nail and peg
For the coat of Eeyore
With a few good friends
And a stick or two
A house is built at a corner called Pooh
With a friend and a stick
Or three or four
A house is built where it wasn’t before
Dress it down
Or dress it up
Invite Tigger for tea
And Owl for supper
With a few good friends
And a stick or two
A house is built at a corner called Pooh
With a friend and a stick
Or three or four
A house is built where it wasn’t before
Đoạn đường từ trung tâm huyện Tây Giang, giữa tỉnh Quảng Nam đến xã Axan mất khoảng 50 km đi xe ô tô, qua một khung cảnh đẹp như tranh hòa quyện cùng núi rừng. Những cánh đồng lúa xanh ngát thanh bình, nằm sát bên những đỉnh núi nép mình dưới nắng mai, đem đến sự thảnh thơi sau những bức bách của cuộc sống.
Đặc điểm văn hóa của đồng bào dân tộc K’tu chính là nét đặc sắc nhất của xã Axan. Những ngôi nhà Guol truyền thống trong bản giờ trở thành nơi tụ họp cho các hoạt động cộng đồng. Người đồng bào K’tu có lối hát đối đáp độc đáo – hát lý – một loại hình nghệ thuật thi thố của những người cao tuổi. Bản làng cũng thu hút du khách bởi những lễ hội đặc sắc, gồm cả Lễ Cúng Được Mùa và Lễ Hội Đâm Trâu, và những món ăn đủ loại như là cơm lam (gạo nếp trộn với nước dừa được nấu trong ống tre), cơm nắm và thịt nướng trong ống tre.
Cuộc sống dân bản K’tu êm đềm và yên bình. Khi ngày mới lên, thung lũng ngập chìm trong làn sương khói. Nằm ở độ cao 1260 m, nên tiết trời mát lạnh như Sapa và Đà Lạt. Tảng sáng, dân bản náo nức ra đồng và dắt trâu bò ăn cỏ. Phong cảnh tĩnh lặng lúc chiều tàn mang đến cho du khách những cảm giác thư thái tuyệt vời.
Quan Jun dịch
COLORS AT A FRONTIER
by AXAN VALLEY; Saigontimes
The 50-kilometer drive from the center of Tay Giang district in the central province of Quang Nam to Axan commune is through a picturesque landscape in harmony with forests. The quiet green paddy fields, framed in the sunlight by the mountain peaks, provide relief from life’s pressures.
The cultural features of the K’tu ethnic group are the highlights of the Axan commune. The traditional Guol gouses in the villages are now venues for community activities. The K’tu people have a unique style of extempore singing, an art of competition between senior villagers. The commune also attracts tourists with its distinctive traditional festivals, including the celebration of Bumper Crops and Buffalo Stabbing Festival, and diversified gastronomy such as bamboo rice (sticky rice mixed with coconut cooked in bamboo pipe), steamed rice roll and meat grilled in bamboo rice.
The village life of the K’tu people is cozy and peaceful. As day begins the valley is shrouded in patches of fogs. At 1260 m, the weather is as cool as it is Sapa and Dalat. When the sun rises, the villagers flock to fields or takes their herds of cattle to the grass fields. The calm scenery in sunset offers travelers pleasant dreams.
Với giọng ca ngọt ngào ấm áp trời cho, Julio đã chinh phục được rất nhiều người hâm mộ trên toàn thế giới bằng những ca khúc trữ tình. Những bài hát của anh được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, và Julio được các fan yêu mến tặng cho anh danh hiệu vua của những bài tình ca lãng mạn.
Julio Iglesias có tên đầy đủ là Julio José Iglesias de la Cueva sinh ngày 23 tháng 9 năm 1943 tại Madrid, Tây Ban Nha trong một gia đình có họ hàng nội ngoại là dòng dõi danh giá.
Julio là một vận động viên tài.năng. Các bạn sẽ ngạc nhiên khi biết anh đã từng khoác áo thủ môn cho câu lạc bộ Real Madrid. Anh đã từng ước muốn sự nghiệp cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, nhưng anh cũng không muốn bỏ học ngành Luật tại đại học Complutense ở Madrid. Cha của Julio là người lai giữa Tây Ban Nha và người Arab, mẹ là người Tây Ban Nha. Thế giới này hẳn đã thiếu vắng một nam danh ca kiệt xuất, mà sẽ có thêm một chàng thủ môn đẹp trai anh dũng nếu không có định mệnh của đời anh.
Một đêm nọ ngày 22/9/1963, khi Julio tròn 20 tuổi, trong khi đang từ Majadahonda trở lại Madrid cùng với bạn bè , anh bị tai nạn ô tô nghiêm trọng, phải nằm bệnh viện một năm rưỡi (điều trị chứng tê liệt nửa người). Hi vọng sẽ bình phục đi lại bình thường của anh rất mong manh. Trong những ngày dài nằm trong bệnh viện, sau khi nghe bác sĩ thông báo anh sẽ vĩnh viễn không còn chơi bóng được nữa, Julio quá thất vọng và chán chường. Anh được cô y tá chăm sóc tặng cho một cái đàn guitar. Anh đã học đàn guitar để làm vơi đi nỗi buồn. Anh nghe đài vô tuyến và làm thơ: những bài thơ buồn, lãng mạn thể hiện nỗi băn khoăn về sứ mạng con người ở trần gian.
Chưa bao giờ Julio nghĩ mình sẽ là ca sĩ. Anh bắt đầu hát những bài ca buồn nói lên tâm sự của một người vận động viên phải nằm dài ngày trên giường. Anh bắt đầu học chơi đàn guitar cơ bản để đệm nhạc cho thơ của anh.
Sức mạnh tinh thần, ý chí sống vui của Julio cùng với sự động viên giúp đỡ của cả gia đình, đặc biệt là người cha đã bỏ nghề trong hơn một năm để giúp con trai mình, đã tạo ra phép lạ. Julio có thể lại đi đứng. Thêm nhiều tháng luyện tập gian khó trên bờ biển La Carihuela ở Torremolinos (Malaga) cùng với cha.
Khi bình phục, Julio trở lại học tiếp đại học, và đi du lịch sang Anh để học Tiếng Anh tại trường của Bell tại Cambridge, nước Anh. Julio tiếp tục viết ca khúc của mình. Cuối tuần anh hát ở các quán rượu, the Airport Pub, các bài hát của Tom Jones.
Năm 1968, một ngày nọ anh đến một hãng đĩa để đề nghị cho một ca sĩ khác hát ca khúc của mình. Sau khi đã nghe hết 1 đĩa đơn, người giám đốc hỏi sao anh không tự mình hát. Julio trả lời rằng anh không phải ca sĩ. Sau cùng họ thuyết phục được anh biểu diễn ca khúc của mình. Julio quyết định tham gia Liên Hoan ca nhạc nổi tiếng ở Benidorm. Tại đây, anh đã biểu diễn bài hát do chính mình sáng tác với tiêu đề “La Vida Sigue Igual” (“Cuộc đời vẫn như vậy”), anh đã giành giải nhất và nhanh chóng ký được hợp đồng thu thanh với Discos Columbia và Ramon Arcusa trở thành nhà sản xuất cho anh.
Sự nghiệp của Julio thực sự thăng hoa khi anh ký hợp đông với hãng thu thanh quốc tế CBS Records. Julio sớm có những bài hát được yêu thích bằng tiếng Italia và tiếng Pháp. Cho tới năm 1982, sau bài hát bằng tiếng Anh (Begin The Beguine) hết sức thành công và trở thành bài hát được yêu thích nhất ở Anh lúc bấy giờ, Julio đã chính thức ghi tên mình trở thành ca sĩ nổi tiếng trên khắp thế giới với lượng người hâm mộ đạt mức kỷ lục
Julio tham gia vào Liên Hoan Âm nhạc Eurovision và nhiều liên hoan ca nhạc khác. Lúc này danh tiếng của anh lên rất nhanh với vị trí dẫn đầu tại nhiều nơi từ Mexico đến Argentina. Julio đã nhận rất nhiều giải thưởng lớn. Ở Paris, 1983, Julio nhận được danh hiệu về đĩa bạch kim đầu tiên của anh. Anh cũng đã được ghi tên vào Hollywood Walk of Fame. Năm 1988 anh được trao giải Grammy với album Un hombre solo, cho danh hiệu Ca Sĩ Latin Hay Nhất Của Năm và Apauso 92 Nghệ sĩ của Năm
Tiếp đó, Julio tung ra album nhiều thứ tiếng Julio và bán được 1 triệu bản ở Mỹ. Nhằm tập trung hơn nữa vào thị trường Mỹ, Julio đã tung ra album 1100 Bel Air Place với bài hát To All The Girls I’ve Loved Before song ca cùng với Willie Nelson; bài All Of You với nữ ca sĩ Mỹ nổi tiếng Dianna Ross. Ngoài ra còn có bài hát được yêu thích trên toàn thế giới (My Love) song ca cùng với Stevie Wonder năm 1988, bài When You Tell Me That You Love Me với nữ danh ca Dolly Parton
Vào năm 1996, với album La Carrettera, Iglesias giành luôn giải thưởng năm dành cho album Latinh hay nhất. Vào những năm cuối thập niên 90, Iglesias đã bán được hơn 220 triệu bản bằng 7 thứ tiếng, khiến anh trở thành một trong những ca sĩ thành công nhất trong lịch sử nhạc pop.
Julio chính là cha của chàng ca sĩ trẻ Enrique Iglesias nổi tiếng trong dòng nhạc Latinh hiện nay và ca sĩ, diễn viên Chabeli Iglesias.
Theo Tuổi Trẻ (28/12/ 2008): Khép lại năm 2008, tạp chí trên mạng L’intern@ute (Pháp) đề nghị độc giả bầu chọn từ danh sách của ban biên tập những người đàn ông lịch sự nhất thế giới trong các lĩnh vực: chính trị, điện ảnh, âm nhạc. Dẫn đầu lĩnh vực âm nhạc là ca sĩ Tây Ban Nha Julio Iglesias – người hát những bản tình ca lãng mạn bằng tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha với hơn 250 triệu đĩa được tiêu thụ.
Sau đây Nhạc Xanh mời các bạn thưởng thức 7 bài hát do Julio trình bày như Starry Starry Night, Hey, When I Need You, Crazy… là những bài top hits, cùng 3 bài hát song ca với Willie Nelson, Dolly Parton, và Diana Ross. Bài La Paloma, Careless Whispers, và If you Go Away coi như bonus, vì mình sợ các bạn “kêu” là nhiều quá.
Thân chúc các bạn hai ngày cuối tuần vui tươi hạnh phúc. 🙂
1. STARRY- STARRY NIGHT (Vincent)
Starry starry night
Paint your palette blue and gray
Look out on a summer’s day
With eyes that know the darkness in my soul
Shadows on the hills
Sketch the trees and the daffodils
Catch the breeze and the winter chills
In colors on the snowy linen land
Now I understand
What you tried to say to me
How you suffered for your sanity
How you tried to set them free
They would not listen they did not know how
Perhaps they’ll listen now
Starry starry night
Flaming flowers that brightly blaze
Swirling clouds in violet haze
Reflect in Vincent’s eyes of china blue
Colors changing hue
Morning fields of amber grain
Weathered faces lined in pain
Are soothed beneath the artist’s loving hand
For they could not love you
But still your love was true
And when no hope was left inside
On that starry starry night
You took your life as lovers often do
But I could have told you Vincent
This world was never meant for one as beautiful as you
Starry starry night
Portraits hung in empty halls
Frameless heads on nameless walls
With eyes that watch the world and can’t forget
Like the strangers that you’ve met
The ragged men in ragged clothes
The silver thorn of bloody rose
Lie crushed and broken on the virgin snow
Now I think I know
What you tried to say to me
How you suffered for your sanity
How you tried to set them free
They did not listen they’re not listening still
Perhaps they never will
2. HEY
Hey!
It’s wonderful to see you once again
to see your smile and hear you call my name
there is so much to say.
Hey!
It isn’t accidental that we met
your love is something that I can’t forget
so I wander your way.
Hey!
If one of us won’t try to dry the tears
tomorrow is the world of yesteryears
let us live for today.
Hey!
Although we played a game of love and lost
I wouldn’t change a single dream because
if you loose you must pay.
It’s true
I’ve have so many others loves to share
but I will close my eyes and you’ll be there
no matter where I go, you’re ev’rywhere Er, Er…
If you
come back to me and see how much I care
I only want to live if you are there
to give your love to me.
Hey!
Don’t let me spend another day alone
remember all the happiness we’ve known
lets relive yesterday.
Hey!
We’ve known a world of loneliness and pain
we’ll never make the same mistakes again
may if only you’ll stay.
It’s true
I’ve have so many others loves to share
but I will close my eyes and you’ll be there
no matter where I go, you’re everywhere Er, Er…
If you
come back to me and see how much I care
I only want to live if you are there
to be with you I’d travel anywhere Er, Er
It’s true…
3. WHEN I NEED YOU
When I need you
I just close my eyes and I’m with you
And all that I so want to give you
It’s only a heartbeat away
When I need love
I hold out my hands
And I touch love
I never knew there was so much love
Keeping me warm night & day
Miles & miles of empty space in between us
A telephone can’t take the place of your smile
But you know I won’t be travellin’ forever
It’s cold out
But hold out
And do like I do
When I need you
I just close my eyes and I’m with you
And all that I so want to give you babe
It’s only a heartbeat away
It’s not easy when the road is your driver
Honey that’s a heavy load that we bear
But you know I won’t be travellin’ a life time
It’s cold out
But hold out
And do like I do…
when I need you….
When I need love
I hold out my hands
And I touch love
I never knew there was so much love
Keeping me warm night & day
When I need you
I just close my eyes and you’re right here by my side
Keepin’ me warm night & day
I just hold out my hands
I just hold out my hands
And I’m with you darlin’
Yes I’m with you darlin’
and All I wanna give you
It’s only a heartbeat away
4. CRAZY
Crazy
I’m crazy for feeling so lonely
I’m crazy
Crazy for feeling so blue
I knew
You’d love me as long as you wanted
And then someday
You’d leave me for somebody new
Worry
Why do I let myself worry
Wonderin’
What in the world did I do
Crazy
For thinkin’ that my love could hold you
I’m crazy for tryin’
I’m crazy for cryin’
And I’m crazy for lovin’ you
Crazy
For thinkin’ that my love could hold you
I’m crazy for tryin’
I’m crazy for cryin’
And I’m crazy for lovin’ you
5. WHEN YOU TELL ME THAT YOU LOVE ME ( với Dolly Parton )
I wanna feel this way
Longer than time
I wanna know your dreams
And make them mine
I wanna change the world
Only for you
All the impossible
I wanna do
I wanna hold you close
Under the rain
I wanna kiss your smile
And feel your pain
I know what�s beautiful
Looking at you
Here in a world of lies
You are the true
(Chorus)
And baby
Everytime you touch me
I become a hero
I’ll make you safe no matter where you are
And bring you
Anything you ask for
Nothing is above me
I’m shining like a candle in the dark
When you tell me that you love me
I wanna make you see
Just what I was
Show you the loneliness
And what it does
You walked into my life
To stop my tears
Everything’s easy now
I have you here
(Repeat Chorus)
In a world without you
I would always hunger
All I need is your love to make me stronger
And baby
Everytime you touch me
I become a hero
I’ll make you safe no matter where you are
And bring you
Anything you ask for
Nothing is above me
I’m shining like a candle in the dark
When you tell me that you love me
6. TO ALL THE GIRL I LOVED ( 1984 with Willie Nelson)
To all the girls I’ve loved before
Who travelled in and out my door
I’m glad they came along
I dedicate this song
To all the girls I’ve loved before
To all the girls I once caressed
And may I say I’ve held the best
For helping me to grow
I owe a lot I know
To all the girls I’ve loved before
The winds of change are always blowing
And every time I try to stay
The winds of change continue blowing
And they just carry me away
To all the girls who shared my life
Who now are someone else’s wives
I’m glad they came along
I dedicate this song
To all the girls I’ve loved before
To all the girls who cared for me
Who filled my nights with ecstasy
They live within my heart
I’ll always be a part
Of all the girls I’ve loved before
The winds of change are always blowing
And every time I try to stay
The winds of change continue blowing
And they just carry me away
To all the girls we’ve loved before
Who travelled in and out our doors
We’re glad they came along
We dedicate this song
To all the girls we’ve loved before
To all the girls we’ve loved before
Who travelled in and out our doors
We’re glad they came along
We dedicate this song
To all the girls we’ve loved before
7. ALL OF YOU (with Diana Ross )
I’ve never had this feeling before
I’ve never wanted anyone more
And something in your eyes tells me
You feel the way that I do
(I feel like you do)
If you would like to stay here all night
You know that I would say
It’s all right
Though I’m saying yes
I confess
I’ve got more on my mind
‘Cause I want more of you
Than your time
All of you, your body and soul
Every kind of love you can express
All the secret dreams you’ve never told
I want everything
And I’ll take nothing less
All of you as long as you live
Everything you’ve never shared before
I want all of you that you can give
All your joys and all your sorrows
Your todays and your tomorrows
How I long to feel the warmth of your touch
And then if I’m not asking too much
I’d like to spend my life wand’ring through
All the wonders of you
And when we’re lying close in the dark
So close I feel each beat of your heart
I want you to reveal what you feel
All you hold deep inside
There is nothing I want you to hide
All of you, your body and soul
Everything you want this love to be
I want all of you
All that you can give
And in return for all your giving
Let me give you all of me
All of you, your body and soul
Every kind of love you can express
All the secret dreams you’ve never told
I want everything (everything) everything
All of you as long as you live
(As long as you live)
Everything you want this love to be
I want all of you
All that you can give
In return (in return) I wanna give you…
Let me give you
Trong xã hội nguyên thủy (cách đây khoảng 7000 năm về trước) đã có sự xuất hiện của Đỉnh được làm bằng gốm sứ, nhưng vào thời đó Đỉnh chỉ được coi là một dụng cụ để đựng đồ ăn phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của người dân Trung Quốc. Đỉnh Thanh Đồng
Đến thời kỳ Tây Chu và nhà Thương Đỉnh được cải tiến một các vượt bậc và phát triển thành “神器” tức “thần khí”: đồ thờ cúng Thiên đế và tổ tiên (lúc này Đỉnh được chuyển sang làm bằng đồng và gọi là Đỉnh Thanh Đồng). Mặt trong của Đỉnh được bao phủ bởi một lớp màu thần bí và uy nghiêm, do đó vào thời này Đỉnh chuyển thành vật tượng trưng cho vương quyền,cho danh phận của giai cấp quý tộc. Trong tiếng hán tồn tại một vài ngôn từ có quan hệ mật thiết với Đỉnh và biểu đạt ý nghĩa tương tự, ví dụ như: “问鼎” tức “Vấn đỉnh” chỉ lập mưu đồ để cướp chính quyền, hay “一言九鼎” tức “Nhất ngôn cửu đỉnh ” chỉ những ngôn luận mang tính chất quyết định…
Tư Mẫu Mậu Phương Đỉnh gọi tắt là Tư Mẫu Mậu Đỉnh, là đồ đúc vào thời kì cuối của nhà Thương (trước Công Nguyên thế kỷ 14 đến trước Công Nguyên thế kỷ 11) cách đây khoảng 3000 năm lịch sử, là bảo vật quý hiếm được phát hiện tại An Dương Hà Nam Trung Quốc vào năm 1937 và hiện đang được lưu giữ tại viện bảo tàng lịch sử Trung Quốc.
Tư Mẫu Mậu Phương Đỉnh là do đế vương Văn Đinh (thời nhà Thương) cho thợ đúc để thờ cúng mẫu vương mẹ của mình. Mặt trong của Đỉnh được khắc chữ Tư Mẫu Mậu, và theo giải thích của các nhà khảo cổ học thì chữ “司” tức “Tư” mang ý nghĩa thờ cúng, chữ “母戊” tức “Mẫu Mậu” là chỉ mẫu vương Văn Đinh. Do đó Đỉnh được mang tên “司母戊” – “Tư Mẫu Mậu”.
Hiện Tư Mẫu Mậu Đỉnh đang được coi là Thanh Đồng khí được phát hiện có kích thước lớn nhất trên thế giới: nặng 875kg, cao 1.33m, dài 1.1m, rộng 0.79m, các nhà khảo cổ học ước chừng cần khoảng 1000kg kim loai và 200 đến 300 công nhân cùng lúc thao tác mới có thể đúc thành. Các đường nét hoa văn được khắc trên Tư Mẫu Mậu Phương Đỉnh rất tinh vi, đặc biệt là hình hai con Rồng và Hổ đang há to miệng, trên miệng mỗi con đều đang ngậm một đầu người. Có rất nhiều ý kiến tranh luận về ý nghĩa của các hình họa này, nhưng đa phần đều cho rằng, nghệ thuật khắc này là biểu hiện sức mạnh của tự nhiên và các vị thần. Tư Mẫu Mậu Phương Đỉnh
Tư Mẫu Mậu Phương Đỉnh đầu tiên là do một người dân đào được, nhưng do lúc đó đang có chiến tranh với nước Nhật, vì sợ bị quân Nhật cướp đi nên người dân đã đem Tư Mẫu Mậu Đỉnh chôn lại trong đất.
Đến tháng 6 năm 1946 Tư Mẫu Mậu Phương Đỉnh lại được đào lên và vận chuyển đến Nam Kinh làm quà tặng cho lễ thọ 60 tuổi của Tưởng Giới Thạch. Sau đó, chính phủ quốc dân đảng muốn vận chuyển Tư Mẫu Mậu Phương Đỉnh về Đài Loan để cất giữ nhưng vì khối lượng của Đỉnh quá lớn, vận chuyển khó nên ý tưởng đó đã không thực hiên được.
Sau khi nhà nước Trung Quốc mới được thành lập, năm 1959 người dân đã chuyển Tư Mẫu Mậu Phương Đỉnh từ Nam Kinh về Bắc Kinh, cất giữ tại bảo tàng lịch sử Trung Quốc.
Gần như ai trong chúng ta cũng nghe danh Hạ Long, dù có thể chưa có cơ hội đến thăm. Mới đây tổ chức New7Wonders đã công bố vịnh Hạ Long là một trong 28 đề cử lọt vào vòng chung kết của cuộc bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Chúng ta thật tự hào về điều này, vì sau bao nhiêu điểm du lịch được đánh giá cao, chúng ta lại có thêm một địa danh nữa được xếp vào loại “siêu sao’ như Hạ Long!
Là một vùng biển rộng mênh mông với diện tích hơn 1500km2, bao gồm gần 2.000 đảo lớn nhỏ, vịnh Hạ Long đẹp như một bức tranh thuỷ mặc! Màu biển Hạ Long rất đặc biệt: không phải màu xanh ngăn ngắt vì trong thấu đáy như biển Nha Trang, không phải màu xanh lục vì nhiều vi thực vật như biển Phan Thiết, cũng không phải màu xanh lờ lợ do bãi bùn phù sa như biển Cà Mau, màu xanh ngọc lam của biển Hạ Long là sự phối hợp tuyệt vời giữa màu xanh nước biển và màu của những hòn núi đá vôi tạo thành. Ngay cả màu biển cũng không đồng nhất, vì núi đá vôi có nơi sừng sững từng phiến vách dựng đứng màu vôi trắng, có nơi triền núi lại thoai thoải phủ bởi màu xanh tươi của những cụm cây cỏ nhỏ.
Đi du thuyền tham quan vịnh Hạ Long, chúng ta như lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh, nhất là khi du ngoạn trên Hạ Long buổi sáng sớm. Màn sương mỏng lãng đãng trên mặt biển làm các hòn đảo hiện ra mờ ảo, hết hòn đảo này đến hòn đảo khác, mỗi hòn đảo có một dáng vẻ rất riêng. Chính vì vậy mà có đến gần 1.000 hòn đảo ở Hạ Long đã được đặt tên, ví dụ như hòn Trống Mái, hòn Gà chọi, hòn Yên ngựa, hòn con Cóc, hòn Lã vọng, hòn Đầu người, hòn Cánh buồm…
Phải đúng góc nhìn mới thấy tên của hòn đảo mô tả chính xác hình dáng của nó đến mức nào! Khi chung quanh mình là các hòn đảo bồng bềnh, biến đổi liên tục, phô bày toàn bộ vẻ đẹp mê hồn, tưởng như mình đang lạc vào một thế giới khác, lạc vào thế giới của những câu chuyện cổ tích, với cảnh đẹp chỉ có được bởi sức sáng tạo và tưởng tượng của các nghệ sĩ bậc thầy! Được chiêm ngưỡng hàng ngàn hòn đảo nhấp nhô giữa một vùng biển lặng rộng mênh mông, cảm giác của mình thật khó tả! Không phải là sự choáng ngợp trước biển cả mênh mông và thấy mình quá nhỏ bé cùng một nỗi sợ mơ hồ. Đó là cảm giác thật thanh bình, thật an lành, thân thiết, và niềm hạnh phúc được đắm mình hoàn toàn vào thiên nhiên bao la!
Không chỉ thế, trong lòng các hòn đảo ấy chứa rất nhiều hang động đẹp, như động Sửng Sốt, động Thiên Cung, động Đầu Gỗ…
Động Sửng Sốt là một trong những động rộng và đẹp vào bậc nhất trong cụm hang động của Hạ Long. Có lẽ tên Sửng Sốt bắt nguồn từ tên gọi “grotte des surprises” do người Pháp dành tặng cho động. Đường lên động rất đẹp. Trong động có một chú ngựa đá và một cây roi dài, tương truyền rằng Thánh Gióng đã để lại trấn an dân chúng trước khi về trời. Động có nhiều khu vực với cảnh trí thay đổi liên tục, đây là vườn thượng uyển, kia là cây đa cổ thụ, đây là chú voi to lớn, kia lại là gấu mẹ vĩ đại,..xoay chuyển biến hoá liên tục theo tưởng tượng của du khách.
Động Thiên Cung có vô vàn khối thạch nhũ với hình dáng biến hoá kỳ ảo. Cửa động nhỏ hẹp, nhưng bên trong động, không gian rộng lớn như một cung điện. Những bức vách cao đầy măng đá và trần trang điểm bởi thạch nhũ đa dạng tha hồ cho trí tưởng tượng của chúng ta bay bổng! Chỉ tiếc là hệ thống ánh sáng còn sơ sài và màu mè quá, làm giảm đi phần nào vẻ lộng lẫy nguyên sơ của động.
Hi vọng sau này với kỹ thuật tạo sáng rất nghệ thuật (như đã được sử dụng ở UBND thành phố HCM, hay cầu Trường Tiền- Huế), động sẽ mỹ lệ và hoành tráng hơn trong sự thán phục của du khách!
Động Đầu Gỗ (hay động Dấu Gỗ) ngoài vẻ đẹp mê hồn, còn là một di tích lịch sử. Các mẫu (đầu) gỗ tìm thấy trong động được cho là di tích của các cọc gỗ lim giúp Trần Hưng Đạo thắng quân Nguyên- Mông trong cuộc thuỷ chiến Bạch Đằng lẫy lừng của dân tộc. Chiếc cầu gỗ từ bãi đỗ của tàu, thuyền dẫn vào cửa động rất nên thơ. Các tay phó nhòm tha hồ lấy góc chụp đẹp!
So với cách đây 10 năm, du khách thăm Hạ Long bây giờ có cái thú được chèo thuyền kayak trên mặt biển yên ả. Do nhiều du thuyền neo lại nghỉ qua đêm, du khách có thêm cơ hội tuyệt vời được ngắm bình minh trên biển, ngắm hừng đông nhuộm đỏ cả vùng vịnh mênh mông. Nhưng, với tư cách cá nhân, mình thật sự không vui khi thấy có quá nhiều nhà bè trên biển. Làm xấu Hạ Long bao nhiêu mà kể với vẻ ngoài lôi thôi, luộm thuộm! Và quá đông du thuyền cũng như kayak! Hạ Long mất đi vẻ đẹp huyễn hoặc khi, trong tầm mắt của bạn, có quá nhiều thứ ngoài thiên nhiên kỳ ảo!
Hi vọng các bạn xếp ưu tiên Hạ Long vào danh mục du lịch của các bạn, vì mình không hình dung nỗi trong tương lai, với sự nổi tiếng khắp thế giới sau cuộc bầu chọn này, với sự đổ xô du ngoạn của khách du lịch trong và ngoài nước, với sự phát triển tăng tốc vượt bậc để phục vụ du lịch như hiện nay (thêm nhiều nhà bè và cái gì nữa đây..), Hạ Long có còn giữ được vẻ đẹp hoang sơ lộng lẫy vốn có nữa chăng?
Dưới đây là cảm nhận về Hạ Long của Macarena, một du khách từng gọi Việt Nam là Thiên đường (Quân đã giới thiệu trên ĐCN), và đã thăm rất nhiều thắng cảnh Việt Nam. Rất vui được trích dịch và chia sẻ cùng các bạn. Chúc các bạn ngày mới nắng đẹp!
HẠ LONG.
Hai trong số bảy kỳ quan mới của thế giới ( như đã được cư dân toàn cầu bầu chọn) nằm ở Việt Nam. Chúng tôi may mắn quá! Chúng tôi đã có cơ hội thăm một trong hai kỳ quan này vào tháng năm, vì cha mẹ tôi cũng đến du ngoạn, và dĩ nhiên họ rất thú vị được ngắm tận mắt ít ra cũng là một trong số các kỳ quan này.
Giữa Sapa và vịnh Hạ Long, chúng tôi chọn tham quan vịnh Hạ Long. Chúng tôi thật sự là “thủy dân”, và dù thung lũng và đồng bằng xanh của Sapa rất mờ ảo, chúng tôi thích dành chút thời gian ở biển. Các bức ảnh sẽ đánh giá đúng hơn trải nghiệm của chúng tôi tại Hạ Long, nhưng mô tả ngắn gọn về chiếc tàu sang trọng chúng tôi đã nghỉ qua hai đêm cũng nhằm mục đích này. Chiếc “Bhaya” do một người Pháp làm chủ và điều hành là bản sao của loại tàu lưu hành tại châu Á, ngoại trừ bên trong có nội thất kiểu thuộc địa cực kỳ tinh xảo, với hai mươi phòng nhỏ rất lãng mạn, và một phòng ăn có cửa sổ từ sàn đến trần, cho phép du khách ngắm cảnh quan đầy cảm xúc của những ngọn núi đá vôi nhô lên từ mặt biển xanh màu ngọc lam. Dù biển đầy sứa lớn (cỡ bằng trái banh), tất cả chúng tôi đã có vài lần tắm biển đêm, trong lúc nhiều du khách, trong đó có cha tôi, câu cá bằng mồi mực từ boong dưới của tàu Bhaya.
Ngày thứ nhì của chuyến du ngoạn vịnh Hạ Long, chúng tôi được chuyển sang chiếc tàu ngày nhỏ hơn đưa chúng tôi tham quan chung quanh vùng vịnh bao la này. Trong lúc thuỷ thủ đoàn chuẩn bị bữa trưa với mực ống, cá và cua nhồi thịt, chúng tôi mạo hiểm xuống biển và neo chiếc thuyền kayak trên bãi cát trắng vắng vẻ. May mắn thay, sứa biển không gây quá nhiều phiền toái và chúng tôi có thể bơi trong làn nước xanh ngọc không hề lo ngại gì.
……….
Ha Long
Two of the world’s new seven world wonders (as voted by the global population) are in Viet Nam. Lucky us! We had the opportunity to visit one of those two world wonders in May, with the excuse that my parents were coming to visit and of course, they would be interested in at least witnessing one of these great wonders. Out of the two, Sapa and Ha Long Bay, we chose to visit the latter. We really are “water” people, and although Sapa’s green valleys and terraces are misty, we were yearning to spend some time on the sea. The photographs will do much justice to our experience in Ha Long Bay, but a brief description of the luxurious junk we slept on for two nights is in order. The French owned and operated “Bhaya” Cruise is a replica of an Asian junk, except that inside you find exquisite colonial furniture, twenty small yet very romantic cabins, and a dining room with floor to ceiling windows, allowing the guests to take in the inspiring view composed of limestone mounds that jet out of the turquoise blue colored sea. Although the sea was full of very large (the size of a soccer ball) jellyfish, all of us did some night swimming while many guests, my dad included, fished for squid from the lower deck of the Bhaya.
On the second day of our lovely cruise in Ha Long Bay, we were transferred to a smaller day junk that toured us around the immense bay. While the crew prepared our lunch of fresh calamari, fish, and stuffed crab, we ventured out in the sea and parked our kayaks on the deserted white-sand beaches. Fortunately, the jellyfish were not much of a nuisance and we were able to swim through the turquoise water without any worries.
June 29, 2008 by Macarena Posted in Asia-Pacific, Travel Journal
Cách đây hai tuần, hôm mồng 1 tháng 8, 2009, chúng ta có đưa tin là cựu tổng thống Phi Luật Tân, Cory Aquino, qua đời.
Câu chuyện Cory Aquino là một trang sử rất quan trọng cho lịch sử Phi Luật Tân, và là một kích thích lớn cho phong trào dân chủ trên thế giới.
Trước Cory Aquino là Fernando Marco, làm tổng thống độc tài tổng cộng 22 năm. Anh này xiết chặt nước Phi Luật Tân đến nỗi tham nhũng lan tràn và gia đình ông ta vơ vét những khối tài sản khổng lồ của dân Phi, nhưng chẳng ai dám hó hé. Gia nô của Marcos nắm hết quyền hành ở Phi.
Chồng của Cory Aquinos là thượng nghĩ sĩ Ninoy Aquino can đảm lên tiếng phê phán Marcos nên bị bắt và bị tuyên án tử hình. Ông bị giam 7 năm, cho đến năm 1980 khi ông bị bệnh tim nặng, dù Marcos không đồng ý, nhưng tổng thống Mỹ Jimmy Carter áp lực dữ dội, cho nên Marcos bằng lòng cho Ninoy qua Mỹ chữa bệnh, và cả vợ con cùng đi theo.
Ngày 21 tháng 8 năm 1983, Ninoy và gia đình trở về Phi Luật Tân và Ninoy bị ám sát ngay khi đang bước xuống máy bay ở phi trường Manila, còn trên bục thang.
Dân Phi Luật Tân nổi giận và xoay quanh Cory Aquino, yêu cầu bà tranh cử tổng thống. Cory, dù đã tốt nghiệp đại học tại Mỹ, luôn luôn gọi mình là “người nội trợ đơn giản” (a simple housewife), trở thành biểu tượng đoàn kết và tranh đấu cho dân Phi Luật Tân.
Năm 1986 Cory tranh cử với Marcos. Mọi người tuyên bố là Marcos dùng nhiều trò gian lận. Hai bên đếm phiếu, bên nào cũng tuyên bố mình nhiều phiếu hơn. Ngày 25 tháng 2 năm 1986, cả hai bên đều làm lễ nhậm chức tổng thống riêng, cho cả hai người. Đó là khởi đầu của cuộc “Cách mạng vàng” của Cory, cuộc cách mạng dân chủ không đổ máu, nhờ toàn dân Phi hỗ trợ và các tướng lãnh quân đội cũng từ từ đồng ý hỗ trợ Cory. Marcos từ chức.
Cory Aquino là nữ tổng thống đầu tiên ở Á châu.
Vài tháng sau đó, ngày 11 tháng 12 năm 1986, chúng ta có bài nói chuyện dưới đây. Đây là bài nói chuyện riêng tư trong một nhóm lãnh đạo nhỏ của Phi Luật Tân. Bài này chưa từng xuất bản ở đâu cả. Có lẽ ĐCN là nơi đầu tiên trên thế giới có nó.
Bài này Cory nói trong Buổi Điểm Tâm Cầu Nguyện Quốc Gia tại một khách sạn ở Manila, Phi Luật Tân, gồm có một số lãnh đạo Phi và vài bạn bè từ các nước. Một người bạn của mình có mặt hôm đó, giữ bài nói chuyện này 23 năm. Và hôm Cory qua đời, mang ra gởi cho một số bạn bè.
Khi đọc bài này, các bạn hãy nghĩ đến khung cảnh chính trị Phi Luật Tân và cuộc đời của Cory lúc đó, chỉ 3 năm sau khi chồng bị ám sát, và chính trị Phi Luật Tân lúc đó thật là hỗn loạn và nguy hiểm. Ai biết được những biến chuyển chính trị Phi Luật Tân lúc đó sẽ nhận ra là các danh từ rất chung chung dùng trong bài này là nói về các biến cố lớn tại Phi và dĩ nhiên là mọi người nghe hôm đó đều hiểu.
Điểm rõ ràng nhất ai cũng thấy là lòng sùng kính mộ đạo sâu thẳm của Cory. Nhưng điểm quan trọng cho chúng ta trên ĐCN là:
(1) sự vắng mặt của tất cả mọi từ ngữ nói đến thù hận, ghen ghét, nghi kỵ, lo lắng, phê phán… trong bài này, và
(2) sự khiêm tốn cực kỳ của Cory.
Trong bài này cũng có một câu quote mình hay đọc mỗi khi có quá nhiều gánh nặng trong lòng:
“Hãy đến với ta, tất cả các con những người nhiều gánh nặng trong lòng, và ta sẽ cho các con được nghỉ ngơi…”
Ngoài việc chia sẻ bài này với tất cả các anh chị em đọc ĐCN, mình đặc biệt gởi tặng câu quote này đến các bạn ĐCN đang có nhiều gánh nặng trong lòng—mình vẫn cầu nguyện cho các bạn hàng ngày.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
.
Bài nói chuyện của tổng thống Corazon C. Aquino, Tổng thống Phi Luật Tân, tại buổi Điềm Tâm Cầu Nguyện Quốc gia, 11 tháng 12 năm 1986
Trong những tháng qua, trong những lúc hiểm nguy và khủng hoảng, chúng ta cầu xin sự khoan hồng, can thiệp, ân phước và nhân từ của Chúa. Dù là chúng ta thiếu sót, Chúa đã luôn luôn trả lời. Như các Tỉên Tri đã kinh ngạc:
“Lòng từ nhân của Chúa không bao giờ ngừng. Tình thương của Chúa không bao giờ thất bại. Chúng thành mới mỗi buổi sáng…”
Vì vậy tôi muốn dùng dịp này để tạ ơn Chúa Giêsu Christ, Người Cứu chúng ta và là sức mạnh của ta, Người dẫn đường và là lãnh đạo thật của nước ta. Tình thương của Chúa –qua suốt thời nô lệ, cuộc đấu tranh, và thành quả tự do của chúng ta và cuộc chiến của chúng ta để gìn giữ tự do và mang lại y’ nghĩa cho tự do – đã thành mới mỗi buổi sáng. Khi chúng ta đau đớn, Ngài đã gọi:
“Hãy đến với ta, tất cả các con những người nhiều gánh nặng trong lòng, và ta sẽ cho các con được nghỉ ngơi…”
Và thuở chúng ta tìm được an bình trong tâm với quyết tâm mới, và bước khỏi vòng nô lệ với kẻ thù bủa vây tứ phía, Ngài đã bảo đảm với chúng ta là nếu Ngài ở cùng chúng ta, không ai có thể thắng chúng ta. Và bây giờ khi chúng ta chiến đấu chống kẻ thù bên ngoài, và kẻ thù trong chúng ta, lời hứa vẫn còn đó không lung lay:
“Hãy tìm trước hết Nước Chúa và sự công chính của Chúa, và tất cả những điều này sẽ được trao tặng cho con.”
Và ngay cả trong sự tìm kiếm ngập ngừng của ta, Ngài cũng bảo đảm với chúng ta rằng ai sốt sắng trong sự tìm kiếm sẽ “tìm thấy”, và cửa sẽ mở; vì chỗ nào chúng ta yếu, Ngài mạnh.
Vì vậy, lập đi lập lại, chúng ta tạ ơn Giêsu, Chúa chúng ta. Chúng ta tạ ơn Ngài đã có mặt khi chúng ta kêu cầu trong khốn cùng. Chúng ta tạ ơn Ngài đã nâng chúng ta lên khi chúng ta mệt mỏi và nao núng. Chúng ta tạ ơn Ngài đã với tay và chụp chúng ta ngay trên bờ vực thẳm và đặt chúng ta xuống trong chiến thắng và tự do. Chúng ta tạ ơn Ngài vì lòng khoan dung của Ngài với người Phi Luật Lân. Chúng ta tạ ơn Ngài vì cơ hội để gặp gở cầu nguyện sáng nay và hân hoan với sự có mặt của Ngài. Vì Chúa Giêsu đã hứa bất kỳ nơi nào và lúc nào hai hay ba người họp lại trong tên Ngài, Ngài cũng sẽ có mặt ở đó.
Chúng ta hãy dùng cơ hội này để đếm các ân phước chúng ta đã có, dù là chúng ta vẫn dám xin thêm. Nhưng chúng ta không bao giờ nên quên công đức thuộc về Ai — và Ai là người chúng ta nên tin vào. Như tông đồ Phaolô viết cho các tín hữu hãnh diện của thành Corinth:
“Nhưng Chúa Trời đã chọn những ngớ ngẩn của thế giới để làm hổ thẹn người thông thái. Ngài chọn những yếu kém của thế giới để làm xấu hổ người mạnh mẽ, để không ai có thể khoe trương trước mặt Ngài. Bời vì chỉ từ Chúa Trời mà chúng ta có sự sống qua Chúa Giêsu Christ, người đã làm cho chúng ta thành chấp nhận được đối với Chúa Trời. Vì vậy, như lời đã viết, “Hãy để ai khoe trương, khoe trương trong tên Chúa.”
Chúng ta hãy hãnh diên sáng nay trong Chúa cao cả, Chúa của chiến thắng và tự do của chúng ta. Tôi biết rằng mỗi người chúng ta có gánh nặng và những thử thách riêng khi chúng ta làm việc để làm mới quê hương và đồng bào ta. Nhưng chúng ta có thể mang trong lòng những dòng này từ một bản nhạc ngợi ca, viết ra để diễn tả chúa Giêsu, Chúa và là Khách Danh Dự của chúng ta trong buổi họp mặt hôm nay:
“Nếu Ngài mang gánh nặng của cả thế giới trên vai Ngài, tôi biết, hỡi các anh chị em, là Ngài cũng sẽ mang các anh chị em.”
Cám ơn các bạn và chúc các bạn một buổi sáng đẹp.
(Trần Đình Hoành dịch)
.
Remarks of President Corazon C. Aquino, President of the Republic of the Phillipines, at National Prayer Breakfast, Dec. 11, 1986
“In the past months, in times of danger and crisis, we have prayed for our Lord’s mercy, intervention, blessing and grace. Despite or failings, He has always answered. As the Prophets would marvel:
‘The Lord’s loving kindnesses indeed never cease; His compassion never fails; they are new every morning…’
I therefore would like to take this opportunity to thank our Lord Jesus Christ, who is our Savior and our strength, our Guide and the true Leader of our nation. His compassion – thoughout our bondage, our struggle, out attainment of freedom and out battle to keep and give it meaning—has been new every morning. As we suffered, He called to us:
‘Come to me, all of you who are heavily laden, and I will give you rest.’
And as we found inner peace through our new resolve, and marched away from slavery with the enemy on every side, He assured us that if He was with us, no one could prevail against us. And now as we battle the enemy without, and the enemy within ourselves, the promise is there unwavering:
‘Seek you first the Kingdom of the God and His righteousness, and all these things will be added unto you.’
And even in our uncertain seeking, He assures us that thoese who are earnest in their search shall ‘find’, and the doors will be opened; for where we are weak, He is strong.
And so, again and again, we thank Christ our Lord. We thank Him for being there when we called in our distress. We tahnk Him for holding us up when we were tired or faltered. We thank Him for reaching out and snatching us from the edge of the precipice and setting us down in triumph and freedom. We thank Him for His mercy upon Filipinos. And we thank Him for the opportunity to gather in prayer this morning and for the pleasure of His company. For Christ has promised that wherever and whnever two or three are gathered together in His name, He will also be there.
Let us take this opportunity to count our blessings, even as we dare to ask for more. But let us never forget to Whom the credit should go – and in Whom we should trust. As the Apostle Paul wrote to the proud Corinthians:
‘But God chose the foolish things of the world to shame the wise; He chose the weak things of the world to shame the strong so that no one may boast before Him. For it is from God alone that we have life through Jesus Christ, who made us acceptable to God. Therefore, as it is written, “Let him who boasts, boast in the Lord.”’
May we thus take pride this morning in the greatness of our God, the God of our victory and freedom. I know we each carry our burdens and face our individual trials as we work for the renewal of our land and our people. But we may take heart in these lines froma contemporary song of praise written to describe Christ, our Loard and Honored Guest of this morning’s gathering:
‘If He carried the weight of the world upon His shoulders, I know, dear brothers and sisters, that He will carry you.’
Có một chàng nghệ sĩ với mái tóc quăn bồng bềnh là nghệ sĩ chơi saxophone có lượng đĩa nhạc bán chạy nhất trên thế giới đạt kỷ lục 70 triệu bản trong hai thập niên và lên đỉnh vinh quang âm nhạc. Tuy giành được vô số giải thưởng lớn, nhưng Kenny G bậc thầy về saxophone, lại khá giản dị khi nói về đam mê của mình : “Tôi không chơi nhạc để kiếm những lời bình luận tốt đẹp hay để mọi người xếp tôi vào một thể loại và nói, đó là thứ nhạc jazz hay. Với tôi, nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Thậm chí khi ai đó nói: Anh ấy là nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại, cũng chỉ như thế mà thôi”
Kenneth Gorelick , được biết nhiều với nghệ danh Kenny G, là một nhạc sĩ saxophone người Mỹ. Duotones, một trong bốn album đưa đến sự thành công bất ngờ cho ông vào năm 1986. Nhạc cụ chính của Kenny là kèn soprano saxophone, nhưng đôi lúc ông cũng chơi kèn alto, tenor saxophone, flute
Kenny sinh ngày 5 tháng 6 năm 1956 tại Ann Arbor, Michigan, và lần đầu tiên tiếp xúc với kèn saxophone khi ông nghe một người nào đó trình diễn nó tại show The Ed Sullivan Show. Sau đó, ông bắt đầu học các chơi kèn saxophone bằng cách tự lhọc. Ông học chơi kèn bằng cách tập với các đĩa ghi âm phần lớn của Grover Washington, Jr., và tìm hiểu những cung bậc âm thanh mà ông nghe được. Tại trường trung học Franklin, bang Washigton ông thất bại trong việc gia nhập một ban nhạc jazz. Năm sau, ông đã thử lần nữa, và nhờ lòng quyết tâm, ông đã chính thức được gia nhập ban nhạc. Đồng thời, ông cũng đã chơi trong đội golf của trường, môn thể thao mà ông đam mê khi được người anh trai, Brian Gorelick giới thiệu năm ông 10 tuổi
Vừa tròn 20 tuổi, Kenneth Gorelick bắt đầu cuộc đời nhạc công khi ông chơi nhạc saxophone với Barry White, Love Unlimited Orchestra vào năm 1976, lúc ấy ông cũng đang học chuyên ngành kế toán. Sau đó, ông tốt nghiệp Đại học Washington, ông chơi trong ban nhạc funk có tên là Cold, Bold & Together sau trở thành thành viên của ban nhạc The Jeff Lorber Fusion.. Ông bắt đầu sự nghiệp solo sau thời gian chơi trong ban nhạc này.
Năm 1982, Kenny G kí hợp đồng với hãng đĩa Arista Records khi có lời mời từ giám đốc của hãng, khi đó là Clive Davis. Ông đã làm khá nhiều đĩa đơn và hợp tác với các ca sĩ Whitney Houston, Toni Braxton , Natalie Cole, Steve Miller, và Aretha Franklin. Nhạc của ông mang ảnh hưởng của Grover Washington, Jr., các album của Kenny G thường được xếp vào thể loại smooth jazz.
Ông thành công hơn trước, với cả G Force và Gravity, album thứ hai và thứ ba nhận đạt danh hiệu đĩa bạch kim tại Mỹ. Những album này bán rất chạy với hơn 5 triệu bản riêng tại Mỹ. Album thứ năm, Breathless, trở thành album hòa tấu bán chạy nhất mọi thời đại, với trên 15 triệu bản tiêu thụ, riêng tại Mỹ đã là 12 triệu bản.
Kenny G đã ghi âm một số bài hát Trung Hoa, như bài Jashmine Flower , hay The Moon Represents My Heart. Nhạc của ông rất được ưa chuộng tại Trung quốc. Bản thu bài Going Home của ông thường được chơi khi bế giảng năm học tại các trường học và khi bế mạc một sự kiện ở nơi công cộng. Ngoài ra người ta còn có thể nghe nhạc của Kenny G trên rất nhiều tuyến xe lửa ở Thượng Hải và Thiên Tân khi tàu đến ga cuối.
Năm 1991, Kenny thể hiện lại ca khúc trong bộ phim “Dying Young” của Julia Robert; và năm 1998 bản nhạc “My Heart Will Go On” của tuyệt phẩm “Titanic” cũng được Kennny thể hiện và thu âm, đem thêm vinh quang về cho ông trong hai bộ phim
Năm 2005, sự thành công vang dội của album “At Last… the Duets Album”, một trong những đại diện tiêu biểu của dòng jazz bảo thủ, lịch thiệp và dễ cảm nhận, đã đưa Kenny lên đỉnh cao trong Top album jazz đương đại, mang về cho anh danh hiệu Nghệ sĩ jazz đương đại số một trong năm.
Nhiều người cho rằng nhạc của ông hay, dễ nghe, với giai điệu nhẹ nhàng, mà không kén chọn người nghe như của Kitaro hay Shanti.
Vào năm 2003, Kenny G được RIAA, (Recording Industry Association of America )Hiệp Hội Công nghiệp Ghi Âm Của Mỹ xếp hạng 25 trong số các nghệ sĩ có doanh số cao nhất, Ông có 48 triệu album được bán vào 7/ 2006 . Năm 1994, Kenny G được trao tặng giải Grammy về Nhạc Cụ Hay Nhất với Forever in Love. Ngoài ra Kenny còn nhâc được rất nhiều giải thưởng khác của Amercian Music, Soul Train, World music & NAACP Image Awards
Các album nổi tiếng nhất của ông gồm:
• The Collection (1993)
• Montage (1993)
• The Very Best of Kenny G (1994)
• Kenny G – Greatest Hits (1997)
• In America (2001)
• Ultimate Kenny G (2003)
• The Romance of Kenny G (2004)
• The Essential Kenny G (2006)
• Forever in Love: The Best O Kenny G (2009)
Sau đây mời các bạn thưởng thức 8 bài Saxophone của Kenny G.
Bài mở đầu sẽ là một bài tha thiết với giai điệu tha thiết sâu lắng, như đưa bạn vào cõi mộng của tình yêu bất tử, mà nói bao nhiêu cũng không cùng. Chính bài hát này trong Album Forever in Love đã mang về cho Kenny G thêm một chiến công trong sự nghiệp ngợi ca tình yêu, cuôc đời và con người của ông.
Bài 2 sẽ làm say đắm lần nữa những con tim yêu Titanic.
Bài You’re Beautiful với hình ảnh minh họa thât đẹp phù hợp với tựa đề bài hát
Bài Summer Time sẽ vui hơn bài Yesterday mà có lần một bạn cuả Nhạc Xanh đã nhắc đến .
Kết thúc chương trình sẽ là bài nhạc Trung Hoa rất được ưa chuộng của Kenny G. Mong rằng không có bạn nào than rằng mình post ít quá nha.
Thân chúc các bạn một ngày mới vui tươi năng động dù có thả hồn theo tiếng saxophone mê hồn của Kenny G.
1. Forever in Love
2/ Titanic / My Heart will Go On
3. You’re Beautiful
4. Summer Time
.
5. The Way We Were
6 Yesterday
7. One More Time ( with Kenny G’ s daughter, Beth as singer )
I lie half awake, late at night
I reach out to touch you
feel you by my side
and I reach, and I reach,
but I never get to feel you
Will I ever get to feel you again, again
Just one more time
One more moment
To take you in my arms
One more chance
One more kiss
Before I wake to find you gone
One more time
Before I have to face another day,
and my heart breaks again
It´s only a dream
but it´s all so real
Don´t want it to end
but I know it will
So I pray, and I pray
Every night I´m on my kness
Begging for the chance to see you
again, again
Just one more time
One more moment
To take you in my arms
One more chance
One more kiss
Before I wake to find you gone
One more time
Before I have to face another day,
and my heart breaks again
Oh one more time
Before I have to face another day,
and my heart breaks again
again…
Hôm nay trong chương trình Nhạc Xanh chúng ta đến thăm viếng nước anh em Lào, đề hiểu thêm về nền văn hóa này một tí. Khèn
Âm nhạc truyền thống Lào rất giống âm nhạc Khmer, và cũng rất giống nhạc truyền thống Thái. Có gốc sâu xa trong nhạc truyền thống Ấn độ. Các nước Thái, Khmer và Lào đều nẳm trong vùng văn minh Ấn Độ. Và Indochina (Việt Nam, Lào và Campuchia) có nghĩa là Ấn Trung, nơi hai nền văn minh cổ đại Ấn Độ và Trung Hoa gặp nhau.
Khí cụ nỗi bật nhất trong nhạc truyền thống lào là Khèn (khene), là một khí cụ thổi do nhiều ống sao hợp lại, nhưng có thể tạo ra hợp âm, như là tiếng đàn phong cầm (accordion). “Khèn làm ra người Lào và người Lào làm ra khèn.”
Hoa sứ, Dok Champa -- quốc hoa của Lào
Ban nhạc lễ bái truyền thống, gọi là Sep Nyai, có hai bộ gồng (kong vong), một đàn gõ bằng gỗ (lanat), sáo (pei hay salai), hai bộ trống, và hai bộ chiêng nhỏ (xing).
Dàn nhạc Sep Noi, để chơi nhạc phổ thông, là dàn nhạc ngoài các khí cụ của Sep Nyai còn có thêm đàn cò hai dây, gọi à So U hay So I hay đàn Ấn độ, và dĩ nhiên là khèn.
Sau đây mời các bạn nghe một số bản nhạc tượng trưng.
Video 1: Nhạc khèn cùng lời ca truyền thống.
Video 2: Vũ truyền thống Lào, với dàn nhạc truyền thống Sep Nyai
Video 3: Noon, một ca sĩ và nữ minh tinh màn bạc đương đại của Lào, hát bài Dok Champa, tức la Hoa Sứ, quốc hoa của Lào.
Video 4: Vũ truyền thống Lào tại đại hội thượng đỉnh ASEAN
.
Nhạc Khèn cùng ca truyền thống
.
Vũ truyền thống Lào — Fon Lao Duang Duean với ban nhạc truyền thống Sep Nyai.
. Noon — Dok Champa (Hoa sứ). Noon là ca sĩ và nghệ sĩ đóng phim đương đại.
.
Vũ truyền thống Lào tạo hội nghị thượng đỉnh ASEAN
Trung Quốc là một quốc gia nhiều tôn giáo, vừa có đạo giáo bản địa lại vừa có các tôn giáo được du nhập từ nước ngoài vào như Phật Giáo, Hồi Giáo, Đạo Cơ Đốc..Các kiến trúc xây dựng của Đạo Giáo gọi là “宫” tức “Cung” hoặc “观” tức “Quán-miếu đền”, Hồi Giáo có Thanh Chân Tự, Cơ Đốc GIáo có Giáo Đường. Còn Tự Miếu, Phật Tháp, chùa được xây dựng trong hang đá được coi là ba kiến trúc lớn và đặc sắc của Phật GIáo. Bạch Mã Tự
Phật Giáo được du nhập từ Ấn Độ vào Trung Quốc từ thời nhà Hán, nhưng các kiến trúc xây dựng của Phật Giáo tại Trung Quốc có rất nhiều điểm khác biệt, có lẽ đó là do Phật Giáo sau khi được truyền bá vào Trung Quốc đã bị người Hoa Trung Quốc hóa ngay từ đầu. Điều đó được thể hiện ngay trong bố cục của các Tư Viện thời cổ đại, ví dụ như đa phần phía trước mặt của lối đi chính trong Tự Miếu là Sơn Môn, trong Sơn Môn bên trái và phải đều là lầu chuông, chính điện là điện Thiên Vương, mặt sau là điện Đại Hùng Bảo, phía sau của Đại Hùng Bảo là lầu Tàng Kinh ( nơi cất giữ thư kinh), hai bên lề của lối đi chính được bố trí các kiến trúc như tăng phòng (phòng ở của người tu hành), Trai Đường (phòng ăn chay)…Toàn bộ bố cục kiến trúc của Tự Miếu, điện Đường, mái nhà… đều được mô phỏng theo kiến trúc của cung điện Hoàng Gia, bởi vậy Tự Miếu mang khí thế Trang Nghiêm, dáng vẻ huy hoàng khá riêng biệt thể hiện được nét đặc sắc riêng của kiến trúc Phật Giáo tại Trung Quốc.
Đại Thiệu Tự
Tự Miếu Phật Giáo thường được xây dựng gần núi, cách những nơi đông dân cư. Đặc biệt là bốn núi danh tiếng như: Ngũ Đài Sơn, Nga Mi Sơn, Cửu Hoa Sơn, Phổ Đà Sơn, đây là nơi tập chung những kiến trúc Tư Miếu danh tiếng trong lịch sử, ví dụ như tại Ngũ Đài Sơn có kiến trúc Phật Quang Tự và Nam Thiền Tự .
Phật Quang Tự và Nam Thiền Tự đều được xây dựng vào thời nhà Đường, Nam Thiền Tự là kiến trúc Tự Viện được xây dựng bằng gỗ sớm nhất tại Trung Quốc vẫn còn tồn tại đến ngày nay, Trong Phật Quang Tự thì Tượng Phật, Bức Họa, nét bút mực còn lưu lại và các kiến trúc xây dựng tại đây được coi là tứ tuyệt.
Pháp Môn Tự
Phật giáo được truyền bá rất rộng rãi tại Trung Quốc, bạn có thể gặp rất nhiều các Tự Miếu được xây dựng trên khắp các vùng miền của trung quốc, nó không chỉ ghi chép lại một cách tỉ mỉ sự phát triển về văn hóa xã hội thời cổ đại và sự suy thịnh của các loại tôn giáo trên đất nước Trung Quốc, mà còn mang những giá trị lớn và quan trọng về mặt lịch sử và nghệ thuật.
Sau đây mình sẽ giới thiệu với các bạn 10 Tự Miếu được đánh giá là danh tiếng nhất tại Trung Quốc hiên nay: Miếu Quan Đế
Xếp thứ nhất: Bạch Mã Tự, nằm cách thành đông cũ của thành phố Lạc Dương khoảng vài km, đây là Tự Viện đầu tiên được xây dựng tại Trung Quốc.
Xếp thứ hai: Đại Thiệu Tự, nằm trên phố tám góc tại trung tâm cũ của thành phố Lạp (?), Đại Thiệu Tự bắt đầu xây dựng vào Công Nguyên năm 647. Truyền thuyết có lưu lại rằng, trước khi xây dựng Tự, công chúa Văn Thành đã vận dụng âm dương ngũ hành để tạo nội công biến địa hình của Tây Tạng giống như dáng nằm ngửa của một ma nữ, trong đó Đường Hồ của Lạp (?) lại nằm ở vị trí trung tâm (tức trái tim của ma nữ), do đó người dân đã phải xây dựng Tự tại Đường Hồ để xua đuổi ma nữ.
Tấn Tự
Xếp thứ ba: Pháp Môn Tự, nằm tại trấn Pháp Môn cách thành bắc của tỉnh Phù Phong khoảng 10km. Bắt đầu được xây dựng vào những năm cuối của thời kì Đông Hán, có phát tích từ thời Bắc Ngụy, bắt đầu hưng thịnh từ thời nhà Tùy, và đạt đỉnh cao vào thời nhà Đường, được đặt danh là Tự Miếu Hoàng Gia.
Xếp thứ tư: Miếu Quan Đế, hay còn gọi là Giải Châu Quan Đế Miếu, thuộc trấn Giải Châu thành phố Sơn Tây Trung Quốc. phía Bắc giáp với Ngân Hồ, mặt đối diện là một dãy núi, phong cảnh rất đẹp.
Khổng Miếu
Xếp thứ năm: Tấn Tự, được bắt đầu xây dựng vào thời Bắc Ngụy, nằm tại chân núi Ung Sơn phía tây nam của thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Trong kiến trúc Tấn Tự có đặt điện Thánh Mẫu làm chủ thể, ngoài ra còn có điện hiến dâng, điện vũ, Đình Đài, cầu mộc, lầu chuông, Kim Nhân Đài, Miếu Quan Đế, suối Nan Lão, Đường Hòe…
Lạp Bốc Tăng Tự
Xếp thứ sáu: Khổng Miếu nằm tại thành phố Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, là một kiến trúc phương đông nhiều màu sắc, một quần trúc có quy mô rất lớn, Khổng Miếu cùng với Cố Cung của Bắc Kinh và Sơn Trang Thành Đức tại Hà Bắc được coi là ba đại quần trúc lớn nhất của cổ đại Trung Quốc. Khổng Miếu nằm trong khuôn viên rộng lớn với tổng diện tích vào khoảng 133.000m². Kiến trúc chủ thể của Khổng Miếu là điện Đại Thành (đây là nơi các Hoàng đế đến thờ cúng Khổng Tử), xung quanh là 9 dãy kiến trúc được xếp hàng dọc, Tòa cửa thứ nhất của Khổng Miếu là Linh Tinh Môn được xây dựng vào thời Minh Vĩnh Lạc, tòa cửa này rộng 13m và cao khoảng 10m, được xây dựng để cúng sao Thiên Điền. Hai bên Linh Tinh Môn có đặt hai tấm bia đá lớn, bên trên khắc hàng chữ “quan viên trước khi vào phải xuống ngựa”. Phía sau của Khổng Miếu còn có tòa Khuê Văn Các, đây là tòa lầu ba tầng có chiều cao khoảng 23m rộng 30m, được làm bằng gỗ với các kiến trúc mái cong. Thiếu Lâm Tự
Xếp thứ bẩy: Lap Bốc Lăng Tự.
Xếp thứ tám: Thiếu Lâm Tự, được xây dựng vào những năm 19 thời kì Bắc Ngụy Thái Hòa, là một ngôi chùa được xây dựng trên đỉnh phía tây của Tung Sơn, trấn Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam Trung Quốc. Đây được coi là cái nôi của Phật Giáo Thiền Tông và Võ Thuật Trung Quốc. Theo truyền thuyết của Phật Giáo Thiền Tông lưu lại thì Bồ Đề Đạt Ma, một Phật tăng người Ấn Độ sau khi từ biệt Lương Vũ Đế đã vượt sông Trường Giang đến chùa Thiếu Lâm Tự để truyền bá tư tưởng Phật Giáo cho người Hoa. Trong suốt thời gian trụ trì và thuyết pháp ở đó Phật tăng đã thực hành thiền định quay mặt vào núi trong suốt 9 năm liền. Trong quá trình giảng dạy Phật Tăng phát hiện ra các tăng nhân học trò của mình có thể lực rất kém nên đã dùng Án Ma Pháp (một loại thủ thuật kết hợp giữa xoa bóp và điểm huyệt) để dạy cho các Tăng nhân nhằm tăng cường thể lực. Và theo những ghi chép còn lưu lại thì chính Phật Tăng Bồ Đề Đạt Ma là người soạn thảo ra Dịch Cân Kinh và La Hán Thập Bát Thủ (đây chính là bài quyền đầu tiên của Thiếu Lâm Tự). Và cho đến nay Phật Tăng Bồ Đề Đạt Ma được coi là Sư Tổ của phật giáo Thiền Tông và võ thuật tại Trung Quốc. Tháp Nhĩ Tự
Xếp thứ 9: Tháp Nhĩ Tự, nằm tại trấn Lỗ Sa Nhĩ tỉnh Hoàng Trung, cách Tây Ninh khoảng 40km.
Xếp thứ 10: Huyền Không Tự, trong rất nhiều các Tự Miếu được xây dựng tại Trung Quốc thì Huyền Không Tự trên dãy núi Hằng Sơn của Sơn Tây được coi là kiến trúc Tự Miếu kì diệu nhất. Thường thì các Tự Miếu đều được xây dựng trên mặt đất bằng phẳng nhưng Huyền Không Tự lại khác biệt ở chỗ được xây dựng trên vách núi cheo leo. Huyền Không Tự
Mình mong rằng nếu bạn nào đi du lịch tại Trung Quốc, nhớ lưu ý đến 10 Tự Miếu mà mình đã giới thiệu nhé, chúc các bạn một ngày vui.