Category Archives: Chứng Nhân

VINAPLAY & Tác giả


Loại “hàng độc” vừa xuất hiện trong hành trang của diễn viên Lê Tuấn Anh là một chiếc máy tinh xảo “made in Viet Nam”, đã đưa chàng nghệ sĩ thích ẩn mình từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, khiến anh hào hứng nhận vai sứ giả vô điều kiện để cổ vũ phong trào “Người Việt dùng hàng Việt”.

Cuộc “ chạm trán” thú vị ở cửa hàng

Hiểu tôi chỉ chú ý tới “vật bất ly thân” lạ mắt mà anh đang gắn trên chiếc ô tô thân thuộc chứ không định tra vấn gì khác, Lê Tuấn Anh vui vẻ kể:

– Tôi lang thang trên mạng, tình cờ thấy giới thiệu sản phẩm công nghệ mới hay hay, ra mua về dùng thử, quá thích luôn! Không ngờ người Việt mình cũng làm ra được loại máy quá hay như zậy ! Khi quay lại chỗ mua để hỏi thêm vài chi tiết, tôi gặp một cậu chạy xe máy chở những hộp VinaPlay tới giao cho cửa hàng. Ngỡ cậu ta là nhân viên tiếp thị, tôi bật ngửa khi chủ tiệm cho biết Nguyễn Nguyệt Nam, chàng trai rất giản dị khiêm tốn ấy chính là “cha đẻ” của VinaPlay! Lại càng nể hơn khi khám phá ra cậu chính là con trai của kỹ sư Nguyễn Quyền- “Ông chủ nhà máy điện tư nhân đầu tiên của Việt Nam”, người mà tôi rất kính phục qua phóng sự trên báo Tiền Phong và chương trình “ Người đương thời” của VTV. Mấy khi con cái của đại gia lại chịu khó tự lập và say mê nghiên cứu khoa học zậy chứ ! Quý mến tài năng trẻ, tôi tự nguyện làm sứ giả vô điều kiện giúp quảng bá loại sản phẩm đặc biệt, hàng Việt chất lượng cao này. Tôi thấy kiểu dáng và chất lượng VinaPlay hiện đại chẳng thua gì hàng ngoại, so với hàng Trung Quốc thì vượt trội hẳn, giá cả vừa túi tiền với nhiều người, sử dụng cũng thấy rất OK nên đã góp ý với Nam nên bổ sung thêm bộ chuyển nguồn DC để tiện dùng máy trên xe hơi. Tôi giới thiệu VinaPlay cho bạn bè nghệ sĩ thường đi xa, ai cũng thích !

Từ lời kể của nghệ sĩ Tuấn Anh, tôi tiếp tục đi tìm người sở hữu bản quyền trí tuệ của VinaPlay,  phát hiện không chỉ có một mà đến hai kỹ sư trẻ.

Hai anh em tài năng, giàu khát vọng

Từ khi còn là học trò chuyên toán ở phố núi Buôn Ma Thuột, hai anh em Nguyễn Nguyệt Nam, Nguyễn Nguyệt Minh đã nuôi ước mơ sẽ tự mình tạo ra những sản phẩm công nghệ “made in Viet Nam.

VinaPlay - 2 anh em Nam & Minh

Năng nổ, giàu nghị lực, Nam nổi bật trong số kỹ sư điện tử viễn thông tốt nghiệp loại giỏi trường Đại học Bách khoa, được nhiều doanh nghiệp lớn trân trọng chiêu hiền đãi sĩ . Chăm chỉ tích lũy tri thức, kinh nghiệm và tinh thần làm việc bền bỉ của người Nhật qua những chuyến công tác luân phiên đi- về giữa Việt Nam- Nhật Bản để  đào tạo đội ngũ kỹ sư trẻ cũng như tham gia trong nhiều dự án phát triển máy ảnh kỹ thuật số , ước mơ đeo đuổi từ thuở nhỏ trong Nam ngày càng rõ nét. Sau 7 năm làm việc cho Cty viễn thông VTC và Cty phần mềm FPT, Nam quyết định cùng em trai Nguyệt Minh sáng lập Cty Giải pháp mạng Công Nghệ Thông Tin Xanh- Green IT Solution, dồn hết tâm sức vào việc nghiên cứu phát triển “rạp chiếu phim trong bàn tay” .

Xuất sắc không kém anh trai, Nguyệt Minh thuộc thế hệ 8X đã được đào tạo chuyên ngành khoa học máy tính với 5 năm kinh nghiệm làm việc ở những cương vị đáng nể trong ngành công nghệ thông tin Australia : Quản trị mạng cho Thượng Nghị Viện Australia tại bang Victoria ; Xây dựng và quản trị hệ thống chuyển mạch đa giao thức kết nối trụ sở Australia với Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ đồng thời là chuyên gia về hệ thống ảo hóa ứng dụng Citrix của tập đoàn Cadbury Schweppes; Chuyên gia phát triển ứng dụng Mirosoft CRM, Dynamics cho công ty đa quốc gia Health Brands v.v… Về nước cuối năm 2008, Nguyệt Minh thành cộng sự đắc lực cho Nguyệt Nam trong việc đưa VinaPlay từ phòng nghiên cứu ra ứng dụng trong cuộc sống, trở thành loại hàng “độc” trên thị trường .

Tự tạo sản phẩm công nghệ tốt nhất cho người Việt

Theo hai “ông chủ” trẻ của GreenIT, hàng trăm chủng loại máy nghe nhìn di động đang lưu hành trên thị trường thế giới có thể chia nôm na thành 3 nhóm chính:

Nhóm 1 gọi chung MP4 tương tự như chiếc IPOD hiện đại của hãng Apple, bên cạnh việc nghe nhạc còn hỗ trợ chức năng xem phim ảnh trực tiếp, thông qua màn hình LCD nhỏ gọn gắn kèm. Nhược điểm là màn hình quá nhỏ và dung lượng bộ nhớ hạn chế  không nâng cấp được ,  chỉ chứa được số lượng nhỏ phim ảnh.

Nhóm 2 có thể xếp ở vị trí trung gian gọi là SD HDD media-player: máy chiếu phim trên ổ cứng độ phân giải SD, giúp người dùng giải pháp thưởng thức phim ảnh mới thay thế cho cách xem phim ảnh truyền thống lích kích và tốn kém như trên DVD, VCD. Cũng dùng điều khiển từ xa và gắn vào tivi để xem phim ảnh, nhưng dữ liệu phim ảnh lại lưu trữ trên ổ cứng. Nhóm máy này khá phổ biến ở trên thế giới. Tuy nhiên những loại đã có trên thị trường hầu hết chất lượng không ổn định, hoạt động lâu rất nóng, dễ treo máy, đứng hình khi xem phim, không hỗ trợ phụ đề tiếng Việt nên chỉ người thành thạo ngoại ngữ mới sử dụng được.

Nhóm 3 thường gọi HD HDD media-player, tức máy chiếu phim trên ổ cứng độ phân giải cao ngang cỡ Bluray, thuộc dòng sản phẩm cao cấp chỉ vừa túi nhóm “dân chơi HD”, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức đầu tư,  giá đắt khó phổ biến rộng rãi ở Việt Nam.

Nắm bắt nhu cầu thực tế của thị trường, Nam và Minh chọn hướng phát triển VinaPlay ở phân khúc nhóm 2, với những cải thiện, nâng cấp đáng kể về phần cứng, phần mềm để có mẫu mã gọn đẹp, dễ sử dụng, hoạt động bền bỉ, ổn định liên tục, và đặc biệt là hỗ trợ cả phụ đề rời tiếng Việt để có thể phục vụ tốt cho đại đa số người Việt đang sống khắp nơi trên thế giới.

“ Trở ngại lớn nhất”

Được tung ra thị trường trong nước từ cuối năm 2009, kích thước nhỏ gọn đủ sức chứa hàng nghìn phim nổi tiếng thế giới trong ổ cứng dung lượng có thể lên đến 1500 GB, VinaPlay giúp người dùng tha hồ thưởng thức rất nhiều tác phẩm kinh điển .

Trả lời câu hỏi liệu có vướng víu gì về vấn đề bản quyền phim chép trong máy, Nguyệt Nam cho biết nguồn phim chép sẵn chỉ nhằm giới thiệu tính năng và khả năng họat động “tới hạn” của VinaPlay. Còn trong thực tế, khách hàng có thể thưởng thức kho tàng phim ảnh thế giới trên VinaPlay một cách hợp pháp : 1, Tải phim trên mạng internet bởi tài khoản Rapidshare, Itunes, Megaupload v.v… Sau đó chép nguồn phim này vào VinaPlay để san sẻ và thưởng thức trong gia đình. 2, Chép/lưu trữ/nén phim ảnh từ đĩa DVD mà họ sở hữu vào VinaPlay để thưởng thức phim ảnh mọi nơi, bất kể đó là phòng khách, phòng ngủ, nhà hàng, khách sạn hay trên xe đò xe buýt miễn có màn hình tivi, như giải pháp tối ưu và hiệu quả thay thế kho đĩa DVD dễ trầy xước cùng giàn máy cồng kềnh.

Tết dương lịch 2010, Nguyệt Minh cùng vợ mới cưới hưởng tuần trăng mật bằng xe đò quanh California, từ Los Angeles  sang San Francisco . Trên xe có hệ thống chiếu phim nhưng đĩa hỏng, giật và không có nhiều phim để luân phiên chiếu suốt chặng đường dài. Minh đưa  chiếc VinaPlay cho tài xế bật thử. Vô số tên phim hiện ra trên danh sách khiến đoàn khách rất thú vị, cùng bàn tán và nhất trí chọn phim ký hiệu 2012 phụ đề tiếng Anh để xem. Một vị khách nhanh miệng hỏi mua ngay chiếc máy tuyệt diệu  khi biết Minh là chủ công ty sản xuất. Một Việt kiều đến từ Atlanta hỏi kỹ về phim được hỗ trợ phụ đề Việt Ngữ và tính năng đa dạng của VinaPlay, ngỏ ý muốn mở đại lý bán sản phẩm này cho cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Loay hoay sắp xếp lại mặt bàn bề bộn dây nhợ máy móc trong phòng  nghiên cứu đặt trên tầng 3 trụ sở GreenIT (phường 4 quận Tân Bình TP Hồ Chí Minh) cho tôi chụp ảnh, Nguyệt Nam sôi nổi :  Trở ngại lớn nhất chúng tôi đang vượt qua là thuyết phục người tiêu dùng Việt Nam chuyển từ lối mòn dùng DVD, băng đĩa truyền thống sang xem phim trên thiết bị lưu trữ ổ cứng di động. Lịch sử công nghệ cho thấy máy MP3, Sony Walkman chiến thắng như thế nào trong “cuộc cách mạng” lật đổ máy nghe nhạc trên CD. Về lâu dài, giải pháp VinaPlay “kinh tế” hơn nhiều so với cách thức DVD, băng đĩa. Vượt qua “đối thủ” này, GreenIT sẽ tiếp tục cải tiến VinaPlay theo hướng hỗ trợ xem phim độ phân giải cao theo xu thế chung của thế giới.

VinaPlay lên núi

Ngay từ đợt hàng xuất xưởng đầu tiên, VinaPlay đã được GreenIT ưu tiên phân phối lên phố núi Buôn Ma Thuột, nơi còn đó mái ấm đầu đời với bao kỷ niệm thời thơ ấu của anh em Nguyệt Nam, Nguyệt Minh.

Trong những người nhận được gói quà đong đầy ân tình từ GreenIT, có một nhà giáo nổi tiếng về sự thông tuệ và nghiêm khắc,  từng đào tạo rất nhiều học sinh giỏi quốc gia môn tiếng Anh cho tỉnh: cô Huỳnh Huệ , giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Đắk Lăk. Sau nửa tháng suy ngẫm cùng VinaPlay, cô xúc động email cho tôi :

Với chiếc VinaPlay dung lượng ổ cứng cả nghìn GB, tôi đã tận hưởng những phút tuyệt vời giải trí xem phim nghe nhạc và cả lưu trữ tài liệu cho việc  dạy học, kết nối với máy tính và máy chiếu với phần mềm Power Point cho học sinh, sinh viên với tốc độ cao, dễ sử dụng cùng mọi thứ thiết bị  có màn hình và ngõ kết nối.  Đặc biệt là sản phẩm đã được Việt  hoá hoàn toàn. Thật xứng với tên gọi “rạp chiếu bóng trong lòng bàn tay”.

Niềm vui đến bất ngờ khi tôi được biết  người phát triển nên sản phẩm này là Nguyệt Nam, Nguyệt Minh, hai cậu học trò chuyên Toán năm xưa tôi từng dạy ở trường cấp II Phan Chu Trinh, Buôn Ma Thuột. Ngày ấy hai anh em giỏi cả Toán lẫn tiếng Anh, rất  thông minh năng động. Tôi đặt nhiều kỳ vọng vào các em và hạnh phúc sao, tôi đã không nhầm về điều đó …

Hoàng Thiên Nga

2 Ảnh :- Anh em Nguyệt Nam (ngồi), Nguyệt Minh xem phim với VinaPlay

– Poster “ Rạp chiếu phim trong lòng tay”

* Ghi chú: Bạn đọc cần tìm hiểu thêm có thể liên lạc với nam@greenitsolution.vn, 0913613837; hoặc minh@greenitsolution.vn, 0919 83 88 77.

Vàng son huyết lệ


Những ngày đầu năm 2010 đáng nhớ này, cuốn hồi ký độc đáo: “Vàng son huyết lệ” của Minh Phụng (1922 – 1989) do nhà xuất bản Phụ Nữ in ấn, Trung tâm văn hóa Tràng An – một địa chỉ tin cậy về phát hành sách văn học và giáo dục của Thủ Đô tổng phát hành, là món quà quí cho bạn đọc nói chung, bạn đọc trẻ và giới nữ nói riêng.

Nhà văn Tam Lang từng nói: “Đời của Minh Phụng là một cuộc đời giang hồ nhưng là đời giang hồ số một của nước Việt Nam!”. Đời của Minh Phụng mở đầu bằng một thiên tình sử để khép lại bằng một thiên tình hận – Hồ Dzếnh – Báo Thần Chung số 19)…

Cuốn hồi ký của một nhân vật sống cách đây hơn nửa thế kỷ với những ước mơ, khát vọng cháy bỏng mong có cuộc sống “vàng son” không có điểm dừng, để rồi ngậm ngùi trong “huyết lệ”, luôn mới trong thời đại hiện nay.

Có lẽ mong muốn của nhà xuất bản Phụ nữ đã gặp gỡ ý tưởng và tiêu chí của Trung tâm văn hóa Tràng An: Xuất bản và phát hành cuốn hồi ký, để thông qua đó, chuyển đến bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ thông điệp và những bài học quí giá từ cuộc sống. Giúp bạn đọc có thêm sự định hướng, phấn đấu vươn lên bằng cái tài, cái tâm của mình một cách chính đáng.

Nếu bạn chưa đọc cuốn hồi ký này, có thể sẽ coi đây là một cuốn sách bình thường. Nhưng nếu bạn may mắn có cuốn sách này trong tay, chắc chắn bạn sẽ đi từ ngạc nhiên này đến sự thích thú khác về cuộc đời đầy sóng gió của một người phụ nữ tài sắc và đa đoan một thời. Với nội dung phong phú, chân thực cùng bút pháp điêu luyện, tình tiết vô cùng hấp dẫn, có sức lôi cuốn người đọc ngay từ những trang đầu tiên của tập hồi ký. Bởi vậy ngay từ khi cuốn hồi ký mới ra mắt đã được đông đảo bạn đọc đón nhận và chuyền tay nhau.

Bạn đọc có thể mua trực tiếp tại Trung tâm văn hóa Tràng An: 54/ 171 Nguyễn An Ninh, Hoàng Mai, Hà  Nội. ĐT: 04 3664 7143 – 3662 1060 Fax: 04 6284 1316 Mobile: 0912 344 084

Để bạn đọc có thêm thông tin về cuốn hồi ký độc đáo này, tôi xin trích đăng dưới đây bài viết của Xuân Ba  trên báo Tiền Phong:

Người đàn bà Nguyễn Tuân vét cạn túi tặng hoa

Xuân Ba

Bây chừ gấp lại cuốn hồi ký mà tôi cho là lạ lẫn truân chuyên này, chợt bừng ra một cái à! Hóa ra giai thoại lâu nay về nhà văn Nguyễn Tuân là có thật! Đấy là có lần ông đã từng vét sạch tiền trong túi mua (và lại còn mua chịu nữa) tất tật số hoa của những quầy hoa ở bờ hồ Hoàn Kiếm đêm ấy để tặng cho một người đẹp.

Người được tặng nhiều hoa nhất không hề khuyết danh và có niên biểu hẳn hoi. Đó là một đêm mùa xuân năm 1938. Người nhận hoa là Minh Phụng, diễn viễn chính thể hiện vở Kiều Loan của thi sĩ Hoàng Cầm.

Minh Phụng lúc 40 tuổi

Minh Phụng là ai? Là một nữ sĩ. Một nữ sĩ không thường của những năm ba bốn mươi thế kỷ trước. Nói như Tam Lang, “Đời của Minh Phụng là một cuộc đời giang hồ nhưng là đời giang hồ số một của nước Việt Nam!”.

Còn thi sĩ Hồ Dzếnh viết: “Đời của Minh Phụng mở đầu bằng một thiên tình sử để khép lại bằng một thiên tình hận” – (Báo Thần Chung số 19). “Phụng là người trí thức, trí thức giang hồ. Sống như Phụng mới là người biết sống” (Lê Văn Trương, năm 1937)…

Một nhà xuất bản lớn ở Hà Nội đang chuẩn bị cho ra mắt cuốn hồi ký độc đáo của nữ sĩ họ Trịnh có tên là Minh Phụng này. Cuốn hồi ký có tên là Vàng son huyết lệ.

Từ gái quê thành sao sân khấu

Cô gái quê mười lăm tuổi ấy có tên là Nụ, Trịnh Thị Nụ sau đổi tên là Hoàng Minh Phụng là út trong gia đình có 7 anh chị em quê ở Tứ Kỳ, Hải Dương. Bố là một nhà nho làm nghề dạy học. Mẹ buôn bán lặt vặt, gia sản cũng chỉ đủ cho việc chi tiêu tùng tiệm. Nhưng được yêu chiều từ nhỏ, Phụng được đi học chữ nghĩa, không biết được mấy hột nhưng thuộc làu những cuốn sách của Tự Lực Văn Đoàn như Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Tố Tâm, Đời mưa gió…

Tâm hồn đa cảm trong một nhan sắc sớm trội nổi, cô gái quê mười lăm tuổi ấy thấy những lũy tre làng như những hàng rào giam hãm. Những ao chuôm như những huyệt mộ chôn vùi tuổi xuân.

Lại nghe phong thanh mình sắp bị gả cho một đám tầm thường, một sáng tinh sương, cô bé Nụ cắp nách hai bộ áo sống, cắp luôn tám trăm đồng bạc mà mẹ cô vừa bán mấy mẫu ruộng để chi dùng vào một việc quan trọng của gia đình, đáp tàu trốn lên Hà Nội, một nơi mà cô chưa từng đặt chân, chưa từng biết! Mới đầu cô bé Nụ tá túc ở nhà một bà bán bánh cuốn.

Làn gió độc xứ cát bụi kinh thành đã cuốn cô đi. Mới đầu là việc đi học nhảy… Rồi các mối quan hệ quen biết chồng chéo khi đã thạo các điệu nhảy (Nụ rất có khiếu trong môn này).

Những vũ trường nổi tiếng ở Hà thành khi đó mỗi đêm đều ngong ngóng cô Nụ, lúc này đã có tên mới là Hoàng Minh Phụng, xinh đẹp nhảy giỏi. Các con quan, các cậu ấm, lại cả những ông Phủ, ông Huyện… thay nhau bao Phụng.

Rồi Phụng thất thân với một công tử bộn bạc xứ Hà thành vào một đêm mưa ở Đồ Sơn. Phụng có khiếu như cô Kiều, hễ đụng vào tay đàn ông nào thì y như rằng đời người đàn ông đó cũng tan nát!

Biết bao đám lăn lóc với Phụng. Từ ăn uống đến mọi khoản chi tiêu xa hoa, họ đều lăn xả vào mà trả (trích hồi ký). Trong số đó, dám lăn xả hay có ông nào chết vì Phụng hay chưa thì không rõ, nhưng do lãng mạn, do liên tài, Phụng chơi thân với hầu hết đám văn nghệ sĩ nổi danh của Hà thành lúc đó, ngoài ba ông mà tôi vừa dẫn trên đây và thêm nhà viết kịch Thế Lữ, thi sĩ Hoàng Cầm đa tình còn có nhà văn Nguyễn Tuân khinh bạc của chúng ta.

Nguyễn Tuân buột ra đi mua hoa sau khi thốt lên với đám bạn trong đó có Thế Lữ về cái tài nghệ dù chỉ là diễn góp vui của Phụng trong vai Kiều Loan như thế này: “Trời ơi, Phụng tài quá! Nó giỏi, nó thông minh. Nó không phải là hoàng hậu mà sao nó giống hệt một bà hoàng?

Nó cau mày, nó cười nhạt, nó nghiến răng, nó ôm hoàng tử trong tay. Nó ghen, nó đau khổ”… (trích hồi ký). Ba đêm liền Phụng thủ vai Kiều Loan ở Nhà hát Lớn như thế. Rồi những đêm nổi danh thủ các vai chính của Lệ Chi Viên, những Đêm Phong ba của Vi Huyền Đắc…

Nhưng Phụng chỉ chơi chơi vậy thôi, không có nhập một đoàn hát nào cả… Năm 1941, Khái Hưng tặng thơ cho Phụng trên một tờ báo: Yêu khách giang hồ yêu tha thiết/ Biết người khuê các biết vu vơ…

Tưởng kiếp giang hồ ấy neo đậu bền bền với đám cưới một cậu ấm thuộc loại danh gia vọng tộc, nhưng trời đã bắt tố chất giang hồ nồng nàn, dào dạt trong huyết quản rồi, Phụng đâu có yên!

Thời gian sẽ cho tôi không sầu khổ và chỉ còn lại những quên. Cái nhớ nhung khác lạ mới là đời! Có gian nan mới biết mùi nhân thế… (trích hồi ký) .

Giang hồ số một

Phụng theo một cô bạn lên máy bay chuyển vũ khí cùng với một tốp phi công, quân của Tưởng Giới Thạch từ Gia Lâm vù sang Côn Minh. Cái duyên ông Trời se, cái que ông Giời buộc, lớ ngớ thế nào mà ông tướng Tỉnh trưởng Vân Nam vừa ngó thấy Phụng đã lăn lóc.

Cái lăn lóc của thứ đàn ông bộn bạc nhưng chung tình. Ông tướng ấy bay ngay sang Gia Lâm, đến Hà Nội sau chuyến bay của Phụng chỉ một ngày. Và diễn ra cuộc hội ngộ của vị tỉnh trưởng này với Phụng tại một nơi kín đáo.

Trên chuyến bay đặc biệt trở về Côn Minh ngày hôm sau, sánh vai cùng vị tỉnh trưởng đầy quyền lực ấy là Phụng. Dưới cánh bay kia là dòng Hồng Hà ngầu đỏ mênh mông.

Mà trên bờ là Hà thành một biển người trong đó có người chồng khù khờ nhưng chân tình của Phụng lẫn cái danh gia vọng tộc của nhà chồng tha hồ mà ngóng đợi.

Những ngày ở Côn Minh Phụng đã cháy sáng hết mình tài lẫn sắc trong những cuộc tiếp tân tiệc tùng liên miên cùng vị Tỉnh trưởng Vân Nam.

Có một chi tiết phải lấy ra đây trong tập hồi ký cồm cộm chật cứng các chi tiết sinh động ấy là trong buổi tiếp viên lãnh sự Pháp ở Côn Minh, Phụng đã nhõng nhẽo nhưng cương quyết với các quan khách rằng đòi được mặc Quốc phục (áo dài Việt Nam), đòi phải được treo cờ của nước Nam (?) không thì kiên quyết bỏ về không dự tiệc.

Việc xảy ra quá đột ngột, sợ viên Tỉnh trưởng uy quyền mất lòng, viên lãnh sự Pháp ở Côn Minh phải đứng ra dàn xếp đại ý, thưa bà tỉnh trưởng hiện nay bên nước bà đang xảy ra nội chiến(?) chưa rõ bên ông Hồ Chí Minh hay bên Pháp thắng nên chúng tôi tạm thời chưa dám treo cờ của bên nào (!)

Đàn ông mê nàng một nhẽ. Không thiếu quý bà quý cô các mệnh phụ phu nhân cũng mê Phụng mới lạ. Cuộc gặp hay cuộc đối thoại giữa vợ viên Tỉnh trưởng Vân Nam bay từ California (Mỹ) về với Phụng cực giàu kịch tính và rất sinh động. Kết thúc cuộc gặp ấy là nước mắt và tình thân ái.

Cuộc đời nhung lụa bên vị tướng thét ra lửa ấy không buộc được Phụng. Cô tranh thủ đi Nam Kinh, đi Thượng Hải và những thành phố những danh lam thắng cảnh khác của Trung Hoa rồi khẳng khái từ biệt tướng quân tỉnh trưởng…

Phụng lang thang tiếp ở Quảng Đông rồi không may sa vào một toán cướp. Nhưng thân không bại mà danh cũng chẳng liệt và kiếp giang hồ lại chói sáng hơn ở Hồng Kông trong những hộp đêm, thậm chí cô còn đoạt giải nhất trong cuộc thi sắc đẹp ở đó.

Rồi cuộc tiếp kiến với Cựu hoàng Bảo Đại đang lang thang ở đó. Rồi vinh dự được mời cắt băng khánh thành một đại lộ mới xây to nhất Hồng Kông.

Nhất Linh Nguyễn Tường Tam hồi có mặt ở Hồng Kông đã gặp Phụng và tặng thơ: Một đóa hoa danh lạc đất người/ Trăm hoa thua kém sắc xuân tươi/ Hương ngát một trời/ sắc dậy một thời/ Quân vương ngây ngất mộng uyên đôi. Hồng Công ngày 9/6/1950 ( trộm nghĩ, quân vương đây có phải là Cựu hoàng Bảo Đại đa tình không nhỉ?).

Rồi lại tiếp những cuộc tình với những tay có máu mặt lẫn vô danh. Phụng đi Nhật, đi vài nước ở Đông Nam Á do các nhà tài phiệt bao. Phụng đi đánh bạc ở Macao. Rồi suýt chết (Phụng dám tự tử) trong cuộc hôn nhân với một cự phú người Hoa ở Hồng Kông.

Lại suýt chết trong một vụ cướp biển. Nhưng số Phụng chưa đứt bởi đoạn trường của kiếp giang hồ giời còn bắt diễn. Lại cắm chân rất chắc trong những hộp đêm nổi tiếng ở Hồng Kông. Đùa cợt trêu ngươi những gã cự phú ở Trung Hoa lục địa bằng những đám cưới mà Phụng giả vờ gật.

Thế rồi bỏ, bỏ hết thời vàng son. Phụng đáp máy bay về Hà Nội đúng thời điểm chuẩn bị Hiệp định Geneva. Phụng khi đó đã hơn ba mươi nhưng nhan sắc hẳn còn mặn mòi.

Phụng quyết định không xê dịch tiếp chả biết có phải do nghe lời thi sĩ TCHYA Đái Đức Tuấn khi gặp Phụng ở Trùng Khánh năm 1947 không? TCHYA thừa biết Phụng không phải là tên loài chim Phượng như người phương Nam gọi là Phụng mà Phụng đây là phụng sự, là dâng nhưng thi sĩ năm ấy đã tặng người đẹp mấy câu thế này:

Phụng bay bay bốn phương trời/ Phụng về Phụng đậu giữa đời loạn ly/ Phụng thề Lão Bích Ngô Chi/ Phụng ơi Phụng hỡi bay về cố hương. (Trùng Khánh ngày 17/10/1947)

Cuốn hồi ký kết thúc bằng những năm tháng nữ sĩ này sống ở Sài Gòn. Lại có một cuộc hôn nhân nữa, nhưng hình như cũng không bền. Hơi văn cùng con chữ dường như ảm đạm nhọc nhằn hơn bởi việc kinh doanh một nhà hàng luôn trục trặc cũng như căn bệnh hiểm nghèo nhiều năm mà nữ sĩ mắc phải. Bà trút hơi thở cuối cùng vào năm 1989, được 67 tuổi trời.

Hơn bốn trăm trang đánh máy khổ A4. Nếu như dàn hết lên khổ in 13×19 cm như vẫn thường thấy thì phải hơn sáu trăm trang in. Cuốn mà tôi đang cầm đây, sao từ bản đánh máy, các trang đã ngả màu vàng bệch của thời gian.

Có ít nhất 4 người khiến cho cuốn hồi ký về số phận giang hồ này trở nên long đong trục trặc kể từ khi tác giả Vàng son huyết lệ giã biệt cõi đời. Người thứ nhất là Giáo sư Văn Tạo – nguyên Viện trưởng Viện Sử học.

Tháng 5/1977, GS Văn Tạo cùng đoàn cán bộ khoa học xã hội vào công tác ở Sài Gòn khi đó mới giải phóng. Tình cờ GS được gặp nữ sĩ Minh Phụng là người làng. Nữ sĩ khi đó mới ngoại ngũ tuần, như GS cho hay là hẵng còn dễ nhìn lắm…

GS Văn Tạo kém bà 4 tuổi. Trong câu chuyện hàn huyên giữa hai người làng, GS mới biết cụ thể tường tận thêm về quãng đời giang hồ lưu lạc sau này của nữ sĩ họ Trịnh mà trước ông chỉ nghe mang máng cái cô Nụ bỏ làng ra đi rồi biệt tích. Quá vãng bỗng ập về một cách rành rọt.

Thì ra bà đã thay tên đổi họ… Hoàng Minh Phụng tức là Trịnh Thị Nụ, con cụ Lý Đoài tức Trịnh Văn Đoài, gốc từ xứ Thanh ra. Nét văn hóa của gia đình ông Lý Đoài được ghi lại cả ở việc đặt tên cho con bằng vế câu đối Đoài, Trà, Cầm, Mãng, Vinh, Hoa, Nụ để đối với một nhà khác cũng thuộc loại có máu mặt trong làng là Giảng, Đàm, Nghị, Luận, Ái, Hằng, Nga.

Câu chuyện của bà Phụng đã khiến GS thương cảm. Ông gợi ý bà là bây giờ hòa bình thống nhất rồi, mai kia bà nên bố trí thu xếp về thăm lại quê nhà sau bao năm biệt tích. Biết bà thông thạo nhiều ngoại ngữ qua nhiều năm lưu lạc ở xứ người như tiếng Anh, Pháp, Hoa, Quảng Đông (Quan Hỏa), lại có tập thơ mấy trăm bài, tính tình lại cởi mở, mai kia có điều kiện bà nên chép lại câu chuyện của mình như dạng hồi ký kể ra cũng thú vị?

Điều thứ nhất thì sau này bà đã thực hiện tức là về thăm lại quê ở thị trấn Tứ Kỳ. Còn điều thứ hai, cũng chỉ là gợi ý cho vui thôi nhưng bà Minh Phụng đã làm thật. Bốn trăm trang cuốn Vàng son huyết lệ được bà hoàn thành như trang cuối bà ghi là vào tháng 5 năm 1980.

GS Văn Tạo không biết rằng, sau này cuốn hồi ký của bà Phụng đã được ký thác cho một người khác. Người đó là Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, bạn thân của học giả Nguyễn Hiến Lê, một học giả nổi tiếng của Sài Gòn trước giải phóng chuyên biên khảo phả trạng mà bây giờ ta gọi là nhà gia phả học.

Công trình biên khảo nghiên cứu gia phả các dòng họ danh tiếng như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Hoàng, Trịnh Kiểm, Bùi Viện, Phan Thanh Giản, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Quý Ly, Mạc Đĩnh Chi vv… của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ trước năm 1975 và sau này đã được giới gia phả học quốc tế đánh giá rất cao.

Tôi đã nghiên cứu nhiều tài liệu gia phả học của nhiều nhà khoa học. Đây là những tài liệu lỗi lạc – GS Richard C.Beals, nhà phả trạng học Hoa Kỳ đã nhận xét về công trình của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ như vậy. Thời điểm bà Phụng gặp và quen thân với nhà phả trạng học này không rõ cụ thể như thế nào và bao lâu, nhưng chắc mối quan hệ giữa hai người khá thân thiết.

Bà đã ghi trong một trang của cuốn hồi ký như thế này: Tin tưởng ký thác anh Dã Lan Nguyễn Đức Dụ cuốn hồi ký độc nhất của tôi. Sau này, anh hoàn toàn sử dụng vào một thời điểm thích hợp để mai sau con cháu chúng ta biết rõ thăng trầm của một người sương phụ đại bất hạnh. Saigon 24-4, năm Tân Dậu, tức là ngày 27-5-1981.

8 giờ sáng, viết trong lúc đang lâm trọng bệnh.

Ông Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đã trân trọng đón nhận cuốn hồi ký viết tay và tỷ mẩn đánh máy. Bốn trăm trang hồi ký! Thú thật tôi chưa từng thấy tập bút ký nào như thế, không phải độ dầy mà lạ! Chuyện chép hồi ký thiếu gì các chính khách lừng danh Nixon, Churchill, Charles De Gaule, Hitler…

Có điều các chính khách hay những danh nhân khác thường hay nói tốt cho mình nhiều hơn chớ mấy ai như chị lại đem phô bày hết những cái xấu xa trụy lạc của mình ra. Tôi rất thán phục chị phải can đảm lắm mới viết ra như thế. Minh Phụng quả không hổ thẹn dòng dõi Nho gia.

Chị là một phụ nữ đủ tài sắc. Tuy chị là gái nhảy chả tên tuổi gì, nhưng để lại một tập bút ký như thế với mấy trăm bài thơ là đủ cho đời sau nhắc đến chị rồi (trích bài viết về Minh Phụng của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ trên tập san Sóng Toronto– Canada xuất bản tháng 5 năm 1992).

Ảnh nghệ thuật – Nguyễn Hương Vượng (Đắk Lắk)

Chào các bạn,

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Hương Vượng (Đắc Lắc) đoạt 4 giải thưởng cao tại cuộc thi ảnh nghệ thuật “64 rd Hong Kong International Salon of Photography 2009”.

Gửi 4 tác phẩm dự thi ở thể loại ảnh digital, NSNA Nguyễn Hương Vượng đã giành được 4 giải thưởng:

– Giải về bộ ảnh đẹp nhất (Best Set of Entries),

– Huy chương vàng của Liên đoàn Nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế (FIAP Gold Medal) cho tác phẩm “Mặt nạ”,

– Huy chương vàng của Hội Nhiếp ảnh Hoa Kỳ (PSA Gold Medal) cho tác phẩm “Chiếc dù đỏ”,

– Huy chương đồng Hồng Kông (PSHK Bronze Medal) cho tác phẩm “Bà nội”.

Xin giới thiệu đến các bạn bốn tấm ảnh này dưới đây, cùng một số các tấm ảnh nổi tiếng khác của anh Vượng.

Chúc mọi người một ngày tươi vui !

Trần Can

Tai Họa

Bà Nội

Dù Đỏ

Mặt Nạ

Xem thêm tại Ảnh Hướng Thượng >>>

Lễ rước dâu độc nhất vô nhị bằng 20 chú voi

Mời các bạn đọc một bài viết về một đám cưới với lễ rước dâu vô cùng độc đáo được tác giả Hoàng Thiên Nga tường thuật, với những hình ảnh minh họa đẹp của Kỹ sư Nguyễn Quyền.

Về kỹ sư Nguyễn Quyền, những người dân Balme không mấy ai chưa nghe đến tên ông như Ông chủ nhà máy điện tư nhân đầu tiên ở Việt Nam, được giới thiệu trên báo Tiền Phong (2006).Đài THVN đã làm 2 chương trình Phóng sự Nhân Vật & Người Đương Thời về ông, Đài PTTH DakLak cũng có mấy chương trình phỏng vấn ông.

Hiện tuổi gần 70, ông vẫn làm việc không ngưng nghỉ, giải trí bằng niềm đam mê nhiếp ảnh, với bốn cậu con trai thành đạt, giỏi giang.

Các bạn sẽ biết thêm về người kỹ sư là chuyên gia hàng đầu VN về thủy điện vừa và nhỏ một ngày gần đây trong Mục Chứng Nhân của ĐCN.

Huỳnh Huệ
.

Lễ rước dâu độc nhất vô nhị bằng 20 chú voi

Chủ nhật 24-1-2010, tức mồng mười tháng chạp âm lịch Kỷ Sửu, tại huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk đã diễn ra một lễ cưới với nghi thức đưa dâu rất đặc biệt.

Gái huyện Lăk trai Bảo Lộc rất đẹp đôi trên lưng voi

Cô dâu Đặng Thị Họa Mi – kiều nữ huyện Lăk, nay là nhân viên Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đà Lạt , chú rể Lê Mạnh Thắng – tài nam Bảo Lộc đang là cảnh sát giao thông tỉnh Lâm Đồng.

Cả hai đều là con đầu lòng, giỏi giang tài sắc, niềm tự hào của hai họ nên đã được cha mẹ đôi bên quyết định tổ chức một lễ cưới độc đáo, vui vẻ không đâu sánh bằng.

Đội voi đẹp nhất của tỉnh Đăk Lăk rước dâu

Bố của cô dâu in tên trên thiệp cưới là Đặng Vân Long, còn tên cúng cơm ít người biết là Đàng Năng Long, tổng quản 7 con voi trẻ khỏe, đàn voi gia đình hùng hậu nhất Việt Nam hiện giờ.

Ông nội cô dâu là Đàng Nhảy, chồng thứ hai của bà Sao Thong Chăn – người phụ nữ duy nhất làm nghề buôn voi (Phóng sự “Mỹ nhân buôn voi”), từng giúp Chính phủ Cách mạng mua voi tặng các nước có quan hệ ngoại giao. Gia phả phía cô dâu có hơn 5 đời làm nghề thuần dưỡng, nuôi dạy và mua bán voi.

Đoàn rước dâu diễu hành qua thị trấn Liên Sơn.

Chín giờ sáng, sau lễ gia tiên long trọng tổ chức tại nhà gái ở 27 N’Trang Lơng, thị trấn Liên Sơn, đoàn rước dâu khởi hành. Một đài voi chắc chắn được dựng sẵn trước sân, 20 con voi khỏe đẹp nhất của huyện Lăk xếp thẳng hàng, lễ phép cúi đầu chờ đợi.

Quan viên hai họ lần lượt thượng đài rồi từng đôi bước sang bành voi gắn trên chiếu lụa đỏ rực lộng lẫy.

Đoàn đưa dâu diễu hành hơn một cây số qua thị trấn, thẳng tiến tới khu du lịch buôn Jun ven hồ Lăk. Tại đó, phông rạp đã dựng sẵn, mâm bàn đã bày dưới gầm nhà sàn, âm thanh cồng chiêng tưng bừng rộn rã.

Trai tài gái sắc trong lễ cưới

Trong hơn 600 quan khách được mời dự tiệc, có Gru (thợ săn voi giỏi) Ay Ngơn xã Ea Rbin, huyện Lăk, Gru Ama Bích ở Buôn Đôn là rể trưởng thay mặt gia đình Vua Voi Ama Kông.

Còn ông Lê Văn Quyết người dân tộc M’Nông nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh về hưu ở huyện Lăk, hiện cũng là chủ sở hữu 2 con voi thì vui vẻ thay mặt nhà gái tiếp quan viên hai họ.

Ông cho biết đồng bào M’Nông từ xa xưa đã có tục đưa voi đi rước dâu, tuy nhiên chưa bao giờ có đám cưới nào huy động tới 20 voi đông đúc như thế này!

Cồng chiêng không thể thiếu trong tiệc cưới

Tiệc cưới diễn ra thân mật, đầm ấm, gọn ghẽ, mang ấn tượng đẹp về văn hóa độc đáo của cả xứ Voi Đăk Lăk lẫn xứ Hoa Lâm Đồng. Tan tiệc, hai họ lại lên lưng voi tiễn dâu đến hết thị trấn. Tại đó, đoàn ô tô phía đàng trai đã chờ sẵn để đón dâu qua vùng đất bạt ngàn trà Bảo Lộc.

Phía sau những du khách thích thú cưỡi voi dạo chơi bên hồ Lăk trong nắng gió cao nguyên hào phóng, thấm đẫm phong vị yên vui thời đất nước thanh bình.

Hoàng Thiên Nga

Ảnh chụp ở Hồ Lăk chia sẻ với Vườn Chuối

HTN và con gái Thiên Thảo, 13 tuổi
Bên cạnh cây Kơ-nia - Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Quyền và Thiên Hải, lớp 1, con trai của HTN
Thiên Hải và mẹ

Có một giấc mơ Voi

TP – Một sáng mùa xuân, chàng Gru Buôn Đôn có mặt ở Trung tâm bảo tồn Voi bên bờ Sêrêpôk để thuần dưỡng lũ voi con thông minh khỏe mạnh. Cạnh đó, đàn voi già được chăm sóc chu đáo trong bệnh viện.

Giữa đại ngàn Yok Đôn, các cô cậu voi trưởng thành thong thả dạo chơi, yêu đương, sinh nở… Đó là giấc mơ có khả năng trở thành hiện thực của dự án bảo tồn voi sắp trình lên chính phủ.


Đếm từng dấu chân voi...

Từ hơn bốn năm trước, tháng 5 – 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 733, phê duyệt kế hoạch “Hành động khẩn trương đến năm 2010 để bảo tồn voi ở Việt Nam”, giao nhiệm vụ cho ba tỉnh Nghệ An, Đồng Nai, Đăk Lăk triển khai xây dựng dự án bằng nguồn ngân sách.

Được gọi là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới”, nhưng dù rất cố gắng tìm kiếm, cho tới cuối năm 2008, dự án bảo tồn voi (BTV) do Vườn Quốc gia Phù Mát xây dựng cũng chỉ đếm được 15 con voi hoang qua ảnh chụp trong vùng rừng phía Tây Nghệ An.
Sau đó, phát hiện thêm hình như có 2 voi rừng con mới chào đời. Đầu năm 2009, lãnh đạo tỉnh Nghệ An đã thông qua và đồng ý với 5 phương án hành động BTV của dự án. Riêng tỉnh Đăk Lăk đã 2 lần triển khai lập dự án BTV.

Lần thứ nhất, đề án bảo tồn và phát triển đàn voi nhà do GS.TS Lê Huy Bá cùng nhóm cộng sự thuộc Trung tâm Sinh thái- Môi trường và Tài nguyên được Sở Thương mại – Du lịch tỉnh đặt hàng nghiên cứu trong thời hạn 1 năm, đã được lãnh đạo tỉnh nghiệm thu tháng 10-2007.
Đề án này còn nằm trên giấy thì Chi cục Kiểm lâm tỉnh lại được cấp trên giao nhiệm vụ lập dự án bảo tồn cả voi nhà lẫn voi rừng. Trên cơ sở đề án có sẵn, dự án lần hai được nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bảo Huy trường Đại học Tây Nguyên đào sâu, mở rộng, mở hội thảo tham vấn cộng đồng vào giữa tháng 12-2009.

Bằng phương pháp điều tra theo tuyến, điểm habitat (nơi có sinh cảnh đặc biệt voi thường lui tới), đo đếm phân tích vết chân và phân voi để xác định số voi theo tuổi và giới dựa vào kinh nghiệm của đồng bào bản địa, lập sơ yếu lý lịch từng con… Nhóm nghiên cứu đã xác định trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk còn khoảng 83 đến 110 con voi hoang dã, và 61 voi nhà.

Ở tỉnh Đồng Nai, nhiệm vụ “hành động khẩn trương” còn trầy trật hơn. Suốt mùa khô 2009, trong lúc các sở ngành còn tranh cãi gay gắt xem khoản kinh phí 108 triệu đồng dành cho quy trình khảo sát thực hiện dự án BTV có thể lấy từ đâu, đã có tới 6 con voi rừng bị chết không rõ nguyên nhân và thủ phạm.
Kéo qua đầu năm 2010, cán bộ Chi cục vẫn còn miệt mài viết dự thảo, dự kiến sang tháng hai quá trình gọt giũa, bảo vệ dự án mới hoàn tất để trình lãnh đạo tỉnh.
Ông Lê Việt Dũng, Chi cục phó chuyên trách mảng Bảo tồn của CCKL tỉnh Đồng Nai cho biết, tại thời điểm này, trong hơn 100 nghìn ha rừng ở Đồng Nai lẩn khuất chừng 11 đến 14 con voi. Chi cục trưởng Nguyễn Văn Thịnh than xót: Tiếc quá, nếu chương trình BTV được triển khai sớm hơn, số voi hoang dã của Đồng Nai không tới nỗi giảm mạnh thế này.

Trông voi người, xót voi ta

Trong 8 nước có nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng từ lâu đời ở khu vực châu Á là Ấn Độ, Sri Lanca, Bangladesh, Thái Lan, Myanma, Nepan, Việt Nam, hai quốc gia có công nghệ tiên tiến về chăm sóc nuôi dưỡng voi là Thái Lan và Sri Lanca.

Từ năm 1969, Thái Lan đã thành lập Trung tâm thuần dưỡng voi châu Á đầu tiên trên thế giới. Gần 10 năm qua, Viện Voi Quốc gia đặt ở tỉnh Lampang dưới sự bảo trợ thuận lợi của Hoàng gia Thái Lan, hoạt động mạnh với các dự án :
Bệnh viện voi, Đội cứu hộ voi, Đội khám chữa bệnh lưu động cho voi trên khắp đất nước, Đào tạo quản tượng, Dạy voi vẽ tranh và làm xiếc, Sản xuất biogar và giấy từ phân voi v.v…

Đặc biệt, Trung tâm nghiên cứu của Viện liên kết với khoa thú y trường đại học Chiang Mai và Kasetsart đã nghiên cứu thành công quy trình thụ tinh nhân tạo cho voi, mở ra hướng phát triển mới cho voi châu Á. Trên diện tích 122 ha của Viện Voi, hiện nay 83 con voi ngày ngày được nuôi dưỡng dạy dỗ cẩn thận để bảo tồn giống nòi và… trở thành nghệ sĩ!

Trại voi Pinnawela của quốc đảo Sri Lanca được xây dựng năm 1975, với nhiệm vụ ban đầu là chăm sóc 5 bé voi con hoang dã lạc bầy. Nay trại đã phát triển thành một Trung tâm sinh sản bảo tồn voi, với 86 con voi đa số trẻ khỏe, thu hút đông đảo du khách trong ngoài nước đến ngắm voi, xem voi con được cho bú dặm bằng sữa bình tới 5 lần mỗi ngày, hoặc cưỡi voi đi dạo thong dong dưới bóng mát vườn dừa.
Voi ốm được chăm sóc kỹ lưỡng bằng các phương tiện y tế chuyên dùng cho voi như máy chụp X-quang, siêu âm chẩn đoán, theo dõi thân nhiệt, chích vac xin, tẩy giun, cho uống kháng sinh, bôi thuốc sát trùng, nhỏ mắt…

Tại Malaysia, từ năm 1974 tới nay Ban Quản lý voi thuộc Sở Động vật hoang dã đã chuyên tổ chức các cuộc di chuyển voi từ nơi dễ xung đột với người đến các vùng rừng quốc gia rộng lớn phía đông. Nhờ vậy, khoảng 500 con voi được di cư thành công. Tại Ấn Độ, chính phủ cho thực hiện Dự án voi từ năm 1992 với 25 trung tâm BTV Ấn được thành lập.

Vương quốc Nepal ngoài việc xây dựng nhiều khu bảo vệ và nuôi voi, còn đầu tư huấn luyện voi nhà vào mục đích giám sát bảo tồn voi hoang dã. Các Trung tâm BTV của Indonesia vài năm gần đây đã bắt đầu lúng túng với việc trở nên quá chật chội, không còn đủ chỗ chứa voi…

Tiến sĩ Cao Thị Lý, giảng viên trường Đại học Tây Nguyên, trong dịp tập huấn 1 tuần về Sức khỏe và sinh sản voi châu Á tổ chức tại Sri Lanca đã thu thập được nhiều thông tin, kiến thức và các mối quan hệ quý giá cho dự án BTV Đăk Lăk.
Chị cho biết, bên cạnh cơ chế chính sách điều hành thông thoáng hiệu quả, Thái Lan và Sri Lanca còn chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ thú y chuyên về cứu hộ động vật hoang dã, làm việc với tinh thần đầy tâm huyết và trách nhiệm.
Bộ môn thú y ở ta trước chỉ giảng dạy về gia súc gia cầm, gần đây mới bổ sung 30 tiết kiểu cưỡi ngựa xem… voi về mảng kiến thức này cho sinh viên .
Nhớ chuyện bé voi Khăm Bun với cái chân thương tật suýt bị cưa, tới bây giờ vẫn tù đày trong xích xiềng trường kỳ giữa thủ đô mà tội nghiệp. Nhưng dẫu sao Khăm Bun còn may mắn chán so với nhiều đồng loại khác đã được, hay bị thuần dưỡng ở xứ mình, đang ngày càng mòn mỏi suy kiệt do thiếu dinh dưỡng, bị khai thác quá mức cho trình diễn, du lịch và lễ hội; bị cưa ngà và nhổ lông đuôi đầy đau đớn, thậm chí xúc phạm tận thâm sâu bản chất kiêu hãnh của những Ông Tượng chúa tể rừng già.

Bởi Khăm Bun nổi tiếng hơn cả với lý lịch trích ngang đặc biệt, là một trong vài chú voi con xinh xắn đáng yêu cuối cùng bị săn trái phép giữa Vườn Quốc gia, đánh động dư luận tới mức văn phòng Thủ tướng phải ký lệnh giao về cho Liên đoàn Xiếc trông nom…
100 tỉ đồng cho tương lai voi Việt
Dự án BTV Nghệ An dự trù kinh phí hơn 11 tỉ đồng trong 5 năm 2009 – 2013 cho các giải pháp bảo tồn giám sát, truyên truyền quảng bá, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phục hồi sinh cảnh voi rừng, chống xung đột giữa người và voi.

Dự án BTV Đồng Nai dự kiến cần có 30 tỉ đồng trong 10 năm triển khai, ngoài những chương trình hành động tương tự Nghệ An còn chú trọng xây dựng các đội phản ứng nhanh, lập hàng rào điện tử ở vùng dân cư hay bị voi phá.
Riêng phương án mua khoảng bốn voi nhà từ Buôn Đôn về đồng bằng để xua đuổi voi rừng còn đang tiếp tục cân nhắc, trên cơ sở tiếp thu những ý kiến chắt lọc từ cuộc hội thảo BTV do Bộ Nông nghiệp & PTNT tổ chức ngày 26 – 11 – 2009 tại Vườn quốc gia Cát Tiên.
Giấc mơ voi hoàn hảo hơn trong dự án BTV Đăk Lăk, với khoản kinh phí dự trù hơn 58 tỉ đồng, dự kiến triển khai từ năm 2010 – 2014 nếu được lãnh đạo tỉnh và Chính phủ thông qua, bắt đầu từ việc xây 2 trạm BTV ở nơi voi thường xung đột với người ở 2 huyện Ea Súp và Lăk; đồng thời nhanh chóng gửi cán bộ đi đào tạo, học tập kinh nghiệm ở Thái Lan, Ấn Độ, Sri Lanca .

Một Trung tâm BTV Đăk Lăk được phác thảo trên diện tích 200 ha thuộc phân khu hành chính dịch vụ của Vườn Quốc gia Yok Đôn, giáp sông Sêrêpôk.
Trong đó, 100 ha rừng khộp được dành cho việc chăn thả và tạo môi trường tự nhiên kín đáo để voi tự do giao phối, phần diện tích còn lại sẽ xây dựng một bệnh viện voi, nhà cung cấp thức ăn và chăm sóc voi, ươm trồng bảo vệ khoảng bảy chục loại cây voi thích ăn để thực đơn voi thêm phần phong phú và tạo cảnh quan.

Tỉ lệ sinh sản quá thấp trong số voi nhà hiện có trong suốt ba thập kỷ trở lại đây, bình quân chỉ 0,6%/năm, ngoài lý do voi bị tận dụng phục vụ du lịch quanh năm, còn có phần do cơ chế phân chia lợi ích giữa các chủ voi chưa hợp lý.
Tập quán của đồng bào M’Nông: Voi con sinh ra thuộc về chủ voi cái, thế nhưng nếu voi cái bị thương trong quá trình giao phối thì chủ voi đực phải chịu phạt, cúng đền cả con trâu. Muốn khỏi rước vạ vào thân, chủ voi đực chỉ việc… cấm chúng nó gần nhau, thế là xong! Nghề săn voi bị cấm, voi nhà không đẻ, lại còn chết dần và bị bán ra ngoài tỉnh.

Ông Voong Nhi, Phó Bí thư huyện Ea Súp, đồng thời cũng là một trong những chủ voi sắp hết voi, từng đề đạt lên nhiều cấp nguyện vọng tha thiết của giới Gru (thợ săn voi giỏi):

Xin Chính phủ mở cơ chế cho đồng bào mỗi năm được mở vài cuộc săn voi với chỉ tiêu nhất định, để nghề săn bắt thuần dưỡng voi rừng không bị thất truyền, và để bản sắc văn hóa vùng miền, để biểu tượng voi Đăk Lăk còn sống mãi…
Ngay trong cuộc Hội thảo tham vấn cộng đồng do Chi cục kiểm lâm tỉnh tổ chức nhằm góp ý cho dự án BTV, Gru Ama Bích cũng đọc một “lá sớ” nắn nót viết sẵn : Nhân dân Bản Đôn chúng tôi đề nghị Nhà nước mỗi năm cho phép bắt 3 con voi rừng, giao cho nhà nước 1 con dân lấy 2 con để làm nhiệm vụ bảo tồn đàn voi nhà cho tỉnh…

PGS-TS Bảo Huy phân tích: Số voi rừng con hiện quá ít, chỉ khoảng 7-10 con trong tự nhiên, chưa phải là lúc có thể cho phép săn bắt. Tỉnh nên xem xét chuyển trả lại một số diện tích rừng đang kinh doanh khai thác thành rừng bảo tồn, tạo điều kiện cho đàn voi rừng phát triển ổn định.
Khi Trung tâm BTV ra đời, các chủ voi và nài voi cần được hưởng chính sách chi trả hợp lý để có thu nhập xứng đáng từ việc đưa voi về theo định kỳ để chăm sóc và thúc đẩy quá trình sinh sản tự nhiên.

Trả lời câu hỏi của báo Tiền Phong về giấc mơ voi Việt Nam liệu tới bao giờ mới trở thành hiện thực? ông Hà Công Tuấn, Cục trưởng Cục Kiểm lâm trầm ngâm:
Thẩm quyền duyệt dự án thuộc về UBND các tỉnh, sau đó mới đến phần trung ương quyết mức hỗ trợ thông qua ngân sách của từng địa phương. Tiến độ triển khai các dự án BTV hiện đã quá chậm, Cục rất nóng ruột đôn đốc nhưng tinh thần hành động khẩn trương theo lệnh Thủ tướng hơn 4 năm rồi vẫn chưa thấy!

Phải! Cứ lần chần mãi thế này, liệu tới lúc trăm tỉ rót về, chắc gì còn nổi trăm voi để nuôi lớn giấc mơ…
Từ năm 2004, nhóm chuyên gia voi châu Á thuộc tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN/SSC đã công bố bảng thống kê số voi rừng và voi nhà ở 13 nước trong khu vực.
Theo đó, voi hoang dã dao động từ 38 nghìn đến 52 nghìn con, tập trung nhiều nhất ở Ấn Độ, ít nhất ở Việt Nam. Voi nhà ước có khoảng từ 14,5 nghìn đến 15,3 nghìn con. Nhiều nhất ở Myanma , Việt Nam kế chót với 165 cá thể, chỉ hơn Bangladesh còn tròn 100.

Dẫu số liệu thống kê voi mang tính tương đối, nhưng rõ ràng sự cảnh báo tồn vong đã gióng lên dưới tán rừng nhiệt đới của nước ta.

Hoàng Thiên Nga

Đà Lạt Trong Tôi Và Những Điều Đã Mất

1.

Có lần tôi và mấy người bạn đã tìm về quán cafe Tùng. Chúng tôi ngồi vào bộ bàn ghế nhỏ xíu dưới chân cầu thang cuối căn phòng. Nơi có cái rào chắn nho nhỏ, làm bằng gỗ thông sơn trắng, ngăn lối lên tầng hai của ngôi nhà. Nơi ngày xưa Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, trong thời gian ở Đà Lạt, vẫn ngồi uống cafe với nhau sau mỗi đêm đi hát về.

Chúng tôi đã ngồi vào bộ bàn ghế đó trong tâm trạng thật hoài nhớ. Lẽ ra trong không gian đó, ánh sáng đó, những hoài niệm đó, chúng tôi phải nói với nhau về những điều thật đẹp. Về những bài hát đã từng ám ảnh chúng tôi, về một thứ âm nhạc gần gũi mà chúng tôi vẫn nghe, như thể vẫn hít thở mỗi ngày. Lẽ ra chúng tôi phải nói về họ, về Khánh Ly, về Trịnh Công Sơn, về Từ Công Phụng, về Lê Uyên Phương… Lẽ ra chúng tôi phải nói về những điều kỳ diệu họ đã đem đến cho chúng tôi trong cuộc sống.

Quán cafe Tùng những năm đầu của thế kỷ này, giữa một khu phố có quá nhiều thay đổi, vẫn như xưa. Vẫn hai hàng ghế tựa bọc da chạy dài theo vách, những chiếc ghế nhỏ xinh rải rác, bức tranh treo tường, khung cửa kính nhìn ra phố.. Tất cả ấm cúng sang trọng theo một kiểu rất riêng. Ấm cúng và buồn bã khiến con người ngồi trong quán bỗng muốn gần nhau, thấy cần thiết phải có nhau. Vậy mà chúng tôi đã sai lầm, chúng tôi đã cãi vã vì một chuyện chẳng ra sao. Cãi nhau, khích bác nhau, giận dỗi nhau, làm tổn thương nhau chỉ vì vô tâm, ích kỷ chỉ vì không muốn chấp nhận nhau, dù chỉ là chấp nhận về cách nhìn những hoa rêu trên mái cũ nhà Đà Lạt.

Lẽ ra đã có một buổi tối khác, nhưng có cách gì để làm lại ? Có lẽ chẳng bao giờ chúng tôi lại có dịp cùng đi chung. Cùng xuýt xoa vì hơi sương lạnh buốt, cùng leo lên một chiếc xe ngựa, rồi cùng không nói gì, chỉ ngồi im nghe tiếng vó ngựa gõ vào đêm lốc cốc. Tiếng vó ngựa như đệm vào tiếng kể chuyện của người đánh xe. Bằng một giọng khàn mệt, ông kể về những con đường ông và con ngựa đã đi, kể về những ngôi nhà ma, những oan khuất trong cuộc đời của nhiều con người. Câu chuyện của ông huyền hoặc đến nỗi đêm Đà Lạt bỗng thâm u thêm, như thể tất cả sương mù đều tụ họp về đây, trong đêm nay, theo một tiếng gọi bí ẩn nào đó.

Chúng tôi đã mất một buổi tối Đà Lạt đẹp vô cùng chỉ vì hẹp hòi, dại dột, và vô tâm.

2.

Nhưng đó là mất mát của riêng chúng tôi, chúng tôi đã phải trả giá cho sai lầm của mình bằng những dằn vặt, nuối tiếc.

Còn Đà Lạt ?

Có quá nhiều thứ đã mất đi ở đây. Mất đi không chỉ do hẹp hòi, dại dột, và vô tâm. Mất đi do thời cuộc, thời gian, mất đi do những quyết định vội vàng, tư lợi, thiếu hiểu biết của một số người.

Mất đi trong xót xa, đắng chát nhưng hình như không một ai tự thấy mình có lỗi để ân hận, giày vò.

Những mất đi đó đã làm nên bao hệ luỵ đau đớn, nuối tiếc, buồn bã trong rất nhiều người. Những người đã gắn bó với Đà Lạt bằng một tình yêu máu thịt. Những người đã sống, và gửi gắm vào Đà Lạt cả một cuộc đời với bao kỷ niệm, mà thiếu nó người ta không làm sao thoát được cảm giác bị bứt khỏi mặt đất, bị quăng quật trong bão giông với những bất ổn kéo dài không ngưng nghỉ.

Tôi nhớ Đà Lạt những năm 80 của thế kỷ trước, vắng vẻ, nhiều sương mù, nhiều thông và hoa dại. Những đêm cuối năm nằm ở ký túc xá khoa Văn trên đồi thông khu Đa Thiện, chúng tôi nghe tiếng xe ngựa. Không phải những xe ngựa dành cho du khách bây giờ, mà là những chuyến xe rau củ đi về trong sương lạnh.

Con dốc rất cao từ quán cháo lòng La Si Mi Fa của Giáo sư- Tiến sĩ Sử học Nguyễn Hồng Giáp, đến bãi đất trống đối diện ký túc xá khoa Văn quả là một thách thức cho những con ngựa kéo xe luôn già và gầy yếu. Để tiếng lóc cóc mày (một) cắc / tao (một) cắc thêm rã rời mỏi mệt. Tiếng vó ngựa rời rạc và tiếng gió hú u u sau đồi thông khiến đêm như ướt mềm ra, dài mướt. Và chúng tôi khi đó chợt không thể vô lo, không thể không nghĩ đến gánh nặng cuộc đời với những buồn vui được mất.

Thầy Nguyễn Hông Giáp đã rời đại học Sorbonne để về quê hương, có một thời gian ông không được giảng dạy. Ông mở quán cháo bán cho sinh viên. Cháo lòng heo ăn kèm bánh tráng nướng. Và khoai lang Đà Lạt ruột đỏ au dẻo quẹo chấm muối ớt. Những bát cháo ở quán La Si Mi Fa đã trở thành nỗi ám ảnh trong tâm trí tôi, cũng như hình ảnh vị giáo sư đáng kính vẫn đi trên con đường từ ngả năm Phù Đổng Thiên Vương về ký túc. Ông mỉm cười chào, một tay ông xách chiếc xô thiếc, tay kia là cặp que ông dùng để gắp những tảng phân ngựa. Ông đi nhặt phân về bón cho cỏ hoa và cafe trong vườn nhà… Thầy Giáp giờ đã về sống ở Sài Gòn. Hồi đó tôi đã từng nhiều lần muốn hỏi mà không dám, vì biết vậy là quá táo bạo. Rằng có khi nào thầy nuối tiếc ? Vì đã rời Paris, xa người vợ lai Pháp xinh đẹp để về đây, để nấu cháo lòng và nhặt phân ngựa ? Để cười chào và đặt vào tâm trí những sinh viên chúng tôi một nỗi băn khoăn không nguôi về số phận con người ?

Quán cháo mất đi như là một tất nhiên, tôi không biết có bao nhiêu người khi nhớ về Đa Thiện – Đà Lạt lại nhớ đến cái không gian quán chật hẹp như chiếc hầm khoét sâu vào ngọn đồi, với những bộ bàn ghế bằng gỗ thông, và cái tên La Si Mi Fa reo vang những nốt nhạc. Còn tôi vẫn hình dung trọn vẹn nó, cũng như tôi vẫn hình dung rõ rệt cây thánh giá nằm bên trong ngôi sao, trên ngọn tháp tam giác cao vút trong khu Năng Tĩnh trường Đại Học Đà Lạt. Tôi nghe kể hồi đó thầy Giáp là một trong ba người đã leo lên đỉnh tháp cao 38 mét này, để lấy bù lon xiết các cánh ngôi sao ôm chặt cây thánh giá, và cây thánh giá vẫn nằm nguyên vẹn trong ngôi sao đó.

Không chỉ mình tôi hình dung. Tôi còn nhớ một buổi tối, Liêng Hót Ha Suê, người chơi guitar bass trong dàn nhạc của đội văn nghệ trường, đã đứng nguyện cầu giữa sân trường. Anh nhìn lên đỉnh tháp với đôi mắt thành kính, và lời cầu kinh, và bàn tay làm dấu thánh. Giờ khắc đó, anh đã không nhìn thấy ngôi sao, anh đã nhìn vào bên trong để chỉ thấy cây thánh giá. Niềm tin của anh đã làm cho khuôn mặt anh sáng rỡ đẹp đến kỳ lạ.

3.

Người Đà Lạt than rằng sương mù Đà Lạt đang ngày càng ít ỏi. Và đã có lý giải đó là một tất nhiên khi trái đất nóng dần lên, khi con người sinh sôi nẩy nở bung chiếm nhiều thêm ra.

Liệu có hoàn toàn đúng như vậy?

Vả lại không chỉ sương mù, Đà Lạt còn đang mất đi quá nhiều.

Những ngôi nhà gỗ đẹp như bài thơ đang mất dần. Những con đường quanh co uốn lượn theo các sườn đồi đang mất dần. Thông Đà Lạt đang mất dần không sao cầm giữ được. Không gian tĩnh lặng rất riêng của Đà Lạt cũng không còn như xưa. Và đồi Cù, từ lâu người Đà Lạt đã mất đồi Cù ngay trong lòng thành phố của mình.

Tôi nhớ lại cảm giác của mình khi nghe tin đồi Cù – Đà Lạt bị rào giậu vây bọc kín bưng để biến thành sân golf. Lúc đó tôi đã rời Đà Lạt được vài năm. Nhưng cũng như những người đã đến và yêu Đà Lạt, Đà Lạt luôn ám ảnh tôi. Thật lạ lùng cho mảnh đất này, bởi nhớ nhung một vùng đất mà như thể nhớ nhung một người tình, đã cùng đi với mình qua bao hoang tưởng kỳ diệu, thì tôi nghĩ chỉ có Đà Lạt mới làm được.

Khi nghe tin, tôi đau đến sững người, tôi đã có cảm giác của một người đi xa nghe tin căn nhà của mình bị bán, bị đập vỡ, bị cày nát mà mình không có cách gì quay về, để bảo vệ để chia sẻ, gánh vác. Và tiếp đó là cảm giác nuối tiếc, cay đắng tràn ngập tâm hồn tôi.

Cho đến bây giờ, sau mười mấy năm sử dụng, sân golf đồi Cù – Đà Lạt đã thu được lợi nhuận bao nhiêu? Và lợi nhuận đó có đáng không? Có là bao so với những ảnh hưởng của nó đối với môi trường? So với nỗi đau buồn của bao nhiêu con người đã từng gắn bó với đồi Cù bằng một tình yêu máu thịt?

Ngày đó, tôi đã đến Đà Lạt trong khao khát khờ dại của một người ở biển mà mải mê hoài vọng núi, mải mê mơ về những quả đồi, và tiếng reo thầm thĩ của loài thông. Đồi Cù đã là tất cả tưởng tượng của chúng tôi về thảo nguyên, những thảo nguyên vô cùng thanh sạch, phóng khoáng, đẹp đẽ trong sách vở. Nhất là vào buổi chiều khi đi ngược nắng, chúng tôi nhìn về chân trời xa rộng, để choáng ngợp trước đường chân trời vòng cong rực sáng. Những đôi tình nhân đan tay dạo trên đồi dưới mắt nhìn của chúng tôi khi đó đẹp như những thiên thần. Tôi đã mường tượng họ có thể bay lên trời nhờ đôi cánh, và sự nâng bổng của ánh sáng lộng lẫy trên đồi chiều.

Đồi Cù trở thành sân golf. Đã từ lâu người Đà Lạt và những người đã từng đến từng gắn bó với Đà Lạt đã không còn được tự do ra vào đồi Cù. Mà đồi Cù cũng đã khác, ngay cả màu cỏ trên đồi cũng đã khác xưa mất rồi. Những con người ngày xưa đã từng dạo chơi trên đồi, đã từng ngồi tựa vào những gốc thông cô độc trên đồi, đã từng hôn người mình yêu ở đó, làm sao họ còn tìm lại được dấu vết kỷ niệm. Mà không còn dấu vết kỷ niệm con người ta sống hụt hẫng ra sao ?

Tôi nhớ một lần Liêng Hot Ha Suê đưa tôi đến một góc đồi, nhìn về ngôi nhà ngày xưa của anh mà ngồi buồn suốt buổi. Anh đang nhớ người cha làm mục sư của mình và tuổi thơ với những tháng ngày vô tư, thánh thiện. Có lần, sau một tối tập văn nghệ ở trường Đại học, chúng tôi mang nhạc cụ trả về kho. Khi mọi người đã ra ngoài, và đèn điện đã tắt, từ bóng tối chúng tôi nghe tiếng dương cầm vang lên. Liêng Hót Ha Suê đang chơi đàn (cây dương cầm của trường đã hỏng nhiều phím và từ lâu không ai sử dụng). Tiếng đàn thanh thoát mà ám ảnh. Đó là giai điệu của một bài thánh ca. Tôi đã không còn nhớ tên bài hát, nhưng buổi tối đó và tiếng đàn như tiếng đập thổn thức của trái tim anh, vẫn trở về trong tôi, mỗi lúc tôi về lại Đà Lạt, đi trong sương lạnh nghe tiếng gió và tiếng thông reo. Liêng Hót Ha Suê đã mất ngôi nhà tuổi thơ của mình và không nguôi hoài nhớ. Còn bao nhiêu người Đà Lạt khác đã mất những gì yêu thương của họ theo những đổi thay dâu bể trong đời ?

4

Hôm nay, đọc bài Mãi mãi Đà Lạt của nhà văn Nguyễn Đạt tôi chợt quá nao lòng. Thực ra tôi đã biết quá ít về Đà Lạt, về những con người đã từng sống ở đây, đã làm nên những điều kỳ diệu đẹp đẽ cho văn chương, cho hội hoạ, cho âm nhạc… Những con người đã và đang tồn tại lặng lẽ để làm nên lịch sử Đà Lạt. Nhưng tôi đã yêu Đà Lạt bằng trái tim tuổi trẻ trinh nguyên, và thương yêu đó đã không nguôi ngoai dù theo thời gian bao nhiều điều khác đã như nước chảy dưới chân cầu. Thương yêu đó đã khiến tôi không thể không nuối tiếc, xót xa khi đi qua những mất mát của Đà Lạt trong cảm nhận của riêng tôi.

Tiếc nuối xót xa vì đã có quá nhiều những nói một đằng làm một nẻo, đã có quá nhiều những đập vỡ, giấu che. Như bức tượng Đức Mẹ tuyệt đẹp trước hội trường A1, hay cây thánh giá trên đỉnh tháp Sao trường Đại học. Và bao nhiêu điều khác nữa. Và ở nhiều nơi khác nữa. Những đập vỡ, giấu che xuất phát từ những quan niệm độc đoán, ấu trĩ đến đau lòng.

Đâu đó người ta đang nhìn vào festival hoa, đâu đó nhan nhản những lời kêu gọi vì tương lai thành phố. Đôi khi tôi mơ hồ rối rắm trước những lời kêu gọi ồn ào mà rỗng tuếch đó, trước những festival có quá nhiều sắc màu rực rỡ giả tạo đó. Tôi thấy mình như đang đi trong sương mù. Nhưng không phải sương mù thanh sạch mát lạnh của Đà Lạt xưa, mà là một thứ sương mù độc địa, có sức mê hoặc và giấu che bản chất. Tôi thấy mình mất phương hướng, và lại tràn ngập lòng tôi một cảm giác cay đắng, tiếc nuối.

Khi mất một đêm Đà Lạt đẹp vô cùng bên nhau, ít ra chúng tôi cũng biết mình đã đánh mất và không nguôi dằn vặt. Còn Đà Lạt với những cây thông chết, những ngôi biệt thự hoang tàn. Đà Lạt với những con đường, những trảng cỏ biếc xanh, những hiền lành chân chất mất đi, thì chẳng biết nhìn vào ai, nhìn vào đâu để thở than trách móc !

Ai đó đã nói tiếc nuối là một cảm giác vô ích, tôi nghĩ là tôi hiểu được điều đó, nhất là khi sự tiếc nuối đó lại là của những người dân với thân phận bé nhỏ, không chức quyền. Nhưng tôi đã không làm sao thoát được cảm giác đó, tôi cứ phải buồn thương, xót đắng mãi cho những mất còn. Có lẽ tôi phải tự an ủi mình như nhà văn Nguyễn Đạt, là Đà Lạt xưa vẫn còn trong ký ức của bao con người. Những con người tồn tại lặng lẽ khuất lấp đâu đó với một tình yêu chân thành vô vụ lợi dành cho Đà Lạt. Những con người đang sống với những khát vọng tự do và tình yêu dành cho cái đẹp. Đà Lạt đã có một lịch sử và lịch sử Đà Lạt vẫn còn đó. Có thể nhờ vậy mà chúng ta mãi mãi vẫn hình dung được trong tâm trí một Đà Lạt vẹn nguyên. Một Đà Lạt xưa với đồi Cù với thông và sương và hoa dại. Một Đà Lạt với quán cafe Tùng và những huyền thoại vô cùng đẹp.

Ngày xưa…

Đinh Thị Như Thúy

Vua Voi trăm tuổi: Yêu, ai chả thích!

TP – Buôn Ko Tam, xã Ea Tu (TP Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk) ngày đầu năm mới tấp nập. Từ hai giờ sáng, bếp nhà Khăm Phết đã đỏ lửa. Một con trâu mộng dắt về từ Buôn Đôn được xẻ thịt mở tiệc đãi cả làng để mừng “đại thượng thọ” 100 tuổi của Vua Voi Ama Kông.

Tròn trăm tuổi Ama Kông vẫn đều đều cạn ly loại rượu tự tay pha chế – Ảnh: Hoàng Thiên Nga

Khỏi cãi nhau về tuổi Vua Voi!

Con, cháu, dâu, rể, chắt, chít của Ama Kông, nếu tính hết, phải tới cả trăm người, sống rải rác khắp các huyện thành ở Đăk Lăk. Hôm nay hơn nửa số đó kéo về mừng đại thượng thọ Vua Voi.

Khách quý thân hữu xa gần thuộc nhiều sắc tộc Kinh, Lào, M’Nông, Ê Đê, Jơ Rai, có cả ông bà thông gia người Khmer sang từ bên kia biên giới Campuchia. Rồi cán bộ các sở ban ngành, chính quyền địa phương, doanh nghiệp chế biến dược phẩm từ bài thuốc Ama Kông.

Căn nhà gỗ đơn sơ của Khăm Phết trải chiếu và bày ghế tràn ra sân vườn. Trưa, chiều, khách mừng thọ tới tấp nập kín cả 30 bàn.

Nhân vật chính vui vẻ ngồi khoanh chân dưới tấm phông nổi bật dòng chữ: Mừng Đại Trường Thọ Vua Voi Ama Kông. Sinh ngày 1-1-1910 – 1-1-2010.

Nhà chật, khách đứng phải xếp hàng luồn vào sau lưng khách ngồi, ai cũng muốn được nắm bàn tay rộng ấm của ông và mời ông rượu.

Như mọi cuộc vui khác từng diễn ra tại đây, loại rượu duy nhất được rót là rượu Ama Kông thơm nồng, ủ trong bồn lớn rồi chiết vào vỏ chai nước suối.

Ama Kông đón từng ly rượu đầy, nâng ngang mặt rồi ngửa cổ uống cạn. Sau vài lượt rượu, mặt ông hồng hào, cử chỉ nhanh nhẹn hẳn lên.

Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Nguyễn Hữu Vượng tặng quà mừng Vua Voi, cười lớn: Từ nay các báo đài khỏi phải cãi nhau về tuổi Ama Kông nữa nhé!

Giờ bố mới được quàng vai mẹ!

Vợ chồng  Khăm Phết Lào vui vì bố mẹ đã chịu cười với nhau

Trong 4 bà vợ chính thức mà Ama Kông từng được cưới, bà Nhất và bà Ba đã mất, bà Tư vừa ly hôn năm ngoái. Thật ý nghĩa trong ngày vui này, bà Hai có mặt để cùng đàn con cháu đông đúc hiếu thảo mừng tuổi Vua Voi.

Bà Hai tên thời con gái là H’Hốt, vừa là em vợ vừa là em họ con ông bác ruột của Ama Kông, cách đây gần 7 thập kỷ, khi mới 12 tuổi đã chịu theo tục nối dây, cưới anh rể để nhận trách nhiệm làm mẹ 2 đứa cháu nhỏ sớm mồ côi.

Lấy chồng, bà trở thành Amí Liêng – mẹ của 11 người con sinh chung với Ama Kông, trong đó có con trai thứ bảy Khăm Phết Lào nay là người thừa kế duy nhất các bài thuốc gia truyền từ Ama Kông.

Suốt những năm tháng vất vả cực nhọc vì Ama Kông đi rừng, theo gái biền biệt, Amí Liêng vừa quán xuyến việc nhà, vừa âm thầm góp công góp của giúp đỡ cách mạng.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông bà đều được trao Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, Ama Kông hạng Nhất, Amí Liêng hạng Nhì.

Cuộc giận Ama Kông của Amí Liêng đã kéo dài hơn bốn mươi năm. Kể từ cái ngày bà còn chưa ra khỏi ổ đẻ đứa thứ 11, ông đã dám dắt nhân tình với đứa con gái riêng 5 tuổi về xin cưới làm bà Ba.

Sau những cơn ghen hờn dữ dội của bà, Ama Kông may mắn được già làng phạt nhẹ, cho để lại mọi của cải, chỉ cưỡi một con voi sang nhà vợ mới…

Từ đó tới giờ, chưa một lần Amí Liêng chịu làm lành, chịu sang thăm Ama Kông dù nhà cách nhau có trăm bước chân, ngay cả những lần Vua Voi dưỡng thương cả tuần vì bị vợ Tư… say rượu đánh.

Thuyết phục để mẹ chịu hàn gắn, chịu ngồi xích lại gần và cười dàn hòa với bố là kỳ tích đàn con đã thực hiện được trong dịp vui này.

Tuổi gần tám mươi, Amí Liêng vẫn minh mẫn hài hước và ngúng nguẩy khi nhắc lại chuyện cũ. Bà oang oang: Ama Kông nhiều vợ nhiều con, nhưng ông ấy có nuôi đứa nào đâu. Ổng không thích nuôi con, chỉ thích yêu và nuôi… gái thôi!

Ama Kông tủm tỉm cười khi nghe bà kể tội, gật đầu: Amí Liêng nói có sai đâu, bà là vợ tốt nhất mà!

Nhìn bố mẹ sum họp bên nhau, thầy thuốc Khăm Phết Lào len lén ra sau nhà, đứng cạnh con voi giả ngậm chân bên hòn non bộ anh mới đặt thợ làm để chiều chiều Vua Voi ra ngồi ngắm cho đỡ nhớ rừng, khóc một mình vì…  sung sướng.

Vua voi ngắm con voi giả bên nhà cho đỡ nhớ rừng

Bị bắt gặp, anh mếu máo như trẻ nhỏ: Tôi mơ ước được thấy mẹ về bên bố từ lâu lắm rồi…

Yêu nhau, ai chả thích!

Có thể nói, hiếm có cuộc tụ tập nào ở xứ này mà người ta không nhắc đến Ama Kông. Tên ông từ lâu đã thành huyền thoại.

Ban đầu là huyền thoại về săn voi, về sau là huyền thoại về những thang thuốc cường dương bổ thận mà bản thân ông, cuộc đời ông chính là minh chứng sống động nhất.

Trong dòng đời bề bộn trắng đen phải trái, mọi huyền thoại về Ama Kông vẫn thuần khiết chất sinh tồn hồn nhiên, đem lại cho mọi người cảm giác thư nhàn vui vẻ.

Ngồi bên Vua Voi, người con trai đầu của Ama Kông ý tứ bớt những ly rượu khách mời đầy tràn khỏi tay bố, âu yếm gắp cho bố món này món nọ, ông gạt phắt: Không sao đâu, bố còn khỏe cả chục năm nữa mà!

Cách đây hai tháng, bố vợ Khăm Phết nhà ngay bên cạnh qua đời. Thương bố vợ cả đời hiền lành chăm chỉ, Khăm Phết cùng các anh chị em trong nhà làm đám tang thật lớn, thịt 2 con bò và 3 con heo.

Đồng bào xa gần gùi nếp, gùi chăn nườm nượp lên nhà sàn ngủ lại. Ama Kông là ông sui, cũng liên tục tiếp khách từ hàng xóm ghé qua.

Con dâu Amí Sumay ngồi cạnh xới cơm cho bố chồng, khoe: Mỗi bữa bố đều xơi hết hai bát đầy. Ông hay kể chuyện ngày xưa bằng tiếng Kinh và tiếng M’nông. Khi quên từ, ông lại chuyển qua… tiếng Pháp.

Hôm nay trăm tuổi, Ama Kông uống nhiều rượu với những người thân đến từ Buôn Đôn, Ea Súp và cũng dùng hết hai bát cơm với thịt trâu xào và canh cà đắng.

Ông lại kể về thời trai trẻ, mắt hấp háy vui khi nghe hỏi chuyện yêu đương. Ông cười lộ cả hàm răng xỉn màu rượu thuốc, nhấn mạnh từng tiếng rõ ràng: Chuyện yêu nhau, ai chả thích!

Hoàng Thiên Nga

Và để hiểu lai lịch chàng trai trăm tuổi này, cần đọc thêm :

Thuận Thị Trụ và sắc màu thổ cẩm Chăm…

Trong tuần văn hoá VN tại Bỉ 2001, có một người phụ nữ Chăm lên diễn đàn nói về thân phận của người phụ nữ Chăm từ chiến tranh đến thời bình. Câu chuyện của chị đã làm cử toạ bật khóc.

Chị đến từ làng thổ cẩm nổi tiếng Caklaing- Mỹ Nghiệp (Ninh Thuận), giới thiệu văn hoá Chăm và dệt vải cho người nước ngoài xem. Tới nay, chị đã có 20 chuyến đi đến hơn 10 quốc gia. Tên chị là Thuận Thị Trụ, nghệ nhân dệt thổ cẩm nổi tiếng, người đầu tiên xuất khẩu thổ cẩm của mọi miền đất nước ra nước ngoài.

Từ trái, hàng đầu: Chị Trụ và anh Inrasara; hàng sau: con trai và anh Trần Can

Chị cũng chính là Trà Ma Hani – tác giả tập thơ Em, hoa xương rồng và nắng đoạt giải của NXB Kim Đồng 2001-2002. Tên của chị đã trở thành nguồn cảm hứng cho thi sĩ Inrasara – chồng chị, người thua chị đến 8 tuổi.

Trong văn phòng đầy vải vóc, túi xách, balô, ví, tranh… thổ cẩm của chị Trụ ở quận Tân Phú, TPHCM, có hơn 500 mặt hàng của các dân tộc thiểu số. Chị Trụ cũng có một xưởng dệt ở Tân Phú, với hơn 50 nhân công. Lương tối thiểu của mỗi người là 1,5 triệu đồng/tháng, cao nhất là 2,5 triệu. ít ai ngờ từ chỗ tay trắng, người phụ nữ Chăm này đã có công vực dậy làng nghề Mỹ Nghiệp, tạo công ăn việc làm cho cả một làng quê nghèo, mở thị trường thổ cẩm tại TPHCM.

Người mua tơ chịu

Có những năm túng bấn, hai vợ chồng chị Trụ xoay đủ nghề mà vẫn không đủ sống. Hết lượm phân bón đất, trồng rau muống, lên Tây Nguyên bán áo quần sida, lại về miền Tây bán thổ cẩm cho người Khmer, thất bại lại trở về quê mở quán càphê…

Năm 1988, tình cờ nghe có người ở TPHCM muốn mua hàng thổ cẩm, chị Trụ bụng chửa vượt mặt 8 tháng lần vào Sài Gòn tìm gặp cho bằng được. Đến nơi, người ta đưa mẫu rồi hẹn ngày giao hàng. Lúc đó trong túi chẳng có xu nào ngoài tiền đi đường, nhưng chị vẫn tìm đến cửa hàng tơ xem sao. Thấy Trụ chất phác, thật thà, mặt mũi lại sáng sủa, nên bà chủ thuận bán chịu tơ cho chị.

Với mớ tơ đầu tiên ấy, chị mang về, phân phối đều trong làng để làm kịp đơn hàng. Nhưng khi giao hàng, có quá nhiều lỗi vì chưa có kinh nghiệm, người ta chỉ lấy 40% sản phẩm. Chị Trụ đủ tiền trang trải tơ và mua chịu tiếp, nghiến răng nhận thêm hàng. Có khi vừa giao tơ, giao tiền trước để người ta mua mắm, mua gạo để sống; ai ngờ vì quá túng bấn mà có người nhận tiền xong… lủi mất.

Khổ nhất là những chuyến xe tải hàng từ Ninh Thuận vào TP. Có khi người ta chất bao mực biển lên bao thổ cẩm, màu mực đổ hết lên vải; có khi mưa làm thổ cẩm phai màu. Chị đành lấy vải đó chọn những chỗ tốt may ví, túi xách nhỏ, bán để lấy lại chút vốn. Cứ thế, ban đầu phải lấy tiền bán càphê ra bù lỗ, sau đó từ từ cũng dần trả được nợ. Đó là đầu năm 1990. Do mặt hàng thổ cẩm thời đó chưa ai bán, công việc kinh doanh cũng tạm ổn, chị Trụ có đủ tiền thuê một góc nhỏ gian hàng ở thương xá Tax, TPHCM.

Có một ngày chị không thể quên được. Đó là khi cặp vợ chồng người Pháp reo lên: “Ô, hàng thổ cẩm mình tìm kiếm khắp nơi đây rồi!”. Sẵn có vốn ít tiếng Pháp, chị Trụ mừng rỡ chào mời. Niềm vui nữa là khi có hai người Nhật đồng ý khuân hết hàng tồn về Nhật bán, hào phóng rút 100 triệu đồng ra trả. Từ đây, chị đã có đủ khoản vốn dằn lưng để sản xuất và kinh doanh.

Khi thấy hàng Chăm bán được, trong khi các hàng khác của người Thái, Mông… thì ế ẩm ở khu hội chợ triển lãm tại Hà Nội, chị Trụ bắt đầu nghĩ cách mua đủ mặt hàng thổ cẩm của các dân tộc, ban đầu là của Thái, về bỏ mối cho các shop lưu niệm ở TPHCM. Kết quả là hàng Thái bán chạy không thua hàng Chăm. Hiện nay, làng thổ cẩm Mỹ Nghiệp được xem là làng nghề truyền thống với con số người dân làm nghề chiếm tỉ lệ lý tưởng: 95%.

Năm 2000, Công ty thổ cẩm Inrahani ra đời, do chị Trụ làm giám đốc, giải quyết việc làm cho 200 phụ nữ nghèo ở Mỹ Nghiệp. Sau đó, nhiều đại lý được mở ở Đà Lạt, Đà Nẵng, TPHCM… Sản phẩm của công ty có mặt không chỉ ở trong nước, mà còn ở các hội chợ triển lãm ở Thuỵ Sĩ, Pháp, Bỉ, Nhật, Singapore, Malaysia, Lào, Thái Lan…

Niềm vui sống dậy trên thớ vải

Trước đây, người Chăm dệt thổ cẩm chỉ có 4 màu, trên nền đỏ, cùng 3 màu phối là xanh, trắng, vàng. Nhưng đến lượt Trụ, chị đưa 30 mẫu hoa văn cổ để cách điệu về màu sắc, mẫu mã. Ngày bé, nghèo khó, vất vả, trên đầu có khi đội 20kg rau heo, chân trần đi trên cát bỏng, mà hễ rảnh ra là chị lại mơ. Mơ được học đến nơi đến chốn, mơ được một người chồng yêu thương, mơ sao con mình nên người… Những gì hy vọng nhất đều được gửi gắm vào từng cách phối màu, hay từng hoạ tiết trên mặt thổ cẩm.

Tiếng lành đồn xa. Sản phẩm của công ty đoạt 4 huy chương vàng ở hội chợ triển lãm trong nước và chị Trụ nhận được danh hiệu “Bàn tay vàng”, là nghệ nhân dệt thổ cẩm nổi tiếng nhất vùng Ninh Thuận.

Không những thế, chị có mặt ở những đêm lễ hội, biểu diễn dệt thổ cẩm cho nhiều người xem. Nhiều nước mời chị sang từ 2-6 tháng, trả lương hơn 1.000USD/tháng chỉ để… trình diễn dệt vải và giải thích về nét đẹp của văn hoá Chăm. 80% số mặt hàng của chị Trụ cung cấp cho các shop trong nước, còn lại xuất đi nước ngoài.

Chị Trụ khoe: “Tôi đang nghiên cứu các bức phù điêu Chăm để đưa vào thời trang thổ cẩm. Vương quốc Chămpa ngày trước nổi tiếng về điêu khắc, nghệ thuật múa, hát… Chính vì thế, tôi muốn thể hiện bản sắc Chăm trên mỗi sản phẩm của Inrahani”.

Có một điều lạ là người giải quyết công ăn việc làm cho bao nhiêu phụ nữ Chăm như chị lại không biết tiêu tiền, đếm tiền. Mọi khoản tính toán chị giao cho nhân viên. Muốn giải quyết một công việc, chị lại kêu gọi mọi người cùng ngồi lại nghĩ cách.

Chị nói: “Ở công ty, tôi không phải là giám đốc, mà là một bà mẹ. Có gì cứ chỉ tận tay. Khích lệ mọi người coi công ty như nhà của mình. Trong gia đình cũng thế. Người phụ nữ cũng phải biết bao dung như người mẹ. Có như thế thì mình mới là điểm sáng trong nhà, chồng và con đều có thể cậy nhờ”.

Trà Ma Hani ngày trẻ từng là cô giáo mầm non xinh đẹp, hát hay, múa giỏi. Chị còn tích cực tham gia công tác xã hội trong làng. Khi phát hiện ra nguồn nước ô nhiễm, chị tiếp xúc với đại diện của Sứ quán Canada, thuyết phục họ trích quỹ đầu tư cho dân làng hệ thống nước sạch và nhà mẫu giáo, lại vận động Hội Phụ nữ huyện thực hiện sau 3 năm bỏ quên hồ sơ dưới… gầm giường. Hai vợ chồng chị tặng sách cho thư viện làng, chị cùng con gái giúp 50 người mổ đục thuỷ tinh thể…

“Điều chị nghĩ mình làm được nhất trong đời là gì?”. “Tôi tự hào vì mình đã đi đúng hướng. Nhất là khi Nhà nước khuyến khích khôi phục làng nghề truyền thống, tôi dành tất cả tâm huyết làm cho làng Chăm sống động lên, các làng nghề của các dân tộc anh em cũng khởi sắc theo. Điều này cũng giống một mũi tên bắn được ba con chim: Giải quyết vấn đề kinh tế, văn hoá và xã hội.

Thời còn trẻ, tôi từng theo chồng trước (đã mất) sang Pháp ở 3 năm, cũng thường theo các xơ làm từ thiện. Từ đó, tôi nghĩ về cuộc đời của mình, của những người phụ nữ Chăm, mà ước muốn viết hồi ký hoặc viết một cuốn tự truyện. Tôi kiếm ra tiền nhưng chỉ coi đó là phương tiện, lo cho con ăn học.

Năm đứa con giờ đã lớn. Tôi cũng vô cùng tự hào vì anh Inrasara học nhiều, biết nhiều, từng đoạt giải thưởng của TT Lịch sử và Văn hoá Đông Dương (thuộc ĐH Sorbonne, Pháp), Giải thưởng văn học ASEAN 2005…

Điều tôi muốn nói với tất cả những phụ nữ trên đời này là hãy thương lấy mình. Quan trọng là mình có thể làm chỗ dựa cho chồng những lúc gian khó. Mình lo cho con không chỉ cái ăn, cái mặc, mà là để chúng tự hào về cha mẹ chúng. Đó mới là tình thương trọn vẹn nhất.

Nếu cả cuộc đời mình lo cho người khác và lo chăm sóc bản thân mình, từ sức khoẻ, tinh thần, đến khát vọng trong tâm hồn, thì từ chính người phụ nữ sẽ toả ra vẻ đẹp nhân hậu và có sức thu hút nội tâm – đó mới là giá trị vĩnh cửu”.

Trong Lễ hội “Quảng Nam – Hành trình di sản” 2005 hàng vạn du khách nhận ra ngay trong suốt buỗi lễ này đó là một “hồn” Việt được thêu dệt ngay trong lòng di sản Mỹ Sơn thông qua những tà áo dài thướt tha của nhà thiết kế thời trang Minh Hạnh

. Cái độc đáo của nhà tạo mẫu này là đã biết kết hợp hài hoà hai báu vật mà trời đất ban tặng, đó là tà áo dài của người Việt và chất liệu vải thổ cẩm Chăm do chính tay nghệ nhân Thuận Thị Trụ dệt nên.

Trần Can ( lược từ Internet )

Dương Thụ: Sự nổi tiếng ở ta hão huyền lắm

    TP – Trong sân vườn Cà phê Thứ Bảy, dưới bóng mát của tàu lá chuối xanh hiếm hoi giữa lòng thành phố Hồ Chí Minh những ngày cuối cùng của năm 2009, nhạc sĩ kiệm lời và kỹ tính Dương Thụ đã trải lòng về công việc, tình yêu, và cuộc sống.

Lúc chờ nhạc sĩ đến, tôi được một nữ nhân viên dặn nên cẩn trọng vì anh rất khó tính?

Dương Thụ (cười mỉm): Tôi từng phải rút kinh nghiệm tiếp xúc vì bị một số nhà báo ca tụng vô lối. Tưởng mát tai nhưng đọc vào thấy rất xấu hổ.

Có nhà báo phỏng vấn xong gọi anh ơi, báo ra rồi mời anh đọc. Cô ấy gán cho tôi những câu trả lời rất văn chương hoa mỹ, nào làm nhạc hiến dâng cho đời, nào viết cho tuổi trẻ! Trời ơi, ai cần mình viết cho họ đâu. Kinh khủng quá. Sao lại đại ngôn như vậy chứ.

Anh thích gặp gỡ với kiểu nhà báo nào?

Chưa bao giờ tôi thích gặp nhà báo cả, nhất là gặp vì cá nhân tôi. Báo chí quan trọng với những ai cần phải luôn luôn có mặt trên báo, hoặc có điều cần được nói lên mặt báo.

Tôi không thuộc cả hai nhóm đó. Trước hết vì mình chả là cái gì. Còn tên tuổi ư ? Cái sự nổi tiếng từng làm cho tôi rất khổ sở. Tôi không muốn.

Đến nông nỗi đó thật sao?

Hiện nay cái sự nổi tiếng ở ta nó hão huyền lắm. Nhiều khi nổi tiếng chỉ nhờ dư luận lặp đi lặp lại ba cái chuyện giật gân phù phiếm, chứ chẳng phải tài năng hay cống hiến đặc biệt gì.

Có người thấy tôi trên ti vi hay trả lời một vài bài báo, bèn nghĩ chắc ông này hay lắm, bèn kéo thêm nhiều người khác đòi phỏng vấn. Nếu tôi từ chối sẽ bị cho là tự kiêu tự đại.

Nhưng phần lớn người ta có hiểu đúng mình đâu. Thậm chí có người ái mộ, gọi điện thoại rối rít nhưng rốt cục té ra họ nhầm tôi với những bậc tài danh khác, chẳng hạn như Phú Quang hay Thanh Tùng.

Thực chất tôi không phải là người của công chúng, mà chỉ là một người rất bình thường. Tôi không có nhiều điều để chia sẻ với số đông…

Thích những việc không ra tiền lại còn bị chửi

… Một con người đúng nghĩa luôn sống rộng hơn phạm vi nghề nghiệp của họ. Nhạc sĩ hoàn toàn có thể quan tâm đến nhiều vấn đề khác ngoài nhạc, ví dụ quan tâm tới người nghèo, bóng đá hay chính trị. Tôi không phải là chuyên gia chỉ biết đến cái nghề của mình.

Trong mỗi cá nhân luôn có nhiều tư cách người. Phần người rất quan trọng trong tôi là người chồng, người cha vì gia đình, trách nhiệm che chở giữ gìn gia đình chứ không phải chỉ biết có sáng tác. Sau đó mới đến phần người làm nghề sản xuất âm nhạc, làm chương trình, băng đĩa, tổ chức sự kiện cho chỗ này chỗ nọ, vân vân.

Nếu không làm những việc đó thì sao tôi đủ sống? Liệu bán thơ nhạc đi có đủ tiền đổ xăng xe và trả cước điện thoại không ?

Anh luôn nặng gánh chèo chống gia đình vậy ư ?

Còn có một phần người nữa quan trọng hơn, phần hoạt động xã hội. Nếu chỉ sống cho mình, vì mình, thì quá nhỏ nhoi. Đức Phật nói người tốt là người sống cho bên ngoài mình.

Có người sống chỉ thu vén cho họ. Cũng có người luôn chia sẻ với những người xung quanh. Tôi không cao cả như những nhà sư, linh mục, nhà hoạt động xã hội. Nhưng tôi cũng có những ưu tư bẩm sinh và nhu cầu làm điều gì đó cho người khác.

Tôi từng giúp những ca sĩ trẻ, nhạc sĩ trẻ từ lúc họ vô danh, đâu có lấy tiền. Nhiều việc tôi làm chẳng đem lại lợi ích vật chất gì, như chương trình Nửa thế kỷ bài hát, hay Bài hát Việt. Đã không có tiền lại còn bị chửi. Tuy nhiên nó khiến tôi vui, cho tôi thêm động lực sống khi thấy mình đem lại được chút gì cho ai đó.

Hạnh phúc là khi…

Điều gì khiến anh rung động, khi nghe ca sĩ trình bày những ca khúc gan ruột của mình?

Đó là khi phát hiện mình không nói gì mà sao họ hiểu mình đến thế. Như Mỹ Linh, có những bài cô ấy vào phòng thu hát khó khăn như đánh vật, phải thu rất nhiều lần. Nhưng rồi cô ấy hát cũng ra chất và hát rất hay những ca khúc như Mong về Hà Nội, Hát cho anh nghe, tôi không nhớ đã viết năm nào.

Vấn đề không phải là kỹ thuật. Ví dụ lẽ ra phải hát nhẹ thì lại chệch thành hát nhỏ, hoặc giọng hát chưa đủ độ nẩy. Kỹ thuật chỉ có thể khiến mình hài lòng hay không hài lòng chứ chưa đủ để khơi gợi cảm xúc.

Cái thuộc về thần thái, cảm xúc thường rất trừu tượng. Cô ấy đã đụng chạm đến chỗ nào đó rất sâu, có lẽ là dây thần kinh của mình. Tôi mong về Hà Nội để nghe gió sông Hồng thổi, để thương áo len cài vội, một chiều đông rét mướt… Cũng lời ấy có người hát dở ẹc à.

Ngoài Mỹ Linh, còn những ai đạt tới điều đó?

Ví dụ khi được nghe Thanh Lam hát Gọi anh, Hồng Nhung Vẫn hát lời tình yêu, Nguyên Thảo hát Nghe mưa, Khánh Linh hát Tháng tư về, Lệ Quyên cũ chứ không phải Lệ Quyên nhạc thị trường với Họa mi hót trong mưa. Vân vân.

Đó có phải là cảm giác hạnh phúc về nghề nghiệp?

Tôi không bao giờ băn khoăn hỏi mình có hạnh phúc hay không. Hạnh phúc là khi mình được nói, được bộc lộ, sống với tất cả các giác quan giữa những gì thân thiết.

Như khi mở cửa thấy nắng trong vườn, thấy hoa cỏ, được chăm chú theo dõi nắng tắt trên từng chiếc lá. Hay nghe nhạc không còn là nhạc nữa mà chỉ ngập tràn cảm xúc đưa mình về cõi nào. Thậm chí khi cầm cái máy hút bụi, quét dọn, cắm hoa, dọn dẹp lại căn nhà bẩn thỉu sau một chuyến đi xa về.

Đôi khi mù quáng vì yêu

Trong những việc anh đã làm, phần việc nào giúp anh sống mạnh mẽ nhất với mọi cảm quan của mình?

Âm nhạc. Nghệ thuật là tiếng nói đi tìm bạn. Vì tìm bạn nên mới hát cho người ta nghe, không thì hát làm gì. Con người ai cũng khao khát thương yêu, chia sẻ.

Khi viết, khi sáng tác, là lúc mình được sống sâu nhất trong niềm xúc động nội tâm. Âm nhạc tôi là nội tâm tôi, là những gì tôi quan sát chiêm nghiệm.

Anh tâm đắc tác phẩm nào nhất trong số đã viết ?

Tôi chẳng có ca khúc nào gọi là tâm đắc. Hỏi thế có khác nào hỏi Anh yêu tay, chân hay tóc của anh? Yêu hay không thì nó vẫn là một bộ phận của con người mình đấy chứ.

Tôi chưa từng được nghe ca khúc nào của anh mang tính tuyên truyền cổ vũ. Anh không phù hợp, không thích hay không sáng tác nổi dòng nhạc ấy?

Quả thực trong âm nhạc, tôi không khuyên ai sống thế nào, chỉ nói tại sao mình yêu, tại sao mình đau khổ, tức là mình quan sát chính mình thôi.

Do cái tạng của tôi nó thế ! Tôi rất kính trọng Hoàng Vân với Bài ca xây dựng: “Cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau”. Toàn khẩu hiệu! Hay Tôi là người thợ lò, mặc dù ông ấy có là thợ lò bao giờ đâu. Các ca khúc ấy đều dạt dào cảm xúc rất thật, cả phần nhạc và ca từ đều hay.

Hoặc như Đỗ Nhuận, hầu hết ca khúc của ông cũng đều vì cái chung, cho cái chung. Những nhạc sĩ tài hoa đó đã từ bỏ cái riêng của mình, hoặc hòa cái riêng vào cái chung một cách nhuần nhuyễn. Tôi không làm được như vậy.

Điều đó có phải bắt nguồn từ chỗ do quá yêu bản thân mình không ?

Con người ta biết yêu mình sẽ biết yêu người khác. Yêu cho đúng nghĩa bao giờ cũng tốt đẹp. Tuy nhiên đôi khi cũng vì yêu mà mù quáng. Nhất là trong tình yêu giới tính, vì nó có yếu tố sex.

Vào vai giám đốc dự án

Nhạc sĩ Dương Thụ trong không gian Cà phê Thứ Bảy. Ảnh: Hữu Trịnh

Ít nhiều đã đủ đầy mọi thứ, anh vẫn không ngồi yên sáng tác, lại chịu mất nhiều thời gian ra đây vun vén cho một dự án cà phê?

À, đấy lại là cả một câu chuyện dài. Cà phê Thứ Bảy là một dự án văn hóa mà tôi hợp tác với Trung Nguyên. Tôi làm việc này không nhằm để người ta biết tôi như một người nổi tiếng. Tôi muốn có một không gian văn hóa cho bạn bè gặp gỡ, gây cảm hứng cho nhau.

Và vì tôi thích Vũ (Đặng Lê Nguyên Vũ – TGĐ Cty CP Trung Nguyên – PV), muốn làm cho Vũ điều gì đó, dù tôi chẳng là gì cả.

Vũ là người có tầm, có tâm, có thể hiểu được những việc mình muốn làm, có cái nhìn sâu sắc về văn hóa. Vũ luôn phải lo nghĩ về hiệu quả kinh doanh vì anh ấy là doanh nhân, cuộc sống anh ấy gắn liền với thương hiệu Trung Nguyên. Còn tôi thì không.

Tôi không đến đây ngồi chờ người ta hóng chuyện, hay tào tao. Tôi muốn điều gì đó thuần khiết hơn.

Liệu một nhạc sĩ mang tâm hồn thơ mộng, lãng mạn như anh có thích hợp gắn bó với chức danh rất ngoại đạo, giám đốc điều hành dự án?

Không phải tôi gắn bó mà chính tôi đẻ ra, nghĩ ra dự án này và đem nó đến cho Vũ. Năm ngoái Vũ mời tôi, Nguyễn Cường, Nguyễn Xuân Khánh, Lưu Trọng Ninh và nhiều người khác nữa lên thiên đường cà phê của anh ấy để viết nhạc, viết tiểu thuyết, để làm phim về cà phê.

Tôi nói thẳng đừng tốn tiền cho tôi vì mục đích này. Tôi chỉ viết từ tôi, cho tôi, vì những điều tôi hiểu chứ không viết cho những điều không hiểu hoặc chưa cảm được.

Nhưng tôi có cái này đã nghiền ngẫm để đưa cho Vũ. Đó là dự án Cà phê Thứ Bảy với nhiều mảng hoạt động văn hóa tinh túy. Vũ xem, đồng ý đầu tư tài chính.

Tôi cùng mọi người chuẩn bị từ việc tìm địa điểm vốn là quán cà phê Niết Bàn cũ, cải tạo nó cho phù hợp hơn và chuẩn bị nội dung giao lưu định kỳ hàng tuần cho nó.

Dường như tổng thể còn dang dở, kén người?

Tôi không làm thuê cho doanh nghiệp, không ký hợp đồng mà chỉ ký thỏa thuận hợp tác. Linh hồn của quán là Bùi Văn Nam Sơn. Nguyên Ngọc thì giúp mảng Cà phê Sách.

Mảng Cà phê Văn học có Ý Nhi và nhà phê bình Thanh Sơn. Cà phê Điện ảnh có Lê Hoàng, Bá Vũ; Cà phê Đối thoại có Lê Ngọc Trà, Đặng Lê Nguyên Vũ; Cà phê Hội họa có Nguyễn Quân, v.v…

Trên đời chẳng có gì từ trong đầu bước ra mà suôn sẻ dễ dàng hết được. Sắp tới sẽ khai trương thêm một số hạng mục mới, và bổ sung nhiều bộ sưu tập không thể thiếu. Mọi thứ còn dở dang, nhưng sẽ hoàn chỉnh dần.

Hoàng Thiên Nga
Thực hiện

Đinh Thị Như Thúy – Nhà thơ Dã Quỳ

Đọt Chuối Non hân hạnh giới thiệu với các bạn một gương mặt thơ mới: chị Đinh thị Như Thúy.

Người con gái Huế có bút danh Như Thúy và Như Dã Quỳ là một tác giả thơ quen thuộc. Nhiều bạn yêu thơ đã rất thích thú với giọng thơ của chị qua các tập thơ đã được xuất bản như Cùng đi qua mùa hạ (thơ), NXB Văn Nghệ, 2005; Phía bên kia cây cầu (thơ), NXB Phụ Nữ, 2007. Ngoài ra chị còn có không ít những bài thơ đăng trên Website Tiền Vệ …, báo Văn Nghệ, Văn Nghệ Trẻ, Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh…, Tạp chí Thơ, Sông Hương…

Trong quá trình sáng tác Như Thúy đã được tặng một số giải thưởng về thơ như
Tặng thưởng thơ năm 2008 của Tạp chí Sông Hương.
Tặng thưởng thơ năm 2008 của Tạp chí Non Nước.
Giải C Giải thưởng văn học nghệ thuật năm 2008 của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam cho tập Phía bên kia cây cầu.
Một điều thú vị nữa cho tất cả chúng ta là chị là một cô giáo dạy Văn, hiện công tác tại một trường Phổ thông Trung học thuộc Huyện Krông Pắc, Tỉnh Đắc Lắc.

Về thơ chị đã có nhiều lời bình trên các báo như Thanh Niên, Việt báo, các trang web như Thi viện, PhongDiep.net, vanchuongviet.org; vannghesongcuulong.org.vn; Inrasara, ….

Ta hãy thử nghe một trích đoạn sau dưới tựa đề Đinh Thị Như Thúy Và Âm Bản Của Cuộc Đời của Võ Tấn Cường:

Từ lâu, mỗi ngày tôi đều đọc một vài bài thơ như một thói quen, đọc thơ để tỉnh thức thế giới nội tâm và để nạp thêm năng lượng sống cho đời sống tâm linh. Đọc tập thơ: “Phía bên kia cây cầu” của Đinh Thị Như Thúy, tôi cảm nhận được một giọng thơ giàu chất suy ngẫm thế sự và nhận ra âm bản cuộc sống và tâm hồn của nhà thơ thấp thoáng trong từng câu thơ, bài thơ. Thế giới thơ ca của Đinh Thị Như Thúy đuợc khắc họa thông qua những khoảnh khắc giao hòa giữa ánh sáng và bóng tối, giữa thực và ảo, giữa hạnh phúc và đau khổ, giữa ám ảnh và khát vọng…Nổi bật giữa hình tượng bài thơ thường là cái tôi trữ tình mang đậm chất nghĩ ngợi, suy ngẫm về sự giao hòa giữa tâm hồn nhà thơ và những sự vật bé nhỏ, về thân phận của con người và cái đẹp…

Toàn bộ thơ của Đinh Thị Như Thúy trong tập thơ: “Phía bên kia cây cầu” đều là thơ văn xuôi và tự do, câu thơ co duỗi linh hoạt, nhịp thơ buông lỏng, hướng về sự lắng đọng, âm vang của ngữ nghĩa giữa các từ ngữ. Thơ Đinh Thị Như Thúy ít biểu cảm trực tiếp, thơ nặng về ý hơn là hình tượng. Nhịp thơ cuộn chảy theo diễn biến của tâm trạng và sự suy ngẫm của chủ thể trữ tình. Sức gợi và sức ám ảnh của thơ chị nằm ở chiều sâu của ngữ nghĩa ngôn từ với sự chuyển động và va đập của hình tượng thơ:

“Tôi đã vẽ trên vân cát nỗi buồn vẽ niềm hân hoan vẽ bông hoa vẽ ước mơ và cả lời thề nguyện. Cát bình thản nhận về tôi một chấm nhỏ nhoi”

Giọng thơ của Đinh Thị Như Thúy tự nhiên tuôn chảy như tiếng vọng của tâm hồn nhà thơ. Nhiều câu thơ của chị như những suy nghĩ bật ra thành lời, giống như những câu danh ngôn:

“Không nhiều lời, những con dốc buộc người đi phải cúi đầu. Không chơi trò ú tim, sự tồn tại rồi tiêu biến của sương mù là bài học. Không đỏm dáng, cẩm tú cầu tự nhuộm sắc vàng xanh tím hồn nói lời đau đi qua hạnh phúc…” (Bài Ca Ngân Dài)

Còn nhiều những lời ngợi ca thơ Như Thúy, nhưng có lẽ không cần phải nói thêm về những ý tưởng phong phú và xúc cảm sâu lắng đa cung bậc trong thơ chị. Các bạn sẽ tự mình bước vào khám phá thế giới thơ ấy và bất chợt thấy mình hòa nhập với những rung cảm thẫm mỹ trong từng câu chữ thơ tự do rất riêng của chị.
Chào mừng Như Thúy đến với Đọt Chuối Non.

Mời các bạn đọc bài Ấn Tượng, về Hà Nội mùa hạ (trong tập thơ Cùng Đi Qua Mùa Hạ), và bài Viết Trong Mùa Tưới Rẫy, về Tây Nguyên mùa hoa cà phê.


Ấn Tượng

Hà Nội ùa vào em từ sông Hồng sóng đỏ
Từ vòng xe tìm về phố lao đao
hoàng lan, hoàng lan trước khung cửa mở
Rủ nhánh mềm tươi nét môi chào

Hà Nội – cuốn sách diệu kỳ bọc trang kim lấp lánh
Em – đứa trẻ học vần
Vụng về gõ lên từng con chữ
Háo hức chờ tiếng vọng ngàn xưa

Hà Nội – những con đường trong thơ
Những hàng cây trong thơ
Bước chân em ngơ ngơ …phố …phố…
Dọc ngang, dọc ngang rối rít tiếng người

Đền Ngọc Sơn xanh thắm nắng ngời
Lời cầu chúc bình yên em thì thầm trong thanh tĩnh
Khói hương vẽ con đường vô định
Muôn trùng

Đinh Thị Như Thúy

Viết Trong Mùa Tưới Rẫy

(mấy hôm nữa quanh đây hoa café sẽ nở trắng
và thơm đến nhức đầu)

và nước đã thấm sâu
nước đã đẫm từng cọng non mềm của rễ
dâng lên đi dòng nhựa trắng
dâng lên đi mùa hoa trắng

dâng lên dâng lên bung từng chùm
trắng như áo lụa
trắng như mây trắng
trắng như nụ cười

không nói toả hương mà nói là mê hoặc
không nói đẹp mà nói là kỳ diệu
không nói ngắm nhìn mà nói là ngất ngây

suốt một ngày chạy đuổi
suốt một ngày hai tay dang rộng
chỉ cây tiếp cây hoa tiếp hoa đến tận chân trời

hoa không nói lời hoa
chỉ trắng như một niềm vui sướng
và gió và ong và bướm
mang hoa về muôn nơi
và trên hoa lộng lẫy nắng trời

Đinh Thị Như Thúy

Nguyễn Hữu Vinh – Kẻ lưu đày trên đảo xanh

Như một kẻ “ bị lưu đày trên đảo xanh”, Hữu Vinh luôn hướng về quê nhà với trái tim của chàng trai 18 tuổi- tuổi của ngày rời xa người mẹ thân yêu, xa tiếng chuông chùa Thiên Mụ, xa con đường đến trường xuôi theo giòng Hương quen thuộc đến chân trời mới lạ để rồi bằn bặt 18 năm sau mới có cuộc đoàn viên rưng rưng nước mắt trên quê xưa.

Đầy trong trái tim 18 ấy là làng Xuân Hòa hiền hòa bên giòng Hương xứ Huế với những khu vườn mướt xanh cây lá, là tuổi thơ vô tư trong trẻo với nhũng trò chơi hồn nhiên con trẻ, là tuổi mới lớn nhiều ước vọng thấp thoáng bước chân chim của cô hàng xóm trong giấc mơ. Và nhiều hơn hết, rõ hơn hết  là hình ảnh người mẹ tảo tần,  suốt ngày hết bếp lại vườn, hết chợ trên lại về chợ dưới. Tất bật vậy nhưng nụ cười không thiếu trên môi bởi đàn con khôn lớn từng ngày, học hành giỏi giang đã là nguồn vui vô hạn. Ngày tiễn Vinh sang xứ người, mạ Vinh đinh ninh trong dạ rằng đó chỉ một cuộc xa năm năm không hơn. Nào ngờ đất nước biến động. Những tưởng không còn gặp lại đứa con trai, nước mắt rơi gần  bằng mưa Huế khiến bà mỏi mòn để khi trùng phùng cứ ngỡ không phải là sự thật. Và hình ảnh mạ ấp ủ suốt 18 năm đã trở thành tượng đài trong tâm hồn  khiến Vinh bội phần thương mạ khi gặp lại người dung mạo đã khác xưa. Từ đó Vinh nguyện sẽ dành cho mạ những gì tốt đẹp nhất mình có thể. Và  hạnh phúc lớn nhất của anh là mỗi năm một lần bay về Xuân Hòa quanh quẩn bên mạ dăm bữa nửa tháng.

Cũng đầy trong trái tim mười tám tuổi ấy là thanh điệu bỗng trầm, là từ ngữ mộc mạc của tiếng Huế. Biết bao lần giữa tấp nập ngược xuôi  trên xứ người, anh ngỡ như nghe thấy tiếng reo vui “Ê! Thằng Vinh nớ! Mi đi mô rứa?” của bạn bè ngày xưa hay nhỏ nhẻ “Anh ni dị ghê, ngó người ta hoài” của cô hàng xóm. Hóa ra đấy chỉ là mộng tưởng. Anh khát tiếng mẹ, khát âm giọng quê nhà. Nỗi khát ấy đã giúp Vinh giữ mãi âm sắc Huế, tiếng Huế dù sống giữa cộng đồng nói tiếng Hoa hoặc tiếng Anh, khiến anh em bạn bè khâm phục cảm mến. Người cảm động và tự hào nhất không ai khác là mạ của Vinh. Tôi nghĩ rằng hẳn Vinh đã phải trò chuyện với mình hằng ngày bằng tiếng VIỆT HUẾ mới được như vậy, vì không ít người xa xứ vài năm đã không còn thuần giọng huống chi Vinh đã  hơn ba mươi năm không mấy khi được nghe được nói tiếng mẹ đẻ, lại là tiếng Huế trên đất người. Taiwan – nơi gia đình Vinh ở không phải là thành phố nhiều người Việt sinh sống (khác với California hay Huston bên Mỹ). Anh tâm sự rằng để được gặp đồng hương, thỉnh thoảng cuối tuần anh phải lái xe hơn hai trăm cây số đi và về. Mới biết trong muôn vàn nỗi khổ có cả nỗi thèm tiếng quê nhà.

Trong trái tim ấy,  miền trung với Huế thơ mộng; nước Việt với non sông gấm vóc luôn hiện hữu. Điều này được nói lên bằng tên hai đứa con của anh với người bạn đời Đài Loan: Nguyễn Trung Việt- Nguyễn Hoài Nam. Đặt tên con cũng là một cách vừa tự dặn mình vừa để nhắc nhở thế hệ tiếp nối đừng bao giờ quên nguồn cội. Mỗi lần cả gia đình cùng về thăm quê, anh đều đưa vợ con thăm nhà thờ họ, thăm khu mộ tổ. Không cần nhiều lời, việc làm này đã thay anh nói với con về những gì chúng cần phải biết từ quá khứ, hiện tại và cả tương lai.  Khó có thể nói trước điều gì sẽ đến với mỗi chúng ta trong cuộc đời này. Riêng với Vinh anh biết đường về quê nội của thế hệ thứ hai, thứ ba trong gia đình nhỏ của anh  gần đấy mà cũng xa thẳm bởi anh không thể để lại cho con – huống chi cho cháu – trái tim mười- tám – tuổi được kỷ niệm ấu thơ ủ lửa nhớ thương, càng không thể chặn guồng quay của cuộc sống được nạp bằng nhiên liệu tư duy hiện đại. Điều này day dứt anh không ít. Có lẽ đây là lý do chính khiến anh thấy mình như là kẻ bị lưu đày.

Và kẻ lưu đày ấy, sau nhiều lần về quê quanh quẩn bên mạ, đã ngộ ra rằng mình phải làm gì đó ở xứ đã nhận mình làm công dân  để vừa nguôi ngoai nhớ thương vừa gắn đời mình với quê hương đất nước bằng những gì mình có được từ trí lực  và ý chí bền bỉ trên xứ người.

Taiwan có thư viện lớn nơi lưu giữ một ít thư tịch cổ, sách cổ của Việt Nam; về Việt Nam. Đặc biệt là sách lịch sử, văn học, tôn giáo. Với vốn chữ Hán phong phú , từ 1994 anh  bắt tay nghiên cứu Hán Nôm. Việc đầu tiên là khảo đính Việt Sử Lược – cuốn sử biên niên viết bằng chữ Hán, được biên soạn vào thời Trần – sau đó là An Nam Chí Lược – cũng là một cuốn sử xưa cùng thời. Là một chuyên gia computer thông thạo chữ Hán, anh còn phát huy thế mạnh của mình ở cả hai phương diện bằng cách góp công sức với Taiwan Chinese  Buddhist Electronic Text Association trong việc hoàn thành bản điện tử bộ Đại Tạng Kinh (Tripitaka). Ở độ tuổi 40, với  công việc chính là nghiên cứu Opto-electronics và computer electronics đây là một việc làm đáng khâm phục.

Và như một cơ duyên, sau một lần về Việt Nam, qua nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương  anh có được  bản thảo chữ Hán trọn bộ Lộc Minh Đình Thi Thảo gồm 197 bài thơ của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, một đại quan triều Nguyễn và là  thi nhân  nổi tiếng của đất thần kinh. (Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương là con gái của thi nhân). Ở Taiwan anh đọc kỹ và xúc động với hình ảnh quê hương đất nước hiện rõ  qua mỗi địa danh quen thuộc, với cảm xúc đa chiều của tác giả bằng ngôn ngữ cô đọng. Chưa từng làm thơ, lại là thơ chữ Hán nhưng ngôn ngữ, hình ảnh và nhất là thi tứ dạt dào đầy ắp tình người phản ánh tâm hồn, trí tuệ và cả nhân sinh quan của một tao nhân quyền quý, lập tức thu hút tâm trí anh, khiến anh khó dứt ra được. Tạm gác việc khảo đính hai bộ sách quý, anh chuyên tâm vào dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo.

Trừ khi  làm việc chuyên môn, hầu hết thời gian còn lại được anh dành cho việc khảo dịch, tra tìm các điển cố, điển tích và khó hơn hết là chuyển sang thơ Đường luật. Để thoát lẽ thường “dịch là phản” (Traduire, c’est trahir), anh đã dốc tâm tìm hiểu thêm  luật thơ (vốn không thuộc lĩnh vực hiểu biết sâu rộng của anh),  chọn lọc từ ngữ để vừa trung thành với  ý tứ vừa  gần gũi với nguyên bản mà vẫn bảo đảm  nhạc tính. Có thể nói việc dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo trở thành niềm đam mê lạ lùng của Hữu Vinh và anh hoàn thành trọn vẹn công trình sau bốn năm miệt mài. Chưa bằng lòng với những gì mình đã làm, anh dành thêm nhiều thời gian chỉnh sửa, hiệu đính và sau đó chuyển thành bản điện từ để cuối cùng bản dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo được Institude of Vietnamese Studies, California, USA, xuất bản cuối năm 2008.

Với phong cách làm việc của một nhà khoa học, Hữu  Vinh đã chú thích, chú giải một cách cặn kẽ các điển tích, điển cố vốn nhiều trong thơ Đường nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn. Để làm việc nầy anh đã nghiên cứu gần 60 tài liệu trong và ngoài nước- phần lớn là  sách xuất bản ở Taiwan. Đích thân anh trình bày  bản dịch. Mỗi bài thơ ngoài bản dịch theo lối thơ Đường và bản in chữ Hán còn có bản chụp thủ bút nguyên bản chữ Hán của tác giả, phần chữ Hán được viết lại bởi người dịch,  và bản dịch  văn xuôi. Hẳn rằng những ai có  được bản dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo trong tay đều sẽ không thể phủ nhận đây  là công trình dịch thuật văn học quý báu với tính khoa học rất cao.  Điều thú vị khác cần nói đến  trong bản dịch này là  nhiều bài thơ nổi tiếng của  tác giả Đường thi trong nền  văn học Trung Quốc như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu, Vương Duy…đều được Vinh dịch kèm  trong phần chú thích. (Người viết bài này rất tâm đắc gọi đây là công trình 2 trong 1 ( cuốn )  hoặc 7 trong 1 ( trang ). ) Như vậy ngoài việc dịch LMĐTT, dịch thơ Đường cũng  trở thành đam mê của anh; nhờ đó anh đã hoàn thành một tuyển tập nhỏ gồm 50 bài thơ Đường chọn lọc với chủ đề về tình quê và tình bạn.


Việc dịch LMĐTT đem lại hứng thú cho anh, ngoài ra còn đem đến với anh những cộng sự đắc lực và cả tri âm. Đó là người bạn đời của anh, là các con anh. Họ không những động viên khích lệ tinh thần anh mà còn góp sức với anh một cách cụ thể. Và đó là Hoài Hương, cô gái Đà Lạt trẻ tuổi nhưng giỏi giang, là tiến sĩ Thái Kim Lan – đồng hương Xuân Hòa; người rất yêu Huế và đã  góp phần giới thiệu nghệ thuật tuồng Huế đến với thế giới qua vở Đông Lộ Địch ( cũng của Ưng Bình Thúc Giạ Thị ). Họ tiếp thêm cho anh niềm hứng thú, sự hăng say trong công việc, từ đó anh tham gia nhóm biên soạn bộ Tự điển chữ Nôm trích dẫn (TĐCNTD) (gồm Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê văn Đặng, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích và Trần Uyên Thi ) nhằm mục đích giúp các thế hệ  người Việt có điều kiện nghiên cứu, chuyển sang quốc ngữ các tác phẩm văn học Việt Nam viết bằng chữ Nôm, hiện đang tản mát hoặc được xếp kỹ trong các thư viện trên thế giới. Cuốn tự điển chữ Nôm này vừa được Institute of  Vietnamese Studies xuất bản và ra mắt tại California vào đầu tháng 4, tại Paris trong tháng 5, 2009 vừa qua.

Cũng như LMĐTT, TĐCNTD được soạn thảo công phu. Ngoài phần chữ Nôm (đã từng xuất hiện trong các tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm như Hồng Đức quốc âm thi tâp, truyện Kiều hay Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc…), phiên âm, còn  có thêm phần trích dẫn có chữ Nôm với từng từ loại khác nhau (vì vậy mà có tên TĐCNTD). Vẫn thế, suốt đêm sau giờ làm việc anh lại miệt mài. Thỉnh thoảng – cũng như trước đây với thơ Đường hoặc LMĐTT – theo đề nghị của tôi anh email giới thiệu   vài trang anh đang chịu trách nhiệm khiến tôi vô cùng cảm phục.

Ngoài các công trình lớn trên, anh còn tham gia giới thiệu chùa Huế trên tạp chí Nhớ Huế hoặc các website của Phật giáo và cùng nhiều người khác viết sách bút ký “Sông Hương ngoài biên giới”.

Có thể nói trái –  tim –  mười – tám – tuổi trong người đàn ông sinh 1955 Hữu Vinh đang đập mạnh mẽ chuyển  giòng máu văn hóa, văn học Việt, ngôn ngữ Việt đến với người Việt trong nước cũng như ở hải ngoại và hòa vào thế giới. Cầm gươm cầm súng chống lại ngoại xâm là yêu nước. Góp phần tỏa rạng  nét đẹp trí tuệ, tâm hồn Việt, văn hóa Việt cũng là yêu nước vậy.

Không ít người tự chia đời mình thành nhiều mốc tính theo tuổi tác hoặc thành bại, Hữu Vinh – không chia mà ngẫu nhiên có ba lần mười tám: xa xứ khi vừa qua tuổi mười tám, mười tám năm học tập; định danh trên đất người để rồi lần đầu tiên về thăm mạ và  đến nay là mười tám năm sau ngày sum họp ấy anh hướng về quê nhà bằng công việc của một con ong cần mẫn trong vườn hoa Hán Nôm. Có thể nói ba mốc mười tám này đối với anh tràn đầy ý nghĩa. Thời gian chất chồng lên mỗi người bao nỗi khiến nguời vui thì ít kẻ buồn lo lại nhiều, nhất là với những ai không may mắn được sống trên chính quê hương mình. Nhưng  với “kẻ lưu đày” Hữu Vinh- người đang “đốt” ngày tháng được nhân lên bằng niềm  thương mạ nhớ quê  thành nguồn năng lượng mạnh mẽ, vô hạn để đọc và biên khảo các thư tịch Việt cổ – thời gian sẽ là người ủng hộ tích cực cho các công trình đang dang dở. Hy vọng rằng anh sẽ tiếp tục với Việt Sử lược và An Nam Chí Lược để giới thiệu một cách hoàn chỉnh hai bộ sách quý giá này và nhiều nhiều bộ sách giá trị khác nữa đang tàng ẩn xứ người.

(Tặng N.H Vinh)
….
Bận lòng chi gặp gỡ chia ly
Hoa của đời hãy nâng niu gìn giữ
Băn khoăn chi muôn trùng cách trở
Trái đất luôn là một chấm tròn

Xin hãy nói thoả thuê tiếng mẹ
Kho ngôn từ giàu có vẫn ắp đầy
Bến nước hàng cau, ngõ nhà người ấy
Tiếng chuông chùa ướt đẫm ánh trăng.

Xin hãy nghe thoả thuê giọng Huế
Răng rứa mô ri ríu rít dễ thương
Đơn độc xứ người có ai thỏ thẻ
Để dịu lòng , để vươn dậy , bâng khuâng…

(BMT, 7- 2009)
Tôn Nữ Ngọc Hoa

ĐCN: Bài này đã đăng ở yahoovanhoaviet.com và tạp chí Sông Hương

Văn Thanh, thì ra “dâm vỏ tái lòng”!

Sau 18 năm dạy Trung văn ở Phú Thọ và Nghệ An, Văn Thanh bỏ nghề vào Đắk Lắk làm cán bộ văn hóa thông tin. Lý do được ông trần trụi phơi ra đầu bút :

Tôi cầm phấn lên bảng dạy học trò

Nói theo sách chúng vừa nghe vừa gật

Trang giáo án thêm đường rót mật

Ra giữa đời chát đắng chua cay …

Chất “đồ xứ Nghệ” ngang ngạnh, bộc trực thấm đẫm từ trong ra ngoài khiến Văn Thanh không ngồi yên trên bất cứ cái ghế nào. Người sao thơ vậy, ông luôn chọn được lối riêng thú vị, sắc sảo khi cần phơi bày những góc khuất của xã hội, dù trong đời hay trên trang giấy. Hoặc đùa cợt ngộ nghĩnh “Con chuồn ớt đậu trên cành ớt/ Dẫu đỏ hết mình cũng không thể nào cay”; Hoặc nghiêm khắc đe nẹt “ Thôi đừng ầm ĩ biển ơi/ Một ly nước ngọt cho đời, có chưa ?”; Và hồn nhiên như trẻ nhỏ “ Sáng ra choàng tỉnh dậy / Da trời đầy nếp nhăn/ Thì ra đêm vũ trụ/ Còn suy tư hơn mình” …

Tự làm mọi thủ tục hưu sớm để lui về lo cơm áo gia đình và lo cho … thơ. Loay hoay tập tành mãi mới phục hồi dần thể lực sau một cú tai biến mạch máu não tưởng đã “đi tong”! Thế nhưng ngay trong những năm tháng loay hoay ấy ông đã lần hồi sáng tác, gom góp được cả chục tập bản thảo thơ, tự vẽ bìa phô tô gửi tặng bạn bè đọc chơi. Tập đầu tay in ấn đàng hoàng của ông có tên là “ Quả đắng”. “ Thơ tôi quả đắng trên rừng/ Ai ham của ngọt xin đừng ghé môi !” . Dòng nào trang nào cũng đắng, kiểu “ đắng dã tật”, tốt mà … khó nuốt. Họa sĩ trường phái tả chân sau cả buổi vò đầu chả biết nên trình bày thế nào, bèn tương lên bìa hình vẽ một thứ quả tưởng tượng nhòe nhoẹt, lù xù gai nhọn, trông cứ như con Ếts (AIDS).

Có cậu con trai tài giỏi, họa sĩ Lê Hồng Thao, thành danh ngay trong giới đồ họa,  đang làm việc cho một trong những công ty hàng đầu về kỹ xảo điện ảnh và game 3D ở  Mỹ .  Nhưng con xa bạn gần, Văn Thanh không ngần ngại nhận “ tài trợ kỹ thuật” kiểu tự mày mò từ thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo để “một bước lên đời”, trở thành tác gia tân thời nhất trong giới cầm bút ở Đắk Lắk vì là người đầu tiên ở xứ cà phê xanh mù táo bạo mở blog văn chương. Văn Thanh blog’s đủ loại sáng tác trường ca đoản ca, truyện vừa truyện ngắn, thuần chất chém to kho mặn đọc vừa tếu vừa đau khó lẫn. Trong mớ hàng bày ra chỉ để chia sẻ chứ không bán ấy dễ gặp khá nhiều ảnh tươi mát , thoạt nhìn dễ nghĩ một đằng, đọc phần chữ in kèm hóa ra một nẻo. Ví dụ “ Triết lý của điếm” :

Vẻ đẹp em như một lâu đài/         Lộng lẫy lắm. Em có quyền định giá/Em bán. Em cho. Có gì mà lạ ? Khoa học bán phát minh/ Họa sĩ bán tranh/ Công nhân bán mồ hôi mình/ Lại có kẻ bán cả quyền hành/ Tất cả vì Tiền/ Bán/ Bán…Nghe em nói mà tôi hoảng sợ/ Những người già/ Giờ biết bán chi đây ?

Dấn thêm bước nữa, mới đây ông cho ra lò thêm tập thơ nặng trịch, trên mặt bìa cứng dày cộp in lồ lộ ảnh một nàng khỏa thân, tóc rũ vú chìa, ngồi gục đầu giữa đêm tối dưới cái tên nửa nạc nửa mỡ “Người tình ngoài sổ sách”. Tập tễnh một bên chân di chứng tai biến vác thơ đi , ông oang oang kể, nửa khoe nửa than :

Lắm thằng thấy cái bìa tưởng vớ bở, cứ nằn nì “Bác tặng em với!”. Của đâu cho đủ ?! Anh em giúp phần lớn mà vẫn phải nộp vô hai mươi lăm triệu mới ra được năm trăm bản. “Mỗi câu thơ là một hạt cát/ Trong ngực người bầm tím nỗi đau” chứ đùa à ?

Tôi ghẹo :

– Chính anh viết “ Thơ không được màu mè chưng bán/ Đánh lừa nhau, ru ngủ mọi người” . Vậy mà lần này phải chơi tới ảnh truồng để tiếp thị ư ?

Ông trợn mắt :

Tác phẩm nghệ thuật đoạt huy chương vàng gì gì đó của nghệ sĩ nhiếp ảnh Dương Quốc Định, thằng Tạo nó bảo thế . Chẳng đủ tặng bạn bè, còn đâu mà tiếp thị ?

Dân cá gỗ, Ký ức về cái nghèo, Vóc dáng miền Trung, Đu đủ đực, Tái ngộ Chí Phèo, Con voi một ngà, Đất Ea Sô, Bờm đi chợ WTO, Thiện và ác, Búa và đinh, Gà công nghiệp v.v…Gần ba trăm tên bài nép sau lớp bìa khiêu khích “ dâm vỏ” nhưng “ tái lòng”, dồn nén đầy ứ buồn vui  của quá nửa đời người trung thực thăng trầm.

Không phải bài nào cũng hay, song có thể nhặt ra lắm tứ thơ bất ngờ, thú vị, hàm súc như ca dao thành ngữ. Bút pháp xù xì thô mộc, thường chỉ vài câu ngắn gọn đã bao trọn tình ý thâm sâu. Ví dụ “ Cây bonsai” :

Trăm năm kẹt giữa sứ sành/ Thân nào chẳng sẹo, chẳng thành u chai…

Hoặc “ Lá chè ” : Cứ vò/ Cứ sấy/ Cứ sao/ Cứ đem đun nóng ai nào quản đâu/ Có gì chưa hiểu lòng nhau/ Xin tan vào chén để sau thấm dần…

Hoàng Thiên Nga

Lê Vĩnh Tài, Nhà Thơ Phố Núi Và Trường Ca Vỡ Ra Mưa Ấm

Chào các bạn,

Dưới đây là bài giới thiệu của chị Huỳnh Huệ về nhà thơ Balme Lê Vĩnh Tài, một thi sĩ dịu hiền và chân thật.  Mình và Phượng gặp Lê Vĩnh Tài năm 1996 tại đêm ca hát ờ nhà Hoàng Thiên Nga cùng chị Linh Nga Niê Kdăm và một số bạn bè khác.  Đêm đó anh em tâm sự cũng nhiều.  Nay có duyên được Huỳnh Huệ nối dây trở lại.

Trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm là một trường thi dài hơn 6,500 chữ, về rừng núi, cây lá, con người, tình yêu và những suy tư khắc khoải của Tây Nguyên.  Đây là bản trường ca của một người con ruột rà máu thịt Tây Nguyên, với những thổn thức và nhịp đập con tim của một đứa con dành cho đất mẹ:

Tây Nguyên mênh mang tận cùng máu chảy
mẹ dạy ta nhìn thấy
một bông lúa rẫy cũng khát như người

ôi Tây Nguyên
lá vẫn xanh trong câu thơ lá đỏ
ngày nhiều nắng gió
vàng rơi

Tây Nguyên mênh mang
có những phận người…

Mời các bạn “nghe” lời giới thiệu của chị Huỳnh Huệ về anh Lê Vĩnh Tài. Sau đó, mời các bạn xem đoạn 1 của trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm.

Mến,
Hoành
________

Chào các bạn,

Lê  Vĩnh Tài  sinh năm 1966 tại Ban Mê Thuột, Đăklăk, đã có những tháng ngày  khoác áo sinh viên, mặc blouse trắng thực tập tại các bệnh viện ở phố núi. Anh  tốt nghiệp Đại học Y Dược Tây Nguyên nhưng cuối cùng theo nghề kinh doanh và làm thơ.

Với anh, thơ chính là con đường, hành trình, nguồn năng lượng thắp sáng, tìm kiếm bản thể mình, là tình yêu tha thiết cho quê hương, thân phận,  nỗi đau trước những cánh rừng bị tàn phá… Anh đã có nhiều tập thơ được in, từng nhận nhiều giải thưởng văn học địa phương và trong nước : giải văn học nghệ thuật tỉnh Đăklăk, giải Tác phẩm Tuổi Xanh, giải Bút Mới, giải Bách Việt lần 1 tháng 1/ 2009… Trong cuộc hành trình của mình,  Lê  Vĩnh Tài đã đến nhiều nơi của  tổ quốc, từ Nam ra Bắc,  nhưng có lẽ Ban Mê và Tây Nguyên là một cõi đi về, đỉnh điểm và khát vọng của hồn thơ anh  : “Tôi yêu vùng đất đỏ bazan – khát quê nhà. Những bài thơ của tôi như loài hoa cà phê chỉ sống được và tỏa hương trên những triền đồi hoang dã”.

Các tác phẩm của anh gồm :

Tác phẩm:
Hoài niệm chiều mưa, NXB Thanh Niên 1991.
Hạt thóc và Hoa dại (in chung với Uông Ngọc Dậu), 1993.
Lục bát Phượng yêu (in chung với Phạm Doanh), 1994.
Và nỗi nhớ đã bắt đầu với gió, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2004.
Vỡ ra mưa ấm, trường ca, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2005.
Liên tưởng, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2006, Giải thưởng của Liên hiệp các hội VHNT VN 2007.
Đêm & những khúc rời của Vũ, NXB Hội Nhà văn, 2008.
Thơ hỏi thơ, NXB Thanh Niên, 2008.

Góp mặt trong:
Thơ trẻ Việt Nam 1994-1998.
Tuyển 20 năm thơ Sông Hương, 2003.
Tuyển 50 năm thơ Văn nghệ Quân đội.
Thơ Việt Nam, Tìm tòi và cách tân 1975-2005, NXB Hội Nhà văn, 2007.
Huy chương vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, 2001.

Cũng như nhiều  nhà thơ  khác của vùng  đất Tây Nguyên, tình yêu dành cho mảnh đất này, Lê Vĩnh Tài và thơ anh từ những xúc cảm ban đầu  –  nỗi buồn, nỗi nhớ nhung lặng lẽ, khó nắm bắt nhưng rất thực của anh về đất, về người, về đời, về những giấc mơ mỗi đêm “như gió về đập cửa” và “những ngày tháng đã xa như cổ tích” ( Và Nỗi Nhớ Đã Bắt Đầu Với Gió, Nhà xuất bản Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 3.2004) cho đến những nỗi trăn trở, nỗi đau nhức nhối khi rừng chảy máu và bị tàn phá điên cuồng.

Hãy nghe tiếng lòng  thảng thốt :

rừng thành chật chội bước chân của người…
rừng bỏ chúng ta đi

đỉnh núi không còn rừng nhô ra đỉnh vú…
trên rơm rạ đời ta rừng từ giã cõi đời

Còn nhiều để nói về những trăn trở trong thơ của Lê Vĩnh Tài, bởi thơ anh không là cõi mơ xa rời hiện thực, mà là tiếng lòng anh gần gũi  với đất, rừng núi, con người và cuộc  sống của  vùng đất Tây Nguyên huyền thọai này:

tại sao không liên tưởng
hạnh phúc dửng dưng nỗi đau phá
giá oằn vai người nuôi cá basa
mắt người nuôi gà
nỗi kinh hoàng hố chôn dịch cúm
dường như chiều nay
chúng ta quên mất cuộc đời nhiều cánh cửa
cùng đóng lại ước mơ
với một ly cà phê Highland bốn mươi ngàn
khuyến mãi máy lạnh
quên mất ở Tây Nguyên bảy năm rồi cà phê bốn ngàn một ký
khuyến mãi mồ hôi

(Đêm và những khúc rời của Vũ, NXB Hội Nhà văn, 2008)

Nhưng thực ra tác giả vẫn không mất đi niềm hi vọng về một ngày mai sáng, xanh hơn trên mảnh đất đã là máu thịt:

niềm vui Banmê chênh vênh mõm đá
thành phố dịu dàng nỗi đau ngược gió
bay lên.
(Vỡ ra mưa ấm, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2005)

Đọt Chuối Non hân hạnh giới thiệu nhà thơ Lê Vĩnh Tài như một tác giả mới của Đọt Chuối Non qua trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm mà anh vừa gửi đến cho Đọt Chuối Non với lời hứa góp mặt thường xuyên vì tình cảm anh dành cho sân chơi – mảnh đất màu của tư duy tích cực , lạc quan yêu đời, và đặc biệt cộng đồng Daklak’s gang.

Các bạn có thể biết thêm về tác giả Lê Vĩnh Tài qua những bài viết giới thiệu khác trên báo, tạp chí và các trang web như bài :  Các khuôn mặt mới 11. Lê Vĩnh Tài tại http://inrasara.com/?p=1912

Hùynh Huệ

Vỡ Ra Mưa Ấm

(đoạn 1)

Những ý nghĩ về em chưa bao giờ lắng xuống
ôi quê hương
cỏ dại bông hoa như những quả chuông màu nắng ngân vang
vùng đất lũ lụt và hạn hán
sáu tháng mùa khô
sáu tháng mặt trời
những sáu tháng mắt cay mờ bụi đỏ
sáu tháng dựng lên tất bật, âu lo
con nước lớn thành con nước nhỏ
quả bầu để khô đựng nước bên trong
lũ lượt thành dòng
nước ở trên gùi chứ không ở dưới sông
lấy được nước mồ hôi nhiều hơn nước
mẹ biết vậy nhưng cách gì khác được

cơn khát khô cong dấu hỏi trong lòng
trốn đâu rồi con suối, dòng sông
sao cóc nghiến răng mà mưa không đến
lúa trên rẫy nghẹn đòng
vỏ trấu thôi chẳng hạt gạo bên trong
nương rẫy rộng mênh mông
mà mẹ đi mót lúa không hạt nào

mặt trời mọc đàng Đông và lặn đàng Tây
đêm cuộn vào trong ngày
cái quầng lửa trở mình qua lại
lăn qua rẫy nương một vệt máu bầm
cầu vồng mơ mưa rợp xuống thân Người
gió và bụi đỡ mặt trời lên cao
như ánh sáng
trong suốt dẫn ta vào giấc mơ
theo lối thang mòn của mẹ

Lê Vĩnh Tài

Người thầy của tôi

Chào các bạn,


Bài sau đâu là của chi Đàm Lan, một nhà văn và nhà thơ ở Dak Lak, biết đến ĐCN qua chị Tôn Nữ Ngọc Hoa. Chị Đàm Lan có con đường văn nghiệp rất thú vị, như các bạn sẽ thấy trong bài sau đây. Chị đã in các tập truyên ngắn Hoàng Hôn Biển (1998), Mênh mông chiều vàng (2005), Lối Nhỏ (2006) và Sự Nhầm Lẫn (2008).

Chào mừng chị Đàm Lan đến với Vườn Chuối chia sẻ thân ái , vui chơi cùng các anh chị em. Cám ơn chị Ngọc Hoa đã giới thiệu. Mong là mọi người sẽ được đọc nhiều tác phẩm khác của chị Đàm Lan.

Bài sau đây của chị Đàm Lan nói về người thầy, người anh, của chị – nhà văn Ma Văn Kháng, nhân ngày sinh nhật thứ 73 của anh Kháng, 1.12.2009.

Chúc chị Đàm Lan và cả nhà nhiều phút giây ngọt ngào trong Vườn Chuối.

Mến,

Hoành

.

Người thầy của tôi

Tôi bước vào văn nghiệp một cách tự phát, không hề qua một trường lớp đào tạo nào. Trình độ học vấn lại dừng ở một nấc quá khiêm tốn (cấp hai), nên ngoài viêc tự mày mò, viết nhiều, đọc nhiều thành quen khả năng tư duy, tiếp xúc và biểu đạt, thì tôi cần lắm những sự chỉ bảo của người di trước.Và tôi đã thật may mắn, tự thấy mình có đủ duyên hạnh mà cuộc đời đã ưu đãi ban tặng.Với một sự nghiệp thuộc lĩnh vực nhiêu khê như viết lách, thì cần biết bao sự chỉ dẫn tận tình và tâm huyết. Nếu gặp được một người Thầy có đủ Tâm-Tài-Tình, ta sẽ vững tin bước tiếp, và sự lĩnh hội cộng với cố gắng của mình, ít nhiều cũng sẽ đem lại kết quả.

Tuy tôi cũng đã nhận được đây đó đôi lời khích lệ, góp ý, nhưng phải đến lúc gặp được “Anh”, người thầy chân tình, thì tôi mới thực sự có niềm tin một cách vững vàng cho công việc và niềm đam mê của mình. Tôi muốn bày tỏ chút tâm tình của mình về Nhà văn Ma Văn Kháng. Một người Thầy, một người Anh lớn mà tôi thật may mắn hữu duyên được gặp.
Mã Văn Kháng, 1997
Vào tháng tám năm 1997. Tôi được Hội Văn Học Nghệ Thuật địa phương cho đi dự một lớp bồi dưỡng tại Hà Nội. Chúng tôi có tất cả hai mươi bốn người từ mười hai tỉnh thuộc miền núi tập trung về Trường Đảng bên dòng sông Tô Lịch. Trong hai mươi bốn ngày dự lớp, chúng tôi được chào đón các Bác, các Thầy đến thỉnh giảng như : Bác Nông Quốc Chấn, Bác Nguyễn Đình Thi, Bác Hà Xuân Trường, Bác Cù Huy Cận, Bác Lê Phức, Cô Vũ Giáng Hương, Thầy Bằng Việt, Thầy Nguyễn Xuân Tấn, Thầy Tạ Ngọc Liễn, Thầy Hoàng Nam, và đặc biệt nhất với tôi là Thầy Ma Văn Kháng. Đặc biệt là bởi, duy nhất Thầy Kháng giảng đúng mạch tôi cần : Văn xuôi.

Tôi còn nhớ rất rõ. Hôm ấy ngày giảng của Thầy Kháng đúng vào ngày Hà Nội mưa như trút. Ngồi trong lớp nhìn ra ngoài trời sậm sịt, gió luồn tê tê ren rét. Nhưng điều đó không làm tôi bận tâm. Bởi những gì Thầy đang truyền dạy kia cứ như là nguồn nước mạch ngấm vào tôi vậy. Tôi nghe hết sức chăm chú, sự chăm chú của tôi không vuột khỏi sự tinh nhạy của Thầy, mà về sau khi đã chuyển sang cách xưng hô thân tình và gần gũi hơn, Anh đã nói “Lúc đó, anh cảm giác em như một cái cần ăng ten, hút hết sóng của anh vào vậy.”

Trong giờ giải lao, tôi không còn chút e dè gì của một cô học trò tỉnh lẻ, đã trò chuyện, bộc lộ những ưu tư về nghiệp, Anh đã rất chan hoà, vui vẻ, thân tinh mà trao đổi cùng những lời vũ động đầy nhiệt huyết. Anh lại càng có vẻ chăm chút khi hỏi tôi “Em học trường nào ra ? Đại học Báo chí hay Xã Hội Nhân Văn?” “Dạ, cổng trường đại học xa vời với em lắm” “Vậy chắc cũng hết mười hai hả?” “Dạ, mười hai cũng chưa bước tới” “Trời! Vậy em học đến lớp mấy ?” “Dạ đến lớp chín thôi ạ” “Uổng quá, giá em được học cao lên chút nữa thì tốt quá.” Chắc lúc đó anh rất thương một cô học trò miền xa, học ít mà lại đa đoan nghiệp phận.

Cuối buổi giảng, tuy mưa đã tạnh nhưng sân trường thì ngập nước. Anh trong chiếc sơ mi màu xanh nhạt, dắt chiếc xe Chaly bì bõm đi ra khỏi cổng trường. Tôi đứng nhìn theo, lòng vô cùng xúc cảm. Không chỉ là tình cảm lưu luyến và sự lo âu, mà còn là một niềm hối tiếc vì nghĩ sẽ khó có dịp gặp lại Anh. Mặc dù tôi đã có xin số điện thoại nhưng cũng tự biết mình không nên quấy rầy. Điều bất ngờ mà tôi không hề mảy may đoán trước được. Hôm sau, Anh đến trường, không phải là buổi lên lớp, cũng không phải có việc liên hệ với nhà trường, mà là “Anh đưa tặng tôi cuốn sách Trăng soi sân nhỏ” có chữ ký của Anh được gói trong một tờ giấy báo. Trời ơi ! Niềm hạnh phúc tuyệt cùng vỡ oà trong tôi, (cho đến giờ nhắc lại, tôi vẫn dậy lến cảm xúc ấy). Ngay từ lúc đó, tôi đã biết, Anh là ngọn đuốc soi đường cho tôi.

Lê Khôi Nguyên, Đàm Lan, Ma văn Kháng, Đinh thị Như Thuý, Lý văn Kèo (1997)

Giếng mối Thầy-Trò, Anh-Em càng bền chặt qua những lá thư, cuộc điện. Và cũng nhờ anh đốc thúc và hết sức chăm sóc từ khâu bản thảo, làm bìa và in ấn, tôi mới ra được tập truyện ngắn đầu tiên, không đến đâu với một tác phẩm đầu tay, nhưng sự tiếp sức và củng cố niềm tin thì rõ ràng có hiệu quả. Anh luôn truyền đạt và chỉ dạy cho tôi những gì then chốt nhất của chuyện văn, chuyện đời. Không chỉ qua trao đổi, mà còn qua những tác phẩm của Anh.Văn Anh dung dị mà súc tích, giàu hình tượng và ngồn ngộn chất sống. Đọc văn Anh không chỉ thêm hiểu biết về con người và vùng đất anh miêu tả, mà còn thấu được nhiều cái lẽ ở ăn của người đời. Qua đó toát rõ phong thái cốt cách của Anh, cho dù có rất nhiều tác giả không thể ứng với câu “Văn tức người”, nhưng với Anh thì đúng thế. Anh với lối sống hài hoà giản dị mà đường hoàng tư cách. Anh rất thật tình, và cái thật tình của Anh không tìm thấy sự thô vụng, tuế toá, mà thể hiện rất rõ sự chừng mục, tĩnh tại, khiêm nhã.

Tháng sáu năm 1998, Anh vào mở trại sáng tác ở Đồng Đế-Nha Trang.Tôi nhận được tin, vội từ Banmê xuống thăm Anh. Anh em gặp nhau vui quá là vui. Chiều ấy khi anh Tô Đức Chiêu đi đón các nhà văn từ Hà Nội vào dự trại, anh bảo tôi đi cùng vì có ông Tô Hoài và một vài vị tên tuổi khác, ý anh muốn tạo cơ hội cho tôi tiếp xúc. Nhưng tôi bảo “Em về đây là để thăm Anh chứ không phải để gặp người nổi tiếng.” Và rồi, bên chiếc bàn con, anh với manh áo nâu sọc, chiếc quần đùi dài, nói với tôi những chuyện đó đây. Với tôi, đó là những phút giây giá trị.

Chiều hôm sau thì tôi đi cùng Anh ra ga để đón những nhà văn, thơ ở khu vực miền Trung vào. Ai bảo là làm việc ở Hội Nhà Văn là sang cả. Cũng chỉ là một cảnh làm dâu thôi, lại còn lắm lắm những ong ve nữa chứ. Hình ảnh Anh ngồi trên gờ thành một bãi cỏ ở nhà ga để chờ tàu đến, sao mà…tôi không biết điền từ gì vào cho hợp cảnh nữa, chỉ biết dáng ngồi ấy, ánh mắt ấy cứ đọng mãi trong tôi.

Cũng trong năm 1998 ấy, có một Hội nghị các nhà văn trẻ được tổ chức tại Hà Nội, trong đó có một số người cùng lớp bồi duỡng ấy. Tôi nhận được một lá thư của Anh, viết ngay khi anh đang dự Hội nghị, đại ý Anh bảo không nên tự ti và cũng không nên vội vàng, điều gì có giá trị thực sự thì sớm muộn gì cũng đến lúc được thừa nhận, và rằng người nhanh chân chưa hẳn là người thắng cuộc, nhất lại trong cái việc tay không đào quặng này. Tôi rất hiểu cái tình và lời nhắn nhủ của Anh. Tuy tôi cũng không có gì cấn cái chuyện Hội nghị ấy cả, nhưng được nhận sự quan tâm của Anh, tôi thấy mình lớn lên thêm một chút.

Gần đây, Anh ra hai cuốn sách, Một mình một ngựaHồi ký. Tôi đọc xong hai cuốn, nhất là cuốn Hồi ký, thấy nao nao tâm cảm. Bởi chặng đường đời Anh đi qua sao quá nhọc nhằn. Có những đoạn kể, mà chắc rằng Anh đã cố chiết tự, nhưng vẫn đáu đẫm một đoạn đời vật vã. Có phải vật vã vốn là một yếu tố cần có cho một tài hoa. Bởi gần như là một mẫu số chung, những bậc tài hoa xưa nay đều có cuộc đời không bằng phẳng, mà hầu hết phải chịu những cảnh đời khắc nghiệt, không thế này thì cũng thế khác, có những người còn hết sức trầm luân khổ hạnh. Hoá công cơ cầu, bắt người tài phải chịu đau, như một người mẹ khi sinh con, phải đau, đau đến kiệt cùng thì đứa bé mới được ra đời khoẻ mạnh. Phải chăng đó vẫn là tính hệ quả của được-mất ?

Giờ đây, Anh đã bước vào một chặng đường êm ả, an hoà với một tâm thế bằng an, thanh thoả, tuy thể chất không còn nhiều sức lực như xưa, nhưng Anh vẫn yêu từng ngày, vẫn sống từng ngày với từng chiu chắt niềm vui quanh mình. Vào mỗi lúc thời tiết khắc nghiệt, rét quá, Anh lại bảo “Giá còn trẻ thì chuyển vào Nam”, nhưng đó là nói vui thế thôi, làm sao Anh có thể giã từ mảnh đất đã có cùng Anh biết bao ngọt đắng. Lào Cai và Hà Nội. Hai chốn quê thân thiết của Anh, đã cùng Anh đi qua bao biến động thăng trầm, cũng là nơi níu giữ mảnh hồn và trái tim đa cảm của một Tâm-Tài-Tình.

Vẫn biết tạo luật không bao giờ hoán đổi một chu trình thời gian, vẫn biết có những điều người ta không muốn mà vẫn đến, nhưng tôi chỉ thiết tha khấn nguyện một lời “Xin cho Thầy, xin cho Anh, xin cho Người những tháng ngày viên an, đủ để bôi xoá những gập ghềnh xưa ấy.” Anh Kháng ơi ! Nhớ ngày đầu gặp Anh, em đã nói vui rằng “Chịu khó làm học trò của Ma văn Kháng, may ra khá.” Và mãi mãi, em là một học trò nhỏ bé của Anh, không chỉ với nghiệp mà cả với đời. Người Thầy thân thương kính mến của em ạ !

    Nhân sinh nhật thứ 73 của Nhà văn Ma văn Kháng
    1-12-1936 – 1-12-2009
    ĐÀM LAN

    (Đàm thị Tuyết Lan 74 Y Jut TPBMT
    Email : damlanbanme@yahoo.com.vn
    ĐT : 0985183225)