Category Archives: Nước Việt Mến Yêu

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Đầm Một Đêm (Nhất Dạ Trạch – Tiên Dung và Chử Đồng Tử)

Hùng Vương truyền tới đời thứ ba sinh được một Mỵ Nương (1) đặt tên là Tiên Dung, đến tuổi 18 dung nhan đẹp đẽ, không muốn lấy chồng, thích chu du vui chơi khắp nơi trong thiên hạ. Vua đành chịu vậy, không cấm đoán được. Mỗi năm vào khoảng tháng hai tháng ba Tiên Dung lại sắm sửa thuyền bè chèo chơi ở ngoài biển, vui quên trở về.

Hồi đó ở làng Chử Xá ven sông, có người dân tên là Chử Vi Vân sinh được một người con trai là Chử Đồng Tử. Cha từ, con hiếu, nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, chỉ còn lại một khố vải duy nhất, cha con ra vào thay nhau mà mặc. Tới lúc cha già lâm bệnh gần chết bảo con rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con, để khỏi xấu hổ”. Con không nỡ làm theo, liệm khố rồi đem chôn. Đồng Tử thân thể trần truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông cầm cần câu cá; hễ nhìn thấy có thuyền buôn qua lại thì đứng ở dưới nước mà xin ăn.

Bất ngờ thuyền của Tiên Dung xốc tới, chiêng trống nhã nhạc, cờ lọng huy hoàng, kẻ hầu người hạ rất đông. Đồng Tử rất kinh sợ, không biết chạy trốn đi đâu. Trên bãi cát có khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây, Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống phủ cát lên mình. Lát sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh đào hố, lấy lau vây màn làm chỗ tắm. Tiên Dung vào màn, cởi áo dội nước, cát trôi mất để lộ ra thân hình của Chử Đồng Tử. Tiên Dung hổ thẹn hồi lâu, thấy là con trai bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp ngươi, cùng ở trần với nhau trong một hố, đó chính là do trời xui khiến vậy. Ngươi hãy mau đứng dậy tắm rửa”. Tiên Dung ban cho quần áo mặc rồi cùng xuống thuyền mở tiệc vui chơi. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử kể lại tình cảnh của mình, Tiên Dung ta thán, muốn nên vợ chồng. Đồng Tử cố từ chối, song Tiên Dung nói rằng: “Đây do trời chắp nối, sao lại cứ chối từ?”.

Người theo hầu vội về tâu lại với Hùng Vương. Vua giận nói: “Tiên Dung không thiết tới danh tiết, không màng tới của cải của ta, ngao du bên ngoài, hạ mình lấy kẻ nghèo khổ, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa, rồi cấm không cho Tiên Dung trở về”. Tiên Dung nghe sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở chợ búa, lập phố xá, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành phố chợ lớn (nay là chợ Thám). Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán, kính nể tôn Tiên Dung và Chử Đồng Tử làm chủ.

Có người lái buôn giàu có nói với Tiên Dung rằng: “Người bỏ một dật (2) vàng, cùng tôi ra ngoài bể mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật”. Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do người làm nên, vậy nên đem vàng cùng phú thương ra biển buôn bán làm ăn”. Đồng Tử bèn cùng lái buôn đi buôn bán. Đến núi Quỳnh Vi, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé lại đó lấy uống nước. Đồng Tử lên am chơi, trong am có sư tên gọi Phu Quang truyền phép cho Đồng Tử, Đồng Tử ở lại học phép, giao tiền cho lái buôn mua hàng. Sau bọn lái buôn quay lại am chở Đồng Tử trở về. Sư bèn tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”.

Đồng Tử trở về, giảng đạo lại cho Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, liền bỏ phố phường, chợ búa cơ nghiệp, rồi cả hai đều tìm thầy học đạo. Có lần, trên đường đi xa, trời tối chưa về kịp nhà, tạm nghỉ ở giữa đường, cắm trượng che nón mà trú thân. Đến canh ba, thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài, kho tàng, xã tắc, vàng bạc, châu báu, giường chiếu, chăn màn, tiên đồng, ngọc nữ, tướng sĩ, thị vệ, la liệt trước mắt. Sáng hôm sau, ai nấy trông thấy cũng kinh ngạc lạ lùng, đem hương hoa, lễ vật tới dâng xin làm bề tôi, có văn võ trăm quan, chia quân túc vệ, lập thành nước riêng.

Hùng Vương nghe tin, cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần của Tiên Dung xin đem quân ra chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: “Điều đó ta không muốn làm, do trời định đó thôi, sống chết tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin thuận theo lẽ chính, để mặc cho cha chém giết”. Lúc đó, dân mới tới theo đều kinh sợ tản đi, chỉ có dân cũ ở lại với Tiên Dung. Quan quân tới, đóng trại ở bãi Tự Nhiên, chỉ còn cách con sông lớn thì trời tối không kịp tiến quân. Nửa đêm, bỗng nhiên gió lớn nổi lên, cát bay, cây đổ, quan quân hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay bổng lên trời. Đất chỗ đó sụt xuống thành cái đầm lớn. Ngày hôm sau, dân chúng không thấy thành quách đâu cả, đều cho là linh dị. Về sau, dân lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi đầm là đầm Nhất Dạ (Nhất Dạ Trạch, nghĩa là đầm một đêm), gọi bãi là bãi Tự Nhiên, còn gọi là bãi Mạn Trù (hố tắm), và gọi chợ là chợ Hà Thị (chợ Hà).

Sau đến đời tiền Lý Nam Đế, bọn nhà Lương đem quân sang xâm lược, vua Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục đem quân ẩn nấp trong đầm. Đầm sâu rộng lớn, bùn lầy, rất khó ra vào, Quang Phục dùng thuyền độc mộc, dễ bề đi lại, quân giặc khó biết tung tích ở đâu. Đêm đến dùng thuyền độc mộc lẻn ra đột kích, đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: “Ngày xưa, nơi đây một đêm mà thành đầm nhà trời, đúng vậy!” (3). Nhân gặp loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương bèn gọi Bá Tiên về, cho tì tướng là Dương Sàn thống lĩnh sĩ tốt, Quang Phục ăn chay lập đàn ở giữa đầm, đốt hương cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đầm mà bảo Quang Phục rằng: “Ta tuy đã lên trời, nhưng linh hiển còn đó, ngươi có lòng thành cầu tới, ta đến để giúp đánh dẹp giặc loạn”. Dứt lời, tháo vuốt rồng trao cho Quang Phục, bảo: “Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu (4), đánh đâu diệt đó”. rồi bay mất lên trời. Quang Phục được vuốt rồng, xông ra đột kích, quân Lương thua to, chém được Dương Sàn ở giữa trận, giặc Lương phải lùi. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh (5).

Chú thích:
1) Con gái của Vua Hùng gọi là Mỵ Nương (xem truyện Hồng Bàng).
2) Dật: Một đơn vị đo lường thời xưa.
3) Bản A 2914 còn có thêm câu: “Ôi, mà ngày hôm nay, đêm đêm đồn quân án giữ mà chẳng biết giặc núp nơi đâu”
4) Mũ đâu mâu: Đâu mâu兜鍪 là cái mũ trụ, mũ quân lính đội lúc ra trận.
5) Nay là Bắc Ninh

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:

• Đa số các truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái nói đến đời Hùng Vương thứ 3, như truyện này. Số 3 là số thiếu dương trong Dịch học. Thiếu dương là bắt đầu khởi động, bắt đầu đi lên, cho nên là con số quan trọng, dù chỉ là nhỏ (“thiếu”).

Thực ra số 3 rất quan trọng cho tâm thức con người, hầu như trong tất cả mọi nền văn minh trên thế giới. Có một điều gì đó làm cho con người mê chuộng số 3: Trời đất người, body mind spirit, chúa ba ngôi, bố mẹ con, đầu mình tứ-chi, bắc trung nam, tam bảo Phật Pháp Tăng…

• Lòng hiếu thảo của Chử Đồng Tử với cha thì rất rõ — nhường cái khố duy nhất cho cha.

Nhưng điều này còn nói lên sự quan trọng của việc tiễn người ra đi. Cho đến ngày nay người Việt vẫn tin người chết ở cõi âm cần dùng nhiều thứ, cho nên tục đốt vàng mã vẫn còn rất mạnh. Cái khố cho bố không phải chỉ để mai táng cho trịnh trọng, mà vì bố còn cần dùng nó hàng ngày ở cõi âm.

Cho đi cái khố duy nhất còn là để chuẩn bị cho đoạn sau—một Chử Đồng Tử hoàn toàn trần trụi.

• Con người trần truồng là con người thật sự, chính hắn ta, như là trời sinh, không một mảnh vải để làm cho hắn nhìn khác đi một tí. Con người không trau chuốt, không giả tạo, không dối trá, không ảo tưởng… Khi chúng ta đến với nhau bằng con người thật của mình, chúng ta dễ gần gũi nhau hơn, dễ “kết” nhau hơn.

Con người trần truồng còn là biểu tượng của cái tâm nguyên thủy của con người. Tâm trong sáng chưa bị lu mở bởi mọi chấp trước thế gian.

Con người trần truồng, về mặt vật thể, còn có nghĩa là người nghèo nhất trong thiên hạ, thực sự nghèo đến mức không có khố che thân.

• Chử Đồng Tử câu cá ở bờ sông, và phải đứng dưới nước để xin ăn: Văn hóa “nước” của người Việt mà ta đã nói đến trong Truyện Hồng Bàng. Nước là quê mẹ, nước là tổ quốc. Liên hệ tâm thức giữa người Việt với quê hương tổ quốc, ít ra là trên bình diện ngôn ngữ, có lẽ mạnh nhất trên thế giới, vì chẳng có gì quan trọng cho đời sống con người bằng nước, và ta dùng từ đó để gọi tổ quốc.

• Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau là duyên tiền định: Số lấy con vua thì nghèo rớt mồng tơi vẫn lấy con vua. Số lấy chồng nghèo thì mình là con vua vẫn lấy anh chàng nghèo nhất nước. Đây là thuyết nhân duyên của nhà Phật. Nghiệp của các kiếp trước dự một phần lớn trong việc định đời sống của ta kiếp này. Tâm hiếu thảo của Chử Đồng Tử kiếp này cũng dự một phần trong việc định đời sống của chàng kiếp này.

• Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau khi cả hai cùng trần truồng cũng là biểu tượng của tâm nguyên thủy của con người. Trong vũ trụ quan Phật giáo, tâm nguyên thủy của ta và nền tàng nguyên thủy của vũ trụ là một—là Không. Khi chúng ta giác ngộ, tâm ta không còn si mê, trở về trạng thái tinh tuyền nguyên thủy—Không. Ta và Không là một. Hai người trần truồng (Tiên Dung và Chử Đồng Tử) là biểu tượng cho hai tâm nguyên thủy, mà hai tâm nguyên thủy thì chỉ là một—là Không—biểu tượng của sự kết hợp thành vợ chồng, hai thành một.

• Lấy nhau làm vua cha cả giận. Đây nói lên tính tự chủ của Tiên Dung, tự định đoạt đời mình. Tiên Dung là người nổi bật nhất về tự chủ trong truyện này. Về sau ta thấy Tiên Dung cũng chủ động trong việc làm ăn buôn bán. Dấu vết của chế độ mẫu hệ rất mạnh trong văn hóa Việt, như đã nói trong Truyện Hồng BàngTruyện Trầu Cau.

• Ở đây chúng ta thấy có sự phối hợp của “duyên tiền định” và “ý chí” của con người. Thực ra dây không phải là hai điều khác nhau và trái ngược nhau như nhiều người lầm tưởng. Ý chí của con người cũng là một “nhân/duyên” trong hàng triệu “nhân/duyên” khác ảnh hưởng đến đời sống của hắn ta. Nhân duyên gồm có (1) nhân duyên của bao kiếp trước, (2) nhân duyên của các sự việc trong kiếp này và (3) ‎ý chí và nỗ lực của ta.

• Thay vì cùng nhau ở ẩn, Tiên Dung và Chử Đồng Tử lại mở chợ búa buôn bán. Đây là triết lý nhập thế rất tích cực.

• Nhờ ra bể buôn bán và gặp thầy học đạo: Đây là triết lý‎ hướng ngoại trong việc trị quốc. Mở rộng ra ngoài, liên hệ với bên ngoài, giao thương với bên ngoài, thì trí tuệ mới mở rộng được.

Đương nhiên là điểm này còn nói đến việc Phật giáo du nhập vào nước ta qua đường biển, trực tiếp từ Ấn độ như nhiều sử gia Phật sử đã nói đến (cùng với đường từ Trung quốc ở hướng Bắc sang).

• Thầy cho Chử Đồng Tử cây gậy và cái nón: Đây rõ ràng là các vật để đi đường. Tức là triết l‎‎ý nhập thế, “đạo vào đời”, của các thiền sư. Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma thường xuất hiện với cây gậy mang một chiếc dép; Phật Di lặc, gọi là hotei ở Nhật, là vị sư thường mang cây gậy và một bao (đồ chơi trẻ em).

Nón thì che nắng, cây gậy là để bảo vệ và chống thú dữ trên đường đi, v. v… Nhưng chúng còn là biểu tượng gì?

— Nón là một vòng tròn lớn, trống rỗng, trên đầu, là biểu tượng của Không–chân tánh của chính mình và của toàn thể vũ trụ–chân lý tối hậu của Phật pháp. “Không” bao trùm tất cả, như nón che toàn thân ta. (Đây cũng tương tự như một chiếc dép của Bồ Đề Đạt Ma thường được xem là biểu tượng của Một. Tất cả là Một, và một đó là Không).

— Cậy gậy chống đở thường xuyên là biểu tượng cho giáo pháp—giới , định, tuệ–mà ta phải tu tập hàng ngày, để chống chọi lười biếng, si mê và thoái hóa.

• Thành quách xuất hiện trong một đêm, trên đường học đạo: Chuyện này rất giống với phẩm Hóa Thành Dụ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khi một đạo sư làm thành quách giả cho các đệ tử nghĩ tạm trên đường tu học gian nan.

Phật giảng tam thừa–Thanh Văn thừa (giác ngộ thành Alahán), Duyên giác thừa (giác ngộ thành Bích Chi Phật), Bồ Tát thừa (giác ngộ thành Bồ tát)–cũng chỉ là các “hóa thành” để tạm nghĩ, trên cùng một con đường Phật thừa (thành Phật).

• Thành quách hiện ra một đêm, biến mất một đêm, cũng nói đến lẽ vô thường của đời sống—thành quách lâu đài vương giả cũng chỉ là phù du, hiện mất mất hiện chỉ một đêm.

Tên “Đầm Một Đêm” (Nhất Dạ Trạch) nhấn mạnh đến lẽ vô thường đó.

• Truyện này rõ là huyền thoại và triết lý 100 %, ngoại trừ việc Triệu Quang Phục sau này dùng Đầm Dạ Trạch làm căn cứ kháng chiến chống quân Lương là lịch sử. Truyện vuốt rồng và mũ đầu mâu của Triệu Quang Phục, nếu có vào thời Triệu Quang Phục, thì hẳn nhiên đó là mưu kế chiến tranh tâm lý.

(Trần Đình Hoành bình)

Cồng chiêng Tây Nguyên sẽ ra sao?

Chào các bạn,

Cồng Chiêng và một nét văn hóa thiêng liêng của Tây Nguyên và là di sản văn hóa nhân loại như UNESCO công nhận.  Văn hóa Tây Nguyên thường được viết và đọc như là vấn đề riêng của các bộ tộc Tây Nguyên.  Nhưng, Tây Nguyên là Việt Nam và văn hóa Tây Nguyên là văn hóa Việt Nam.  Chúng ta cần cùng quan tâm với anh chị em Tây Nguyên.

Bài tường trình về buổi thảo luận sau đây có nhắc đến chị Linh Nga của chúng ta trong đó–một tiếng nói chính cho Tây Nguyên.  (Cám ơn, chị Linh Nga)

Sau đó là một câu chuyện cảm động mình tình cờ đọc được trên Nhân Dân về  tình cảm cả  đời cho đến lúc chết của  Già E Mướt ở  Chư M’gar (Đắc Lắc) đối với cồng chiêng.

Mến,

Hoành

.


Sau festival này, cồng chiêng sẽ ra sao?

(VietNamNet)-Nhà nước chi nhiều tiền để bảo tồn cồng chiêng, nhưng đã có ai hỏi ý kiến bà con xem họ nghĩ thế nào chưa?

Mô tả ảnh.
Chiêng trong lễ bỏ mả ở làng Phung (xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai)

Truyền dạy cồng chiêng để làm gì?

Cũng đồng thuận với việc phải bảo vệ các nghệ nhân, nhưng TS Lê Thị Minh Lý, Cục phó Cục Di sản văn hóa lại nhắc hội thảo nhớ đến một đối tượng trung tâm rộng lớn hơn nhiều là cộng đồng chủ thể của di sản, bởi chính họ mới quyết định họ muốn giữ cái gì và giữ như thế nào? Các nhà khoa học hay nhà quản lý đều không thể áp đặt họ nếu họ không muốn. Theo TS Lý, xu thế đi ngược lại quá khứ, cố tìm ra “nguyên gốc” của di sản rồi mới bảo vệ là sai lệch với tinh thần của công ước UNESCO về bảo vệ di sản phi vật thể. Việc tập huấn vì thế phải là tập huấn để cộng đồng nhận thức rõ về di sản của họ, cũng như việc kiểm kê di sản phải có sự tham gia của chính cộng đồng, để thông qua quá trình kiểm kê ấy, mỗi cộng đồng sẽ quyết định họ sẽ giữ không gian văn hóa cồng chiêng ra sao?

Ý kiến của TS Lê Thị Minh Lý được nhà nghiên cứu Linh Nga Niê Kdam bổ sung bằng một câu chuyện thực. Việc truyền dạy cồng chiêng diễn ra tại rất nhiều làng ở Tây Nguyên, già làng muốn truyền dạy, lớp trẻ cũng muốn học, nhưng học xong thì để làm gì? Không lẽ chỉ để khi nào có khách, có hội diễn mới đánh? Không còn môi trường cho cồng chiêng thì tôn vinh nghệ nhân hay truyền dạy cũng không khiến cồng chiêng sống được.

Không vì hại cồng chiêng mà không làm du lịch!

Nhiều đại biểu lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc đưa nghệ thuật cồng chiêng phục vụ du lịch, nhất là việc đưa các lễ hội có tính thiêng như lễ bỏ mả, lễ đâm trâu… ra sân khấu. Chưa kể, việc trình diễn sẽ “làm hư” lớp trẻ, khi họ chỉ học vài bài để trình diễn, chứ không đi sâu tìm hiểu bảo tồn, phát huy vốn cổ. “Đừng biến cồng chiêng thành đơn điệu, vô hồn, sân khấu hóa” là lời kêu gọi của nhiều đại biểu trong hội thảo.

Không đồng tình với quan điểm trên, TS Nguyễn Văn Lưu (Bộ VH-TT-DL) lại cho rằng du lịch sẽ dẫn dắt con người đến với di sản, tạo ra việc làm, nguồn lực tài chính, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của chính quyền, cộng đồng để bảo tồn phát huy văn hóa. “Không thể vì những tác hại của du lịch có thể tác động đến di sản (như suy giảm giá trị truyền thống, ô nhiễm môi trường văn hóa…) mà không làm du lịch. Chính quyền và cộng đồng chủ nhân di sản sẽ phải điều chỉnh để phát triển du lịch theo hướng bền vững“, TS Lưu kết luận.

Mặc quần jean, áo phông thì làm sao chơi cồng chiêng?

Chủ đề được thảo luận sôi nổi nhất của hội thảo là việc phải ứng xử ra sao với sự biến đổi không thể ngừng lại của không gian văn hóa cồng chiêng. TS Nguyễn Hữu Thông, phân viện Viện Nghiên cứu VHNT Huế cho rằng phải chấp nhận sự thật khách quan, rằng cồng chiêng đã mất đi giá trị vật chất, tinh thần. Khi xưa cồng chiêng là gia sản của dòng họ, là uy tín của làng bản, còn bây giờ những giá trị đó đã được thay thế bằng nhà cửa, xe máy, tủ lạnh… Giá trị nghệ thuật của cồng chiêng chỉ thật sự cao khi gắn với đời sống tâm linh, khi tạo ra sự thông thiên trời đất với con người. “Mất đi tính thiêng ấy thì riêng âm nhạc cồng chiêng lại không phải là đỉnh cao gì ghê gớm. Cồng chiêng thiếu không gian thiêng sẽ như cá bị tách khỏi nước, chỉ còn là cá ươn, cá khô, cá chết”, TS Thông mạnh mẽ.

Ông Nguyễn Đức Tuấn (Văn phòng Bộ VH-TT&DL tại Đà Nẵng) thẳng thắn thừa nhận, với những cộng đồng không còn không gian, việc tổ chức lễ hội sẽ không có tác dụng. Mặc quần jean, áo phông thì làm sao chơi cồng chiêng? Đường đi qua địa phương nào thì thanh niên ở đó không còn tha thiết với trang phục dân tộc, âm nhạc dân tộc nữa. “Ta có xây nhà rông văn hóa cho bà con thì họ cũng không chăm chút. Họ xem đó như nhà sinh hoạt của nhà nước thôi“, đó là ông Tuấn còn chưa nói thẳng việc nhà rông “văn hóa” lợp mái tôn khác xa với nhà rông của bà con. Có đại biểu còn thẳng thắn nêu câu hỏi: “Sau festival này, cồng chiêng sẽ ra sao? Không lẽ festival chỉ là dịp gặp gỡ để vui vẻ?”.

Nhà nước không vào cuộc thì các nhà khoa học chỉ bàn cho vui thôi!

Giải pháp mà nhiều đại biểu đưa ra là ngoài việc làm chậm lại sự thay đổi của không gian văn hóa truyền thống với rừng, làng, giọt nước…, phải tạo ra không gian mới cho nghệ thuật cồng chiêng. Bà Linh Nga một lần nữa nhấn mạnh việc phải có những người nghiên cứu bản địa am hiểu văn hóa, hướng dẫn bà con để các cộng đồng tự ý thức về di sản rồi tự mình khôi phục những gì bà con muốn, hoặc giúp bà con tạo ra môi trường mới. “Nhà nước chi nhiều tiền để bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng, nhưng đã có ai hỏi ý kiến bà con xem họ nghĩ thế nào chưa? Ta kiểm kê cồng chiêng, nhưng có kiểm kê nhà rông, nhà dài, kiểm kê nghệ nhân, kiểm kê làng nghề không?”, TS Nga chất vấn.

Các nhà nghiên cứu đến từ Nhật Bản, Hà Lan, Canada đều khẳng định không thể đề cập đến tính nguyên bản của di sản trong việc bảo tồn, phải chấp nhận sự thay đổi với môi trường và chỉ có cộng đồng chủ thể của di sản khi nhận thức đầy đủ mới quyết định được họ sẽ muốn cồng chiêng thay đổi thế nào.

Nhiều nhà nghiên cứu của ta thực tế hơn lại băn khoăn nhiều đến vấn đề kinh phí, “nếu cộng đồng không đủ ăn, không biết chữ thì khó hy vọng họ bảo tồn và phát huy cồng chiêng” như lời TS Trương Bi.

Ông Phạm Sanh Châu, Tổng thư ký Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam đưa ra hai kiến nghị rất được chú ý: Hội nghị có thể làm bản kiến nghị gửi UNESCO đề xuất tài trợ cho công tác giáo dục và tuyên truyền (trích từ quỹ di sản phi vật thể). Ngoài ra, nếu ta đã có những mô hình “hứa hẹn” bảo vệ thành công di sản phi vật thể, UNESCO sẽ hỗ trợ khoản tiền lớn hơn. “Năm nay chỉ có 2 nước đề xuất thôi, còn 1.7 triệu Euro của quỹ đang… bỏ không”, ông Châu “bật mí”.

Thật tiếc vì những ý kiến tâm huyết của hội thảo lại không được lãnh đạo cấp cao của tỉnh, của Bộ lắng nghe đến phút cuối. Như GS Tô Ngọc Thanh khẳng định: “Nếu nhà nước không vào cuộc thì các nhà khoa học ngồi đây bàn chỉ cho vui thôi“.

  • Khánh Linh

.

Chư M’ga: tìm lại tiếng chiêng

NDĐT- Trước cuộc sống có quá nhiều biến chuyển như hiện nay, việc gìn giữ, kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của cha ông để lại là điều không phải dễ dàng. Đối xử với những di sản văn hóa phi vật thể ở Tây Nguyên cũng vậy, rất cần những người có tâm huyết uốn nắn, định hướng… để nguồn mạch văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc mình không mai một và đứt gãy.

Khi bí mật trên dầm nhà hé lộ

Những anh chị làm công tác văn hóa lâu năm ở huyện Chư M’gar (Đác Lắc) kể: Người dân ở buôn Rai (xã Ea Tal) chẳng bao giờ quên “chuyện nhà” ông E Mướt xảy ra hồi cuối tháng 7 vừa rồi.

Chuyện rằng: Già E Mướt tuổi đã hơn tám mươi mùa rẫy. Ông nằm liệt giường cả tháng trời, cơm cháo gì nuốt cũng không trôi, thế mà vẫn không chịu nhắm mắt để về với “thế giới ông bà”. Con cháu trong nhà phải cơ khổ vì ông cứ chết đi, sống lại không biết bao nhiêu lần. Họ phải chạy vạy đủ cách, kể cả việc cầu xin Yàng, khấn vái thần linh để làm sao cho ông ra đi được thanh thản. Thế mà vẫn không được như ý nguyện, đôi mắt ông E Mướt cứ mở trừng trừng nhìn lên dầm nhà như khẩn khoản một điều gì đó cơ mật mà không thể nói ra.

Đã ba ngày trôi qua vẫn thế, hoảng quá anh Y Tiếp, con trai ông bắc thang trèo lên dầm nhà xem thử thì mới phát hiện một bộ chiêng cổ (7 cái) được bọc trong những chiếc bao tải cất cẩn thận. Y Tiếp đem xuống và mở ra từng chiếc chiêng đã lên màu đen trũi. Đôi mắt người sắp chết nhìn theo như ngấn lệ.

Biết đây là điều mong mỏi cuối cùng của ông già trước khi từ giã cõi đời này, mọi người không ai nói với ai lời nào, họ chỉnh tề ngồi vào vị trí của dàn chiêng và bắt đầu diễn tấu. Những âm thanh thiêng liêng ngân lên lúc trầm, lúc bổng trong không gian tưởng chừng như đông đặc lại và vô cùng huyền hoặc. Lúc đó, đôi mắt già Y Mướt mới từ từ khép lại và “yên ngủ” như thể không còn điều gì vướng bận nữa…

Chị H’Hoa (cán bộ Phòng VH-TT huyện Chư M’gar-Đác Lắc) bảo, sau câu chuyện cảm động và có sức lay động sâu xa này, mọi người tìm hiểu ra mới biết cách đây cả chục năm, khi cồng chiêng bị người ta bán đi không thương tiếc vì nhiều lý do: hoặc là đời sống kinh tế khó khăn, lễ hội thưa vắng dần nên không có môi trường để diễn xướng; hoặc là một bộ phận theo đạo Tin Lành nên không cần nó nữa, vì thế cụ E Mướt âm thầm cất giữ bộ chiêng quí truyền đời của mình mà không ai hay biết.

Đến khi bí mật trên được phát hiện mọi người mới hiểu ra một điều: di sản của cha ông cũng có lúc thăng trầm, dâu bể… song, không vì một lý do thường nhật nào đó mà dễ dàng mất đi. Nó được những người như già E Mướt bảo tồn và gìn giữ cho đến hơi thở cuối cùng, dù bất kỳ dưới hình thức nào.

Anh Y Nan, Phó trưởng Phòng VH-TT huyện Chư M’gar nói rằng, đến bây giờ con cháu cụ mới hiểu ra và thấm thía điều đó. Tiếng chiêng cũng như các giá trị văn hóa truyền thống khác ở vùng đất này như được tiếp thêm nguồn xúc cảm mới để ngân vang và thăng hoa thêm.

Câu chuyện đầy xúc động của gia đình già E Mướt được những người làm công tác văn hóa ở đây lấy làm gương cho lớp trẻ trong việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức bảo tồn và gìn giữ vốn văn hóa cha ông. Và thật không ngờ nó có sức lay động đến thế, hầu hết thanh niên nam nữ ở các buôn làng đều hiểu ra ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong câu chuyện, nên tự nguyện tham gia nhiều lớp dạy đánh chiêng được tổ chức thường xuyên trên địa bàn.

Đến nay, Chư M’gar là một trong những huyện dẫn đầu về phong trào bảo tồn, gìn giữ và phát huy vốn văn hóa truyền thống của tỉnh. Hầu hết các buôn làng đều thành lập được những đội chiêng trẻ để cùng với thế hệ cha anh họ, tự tin góp mặt trong những dịp hội hè của cộng đồng dân tộc mình tổ chức như một sự tiếp nối tiềm tàng và đáng trân trọng.

Ai sẽ lưu giữ ký ức?

H’Hoa tâm sự, đời sống kinh tế của bà con đã khá hơn trước rất nhiều. Vì thế qua nhiều lễ hội truyền thống được phục dựng, số thành viên trong từng cộng đồng cũng tham gia ngày càng nhiều, càng thân thiết với nhau hơn. Bên cạnh cồng chiêng cùng nhiều nhạc cụ khác được mọi người chăm chút, hồi sinh… thì những làn điệu dân ca, dân vũ – vốn đã trở thành ký ức của người già cũng đang được thế hệ trẻ có tâm huyết sưu tầm, biên soạn và phổ biến trở lại.

Chẳng hạn như điệu múa cổ T’Lang Grư (chim Grư bay lên), Khớt H’gơr (hát múa trong nghi lễ bọc trống)… đã được H’Hoa và các chị H’Duôn, H’Nhé, H’Yang ở xã Ea Tul lĩnh hội từ những người già, hoặc lục lọi lại trong ký ức thời thơ bé để truyền dạy lại cho nhiều thiếu nữ ở các buôn làng. Chính những thiếu nữ này là “hạt nhân” ươm mầm và nhân rộng ra cho bạn bè cùng trang lứa.

Cô bé H’Lina vui lắm khi được các cô, bà mình truyền dạy cho những điệu múa tưởng chừng đã thất truyền. Cô bé thành thật : “Vòng xoang bình thường trong các dịp lễ hội thì ai cũng biết và múa được. Nhưng điệu múa cổ như T’Lang Grư, hay Khớt H’gơr… thì gần đây em mới biết nhờ theo học những lớp dân ca, dân vũ do chị H’Hoa dạy cho. Hóa ra dân tộc mình có điệu múa đẹp và kiêu hãnh đến thế.”.

Những cô gái trẻ trung, xinh đẹp trong tư thế vươn mình và xòe đôi bàn tay mềm mại như cánh chim Grư đang bay lên, chở đầy khát vọng và mơ ước của mình, của cộng đồng trên nền chinh T’Lang Grư nhún nhảy, nhuốm chút mơ màng…thì quả thật không gì có men say hơn thế. Ngược lại, Khớt Hgơr thì thành kính, dịu dàng trong từng bước chân, nét mặt đều hướng về một tâm điểm như để chia sẻ, nhận lấy mối đồng cảm và tri ân với cộng đồng, khiến bất kỳ ai có mặt cũng được yên vui, vỗ về.

Những bước nhảy ấy, họ không chỉ học được từ những bài học của cha ông mình, mà họ còn tích lũy, kế thừa bằng cả niềm đam mê và vốn hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ về dòng chảy liền mạch của đời sống văn hóa mỗi cộng đồng từ ngàn xưa cho đến hôm nay.

Nguyễn Đình

Lễ hội tháng 3, 2010 trên toàn quốc

Chào các bạn,

Mình mới khám phá ra danh sách này trên vietnamtourism.com.  Dù là đa số chúng ta không có dịp tham dự đa số các lễ hội trong danh sách này.  Liếc qua danh  sánh một tí cũng cho ta một tí khái niệm toàn cảnh về một khía cạnh của văn hóa Việt Nam

Mình sẽ cố nhớ post nó mỗi tháng (trừ khi có cô cậu sinh viên nào đó muốn xung phong làm việc này.  Nếu vậy, thì cho mình biết nhé 🙂 )

Các links trong bài dưới đây không hoạt động ở đây, chỉ hoạt động trong site chính tại vietnamtourism.com 🙂

Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành

Lễ hội tháng 3  2010


Lào Cai
Lễ cúng rừng của người Nùng

Thời gian: 29/1 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Đối tượng suy tôn: Thần làng, thần cây.
Đặc điểm: Cúng 2 cây cổ thụ “cây bố và cây mẹ”, cúng những người hy sinh vì nước và vì bản làng. Các trò chơi thi leng hao, hát lán cô, đu, chơi cờ gỗ.    (Chi tiết)

Phú Thọ
Hội chọi trâu Phù Ninh

Thời gian: 12/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Đối tượng suy tôn: Vua Hùng và các tướng lĩnh, Thành hoàng làng.

Đặc điểm: Diễn trò chọi trâu để tưởng nhớ vua Hùng theo tích xưa vua Hùng đi săn qua đây diệt hai con hổ đang đánh nhau.

(Chi tiết)


Lễ Cầu tháng Giêng

Thời gian: 27/1 âm lịch.

Địa điểm: Xã Đào Xá, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Đối tượng suy tôn: Hùng Hải (tướng của vua Hùng), Trang phu nhân và Quế Hoa.

Đặc điểm: Rước kiệu, rước văn từ đình làng vào đền thờ, múa voi, thổi cơm thi.

(Chi tiết)


Vĩnh Phúc
Hội Đức Bác

Thời gian: 1/2 và 11 – 12/6.
Địa điểm: Xã Đức Bác, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối tượng suy tôn: Thánh Ông, Bát Nàn công chúa (tướng của Hai Bà Trưng), ông tổ hát xoan.

Đặc điểm: Lễ cầu đinh, đua thuyền sang Phượng Lâu (bên kia sông) cướp giỏ thóc (bó mạ) mang về, hát xoan.

(Chi tiết)


Lai Châu
Lễ hội Xên Mường ở Lai Châu

Thời gian: Ngày Thìn Tháng 2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Mường Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Đặc điểm: Cúng người lập nên bản làng, dâng trâu, ném còn, múa các điệu dân gian.    (Chi tiết)


Điện Biên
Lễ hội Hoa ban của người Thái

Thời gian: Tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Tại núi rừng Tây Bắc, tỉnh Điện Biên.
Đặc điểm: Ngày hội hoa ban không chỉ là ngày hội của tình yêu của các chàng trai cô gái Thái mà còn là dịp để người Thái cầu mùa, cầu phúc; là dịp để bày tỏ đạo hiếu đối với ông bà, cha mẹ.    (Chi tiết)

Bắc Giang
Hội chùa Bổ Đà

Thời gian: 16-18/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng suy tôn: Phật, Thánh linh Thần tướng.
Đặc điểm: Hành hương lễ phật.    (Chi tiết)

Bắc Ninh
Hội làng Đức Vua Bà

Thời gian: 7/2  âm lịch.
Địa điểm: Làng Viêm Xá (làng Diềm), xã Hòa Long, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Đức Vua Bà (bà tổ của dân ca quan họ).
Đặc điểm: Lễ giỗ tổ quan họ có hát quan cầu đảo, quan họ trùm đầu, và trò chơi cướp quả cầu nước.    (Chi tiết)

Hội làng Yên Mẫn

Thời gian: 10 – 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Trương Hống, Trương Hát.
Đặc điểm: Cầu mùa, hát quan họ, chạy (kéo) chữ, chơi cướp cầu.    (Chi tiết)

Lạng Sơn
Lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ

Thời gian: 22 – 27/1 âm lịch.
Địa điểm: Thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Đối tượng suy tôn: Thân Công Tài, quan đầu phủ có công khai phá mở chợ Kỳ Lừa giao thương buôn bán với người Hoa.
Đặc điểm: Lễ rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ, hát sli (dân tộc Nùng), hát lượn (dân tộc Tày).    (Chi tiết)

Thành phố Hải Phòng
Hội đình Tri Yếu

Thời gian: 7 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Đặng Cương, huyện An Dương, Tp. Hải Phòng.
tượng suy tôn: Cao Sơn, Quí Minh và Chàng Rồng – Thần bản trang sở tại giúp vua Hùng đánh Thục.

Đặc điểm: Tế thần, thi bánh chưng, bánh giầy, đấu vật.

(Chi tiết)


Hội đền Hạ Lũng

Thời gian: 16 – 18/1 âm lịch.
Địa điểm: Phường Đằng Hải, quận Hải An, TP. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: Ngô Quyền, người mở đầu thời đại tự chủ cho nước ta, đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938.
Đặc điểm: Tế lễ, dâng hương, tham quan di tích lịch sử bãi cọc Bạch Đằng.    (Chi tiết)

Hội đền Nghè

Thời gian: 8 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Quận Lê Chân, Tp. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: Lê Chân, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
Đặc điểm: Lễ rước mũ, cỗ tế chay.    (Chi tiết)

Hội chèo bơi

Thời gian: 21/1 âm lịch.
Địa điểm: Thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, Tp. Hải Phòng.
Đặc điểm: Đua thuyền rồng.    (Chi tiết)

Hải Dương
Lễ hội đền Cao

Thời gian: 22 – 24/1 âm lịch.

Địa điểm: Xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Đối tượng suy tôn: Thành hoàng làng và 5 anh em họ Vương giúp Lê Đại Hành phá giặc Tống: Vương Đức Minh, Vương Đức Xuân, Vương Đức Hồng, Vương Thị Đào, Vương Thị Liễu.

Đặc điểm: Rước 6 kiệu với đội múa rồng và múa lân đi đầu.

(Chi tiết)


Hưng Yên
Lễ hội Chử Đồng Tử

Thời gian: 10 – 12 tháng 2 âm lịch.

Địa điểm: Đền Đa Hoà và đền Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, Hưng Yên.

Đối tượng tôn vinh: Chử Đồng Tử và hai vị phu nhân Tiên Dung Công chúa và Tây Sa Công chúa.
Đặc điểm: Lễ rước trên bộ của 9 xã từ các đình làng về đền Đa Hoà; 8 xã khác tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng về đền Dạ Trạch; hát trống quân.    (Chi tiết)


Thành phố Hà Nội (mở rộng)
Hội đánh cá làng Me

Thời gian: 2 – 10/2 âm lịch. Chính hội 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Đức Thánh Tản Viên.
Đặc điểm: Thi đánh cá tế thánh Tản Viên, làm tiệc cá,múa rối, hát đúm, đáo đĩa.    (Chi tiết)

Hội đình Ngũ Giáp

Thời gian: 2 – 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Liên Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng Lữ Gia đại vương.
Đặc điểm: Trò đón ông đám, cướp bông.    (Chi tiết)

Hội đền Dầm

Thời gian: 5 – 7/2 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Sâm Dương, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Thủy Cung Thánh Mẫu.

Đặc điểm: Lễ rước nước, múa rồng, múa sư tử, kéo chữ, cờ người, hát quan họ, chọi gà.

(Chi tiết)


Hội đền Lộ

Thời gian: 4 – 6/2 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Đại Lộ, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Tứ vị thánh nương.

Đặc điểm: Tế, rước sắc phong, rước nước.

(Chi tiết)


Hội chùa Trầm

Thời gian: 2/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Long Châu, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
Đặc điểm: Cúng (giỗ bà Trần), cầu kinh, múa rồng, múa rối nước.    (Chi tiết)

Lễ hội làng Sơn Đồng

Thời gian: 5 – 6/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Đông nhạc giáng thần.

Đặc điểm: Lễ tế trâu, rước và thi bánh giầy, trò cướp bông.

(Chi tiết)


Nam Ðịnh
Hội đền Đim

Thời gian: 30/1 – 2/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đặc điểm: Lễ tế, lễ rước, đấu vật, tổ tôm điếm, hát chèo.    (Chi tiết)

Hội hoa Vị Khê

Thời gian: 20 – 30/1 âm lịch.

Địa điểm: Huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Đặc điểm: Hội chợ hoa và cây cảnh đẹp, thi vật, thi chạy.

(Chi tiết)


Hà Nam
Hội đình làng Võ Giàng

Thời gian: 15/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thanh Thủy, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Đối tượng suy tôn: Vũ Cố, một tướng tài của Lê Lợi đã tham gia đánh giặc Minh trên sông Đáy.
Đặc điểm: Tế thánh, đua thuyền, phóng lao, hát đối nam nữ trên thuyền, hát giao duyên.    (Chi tiết)

Thái Bình
Hội đình Đông Linh

Thời gian: 14/2 âm lịch.

Địa điểm: Thị trấn An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Lê Bôi (Phạm Bôi), người có công thời khai quốc triều Lê Thái Tổ, được ban Quốc tính.

Đặc điểm: Lễ tế thần.

(Chi tiết)


Hội An Cổ

Thời gian: 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn An Cổ, xã Thụy An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng suy tôn: Phạm Hải (Nam Hải đại vương).
Đặc điểm: Rước thần, tế, chơi đấu vật, cờ tướng, hát chèo.    (Chi tiết)

Hội Bổng Điền

Thời gian: 14/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Tân Lập, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Thần Nông.

Đặc điểm: Rước nước cầu mưa, rước kiệu Thánh long trọng.

(Chi tiết)


Thanh Hóa
Hội Cổ Bôn

Thời gian: 20/1 âm lịch.

Địa điểm: Xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng suy tôn: Thánh Cả (hiệu Đế Thích – vua cờ), Thánh Quỳnh, Thánh Phúc, Thánh Hẹ (Đặng Quận công Nguyễn Khải).

Đặc điểm: Lễ rước, cỗ cúng to “Bánh giầy xẻ cưa, bánh chưng trâu kéo”. Trò Bôn: Trò Tiên Cuội, Trò Hoa Lan, Trò Ngô, Trò Lăng ba khúc, Trò Thủy.

(Chi tiết)


Hội Rỵ

Thời gian: 9 – 10/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Thiệu Lý, huyện Thiệu Hóa , tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng suy tôn: 5 vị thành hoàng (Thánh Cả, Thiên Phúc, Đại Hạnh, Thái Tổ, Bạch Y  Long).

Đặc điểm: Chơi cờ trận (cờ rỵ). Cờ diễn xướng điệu bộ, có lời rao của tướng cờ, tương tự như tổ tôm điếm.

(Chi tiết)


Hội Xuân Phả

Thời gian: 10/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng suy tôn: Đông Hải đại vương, âm phù vua Đinh, Lê.

Đặc điểm:  Lễ tế, thi chạy, diễn múa 5 trò: trò Chiêm Thành, trò Ai Lao, trò Hoa Lan, trò Tú Huần (Lục hồn nhung), trò Ngô Quốc.

(Chi tiết)


Nghệ An
Hội đền Quả Sơn

Thời gian: 19 – 21/1 âm lịch.

Địa điểm: Xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Đối tượng suy tôn: Ủy Minh Vương Lý Nhật Quang.

Đặc điểm: Lễ hội có tế thờ, rước 12 thuyền rồng lộng lẫy, đua thuyền.    (Chi tiết)


Hội Hang Bua

Thời gian: 21 – 23/1 âm lịch.
Địa điểm: Xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Đặc điểm: Hội vui xuân của người dân tộc.    (Chi tiết)

Hội Thanh Đàm (rước hến)

Thời gian: 15 – 18/2 âm lịch.
Địa điểm: Làng Thanh Đàm, xã Nam Tân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Đối tượng suy tôn: Thủy thần.
Đặc điểm: Rước và thả hến.    (Chi tiết)

Lễ hội đền Cuông

Thời gian: 15 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Diẽn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đối tượng suy tôn: Thần Thục An Dương Vương.
Đặc điểm: có lễ yết cáo tại đền, lễ rước kiệu thần, tế thần, các sinh hoạt văn hoá: có hát ví, hát phường vải, hát tuồng, chèo, đốt pháo bông, thả đèn hoa.    (Chi tiết)

Hà Tĩnh
Lễ Tống Trùng

Thời gian: Tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng làng.
Đặc điểm: Cúng ở đình thờ Thành hoàng, cúng trời đất, cầu yên mùa màng.    (Chi tiết)

Thành phố Hà Nội
Hội đình Đông Phù

Thời gian: 6 – 7/2 âm lịch: Lễ nhập tịch.
Địa điểm: Xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng: Sứ quân Nguyễn Siêu.
Đặc điểm: Lễ hạ đồ và thượng đồ.    (Chi tiết)

Hội đình An Phú

Thời gian: 13/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thần Nguyễn Bông và ngài Trần Toàn.
Đặc điểm: Hội làng có trò chơi “đi cầu noi”    (Chi tiết)

Hội đình Bà Tía

Thời gian: 8 – 10/2 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Trương Tử Nương, tướng của Hai Bà Trưng.

Đặc điểm: Thi đấu vật, đánh cờ, đi cầu đập nồi niêu.

(Chi tiết)


Hội đình Bái Ân

Thời gian: 10/2 âm lịch.

Địa điểm: Làng Bái Ân, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Ông thánh Chú và ông Dầu, bà Dầu.

Đặc điểm: Rước kiệu quỳ, hát ca trù, cờ người.

(Chi tiết)


Hội đình Giàn

Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Cáo Đỉnh, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Lý Phục Man, danh tướng thời Lý (Đánh quân Lương và Lâm ấp, giữ nước Vạn Xuân).

Đặc điểm: Rước kiệu, cờ người, võ, chọi gà, đấu vật.

(Chi tiết)


Hội đình Nhật Tân

Thời gian: 2/2, 10/2 và 8/8 âm lịch. Chính hội 10/2 âm lịch

Địa điểm: Phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Uy Đô Linh Lang (hoàng tử nhà Trần).

Đặc điểm: Múa rồng.

(Chi tiết)


Hội đình Nhật Tảo

Thời gian: 11/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Trần Nguyễn Trác.

Đặc điểm: Thi bánh giầy, chè kho.

(Chi tiết)


Hội đình Thanh Liệt

Thời gian: 8 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Phạm Tu (đình ngoại), Chu Văn An (đình nội).
Đặc điểm: Rước kiệu từ đình nội ra đình ngoại, diễn tuồng, chọi gà, đánh cờ bỏi.    (Chi tiết)

Hội đình Vạn Phúc

Thời gian: 9/2 âm lịch.
Địa điểm: 32 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Linh Lang đại vương (theo truyền thuyết là con thứ 4 của vua Lý Thánh Tông), Mẫu Thiên Tiên Lý Huệ Tông.
Đặc điểm: Rước, múa trống, cướp lụa đỏ. Có mười ba làng trại và nhiều cộng đồng khác như ở Đình Bảng (Bắc Ninh), Bồng Lai (Hà Tây) cũng về dự hội.    (Chi tiết)

Hội đình Vẽ

Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thánh Độc Cước sơn tiên, Lê Khôi – công thần thời Lê, thổ thần.
Đặc điểm: Thi thả thơ, hát ca trù. Đặc sản có bánh khoái và hàng mây tre đan.    (Chi tiết)

Hội đền Đồng Nhân

Thời gian: 6/2 âm lịch.
Địa điểm: Đền Đồng Nhân, phường Ðồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Hai Bà Trưng    (Chi tiết)

Hội đền Bà Chúa Kho (Giảng Võ)

Thời gian: 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Đình Giảng Võ, đường Giảng Võ, quận Đống Đa, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bà Chúa Kho.
Đặc điểm: Lễ tế của 13 làng trại anh em. Trò chơi: cờ người, bắt vịt, múa rối cạn, rối nước.    (Chi tiết)

Hội bên núi Sưa

Thời gian: 19/1 âm lịch.

Địa điểm: Núi Sưa (Bách Thảo), phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Huyền Thiên Hắc Công.

Đặc điểm: Xuất phát từ tục kết chạ xưa của ba thôn: Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Xuân Biểu gặp gỡ vui chơi, ca hát, thi cây thế, thổi xôi.

(Chi tiết)


Hội chùa Nành

Thời gian: 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Tp. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Phật Mẫu Man Nương, Pháp Vân (Bà Nành), Đức Phật Thích Ca, Đức Trần Hưng Đạo.
Đặc điểm: Tục cúng, nâng cây phan.    (Chi tiết)

Hội làng An Hòa

Thời gian: 10 – 12/2 âm lịch.

Địa điểm: Phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Lý Nhân Tông, Vạn Phúc phu nhân, Tứ Nàng phu nhân (con Lý Nam Đế), Bạch Hạc tam giang.

Đặc điểm: Tế nam quan, tế nữ quan, chơi cờ tướng, chọi gà.

(Chi tiết)


Hội làng Bát Tràng

Thời gian: 14 – 16/2 âm lịch.

Địa điểm: Đình Bát Tràng, Xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Hán Cao Tổ và Lữ hậu, Cai O Minh Chính tự đại vương, Phan Đại tướng, Hồ Quốc Thần, Bạch Mã thần.

Đặc điểm: Rước nước, tắm bài vị, thi sáng tác ca trù để hát thờ.

(Chi tiết)


Hội làng Cán Khê

Thời gian: 16/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Phù Đổng Thiên Vương.

Đặc điểm: Rước lớn 16 đoàn được tổ chức công phu. 60 thanh niên và hơn 100 cụ tham gia đám rước.

(Chi tiết)


Hội làng Cót

Thời gian: 12 – 15/2 âm lịch.
Địa điểm: Đình Cót, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Các thần Cao Sơn, Diêm La, Mộc Tinh, hai vị bản thổ (hoàng cung Trịnh Thục phu nhân, Tràng Hán anh linh Đại tướng quân).
Đặc điểm: Rước lớn 7 kiệu (5 long ngai bài vị, một kiệu sắc – kiệu phù hương, một kiệu chum nước).    (Chi tiết)

Hội làng Hồ Khẩu

Thời gian: 13/2 âm lịch hội chính

Địa điểm: Phường Bưởi, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Dực thánh Đại vương (Cống Lễ), Vệ quốc Đại vương (Cá Lễ).

Đặc điểm: Múa bơi trải (múa cạn) với sự tham gia của 36 thanh niên gọi là giai bơi.

(Chi tiết)


Hội làng Mạch Lũng

Thời gian: 10/2 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Mạch Lũng, xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Tam vị Minh Mổ đại vương và bà thân mẫu Xoa Nương.

Đặc điểm: Rước nước, rước kiệu, bơi trải.

(Chi tiết)


Hội làng Nghi Tàm

Thời gian: 10/ 2 âm lịch.

Địa điểm: Đình Nghi Tàm, phường Quảng An, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Võ Trung, Võ Quốc, Bảo Trung, Công chúa Quỳnh Hoa, Thánh Minh Khiết, Tây Hồ thủy thần.

Đặc điểm: Bơi trải, thi hoa cây cảnh.

(Chi tiết)


Hội làng Trung Kính

Thời gian: 14/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Trung Kính, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Hùng Nộn công (thời vua Hùng).
Đặc điểm: Cúng lợn giống đen tuyền, hát ca trù, vật, bắt vịt trong ao, đi cầu treo, tổ tôm điếm, thi thổi cơm.    (Chi tiết)

Hội làng Yên Nội

Thời gian:10/2 âm lịch.
Địa điểm:Xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bạch Hạc Tam Giang, Túc Chinh công chúa.
Đặc điểm:Ngày hội có kết chạ với các làng lân cận. Chỉ cúng bằng cơm tẻ, muối vừng. Chơi trò trận giả ném cát.    (Chi tiết)

Hội miếu Vũ, Xuân Đỉnh

Thời gian: 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Vũ Phục (ông Dầu), Đỗ Thị Thiện (bà Dầu).
Đặc điểm: Kiệu bay, thi bánh giầy, chè kho.    (Chi tiết)

Hội năm làng Mọc

Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.
Địa điểm: Mọc Quan Nhân, Mọc Chính Kinh, Mọc Cự  Lộc, Mọc Giáp Nhất, Mọc Phùng Khoang, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Đoàn Thượng, Lã Liệu, Hùng Lãng Công, Phùng Luông.
Đặc điểm: Rước kiệu qua 5 làng, múa rồng, múa sư tử.    (Chi tiết)

Hội Ninh Hiệp

Thời gian: 18/1 âm lịch.
Địa điểm: Làng Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bà Lý Nhũ Thái Lão (tổ sư nghề thuốc nam).
Đặc điểm: Lễ dâng hương, dân đến lễ và xin thuốc.    (Chi tiết)

Hội thờ Thủy thần

Thời gian: 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Bảo Ninh (thủy thần).
Đặc điểm: Dâng cúng cỗ cá (bỏ đầu), chơi cờ người, bắt vịt, bơi thuyền.    (Chi tiết)

Lễ hội kén rể

Thời gian: 2/2 âm lịch.

Địa điểm: Làng Đường Yên, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Nữ tướng Lê Thị Hoa thời Hai Bà Trưng.

Đặc điểm: Lễ hội độc đáo để chọn rể tài hiền cho nữ tướng Lê Hoa.

(Chi tiết)


Quảng Nam
Lễ hội bà Thu Bồn

Thời gian: 10 – 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
Đối tượng suy tôn: Bà Thu Bồn (người Chăm).
Đặc điểm: Đua thuyền, rước cộ.    (Chi tiết)

Thành phố Hồ Chí Minh
Hội miếu Ông Địa

Thời gian: 2/2 âm lịch.

Địa điểm: 125 đường Lê Lợi, phường 3, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.

Đối tượng suy tôn: Thổ địa Phúc Đức Chính Thần và nhiều vị thần dân gian khác.

Đặc điểm: Hát bóng rỗi, diễn tuồng.

(Chi tiết)


Lễ kỳ yên đình Phú Nhuận

Thời gian: 16 – 18/1 âm lịch.

Địa điểm: 18 đường Mai Văn Ngọc, phường 10 quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh.

Đối tượng suy tôn: Phật, thần, các vị tiền hiền, hậu hiền.

Đặc điểm: Tụng kinh cầu an, lễ tế, nghi thức tôn vương và hồi chầu

(Chi tiết)

Ngọc Lặc: Rượu ngon và canh lá đắng

Văn thư, sách vở, bản đồ ghi là Ngọc Lạc, nhưng đến nơi nghe gọi và thấy các bảng hiệu ghi là Ngọc Lặc. Cả hai tên cùng tồn tại.

Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai

Các xã trong huyện Ngọc Lặc đều có tên hai chữ Hán: Thạch Lập, Phúc Thịnh, Mỹ Tâm, Ngọc Sơn, Ngọc Khê vv…Các làng thì một số có tên hai chữ Hán như Lập Thắng, Điền Sơn…còn hầu hết là tên một chữ: Làng Ngán, làng Chạy, làng Nhớ, làng Quên, làng Thi, làng Mới, làng Mỏ, làng Móng, làng Chả, làng Thượng, làng Hạ, làng Vải, làng Mốc, làng Mí, làng Beo vv…Nghe rất vui nhưng tìm hỏi xuất xứ không ai biết rõ. Cũng như mọi người nói về vua Lê một cách kính cẩn, gọi là “cố Lê Lợi”, nhưng những chuyện xưa”năm tê năm tặc” chỉ còn truyền khẩu một cách mơ hồ. Những khe Sống, đồng Chó…người nói thế này, người nói thế nọ, rất khác nhau.

Thị trấn Ngọc Lặc nằm giữa cánh đồng, bốn bên là những dãy núi đỉnh nhọn đâm lên trời cao dáng vẻ trông thật hùng vĩ, đường bệ hơn hết là núi Sắt. Trung tâm thị trấn là chợ Phố Cống. Từ chợ đi ra có phố Lê Lợi rồi phố Lê Lai. Gọi là phố nhưng đường không rộng lắm, hai bên đường nhựa vẫn là bùn đất, rơm rạ vương vãi. Tuy vậy cũng đủ các mặt hàng: tạp hóa, quần áo, giày dép, xe máy…Và có dịch vụ trang trí nội thất, trang điểm cô dâu, quán cà phê vang tiếng nhạc. Thức ăn bày bán khá nhiều trong chợ là những thúng nhộng tằm, con nhộng lớn, màu xanh nhạt.

Nhiều loại nhà cửa xen lẫn nhau: nhà gác, nhà ngói, nhà lợp lá cọ – là thứ lá gồi trong thơ Tú Xương “Nhà gỗ năm gian lợp lá gồi”. Lá cọ làm kỹ lợp đến 20 – 30 năm chưa hư, sơ sài thì cũng phải 10 năm. Khi các bác sĩ đang làm cho chương trình Y tế cộng đồng tại đây đề nghị đồng bào cho biết về ngôi nhà mà họ mơ ước thì câu trả lời là những “nhà ngói bằng” – tức là nhà đúc. Giới thiệu kiểu nhà ngói ở miền xuôi, họ cười cười bảo: “Nhà xây mà có mái, lợp ngói thì đâu có hơn gì lợp lá cọ?” Ra khỏi trung tâm thị trấn vào các bản đồng bào Mường là nhà sàn với những cột bằng cây luồng, một loại cây họ tre, lớn hơn, dài hơn, suôn hơn tre. Cửa lên nhà cũng ở phía chái nhưng không chính giữa như nhà sàn Tây Nguyên mà dịch qua bên trái.

Xã Mỹ Tâm - Ru Mường

Sau lưng phố là ruộng chia thành nhiều luống nhỏ, luống này chín vàng, luống kia tươi xanh, luống nọ đã gặt. Trong một cánh đồng có thể thấy nhiều giai đoạn thời vụ trên những mảng màu khác nhau, nổi bật bên nhau. Vài ba con trâu đi trên đường phố, chiếc mõ mang ở cổ kêu lóc cóc lóc cóc, đến đoạn trống chưa có nhà trâu rẽ xuống ruộng.

Buổi sáng mùa đông ấy dứt mưa đã mấy hôm, trời chợt có gió hong khô và nắng lên ấm áp. Đường vào bản đã ráo, bước trên mặt đất mềm thấy bàn chân êm êm. Mặt hồ Đầm Thi gợn từng nếp sóng lăn tăn. Bãi sỏi bờ suối màu vàng sậm, hoa pháo nở đỏ từng xâu dài. Không khí thoáng đãng, hít thở thật nhẹ nhàng. Phong cảnh có nét gì đó rất thoáng và rất lạ giống như những truyện đường rừng của Lan Khai. Thỉnh thoảng có tiếng còi xe cũng dịu dàng. Trẻ em sạch sẽ, xinh xắn và lễ phép, gặp chúng tôi chào hỏi vui vẻ. Chỉ còn một ít người già mặc y phục dân tộc Mường, nam nữ thanh niên đều mặc Âu phục. Phụ nữ bới tóc cao, con gái để tóc dài, xõa ra hoặc kẹp lại bỏ sau lưng.

Ở đây rượu rất ngon và hình như người nào cũng sành về rượu. Ngồi uống rượu bỗng nhớ chuyện xưa. Thời Lê Lợi khởi binh, lực lượng nòng cốt ban đầu hẳn là đồng bào vùng Ngọc Lặc, Thọ Xuân. Biết bao nhiêu là gian khổ, “khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, khi Khôi Huyện quân không một lữ” đã cùng chia nhau chén rượu nghĩa tình. “Đầu giao hưởng sĩ phụ tử chi binh nhất tâm…”, nguyên bản Bình Ngô đại cáo như thế và các dịch giả đã diễn nôm thành “Gắn bó một lòng phụ tử rót rượu ngọt để khao quân” hoặc ”Mở tiệc khao quân chén rượu ngọt ngào, khắp chiến sĩ một lòng phụ tử”… Đầu giao hưởng sĩ…Đem rượu được biếu đổ xuống lòng suối để ba quân cùng nếm, rượu hòa nước lã bỗng hóa ra chén rượu ngọt ngào…

Buổi tối đến Ngọc Lặc chúng tôi được thưởng thức ngay món canh lá đắng. Hôm sau có dịp nhìn tận mắt loại cây ấy. Lá đắng là tên gọi đúng vị của nó, mọc từ thân ra, có hình dạng giống như lá sắn mì. Từ cuống chính tỏa thành chín cuống phụ, mỗi cuống phụ một lá, thân lá dài từ 5,6cm đến 20cm, rộng độ 4-5cm, chỗ gần cuống tròn hơn, thân lá nhọn, hai mặt lá đều màu xanh đậm. Lá đắng nấu với thịt nạc băm nhỏ. Mới ăn vào đắng lắm. So với canh lá đắng thì canh khổ qua (không luộc chần) chẳng thấm thía gì. Vậy mà khi đã nuốt xong, vị đắng tan hết, còn lại vị ngọt. Ăn lần thứ nhất có thể chưa cảm nhận được canh lá đắng ngon thế nào, sau lần thứ hai đã thấy nhớ, lần thứ ba và những lần tiếp theo sẽ không quên món canh độc đáo này của Ngọc Lặc…

Trần Huiền Ân

Nghĩ, một sớm tháng ba

Nguyên Tiêu đã qua, trăng hạ tuần  mòn dần theo vòng quay của trái đất, nhưng vẫn long lanh sáng rỡ khắp vòm trời cao nguyên. Dường như trăng đang muốn đua với những dàn đèn đủ kiểu dáng, đủ màu sắc trên phố phường Tây Nguyên ? Nào đèn lồng, đèn chùm, đèn dây, đèn cao áp, đèn tuýp, đèn tròn…trên cột điện, trong vòm lá, giữa những bụi hoa lúp xúp, quanh thân cây cổ thụ, trên mọi mặt tiền các cơ quan, cao ốc…Buôn Ma Thuột  xuân Canh Dần dồn dập những niềm vui, vào mùa hội lớn. Không chỉ kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng, mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đón nhận Huân Chương Hồ Chí Minh cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng, được công nhận là thành phố cấp I ( cũng còn có nghĩa là thành phố của khu vực); mà còn tròn 105 năm hình thành và phát triển Buôn Ma Thuột…một thành phố chứng nhân của lịch sử . Tây Nguyên của tôi, không chỉ có lịch sử văn hoá đầy huyền thoại của một vùng đất, mà còn cả bề dày lịch sử chiến tranh nhân dân vĩ đại của đất nước.

Ngã Sáu BMT, giữa thập niên 60s

Ngắm cờ hoa, dòng xe cộ chảy như những dòng sông phập phồng thở trên mọi con đường thảm nhựa, thêm yêu miền quê hơn trăm tuổi mà dáng dấp vẫn vô cùng trẻ trung, căng đầy sức thanh xuân trên con tàu hội nhập vùn vụt đi tới tương lai. Và những dòng ký ức bỗng tràn về ào ạt như  sông Chồng Krông Knô, sông Vợ  Krông Ana mùa nước lớn.

4 giờ sáng ngày 15-5-1975, xe chở Đoàn Ca múa Tây Nguyên chúng tôi dừng lại trước ngôi nhà của Uỷ ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột. Từ các ngả đường, dòng người tham gia mít tinh chào mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng, với cờ hoa trong tay, đã từ 6 ngả đường náo nức đổ về sân vận động trung tâm. Chúng tôi nhanh chóng nhận chỗ nghỉ ngơi, để chuẩn bị cho đêm biểu diễn đầu tiên nơi đô thị còn ngổn ngang đổ vỡ, vì bị máy bay Mỹ ném bom ngay sau ngày 10/3. Chúng tôi, hầu hết là những đứa con Tây Nguyên trở về sau 21 mùa rẫy xa bến nước rừng cây, có đủ trong tâm hồn những nỗi vui, buồn, thương mến của ngày hồi lại cố hương, nên chẳng ai nghỉ ngơi mà tại những địa điểm dừng chân của Đoàn trên khắp Tây Nguyên : Buôn Ma Thuột, Plei Ku, Kon Tum… ai nấy đều dành thời gian rảo những bước chân tò mò tìm hiểu về những  tên gọi đã quá thân quen, nhưng vẫn đang hoàn toàn xa lạ, bởi đa số đều ra đi từ lúc còn là những đứa trẻ đứng chỉ ngang hông những amí, ama.

Ngày ấy, 35 năm trước, Buôn Ma Thuột, Plei Ku chỉ là những thị xã nhỏ, và Kon Tum với các nhà thờ, chủng viện bình yên, lặng lẽ, đúng như tên gọi “ miền đất bị lãng quên”. Nhà nhỏ, phố nhỏ, những con đường dầu ngắn quanh co, lên dốc, xuống đồi vây quanh các trung tâm nội thị …Cả ba thị xã Tây Nguyên chỉ có một Trường sư phạm cao nguyên duy nhất ở Buôn Ma Thuột đào tạo giáo viên cấp I, cấp II. Dòng thác Drei H’Linh xinh đẹp chỉ dồn nước cho một nhà máy thuỷ điện bé nhỏ, đủ cung cấp điện năng cho các chốn công vụ và cư dân nội thị…Thứ duy nhất làm ấm lòng du khách là hình dáng lấp vấp trong tấm váy đen của những người phụ nữ lưng mang gùi rảo bước chân trên mọi nẻo đường phố thị khắp cao nguyên ( trong bài hát của nhạc sỹ Phạm Duy “ em Plei ku má đỏ môi hồng”) .

Tây Nguyên tôi ơi, đất với người ngày ấy – hôm nay, còn có nhiều lắm những mất còn của rừng, của nước, mang đến sự se thắt con tim.Nhưng ai nói gì thì nói, những cái được, những đổi thay của mọi buôn, bon, kon, plei trên cao nguyên chan hoà nắng, chứa chan gió miền tây Tổ quốc này, không thể dùng số đếm của ngôn ngữ Êđê, Jrai, Bâhnar hay Sê Đăng xưa để kể cho hết, sau những tháng năm thật sự chuyển mình nữa rồi.

Ngã Sáu BMT 2010

Đã 35 mùa rừng khộp thay lá . Buôn Ma Thuột, Plei Ku và cả Kon Tum nay đều đã là những thành phố khang trang, hình thành những dấu chấm son lớn hơn của Tây Nguyên trên tấm bản đồ hình chữ S.Đường Hồ Chí Minh nối Tây Nguyên với mọi miền quê từ bắc vào nam. Đường nhựa các phố núi rộng thênh với hệ thống đèn giao thông xanh đỏ điều hành mọi hướng đi đến cả những huyện xa xôi. Các công trình thuỷ điện trên sông Sê San, sông Srê Pôk, sông Đăk Bla… mang ánh điện tràn đến khắp núi rừng, từ tận đỉnh Ngok Linh cho tới đồng cỏ M’Drăk ven chân núi Mẹ bồng con Cư H’Mú, kéo theo truyền hình cáp, “ ăng ten chảo” đem cả thế giới đến mọi buôn, bon, kon plei quê tôi. Thuỷ lợi A Yun Hạ, Đăk Uy, Plei Krông, Ea Kao, Ea Suop thượng…biến đất hoang nên ngàn cánh đồng 5 tấn lúa, cho cái đói chạy xa khỏi miền đất cao nguyên;  cho Buôn Ma Thuột mơ một ngày không chỉ mang thương hiệu Cà phê Ban Mê được quốc tế công nhận, mà còn sẽ là thủ phủ của món đồ uống gắn kết toàn cầu; cho Hoàng Anh Gia Lai kết nối cùng bóng đá thế giới; để sâm Ngok Linh, bauxit Nhân Cơ có thể làm thay đổi bộ mặt của một vùng đất nghèo….Trường đại học Tây Nguyên, hệ thống các trường Cao đẳng & Trung học chuyên nghiệp, hàng ngàn trường, lớp từ Mầm non đến cấp III cho con em mọi người dân tận buôn, bon, kon, plei đều có thể tung tăng áo trắng mỗi sớm chiều nghe tiếng trống đến trường. Và vượt lên tất cả là sự tôn vinh của thế giới đối với di sản đầy sáng tạo cuả những nghệ nhân chân đất, góp phần làm sang cho Văn hoá Việt nam, không chỉ có “ Không gian văn hoá cồng chiêng”, mà còn cả kho tàng sử thi dân gian lớn nhất thế giới của cả 6 tộc người Êđê, Jrai, Mnông, Bâhnar, Sê Đăng, Răk Glay …

Tôi nhìn thấy bóng các Tù trưởng Dam San, N’Trang Lơng, Săm Brăm, Ama Thuột…lừng lững trên ngọn gió mang hương hoa bay khắp núi đồi; Vua săn voi Y Thu Khun Zu Nốp oai nghiêm trên bành voi ung dung vượt sông . Các vị lão thành cách mạng Nay Der, Nay Phin, Y Wang Mlô Dun Du, Y Ngông Niê Kdam…hể hả cười nâng cần rượu mừng ngày hội lớn. Vang vang trong gió, tiếng các nàng H’Linh, H’Ly hát trong ánh cầu vồng nơi đầu những dòng thác tung nước trắng xoá, bài hát “ Tây Nguyên giải phóng” phới phới niềm vui của tháng ba một chín bảy lăm, mà nhạc sỹ người Jrai – Kpă Púi năm ấy đã nhanh chóng gửi ra Hà Nội, rằng :  “ Cồng chiêng ơi cùng ta nhảy múa / đàn tr’ưng ơi ca hát vang lên / kết đoàn lại, vững một lòng / gìn giữ lấy buôn làng Tây Nguyên ” .

5h sáng 10/3/010

Linh Nga Niê Kdăm

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Trầu Cau


Thời thượng cổ có một vị Quan Lang (1) sức vóc cao lớn, nhà vua ban tên là Cao cho nên lấy Cao làm họ. Cao sinh hạ được hai người con trai, con cả tên là Tân, con thứ tên là Lang (2). Hai anh em giống nhau như đúc, trông không thể phân biệt nổi. Đến năm 17, 18 tuổi, cha mẹ đều từ trần, hai anh em đến theo học đạo sĩ họ Lưu. Nhà họ Lưu có một người con gái tuổi cũng khoảng 17, 18, muốn kết làm vợ chồng. Nàng chưa biết người nào là anh, mới bày một chén cháo và một đôi đũa, cho hai anh em cùng ăn. Người em nhường anh ăn trước. Nàng về nói với cha mẹ xin làm vợ người anh, tình vợ chồng ngày càng nồng thắm.

Về sau, người anh có thể đối xử lạt lẽo với em, người em tự lấy làm tủi hổ, cho rằng anh lấy vợ rồi nên quên mình, bèn không cáo biệt mà bỏ đi. Đi tới giữa rừng, gặp một dòng suối sâu, không có thuyền để qua, đau đớn khóc lóc mà chết, hóa thành một cây cau mọc ở ven bờ. Người anh ở nhà không thấy, từ giã vợ đi tìm. Tới chỗ đó, thấy em đã chết, gieo mình chết, hóa thành phiến đá, nằm ôm quanh gốc cây. Người vợ thấy chồng đi lâu không về bèn đi tìm chồng, tới chỗ này thấy chồng đã chết, cũng gieo mình ôm lấy phiến đá mà chết, hóa thành một cây dây leo cuốn quanh phiến đá, lá có mùi thơm cay (tức là dây trầu). Cha mẹ nàng họ Lưu đau xót vô cùng, bèn lập miếu thờ. Người trong vùng đi ngang qua chỗ đó đều đốt hương cúng vái, ca tụng anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa.

Khoảng tháng bảy tháng tám, khí nóng chưa tan, Vua Hùng đi tuần thú, dừng chân nghỉ mát ở trước miếu, thấy cây lá xum xuê, giây leo chằng chịt, vua leo lên phiến đá xem xét, hỏi rồi mới biết có chuyện như vầy, than thở hồi lâu, truyền cho bầy tôi hái lấy lá trầu, vua nhai rồi nhổ bọt lên phiến đá, thấy có sắc đỏ, mùi vị thơm ngon bèn lấy mang về. Rồi cho lấy lửa nung đá làm thành vôi, lấy vôi ăn với trái cau và lá trầu, mùi vị thơm nồng, dòn, ngọt, má đỏ môi hồng, nên cho thiên hạ ai ai cũng trồng cau trầu khắp nơi, gặp việc cưới hỏi, tế lễ lớn nhỏ đều lấy trầu cau làm đầu. Đó chính là cây cau, cây trầu và vôi vậy.

Nguồn gốc cau trầu nước Nam ta là như thế đó.

Chú thích:

1) Đời Hùng Vương, con trai gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương
2) Tân Lang: chữ Hán 檳榔, hai chữ Tân Lang ghép lại chữ Hán có nghĩa là cây cau.

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:

• Tục nhai trầu và cau là tục lệ chung từ thời cổ đại tại nhiều quốc gia vùng Nam Châu Á Thái Bình Dương–Ấn Độ, Pakistan, vài tỉnh ở Trung Quốc, Thái Lan, Sri Lanka, Papua New Guinea, Bangladesh, Đài Loan, Miến Điện, Kampuchia, Solomon Islands, Lào, Maldives, Indonesia, Phi Luật Tân, và Việt Nam.

Tại các nơi này trầu cau thường là một phần của giao tế xã hội, có lẽ vì tích cách kích thích nhè nhẹ của nó, như là chúng ta uống rượu nhẹ ngày nay. Cau còn được dùng nhiều trong y học cổ truyền, như thuốc trừ đau răng và sán lãi.

Trong tiếng Anh, cau là areca nut (không phải là betel nut như nhiều người lầm tưởng), và lá trầu là betel leaf. Ăn trầu (nhai trầu cau) là “chewing areca nut and betel leaf”.

• Dù lý do giải thích (em thấy anh có vẻ thương chị dâu hơn mình nên bỏ đi) nghe gượng ép và không hợp lý mấy, bài này rất rõ là sự chấm dứt của tình trạng một người phụ nữ sống chung với 2 anh em dưới một mái nhà. Đây là một dấu hiệu khác của sự dẫy chết của chế độ mẫu hệ trong văn hóa chính thức của người Việt, nói đúng ra là người Kinh. Vì văn hóa mẫu hệ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay tại vài bộ tộc miền cao của nước ta.

Theo tục nối dây của người Êđê chẳng hạn, khi người chồng mất, người phụ nữ có quyền lấy một người khác trong gia đình chồng, như là anh hay em chồng, hay chú chồng, cháu chồng, v.v… để tiếp tục “nối dây” cho hai gia đình. Dĩ nhiên, đó không phải là đa phu, nhưng nó nói rằng liên hệ tình cảm giữa người phụ nữ và thân nhân bên nhà chồng là chuyện trong vòng lễ giáo một lúc nào đó, không phải là chuyện vô đạo đức đến mức sống chung trong một mái nhà cũng là chuyện không nên, như truyền thống Khổng giáo mà truyện này ám chỉ.

(Trong truyền thống đa thê của Trung quốc, đàn ông có thể lấy vài chị em một nhà, nhưng đàn bà chì có một chồng. Chồng chết thì ở vậy nuôi con. Tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.)

• Lịch sử cổ đại của Việt Nam có nhiều điểm chính chỉ ra chế độ mẫu hệ:

Truyện Hồng Bàng là huyền thoại, dù là có vẻ phụ hệ bên ngoài, nhưng như đã phân tích, tính mẫu hệ rất nặng trong truyện.

— Kế đến là An Dương Vương, lại là huyền thoại, dù là đàn ông, nhưng nhân vật chính trong đó là phụ nữ, Mỵ Châu, nắm bí mật quốc gia. Chẳng thấy chàng hoàng tử nào của An Dương Vương có mặt.

— Hai vị vua đầu tiên trong lịch sử (không phải là huyền thoại) là Hai Bà Trưng.

— Người tên tuổi kế tiếp trong lịch sử, đến cả 400 năm sau, là Triệu Thị Trinh, tức Bà Triệu.

— Sách sử nói hai thứ sử của nhà Hán cai trị Việt Nam là Nhâm Diên (Giao Chỉ) và Tích Quang (Cửu Chân) phải dạy dân ta cưới hỏi và các lễ nghĩa khác. Dĩ nhiên không phải vì dân Việt không biết các lễ nghĩa này, nhưng có lẽ dân Việt dùng một lễ nghĩa khác—lễ nghĩa mẫu hệ thay vì lễ nghĩa phụ hệ của Khổng giáo từ Trung quốc.

• Các tên dùng trong truyện trầu cau rất thú vị:

1. Quan Lang họ Cao, rất gần âm Cau. Phải chăng cây cau có tên đó vì cao?

2. Theo Nguyễn Hữu Vinh, Tân Lang (tên hai cậu con trai), chữ Hán viết chung có nghĩa là “cây cau”.

Nhưng “tân lang” cũng có nghĩa là “người đàn ông mới”, đại diện cho văn hóa mới, phụ hệ, từ phương Bắc?

3. Tên của “hai” cậu (Tân và Lang) lại có nghĩa là “một” cây cau, hay “một” người đàn ông. Đây là nghĩa l‎ý chính trong tục “nối dây”: Tất cả các người đàn ông trong một gia đình là “một” sợi dây để nối vào vợ. (Hay ngược lại).

4. Họ của cô con gái là họ Lưu. Một trong những nghĩa thông dụng nhất của chữ “lưu” mà ta vẫn dùng cho đến ngày nay là “giữ lại, lưu lại”.

Vậy thì giữ lại gì? Thưa, giữ lại đạo nghĩa (cổ truyền), vì trong truyện bố cô gái là đạo sĩ họ Lưu.

5. Và họ nhà trai, là Quan Lang, tức là quyền lực chính trị.

Rất rõ đây là đụng chạm giữa hai nền văn hóa: Văn hóa mẫu hệ cũ tại bản xứ, và văn hóa mới của quyền lực chính trị từ phương Bắc sang.

Hậu quả là sống theo kiểu cũ không được, thì chết để cùng sống chung mỗi khi ai đó ăn trầu.

(Trần Đình Hoành bình)

Chiều Lam Kinh

Từ Thanh Hóa theo quốc lộ 47 đi về hướng tây, ruộng đồng và xóm làng nối tiếp. Núi Vọng Phu xa mờ in màu xanh đậm hơn lên nền trời có dáng người mẹ dắt con rõ hơn núi Mẹ Con ở tây bắc Khánh Hòa, đi trong đồng Tuy Hòa (Phú Yên) thấy hai đỉnh cao thấp liền nhau, đúng nghĩa Mẹ/Con chứ không hề bồng bế, ngóng trông.

Đã đến Lam Kinh, trời chiều đầy mây xám âm u. Một vài tia nắng lóe lên rồi tắt ngấm. Không gian thật tĩnh mịch. Ở đây có dấu vết của một khúc mương rộng. Người hướng dẫn bảo đó nguyên là con sông đào, tên là sông Ngọc. Ông Lê Hối, tiền bối ba đời của vua Lê Lợi từ Ngọc Lặc đưa gia đình về đây xây dựng cơ ngơi. Sông dẫn nước về cái hồ gọi là Hồ Tây. Bắc qua sông có cầu Bạch Ngọc, thượng gia hạ kiều. Năm 1433 điện Lam Kinh được xây dựng, sau đó là những bia, mộ các vua Lê, nay thuộc xã Xuân Lâm huyện Thọ Xuân, huyện nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Thanh Hóa. Qua khỏi sông đào thấy một hố trũng sâu, được biết xưa là một giếng nước lớn.

Cung điện Lam Kinh còn lại là một bãi cỏ rộng. Rải rác khắp bãi cỏ, xếp hàng ngay ngắn là những phiến đá táng chân cột, phần dưới hình vuông mỗi cạnh chừng 6 tấc, phần trên là khối viên trụ nội tiếp, màu đen xám, nhẵn láng. Vài ba con rồng đá không còn đủ hình dạng, con thì vỡ đầu, con thì mất thân, con thì rạn nứt. Nhìn những chân cột ta có thể hình dung được bề thế nguy nga của cung điện Lam Kinh ngày ấy. Nền phía trong cao hơn, và như để chống đỡ sự đổ nát, có chất một dãy bao cát mà phần lớn đã mục rách, trông thật thảm thương! Một vài người dân nói: “Cho đến năm 1960 cung điện Lam Kinh còn khá tốt, sau đó mới bị dỡ phá”. Chúng tôi nhìn chung quanh, nhận biết khá rõ ràng dấu tích của chân thành. Ở một góc là cây đa già tua tủa rễ phụ. (Mấy năm sau, xem truyền hình thấy Lam Kinh được trùng tu, tôi mừng thầm. Không phải mừng việc trùng tu mà mừng mình được đến Lam Kinh khi còn là phế tích hoang tàn, khỏi phải chứng kiến một Lam Kinh mới toanh, chẳng biết chỗ nào thật chỗ nào giả). Trong nhà bảo tàng có trưng bày mấy viên gạch xây thành, khối chữ nhật có hai lỗ vuông để đóng chốt lại với nhau, ghi số đo: dài 75cm, rộng 20cm, cao 15cm, nặng 43kg. Gạch nền cung điện lớn hơn, dài 85cm, rộng 40cm, cao 15cm, nặng đến 85kg.

Vào trong nữa là mộ vua Lê Thái Tổ. Qua khỏi hàng trụ biểu đến vòng thành thấp. Nền sân lát gạch. Bốn con voi quay đầu vào mộ. Hai bên mỗi bên một hàng các con vật: kỳ lân, tê giác, ngựa, cọp. Rồi hai vị quan văn võ. Tất cả đều bằng đá, nét chạm khắc có phần đơn sơ. Mộ vua hình chữ nhật, xây gạch, không có hoa văn, họa tiết. Một bệ nhỏ hình chữ nhật để cắm nhang. Dẫu là mộ thật hay mộ giả thấy cũng rất giản dị, hết sức giản dị.

Bia Vĩnh Lăng dựng ở phía trước, góc ngoài thành nơi có cây đa già. Nhà bia mới xây lại, phía trước thềm còn dấu hai chân cột cũ. Bia thì người hướng dẫn nói vẫn là bia xưa, cao 2,97m, rộng 1,94m, dày 0,27m. Chân rùa đội bia có 6 móng, móng cuối bị khuyết, nhỏ hơn. Hình rồng chạm trên bia trông giống con rắn, nhỏ và dài, uốn lượn gấp khúc nhiều đoạn, chân có 3 móng. Tại Bảo tàng lịch sử Hà Nội có một bia Vĩnh Lăng phục chế, đường nét còn mới, sắc sảo.

Bên kia đường đi Ngọc Lặc là lăng mộ của các vua Lê Thái Tông, Thánh Tông, Hiển Tông, Túc Tông và bà Ngọc Dao… hoang vu hơn. Có chỗ bia đã mất chỉ còn con rùa và con rùa cũng không có đầu!

Chiều đang xuống nhanh. Trên tàn cây những con ve sầu réo dài từng khúc ca buồn. Bãi cỏ sẫm màu lại, gần với màu của những khối đá chân cột. Vài ba con bò vừa bước đi chậm chạp vừa nhởn nhơ gặm cỏ. Rừng núi Lam Kinh dần dần chìn ẩn trong màn sương đang dần dần hiện lên. Người già nhất trong nhóm chúng tôi, ông Ba Nhữ, mắt mơ màng đọc hai câu thơ Thanh Quan:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…

Trần Huiền Ân

Về đất tổ

“Cõi Nam riêng một góc trời
Hùng Vương gây dựng đời đời nghiệp vua
Phong Châu là chốn kinh đô
Chia mười lăm quận bản đồ mênh mông
Trứng rồng lại nở ra rồng
Ngàn thu con cháu vốn dòng Lạc Long
Cây kia ăn quả ai trồng
Suối kia uống nước hỏi dòng từ đâu?…”

Nhớ lại lịch sử thời dựng nước, chắc chắn mỗi người chúng ta đều tự hỏi như thế. Và ai ai cũng muốn ít nhất có một lần về thăm đất tổ cội nguồn.

Từ Hà Nội theo quốc lộ số 2 về hướng tây bắc, tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong vùng trung du Bắc Bộ. Buổi sáng hôm ấy thật êm đềm. Trời xanh không quá cao tạo cái cảm giác gần gũi. Những ngọn đồi tròn, thấp, rải rác khắp nơi. Đồng ruộng vì thế không còn trải rộng, nhưng lại có vẻ linh hoạt hơn. Bắp, khoai, sắn nước, rau cải…đều xanh mượt, nhưng mỗi loại một màu xanh riêng, tạo ra từng ô đậm nhạt khác nhau, trông mát mắt. Thỉnh thoảng còn thấy một hai cái lô cốt ẩn mình trong cỏ, rêu phong, chứng tích của một thời khói lửa.

Đường qua huyện Mê Linh. Chỉ hai tiếng Mê Linh cũng đủ gợi lên những trang sử oanh liệt của hai vị nữ anh hùng dân tộc lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đầu tiên chống nhà Đông Hán. Qua Hương Canh với ngôi đình trên 300 năm, qua thị xã Vĩnh Yên, đường chuyển sang hướng tây để gặp sông Lô. Xe chạy dưới cầu rồi vòng lên. Mơ hồ trong gió như  vang vọng bản trường ca đầy hào khí và cũng rất trữ tình.

Thành phố Việt Trì là tỉnh lỵ Phú Thọ. Sông Lô gặp sông Hồng tạo ra điểm gặp của Phú Thọ – Vĩnh Phúc – Hà Tây. Đi mươi cây số nữa là tới đền Hùng, thôn Cổ Tích, xã Hi Cương, huyện Phong Châu. Ai đã thuộc những câu thơ xưa từ bài học thuộc lòng trong ký ức thiếu thời, khi nhìn núi Ngũ Lĩnh không thể không nhẩm đọc:

…Ba tòa chót vót đầu non
Ngàn thu sùng bái vẫn còn khói hương…


Trước khi đến “ba tòa” tức là đền Hạ, đền Trung và đền Thượng, phải qua đền Trình gần chân núi. Bên trên cổng đề bốn chữ “Cao sơn cảnh hành”, ở bốn trụ có hai câu đối. Từ chân núi đến đền Hạ thoai thoải 225 bậc cấp. Các bậc cấp xây cao bằng nhau (một tấc rưỡi) vừa với bước chân người lớn tuổi. Cho nên không mấy ai ngần ngại khi nghe tiếng gọi của tiền nhân:

Đường mây sẵn bậc leo lên
Rõ ràng lăng miếu Mẹ Tiên Cha Rồng…

Ở đền Hạ có Thiên Quang thiền tự, tương truyền tại nơi này Mẹ Âu Cơ sinh một bọc trăm con, có cây đại 500 năm, cây vạn tuế 3 nhánh 700 năm. Lên thêm 168 bậc cấp nữa đến đền Trung, có cây đại 700 năm. “Trăm năm trong cõi người ta…” một đời người đâu có nghĩa gì so với cổ thụ. Nhưng điều quan trọng là sự nghiệp một đời người còn có gì để lại cho các thế hệ mai sau khi thân xác đã về cùng cát bụi.
Nói đến cổ thụ có khi không đồng nghĩa với đại thụ. Cây vạn tuế ở đền Trung không có được tầm vóc như cây đại ở Côn Sơn, tương truyền do Trần Nguyên Đán trồng đã 600 năm, hoặc cây đại trước chùa Hoa Yên núi Yên Tử 700 năm, trông khắc khổ mà kiêu hùng. Những cây tùng 700 năm dọc Đường Tùng Yên Tử thì cao vút cao, ngọn vẫy mây trời, dưới gốc rễ trồi lên cùng sỏi đá.

Cũng theo tương truyền, chỗ đền Trung là nơi tổ chức cuộc thi các món ăn và Hoàng tử Lang Liêu đã dâng vua món bánh chưng bánh giầy. Ở sân đền có đặt 9 tảng đá, tảng lớn nhất chính giữa, 8 tảng nhỏ hơn xếp vòng chung quanh, tượng trưng nơi ngày xưa Vua Hùng và các Lạc hầu Lạc tướng ngồi trên các tảng đá bàn việc nước, vua ngồi giữa, văn võ chung quanh. Từ 9 tảng đá thô sơ nơi sân đền Hùng đến 9 chiếc đỉnh chạm khắc công phu trước Thế miếu Huế, đất nước biết bao thăng trầm để đến hôm nay…

…Bụi hồng mấy cuộc tang thương
Bia xanh còn đó, khoán vàng còn đây…

Đi tiếp 102 bậc nữa đến đền Thượng: “Kính thiên Linh điện”. Kiến trúc đền Thượng cũng như các đền Hạ, Trung. Ngôi đền dài, bên trên đôi rồng chầu, trước có bốn chữ “Nam Việt tích tổ”. Sau đền là sân rộng, bóng cây che mát. Cạnh đền Thượng có “Hùng Vương lăng” là mộ vua Hùng thứ sáu. Sau khi Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân bay về Trời, vua Hùng thứ sáu cởi áo vắt lên cây kim giao rồi hóa tại đây. Nguyên xưa là mộ, đến thời đầu triều Nguyễn xây thành lăng như hiện nay, hai tầng mái uốn cong bốn góc.

Không quay lại lối cũ, cứ tiếp bước đi xuống là đền Giếng nằm ở chân núi, phía đông nam. Trong đền có giếng Ngọc, một lần nữa nói theo tương truyền, các Công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thường soi xuống lòng giếng chải tóc, bịt khăn. Ngày nay, do du khách đến đây thường thả những tờ bạc xuống lòng giếng để cầu phúc cầu tài…người ta phải đặt một tấm gương trong suốt bên trên, e rằng sự giao hòa giữa Trời-Đất, Âm-Dương đã phần nào bị hạn chế.

Trước đền Giếng là một hồ sen. Bên ngoài hồ sen, bước qua vòm cổng đưa ta trở về cùng cõi đời thường sau khi đã gởi lòng theo dấu chân dĩ vãng. Ngoái lại, thấy bốn chữ “Trung sơn thiên bửu”, đôi câu đối, hai trụ biểu nổi trên màu cây lá.

Hình như tại đây ai ai cũng bâng khuâng dừng bước, đưa tầm mắt nhìn tận xa xa. Cả cõi kinh đô Phong Châu bao la hùng vĩ “Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang”, gồm cả Phú Thọ, Vĩnh Phúc và một phần Hà Tây hiện nay (Sơn Tây). Một ngàn năm trước, bốn ngàn năm trước…đứng ở đây vẫn là ngọn núi ấy, dòng sông ấy, Tổ tiên để lại cho con cháu. Bên trong trang lịch sử vinh quang thời Hùng Vương còn có những trang tình sử. Và một cảnh rất đẹp, rất thơ là cảnh Mỵ Nương Ngọc Hoa hạ giá cùng Sơn Tinh:

…Quỳ lạy cha già bên kiệu bạc
Thương người thương cảnh xót lòng đau
Nhìn quanh, khói tỏa buồn man mác
Nàng kêu: Phụ vương ôi! Phong Châu !…

(Nguyễn Nhược Pháp)

Khốc như nữ tử vu quy nhật”. Công chúa không khóc, chỉ kêu lên, hẳn là tiếng kêu nho nhỏ, nghe như tiếng chim rừng Nghĩa Lĩnh.

Trần Huiền Ân

Lĩnh Nam Chích Quái – Cá tinh, Chồn tinh và Cây tinh

Truyện Cá tinh (Ngư tinh)

Ở ngoài biển Đông có con cá đã thành tinh, mình như rắn dài hơn năm mươi trượng, chân nhiều như rết, biến hóa thiên hình vạn trạng, linh dị khôn lường, khi đi thì ầm ầm như mưa bão, lại ăn thịt người nên ai cũng sợ.

Đời thượng cổ có con cá dung mạo như người, bơi tới bờ biển Đông, biến thành hình người, biết nói năng, dần dần sinh ra nhiều con trai con gái, hay bắt cá, tôm, sò, hến mà ăn. Lại có giống mọi sống ở đảo biển, chuyên nghề bắt cá, sau cũng biến thành người, giao dịch với man dân các vật như muối, gạo, áo quần, dao, búa, v.v thường qua lại ở biển Đông. Có hòn đá Ngư tinh, răng đá lởm chởm cắt ngang bờ bể, ở dưới đá có hang, cá tinh sống ở trong đó. Thuyền dân đi qua chỗ này thường hay bị cá tinh làm hại.Vì sóng gió hiểm trở, không có lối thông, dân muốn mở đường đi khác nhưng đá rắn chắc khó đẽo. Một đêm, có tiên đến đục đá làm cảng để cho người đi dễ dàng qua lại. Cảng sắp làm xong, cá tinh bèn hóa làm con gà trắng gáy ở trên núi. Quần tiên nghe tiếng ngỡ rằng đã rạng đông nên cùng bay lên trời (nay gọi là cảng Phật Đào). Long Quân thương dân bị hại, bèn hóa phép thành một chiếc thuyền lớn, hạ lệnh cho quỉ Dạ Xoa ở dưới thủy phủ cấm thần biển không được nổi sóng, rồi chèo thuyền đến bờ hang đá cá tinh, giả vờ cầm một người sắp ném vào cho nó ăn. Cá tinh há miệng định nuốt, Long Quân cầm một khối sắt nung đỏ ném vào miệng cá. Cá tinh chồm lên quẫy mình quật vào thuyền. Long Quân cắt đứt đuôi cá, lột da phủ lên trên núi nay chỗ đó gọi là Bạch Long Vĩ, còn cái đầu trôi ra ngoài bể biến thành con chó. Long Quân bèn lấy đá ngăn bể rồi chém nó. Nó biến thành cái đầu chó, nay gọi là Núi Đầu Chó (Cẩu Đầu Sơn), còn thân mình. trôi ra ngoài Mạn Cầu, chỗ đó nay gọi là Cẩu Mạn Cầu.
.

Truyện Chồn tinh (Hồ tinh)

Thành Thăng Long xưa còn có tên là Long Biên, hồi thượng cổ không có người ở. Vua Lý Thái Tổ chèo thuyền ở bờ sông Nhĩ Hà, có hai con rồng dẫn thuyền đi, vì vậy đặt tên là Thăng Long, rồi đóng đô ở đấy, tức là đất kinh thành ngày nay vậy.

Xưa ở phía tây thành có hòn núi đá nhỏ. Trong hang dưới chân núi, có con chồn chín đuôi sống được hơn ngàn năm, có thể hóa thành yêu tinh, biến hóa thiên hình vạn trạng, hoặc thành người hoặc thành quỉ đi khắp nhân gian. Thời đó, dưới chân núi Tản Viên, người mọi chôn gỗ kết cỏ làm nhà. Trên núi có vị thần, người mọi thường thờ phụng. Thần dạy người mọi trồng lúa, dệt vải làm áo trắng mà mặc cho nên gọi là “mọi áo trắng” (Bạch y man). Con chồn chín đuôi biến thành người mọi áo trắng nhập vào giữa đám dân mọi cùng ca hát, dụ bắt trai gái rồi trốn vào trong hang núi đá. Người mọi rất khổ sở. Long Quân bèn ra lệnh cho lục bộ thủy phủ dâng nước lên phá vỡ hang đá, làm thành một đầm nước lớn. Nơi này trở thành một cái vũng sâu gọi là “đầm Xác Chồn” (tức Hồ Tây ngày nay). Rồi cho lập miếu để trấn áp yêu quái (tức chùa La đã ngàn năm). Cánh đồng phía Hồ Tây rất bằng phẳng, dân địa phương trồng trọt làm ăn, nay gọi là “đồng Chồn” (Hồ Đồng). Đất ở đây cao ráo, dân làm nhà mà ở, thường gọi là “thôn Chồn” (Hồ Thôn). Chỗ hang chồn xưa, nay gọi là đầm Lỗ Hồ (Lỗ Hồ Đàm).
.

Truyện Cây tinh (mộc tinh)


Thời thượng cổ ở đất Phong Châu có một cây lớn gọi là cây chiên đàn, cao hơn ngàn trượng, cành lá xum xuê, không biết che rợp tới mấy ngàn trượng. Có chim hạc bay đến làm tổ, nên đất chỗ đó gọi là đất Bạch Hạc. Cây trải qua không biết bao nhiêu năm, khô héo rồi biến thành yêu tinh, rất dũng mãnh, có thể giết người hại vật. Kinh Dương Vương dùng thuật thần đánh thắng cây tinh này. Cây tinh này hơi chịu khuất phục nhưng vẫn nay đây mai đó, biến hóa khôn lường, thường ăn thịt người. Dân phải lập đền thờ. Hàng năm tới ngày 30 tháng chạp, theo lệ phải mang người sống tới nộp, cây tinh mới để cho được yên ổn. Dân thường gọi cây tinh này là thần Xương Cuồng. Ở biên giới tây nam giáp liền với nước Mi Hầu, vua sai dân mọi ở Bà Lộ (nay là phủ Diễn Châu) bắt giống người mọi sống ở Sơn Nguyên tới nạp, như vậy đã thành lệ thường mọi năm. Tới khi Tần Thủy Hoàng bổ Nhâm Ngao làm quan lệnh Long Xuyên, Nhâm Ngao muốn bỏ tệ lệ ấy đi, cấm không được nạp lễ người sống, thần Xương Cuồng tức giận vật chết Nhâm Ngao. Vì thế, sau lại phải phụng thờ nhiều hơn nữa.

Đến đời vua Đinh Tiên Hoàng có pháp sư Du Văn Tường vốn người phương bắc, đức hạnh thanh cao, khoảng 40 tuổi, đã từng đi qua nhiều nước, biết được tiếng các dân mọi, học được thuật làm mình vàng và răng đồng, sang nước Nam ta lúc hơn 80 tuổi. Tiên Hoàng lấy lễ thầy trò mà tiếp, pháp sư bèn dạy cho pháp thuật để làm trò vui cho thần Xương Cuồng xem mà giết y. Người biết pháp thuật này có Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Hiểm Can thường làm người cưỡi ngựa hoặc làm bọn con hát. Hàng năm tới tháng 11 lại dựng lầu cầu vồng cao 20 trượng, dựng một cây đứng ở trong, tết vỏ gai làm dây thừng dài 136 thước, đường kính rộng 3 tấc, lấy mây mà quấn ngoài rồi chôn hai đầu dây xuống đất, giữa gác lên cây. Thượng Kỵ đứng lên trên dây mà chạy nhanh 3, 4 lần, đi đi lại lại mà không ngã. Kỵ đầu đội khăn đen, mình mặc quần đen. Dây của Thượng Can dài 150 thước, có một chỗ mắc chạc ba. Hai người mỗi người cầm 1 cán cờ đi trên dây, gặp nhau ở chỗ chạc ba thì lại tránh, lên xuống mà không ngã. Khi thì Thượng Đát lấy một tấm gỗ lớn rộng 1 thước 3 tấc, dày 7 tấc đặt lên trên cây cao 17 thước, Đát đứng ở trên nhảy 2, 3 lầni, tiến tiến lùi lùi. Khi thì Thượng Toái lấy tre đan thành lồng hình như cái lờ bắt cá, dài 3 thước, tròn 4 thước rồi chui vào đứng thẳng mình mà không ngã. Khi thì Thượng Câu vỗ tay nhảy nhót, miệng la hét kêu gào, chuyển động chân tay, rờ xương vỗ bụng, tiến lên lùi xuống, hoặc làm người cưỡi ngựa phi nhay, cúi mình xuống nhặt lấy vật ở dưới đất mà không rơi khỏi lưng ngựa. Khi thì Thượng Hiểm Can ngả mình nằm ngửa, lấy thân đỡ một cái gậy dài rồi cho đứa trẻ trèo lên. Khi thì cho bọn ca hát gõ trống khua chiêng, ca múa rầm rĩ. Lại giết súc vật mà tế. Thần Xương Cuồng tới xem, pháp sư đọc mật chú rồi lấy kiếm ra chém. Thần Xương Cuồng cùng bộ hạ đều chết hết. Lệ làm lễ nạp dâng người sống hàng năm bèn bỏ, dân lại sống yên lành như xưa.

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:

• Ba truyện khắc phục Cá tinh, Chồn tinh và Cây tinh này đi ngay sau truyện khởi thủy lập quốc Họ Hồng Bàng, nói về các giai đoạn kiến tạo đất nước. Trước tiên ta có “người”, tức là “dân tộc”—họ Hồng Bàng; sau đó là “lãnh thổ” và “văn hóa”.

Về lãnh thổ thì truyện Cá tinh nói về biển, và truyện Chồn tinh nói về lục địa.

Về văn hóa, thì Cá tinh nói về thử thách từ ngoài vào–từ thiên nhiên hoặc ngoại thù; Chồn tinh nói về thử thách từ gian tham trong xã hội; và Cây tinh về sự xuống cấp các giá trị đạo đức văn hóa.

• “Tinh” là giai đoạn thần vật hay linh vật (animism), trong đó mọi thứ quanh ta sông, suối, đá, cá. chồn, cây đều có thể là thần linh. Đây thường là tôn giáo đầu tiên thời sơ khai của mọi dân tộc trên thế giới. Cho nên khi nói đến khó khăn người xưa nghĩ đến ma tinh là chuyện thường, như là Cá tinh, Chồn tinh và Cây tinh.

Triết lý nhân chủ:

Ai diệt Cá tinh, Chồn tinh và Cây tinh?

Cá tinh thi Lạc Long Quân diệt, và Chồn tinh cũng do Lạc Long Quân trấn yểm. Cây tinh thì Kinh Dương Vương, bố của Lạc Long Quân đã yểm trấn một phần; sau này do Du Văn Tường và 5 đệ tử diệt. Đây là một điểm rất thú vị và quan trọng trong việc phát triển tâm thức Việt Nam.

Thần thoại các nước, như thần thoại Hy Lạp, gốc gác của văn minh tây phương, thì thường phải có thần trị thần, hay thần trị quỷ. Con người coi như bất lực hoàn toàn. Trong thần thoại Việt Nam, con người trị quỷ thần. Chẳng có thần thánh nào khác. Ngay trong cả truyện Cá tinh, thì tiên phật trên trời xuống cũng chỉ giúp đào cảng để tránh bão, chứ chằng làm gì với yêu tinh cả.

Đây là triết lý nhân chủ–con người là chính. Con người tự khắc phục khó khăn quanh mình.

Lãnh thổ

Truyện Cá tinh nói về khắc phục thử thách của đại dương, biểu hiệu bằng Cá tinh dữ dằn.

Loại người ăn thịt người và người “mọi” trong truyện có lẽ là các dân tộc đi biển sống tại các hải đảo vùng Thái Bình Dương.

Truyện này còn là kỳ tích về một số các địa danh miền biển—Bạch Long Vĩ, Đảo đầu chó, Cẩu Mạn Cầu, cảng Phật đào. (Tuy nhiên, ngày nay ta không biết các địa danh này ở đâu).

Điều thú vị là đuôi Cá tinh, sau khi bị chặt đi thì thành đuôi rồng trắng (Bạch Long Vĩ), tức là lên một cấp, từ cá thành rồng. Đây có lẽ là truyền thống tốt với người chết của ta—chết là hết thù, và còn được tôn trọng và nâng cao.

Truyện Chồn tinh nói về khắc phục khó khăn trên đất liền, biểu hiệu bằng Chồn tinh.

Truyện này có sự chơi chữ thú vị của hai từ “Hồ” đồng âm nhưng khác nghĩa. Âm “Hồ” trong tiếng Hán có thể là “chồn” hay “hồ nước”. Âm “hồ” trong tiếng Việt là “hồ nước”. Trong truyện có “Hồ ly tinh” (chồn tinh) và “Hồ Tây” (hồ nước). Vài chữ Hồ trong truyện có thể hiểu cả hai nghĩa (Hồ Thôn, Hồ Đồng).

Truyện này còn là kỳ tích về một số địa danh trong vùng châu thổ sông Hồng.

Hiện tượng nước dâng lên núi giết chồn, cũng như truyện Sơn Tinh Thủy Tinh sau này, có lẽ đến từ các trận lụt hàng năm trong mùa mưa lũ.

Truyện này cũng nhắc đến việc L‎ý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên lại là Thăng Long. Đây là một quyết định chiến lược lớn và sáng suốt. Hoa Lư là nơi núi non sông nước hiểm trở, dùng làm nơi phòng thủ quân sự thì rất tốt, song không phát triển kinh tế được. Dời đô về Thăng Long là lo phát triển kinh tế, và dùng sức mạnh kinh tế để tạo sức mạnh cho quốc gia. Tức là một bước tiến rất lớn trong tư tưởng trị quốc.

Văn Hóa

• Truyện Cá tinh có thể nói là truyện về thử thách từ bên ngoài vào–hoặc là thử thách thiên nhiên, hoặc là thù địch từ bên ngoài.  Biện pháp đối phó với thử thách từ bên ngoài  là đối phó thẳng mặt. Hạn hán, lụt lội, bão táp… hay quân xâm lăng  từ bên ngoài tới, thì cứ phải nhào vào đối phó trực diện, không sợ hãi, như đến ngay trước miệng cá tinh và tống lửa ngay vào miệng nó.

• Truyện Chồn tinh là nói về sự gian tham xảo quyệt trong xã hội, như gian tham xảo quyệt của Chồn tinh chín đuôi. Số 9 là số lớn nhất trong các số đơn. Tức là sự xảo trá quỷ quyệt này rất cao siêu.

Tính gian xảo sống chung với chúng ta như chồn hóa người sống chung với người, đặc biệt là những người có khuynh hướng xấu, biểu hiệu bằng y phục màu trắng. Trong truyện Cá tinh có nói Cá tinh biến thành gà trắng gáy để lừa các tiên ngưng đào cảng và bay về trời. Truyện Chồn tinh thì nói đến người mọi áo trắng. Trong ngũ hành, màu trắng thuộc hành kim, là hướng Tây, hướng mặt trời lặn, hướng chết chóc.

Chồn tinh này lại ở trên núi, tức là sự gian xảo ở trên cao, ý ‎ nói gian xảo trong tầng lớp ăn trên ngồi trốc trong xã hội, không phải là gian xảo của đám người nghèo đói. Chính gian xảo của đám người cao cấp trong xã hội mới là gian xảo loại Chồn tinh, không phải loại trộm vặt của dân nghèo.

Muốn phá gian xảo cấp Chồn tinh thì ta phải rửa sạch gian xảo bằng “dâng nước lên phá vỡ hang đá”. Chỉ một chú chồn mà phải dâng nước ngập lụt toàn mặt đất lên đến tận hang đá trên đỉnh núi, cho thấy trừ gian xảo trong tầng lớp cao cấp xã hội là việc rất khó khăn và rất lớn. Đó phải là cố gắng làm ngập lụt toàn xã hội như là dâng nước ngập khắp nơi.

Và gian xảo này thì chẳng thể diệt được (vì nó nằm trong quả tim con người), mà chỉ có thể trấn yểm được, bằng đạo đức, biểu hiệu bằng chùa La. Nếu chùa mà không được duy trì tốt thì sẽ sụp, và lúc đó trấn yểm cũng hết hiệu lực, như truyện Cây tinh sau.

• Truyện Cây tinh là nói về sự sụp đổ của đạo đức và văn hóa nghệ thuật.

Cây chiên đàn, theo kinh sách Phật, là loại cây rất cao, có hương thơm trong gỗ, vì vậy nó thường được xem là loại cây cao quý, đôi khi được xem là Cây Thần. Người ta hay dùng gỗ chiên đàn để khắc tượng Phật.

Cây chiên đàn trong truyện này cao tốt đến nỗi Bạch Hạc đến làm tổ. Hạc trắng là loại thần điểu. Các vị tiên trong huyền thoại hay cỡi hạc trắng ngao du khắp vũ trụ. Chiên đàn có tổ bạch hạc tượng trưng cho một nền văn hóa đạo đức tốt, sản sinh ra tâm thánh thiện của con người.

Khi nền văn hóa đạo đức này chết đi, nó thực sự không chết, nhưng sẽ biến thành cái ngược lại, tức là thành tinh ăn thịt người sống, một loại tinh cực kỳ điên rồ gọi là Xương Cuồng. Loại tinh này còn kinh sợ hơn chồn tinh gian xảo. Chồn tinh còn lén lén lút lút bắt người xấu tính, nhưng Cây tinh thì bắt người ta phải dâng người sống đến tận miệng mình. Tức là, khi văn hóa đạo đức mà suy sụp thì mọi người phải hoàn toàn quỳ gối trước yêu tinh.

Và rốt cuộc chỉ đám người nghèo hèn dốt nát là khổ nhất, như là “mọi” bị bắt đi cúng yêu tinh. Bị yêu tinh ăn là bị mất chính mình cho suy đồi đạo đức,

Muốn giết được tinh này thì phải dùng “đạo đức” và “văn hóa nghệ thuật.”

“Đạo đức” biểu hiệu bằng pháp sư Du Văn Tường từ Trung quốc sang. Cần nhắc thêm là truyện Cây tinh nói đến đời Đinh Tiên Hoàng, là thời vừa xong chiến tranh thập nhị sứ quân, nền đạo đức văn hóa đã rất suy sụp. Đó cũng là thời Phật giáo bắt đầu du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, và tạo nên Lý‎ Công Uẩn, người trở thành vua L‎ý Thái Tổ chỉ một thời gian ngắn sau khi Đinh Tiên Hoàng mất.

“Văn hóa nghệ thuật” biểu hiệu bằng năm anh em họ Thượng (tức là “cao”), học trò của pháp sư Du Văn Tường, chuyên làm con hát. Có nghĩa là nền văn hóa nghệ thuật phải đặt trên căn bản đạo đức, chứ không phải nghệ thuật nào cũng được.

Chỉ đạo đức và văn hóa nghệ thuật phục vụ đạo đức mới trừ được Cây tinh.

“Lại giết súc vật mà tế” có nghĩa là lại phải cần tiền để phổ biến đạo đức và văn hóa nghệ thuật.

Lúc đó thần xương cuồng mới có thể bị diệt.

(Trần Đình Hoành bình)

Quê Hương trường ca – Đoạn 7

Ôi quê hương!
Em đã đi và xa, đã xa và nhớ.

Khi bất chợt khóm dừa Yên Sở
Giữa trùng trùng rặng tre quê Bắc – vươn mình
Khi mỗi giọng Nam Ai xứ Huế
Em thấm bao điệu hát thân quen.

Khi chạm những Makara, Garuda trên tháp đền Hà Nội
Khi chiều Tây Nguyên giáp mặt Yang Praung
Khi Phan Rí u huyền mắt gái Cham-Ywơn
Khi Sài Gòn phố đông chàng trai da màu bánh mật
Lững thững
Bước qua đường
Em bắt gặp quê hương.

Là quê hương khi em đi chuyến tàu Thống nhất
Thoắt lúa đồng xanh, thoắt núi rừng xanh, thoắt biển bờ xanh
Hay lúc em trên xe đò con đường Cái quan
Chợt thành phố, chợt xóm plây, làng bản
Qua từng ánh mắt, mỉm môi ẩn hiện
Em nhận mặt quê hương.

Ôi quê hương
Ta muốn điểm danh sự vật quê hương như thầy giáo
trường làng mỗi sáng điểm danh học sinh
(Dù chỉ bằng cái liếc nhanh, người đủ biết ai vắng mặt)
Điểm danh từng cánh đồng, khu rừng, miếng đất
Điểm danh dòng sông chết, con kênh đào.
Điểm danh tất cả đỉnh cao, vũng sâu
Điểm danh người còn, điểm danh kẻ mất
Điểm danh trong ta bao suy tư, cảm xúc
Để chắt qua chiều lớp không-thời gian nguồn suối hơi thơ.

Inrasara

Khởi công dự án Bô Xít Nhân Cơ

Hôm nay 28/2 tỉnh Đăk Nông tổ chức lễ khởi công dự án khai thác Bô xít Nhân Cơ, do Trung Quốc trúng thầu thi công. Nhiều ý kiến trái ngược nhau về vấn đề này. Để rộng đường dư luận , tôi trích bản báo cáo của nhóm nghiên cứu nhanh – mà tôi là một thành viên –  những ảnh hưởng đến đời sống dân cư tại chỗ khi triển khai dự án này. Báo cáo đã được trình bày ở hội thảo tại Đăk nông cuối năm 2008.

( Xin được nói rõ một điều : Huyện Đăk Rlâp, nơi địa điểm thực hiện dự án này, có diện tích hơn 500km2. Đã được ký giao cho dự án 300km2)

Trích BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ SINH KẾ NÔNG THÔN CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VÙNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN BAUXIT, SẢN XUẤT ALUMIN VÀ LUYỆN NHÔM

(Nghiên cứu trường hợp tại ba xã Nhân Cơ, Nhân Đạo và Nghĩa Thắng thuộc mỏ Bauxit Nhân Cơ, huyện Đăk Rlâp, tỉnh Dăk Nông)

Nhóm nghiên cứu[1]

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì khai thác Bauxit được xác định là 1 trong 10 ngành Công nghiệp ưu tiên ở Việt Nam từ nay cho đến năm 2015. Mới đây nhất, ngày 1 tháng 11 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ cũng đã ra thêm Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg về việc “phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025”. Theo như quyết định này thì Bauxit sẽ trở thành một ngành công nghiệp lớn ở Miền trung, đặc biệt là tỉnh Đăk Nông.

Đăk Nông có vị trí địa lý cao (trung bình khoảng 700 mét so với mực nước biển). Là đầu nguồn của lưu vực sông Serepok (nhánh nhỏ đổ về sông Mê Kông) và sông Đồng Nai. Nếu khai thác Bauxit sẽ phải chặt hạ một số lượng rừng tương đối lớn, có thể gây ảnh hưởng đến xói mòn bề mặt và mực nước ngầm ở Tây nguyên và các tỉnh miền Trung. Sau quá trình khai thác, đất bề mặt sẽ có nhiều thay đổi về tính chất, đồng thời phải tái tạo lại hoàn toàn cây trồng, vật nuôi, công trình dân sinh trên mặt đất.

Đăk nông có 31 dân tộc anh em sinh sống, trong đó có cả người dân tộc bản địa như Êđê, Mơ Nông. Khi thực hiện khai khoáng sẽ phải tổ chức di dời, tái định cư cho người dân sống trong các vùng mỏ. Các ảnh hưởng về văn hóa, quan hệ xã hội và kinh tế của người dân địa phương là những vấn đề cần được quan tâm theo như tinh thần Quyết định số 219/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách bảo hộ quyền lợi của nhân dân địa phương nơi có khoáng sản được khai thác, chế biến và bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác“.

Mặc dù đã có sự quan tâm về các vấn đề trên trong quá trình điều tra, xây dựng các dự án. Tuy nhiên, phần lớn các chương trình/luận chứng khai thác vẫn còn tập trung chủ yếu về giá trị kinh tế đem lại từ hoạt động khai khoáng và yếu tố kỹ thuật khai khoáng mà chưa tập trung nhiều vào những ảnh hưởng khác của khai khoáng. Đặc biệt là đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người dân bị di dời để từ đó có những giải pháp giảm thiểu tác động một cách hiệu quả nhất. Để góp phần đưa ra những Dự báo về ảnh hưởng của Quá trình khai thác Bauxit, luyện alumin đến văn hóa-xã hội và sinh kế của cộng đồng dân cư sống trong vùng Dự án, theo đề nghị của Viện tư vấn phát triển (CODE) nhóm nghiên cứu  đã tiến hành nghiên cứu nhanh tại cộng đồng.

Mục đích của nghiên cứu này là:

  • Bước đầu tìm hiểu những tác động tiêu cực của quá trình khai thác Bauxit, sản xuất Alumin và luyện Nhôm đến văn hóa, xã hội của cộng đồng dân cư vùng khai khoáng
  • Thu thập các ý kiến, nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của người dân vùng khai khoáng

2 NGƯỜI DÂN VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI DỰ ÁN

2.1          Quá trình xây dựng cụm công nghiệp và đền bù giải tỏa

2.1.1          Cơ sở pháp lý

Phương án đền bù giải tỏa là một trong những nội dung lớn của Đề án Xây dựng “Nhà máy tuyển quặng Bauxit và sản xuất Alumin Nhân Cơ công suất 300.000 tấn Alumin/năm. có xem xét khả năng mở rộng lên 600.000 tấn Alumin/năm” (2007) (Sau đay gọi tắt là Cụm công nghiệp)

Phương án này được dành hẳn một chương X (từ trang 135 – trang 140). Kế hoạch được xây dựng dựa trên những cơ sở pháp lý là các văn bản chính sách của Chính phủ cũng như các Bộ ngành có liên quan. Tuy nhiên căn cứ theo Dự án này các cơ sở pháp lý để xây dựng Phương án (trang 135- 136): Giải phóng mặt bằng. di dân và tái định canh. định cư là chưa phù hợp. Hầu hết các Nghị định. Quyết định này đều đã được sửa đổi hoặc thay bằng các văn bản pháp lý mới. Ví dụ như:

  • Luật đất đai ban hành ngày 14/7/1993. được sửa đổi ngày 02/12/1998 và 01/10/2001. Luật Đất đai đã được sửa đổi 13/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003;
  • Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh. lợi ích quốc gia. lợi ích công cộng. Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh. lợi ích quốc gia. lợi ích công cộng. Văn bản này đã được thay thế bởi : Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chỉnh phủ Về việc bồi thường. hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
  • Nghị định số 87/CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ về quy định khung giá các loại đất; Quyết định số 302/TTg ngày 15/03/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh hệ số (K) ban hành theo Nghị định số 87/CP; Nghị định số 17/1998/NĐ-CP ngày 21/03/1998 của Chính phủ về việc sửa đổi. bổ sung khoản 02. điều 04 của Nghị định 87/CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ; Văn bản này đã được thay thế bởi : Nghị định của Chính phủ Số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004. Về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.

–          Nghị định 188/2004

–          được hướng dẫn thi hành bởi các văn bản sau:

Thông tư 145/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007

Của Bộ tài chính Về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ sửa đổi. bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP

Thông tư 80/2005/TT-BTC ngày 15/09/2005 Của Bộ tài chính Về hướng dẫn việc tổ chức mạng lưới thống kê và điều tra. khảo sát giá đất. thống kê báo cáo giá các loại đất theo quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

Năm 2004 tỉnh Đắc Nông có quyết định tách khỏi tỉnh Đắk Lắk vậy làm sao năm 1998 UBND tỉnh đã ban hành được các văn bản sau:

  • Quyết định của UBND tỉnh Đắc Nông về việc ban hành đơn giá xây dựng mới và đơn giá cấu kiện tổng hợp để đền bù nhà cửa. công trình kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất  để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh. lợi ích quốc gia. lợi ích công cộng theo Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Đắc Nông. (Tỉnh Đắc Nông mới tách từ tỉnh Đắc Lắc từ năm 2004 – Vậy làm sao năm 1998 đã có được quyết định này ???)
  • Quyết định của UBND tỉnh Đắc Nông về việc ban hành qui định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Đắc Nông. (Năm nào ? Số văn bản ???)
  • Quyết định của UBND tỉnh Đắc Nông về việc ban hành qui định nguyên tắc. phương pháp xác định giá các loaị đất trên địa bàn tỉnh Đắc Nông. (Năm nào ? Số văn bản ???)

Có lẽ rằng do Phương án đền bù giải tỏa được căn cứ trên những văn bản đã cũ nên quá trình thực hiện đã dẫn đến một số bất cập “sẽ được trình bày trong những phần sau”.

2.1.2          Sự chủ động của Công ty Nhân Cơ

Từ khi bắt đầu xây dựng Cụm công nghiệp công ty đã chủ động triển khai các hoạt động giúp đỡ địa phương và cộng đồng như : hỗ trợ san ủi đường vào bon Bu Zấp. xây một nhà tình nghĩa. những ngày lễ tết công ty đều có quà cho già làng. thiếu nhi và hỗ trợ các gia đình chính sách hoặc gia đình neo đơn ăn tết như gạo. mắm… và nhiều loại sách báo

Hồ nước nằm trong mặt bằng cụm công nghiệp cần phải san lấp có tên là hồ Cá Trê (4 ha). Đây là hồ nước có từ lâu đời. gắn liền với đời sống sinh hoạt của người M’Nông. bon Bù Zấp. Nơi đây là vùng đất đỏ bazan sau mỗi trận mưa. các sình nước ngầu đỏ. nước giếng khoan cũng vậy. nhưng đặc biệt nước ở hồ Cá Trê lại luôn trong vắt. Hồ Cá Trê không chỉ là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho đồng bào mà còn là nơi lưu giữ bao truyền thuyết. kỷ niệm và đây còn là nơi mỗi năm có một ngày hội đánh cá cho cả cộng đồng. Già trẻ gái trai ai cũng tham gia ngày hội này. tất cả cùng bắt cá và cùng nấu ăn. không khí thật vui vẻ và gắn kết. Để được sự đồng ý của cộng đồng cho san lấp hồ Cá Trê. công ty đã kiên trì thuyết phục và hỗ trợ cộng đồng mua trâu làm lễ cúng Yang xin cho lấp hồ xây cụm công nghiệp.

Công ty đã phối hợp với trường công nhân kỹ thuật Mỏ mở trường dạy nghề tại trường dạy nghề Phương Nam. tỉnh Đắk Nông.

Tuy nhiên. công ty chưa chủ động lên kế hoạch và tổ chức các hoạt động truyền thông giúp cho cộng đồng dân cư trong vùng dự án. hiểu và hợp tác với công ty trong thực hiện DA. Dường như công ty chưa lường hết được các vấn đề sẽ phát sinh khi thông tin không được minh bạch và phổ biến sâu rộng.

2.2          Sự tham gia của người dân

Qua khảo sát tình hình thực tế cho thấy người dân luôn luôn ở thế bị động trong quá trình Dự án được triển khai. Thông tin không được phổ biến một cách cụ thể đến các bên liên quan và cả những người chịu tác động trực tiếp (sau đây gọi là hộ dân).

  • Tiến trình khảo sát thăm dò

Kế hoạch khảo sát thăm dò của công ty được triển khai chưa cụ thể đến chính quyền cấp xã. thôn. Mức đền bù hoa màu khi khoan thăm dò không được thông báo cụ thể đến các bên liên quan như chính quyền xã. thôn. hộ dân có điểm khoan thăm dò. Theo ý kiến của các hộ thôn Quảng Sơn. xã Nghĩa Thắng “Khi triển khai khoan khảo sát thăm dò. công ty đã không thông báo cụ thể mức đền bù. Hộ nào cản trở quá trình khảo sát sẽ được đền bù. mức độ cản trở càng mạnh thì mức đền bù càng cao. Hộ nào không có ý kiến gì thì công ty không đề cập đến chế độ đền bù tại điểm khoan. Cách làm như vậy đã gây mâu thuẫn và bất bình cho người dân”.

  • Quá trình đền bù giải tỏa. tái định cư

Thảo luận tại Thôn 1 xã Nhân Đạo cho biết: Kế hoạch kiểm kê tài sản. đền bù và thu hồi đất đai không được phổ biến sớm. thông thường họ chỉ được thông báo trước một buổi tối. Sau khi kiểm kê tài sản xong. hộ dân cũng không được biết khi nào thì được nhận tiền đền bù. Theo giải thích của Công ty: Nếu thông báo trước. các hộ dân sẽ xây nhà. trồng cây bổ xung nhằm mục đích tăng tiền đền bù giải tỏa.

Không chỉ các hộ dân mà cả bộ phận ở thôn xã phối hợp làm công tác đền bù cũng không nắm rõ tiêu chí đánh giá xếp loại vườn cây và tài sản khác. họ cũng chỉ biết thống kê vườn cây và tài sản hiện có mà thôi. Tài sản sau khi thống kê xong cũng không được xác định kết quả phân loại ngay tại thực địa có sự chứng kiến của các bên liên quan. Kết quả này do ban đền bù tự xác định và đánh giá. sau đó thông báo cho người dân. đây cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến nẩy sinh bất đồng và cản trở trong quá trình đền bù giải tỏa.

Kế hoạch đền bù giải tỏa cũng chưa được thông báo rõ ràng. Cộng đồng thôn 1 xã Nghĩa Thắng cho biết: đã có trường hợp. kiểm kê tài sản xong 6 tháng sau cũng chưa thấy đền bù. vườn cây thì không được chăm sóc hay thu hoạch. Phía công ty thì lo lắng rằng khi đã kiểm kê xong mà người dân vẫn sản xuất trên diện tích đó sau này sẽ khó khăn trong khâu giải tỏa. Hai bên không có cơ hội nào để gặp gỡ trao đổi và tìm ra phương án giải thích hợp lý hợp tình. Cộng đồng các điểm nghiên cứu đều nói rằng. sự tiếp xúc với nhóm nghiên cứu là lần đầu tiên có người ngoài cộng đồng đến trao đổi với họ những khó khăn bất cập trong quá trình giải tỏa xây dựng Cụm công nghiệp.

Người dân rất thiếu thông tin về Phương án tái định canh. định cư. Họ chỉ biết rằng sau khi nhận tiền đền bù. nếu muốn có thể mua nền trong khu tái định cư. Còn đất canh tác ở đâu hay làm gì để sinh sống tiếp vẫn đang là một câu hỏi lớn với các hộ chịu ảnh hưởng của vùng dự án. Nguy cơ khai thác trái phép Vườn quốc gia Cát Tiên để lấy đất canh tác là rất lớn. Đại diện công ty lại cho rằng tiền đền bù cao. người dân có thể tự mình tìm nơi sản xuất và tạo sinh kế mới.

Về phía các hộ dân. do chưa hiểu rõ ý nghĩa của việc xây dựng dự án và tâm lý luôn lo sợ bị thua thiệt nên đã có những việc làm sai trái như xây thêm nhà cửa. trồng thêm nhiều loại cây vào diện tích giải tỏa. cản trở quá trình giải tỏa đến bù.

2.3          Hiểu biết của người dân về Cụm công nghiệp và nhận thức của họ về những ảnh hưởng trong tương lai.

Thông qua kết quả thảo luận nhóm: Sự hiểu biết của người dân về Cụm công nghiệp được tổng hợp lại bao gồm những ý chính sau:

+ Xây dựng cụm công nghiệp để phát triển kinh tế của Nhà nước vì thế người dân sẵn sàng hy sinh quyền lợi của gia đình.

+ Nông dân sản xuất nông nghiệp là làm kinh tế gia đình. Công ty Cổ phần Nhân Cơ là đơn vị kinh doanh nhưng khi thu hồi đất của người dân lại để người dân phải chịu thiệt thòi nhiều quá. như vậy không công bằng.

+ Công ty Nhân Cơ là Công ty cổ phần. vậy sau này Quyền sử dụng đất “thu hồi của người dân” sẽ thuộc về ai? Cá nhân hay Nhà Nước

+Không biết cụ thể những lợi ích mà công ty đem lại là gì. chỉ biết rằng cuộc sống bị xáo trộn. môi trường sẽ bị ảnh hưởng (bụi bặm. nước rửa quặng và của nhà máy sẽ làm ô nhiễm nguồn nước; nguồn nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt chắc chắn sẽ bị giảm vì cần nhiều nước để rửa quặng.

Nhóm nghiên cứu đã đề nghị cộng đồng bày tỏ cảm nhận của họ về tương lai khi Cụm công nghiệp hình thành và đi vào hoạt động bằng cách tự trao đổi và đưa ra nhận định của mình. Ở cộng đồng nào “Viễn cảnh tương lai” cũng được người dân thể hiện tương đối khách quan bằng hai mặt tích cực và tiêu cực. Qua kết quả thảo luận cho thấy toát lên nỗi ưu tư lo lắng trước biến động lớn của cuộc sống gia đình. Những lợi ích đem lại của Cụm công nghiệp dường như còn rất xa vời. không liên quan gì đến họ vì khi đó họ đã đi khỏi nơi này rồi.

Tâm lý chung của cộng đồng: nhận tiền đền bù rồi biết làm gì tiếp để sinh sống. không dễ một lúc mà chuyển đổi ngành nghề với người dân chuyên làm nghề nông, tuổi đã lớn,  trình độ không có. Chị Phượng thôn 1 Nghĩa Thắng tâm sự:  “Tiền đền bù là một khoản tiền lớn, có tiền rồi không biết quản lý ra sao, sợ chồng con sinh tật nhậu nhẹt tiêu xài lãng phí thì bao nhiêu công sức của cải của gia đình sẽ không cánh mà bay,  hạnh phúc thật mong manh”.

Ông Bí thư Đảng ủy xã Nhân Đạo cho biết: “Xã đã có kế hoạch xây chợ. phân lô bán. tạo điều kiện cho các hộ mất đất chuyển sang kinh doanh dịch vụ”. Thông tin này được chúng tôi chia sẻ với cộng đồng thì chị em đều nói: “đâu phải ai cũng biết kinh doanh đâu. từ xưa đến giờ họ chưa buôn bán bao giờ. bây giờ làm sợ lỗ thì chết. Hơn nữa biết bán cho ai, nghe nói có nhiều công nhân về nhưng bao giờ họ đến, họ sẽ ở đâu có thuận tiện cho việc buôn bán không? Tất cả những thông tin đó đều không có gì rõ ràng”.

Viễn cảnh tương lai khi Cụm công nghiệp hình thành và hoạt động

Tích cực Tiêu cực
+Nhà máy sẽ mọc lên sầm uất

+Giao thông đi lại thuận lợi vì có đường phục vụ cho nhà máy

+ Có thể một số người sẽ có việc làm

+Dân cư đông đúc hơn do nhiều người từ nơi khác đến

+ Người dân không còn đất sản xuất nông nghiệp

+ Lao động trên 40 tuổi không có việc làm do tuổi cao không thay đổi được ngành nghề phù hợp với khu CN

+ Thu nhập gia đình sẽ giảm sút do thiếu việc làm

+ Xã hội phức tạp vì dân số tăng đột biến. kéo theo phát sinh nhiều tệ nạn xã hội

Nguồn: Kết quả thảo luận của thôn Quảng Sơn-Nghĩa Thắng

Tích cực Tiêu cực
+ Đường giao thông sẽ được đầu tư

+ Trường học. chợ sẽ được xây dựng đẹp hơn

+ Điện thắp sáng sẽ không bị thiếu do có điện của nhà máy

+ Một số người biết buôn bán sẽ giầu lên

+ Nông dân mất đất. nguy cơ thất nghiệp rất lớn

+ Trẻ em không có tương lai do kinh tế gia đình giảm sút

+ Gia đình sẽ dễ dẫn đến mâu thuẫn. không hạnh phúc vì cuộc sống quá khó khăn

+Dân số tăng đột ngột: Thiếu đất ở. giá cả tăng cao. an ninh xã hội phức tạp

+Sức khỏe bị ảnh hưởng bởi môi trường ô nhiễm bụi bặm

Nguồn: Kết quả thảo luận của thôn 1 – Nhân Đạo

3 NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIỀM ẨN ĐẾN VĂN HÓA. XÃ HỘI VÀ SINH KẾ CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VÙNG DỰ ÁN KHAI THÁC BOXIT

Qua khảo sát thực tế tại huyện Đắk R’lâp, chúng tôi đã phần nào khái quát được bức tranh toàn cảnh cũng như tâm lý, thái độ nông dân tại địa bàn khai thác quặng. Mặc dù việc khai thác chưa được tiến hành, với những thông tin dân nhận được từ các phía, quá trình đo đạc kiểm kê tài sản vườn cây của tập đoàn công nghiệp khai thác khoáng sản Việt Nam đã làm thay đổi xã hội, đời sống và không gian tại các xã Nhân Cơ, Nhân Đạo và Nghĩa Thắng – nơi trực tiếp chịu ảnh hưởng bước đầu của việc khai thác, chế biến bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm. Nếu như tiến trình xây dựng Cụm Công nghiệp không thay đổi cách tiếp cận chúng tôi dự báo sẽ tiềm ẩn những ảnh hưởng đến văn hóa xã hội và sinh kế của cộng đồng dân cư trong vùng dự án.

3.1          Ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc tại chỗ

Văn hoá cộng đồng dân cư huyện Đắk R’Lấp từ xưa đến nay đều bị chi phối bởi yếu tố tự nhiên. Nét nổi bật nhất tạo nên đặc trưng bản sắc của văn hoá nơi đây  là văn hóa cổ truyền Mnông. Những lý do khiến văn hóa vật thể và phi vật thể Mnông bị suy giảm, đó là thực trạng rừng bị tàn phá, nguồn nước bị sụt giảm, đất đai bị thu hẹp dần và môi trường bị ô nhiễm. Tất cả những yếu tố đó đã trực tiếp ảnh hưởng đến văn hóa truyền thống Mnông tại huyện Dâk R’Lâp nói riêng và toàn tỉnh nói chung. Theo tìm hiểu bước đầu của chúng tôi và qua đánh giá của cộng đồng địa phương cho thấy, nếu quá trình khai thác, chế biến bauxit. sản xuất alumin và luyện nhôm được tiến hành, thì toàn bộ văn hóa truyền thống Mnông đã mai một và sẽ bị đặt trước nguy cơ hoàn toàn biến mất khỏi cộng đồng.

Xói mòn quan hệ tín ngưỡng dẫn đến mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên mất hoàn toàn. Tín ngưỡng của cộng đồng nơi đây luôn gắn với “không gian văn hoá rừng”, “không gian thảm thực vật”, với đất canh tác. Nếu đất đai bị khai thác phục vụ cho khu công nghiệp thì toàn bộ cộng đồng dân cư không còn đất canh tác. Đặc biệt các cộng đồng phải di dời, tái định cư, hoặc tự chuyển chỗ ở đến vùng khác – vùng không phải là nơi sinh sống truyền thống của họ. Việc này đồng nghĩa với việc con người mất đi mối tương tác với thiên nhiên. Khi mối quan hệ liên kết mất thì ý thức về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đã có từ trước cũng sẽ bị mất theo.

Mất không gian truyền thống, người Tây Nguyên nói chung và người Mnông tại Đâk R’Lâp dường như đang đứng trước sự chông chênh, khó bền vững. Theo Nguyên Ngọc “cú sốc lớn nhất đối với Tây Nguyên là làn sóng di dân tự do”. Có lẽ cú sốc tiếp theo sẽ là sự thay đổi địa bàn cư trú, nếu chúng ta không có những phương án  Tái định canh, định cư bền vững nhằm đảm bảo sinh kế và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của dân cư tại địa phương trước khai thác mỏ quặng, sẽ còn có những tác hại lớn hơn không lường trước được.

Anh Điểu Sroong bon Bu Zấp tâm sự:

Bon mình trước đây chiến tranh phải dời đi chỗ khác. Năm 1976 Già làng phải lên tận Buôn Ma Thuột gặp Y Ngông “Bí thư tỉnh ủy thời bấy giờ” xin về lại đất ông bà xưa để lại, từ đó mới được về lại nơi đây. Bây giờ không ai muốn di dời đi đâu nữa.

Anh em người Kinh vào đây định cư 10-15 năm rồi. ai cũng có hộ khẩu, có đất, có nhà, nhưng cứ đến Tết họ lại xách đồ ra đón xe về quê. Hiện nay “thần đất. thần  rừng đã đi mất” vì thần linh không còn nơi để trú ngụ, “nếu đưa người Mnông dời bon đi nơi khác ở thì làm gì còn gốc gác nữa. Đến tết, người Kinh vác balô về quê còn người Mnông sẽ đi về đâu?”, đồng bào mình cũng phải có quê chứ, quê mình ở nơi đây, mình không đi đâu nữa. Con cháu mình đi học đi làm trên tỉnh. huyện hay ở TP.Hồ Chí Minh cũng phải có quê để về ngày Tết chứ.

Không chỉ mình anh mà tất cả những người đại diện cho bon đều cho rằng “kiên quyết bám bon. giữ bon vì bon là nguồn cội là gốc gác của tổ tiên. đó là tài sản của tổ tiên trao tặng”. Lời nói của anh khiến chúng ta phần nào cảm nhận được nỗi day dứt. lo âu của họ.

Bon Bu Zấp ngày 16.7.2008

Không gian văn hóa truyền thống có xu hướng bị biến đổi đột ngột: Khu công nghiệp làm thay đổi toàn cục không gian sinh thái và văn hóa. Văn hóa truyền thống gắn với khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên không thể tồn tại và phát triển trong một môi trường đô thị, công nghiệp, nhà máy… (môi trường tồn tại và phát triển văn hóa truyền thống đang từng ngày từng giờ biến mất). Không gian sinh hoạt cộng đồng (khu mộ địa. rừng thiêng. bến nước) và khu đất sản xuất bị thu hẹp dễ dàng làm mất không gian sinh tồn và phát triển văn hóa truyền thống. ý thức cội nguồn dễ mờ nhạt…

Chuyện Hồ Cá Trê

Tại Bon Bu Zấp. khi chúng tôi gợi hỏi về Ngày lễ bắt cá truyền thống ở hồ Cá Trê thì mỗi thành viên của cộng đồng dường như đều hoạt bát hẳn lên. người thì kể về cảnh bắt cá vui nhộn ra sao. người thì cướp lời nói về bước chuẩn bị trước khi xuống hồ bắt cá. rồi các món ăn được chế biến từ cá đa dạng thế nào.

Trước đây. hàng năm vào mùa khô người Mnông tại Bon Bu Za Rấp thường diễn ra một loại hình sinh hoạt văn hoá cộng  đồng tại hồ Cá Trê  cách bon không xa. Trong không gian ấy một số người thì  thi nhau bắt cá. người diễn tấu cồng chiêng. người hát dân ca. biểu diễn dân vũ… tất cả hợp thành không gian lễ hội. Đấy không chỉ là dịp để bà con “được bắt cá tập thể” mà còn là dịp giao lưu. gặp gỡ và cộng cảm trong mùa thu hoạch cá.

Bỗng nhiên một người nói: tiếc là con cháu mình sau này chẳng bao giờ còn được thấy những cảnh đó nữa. Không khí như chùng xuống. Mặc dù đã cúng Yang xin phép đồng ý cho công ty cổ phần Nhân Cơ san lấp hồ Cá Trê huyền thoại. nhưng mỗi thành viên của cộng đồng Bon Bu Zấp đều vẫn còn đầy ưu tư.

Bon Bu Zấp ngày 16.7.2008

Khi cụm Công nghiệp Nhân Cơ hình thành và đi vào hoạt động, cường độ giao thoa giữa các luồng văn hóa nhanh chóng, sôi động sẽ trở thành sức ép một chiều. Khó khăn “khi sàng lọc” và tiếp nhận giữa văn hóa của các tộc người bản địa và tộc người từ các nơi đổ về. Hiện nay, chúng ta chỉ còn nhận biết tộc người bản địa ở màu da, tiếng nói, chứ không phải qua văn hóa vật thể mô hình cấu trúc làng truyền thống nữa. Điều này chứng tỏ áp lực của quá trình giao lưu, cộng cư giữa các thành phần dân tộc diễn ra mạnh mẽ, trong khi đó “nội lực” từ phía tộc người bản địa thể hiện rất yếu ớt, dễ nhiễu loạn giữa văn hóa tộc người này với tộc người khác.

Sự đan xen, cộng cư giữa cư dân mới và cư dân cũ dễ tạo sự giao thoa tiếp biến theo chiều hướng mờ dần đi bản sắc văn hóa truyền thống. Điều ấy còn chưa tính đến sự thiếu hiểu biết văn hóa về văn hóa bản địa của nhóm người từ khắp nơi đến tham gia khai thác quặng, sẽ nảy sinh những mâu thuẫn, khó tránh khỏi  va chạm. Chúng ta đang lựa chọn con đường cho các dân tộc hoà nhập nhưng không hoà tan. Trong tương lai gần khi nhà máy bắt đầu hoạt động, liệu cộng đồng dân cư nơi ảnh hưởng có tránh khỏi sự hoà tan!

Môi trường sinh hoạt truyền thống thay đổi, thêm vào đó sự thay đổi đột ngột về cơ cấu kinh tế, xã hội, áp lực từ các khu công nghiệp dễ tạo ra sự chán nản đối với nông dân đứng ngoài cuộc khu chế xuất. Nhịp sống kinh tế của người dân địa phương theo đuổi không kịp guồng quay của khu công nghiệp trong thời gian dài sẽ khiến cho dễ tạo ra tâm lý chán nản, tâm thế chủ thể văn hóa bị hụt hẫn, không ổn định. tạo sự lo lắng, bất an. Khi kinh tế bấp bênh, không ổn định thì nội lực văn hóa cũng dễ bị triệt tiêu.

Cái cũ tại địa phương sẽ mất đi cái mới chưa kịp hình thành, tạo nên sự hẫng hụt trong đời sống văn hóa và kéo theo đời sống văn hóa suy kiệt và trở nên nghèo nàn. Bản sắc văn hoá địa phương sẽ mất đi nhanh chóng, thậm chí ngộ nhận dẫn đến chủ nhân văn hóa cũng sẽ quay lưng chối bỏ cội nguồn văn hóa dân tộc. Tất cả chuẩn mực đạo đức, ứng xử cộng đồng dễ bị chuẩn lệch, đảo lộn và nhiễu loạn. Ngô Đức Thịnh gọi sự hỗn loạn văn hóa cũ và văn hóa mới là quá trình làm đứt gãy giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại giữa các tộc người.  Điều này cảnh báo sự bất an về kinh tế – xã hội tại nơi khai thác, sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến toàn diện văn hóa – xã hội, kể cả an ninh chính trị không chỉ địa bàn khai thác mà cả diện rộng của Tây Nguyên.

Theo Ngô Đức Thịnh, tỉnh Đăk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung, khung cảnh bon làng truyền thống có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, duy trì và phát triển của văn hóa dân tộc tại địa phương. Nếu va chạm, biến động, thậm chí không gian của nó biến đổi thì tính năng của bon làng truyền thống bị suy giảm. thậm chí bị triệt tiêu. Khi vai trò. vị trí của nó không còn cũng đồng nghĩa với việc toàn bộ kinh tế, xã hội và văn hóa của người Mnông tại xã Nhân Cơ nói riêng và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên trong vùng dự án nói chung bị phá hủy.

Văn hoá vật thể, phi vật thể có nguy cơ mai một, lãng quên văn hóa truyền thống: tiếng nói, trang phục, nghi lễ truyền thống, luật tục, phong tục tập quán mờ dần, không đủ điều kiện tồn tại, phát triển… xuất hiện sự pha tạp, lai căng giữa các thành phần. nội – ngoại. Ngay cả những người miền xuôi ngụ cư tại đây cũng đã và đang tồn tại hiện  tượng mai một, thậm chí triệt tiêu bản sắc văn hóa vùng miền gốc, kể cả các dân tộc phía Bắc di cư vốn đậm nét văn hóa riêng.

3.2          Ảnh hưởng đến đời sống xã hội

Đời sống văn hoá – xã hội của cộng đồng dân cư tại địa phương đang trong thời kỳ thực hiện chủ trương của Đảng & Nhà nước là “bảo tồn, khôi phục lại vốn văn hoá cổ truyền ” trước nguy cơ mai một. Có thể nói các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây đã làm sống dậy ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá. Ở các địa phương trong đó cả huyện Đak R’Lấp có phong trào “bon văn hoá”. “thôn văn hoá”. các phong trào văn nghệ quần chúng giữa các thôn bon. giữa các dân tộc…bước đầu đã có khởi sắc. tạo được không khí hân hoan trong cộng đồng.  Chính sách “giao đất giao rừng” cho người địa phương đã cho thấy sự đúng đắn của việc “tôn tạo lại không gian văn hoá – xã hội” với “văn hoá rừng”. “văn hoá thảm thực vật”…Cộng đồng dân cư nơi này, đặc biệt là người Mnông đã mơ đến một viễn cảnh tương lai tươi sáng cho tộc người mình. Niềm vui của họ chưa thành thì nỗi lo lại đến từ việc nghe loáng thoáng thông tin về hình thành cụm Công nghiệp khai khoáng Alumin.

Cơ hội được tạo thêm ngành nghề cho người lao động hay mất đất sản xuất và thất nghiệp, nghèo đói lại trở về?

Lãnh đạo các cấp của tỉnh Đắc Nông (từ tỉnh, huyện, đến cấp xã) và cả người dân vẫn rất hy vọng vào tương lai tươi sáng: Kinh tế của tỉnh nhà sẽ tăng trưởng cao. đẩy mạnh quá trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, lao động địa phương sẽ được tạo công ăn việc làm, như Báo QĐND ngày 20.8.2008 đã đưa tin “Dự án sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động; để sản xuất 1 triệu tấn alumin cần tới hơn 6.700 lao động: 2.700 lao động trực tiếp và hơn 4.000 lao động gián tiếp”.

Thực trạng của tình hình tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương như cam kết “bằng lời” của lãnh đạo công ty cổ phần Nhân Cơ đang diễn ra thế nào?

Điều kiện tuyển chọn lao động của công ty như sau: Đối tượng tuyển chọn là học sinh trên vùng địa bàn. Con em dân tộc tại chỗ và các gia đình chịu ảnh hưởng trực tiếp sẽ được ưu tiên tuyển chọn đào tạo làm công nhân kỹ thuật tại thị xã Gia Nghĩa. Người kinh: tốt nghiệp lớp 12 loại khá; Dân tộc: tốt nghiệp lớp 9. Công ty cho biết hiện nay đang đào tạo đợt I: 300 em (huyện Đắk Lấp: 200 em) năm 2010 sẽ tốt nghiệp đi làm. kinh phí đào tạo gia đình tự bỏ ra.

Theo kết quả tìm hiểu của chúng tôi tại các điểm nghiên cứu: người dân không biết nhiều lắm về thông tin tuyển chọn đào tạo nghề này. cụ thể chỉ biết có một vài em được đi học và cũng đã có người bỏ về. Ngay tại xã Nhân Đạo và Nghĩa Thắng các cán bộ xã chúng tôi đã gặp cũng không nắm rõ danh sách cũng như số lượng người đã được tuyển đi học công nhân. Với 12 bon làng Mnông ở huyện Đắk Rlâp. số người đủ trình độ lớp 9 để làm công nhân chỉ đếm trên đầu ngón tay. con số có trình độ hết lớp 12 lại càng khiêm tốn. Tại thôn Quãng Sơn xã Nghĩa Thắng chúng tôi được biết có 05 em được chọn đi học để làm công nhân thì cả 05 em đều bỏ về vì không phù hợp…

Đại diện Công ty cổ phần Alumin cho biết: Tháng 9 khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ tập trung một khối lượng lớn lao động bao gồm kỹ sư và công nhân khoảng 3000 người (Bao gồm các chuyên gia nước ngoài từ Mỹ, Trung Quốc và lao động từ ngoài Bắc vào)

Tuy nhiên, qua tổng hợp số liệu lao động của Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ lại cho thấy nhu cầu lao động cho các nhà máy và công ty không nhiều như các tin đã đưa. Tổng số lao động cần là 447 người. đã tuyển chọn 230 người. Trình độ lao động chắc chắn là rất cao, vậy những người nông dân mất đất sẽ được tuyển chọn vào đâu? (nếu có)

Bảng 7: Tổng hợp lao động

STT Đơn vị Cán bộ quản lý Lao động trực tiếp

(Có chuyên môn )

Cộng
1 Công ty 58 96 154
2 Nhà máy tuyển quặng 3 38 41
3 Nhà máy luyện alumin 7 245 252
Tổng cộng 68 379 447
Đang đào tạo ở TQ (Con em trong CT) 30 Đã có (Từ Công Ty đưa vào) 200

Nguồn: Dự án Đầu tư xây dựng khu công nghiệp khai thác và luyện alumin (Trang 159-162)

Triển khai Dự án “Hàng nghìn tỷ” liên quan đến hàng chục ngàn người lao động. thế nhưng công ty chưa chú trọng cùng với chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho người lao động tại chỗ. Chưa có một đánh giá nghiêm túc về nguồn nhân lực hiện nay ở địa phương (số lượng, trình độ và độ tuổi), khả năng đáp ứng cho Dự án được đến đâu? Giải pháp nào cần thực hiện để đáp ứng được nhu cầu lao động của Dự án và tạo được công ăn việc làm cho người dân ở địa phương? Tất cả những vấn đề này chưa được bàn bạc một cách cụ thể. Thông tin về nhu cầu lao động rất nhiễu loạn, gây hiểu lầm không đáng có.

3.3          Ảnh hưởng đến sinh kế

Việc xây dựng cụm công nghiệp đã và sẽ mang đến nhiều xáo trộn về đời sống và khó khăn trong sinh kế của những hộ dân chịu tác động trực tiếp cho đến thời điểm này. Những khó khăn được cộng đồng thể hiện như dưới đây:

§         Tiêu chuẩn đánh giá vườn cây và tài sản không được thông báo và giải thích rõ ràng

§         Không được biết về Kế hoạch đền bù giải tỏa: Tiến độ. thời gian. phân loại tài sản.

§         Giá đất đai ngày càng cao. quỹ đất ở đâu để đầu tư phát triển sản xuất?

§         Rất lúng túng trong việc chuyển đổi ngành nghề để kiếm sống

§         Không biết quản lý và hạch toán sản xuất. nguy cơ mất vốn “Tiền được nhận đền bù” là rất lớn.

Đặc biệt đối với cộng đồng dân tộc Mnông sự ảnh hưởng tưởng chừng như không có, nhưng thật ra vẫn đang tiềm ẩn rất nhiều vấn đề. Sự phát triển nhanh chóng. vượt bậc của sản xuất công nghiệp sẽ tạo thế ngược lại đối với văn hóa tại đây. Trong quá trình khai khoáng hoặc trong quá trình tái định cư rất dễ dẫn đến gia tăng khoảng cách giàu nghèo, phá vỡ cấu trúc xã hội. Sự đụng độ, va chạm mạnh giữa văn hóa nông nghiệp và văn hóa công nghiệp tạo ra sự hôn phối nhiễu loạn, mờ bản sắc, dẫn đến thay đổi giá trị văn hóa truyền thống.

Ngày nay, mô hình đại gia đình gồm ông bà, cha mẹ, con cái chưa lập gia đình, được thay thế bằng mô hình tiểu gia đình. (Bây giờ khi con cái  lập gia đình cha mẹ thường cho ra ở riêng và cho đất canh tác, sản xuất riêng ). Tuy nhiên, quỹ đất hiện nay rất hạn hẹp, chỉ trông chờ từ mảnh đất canh tác bé nhỏ ấy người dân Mnông không đủ trang trải cho cuộc sống. Nguyên nhân này kéo theo sự thiếu thốn. nghèo đói diễn ra khá thường xuyên. Cụ thể, người Mnông ở Bon Bu Dâp và Bon Bu Zarâp thường phải vay mượn lương thực trước khi thu hoạch. Vòng luẩn quẩn cứ bám riết lấy bà con, khiến cuộc sống nơi đây bấp bênh thoát nghèo rồi lại tái nghèo. Không gian sinh hoạt thay đổi kéo theo chuẩn mực đạo đức, ứng xử cộng đồng, ứng xử cá nhân, ứng xử gia đình sẽ bị ảnh hưởng từ những mặt trái của xã hội.

Cho đến hôm nay số hộ đồng bào Mnông bị mất đất sản xuất vì Cụm công nghiệp chưa phải là nhiều, nhưng thật ra chưa có Cụm công nghiệp họ đã thiếu đất sản xuất rồi. Bon Bu Zấp cho biết bà con phải đi canh tác rất xa, xã Trường Xuân huyện Đắc Song. Thế nhưng hiện nay canh tác như vậy được gọi là “trái phép” và diện tích này đã “được” công ty thu hồi để trồng ca cao. Nếu đất đai canh tác không còn, thu nhập cứ bấp bênh không ổn định, không gian sinh hoạt cộng đồng không tồn tại người dân địa phương sẽ khó có thể giữ được “ bản sắc văn hoá” của họ.

4                     TÂM TƯ NGUYỆN VỌNG CỦA CỘNG ĐỒNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

5                     Tâm tư, nguyện vọng của các cộng đồng dân cư

Các hộ dân chịu tác động trực tiếp cũng như cộng đồng dân cư chịu ảnh hưởng gián tiếp đều có chung các tâm tư nguyện vọng như sau:

  • Lo lắng về điều kiện sống. sức khỏe và môi trường trong tương lai có được đảm bảo hay không?
  • Nhu cầu lao động của công ty với chất lượng cao như vậy thì làm thế nào để con em mình được tiếp nhận vào cụm công nghiệp, ổn định kinh tế gia đình?
  • Mong muốn cho con em được tạo công ăn việc làm tại khu công nghiệp.
  • Khi cụm công nghiệp đi vào hoạt động, lao động được đưa từ nơi khác đến rất đông liệu có ảnh hưởng gì đến tình hình an ninh xã hội không?
  • Khai thác Bauxit và luyện Alumin cần rất nhiều nước vậy có ảnh hưởng gì đến nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp hay không?
  • Nguồn nước thải của nhà máy có làm ô nhiễm đất và nước trong vùng hay không?
  • Quặng được vận chuyển từ nơi khai thác đến nhà máy tuyển quặng có làm không khí ô nhiễm vì bụi không?

Đối với các hộ chịu ảnh hưởng trực tiếp còn có thêm như nỗi lo như:

  • Giá đất đai ngày càng cao. quỹ đất ở đâu để đầu tư phát triển sản xuất?
  • Khi mâu thuẫn giữa công ty và hộ dân phát sinh cơ quan nào sẽ là người giúp đỡ tháo gỡ, hòa giải?
  • Đất tái định cư ở đâu? Có thuận lợi cho việc sản xuất nuôi sống gia đình hay không? Đất tái định cư có đắt không?

Người dân cũng đưa ra các đề nghị sau

  • Các cấp chính quyền và công ty cần có phương án cụ thể về đào tạo nguồn nhân lực để con em trong vùng dự án có cơ hội được tạo việc làm trong cụm công nghiệp.
  • Đề nghị đảm bảo an toàn cho môi trường sống: Đất, nước, không khí.
  • Cộng đồng đồng bào Mnông đề nghị không di dời bon làng đi nơi khác
  • Người dân cần được cung cấp đầy đủ mọi thông tin liên quan đến Phát triển cụm công nghiệp.
  • Đề nghị các cấp chính quyền cũng như công ty bố trí thời gian tiếp xúc, lắng nghe tâm tư nguyện vọng và giải quyết những bức xúc của người dân một cách thường kỳ.
  • Các hộ chịu tác động trực tiếp phải được biết cụ thể về kế hoạch đền bù giải tỏa: Phương pháp đánh giá tài sản và phân loại vườn cây; tiến độ kiểm kê và giải ngân đền bù; Kết quả đánh giá tài sản cần được thảo luận giữa các bên liên quan.
  • Cần có bản cam kết về trách nhiệm của cả hai bên là công ty và người dân về quá trình thực hiện. Trong thực tế chỉ có người dân bị cưỡng chế, hay bị phạt. còn công ty đền bù chậm không phải chịu trách nhiệm gì.
  • Nếu đất thổ cư tái định cư phải mua thì đề nghị có chính sách hỗ trợ cụ thể như trả chậm, cho vay tín dụng.
  • Đề nghị bố trí quỹ đất sản xuất cho các hộ chịu tác động trực tiếp (tối thiểu 1 ha/hộ)
  • Đề nghị tạo điều kiện trong việc xác nhận giấy tờ khi di chuyển hộ khẩu.

5.1          Một số kiến nghị

Để giảm thiểu tác động tiêu cực do khai thác và chế biến quặng Bauxit tại Đăk Nông và ngành công nghiệp Bauxit phát triển bền vững nhóm nghiên cứu xin có một số kiến nghị như sau:

5.1.1          Kiến nghị đối với chính quyền các cấp

  • Làm tốt hơn nữa công tác giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức, cũng như phổ biến chủ trương chính sách của Nhà nước đến cho người dân.
  • Hoàn thiện ngay Phương án tái định cư với sự tham gia góp ý kiến của các bên có liên quan (bao gồm cả cộng đồng và doanh nghiệp)
  • Cần phối hợp với doanh nghiệp đưa ra cam kết cụ thể về mặt trách nhiệm: đào tạo và tuyển chọn nhân công là người tại địa phương không phân biệt thành phần, dân tộc (đặc biệt chú ý tới các hộ bị ảnh hưởng trực tiếp)
  • Đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong việc động viên tinh thần. chia sẻ khó khăn với những hộ chịu tác động trực tiếp.
  • Có các hoạt động cụ thể hỗ trợ người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp như đào tạo nghề cho các lứa tuổi khác nhau; Cố gắng tạo điều kiện đất sản xuất cho người dân. Hướng dẫn người dân trong quá trình chuyển đổi ngành nghề từ sản xuất nông nghiệp sang ngành nghề khác; Có chính sách cho vay vốn chuyển đổi ngành nghề.
  • Tổ chức định kỳ tiếp xúc với cộng đồng để lắng nghe tâm tư nguyện vọng cũng như giải thích các chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ.
  • Tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động bảo tồn văn hóa truyền thống: như lễ hội dân gian, ngành nghề truyền thống, truyền dạy cồng chiêng, hát dân ca, sử thi…
  • Chính quyền cấp huyện, xã và các tổ chức đoàn thể cần thường xuyên tổ chức tuyên truyền nâng cao hiểu biết cho người dân cũng như đón nhận thông tin phản hồi của dân, tránh gây hoang mang trong dân chúng chỉ vì thiếu thông tin hoặc thông tin chỉ đi một chiều.

5.1.2          Kiến nghị đối với công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ

  • Cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của công ty dựa trên nguồn lực lao động tại chỗ.
  • Cùng với chính quyền sở tại đầu tư vào các hoạt động truyền thông nâng cao hiểu biết của cộng đồng về các hoạt động của công ty cũng như chiến lược phát triển của ngành công nghiệm khai thác Bauxit và luyện Alumin.
  • Cần tiến hành nâng cao nhận thức của toàn đội ngũ công ty về “Văn hóa, phong tục tập quán, tâm lý các dân tộc tại chỗ” tránh những hiểu lầm mâu thuẫn không đáng có sau này.
  • Dự án khai thác Bauxit và luyện Alumin ảnh hưởng rất lớn đến phát triển bền vững kinh tế xã hội và môi trường, chính vì thế cần phải có phương pháp tiếp cận phù hợp. Cụ thể đối với các hoạt động đền bù, giải tỏa cần được xây dựng phương án có sự tham gia của nhiều bên liên quan. Lưu ý cập nhật các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các Bộ ngành cho kịp thời.
  • Công ty cần có những cam kết cụ thể mang tính pháp lý về đảm bảo an sinh, bảo vệ môi trường.
  • Các hoạt động hỗ trợ cộng đồng cần cụ thể hơn, không mang tính phong trào và hình thức (đặc biệt đối với cộng đồng dân tộc tại chỗ cần chú ý đặc thù văn hóa dân tộc)
  • Cần có các cuộc tiếp xúc lắng nghe ý kiến tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của lãnh đạo các cấp và người dân.

5.1.3          Một số nghiên cứu liên quan đến dự án cần tiếp tục

  • Nghiên cứu Phát triển nguồn nhân lực địa phương phục vụ cho nhu cầu phát triền ngành công nghiệp khai thác Bauxit và luyện Alumin ở tỉnh Đắc Nông.
  • Xây dựng Phương án Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề sau đền bù giải tỏa phát triển công nghiệp khai thác Bauxit và luyện Alumin ở tỉnh Đắc Nông.
  • Xây dựng mô hình thử nghiệm “Phương án Tái định cư bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa có sự tham gia của các bên liên quan”.
  • Nghiên cứu sâu về những ảnh hưởng văn hóa-xã hội dân tộc thiểu số trong các vùng dự án phát triển công nghiệp khai thác Bauxit và luyện Alumin ở tỉnh Đắc Nông.
  • Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong các vùng dự án phát triển công nghiệp khai thác Bauxit và luyện Alumin ở tỉnh Đắc Nông.

[1] TS Trần Trung Dũng – Phòng NCKH – Quan hệ Quốc tế Trường Đại học Tây Nguyên, TS. Tuyết Nhung Buôn Krông – Trung tâm KHXH & NV Tây Nguyên, Trường Đại học Tây Nguyên; TS. Tuyết Hoa Niêkdăm – Khoa Kinh tế, Trường Đại học Tây Nguyên; Th.S Văn Ngọc Sáng – Khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên; NNC VH Linh Nga Niêkdăm

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện họ Hồng Bàng

Chào các bạn,

Đây là truyên đầu tiên trong quyển Lĩnh Nam Chích Quái mình đang dịch, lấy từ bộ truyện đồ sộ “Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết tùng san” của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, hợp tác với Viện Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extreme Orient), Paris và Đại Học Chung Cheng, Taiwan, do Trần Khánh Hạo chủ biên và nhà sách Học Sinh Thư Cục ở Taipei ấn hành năm 1992.

Phần cuối truyện có lời bình của anh Trần Đình Hoành.

Mời các ban hãy cùng nghiên cứu huyền thoại, huyền sử, nền tảng của văn hóa Việt Nam. 🙂

Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ.

Nguyễn Hữu Vinh

Truyện họ Hồng Bàng

Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.

Long Quân dạy dân việc cày cấy, cơm ăn áo mặc, đặt ra các cấp quân, thần, tôn, ti, các đạo cha con, vợ chồng. Đôi khi trở về thủy phủ mà trăm họ vẫn yên vui vô sự. Hễ dân có việc lại lớn tiếng gọi Long Quân rằng: “Bố ơi! sao không lại cứu chúng con” (Người Việt xưng Phụ là Cha hoặc là Bố (1), xưng Quân Vương là Vua (2)) thì Long Quân tới ngay. Sự linh hiển của Long Quân, người đời không ai lường nổi.

Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai. Vì nhớ đến chuyện ông tổ Đế Minh du hành phương Nam gặp tiên nữ, nên Đế Lai nhân khi phương Bắc thiên hạ thái bình bèn sai quần thần là bọn Xi Vưu thay mình trông coi việc nước, rồi đi tuần xuống nước phía nam đến nước Xích Quỷ. Khi đó, Long Quân đã về thủy phủ, trong nước không có vua. Đế Lai bèn để ái thiếp là Âu Cơ và các thị tỳ ở lại nơi hành cung rồi đi chu du thiên hạ, ngắm xem các nơi danh lam thắng cảnh. Thấy hoa kỳ cỏ lạ, trân cầm dị thú, voi, tê, đồi mồi, ngọc ngà, vàng bạc, quế, tiêu, hương, trầm, đàn cùng các sơn hào hải vật không thiếu thứ gì, khí hậu bốn mùa không lạnh không nóng, Đế Lai vui thích mà quên trở về. Dân phương Nam khốn khổ vì bị quấy nhiễu, không được yên sống như xưa, nên ngày đêm mong mỏi Long Quân trở về. Thế nên cùng nhau gọi lớn: “Bố ơi, bố ở đâu mau về cứu chúng con”. Long Quân đột nhiên trở về, thấy Âu Cơ sống một mình, có dung mạo đẹp đẽ lạ thường, trong lòng vui mừng, bèn hóa thành một trang thiếu niên khôi ngô tuấn tú, tả hữu kẻ hầu người hạ đông đúc, vừa đi vừa ca hát đánh trống trước hành cung Âu Cơ ở. Âu Cơ thấy vậy, sinh lòng ưa thích. Long Quân đón Ấu Cơ ở Long Trang Nham. Đế Lai trở về, không thấy Âu Cơ, sai quần thần đi tìm khắp thiên hạ. Long Quân có phép thần thông, biến hóa thành trăm hình vạn trạng, yêu tinh, quỷ sứ, rồng, rắn, hổ, voi… làm cho bọn đi tìm Âu Cơ đều sợ hãi không dám sục sạo, Đế Lai bèn phải trở về phương Bắc. Truyền ngôi đến đời Du Võng, đánh nhau với Hoàng Đế ở đất Bản Tuyền, đánh không nổi mà chết (3). Đời Thần Nông tới đây thì hết.

Long Quân lấy Âu Cơ, trong năm sinh ra một bọc trứng, cho là điềm bất thường, vứt ra ngoài đồng; qua bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai, mới đem về nhà nuôi. Không cần phải bú mớm, các con tự lớn lên, người nào cũng trí dũng song toàn, ai ai cũng nể phục, đều cho là những kẻ phi thường. Long Quân ở lâu dưới thủy phủ, vợ con sống một mình, nay muốn về đất Bắc. Âu Cơ về tới biên giới, Hoàng Đế nghe nói rất sợ hãi cho binh ra giữ cửa ải, mẹ con Âu Cơ không thể về Bắc được, nên ngày đêm lớn tiếng gọi Long Quân rằng: “Bố ở nơi nào mà để mẹ con tôi buồn khổ thế này”. Long Quân bỗng trở về, gặp nhau ở đất Tương Dã. Âu Cơ khóc mà nói rằng: “Thiếp vốn là người phương Bắc, nay ở với vua, sinh được trăm trai. Xin vua đừng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi con, để vợ con phải làm người không chồng, không cha, thật là đáng thương”. Long Quân nói: “Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng giòng giống khác nhau, thủy hỏa tương khắc, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia tay. Ta đem năm mươi trai về thủy phủ chia trị các xứ, nàng đưa năm mươi trai về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống bể, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên”. Trăm con vâng lời, sau đó từ biệt mà đi.

Âu Cơ và năm mươi con về ở đất Phong Hiệp (Nay là huyện Bạch Hạc), cùng nhau tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đông giáp Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới Động Đình hồ, nam tới nước Hồ Tôn (nay là Chiêm Thành). Chia nước ra làm 15 bộ là Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải (nay là Nam Ninh), Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Y Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Quế Lâm và Tượng Quận. Sai các em cùng nhau chia trị các nơi đó. Lại đặt các em làm tướng văn, tướng võ, văn là Lạc Hầu, võ là Lạc Tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan gọi là Bố Chính, nô bộc gọi là Trâu, con ở gái gọi là Tinh. Bề tôi của vua gọi là Côi, đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ Đạo, đều xưng là Hùng Vương, không hề thay đổi.

Lúc ấy, dân sống ở ven rừng, xuống nước thường bị giống giao long làm hại, bèn nói với vua. Vua nói rằng: “Giống sơn man và giống thủy tộc khác nhau, nên xâm phạm lẫn nhau”. Bèn khiến người đời lấy mực xăm vào mình theo hình loài thủy tộc. Từ đó, dân không bị họa giao long làm hại nữa. Tục xăm mình của dân Bách Việt cũng bắt đầu từ đó. Lúc đất nước còn sơ khai, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy bả cơm làm rượu; lấy cây cau, cây cọ làm đồ ăn; lấy cầm thú, cá, tôm làm mắm; lấy rễ gừng làm muối, cày bằng dao, trồng bằng lửa. Đất trồng được nhiều gạo nếp, dùng ống tre để thổi cơm ăn. Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Cắt tóc ngắn để dễ vào rừng. Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết thì giã cối làm lệnh để người lân cận nghe tiếng đến cứu. Việc cưới hỏi giữa nam nữ trước lấy gói muối làm lễ vật đi hỏi, sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để vào phòng cùng ăn, rồi mới thành thân. Đây là lúc chưa có trầu cau.

Trăm người con trai chính là tổ tiên của người Bách Việt vậy.
—————————

Chú thích:
1. Cha: chữ Nôm viết là 吒, Bố: chữ Nôm viết là 布
2. Vua: chữ Nôm viết là (Trên 王 dưới 布)
3. Lĩnh Nam Chích Quái, bản VHV 1473 có thêm đoạn sau: Lúc đó Xi Vưu ở phương Bắclàm loạn. Vua nước Hữu Hùng là Hiên Viên Hoàng Đế đem chư hầu tới đánh nhưng không được. Xi Vưu mình thú mặt người, sức khỏe dũng mãnh. Có người dạy Hoàng Đế dùng trống da thú làm lệnh, Xi Vưu sợ hãi chạy về đất Trác Lộc. Hoàng Đế chiếm được nước, lên làm vua. Đế Lai nghe biết bèn trở về phương Bắc đánh với Hoàng Đế 3 lần, đều thua, bị giáng phong ở đất Lạc Ấp. Đời Thần Nông tới đây thì hết.

Nguyễn Hữu Vinh dich

Bình – TĐH

• Huyền thoại Hồng Bàng, cho thấy một cuộc đấu tranh kịch liệt , và kết quả cuối cùng là trộn lẫn, giữa hai nền văn hóa phụ hệ và mẫu hệ.

Phụ hệ là văn hóa bắc phương, với Thần Nông, Đế Minh, Lộc Tục (Kinh Dương Vương).

Mẫu hệ là văn hóa phương nam với Vụ Tiên, Long Nữ, Âu Cơ…

Lĩnh Nam theo truyền thuyết là vùng Nam sông Dương Tử–Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Bắc Việt ngày nay–nơi người Hán gọi các dân tộc ở đó là Việt, tức là “vượt qua” (sông Dương Tử). Vào thời cổ đại, văn minh Trung Quốc phát triển ở châu thồ sông Hoàng Hà ở bắc Trung quốc, xuống nam đến mạn bắc sông Dương Tử. Qua sông, miền nam sông Dương Tử — vùng Lĩnh Nam — là một nền là văn minh khác, của các dân tộc Việt.

Phụ hệ xem ra thắng thế trên văn từ: Dòng bố là dòng chính của “cây gia phả” của “người”. Và sinh ra 100 con trai, chẳng có thị mẹt nào cả.

Dòng mẹ gồm “tiên” (Vụ Tiên, Âu Cơ), “rồng” (Long Nữ) và “nước” (Động Đình Hồ).

Nhưng phụ hệ chỉ thắng về mặt nổi. Về mặt chìm thì, mẫu hệ xem ra thắng thế:

1. Âu Cơ có hai chồng, là hai anh em họ Đế Lai và Sùng Lãm, gần giống như tục nối dây hiện nay vẫn còn tồn tại với các một số dân tộc thiểu số Việt Nam vẫn theo chế độ mẫu hệ.

2. Sùng Lãm Lạc Long Quân xem ra có máu miền nam (mẹ và nước) nhiều hơn văn hóa bắc phương: Ông nội Đế Minh lấy vợ phương nam (con gái Vụ Tiên), sinh ra Lộc Tục Kinh Dương Vương. Lộc Tục lại lấy Long Nữ của Động Đình Hồ ở phía nam, sinh ra Sùng Lãm Lạc Long Quân.

3. Rốt cuộc, 50 con theo Lạc Long Quân về biển, biến mất trong lịch sử. 50 người con thành lập lịch sử Việt sau này là 50 đứa theo mẹ.

4. Người Việt nói “Ta là con cháu Rồng Tiên.” Nhưng bố rồng này lại là rồng từ họ ngoại của bố, rồng từ Long Nữ của Động Đình Hồ. Cho nên cả hai cha mẹ (rồng tiên) đều là lấy họ ngoại là chính.

Đây xem ra vẫn là văn hóa Việt Nam ngày nay. Ra đường chồng chúa vợ tôi, về nhà vợ nắm hết thôi cũng huề. 🙂

• Long nữ, Lạc Long Quân, Động Đình Hồ: Văn hóa “nước” (từ các dòng bên ngoại) quan trọng cho người Việt đến nỗi từ “nước”, quan trọng nhất cho sự sống con người, cũng dùng cho quốc gia, quê hương, tổ quốc: Nước Việt, làng nước, non nước…

• Chúng ta nói “Mẹ Việt Nam”. Chẳng nghe ai nói Bố Việt Nam cả.

• Vật biểu Rồng Tiên của văn hóa Việt có sự quân bình nam nữ, âm dương, khác với nhiều nền văn hóa khác, chỉ có một. Giáo sư Kim Định viết trong Kinh Hùng Khải Triết:

Nếu có một ai chịu đưa mắt nhìn rộng ra năm châu, rồi nhìn sâu vào thời cổ đại sẽ thấy không một nước nào trên thế giới có vật biểu đi đôi như thế mà tất cả chỉ là một:
Ấn Ðộ là con voi.
Nước Pháp là con gà.
Nước Ðức là con chim ưng.
Nước Anh là con sư tử.
Nước Tàu trước hổ sau rồng.
Riêng nước Việt lại nhận cả đôi, cả tiên lẫn rồng.

Nam nữ, âm dương cân xứng đương nhiên là quân bằng, hài hòa, và hợp tự nhiên hơn các nền văn hóa chỉ có một—phải bỏ hết tất cả, để giữ một còn lại.

• Bọc trứng vất ở ngoài đồng 7 ngày mới nở ra trăm con: Đây là biểu tượng của linh khí của trời đất trong 7 ngày. Tức là người Việt có cả ba yếu tố trong mình: Người, trời và đất.

• Cánh đồng là biểu tượng của đất, của ruộng đồng—Mối liên hệ chặt chẽ giữa con người và mảnh đất quê hương.

Cánh đồng của nhà Nông còn là biểu tượng của liên hệ đến tổ Thần Nông, người sáng tạo ra cách trồng trọt.

• Một trăm con một bọc, nhấn mạnh ý nghĩa “đồng bào”, và còn nhấn mạnh tính “bình đẳng.” Mọi người ngang nhau vì trong 100 người chẳng có ai là anh ai là em cả.

• Xem ra các con số dương, biều hiệu cho sự phát triển, được cố tình sử dụng: Đế Minh là cháu 3 đời của Thần Nông, đến Lạc Long Quân là cháu 5 đời của Thần Nông, và bọc trứng được nằm ngoài đồng (của nhà Nông) 7 ngày.

• Số một trăm là ‎ ý chỉ số nhiều, số đông: Trăm họ, sống lâu trăm tuổi, trăm năm hạnh phúc, trăm phương nghìn kế, trăm hoa đua nở…

• Giáo sư Kim Định nói về hai chữ “Văn Lang”:

1. Chữ Văn theo nghĩa cổ là vẽ mình quen gọi là “Văn Thân”. Rồi từ đó có nghĩa là văn vẻ: thân mình được vẽ là thân có văn vẻ. Sau cùng đạt tới nghĩa bao quát chỉ tất cả những gì có văn vẻ. Văn Lang là nước có văn vẻ ngược với nước bị cai trị theo lối thú vật bằng gậy, bằng chuồng thì gọi là võ trị. Chỉ có văn trị mới làm nảy sinh được các mối nhân luân, những mối liên hệ người với người được thấm nhuần bằng lễ, nghĩa, liêm, sỉ, tức những mối tình cao cả của con người.

2. Về chữ Lang xét như bởi chữ làng thì có nghĩa là làng nước. Văn Lang là nước có văn vẻ; còn xét theo âm chữ Nho thì Lang có nghĩa là người, ta quen gọi bằng lang quân.

• Phần kể các tục lệ của dân nước Văn Lang, có vẻ như là tục lệ của các dân tộc thiểu số vùng cao ngày nay, vẫn còn theo mẫu hệ:

Lúc đất nước còn sơ khai, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy bả cơm làm rượu; lấy cây cau, cây cọ làm đồ ăn; lấy cầm thú, cá, tôm làm mắm; lấy rễ gừng làm muối, cày bằng dao, trồng bằng lửa. Đất trồng được nhiều gạo nếp, dùng ống tre để thổi cơm ăn. Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Cắt tóc ngắn để dễ vào rừng. Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết thì giã cối làm lệnh để người lân cận nghe tiếng đến cứu. Việc cưới hỏi giữa nam nữ trước lấy gói muối làm lễ vật đi hỏi, sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để vào phòng cùng ăn, rồi mới thành thân.

Chỉ có dân vùng cao mới lấy vỏ cây làm áo, cỏ tranh làm chiếu, rễ gừng làm muối và quý muối như vàng, đốt rừng để trồng trọt–trồng bằng lửa, ăn nếp thay gạo, thổi cơm trong ống tre, làm nhà tránh hổ sói nghe như nhà sàn, cắt tóc ngắn (khi xưa người Kinh để tóc dài), đẻ con lót lên lá chuối, dùng muối làm lễ vật đính hôn, và giết trâu hành lễ–người vùng xuôi có lẽ là giết bò hơn là trâu…

• Tóm lại, truyện họ Hồng Bàng là trộn lẫn và đấu tranh giữa hai nền văn hóa nam (mẫu hệ) và bắc (phụ hệ). Dù là các điểm lớn như đàn ông làm vua là văn hóa bắc (phụ hệ), nhưng đa số các chi tiết khác là của văn hóa miền nam (mẫu hệ) với khá nhiều chi tiết phong tục vẫn còn tồn tại trong các dân tộc thiểu số mẫu hệ miền cao ngày nay.

Trần Đình Hoành bình

Quê Hương trường ca – Đoạn 6

Hành trình tìm hơi thơ – hành trình từ Đất
Hành trình đi tìm quê hương – khởi hành từ nỗi nhớ quê hương
Bắt đầu từ bàn chân trần – trắng, từ con số không
Từ con số âm, có lẽ.
Ta không thể đi vào tương lai bằng giấc mê Quá khứ
Đi vào ngày mai bằng niềm tiếc Ngày qua
Không thể bay cao khi hồn còn trì nặng sâu mọt căm thù
Không thể đi xa khi chân còn kéo lê sợi tơ kiêu hãnh hão
Hãy để Tháp Cánh Tiên, Tháp Chùa với nhà trùng tu thi gan giông bão
Để yên Tara, Garuda trong viện bảo tàng
Po Klaung, Xah Bin – xin thắp ngọn nến, nén nhang
Coi chừng hai buồng phổi ta thiếu ôxi bởi khói!
Thế giới rậm rịt bao la cho ta ngàn cơ hội
Cơ hội của ta, cơ hội cho cháu con.
Để nuôi ta, ta rút tinh chất từ cha ông
Thì phải cất cho đời sau dòng nhựa*
Giữa đêm tối bão giông, hãy cúi rạp như ngọn cỏ
Ngọn cỏ ngóc đầu trong nắng mai.
Cây nở hoa từ u tối bùn lầy
Người thì lớn khôn từ trần ai bể khổ.
Hành trình đi tìm hơi thơ – hành trình tìm hơi thở
Trong bụi bặm trang sách, sa mù câu kinh
Dưới sần chai dấu chân, trên lãng đãng con đường
Người xưa bỏ lại trên cát.
Hơi thở mênh mang trong lời ru, câu hát
Tối mẹ ầu ơ hay chiều em nghêu ngao
Cánh tay anh gân guốc trên tầng cao
Hình lưỡi búa vẽ vòng cầu vào nắng trưa vọt ra hơi thở
Trên vầng trán cha đẫm sương quá khứ
Hơi thở ẩn tàng dưới nếp nhăn
Hơi thở dạt dào trong mắt sinh viên
Tìm hương Đất giữa khô khan bài học
Qua trang sách, mở phơi đường dân tộc
Con đường nhọc nhằn dẫn lối con đường xanh.
Hãy yêu hãy yêu như ta chưa từng
Đứa con đi hoang bỏ xa làng mạc
Mang bụi đất quê hương về miền xứ khác.
Và hãy yêu hơn con người chân chất
Sống một đời ôm mang đất – phù du
Những con người hiến thân cho hơi thở phong nhiêu

Inrasara

Mùa xuân Tây Bắc trong tôi

Thế là đã ba cái tết tôi xa Tây Bắc, cũng là ba cái tết ở Thủ Đô phồn hoa và náo nhiệt, nhưng trong tôi vẫn không hề nguôi ngoai cái cảm giác hẫng hụt, như thiếu một cái gì vô cùng thân thiết, đã ăn sâu vào tiềm thức, vào máu thịt.

Dõi mắt về phương xa. Tôi cứ mường tượng đến những dải mây vắt ngang đỉnh Hoàng Liên cao vút, mỗi bình minh lại hồng rực, long lanh muôn sắc như chiếc khăn piêu trên “tằng cẩu” của người con gái Thái. Và đâu đây tiếng cười trong vắt lấp lánh, bay bổng, phấp phới cùng những dải tua mầu như tia nắng của quả còn hội xuân. Những nhịp xòe nồng say rộn ràng ánh lửa, những tấm lưng thon thả dịu dàng, những khuôn ngực thanh tân, những cần rượu thơm lừng mời gọi. Đâu đây mượt mà giai điệu bài “Tình ca Tây Bắc”: “Rừng xanh cây lá muôn đóa hoa mai chào đón xuân về”. Tôi như kẻ bị bỏ bùa mê, bị bao vây trong những bộn bề cảm xúc.

Ôi cái sắc hoa đào, hoa ban cùng muôn loài hoa rừng khoe sắc đua hương, thơm đến từng lá cây ngọn cỏ đã hóa thân trong mỗi nụ cười duyên, mỗi làn da trắng hồng, mỗi búp tay thon như búp măng rừng, mỗi đường nét tuyệt mỹ trên tấm thân ngà ngọc của người sơn nữ. Để rồi người bạn tôi – nhà văn Thế Sinh đã từng không cầm lòng được phải thốt lên: “Kinh côm nôm tẳng” – tiếng Thái là eo thon ngực nở, mà anh từng thả hồn trong cái ký nổi tiếng: “Miền gái xinh”. Còn tôi như say men rượu cần, trước vẻ đẹp nhuần nhị tuyệt mỹ của những cô sơn nữ như ánh bình minh mai sớm: “Nả ấc nọi nôm túm nàm tong” – tiếng Thái là ngực nhỏ nhọn như gai vông đồng, huyền ảo trong tản văn: “Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc”!

Mỗi con đèo, mỗi cánh rừng, mỗi dòng suối, những thửa ruộng bậc thang đều như những kiệt tác của tạo hóa ẩn chứa bao huyền thoại cùng khát vọng được sống, được yêu.
Con đường 6 mới được tôn tạo, lên cổng trời hun hút dãy Pha Đin, trong bạt ngàn hoa ban và lau trắng. Mỗi bông hoa ban như lời thơ trong câu chuyện tình bất hủ “Sống chụ son sao” – “Tiễn dặn người yêu” và những bông hoa lau dập dờn trong gió như đang chụm đầu thì thầm lời hẹn những mùa yêu. Đây Thuận Châu, đây Tuần Giáo… Con đèo quanh co gấp khúc hiểm trở xứng với tên gọi: “Pha Đin” – nơi đất gặp trời. Người già kể cho tôi, xưa các thế lực chúa đất bao đời tranh giành nhau đều lấy dãy núi hiểm trở này làm chỗ dựa, vì thế còn có tên gọi khác: Pú Chinh (núi chiến tranh).

Tôi nhớ mãi lần cùng đoàn giáo viên thế hệ năm 1959 lên thăm Sơn La, Thạc sỹ Lò Mai Cương của trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Sơn La, người đầu tiên của Việt Nam số hóa thành công chữ Thái, cùng phó giám đốc sở Khoa học công nghệ Sơn La – Cà Văn Chung, người số hóa lịch Thái được áp dụng trong nông lịch và bộ lịch Thái tổng hợp 200 năm, cùng các bạn người Thái đón tôi như đón người nhà. Các anh chị khoe những thành tựu của Sơn La và của “Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái”. Tôi chia vui cùng các bạn mà lòng không khỏi xao xuyến bồi hồi. Mới ngày nào Sơn La, Tây Bắc còn là vùng đất xa xôi, nghèo nàn và lạc hậu, thì nay đã là những điểm sáng trên bản đồ đất nước.
Tôi miên man đi trong ký ức những Điện Biên, Lai Châu, những con suối “Nậm Na”, “Nậm Rốm”, những tên đất đã trở thành tên lịch sử: “Mường Thanh” – Điện Biên, “Mường Than” – Than Uyên, “Mường Tấc” – Phù Yên, rồi vượt đèo “Khau Phạ” – sừng trời về Mường Lò, Yên Bái, nơi tôi đã từng sống và công tác 30 năm trời. Để rồi trong lòng chợt ngân lên câu ca dao thơm hương nếp mới: “Mường Lò gạo trắng nước trong/ Ai đi đến đó lòng không muốn về”.

Vâng Mường Lò không chỉ là đất tổ của người Thái đen Tây Bắc, là cánh đồng rộng thứ hai Tây Bắc. Con suối “Nậm Xia” – suối nước mắt, tên gọi cũ của suối “Nậm Thia” vắt ngang cánh đồng Mường Lò trong nắng xuân ngời muôn ánh bạc. Mỗi con đường mới mở, mỗi cánh rừng, mỗi mầm xuân và trong từng câu “khắp”, điệu “xòe”, ánh mắt giao duyên đều ngời sáng cất lên những cồn cào day dứt và ước mơ của bao thế hệ: “Ngày xưa, có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi nọ. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng. Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát, với những chú cá sỉnh mình thon, chắc lẳn, vậy mà xuân này sao nhớ lạ lùng. Những sóng vàng ngày xuân của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi.

Tôi chợt nhớ tới hình ảnh nghệ nhân Lò Văn Biến ôm đàn tính thả hồn trong những điệu “khắp”. Ông như pho sử sống của người Thái Mường Lò, đã từng sưu tầm và dịch nhiều tác phẩm của dân tộc Thái, ông đã cùng tôi biên soạn “Bộ tài liệu dạy tiếng và chữ Thái cổ Mường Lò” và dịch tác phẩm thơ: “Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng”… Trước tết, khi nhà văn Trần Nhương đưa nhà văn Nguyễn Tiến Lộc từ Canada về, lên Yên Bái và vào thăm Mường Lò, ông nhờ nhà văn Trần Nhương gọi cho tôi dặn đi dặn lại: “Tết về chơi, nhớ lắm đấy!”. Rồi cô gái trẻ Cầm Thị Nghiệp, sinh viên trường Cao đẳng văn hoá nghệ thuật Yên Bái, từng là học sinh xuất sắc lớp chữ Thái cổ do nghệ nhân Lò Văn Biến mở cũng gọi: “Bác ơi, tết về chơi bác nhé, năm nay vui lắm”. Trong tôi cồn lên một nỗi nhớ thật khó gọi tên, con tim cứ nhẩy lên như nhịp trống hội xòe. Những kỷ niệm về những mùa xuân Tây Bắc ùa về lâng lâng trong ký ức, thân thuộc, nhung nhớ đến nao lòng. Và luôn tin rằng Mường Lò, Yên Bái nói riêng và Tây Bắc nói chung, với những người con ưu tú như nghệ nhân Lò Văn Biến, thạc sỹ Lò Mai Cương, phó giám đốc Cà Văn Chung cùng cô sinh viên Cầm Thị Nghiệp… mỗi mùa xuân sẽ thay da đổi thịt rất nhiều. Còn với cô sinh viên Thanh Nga của trường đại học Văn hóa – khoa Dân tộc học, một lần ngẫu nhiên đọc bài viết của tôi về “nét đẹp bài hát mừng dâu mới của người Thái Mường Lò” đã bị chinh phục bởi vẻ đẹp nguyên sơ của phong tục tập quán và các làn điệu dân ca Thái, cô đã quyết định làm đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Thanh Nga cho biết, có một số sinh viên cũng làm đề tài về văn hóa Thái và cô quyết tâm mùa xuân này nhất định sẽ lên Tây Bắc, để hiểu thêm về văn hóa Thái và được mùa xuân Tây Bắc chắp cánh. Thế mới biết sức hút của văn hóa Thái Tây Bắc lớn lao biết chừng nào.

Tôi miên man trong suy tư. Nếu không có mấy chục năm trời gắn bó cùng những mùa xuân Tây Bắc, để rồi cái hơi cái hồn Tây Bắc thấm trong tôi từ lúc nào, thì tôi đâu có được vốn sống phong phú làm nên những trang văn thơ như hôm nay. Những tên đất, con người lịch sử và huyền thoại của Tây Bắc, cùng bao thiên truyện tôi được nghe các nghệ nhân kể bên bếp lửa, bao hội “xòe” cùng những điệu “khắp” Thái, những lễ hội dân gian của các dân tộc cùng hương rượu cần ngọt lịm, là mạch nguồn sáng tạo trong tôi. Nếu thiếu đi hơi ấm của mùa xuân Tây Bắc, chắc cuộc đời tôi sẽ nghèo đi nhiều lắm. “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” là đây chăng, để rồi xuân này giữa Thủ Đô đang hối hả nhịp sống mới hướng tới lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tôi chợt nhận ra Tây Bắc mùa xuân với một vẻ đẹp mới, trong sáng vô ngần.

Hà Nội xuân 2010
Trần Vân Hạc

Xao nọong ơi em đẹp như cầu vồng

Ai đã từng lên Tây Bắc đều không khỏi trầm trồ thán phục, rung động trước vẻ đẹp trẻ trung, thanh tân, duyên dáng của các cô gái Thái. Chiếc váy đen lấp lánh vòng xà tích bạc, thắt lưng xanh, áo cỏm dịu dàng đôi hàng cúc bạc như cánh bướm và khăn piêu vời vợi trên đầu. Sự đồng nhất hài hòa kỳ diệu ấy tạo cho người ta một cảm giác thanh thản trước bộn bề dòng chảy của cuộc sống.

Khăn piêu

Trang phục của con gái Thái vừa đơn giản, vừa cầu kỳ; vừa kín đáo, vừa phô trương đường nét; vừa rực rỡ trang nhã và không kém phần trang trọng.

Váy Thái bao giờ cũng là mầu đen, thường bằng vải mộc tự dệt nhuộm chàm, lanh hoặc nhung the, mặt trong gấu váy bao giờ cũng táp bằng vải đỏ hoặc vải hoa sặc sỡ, mỗi bước đi chân váy uốn lượn thấp thoáng sắc mầu, kiểu làm dáng này kín đáo mà duyên. Điểm xuyết bên hông là bộ xà tích bằng bạc buông lơi tạo một điểm nhấn rất bắt mắt. Tiếp nối giữa váy và áo là chiếc thắt lưng xanh. Từ khi còn nhỏ, các bé gái đã được các bà, các mẹ dậy cách thắt “Xài yêu” – thắt lưng bằng vải, để lớn lên có thân hình theo tiêu chí: “Eo kíu manh po” – thắt đáy lưng như con tò vò. Tiêu chí về vẻ đẹp của người con gái Thái cũng giống như các thiếu nữ Kinh là phải “thắt đáy lưng ong” thì mới có thể được như mong ước tự bao đời: “Khuôn ẹt tẹt dú lai non lai/ Khuôn liệng ngúa bấu tai, liệng quái bấu sẩu/ Khuôn cót nảu phua mình non song…” – có nghĩa là: Vía đi vía không chờ/ Vía nuôi bò không chết, nuôi trâu không gầy còm/ Vía ôm chồng nằm kề/ Lứa đôi dây tình bện chặt…”, giống như câu ca của miền xuôi: “Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con”.

Áo của con gái Thái gọi là “xửa cỏm”, một kiểu áo dài tay may bó sát người, vừa tạo dáng, vừ vun đầy bộ ngực thanh xuân, thường có hai kiểu cổ: Cổ chữ V của người Thái trắng và cổ đứng của người Thái đen. Trước ngực là hai hàng cúc bạc hình ve sầu, nhưng thường là hình bướm, một bên là hàng bướm đực với đầu hình tam giác cùng đôi râu vểnh lên kiêu hãnh; một bên là hàng bướm cái đầu tròn, có lỗ hình thoi. Khi gài cúc (luồn đầu bướm đực vào lỗ trên đầu bướm cái) hai vạt áo khép lại kín đáo, hai hàng bướm chụm đầu vào nhau như trong vũ điệu giao duyên. Con gái chưa chồng, cổ áo cao kín đáo, hàng cúc mang số lẻ như còn chờ đợi cặp đôi. Con gái có chồng cổ áo thấp hơn, hàng cúc áo mang số chẵn như ước mong hạnh phúc vẹn tròn.

Nổi bật trong bộ trang phục của người con gái Thái là chiếc khăn piêu, piêu là một trong những thước đo sự khéo tay của cô gái. Người con gái khi dệt vải, thêu piêu đã gửi cả tâm tình vào đường kim mũi chỉ:

Em làm chiếc khăn piêu
Trao anh cả tấm tình
(Tình ca Thái)


Khăn piêu dài độ một sải rưỡi bằng vải bông nhuộm chàm, hai đầu khăn được thêu cầu kỳ những hoa văn, họa tiết hình mặt trời, hoa lá, dây leo, búp cây guột… với các mầu chủ đạo là đỏ, hồng, vàng, xanh. Các góc và rìa khăn viền vải đỏ và trang trí những “cút piêu” – nút thắt bằng vải, hoặc hạt cườm bọc vải và “xài peng” – tua vải mầu. Truyện cổ dân tộc Thái kể rằng: “Xưa có một mường toàn đàn bà con gái, những người khác giới không được vào, nếu cố tình vào sẽ bị sát hại. Một hôm có chàng trai đi săn “vô tình” “lạc” vào mường mẹ, được một cô gái xinh đẹp che chở và đem lòng yêu. Hai người quyết chí cùng chung bếp lửa.

Chàng trai trốn về thưa chuyện với mường bố. Mường bố cho đó là duyên trời định và đem người sang “thưa chuyện” với mường mẹ. Mường mẹ yếu thế lại đuối lý phải gả cô gái cho chàng trai và bỏ lệ cũ, trai gái từ đó được tự do yêu nhau. Mường bố yêu cầu mường mẹ làm chiếc khăn rồi điểm chỉ vào đó “cút piêu” và làm những tua vải hẹn ước “sài peng”.

Câu chuyện về tình yêu bất tử vượt lên những định kiến và hủ tục lạc hậu ấy sống mãi trong lòng các thế hệ người Thái Tây Bắc, để rồi hôm nay, mỗi khi chàng trai đón nhận chiếc khăn piêu hẹn ước là lồng ngực trẻ trung lại rộn ràng khúc nhạc về tình yêu, trân trọng nâng niu ước mơ cao đẹp về một cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Váy áo tôn khăn piêu, khăn piêu tôn váy áo. Khăn piêu không chỉ để đội đầu, mà còn gắn liền với nhiều sinh hoạt cộng đồng: Trong hội xòe piêu là đạo cụ không thể thiếu, piêu lóng lánh như núi rừng Tây Bắc đang độ xuân thì; piêu bay lên như áng cầu vồng trong điệu xòe tung khăn tuyệt đẹp; hội tung còn, piêu là phần thưởng quí giá cho bên trai khi thắng cuộc; trong tình yêu piêu là tín vật; khi đông về giá lạnh piêu giữ ấm cổ, ngực ai…

Khi piêu phối hợp với chiếc áo cỏm trắng tinh, với chiếc thắt lưng xanh như lá rừng, với chiếc váy đen như màn đêm huyền hoặc đã tạo nên một vẻ đẹp thật khó mà đặt tên, cứ dư ba thổn thức trong lòng người mỗi khi nhớ về Tây Bắc. Đặc biệt ở đây còn có sự phối hợp tinh tế giữa văn hóa vải vóc: Bông, lanh, nhung, lụa mềm ấm như làn nước suối xuân với văn hóa kim loại quí: Bạc trắng tinh khôi ẩn chứa đầy bất ngờ như núi rừng mùa đông. Trang phục ấy đâu chỉ che thân, trang phục ấy còn là cốt cách, là văn hóa của người Thái Tây Bắc nói chung và của các cô gái Thái nói riêng.

Trong ký ức của tôi bỗng hiện lên một đêm xòe nồng say ở Mường Thanh mừng ngày chiến thắng Điện Biên, hay vòng đại xòe náo nức trong tuần văn hóa du lịch ở Yên Bái. Các “xao nọong” – em gái trong trang phục truyền thống lướt đi trong điệu dân vũ. Tiếng trống, tiếng khèn, pí pặp, pí thiu… rộn ràng tha thiết, rừng núi âm vang rộn rã. Tôi như được đắm mình trong tiếng vọng của ngàn xưa huyền thoại về đôi vợ chồng “Ải Lạc Cậc” – Bố khổng lồ, thần thoại dân tộc Thái đã khai thiên lập địa nên xứ Tây Bắc thuở nào.

Bộ trang phục này sinh ra cho các “xao nọong” thêm xinh đẹp và chính các em đã làm cho trang phục tuyệt vời kia sống động cái hơi cái hồn của dân tộc mình giữa Tây Bắc ngàn năm vẫn trẻ!


Trần Vân Hạc