Category Archives: Thơ

Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc

Chào các bạn,

Dưới đây là bài bài báo nhà thơ Vương Trọng vừa viết về bài thơ Lời Thỉnh Cầu ở Nghĩa Trang Đồng Lộc, mà anh viết năm 1995, khắc lên bia xi-măng năm 2002, mình dịch ra Anh ngữ năm 2005 (biên tập lại năm 2008), và khắc song ngữ lên bia đá tại Nghĩa Trang Đồng Lộc tháng 1 năm 2009.
dongloc
Mình thăm Đồng Lộc tháng 5 năm 1995, trên một chuyến về thăm quê hương cụ Hồ tại Nghệ An, với một số Việt Kiều khác, do anh Nguyễn Ngọc Trân, trưởng Ban Việt Kiều Trung Ương tổ chức. Trên đường anh Trân cho xe ghé vào Đồng Lộc. Lúc đó mình hoàn toàn chẳng biết Đồng Lộc là gì cả.

Ấn tượng đầu tiên của mình là, đó là một vùng rất nghèo khổ, xác xơ, nóng đổ lửa… và nó làm cho mình có cảm giác buồn buồn vì cái nghèo của quê hương và cái khổ của dân quê. Mình vẫn luôn luôn như thế từ hồi 16, 17 tuổi.

Vào đến nơi, thấy mười ngôi mộ xi măng khiêm tốn nằm trên một ngọn đồi với vài bóng cây lưa thưa, giữa một vùng đồng khô cỏ cháy. Rồi từ từ hiểu chuyện, nhìn hố bom nơi các cô hy sinh, nhận biết rằmg các cô này cở tuổi mình hay có người chỉ sinh trước một hai năm, nhưng cuộc đời có quá nhiều khác biệt… làm cho mình thật là nhức nhối. Lúc đó mình “try to be connected” với các cô bằng cách nhờ anh Trân chụp một tấm ảnh mình ngồi bên cạnh một ngôi mộ. Tấm ảnh này có đăng trong báo Quê Hương (của Ban VKTW) sau chuyến đi đó.

Vì các cô trẻ mãi không già, cho nên mình luôn luôn có cảm tưởng các cô này là những người em gái bất hạnh của mình. Vì vậy, mình không quên các cô được những tháng năm sau đó. Hơn 10 năm sau, khi đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm lần đầu, ý tưởng đầu tiên đến trong đầu mình là 10 cô gái Đồng Lộc.

Đến năm 2005, 10 năm sau khi anh Vương Trọng viết bài thơ và 3 năm sau khi nó được khắc vào bia xi măng, chị Diệu Ánh (admin của VNBIZ forum) trong một chuyến du hành trên quốc lộ Trường Sơn, ghé qua Đồng Lộc, thấy bài thơ, chụp và gởi cho mình. Mình dịch ngay ra tiếng Anh và post trên VNBIZ. Đây là bài thơ duy nhất mà mình ứa nước mắt rất nhiều lần trong khi dịch.

Đến đầu năm 2008 chị Diệu Ánh gặp chị Minh Lý, phóng viên Hà Tĩnh nhưng hiện sống ở Vũng Tàu, chị Minh Lý biết anh Vương Trọng. Thế là mình chỉnh sửa lại bài thơ một tí nữa rồi nhờ chị Diệu Ánh và Minh Lý chuyển đến anh Vương Trọng. Anh Vương Trọng nói chuyện với anh Thế Ban, sở Văn Hóa Thể Thao Hà Tĩnh. Sở quyết định khắc cả bài nguyên thủy lẫn bài dịch vào bia đá, thay bia xi măng đã hao mòn quá nhiều. Tháng giêng 2009, bia đá hoàn thành.

Mình đã viết một bài hồi tháng ba năm nay (2009) về bài thơ này để chia sẻ với các bạn. Hôm nay chúng ta nghe câu chuyện từ phía anh Vương Trọng. Bài này của anh Vương Trọng đã đăng trên Văn Nghệ Công An ngày 20 tháng 7 năm 2009.

Cám ơn anh Vương Trọng. Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

.

Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc

    Vương Trọng
Vương Trọng
Vương Trọng

Từ khi Ngã ba Đồng Lộc trở thành khu di tích lịch sử của Thanh niên xung phong cả nước, khách tìm đến nơi này mỗi ngày một đông, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên. Có người nói rằng, chỉ cần đến nơi này một lần, bài học về giáo dục truyền thống tự nhiên thấm vào người, và lớp trẻ có điều kiện để nhận thức được cái giá của độc lập, tự do.

Gần đây có nhiều bạn trẻ sau khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, ra Hà Nội có tìm gặp tôi để trò chuyện. Có người tôi quen biết từ trước, nhưng cũng có kẻ tôi mới được gặp lần đầu. Nguyên nhân là vì một bài thơ của tôi đã được khắc đá và dựng lên ở nghĩa trang này. Hơn nữa, bài thơ đó lại được dịch ra tiếng Anh, khắc trên tấm bia đá cao 2,5 mét, rộng 1 mét, mặt này là bài thơ Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc của tôi, mặt kia là bản dịch của ông Trần Đình Hoành, một Việt kiều ở Mỹ. Bởi vậy tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn đọc về chuyện này.

Đài tưởng niệm Đồng Lộc
Đài tưởng niệm Đồng Lộc

Mùa hè năm 1995, lần đầu tôi đến thăm nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Mặc dù mười cô gái đã hy sinh trước đó 27 năm trời, thế nhưng khi đứng lặng trước hố bom đã giết các cô, khi thắp hương lần lượt cắm lên mười nấm mộ, cũng như khi chứng kiến những kỷ vật các cô để lại…, tôi tự nhủ phải viết một cái gì đấy để giải tỏa nỗi xúc động. Bút ký, tuỳ bút cũng có thể chuyển tải được cảm xúc này, nhưng vì trong đoàn còn có nhà văn Xuân Thiều, nhà văn Nam Hà, nên tôi nghĩ nên “nhường” văn xuôi cho hai vị cao niên này. Bởi thế trước mắt tôi chỉ còn một cửa hẹp là thơ.

Nhưng thơ về Đồng Lộc cũng không phải dễ, vì trước đó đã có nhiều người viết rồi, có bài khá nổi tiếng như của nhà thơ Huy Cận. Thế thì mình phải viết thế nào để không bị chìm lấp bởi những bài đã có. Sự hy sinh cùng một lúc của mười cô gái trẻ khi đang san lấp hố bom làm mọi người cảm động, nên khi nào trên mười ngôi mộ cũng có thật nhiều hương khói. Khi cắm những nén hương đang cháy lên mộ các cô, tôi tự hỏi, nếu mười cô gái hiển linh, họ sẽ nghĩ thế nào?

Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)
Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)

Qua tài liệu thu thập được, tôi biết số người hy sinh ở ngã ba này thật nhiều, riêng Trung đoàn phòng không 210 đã có 112 liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ mảnh đất này. Thế mà họ không có bia mộ để thắp hương, bởi thịt xương họ đã hoà trộn vào đất. Thế là cái ý tưởng dùng lời mười cô gái trò chuyện với các đoàn khách thăm viếng được nẩy sinh, và tôi thấy thuận lợi khi muốn chở ý tưởng: mọi chính sách, chế độ đối với những người đã hy sinh, nghĩ cho cùng là vì những người đang sống. Bởi vậy, xây dựng cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc cũng là một cách thể hiện sự biết ơn đối với các liệt sỹ đã hy sinh.

Bài thơ có bốn khổ thì ba khổ đầu là lời mười liệt sĩ nhắc người đến nghĩa trang nên nhớ thắp hương cho những liệt sĩ mà thân xác đã tan trong đất, khuyên các em nhỏ nên trồng cây, các bạn cùng trang lứa cố gắng sản xuất. Còn các cô chỉ ước có vài cây bồ kết…
ngabaDong Loc
Bài thơ tôi viết và in lần đầu vào năm 1995, đến năm 1998 lại xuất hiện trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc. Điều đáng nói là tập thơ này đã đến tay anh Nguyễn Tiến Tuẫn, là một trong ba anh hùng ở Đồng Lộc, thời mà mười cô gái hy sinh, anh đang phụ trách đơn vị Cảnh sát giao thông ở trọng điểm ác liệt này. Anh bảo rằng, anh bị bài thơ ám ảnh, và tự đặt cho mình phải làm một việc gì đó để giải toả sự ám ảnh này. Việc anh làm là lên huyện Hương Sơn tìm hai cây bồ kết con để đáp ứng lời thỉnh cầu của mười cô gái: ” Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang”. Hai cây bồ kết anh trồng rất cẩn thận, hố đào to, phân tro nhiều nên tốt rất nhanh.

Bốn năm sau, năm 2002 thì hai cây bồ kết đã cao tới ba, bốn thước; cây lớn vào mùa thu đã nở hoa. Một lần trở lại thăm nghĩa trang đúng lúc gặp một đoàn khách, biết anh là người đã trồng hai cây bồ kết này, mọi người rất cảm phục và hỏi anh từ ý nghĩ nào mà làm được việc hết sức độc đáo và tuyệt vời này? Anh trả lời là từ cảm xúc một bài thơ, thế là họ hỏi anh có nhớ bài thơ đó không. Anh nói rằng bài thơ đó anh đã thuộc, nhưng không quen đọc thơ trước đám đông, anh hứa với họ là nếu lần sau quay lại thì thế nào cũng được đọc bài thơ đó ở đây. Mọi người nghe, kể cả người giới thiệu khu di tích, ai cũng nghĩ anh nói thế cho qua chuyện, ai ngờ anh bắt đầu ý định khắc bài thơ ấy lên đá. Điều trước tiên là phải liên hệ với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, đơn vị phụ trách khu di tích này. Nghe anh trình bày ý định khắc đá bài thơ đó, mọi người tán thành và coi đây là một việc làm văn hoá. Thế là chiều ngày 14 tháng 8 năm 2002, bia đá cỡ 80cm . 40cm với bài thơ 25 câu chia thành bốn khổ, được khắc sâu và tô màu sơn vàng rất dễ đọc đã dựng lên cạnh hai cây bồ kết bên nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc.

10 Mộ
10 Mộ

Mấy năm năm nay, nhiều tờ báo đã đăng bài về chuyện này, và có nhiều bài đã gây xúc động người đọc. Ông Trịnh Xuân Tòng là cán bộ giảng dạy trường đại học Cần Thơ, đã nghỉ hưu; sau khi đọc bài báo của Ngô Vĩnh Bình nói về chuyện bài thơ và hai cây bồ kết, ông đã bỏ công mấy tuần liền để vẽ một bức tranh cỡ lớn với nhan đề : Múa dưới trăng, nỗi vui mừng khi có cây bồ kết . Trong bức tranh, ông đã vẽ mười cô gái liệt sĩ ở ngã ba Đồng Lộc, khi trăng lên đã cùng nhau nhảy múa, năm cô leo lên cây, năm cô múa trên đất. Trong bức tranh lớn đó, ông trích bốn câu thơ làm đề từ:

Ngày bom vùi, tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết…

Đặc biệt hơn, ông còn viết một bức thư cảm động Gửi mười em gái ngã ba Đồng Lộc. Bức tranh và bức thư này, báo QĐND đã giới thiệu trong số đặc biệt ra ngày 22- 12- 2002.

Gần đây tôi có dịp trở lại Đồng Lộc. Khác hẳn với quang cảnh tôi đã chứng kiến năm 1995, bây giờ ở khu di tích Đồng Lộc, đường sá rộng rãi, nhà cửa xây dựng khang trang, và đặc biệt cây cối quanh vùng tươi xanh như một vùng du lịch sinh thái. Không còn những vạt “cỏ may khâu nặng ống quần” khách đến thăm, không còn đồi Trọ Voi trọc lóc, lở lói. Nhiều cảnh tôi nhắc đến trong bài thơ đã lạc hậu so với bây giờ.

10 Cô
10 Cô

Đồng chí giới thiệu khu di tích hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thắp hương trên từng nấm mộ và đốt những quả bồ kết khô. Mấy năm nay, nhiều đoàn khách đến thăm khu di tích này thường đem theo những chùm quả bồ kết khô để đốt sau khi thắp nhang. Người đầu tiên đốt bồ kết ở đây là nhà văn Nguyễn Thế Tường, quê Quảng Bình, công tác tại Tuần báo Văn nghệ. Tháng 10 năm 2002, anh Tường gặp tôi ở Tuần báo Văn nghệ, khi anh sắp vào nghĩa trang Đồng Lộc, anh hỏi tôi có nhắn gì không. Tôi nói rằng, hai cây bồ kết mới ra hoa nhưng chưa có quả, tôi muốn nhờ anh mua hộ tôi một chùm bồ kết, vào đó đốt để viếng mười cô gái. Anh đã làm thế, và ngạc nhiên, khi vừa đốt mấy quả bồ kết thì bát hương lớn bỗng hoá, cháy bùng lên, làm mọi người ngạc nhiên và anh gọi điện cho tôi ngay. Ngẫu nhiên hay tâm linh? Anh bảo rằng mọi người có mặt hôm đó, kể cả những người quản lý khu di tích, không ai nghĩ là ngẫu nhiên.

Tôi tới bia đá khắc bài thơ của mình thì thấy có nhiều em sinh viên đang xúm xuýt mở sổ chép thơ. Biết tôi là tác giả, nhiều em xin chụp ảnh lưu niệm và hỏi chuyện quanh bài thơ. Bằng vi tính, nét chữ khắc đẹp, chỉ tiếc cắt khổ phần đầu không thật chính xác, vì bài thơ của tôi gồm bốn khổ, khổ đầu sáu câu chứ không phải bốn câu như đã khắc.

Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm
Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm

Sau đó không lâu, trong đoàn Việt kiều Mỹ về nước đến viếng nghĩa trang Đồng Lộc, có ông Trần Đình Hoành, một luật sư nhưng ham mê văn học, người đã từng dịch nhiều bài thơ của các nhà thơ Việt Nam ra tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ. Ông xúc động khi đọc bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” và muốn truyền sự xúc động đó cho du khách nước ngoài nên đã dịch bài thơ này. Giám đốc sở Văn hoá và Du lịch Hà Tĩnh là nhà văn Đức Ban, người rất hiểu tác dụng của thơ văn vào cuộc sống, đã cho bài thơ và bản dịch đó hiển hiện lên bia đá như các bạn đã thấy vào sáng 17 tháng giêng năm 2009.

Nhân đây tôi chép lại bản tiếng Việt và tiếng Anh đã khắc trên hai mặt bia đó.

Ô. Trương Tấn Sang, ủy viên Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá
Ô. Trương Tấn Sang, Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá

Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc

– Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa hãy dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.

– Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa
Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ
Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá
Thương các chị lắm phải không, thì hãy quay về
Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống
Các chị nằm còn khát bóng cây che.

– Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào
Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc
Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc
Về bón chăm cho lúa được mùa hơn
Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo
Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.

– Cần gì ư ? Lời ai hỏi trong chiều
Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.

Đồng Lộc, 5 – 7- 1995
Vương Trọng

.

Học sinh trường THCS Đồng Lộc
Học sinh trường THCS Đồng Lộc

A Request at Dong Loc Cemetery

That’s enough for ten bowls
The rest of incense, let’s save for others
We’re not the sole fallen ones
So much blood and bone was spent for Dong Loc
Memories, let’s spread evenly
Like grass in the valley, sunlight on the hill.

Look! Tongue-grass buds cling to the pants!
O you red-scarfed children standing straight by the tombs
You love us so much, don’t you?
Then, go home, find little plants
Plant them on Tro Voi Hill and on these bare lands
We’re so thirsty longing for some tree shades!

Twenty-seven years have passed, we haven’t grown a day
Three times changing bed, we’re now back in Dong Loc
Friends, if you love us, don’t cry!
Go back and tend the rice for better harvest
The last meal we ten had no rice
Just a handful of cassava, then out with hoes we went.

Our needs? One afternoon someone has asked
We’re not yet married and haven’t got a chance to love
When the bomb buried us all, our hair was enmeshed in dust
Lying here in these tombs, we haven’t got a chance to wash our hair
We ask that on the parched ground of this cemetery
Someone would grow some carob trees
That spread fragrance evenly in the ethereal incense smoke…

Dong Loc July 5, 1995
VUONG TRONG
Translated by TRAN DINH HOANH
( A Vietnamese Resident in The USA)

Hẹn chiêm bao

Chào các bạn,

Trân Sa, hiện đang ở Canada, là thi sĩ mình rất ái mộ. Chị sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, khu xóm mới, cũng cùng khu với và nhà bà thím mà mình ở trọ năm lớp 7 tại Trung Học Võ Tánh (ngày nay là Lý Tự Trọng).
tran-sa
Bài thơ này, mình đã phổ nhạc nhiều năm về trước (hình như khoảng 1992, và trong thập niên 90s mình hay đàn cho Phượng hát trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng). Mình dịch bài này ra tiếng Anh lần đầu năm 2000. Hôm nay lấy ra, mài dũa thêm một tí trước khi post.

Bài này có lẽ Trân Sa viết trong thập niên 80s hay đầu thập niên 90s, lúc liên hệ với Việt Nam còn chưa tốt, và các giấc mơ là những chuyến về thăm nhà thường xuyên cho mỗi người (dĩ nhiên là kể cả mình).

Chia sẻ cùng các bạn.

Hoành

.
nhahoang
Rendezvous In Dream

In dream I rush back
No one is left
In the yard of the ancient vows
The moon etches my lone shadow

Not even a goodbye
Life’s too short for waiting
Turbulent times have taken all
Leaving me with a color-turning leaf

The past returns not
Autumn weighs down on the shoulders
All around is wild grass
For what is a shoe mark left?

In dream I miss the rendezvous
Waking up—sunlight has whitened the sky
On the pillow, the teardrop has just dried
Looking out… a sole piece of cloud flows
Looking out… yes, a sole piece of cloud flows

Translated by TDH

.
moonlight
Hẹn chiêm bao

Chiêm bao tất tả tôi về
Thấy không còn ai ở đó
Mảnh sân xưa đã hẹn thề
Trăng tôi còn in một bóng

Không cả vài lời chia biệt
Đời quá ngắn để chờ nhau
Ly loạn dành phần tất cả
Chừa tôi chiếc lá thay màu

Dĩ vãng không còn trở lại
Mùa thu nặng xuống hai vai
Bốn bề hoang tàn cỏ dại
Làm chi còn một dấu hài

Chiêm bao tôi đành lỗi hẹn
Tĩnh ra nắng trắng khung trời
Giọt lệ vừa khô trên gối
Nhìn ra một chiếc mây trôi
Nhìn ra… ừ, chiếc mây trôi

    Trân Sa

Đường thi

Văn học thời Đường được coi là đỉnh cao của nền văn học Trung Quốc. Đặc biệt thơ ca cổ điển trong giai đoạn này phát triển đến mức tột đỉnh, và được coi là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Trong lịch sử hơn 300 năm của nhà Đường, đã có hơn 48900 tác phẩm thơ ca được viết và lưu truyền đến tận ngày nay. Một lượng lớn các tác phẩm đó cũng đã làm hơn 2300 thi nhân được ghi danh trong sử sách. Ý tưởng được gửi gắm vào trong thơ của Đường thơ chủ yếu là kết hợp chủ nghĩa thực tiễn và chủ nghĩa lãng mạn, về hình thức có các dạng:

Thơ Lý Bạch trên quạt
Thơ Lý Bạch trên quạt

– Thất ngôn bát cú (tức bài thơ có tám câu, mỗi câu bảy chữ).

– Thất ngôn tứ tuyệt (tức bài thơ có bốn câu, mỗi câu bảy chữ, thực chất là một bài “thất ngôn bát cú” đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối tạo thành),

– Ngũ ngôn tứ tuyệt (tức bài thơ có bốn câu, mỗi câu năm chữ, được biến thể từ bài thất ngôn tứ tuyệt: bỏ đi hai chữ đầu ở mỗi câu),

– Ngũ ngôn bát cú (tức bài thơ có tám câu, mỗi câu năm chữ, được biến thể từ bài thất ngôn bát cú: bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu mà thành).

Trong đó thất ngôn bát cú được coi là dạng thơ chuẩn, và các dạng còn lại được coi là thơ biến thể.

Các thi nhân nổi tiếng vào thời Đường chủ yếu là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Lý Hạ, Đỗ Mục…. Do chịu ảnh hưởng của các luồng tư tưởng khác nhau (Nho giáo, Đạo giáo, hay Phật giáo), do đó phong cách Làm thơ của các nhà thơ đời Đường cũng rất khác nhau. Thơ của Lý Bạch thì mang phong cách phóng túng, còn Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị thì lại theo khuynh hướng hiện thực kết hợp với trữ tình nhiều hơn.

Thơ Đường súc tích, đa dạng, phong phú, không chỉ nói lên được tâm tình, khát vọng của bản thân mà còn vẽ lên được những thực hiện đời sống lúc bấy giờ.

Lý Bạch
Lý Bạch

Lý Bạch

Theo sử sách ghi lại thì Lý Bạch là hậu duệ của tướng quân Lý Quảng (thời nhà Hán), sinh năm 701 tại Lũng Tây trong một gia đình khá giả, ngay từ nhỏ ông đã cùng cha của mình đi ngao du khắp nơi, được chứng kiến cuộc sống vất vả của người dân nghèo, vì thế trong ông hình thành tư tưởng không thích trốn quan trường và đến năm 16 tuổi ông đã chọn cuộc sống ẩn trên núi Đái Thiên.

Được 2 năm ông lại xuống núi và bắt đầu cuộc hành trình viễn du của mình dòng giã suốt 3 năm trời, khi đến Vân Mông ông đã cưới cháu gái của Hứa tướng, và cũng từ đó tiếng tăm thơ ca của ông đã vang rộng khắp nơi.

Đến năm 745 ông được người bạn thơ tiến cử vào cung để làm thơ hầu vua, nhưng được một thời gian do cách sống say xỉn, phóng túng ham chơi của mình ông đã bị mọi người trong triều ghét bỏ và thường nói xấu sau lưng, thấy vậy ông đã tự nguyện rời cung và tiếp tục cuộc sống ngao du đây đó khắp nơi.

Khoảng chừng 10 năm, sau đó ông lại về núi Lư ở ẩn. Được một thời gian ông lại về phủ của Vương Lân sống, do Vương Lân làm phản nên Lý Bạch cũng bị liên lụy và bị băt theo, ông đã bị đi đày khắp các vùng Động Đình, Tam Giác…sau đó được tha và đến năm 762 do tuổi già, sức yếu ông đã qua đời tại Đang Đồ.

Lý Bạch được người đời đặt danh là “诗仙” tức “Thi Tiên”. Ông là một người phóng khoáng, sôi nổi, nhiệt tình, tài hoa nhưng lại có phần gàn dở. Thơ ca của ông khí phách hào hùng nhưng lại rất phóng khoáng, ông thích dùng những từ ngữ sôi nổi để ca tụng phong cảnh núi non hùng vĩ của tổ quốc. Hiện các tác phẩm thơ ca của ông còn được lưu giữ khoảng hơn 990 bài, trong đó bài (Sắp mời rượu), (Hành lộ nan), (Tĩnh dạ tứ)…là những bài thơ tiêu biểu của ông và được mọi người truyền tụng.

Mời các bạn thưởng thức bài Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch:

    Tĩnh dạ tứ

    Đầu giường rọi ánh trăng soi,
    Làm ta cứ ngỡ như là màn sương.
    Ngẩng đầu trăng sáng như gương,
    Cúi đầu sao nhớ quê hương ngàn trùng.
    .

      (Bản dịch của Nguyễn Dương)

Đỗ Phủ
Đỗ Phủ

Đỗ Phủ

Cùng với Lý Bạch và Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ cũng là một trong những nhà thơ vĩ đại của Trung Quốc vào thời Đường. Ông được người đời mệnh danh là “诗圣” tức “Thư thánh”. Ông sinh năm 712 mất năm 770, xuất thân trong một gia đình quý tộc nhưng đã sa sút. Là một người ham học, có trí làm quan nên ông đã nhiều lần tới kinh đô để dự thi, nhưng đều không đỗ. Đến năm 755 Loạn An Lộc Sơn xảy ra khiến cho cuộc sống của ông phiêu bạt khắp nơi.

Ông đã tận mắt chứng kiến cảnh chết chóc, nạn đói và những ngược đãi bất công của xã hội, do đó trong thơ của ông luôn thể hiện những đồng cảm về cuộc sống thống khổ của người dân và phản ánh những hiên thực bất công của xã hội lúc bấy giờ. Thơ của ông vào thời đó không được đánh giá cao lắm nhưng đến thế kỷ thứ 9 thì thơ của ông dần dần được chú ý và đến thế kỷ thứ 11 thì lên tới mức cực điểm. Hiện các tác phẩm của ông còn được lưu giữ khoảng hơn 1400 bài, trong đó tiêu biểu là các bài (Binh xa hành), (Xuân vọng), (Tam biệt), (Tam lại)…

Mời các bạn thưởng thức bài Xuân vọng của Đỗ PHủ:

Đổ Phủ

    Xuân Vọng

    Nước tàn sông núi còn đây;
    Thanh xuân cây cỏ mọc đầy khắp nơi.
    Cảm thời hoa cũng lệ rơi;
    Chim kia cũng sợ hận người lìa tan.
    Lửa phong ba tháng lan tràn;
    Thư nhà đưa đến muôn vàng chắt chiu
    Xoa đầu tóc bạc ngắn nhiều,
    So le lởm chởm khó điều cài trâm.
    .

      (Bản dịch của Trần Trọng San)

Chúc các bạn một ngày mới vui vẻ nhé.

Kiều Tố Uyên
DHS, Hồ Nam, Trung Quốc

Tứ Tuyệt và Em

1. Em như nốt nhạc rời thả rớt giữa đời tôi
Nên có những đêm khuya chợt giật mình thảng thốt
Ôm riêng giấc mơ hoa mà nghe hồn xa xót
Bản tình ca không tên âm ỉ, u hoài.
angel-

2 Em mang linh hồn hoang dại
Tình yêu cấu thành từ gai gốc rừng sâu
Ta bươn bả một đời nay nhìn lại
Nhận biết tim mình chằng chịt những đường khâu.

3 Là thượng đế, là thánh thần, là tạo hóa
Anh có một Chúa và có nhiều tên gọi khác nhau
Anh có niềm đau
Em! Một tên gọi, thế thôi, và chỉ thế!

4 Đừng cường điệu tình yêu
Đừng gọi em là thiên thần, là đức mẹ
Với anh em hoài hoài là đứa trẻ
Lầm lạc hoài đến chẳng hiểu lòng anh!

5 Tất cả chân thành anh gửi về em
Nên với mọi cuộc tình anh là thằng lừa dối
Ngày phán xét anh hoàn toàn vô tội
Chúa biết con tim chỉ thật có một lần!

Nguyễn Tấn Ái

Dạ khúc

serenade2
Chào các bạn,

Bài thơ Dạ Khúc của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường rất đẹp và lãng mạn. Mình đã dịch ra tiếng Anh vài năm về trước. Hôm nay post ở đây để chia sẻ với các bạn. Và trong khi đọc, mời các bạn nghe Andre Rieu trình tấu violin với piano phụ họa, bản Dạ Khúc của Erico Tocelli (mà chị Loan Subaru đã giới thiệu trước đây).

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành.

.

Serenade

serenade3
Was there an evening like that evening
On hot sands I dragged back
Long way, thirsty lips blistered
You came gently as the rain

Was there an evening like that evening
Love filled the heart
You came bringing your whole Spring
As bright and warm as flowering

Was there an evening you stopped playing
And gave me the burning kiss
The pain started since
As sweet as fresh grapes

Was there a dream-besieged evening
Your brows curved pouting
On the pillow you loosed sadness
Tangled like blue silk strands

Was there an evening now still living
The moon shone eternity
You vowed an offering
Of your whole life to me

Is there an evening like this evening
My room drowned in darkness
Silent am I a shadow
The flower withers, and you don’t know.

    Translated by TDH

.


.


Dạ khúc

Serenity
Có buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có buổi chiều nào như chiều qua
Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến
Thăm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi
Cho tôi chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy
Ngọt ngào như trái nho tươi

Có buổi chiều nao mộng mị vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi
Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến
Cho anh trọn một đời ngựời

Có buổi chiều nào như chiều nay
Căn phòng anh bóng tối giăng đầy
Anh lặng thầm như là cái bóng
Hoa tàn một mình em không hay

    Hoàng Phủ Ngọc Tường
    100 Bài Thơ Tình Chọn Lọc, tr. 175
    Nhà XBGD, Hà Nội, 1994

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Và một chú chiền chiện đồng đã hát

Chú bé thì thầm “Chúa, nói với con”
Và chú chiền chiện đồng đã hát.
Chú bé đã không nghe thấy.
meadowlark
Rồi chú bé hét “Chúa, nói với con!”
Và ngọn sấm lăn dọc tầng trời
Nhưng chú bé không lắng nghe

Chú bé nhìn quanh và nói,
“Chúa, cho con thấy ngài” và một ngôi sao lóe sáng
Nhưng chú bé đã không để ý.

Và chú bé la lớn,
”Chúa, cho con thấy một phép la!”
Và một sinh linh mới ra đời, nhưng chú bé không biết.

Vậy chú bé khóc lớn trong tuyệt vọng,
“Sờ vào con, Chúa ơi, và cho con biết Chúa ở đây!”
Lúc đó, Chúa với xuống
Và chạm vào chú bé.

Nhưng chú bé đuổi con bướm bay đi
Và bước đi mà chẳng biết gì.

    (Nguyễn Minh Hiển dịch)

.

And A Meadow Lark Sang

The child whispered, ‘God, speak to me’
And a meadow lark sang.
The child did not hear.
Monarch_Butterfly
So the child yelled, ‘God, speak to me!’
And the thunder rolled across the sky
But the child did not listen.

The child looked around and said,
‘God let me see you’ and a star shone brightly
But the child did not notice.

And the child shouted,
‘God show me a miracle!’
And a life was born but the child did not know.

So the child cried out in despair,
‘Touch me God, and let me know you are here!’
Whereupon God reached down
And touched the child.

But the child brushed the butterfly away
And walked away unknowingly.

    (Ravindra Kumar Karnani
    This poem was originally written in the Hindi language.)

Nhà thơ Tế Hanh qua đời

Chào các bạn,

Nhà thờ Tế Hanh đã qua đời.  Một thiên tài thi ca đã ra đi.

Trong kho tàng thi ca Việt Nam, bài thơ mình thích nhất là Bão của Tế Hanh.  Mình đã dịch bài này ra tiếng Anh và đã đăng trên tạp chí thơ đại học Illumination vài năm về trước.  Lúc đó mình có gửi tập thơ về Hội Nghệ Sĩ Việt Nam ở Hà Nội nhờ chuyển đến Tế Hanh, nhưng có lẽ không đến. Hai năm trước đây mình có gửi bài dịch về cho chị Phương, con gái Tế Hanh.

Tehanh
Ngoài bài thơ Bão, Tế Hanh còn để lại cho mình một dấu ấn khác.  Năm 1989, lúc đó mình làm việc với một số bạn ở Washington thành lập US-Vietnam Trade Council, và Council bảo trợ anh Nguyễn Ngọc Trường của Bộ Ngoại Giao, tổng biên tập tạp chí Quan Hệ Quốc Tế, qua Mỹ ba tháng tìm hiểu hệ thống Mỹ.  Council sắp một cuộc gặp mặt riêng giữa mình và anh Trường.  Hai người gặp nhau ăn trưa trong một quán ăn gần Quốc Hội.  Đó là người Cộng Sản đầu tiên mình gặp.  Nói với nhau đủ thứ chuyện.   Dĩ nhiên là mình nói nhiều về nhu cầu đổi mới kinh tế chính trị Việt Nam.  Một lúc sau nói đến điều gì đó mà anh Trường đọc “Bài thơ tình ở Hàng Châu” của Tế Hanh:

Anh xa nước nên yêu thêm nước
Anh xa em càng nhớ thêm em

Hai câu đầu này đúng tâm sự mình quá, mình nhờ anh Trường chép lại cả bài.  Và mình nghĩ, Hóa ra người Cộng Sản cũng đầy thi ca mộng mơ như mình chứ đâu chỉ biết đánh nhau như mình tưởng.

Bài thơ này, chị Kiều Tố Uyên vừa đăng gần đây trong bài Hàng Châu và bài thơ tình của Tế Hanh.

Dưới đây là bài báo trên VnExpress nói về cuộc đời Tế Hanh.  Và bài thơ Bão mà mình đã dịch ra Anh ngữ, gọi là một chút để cùng tưởng niệm một vì sao rơi.

    Bão

    Cơn bão nghiêng đêm
    Cây gãy cành bay lá
    Ta nắm tay em
    Cùng qua đường cho khỏi ngã

    Cơn bão tạnh lâu rồi
    Hàng cây xanh thắm lại
    Nhưng em đã xa xôi
    Và cơn bão lòng ta thổi mãi
    .

      Tế Hanh (1957)
      Tình Bạn Tình Yêu Thơ
      (Nhà Xuất Bản Giáo Dục, VN 1987)

    .

    Storm

    The storm tilted the night
    Branches broke, leaves flew
    I clutched at your hand
    Crossing the street together so we wouldn’t fall

    The storm has left long ago
    The trees have turned green again
    But you’re now away
    And the storm in my heart will always stay
    .

      Translated by TDH
      April 5, 1998 (March 9, 2000)

Nhà thơ Tế Hanh qua đời

12h ngày 16/7, nhà thơ Tế Hanh trút hơi thở cuối cùng để về với “sông nước của quê hương”, sau hơn 10 năm nằm liệt giường vì căn bệnh xuất huyết não. Ông hưởng thọ 89 tuổi.

Nhà thơ Tế Hanh. Ảnh tư liệu.
Nhà thơ Tế Hanh. Ảnh tư liệu.

Tế Hanh tên thật là Trần Tế Hanh, sinh ngày 20/6/1921 trong một gia đình nhà Nho nghèo ở thôn Đông Yên, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông học ở trường làng, trường huyện. Đến tuổi 15, nhà thơ tương lai ra Huế học trung học. Chính nơi đây, ông bắt đầu gặp gỡ, giao lưu với các tác giả của phong trào Thơ Mới và dần dà trở thành một trong những cây bút từng làm nên một thời đại hoàng kim cho thi ca Việt Nam.

Được biết đến với bài thơ đầu tiên Những ngày nghỉ học từ năm 17 tuổi (1938), Tế Hanh ghi dấu ấn trên thi đàn bằng những cảm xúc trong sáng, vẩn vơ, buồn buồn của tuổi học trò. Những sáng tác đầu tay của ông sau đó được tập hợp trong tập Hoa niên – tập thơ được Tự lực văn đoàn khen tặng (dưới tên Nghẹn ngào).

Thời kỳ Cách mạng tháng Tám, Tế Hanh tham gia cách mạng ở Huế. Hòa bình lập lại, ông tập kết ra Bắc, làm việc ở Hội Văn nghệ, sau đó là Hội Nhà văn Việt Nam.

Những năm cuối đời, nhà thơ ốm nặng. Ảnh: ANTG.
Những năm cuối đời, nhà thơ ốm nặng. Ảnh: ANTG.

Sau 1954, vượt qua những thành công đầu tiên của mình, Tế Hanh khẳng định sức bền của ngòi bút qua một loạt tập thơ như Lòng miền Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu thương (1963), Con đường và dòng sông (1980), Em chờ anh (1994)… Chủ đề quen thuộc thời kỳ này của ông là tình cảm với miền Nam quê hương, ý chí đấu tranh, khát vọng thống nhất Tổ quốc. Tác giả có những vần thơ thiết tha về quê hương đã đi vào lòng người với những sáng tác tiêu biểu như Quê hương, Nhớ con sông quê hương, Mặt quê hương... Với những đóng góp nổi bật đó, ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.

Vào những năm 80, Tế Hanh bị đau mắt, rồi ông mù dần. Hơn 10 năm trước, nhà thơ ngã bệnh nặng và nằm liệt giường, lúc mê lúc tỉnh. Những lúc tỉnh táo, ông vẫn nghe thơ, đón bạn bè đến thăm. Nhưng mấy năm gần đây, nhà thơ gần như sống thực vật.

Nhà văn Đào Thắng, chánh văn phòng Hội Nhà văn cho biết, hiện tại, Hội Nhà văn đang bàn bạc với gia đình nhà thơ để tổ chức chu đáo cho ông về nơi yên nghỉ cuối cùng.

Hà Linh

Một số bài thơ tiêu biểu của Tế Hanh:

Quê hương

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thân góp gió

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng lũ lượt kéo ghe về
Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng

Dân chài lưới lần da ngăm rám nắng
Tỏa thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vó.

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Mầu nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Mặt quê hương

Mặt em như tấm gương
Anh nhìn thấy quê hương

Kìa đôi mắt, đôi mắt
Dòng sông yêu trong vắt

Kìa vừng trán thanh thanh
Khoảng trời xa yên lành

Miệng em cười tươi thắm
Như vườn xanh nắng ấm

Hơi thở em chan hòa
Như hơi thở quê ta

Hôm qua ai thù giặc
Mà môi em mím chặt?

Hôm nay ai xót thương
Mà mi em mờ sương?

Ôi miền Nam yêu dấu
Trên mặt em yêu dấu

Ôi tháng năm nhớ thương
Mặt em là quê hương

Chia buồn với gia đình nhà thơ và chia sẻ cảm xúc về những vần thơ của Tế Hanh.

Tehanh

Cho

Xin là chốn bình yên
Lần đầu tiên người con trai là bến
Để qua những phút giây ngông cuồng đạp phăng những gì chân bước đến
Em lại về ngu ngốc với tình anh.ladyblue_couple_5484

Xin là nụ mầm xanh
Lần đầu tiên người con trai là lá
Để qua những phút giây bạo tàn thét gào trên bể cả
Gió lại về e ấp với vườn cây.

Xin là nước là mây
Lần đầu tiên người con trai chịu làm mây nước
Để qua những bước chân rong chơi bùn lầy xương gai cào xước
Bé lại về tắm gội hết đời dơ.

Xin là những vần thơ
Cho người con gái đôi mươi hận tình đem đốt
Rồi qua những phút giây chán chường kiêu căng khinh đời dại dột
Chìm trong giấc ngủ vùi em đòi những lời ru.

tinh_yeuXin là tình thiên thu
Đứng đợi em tự ngàn xưa, ngàn sau cửa tình để ngỏ
Rồi qua những phút giây chán chường đam mê giựt giành rời bỏ
Em về, lại gặp mình, chẳng mất mát hư hao!

Nguyễn Tấn Ái

Tôi yêu, do đó tôi hiện hữu

Kathleen Raine
Kathleen Raine

Chào các bạn,

“Amo Ergo Sum” nghĩa là “tôi yêu, do đó tôi hiện hữu.” Đây là một câu nói có lẽ phát sinh từ câu nói bất hủ của Descartes, 31.3.1596 – 11.2.1650), cha đẻ của triết học tây phương hiện đại: “Cogito ergo sum” — tôi suy tư, do đó tôi hiện hữu.

“Amo Ergo Sum” nằm trong tập thơ “The Year One 1952” của Kathleen Jessie Raine (14.6.1908-6.7.2003), nữ thi sĩ Anh quốc, người được phong hàm danh dự “Commander of the British Empire” (một người chỉ huy của vương quốc Anh) năm 2000.

Chúc các bạn một ngày yêu nhiều !!

Hiển 🙂

.
Green Field
Tôi yêu, do đó tôi hiện hữu

Bởi tôi yêu
Mặt trời rót tia nắng vàng sống động
Rót vàng và bạc xuống biển.

Bởi tôi yêu
Trái đất trên trục sao
Nhảy múa ngất ngây

Bởi tôi yêu
Mây đi trên gió suốt những bầu trời rộng
Những bầu trời rộng đẹp, xanh sâu

Bởi tôi yêu
Gió thổi những cánh buồm trắng
Gió thổi qua những cánh hoa, gió thổi ngọt ngào

Bởi tôi yêu
Dương xỉ thành xanh, làm xanh cỏ, và xanh
Hàng cây trong suốt ánh mặt trời

Bởi tôi yêu
Chiền chiện vút cao từ đồng cỏ
Và tán lá tràn đầy tiếng chim ca

Bởi tôi yêu
Không khí mùa hè chập chùng với muôn ngàn cánh
Ngàn đôi mắt châu rực cháy trong ánh sáng

Bởi tôi yêu
Những vỏ sò muôn sắc trên cát
Mang hình hài đẹp và phức tạp như tư tưởng

Bởi tôi yêu
Có một lối đi vô hình ngang qua tầng trời
Chim bay lối đó, mặt trời và mặt trăng
Và tất cả các vì sao đi lối đó ban đêm

Bởi tôi yêu
Có con sông chảy suốt đêm trường

Bởi tôi yêu
Suốt đêm dòng sông chảy vào giấc ngủ tôi
Hàng vạn sinh linh ngủ trong vòng tay tôi
Và ngủ gật, và trôi chảy được nghỉ ngơi.

(Nguyễn Minh Hiển dịch)

.
Autumn Fields
Amo Ergo Sum

Because I love
The sun pours out its rays of living gold
Pours out its gold and silver on the sea.

Because I love
The earth upon her astral spindle winds
Her ecstasy-producing dance.

Because I love
Clouds travel on the winds through wide skies,
Skies wide and beautiful, blue and deep.

Because I love
Wind blows white sails,
The wind blows over flowers, the sweet wind blows.

Because I love
The ferns grow green, and green the grass, and green
The transparent sunlit trees.

Because I love
Larks rise up from the grass
And all the leaves are full of singing birds.

Because I love
The summer air quivers with a thousand wings,
Myriads of jewelled eyes burn in the light.

Because I love
The iridescent shells upon the sand
Takes forms as fine and intricate as thought.

Because I love
There is an invisible way across the sky,
Birds travel by that way, the sun and moon
And all the stars travel that path by night.

Because I love
There is a river flowing all night long.

Because I love
All night the river flows into my sleep,
Ten thousand living things are sleeping in my arms,
And sleeping wake, and flowing are at rest.

Kathleen Raine:
“Amo Ergo Sum”
The Year One (1952)

Hạ

Chieu nangvang.
Về ngang An Việt
chiều nghiêng nắng vàng
chừng như nuối tiếc
một thời chân hoang

Bờ tre lộng gió
tơi bời lá khô
em mang niềm nhớ
đi tìm hư vô

Em mang miền nhớ
đi tìm thiên thu
ta thành cơ nhỡ
rượu say khật khù

Nhớ lam chân núi
thương mờ đường quê
chiều ba mươi lẻ
dật dờ chân đi

aodai186
Bạn bè dăm bảy
chừ quên lối về
chén vàng nâng lẻ
cụng vào chân mây

Em mang nhan sắc
bán rao chợ đời
cuối mùa trinh trắng
chẳng còn đôi mươi

Em mang dấu ái
bán rao lọc lừa
ơi người tình lữ
đâu rồi mùa xưa

Ta chừ cô lẻ
mơ mùa xa xưa
nghêu ngao câu hát
cung thiếu cung thừa

Còn chăng ước cũ
còn chăng tuổi vàng
trang đời trống toát
chẳng đành lật sang

Về ngang An Việt
lòng như nắng vàng
ngày như lửa thắp
lênh loang chiều hoang.

Nguyễn Tấn Ái

Huế

Hue kinh thanh

 

Huế

Cố đô này

nơi vua chúa và các công nương
đã dõi mắt vượt núi non và biển cả
tìm bến đỗ cho đàn chim di Lạc

nơi em đã hát cho tôi
lời thì thầm của mẹ trên dòng Hương
ngày mẹ được tin con chết trên chiến trường

nơi linh hồn của bao vua chúa và chiến sĩ
vẫn lay động những đoá sen trong hào thành tĩnh lặng

đã bao lần
bị xé rách, đập tan và nghiến nát

để mỗi khi nhìn vào mắt em
dù trời có xanh, trong, và sáng
tôi vẫn chỉ thấy một cánh cò trắng bay giữa hoàng hôn

    (Chuyển ngữ từ Anh ngữ)

 

Hue

This imperial city

where kings and princesses
looked past mountains and seas
searching for a landing patch for the migratory Lac flock

where you have sung for me
the murmurs of a mother on the Huong river
the day she got word of her son’s death on the battlefield

where the souls of kings and warriors
still vibrate the lotus flowers on the tranquil moat

has been torn and beaten and crushed
time and time again

so that when I look at you in the eyes
though the sky may be blue and bright and transparent
I only see a white stork flying in the sunset.

    TDH, Washington DC, Nov. 5, 1999

Tự Khúc Đông

Nghiêng tai lắng tiếng trầm kha của ngày cổ tích
chợt thi thoảng hiện ra em cô Tấm thảo hiền
chợt mọt gỗ khung cửi thề những lời cót kétkhungcui
linh hồn buồn như tượng đá trăm năm

Nghiêng tai lắng tiếng mùa đông của ngày rét buốt
chợt thánh thót thinh không bạch hạc bay về
chợt ngơ ngẩn lối mùa xa hút
nhà ai cúc váng, vàng dáng một người đi

Một người như Kiều gánh cả tình yêu đi tìm dâu bể
đánh đổi mười lăm xuân lấy một trăng rằm
một mãi mê nổi chìm hoạn lộ
cười khan gã Kim Trọng khật khù treo ấn từ quan
wintersoltice
Một khát giọt sương trườn lên đỉnh núi
Cô đơn hoài phương trời
lắng tai nghe tim hát lời sông suối
ngàn sau sao có nhau

Thôi thì trở về vuốt mặt tình nhân
xây giữa nội ngàn nấm mồ cỏ biếc
lắng dáng Thu Bồn ngàn năm li biệt
nào ai tắm hai lần trên một dòng sông

Lắng tiếng người chừ như lắng một mùa đông !

Nguyễn Tấn Ái

Tự Khúc Thu

Hôm nào em đến
tóc tơ rã mềm
hình như kiếp trước
ta là của em

Này ta du tử
rong chơi quê người
này em cố xứ
buồn sao đôi mắt em cười aodai

Giọt sương lóng lánh
nuôi tình thiên thu
hành hương xứ thánh
hồng hoang một cõi sa mù

Cùng ta em nhé
cạn say chén đời
tạ từ chi thế
đôi môi thôi hết gọi mời

Lời ca da diết
riêng mình ta mang
ngày sau ai biết
ngựa ô ai khớp kiệu vàng

Ngày đi như nắng
tình rồi hanh hao
lời cho em đó
mộng vàng ai có xanh xao?

Nguyễn Tấn Ái

Bài Thơ Viết Trên Giáo Án

tinhthaytro

    ( Kính tặng thầy
    Trương Vũ Thiên An)

Thầy tôi dạy tôi:

Cổ nhân quí nhau nâng rượu
Cổ nhân thương nhau dạo cờ
Băng tâm ngọc hồ đãi người bằng hữu
Tri kỉ khát tình nghẹn đứt câu thơ.

thaytro

Tôi mang lời thầy tôi trên chuyến thời gian không vé khứ hồi
Đau đáu khát thèm nếp đời trinh bạch
Thắp lửa giữa đêm chờ ngày hiển thánh
Xin được chữ rồi quí chữ bao nhiêu!

Tôi mang lời thầy tôi qua khắp thành thị, miền quê,
qua cuộc rượu, cuộc người,
Ngã độn độn hề nhìn đời tiến hóa
Giáo án ngày xưa thầy trinh bạch quá
Cánh hẩu bây giờ mời nhau ăn sâu!

Người làm thơ là làm chuyện báo đăng
Say rượu còn có đất về, say văn đành lữ thứ
Tìm đâu ra cái sở nguyện chân thành của người xin chữ
Chữ ông Huấn chừ thôi đành niêm phong.

Muốn cược linh hồn vào cuộc đục trong
Chạnh thương mắt học trò trinh bạch
Lại chông chênh qua bao mùa dằn vặt
Giữ gìn trang giáo án tinh khôi.

Lại làm tên lính canh đạo đức của đời
Phấn trắng bảng đen kẻ dòng luân lí
Lại nức khóc khi biết mình đãng trí
Để nhật thực toàn phần lên những câu thơ.
education
Có những lần muốn bỏ cuộc thầy ơi!
Thương lắm nỗi niềm ÂN SƯ tuyệt tự
Lại thắp lửa lên làm người cho chữ
Lời thầy về trên giáo án con nay.

    Quế Sơn mùa thi
    Nguyễn Tấn Ái

Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc

Đài tưởng niệm Đồng Lộc
Đài tưởng niệm Đồng Lộc

Chào các bạn,

Ai trong chúng ta lại không cảm thấy bi tráng với câu chuyện 10 Cô Gái Đồng Lộc. Mình có cơ duyên “gặp” các cô năm 1995 tại nghĩa trang Đồng Lộc. Cuộc viếng thăm làm mình buồn rất nhiều năm, và có lẽ là sẽ tiếp tục buồn suốt đời, mỗi lần nhớ đến.

Năm 2005, mình có cơ duyên được chị Diệu Ánh (Sài gòn) gửi bài thơ “Lời Thỉnh Cầu Ở Nghĩa Trang Đồng Lộc,” của anh Vương Trọng, lúc đó đã được khắc vào bia đá ở Nghĩa Trang, đã đổi tên thành Đài Tưởng Niệm Đồng Lộc. Mình dịch ra tiếng Anh.

Đây là bài thơ với một cách nói chuyện rất chân chất, từ tốn, bình thường—chết tan xác vì bom cũng chỉ bình thường—vì vậy nó vượt được lên trên tất cả màu sắc chính trị và nghệ thuật, và nói lên được tiếng khóc vượt biên giới, vượt thời gian, tiếng nói bi thảm của chiến tranh, không phải như một hành động chính trị, mà như một ung nhọt trong tâm thức con người. Continue reading Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc