Tình trạng thơ không có tứ hiện rất phổ biến và nhiều người mắc phải. Những bài thơ này thường kể lể dài dòng, miên man, vấn đề tung ra vung vãi, hình ảnh và hình tượng chạy xa chủ đề. Nói tóm lại là người đọc chẳng hiểu nhà thơ định nói gì…
Muốn làm thơ có tứ, thì việc tập dượt ban đầu phải như người học sinh làm luận, cả trong tư duy và khi viết, luôn luôn tự hỏi mình: Câu này có phục vụ cho điều mình định nói không. Lúc đầu, phương pháp sáng tác này có thể hơi lố bịch, thêm cái khô khan, cứng ngắc và không có vẻ gì là công việc của một nghệ sĩ. Nhưng từ những lao động cơ bản này công việc làm thơ dần dà trở nên vững chắc con đường thành tựu. Ví như người diễn viên chèo vất vả khi học những làn điệu cổ trước khi cập nhật những làn điệu cách tân.
Xương Cốt Của Thơ
Thật thú vị khi nói về xương cốt của thơ. Xương cốt của thơ chính là cái tứ, bài thơ cần thiết phải có xương cốt, cần phải có tứ.
Nên định nghĩa thế nào là tứ thơ?
Trước hết hãy nói công việc mở đầu cho một bài thơ. Đối với một bài thơ tôi thường bắt đầu bằng hai phương pháp khác.
1. Đã thuộc rất mạch lạc vấn đề mình sẽ viết, thuộc đến nỗi – như tôi đã nói ở trên – chỉ việc đặt bút xuống và mặc cho dòng thơ cuốn mình đi, cuốn cho đến chữ cuối cùng dừng lại, là bài thơ đã kết thúc. Chẳng những tôi thuộc lòng nội dung mà còn thuộc lòng cả hình thức biểu hiện. Đối với phương pháp này tôi có thể trả lời một cách dũng cảm: Mình viết cái gì và đã viết như thế nào.



Cuốn tiểu thuyết dày 374 trang, tôi đã đọc một mạch từ 8 giờ tối cho đến quá nửa đêm thì xong, chợp mắt một lúc là sáng, tỉnh dậy, tôi gọi điện thoại cho Hoàng. Câu hỏi: Sự thật là như thế nào? Hoàng đáp: Trăm phần trăm sự thật. Tôi cúp máy và trở lại với Ngửa Mặt Kêu Trời, đọc lướt chừng một giờ. Lại nối máy với Hoàng. Ông vẫn là chính ủy đấy chứ? Hoàng đáp: Ông mất lòng tin ở tôi từ bao giờ vậy? Tôi cúp máy. Ngay từ thời chúng tôi cùng thần tượng Paven, đám bạn cùng thời với Hoàng, tất nhiên cả tôi, chúng tôi đều coi Tô Hoàng là chính ủy, chính ủy từ tâm hồn đến lời ăn tiếng nói, đến chiếc sà cột luôn khoác vai đến cái vẫy tay, cái miệng mở câu chào, cái gì cũng chính ủy cả, chính ủy toàn phần. Tôi vừa lật dở cuốn sách của Hoàng, vừa lan man nghĩ về câu hỏi của Hoàng: Ông mất lòng tin với tôi từ bao giờ vậy? Vì không đáp thoát được câu hỏi của Hoàng, tôi nối lại điện thoại, lần này chúng tôi nói với nhau bằng tiếng Nga. Hoàng cười từng cười ngắn và nói câu phương ngữ Nga “ Rứbắc rứbắcka vídít idờ đalêka “, nôm na là “Người đánh cá nhìn thấy người đánh cá từ xa”, ứng với một câu tám trong Kiều “ Phải người cùng hội cùng thuyền đâu xa”, ý rằng phải nên là Hoàng mà đồng cảm với Hoàng. Tôi từ câu nói đó của Hoàng mà viết bài đò đưa này. 
Mohandas Karamchand Gandhi (1869-1948) là một chính trị gia và tư tưởng gia siêu việt. Ngài là người sáng tạo ra triết lý satyagraha. Satya (truth, sự thật) là đạo hay chân lý hàm ý lòng yêu thương. Lòng yêu thương phát sinh ra sức mạnh (agraha, force). Satyagraha là sức mạnh được sinh ra bởi lòng yêu thương. Satyagraha được thể hiện dựa trên nền tảng bất bạo động (ahimsa, nonviolence). Satyagraha là “vũ khí” đã giúp Ấn độ giành được quyền độc lập từ Anh quốc và là nguồn cảm hứng cho nhân quyền và tự do trên toàn thế giới.
Góp thêm một cách hiểu câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử


![mimimelvin[1] Mimi and Melvin](https://dotchuoinon.com/wp-content/uploads/2011/04/mimimelvin1.jpg?w=232&h=300)

nhiều bạn nghe nhạc.
Viện Phát triển bền vững Tây Nguyên vừa tổ chức cuộc tọa đàm về việc ” làm thế nào đưa sử thi Tây Nguyên về lại với cộng đồng”. ( ngày 5-4-2011 tại Buôn Ma Thuột) Xin giới thiệu với các bạn trích đoạn bài phát biểu của Nay Jek ( Y Jek Niê Kdam) một trong những ngưòi đã tham gia dịch sử thi, Êđê tại cuộc tọa đàm trên.
