Category Archives: Giáo dục

Tò mò: Lực đẩy bên trong một tâm trí khao khát học hỏi

 English – Curiosity: The Force Within a Hungry Mind

Kích thích sự tò mò của học sinh bằng cách khuyến khích các em câu hỏi có giá trị, tìm kiếm những khoảnh khắc có thể dạy-học được, xây dựng các bài học dựa trên môi trường thực tế và tư duy phê phán.

Điều gì làm cho trẻ  muốn học? Theo nghiên cứu, đó là niềm vui thích của việc khám phá – nguồn năng lượng tiềm ẩn thúc đẩy học tập, tư duy phản biện và lý luận. Chúng tôi gọi đây là khả năng/năng lực tò mò, và chúng tôi nhận ra năng lực này ở trẻ em khi thấy chúng khám phá môi trường xung quanh, nghiền ngẫm sách và thông tin, đặt câu hỏi, khám phá các khái niệm, thao tác dữ liệu, tìm kiếm ý nghĩa, kết nối với con người và thiên nhiên, và tìm kiếm kinh nghiệm học tập mới.

Đọc tiếp trên CVD >>

Modest level of research: weakness of Vietnam’s universities

Last update 10:08 | 15/03/2018  vietnamnet

VietNamNet Bridge – Despite the sharp increase in the numbers of professors and associate professors, and lecturers with master degrees and doctorates, no Vietnamese university is included in international university rankings. 

vietnam economy, business news, vn news, vietnamnet bridge, english news, Vietnam news, news Vietnam, vietnamnet news, vn news, Vietnam net news, Vietnam latest news, Vietnam breaking news, MOET, professor, research
Students of Duy Tan University

The Science, Education and Environment Advisory Council, at a recent conference on post-graduate training and talent development, pointed out a number of problems in higher education and academic research.

While the number of research works is high, the quality is low and the results cannot be applied in real life. The number of internationally published articles remains modest, especially in social sciences.

Continue reading on CVD >>

Lời kêu gọi tới phái nam – A call to men

 
Tôi lớn lên tại thành phố New York, giữa khu Harlem và Bronx. Là con trai, chúng tôi đã được dạy rằngcon trai thì phải mạnh mẽ, phải khỏe mạnh, phải bạo dạn, phải có tầm ảnh hưởng — không biết đau, không cảm xúc, ngoại trừ việc giận dữ — và dứt khoát là không được sợ hãi — rằng đàn ông con trai là những người mang trọng trách, điều đó có nghĩa rằng đàn bà phụ nữ thì không; rằng đàn ông con trai là những người dẫn đường và các bạn phải theo gót chúng tôi và làm những gì chúng tôi nói; rằng đàn ông con trai là bề trên, đàn bà phụ nữ là bề dưới; rằng đàn ông con trai thì mãnh mẽ, còn phụ nữ thì không; rằng phụ nữ ít giá trị hơn — là tài sản của đàn ông — và là những vật thể, đích xác là những vật thể tình dục,

Đọc tiếp trên CVD >>

Phụ nữ trong khoa học: Những góc nhìn

TS – 07/03/2018 08:00 – Ann Hibner Koblitz*

Gần như tất cả các nền văn hóa trên thế giới đều có những nữ khoa học, nữ bác sĩ và nhà phát minh nữ nhưng vì nhiều lí do, tên tuổi của những người phụ nữ này vẫn bị khuất lấp hoặc không được ghi nhận. Đến thời kì “làn sóng nữ quyền lần thứ hai” trỗi dậy vào giữa những năm 1960 đến cuối những năm 1980, những nhà sử học theo chủ nghĩa nữ quyền đã khôi phục lại tên của vô vàn những người phụ nữ vĩ đại trong quá khứ, bao gồm các nhà khoa học và phát minh nữ. Những học giả này đã thách thức các định kiến giới trong những trang sử của hàng thế kỉ đã xóa đi những đóng góp của người phụ nữ trong rất nhiều lĩnh vực bởi các nhà sử học nam.


Nhà toán học Miryam Mirakhani. Ở Iran, quê hương cô, nghiên cứu toán học được coi là một nghề nữ tính. Trong ảnh là bìa của một tờ báo ngày tại Iran vinh danh Mirakhani sau khi cô qua đời.

Đọc tiếp trên CVD >>

Giải phóng học sinh và giáo viên thoát khỏi bài tập về nhà

English: Freeing Students—and Teachers—From Homework

Một giáo viên lớp hai giải thích cách cô đã bỏ việc cho học sinh bài tập bắt buộc về nhà và kết quả đáng ngạc nhiên cô nhậnthấy từ việc đó.

Tôi đã ngừng giao bài tập về nhà cho học sinh lớp hai từ năm ngoái và có một điều đáng ngạc nhiên: các em bắt đầu làm việc nhiều hơn ở nhà. Nhóm các em học sinh 8 tuổi đầy cảm hứng đã sử dụng thời gian rảnh rỗi mới có được để khám phá những môn học và chủ đề chúng quan tâm. Thậm chí, các em còn hào hứng báo cáo những phát hiện của mình cho các bạn cùng lớp – cứ thế các bạn cùng lớp được truyền cảm hứng khám phá những lĩnh vực mình thích. Tôi ước tôi có thể nói rằng đây là một phần trong kế hoạch vĩ đại của tôi và rằng tôi làm việc đó rất tốt, nhưng học sinh của tôi là tác giả của tất cả công trạng này.

Đọc tiếp trên CVD >>

Những học trò yếu kém muốn thầy cô và cha mẹ biết điều gì?

English:  What Failing Students Want Us to Remember

Nhìn học sinh hơn chỉ là điểm số
Em không phải điểm số của em
Em vẫn có thể có đóng góp đầy ý nghĩa
Em không phải là một sự thất vọng
Hãy để em là chính em
Đừng bỏ cuộc. Hãy tìm cách giúp em.

Bằng cách nhìn học sinh hơn chỉ là điểm số ở trường, chúng ta có thể giúp những đứa trẻ đạt được tiềm năng của các em.

Các trường học của chúng tôi ở Hoa Kỳ hoạt động chủ yếu như những trung tâm phân cấp thành tích: điểm số đạt được, học sinh được theo dõi bằng cách chia chúng vào các nhóm thành tích, theo đó phần thưởng được trao cho những học sinh thực thoả mãn được tiêu chuẩn. Nếu trẻ không đạt mức mong đợi (vì bất kỳ lý do nào), chúng thường bị gắn mác tiêu cực như ” không có khả năng đọc,” “yếu” hoặc ” kém “

Do hệ thống này, giáo viên bị đặt trong tình huống buộc phải đánh giá các em trước tiên và cao nhất là những “cỗ máy” làm bài kiểm tra, và tạo ra điểm số. Thật đáng chán nản!  Điểm số thực sự chỉ có vai trò rất nhỏ trong việc học. Người học được hưởng lợi nhiều hơn từ vô số cách đánh giá qua các bài kiểm tra không lấy điểm cũng như những nhận xét đều đặn, thường nhật.

Đọc tiếp trên CVD

Ước mơ thơ trẻ

Mình còn nhớ đó là khoảng năm lớp 3, khi mình được bước vào thế giới thú vị của cô bé Tottochan hiếu động đáng yêu cùng những ký ức trong trẻo về ngôi trường Tomoe độc đáo trên những toa tàu. Có lẽ những ai đã đọc “Tottochan, Cô Bé Bên Cửa Sổ” đều mơ ước về một môi trường giáo dục hướng tới sự phát triển tự nhiên như Tomoe, nơi trẻ em được tôn trọng, lắng nghe với tình yêu thương, khiến chúng lớn lên mạnh mẽ với lòng tự tin.

Phải chăng anh Bút Chì cũng đã được truyền cảm hứng từ Tottochan mà lập ra Toa Tàu“nơi người lớn được là trẻ con và trẻ con được là chính mình”; hay Hang Dao và Quỳnh Anh với Potato Kids – những lớp học ngoại khóa cho trẻ em ở Hà Nội và Vy Le với Trại Hè Trẻ Đồng Xanh ở Hội An, “nơi trẻ được sống trong thiên nhiên và học từ thiên nhiên”?

Đọc tiếp trên CVD

Những học trò yếu kém muốn thầy cô và cha mẹ biết điều gì?

English:  What Failing Students Want Us to Remember

Nhìn học sinh hơn chỉ là điểm số
Em không phải điểm số của em
Em vẫn có thể có đóng góp đầy ý nghĩa
Em không phải là một sự thất vọng
Hãy để em là chính em
Đừng bỏ cuộc. Hãy tìm cách giúp em.

Bằng cách nhìn học sinh hơn chỉ là điểm số ở trường, chúng ta có thể giúp những đứa trẻ đạt được tiềm năng của các em.

Các trường học của chúng tôi ở Hoa Kỳ hoạt động chủ yếu như những trung tâm phân cấp thành tích: điểm số đạt được, học sinh được theo dõi bằng cách chia chúng vào các nhóm thành tích, theo đó phần thưởng được trao cho những học sinh thực thoả mãn được tiêu chuẩn. Nếu trẻ không đạt mức mong đợi (vì bất kỳ lý do nào), chúng thường bị gắn mác tiêu cực như ” không có khả năng đọc,” “yếu” hoặc ” kém “.

Đọc tiếp trên CVD >>

UNESCO: Happy Schools a framework for learner well-being in the Asia Pacific

Download full report here

All human beings aspire to be happy, and as the philosopher Aristotle is often cited to have said: ‘Happiness is the meaning and purpose of life, the whole aim and end of human existence’ (Crisp, 2000). Indeed, all human endeavours, starting from birth and throughout life, are pursued to this end, and require for happiness to be embedded within them. The schooling experience is perhaps the most influential of these endeavours in terms of shaping the course of our lives. Schools that can promote happiness, referred to in this report as ‘happy schools’, are key to ensuring better well-being, health, and achievement as well as success in future life and work. Education systems must also value the unique strengths and talents of learners by recognizing that there are ‘multiple intelligences’ that each deserve equal importance (Gardner, 1993). As such, promoting learner happiness and well-being in schools does not imply that learning be made easier or require less effort, but rather, that such approaches could help fuel a genuine love of learning in and of itself.

Continue reading on CVD >>

UNESCO Traditional Children’s Games in South-East Asia – Trò chơi truyền thống cho trẻ em ở Đông Nam Á

Bangkok: UNESCO Bangkok. 2011. ISBN – 978-92-9223-394-5

DOWNLOAD THE SOFTWARE

Download A Full Teacher’s Guide

The documentation project of children’s traditional games was undertaken in five cultural sites in four country partners: Luang Prabang (Lao PDR), Phnom Penh (Cambodia), Penang (Malaysia), the Northern region and Bangkok (Thailand).

It was made into an interactive CD with cartoon animation, highly accessible by children and teachers. It is also accompanied by three short documentary films of children’s games in Thailand.

Continue reading on CVD

Education Ministry’s project to produce 9,000 PhDs: Is it working?

Last update 07:10 | 26/01/2018  vietnamnet

VietNamNet Bridge – The project on producing 23,000 PhDs for universities and junior colleges in 2010-2020, or Project 911, capitalized at VND14 trillion, failed at the end of 2016 as many targets were unattainable. As anticipated, the Ministry of Education & Training (MOET) had to stop enrolling PhD students in 2017.

vietnam economy, business news, vn news, vietnamnet bridge, english news, Vietnam news, news Vietnam, vietnamnet news, vn news, Vietnam net news, Vietnam latest news, Vietnam breaking news, PhD, university lecturer, Project 911
Vietnam plans to produce more PhDs

Only 2,062 PhD students were enrolled in 2012-2016 for domestic training courses, fulfilling 36 percent of the enrollment plan.

Continue reading on CVD

Cách mạng bền vững: ba xu hướng trường đại học và sinh viên toàn cầu đang thực hiện

English: Three ways Universities and their students are revolutionalizing Sustainability 

Là những nơi đi đầu về tri thức và sáng tạo, các trường đại học được trông đợi là nơi kiến tạo tương lai bền vững. Đây là nơi mà những chuyên gia nghiên cứu về những vấn đề mới nổi và đưa ra những ý tưởng mới. Đây cũng là nơi tập trung vô số những sinh viên trẻ giàu lý tưởng và dễ thích nghi, là những người được huy động để bảo vệ tương lai của chính họ. Vì vậy, một cách tự nhiên, nhiều ý tưởng bền vững cấp tiến được được sản sinh từ trường đại học.

Các trường đại học trên toàn thế giới hiện đang nỗ lực cắt giảm xu hướng lãng phí cũng như thúc đẩy một không gian khuyến khích ý thức về môi trường. Sau đây là ba lĩnh vực liên quan đến cuộc sống trong khuôn viên mà các trường đại học đang tìm cách trở nên xanh hơn.

Đọc tiếp trên CVD

Menstruating girls banned from crossing Ghana river

BBC 11 January 2018

Image caption Girls living near Kyekyewerein (not pictured) are affected by the ban

Ghanaian schoolgirls have been banned from crossing a river while they are menstruating – and on Tuesdays.

The ban, apparently given by a local river god, has outraged children’s activists, especially as girls must cross the river to reach school.

It means girls in the Upper Denkyira East district, in the Central Region, could miss out on their education.

Continue reading on CVD

Hiệu quả của một hệ thống giáo dục

English: UNESCO Education system education

Một hệ thống giáo dục chất lượng được khái niệm hoá trong khung khổ phân tích/dự đoán Chất lượng Giáo dục phổ cập (UNESCO General Education Quality Analysis/Diagnosis Framework (GEQAF) ) là một hệ thống mà chất lượng giáo dục được cung cấp công bằng và hiệu quả. Do đó, cách thức phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn lực ở các cấp độ khác nhau của hệ thống giáo dục là yếu tố quan trọng, mang tính quyết định cho một hệ thống giáo dục chất lượng. Việc cải thiện hiệu quả nguồn lực giáo dục có thể giúp giải phóng nguồn lực đáng kể để giải quyết các vấn đề về chất lượng giáo dục.

Đọc tiếp trên CVD