All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Đúng và Sai

Khi Bankei mở mùa an cư kiết hạ, đệ tử từ nhiều nơi trên đất Nhật về tham dự. Trong một buổi thiền định, một đệ tử bị bắt gặp đang ăn cắp. Vấn đề được bẩm báo lên Bankei, với yêu cầu là người đệ tử ăn cắp bị đuổi. Bankei lờ vụ này.

Sau đó đệ tử này lại bị bắt gặp ăn cắp như vậy, và một lần nữa Bankei lờ vấn đề. Chuyện này làm các đệ tử khác tức giận; họ viết một thỉnh nguyện thư yêu cầu kẻ cắp bị đuổi, nói rằng nếu không thì họ sẽ rời bỏ.

Sau khi đọc lá thơ, Bankei gọi mọi người đến. “Các anh em rất thông thái,” thiền sư nói với họ. “Anh em biết cái gì đúng và cái gì không đúng. Anh em có thể theo học nơi khác nếu muốn, nhưng người anh em khốn khó này chẳng biết đúng sai. Ai sẽ dạy anh ta nếu tôi không dạy? Tôi sẽ giữ anh ta lại đây dù là tất cả các anh em rời bỏ.”

Một suối lệ chảy dàn dụa trên mặt người đệ tử ăn cắp. Tất cả mọi ham muốn trộm cắp đã tan biến.
.

Bình:

• Thường thì những người tự cho mình là đạo đức, hay ít nhất là mình không xấu, thì thường tìm cách lánh xa và xua đuổi những người họ cho là xấu.

Tuy nhiên, “Người mạnh khỏe không cần y sĩ, nhưng người bệnh thì cần.” (Kinh thánh Thiên chúa giáo, Matthew 9:12)

• Hơn nữa, đồ tể buông đao thành Phật. Không thể nói ai sẽ thành Phật trước—người ăn cắp hay người không ăn cắp.

• Thiền là “vô tâm”, không phân biệt học trò giỏi dở tốt xấu. Lo cho mọi học trò như nhau.

• Thực ra thì ai đúng ai sai? Kẻ cắp đương nhiên biết rằng trộm cắp là sai (chỉ là do yếu đuối vì lý do nào đó mà làm bậy). Các đệ từ khác thiếu trí tuệ, thiếu từ tâm, nhưng lại vẫn nghĩ là mình đúng đến nỗi áp lực cả thầy.

Thế thì ai hiểu biết, và ai si mê?

An cư kiết hạ là mùa chư tăng không ra ngoài, cùng ở nhà với nhau để giữ gìn sức khỏe và học tập tăng cường đạo lực. Tại Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, mùa này bắt đầu từ ngày 16 tháng 4, đến rằm tháng 7, là ngày Tự Tứ đồng thời là Lễ Vu Lan, tổng cộng 90 ngày.

• Bankei là thiền sư Bàn Khuê Vĩnh Trác mà ta đã nói đến trong bài Giọng nói của hạnh phúc.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Right and Wrong

When Bankei held his seclusion-weeks of meditation, pupils from many parts of Japan came to attend. During one of these gatherings a pupil was caught stealing. The matter was reported to Bankei with the request that the culprit be expelled. Bankei ignored the case.

Later the pupil was caught in a similar act, and again Bankei disregarded the matter. This angered the other pupils, who drew up a petition asking for the dismissal of the thief, stating that otherwise they would leave in a body.

When Bankei had read the petition he called everyone before him. “You are wise brothers,” he told them. “You know what is right and what is not right. You may go somewhere else to study if you wish, but this poor brother does not even know right from wrong. Who will teach him if I do not? I am going to keep him here even if all the rest of you leave.”

A torrent of tears cleansed the face of the brother who had stolen. All desire to steal had vanished.

# 45

Malagueña Salerosa – bản nhạc lãng mạn Mê-hi-cô của mọi thời đại

Chào các bạn,

Ai đã nghe qua nhạc Flamenco đều biết đến Malagueña Salerosa, hay còn gọi tắt là Malagueña. Bản này đã được mọi nghệ sĩ guitar và vũ flamenco khắp thế giới trình diễn trong vòng hơn 60 năm nay, kể từ khi được hai nhạc sĩ Mê-hi-cô Elpidio Ramírez và Pedro Galindo cho ra đời trên Peer International năm 1947.

Bản nhạc là lời tỏ tình chân chất của một chàng thanh niên nghèo với một cô gái rằng nàng rất đẹp, và chàng rất yêu nàng, nhưng chàng sẽ hiểu nếu nàng từ chối tình yêu vì chàng nghèo quá.

Một cuộc tình say đắm, một chiều, nhưng với hiểu biết, và không cay đắng.

Mắt em đẹp làm sao
Dưới đôi chân mày
Dưới đôi chân mày đó
Mắt em đẹp làm sao!

Mắt em muốn tôi ngắm nhìn
Mắt em muốn tôi ngắm nhìn
Nhưng chỉ nếu em không rời đôi mắt
Dù chỉ để chớp mắt.

Malaguena Salerosa
Tôi muốn hôn môi em
Tôi muốn hôn môi em
Malaguena Salerosa.

Nếu em xem thường tôi vì nghèo
Tôi hiểu lý do
Tôi hiểu lý do
Nếu em xem thường tôi vì nghèo.

Tôi không tặng em giàu có
Tôi tặng em quả tim tôi
Tôi tặng em quả tim tôi
Để thay cái nghèo của tôi

Và tôi nói với em, hỡi người đẹp ơi,
Em đẹp và huyền diệu
Em đẹp và huyền diệu
Như hoa hồng tinh khiết

(TĐH dịch)

Malaguena Salerosa

What pretty eyes you have
Underneath those two eyebrows
Underneath those two eyebrows
What pretty eyes you have!

They want me to watch them,
but (only) if you don’t leave them
but (only) if you don’t leave them,
not even to blink.

Malaguena Salerosa
I wanted to kiss your lips
I wanted to kiss your lips
Malaguena Salerosa.

If you despise me for being poor,
I grant you reason,
I grant you reason,
If you despise me for being poor.

I do not offer you wealth,
I offer you my heart.
I offer you my heart,
In exchange for my poverty.

And to tell you, beautiful girl,
You are pretty and magical
You are pretty and magical
Like the candor of a rose.

Bản nhạc này được ca si Mê-hi-cô Miguel Aceves Mejia làm nổi tiếng trong một cuốn phim Mê-hi-cô, và Jose Feliciano, được xem như người trình tấu guitar Flamemco bản này hay nhất thế giới.

Sau đây mời các bạn thưởng thức:

1. Malaguena qua tiếng guitar Flamenco của Jose Feliciano
2. Malaguena qua tiếng hát của Miguel Aveces Mejia
3. Ca sĩ/tài tử đẹp trai Antonio Banderas trong đoạn mở đầu phim Once Upon A Time in Mexico, với Malaguena là nhạc nền.
4. Malaguena do ban nhạc rock Mê-hi-cô ở Austin, Texas, Mỹ, tên là Chingon, trình diễn ngày ra mắt cuốn phim Kill Bill II (Bản này có trong nhạc nền của phim).

Chúc các bạn một ngày lãng mạn!

Hoành
.

Jose Feliciano – Malagueña Salerosa

.

MIGUEL ACEVES MEJIA hát “LA MALAGUEÑA”


.

Antonio Banderas – La Malagueña (Érase Una Vez En México)


.

Chingon – Malaguena Salerosa (Kill Bill 2)

Kẻ cướp thành môn đệ

Một buổi tối khi Shichiri Kojun đang tụng kinh, một tên cướp cầm một thanh gươm bén vào nhà, đòi tiền, nếu không thì chết.

Shichiri bảo tên cướp: “Đừng làm rộn tôi. Anh có thể tìm tiền trong hộc tủ đó.” Rồi thiền sư tiếp tục tụng kinh.

Một lúc sau thiền sư ngừng và gọi: “Đừng lấy hết tiền. Tôi cần một ít để đóng thuế ngày mai.”

Kẻ gian lấy gần hết số tiền và sửa soạn ra về. “Cám ơn khi nhận được quà,” Shichiri nói thêm. Chàng cướp cám ơn thiền sư rồi đi mất.

Vài ngày sau chàng cướp bị bắt và thú tội, ngoài các tội khác, còn có tội với Shichiri. Khi được gọi ra làm chứng, Schichiri nói: “Anh này chẳng phải là trộm cướp, ít ra là đối với tôi. Tôi cho anh ta tiền và anh ta cám ơn tôi về việc đó.”

Sau khi mãn hạn tù, anh chàng này đến gặp Shichiri và thành đệ tử của Thiền sư.
.

Bình:

• Từ bi hoán cải.

• Nhưng, Shichiri đối xử từ bi với một tên cướp, hay Shichiri chỉ đối xử bình thường với một người trong nhà—Schichiri xem tên cướp, và tất cả mọi người khác trong thiên hạ, như là người nhà của mình?

Để trả lời, xin đọc lại lời đối thoại.

• Tiếng Anh, “thief” nên dịch là “kẻ trộm”. Tuy nhiên, trong truyện có nói cầm gươm dọa, thì phải là “cướp” (robber) mới đúng.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Thief Who Became a Disciple

One evening as Shichiri Kojun was reciting sutras a thief with a sharp sword entered, demanding either money or his life.

Shichiri told him: “Do not disturb me. You can find the money in that drawer.” Then he resumed his recitation.

A little while afterwards he stopped and called: “Don’t take it all. I need some to pay taxes with tomorrow.”

The intruder gathered up most of the money and started to leave. “Thank a person when you receive a gift,” Shichiri added. The man thanked him and made off.

A few days afterwards the fellow was caught and confessed, among others, the offence against Shichiri. When Shichiri was called as a witness he said: “This man is no thief, at least as far as I am concerned. I gave him money and he thanked me for it.”

After he had finished his prison term, the man went to Shichiri and became his disciple.

# 44

Mr. C The Slide Man – Cha Cha Slide

Chào các bạn,

Một anh dạy thể dục aerobics tên là William Perry (còn gọi là Mr. C hay The Slide Man) biến màn thể dục của anh thành dance hit, năm 2000, khi anh liên kết với đài phát thanh WGCI/Chicago và đưa nhạc vào man thể dục hàng ngày của anh. Đài phát thanh này quảng bá CD và các DVD dạy vũ (thể dục), và từ đó bản nhạc thành dance hit ở vùng Midwest nước Mỹ.– Cha Cha Slide.

Universal Records nhập bọn và đồng ý phát hành CD này rộng rãi. Từ đó Cha Cha Slide trở thành dance hit trên đất Mỹ và thế giới.

Lời nhạc chỉ là các lời như nhạc Rap, của huấn luyện viên thể dục, và vũ thì cũng chỉ là các chuyển động thể dục giản dị.

Các bạn có thể dùng bản này để tập aerobics. Lời “nhạc” theo dưới video.

Sau đó, chúng ta có hai video dạy khiêu vũ cha cha cha cho các bạn thích học vũ. Video đầu căn bản hơn, video thứ hai cao hơn một tí.

Chúc các bạn một ngày cha cha cho khỏe người !

Hoành
.
Mr. C The Slide Man – Cha Cha Slide

Clap your hands everybody
Slide to the left
Take it back now yal
One hop this time
Right foot lets stomp
Left foot lets stomp
Cha Cha now yal

To the left
Take it back now yal
Two hops this time
Two on the left
Two on the right
Cha Cha now yal

Slide to the right
Slide to the left
Take it back now yal
One hop this time
Right foot lets stomp
Left foot lets stomp
Charlie Brown
Cha Cha now yal

Five hops this time
Touch your knees
How low can you go
Can go down low
All the way to floor
Can you bring it the top
Like you never never stop
One hop this time
Right foot lets stomp
Left lets stomp

Reverse Reverse
Reverse Reverse

Cha Cha now yal

How to Dance the Cha Cha : Basic Cha-Cha Dance Steps – Franco Peraza & Valerie Levine


.

How to Dance the Cha-Cha : Demonstration of Cha-Cha Dancing – Kelly-Anne and Steve Vean Louis

Thông báo học bổng tu nghiệp: Revenue Watch Institute fellowship

From: Rebecca Iwerks

Dear Colleagues,

I am happy to announce below and attached that RWI is accepting applicants for the 2010 Petrad and Capacity Advancement Fellowships.  Please distribute widely and send in applications by March 19th, 2010 to fellowships@revenuewatch.org.

Best regards,

Rebecca

RWI Capacity Advancement Fellowship in Extractives

The Revenue Watch Institute (RWI) and the Oil for Development Program (OfD) of the Norwegian Agency for Development Cooperation are pleased to announce that we are accepting applications for the 2010 Capacity Advancement Fellowship in Extractives (CA Fellows) program. The deadline for application is March 19th 2010. The program seeks to broaden and deepen the role of the next generation of civil society activists in promoting the better management of oil, gas and minerals for the public good.  The fellowship is open to civil society activists from the following OfD countries: Afghanistan, Angola, Bolivia, Cambodia, Ecuador, Ghana, Ivory Coast, Iraq, Madagascar, Mauritania, Mozambique, Nigeria, São Tomé e Principe, Sudan, Tanzania, Timor-Leste, Uganda, and Vietnam.

Description:

The CA Fellowship aims to build the capacity of mid-career civil society activists by deepening their understanding of the extractive industries and broadening their skills to connect local, national, and international campaigns.  Fellows are expected to return to their organizations and coalitions with specific knowledge and skills that will enable them to better meet current challenges and develop broader training, advocacy, and research agendas. The program targets key individuals to develop a cadre of future leaders in the extractive industries transparency campaigns.

The year-long fellowship has two components – a period of focused learning and research in New York and a period of application of that learning in their own countries.

During the first half of the program, from August 2010 through January 2011, CA Fellows will be placed at the Revenue Watch Institute office in New York. Fellows will investigate international best practices for extractive resource management and governance and take part in: extractive industry related classes at leading academic institutions, donor and civil society networking events, hands-on support for original research and day-to-day RWI projects activities. Throughout this period they will be partnered with an expert mentor. Fellows are responsible for producing a paper that captures their investigations and learning at the end of this period.

After they return to their home organizations, CA Fellows will implement a project based on their new learning and experience, with the continued support of their expert mentor. They may apply for funding from the fellowship to support this work.  Revenue Watch will publish a short report from each fellow online at the culmination of the year, to highlight what was learned and the impact of the fellow’s activities.

RWI will work with the CA Fellows to co-develop a tailored capacity-building program that corresponds to their particular interests, goals and the primary challenges they expect to face in their revenue governance campaigns upon their return home.  CA Fellows will receive full financial support for the duration of their term in New York, including travel, accommodation and a living stipend.  Financial support for the implementation of home country projects may also be available after competitive review.

Criteria:

The CA Fellowship is designed for mid-level civil society activists involved in extractive industry transparency and management campaigns.  The successful candidate will have introductory knowledge of the extractive industry and related international campaigns, and a position within their organization and career enabling them to capitalize on a significant increase in learning. While exposure to other training opportunities is a plus, it is not required, and applicants must explain how this fellowship opportunity will add particular value to their development and work.  Preference will be given to applicants from newly producing countries or from contexts where civil society is newly engaged in extractive issues.

The successful CA Fellowship candidate will have, at minimum, an undergraduate degree/equivalent; a background in civil society research, monitoring and activism around extractive revenue transparency; a commitment to return to their country and continue their current campaign; a strong ability to work independently; and good English skills. They also must have the explicit support of their current home organization to pursue all aspects of this fellowship.

To apply, please send the following to Page Dykstra at fellowship@revenuewatch.org or fax at +1.212.548.4618 with ‘CA Fellowship’ in the subject line no later than March 19th, 2010:

A. Completed application form;

B. CV or resume;

C. Letter from your current manager/head of your organization recommending you for the fellowship and committing to support fellowship and post-fellowship activities.  This letter should include a brief description of the organization’s work related to extractive industries;

D. An essay (no more than 3 pages) that includes:

  • An outline of extractive related issues in your country and the current work you, your organization, and civil society groups broadly are doing in response;
  • An outline of what you will seek to learn and achieve during the fellowship opportunity;
  • A description of how you will use the learning and products from the fellowship on return to your country and organization; and
  • A description of how this fellowship fits into your current career goals.

All candidates will be judged in an open and competitive selection process that will rate them based on: the relevance of their work experience, training and education; their technical knowledge of the extractives sector; their space and commitment to apply newly acquired knowledge and skills; and their ability to meet the specific mental, relational, and academic challenges of the fellowship.  Short-listed candidates from each region will be interviewed by RWI staff as well as outside advisors.  Additional references may be requested.

RWI Petrad Fellowship

The Revenue Watch Institute (RWI) and the Oil for Development Program (OfD) of the Norwegian Agency for Development Cooperation are pleased to announce that we are accepting applications for the 2010 RWI Petrad Fellowship. The deadline for application is March 19th 2010. The programs seeks to accelerate civil society leaders’ effectiveness in promoting the better management of oil, minerals, and gas for the public good and is open to civil society activists from the following OfD countries: Afghanistan, Angola, Bolivia, Cambodia, Ecuador, Ghana, Ivory Coast, Iraq, Madagascar, Mauritania, Mozambique, Nigeria, São Tomé e Principe, Sudan, Tanzania, Timor-Leste, Uganda, and Vietnam.

Description:

The Petrad Fellowship aims to enable fellows to return to their home organization or coalition equipped to immediately take their campaigns to a more technical and informed level and share this knowledge with their colleagues over time.  By targeting leaders in the movement, this program aims to quickly raise civil society’s ability to engage in technical debates surrounding extractive industries.

Fellows in this 8 week program will be sponsored to attend a course in Stavanger, Norway on Petroleum Policy and Natural Resource Management run by Petrad (www.petrad.no). This intensive course spanning the entire extractive industries value-chain is usually only open to senior government officials. To help bridge the knowledge and skills gained in this course to their work in their home country, the fellows will be provided with a mentor before, during and after the coursework.  Fellows will be expected to conduct the background reading, meet regularly with their mentor, participate actively and constructively in the course in Stavanger, and provide RWI with a report about how they will apply their learning from Stavanger upon their return.

Petrad Fellows will be provided with travel, course tuition, and accommodation for their stay in Stavanger.

Criteria:

The Petrad Fellowship is targeted towards civil society leaders in extractive industry transparency and management campaigns that will be able to quickly apply this new and deepened knowledge of industry policy. The successful candidate must have sufficient background in issues related to petroleum extraction to engage in nuanced discussions about policy and its application.  They also should be in a leadership role in their current organization or coalition that will enable them to promote direct change as a result of the experience.  Preference will be given to newly producing countries or context where civil society is new to engage in extractive issues.

The successful candidate will have, at minimum: an undergraduate degree/equivalent; a background in civil society research, monitoring and activism around extractive revenue transparency; a dedicated commitment to return to their country and their current campaigns; a strong ability to constructively debate issues with multiple actors; and excellent English skills. They also must have the explicit support of their current home organization to pursue all aspects of this fellowship.

Application:

To apply, please send the following to Page Dykstra at fellowship@revenuewatch.org or fax at +1.212.548.4618 with ‘Petrad Fellow’ in the subject line no later than March 19, 2010:

A. Completed application form;

B. CV or resume;

C. Letter from your current manager/head of your organization recommending you for the fellowship and committing to support fellowship and post-fellowship activities.  This letter should include a brief description of the organization’s work related to extractive industries;

D. An essay (no more than 3 pages) that includes:

  • An outline of extractive related issues in your country and the current work you, your organization, and civil society groups broadly are doing in response;
  • An outline of what you will seek to learn and achieve during the fellowship opportunity;
  • A description of how you will use the learning and products from the fellowship on their return to your country and organization; and
  • A description of how this fellowship fits into your current career goals.

All candidates will be judged in an open and competitive selection process that will rate them based on: the relevance of their work experience, training and education; their technical knowledge of the extractives sector; their space and commitment to apply their newly acquired knowledge and skills; and their ability to meet the specific mental, relational, and academic challenges of the fellowship.  Short-listed candidates from each region will be interviewed by RWI staff as well as outside advisors.  Additional references may be requested.

Rebecca Iwerks | Program Officer for Capacity Building

Revenue Watch Institute   | 1700 Broadway| New York, NY 10019

Office: +1 212-548-0136  | Mobile: +1 917 496 9264

www.revenuewatch.org

Thiền trong đời của gã ăn mày

Tosui là một Thiền sư nổi tiếng vào thời của ngài. Tosui đã trụ trì vài chùa và dạy ở nhiều tỉnh.

Chùa cuối cùng Tosui viếng thăm thu hút nhiều môn sinh đến nỗi Tosui nói với họ là ngài sẽ bỏ việc giảng dạy vĩnh viễn. Tosui khuyên họ ra về và đi đâu tùy ý. Sau đó chẳng còn ai biết tông tích ngài ở đâu.

Ba năm sau một đệ tử của Tosui khám phá ra ngài đang sống với vài người hành khất dưới một gầm cầu ở Tokyo. Người đệ tử lập tức nài nĩ Tosui dạy mình.

“Nếu cậu có thể làm như tôi làm, dù chỉ đôi ba ngày, thì tôi có thể dạy,” Tosui trả lời.

Vậy người đệ tử mặc áo quần như hành khất và theo Tosui cả ngày. Đến đêm một người trong đám ăn mày chết. Tosui và người đệ tử khiêng xác nửa đêm và chôn xác trên sườn núi. Rồi họ trở về lại chỗ ở dưới gầm cầu.

Tosui ngủ ngon lành, nhưng người đệ tử không ngủ được. Đến sáng Tosui nói: “Chúng ta không phải đi xin đồ ăn hôm nay. Ông bạn vừa chết của mình đã để lại ít thức ăn đằng kia.” Nhưng người đệ tử chẳng ăn nổi miếng nào.

“Tôi đã nói là cậu không làm như tôi được,” Tosui kết luận. “Đi đi và đừng làm phiền tôi nữa.”
.

Bình:

• Tosui Unkei, thiền sư dòng Tào Động (Soto), là thiền sư lập dị nhất trong lịch sử Thiền Nhật Bản. Ngày nay nhiều người so sánh Tosui với thánh Francis of Assisi (Thiên chúa giáo), hay gọi Tosui “Chàng hippy đầu tiên”, và sách về cuộc đời của Tosui được gọi là “Hippy nhập môn.”

100 năm sau khi Tosui qua đời, thiền sư học giả Menzan Zuiho (1683-1769), thu nhặt tài liệu và các truyện truyền khẩu, viết lại quyển sách về cuộc đời của Tosui. Quyển này ngày nay đã được dịch sang tiếng Anh dưới tên “Letting go: The Story of Zen Master Tosui.” Có thể đọc quyển này trên Google Books.

• Tosui xem ra không thích học trò nghe mà không thực hành. Thường thì nghìn người nghe may ra được một người thực hành nghiêm chỉnh. Bao nhiêu người trong chúng ta đã nghe, đọc, và xem phim ảnh sách vở về tập thể dục. Bao nhiêu người đang tập hàng ngày? Hay là kinh sách Phật? Hay là Thánh Kinh?

Đa số người có ảo tưởng là cứ xem hay đọc điều gì thì mình sẽ có điều đó trong mình. Cứ xem phim Superman và Batman cả đời xem ta có thể thành Superman hay Batman không?

• Có lẽ, đối với Tosui, mang an lạc của Thiền đến cho vài người ăn mày, dưới đáy xã hội, có ý nghĩa hơn là giảng cho cả nghìn người mà chẳng mấy ai thực hành.

• Thực ra Tosui đã dạy cho người đệ tử kèo nài xin theo học rồi. Anh này chỉ học không nổi mà khôi. Thiền là sống thoải mái trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bất kỳ nơi đâu. Kể cả sống đời ăn mày. Sống “ở đây lúc này.”

Anh đệ tử này chỉ thích “nghe” giảng, nhưng thầy chỉ muốn học trò “sống”.

• Thiền là sống không vướng mắc. Vậy thôi.

Mê nghe lời thầy giảng là một vướng mắc lớn. Cả “lời giảng” lẫn “nghe giảng” đều không phải là “sống.”

Thầy muốn thử xem nếu mình phải sống như ăn mày, mình có thể sống với tâm không vướng mắc không?

Sống không QUEN, thì đương nhiên rồi. Ví dụ là khó ngủ vì lạ nơi.

Nhưng không MUỐN ăn đồ ăn của bạn mình vừa chết lại là chuyện khác. Đây là vướng mắc lớn về ý chí.

Hai vướng mắc này rất lớn: Việc nên làm (i.e., ăn) thì không làm. Việc không cần (lời gỉảng) thì lại cầu.

Rất khó để “thấy đường”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Zen in a Beggar’s Life

Tosui was a well-known Zen teacher of his time. He had lived in several temples and taught in various provinces.

The last temple he visited accumulated so many adherents that Tosui told them he was going to quit the lecture business entirely. He advised them to disperse and go wherever they desired. After that no one could find any trace of him.

Three years later one of his disciples discovered him living with some beggars under a bridge in Kyoto. He at once implored Tosui to teach him.

“If you can do as I do for even a couple days, I might,” Tosui replied.

So the former disciple dressed as a beggar and spent the day with Tosui. The following day one of the beggars died. Tosui and his pupil carried the body off at midnight and buried it on a mountainside. After that they returned to their shelter under the bridge.

Tosui slept soundly the remainder of the night, but the disciple could not sleep. When morning came Tosui said: “We do not have to beg food today. Our dead friend has left some over there.” But the disciple was unable to eat a single bite of it.

“I have said you could not do as I,” concluded Tosui. “Get out of here and do not bother me again.”

# 43

Kiến thức giả

Chào các bạn,

Hàng ngày chúng ta nghe báo chí nói nhiều về hàng giả: hàng hiệu giả, rau quả giả , thực phẩm giả… Nhưng ít thấy ai nói về kiến thức giả, dù rằng kiến thức giả là một hiện tượng lớn.

Trong pham vi bài này, chúng ta chỉ dùng các từ “kiến thức” và “giả” theo cách mọi người hay dùng hàng ngày, chẳng có gì đặc biệt cả. Cho nên, các bạn không nên nghĩ về hai từ này như là hai từ triết lý, vì triết lý đến tận cùng như triết l‎ý Phật gia thì mọi kiến thức đều là giả. Hết chuyện nói. 🙂

Không biết chuyện mà cứ nói như là mình biết, đó là giả. (Và chữ “biết” trong câu này cũng là chữ tương đối ta dùng hàng ngày, không phải là chữ “biết” triết lý).

Hãy lướt qua các kiến thức giả ta thường thấy hàng ngày, theo mức độ lớn nhỏ ta thấy, lớn trước nhỏ sau:

1. Lảm nhảm các từ chính trị dù rằng mình biết là nó chẳng nghĩa l‎ý gì trong thực tế, hoặc mình chẳng hiểu nó là gì.

Điều này thì ta thấy trên báo chí, diễn văn, và bài vờ có mùi chính trị trên Internet hàng ngày. Trong các nơi chứa kiến thức giả, thì chính trị là nơi có nhiều nhất. Vẹt nói rất nhiều.

2. Kế đến là các từ tôn giáo, nhất là các từ tôn giáo trong các bài viết chính trị.

Người viết thường là chẳng hiểu tí gì về các từ dùng, hoặc là cố tình dùng nó phản lại ‎nghĩa nguyên thuỷ của nó.

3. Mở miệng ra là “Tử nói”, “Phật nói”, “Decartes nói,” “Pascal nói”… mà không biết rằng câu nói đó chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện đang nói.

4. Nói chuyện theo công thức.

Nguyên một bài diễn văn hai tiếng đồng hồ, có thể chỉ là một con số zero to tướng, vì chỉ toàn là khẩu hiệu (chính trị) cộng lại, như là một công thức toán cộng, chẳng có nghĩa lý gì cả, người nghe chẳng nắm được điều gì cả ngoại trừ những khẩu hiệu và công thức rỗng tuếch nghe đã vài nghìn lần, như là: dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh, phát triển dân chủ cơ sở, nhân quyền nhân bản, tư bản xã hội, tự do kinh tế, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tự do ngôn luận, dân chủ tự do, công bình bác ái… kiểu AQ đọc diễn văn. Như là dùng computer chọn các khẩu hiệu và công thức bẳng cách may rủi và ghép lại theo cách may rủi, sau đó lên cầm micro đọc. Lâu lâu có dịp tra tấn thiên hạ.

(Nói thì dễ rồi, nghe được năm này qua năm kia mới là siêu! Mà người nói có biết là họ nói vẹt không, hay là họ thực sự hiểu được họ nói gì, mà không ai khác thấy gì cả?).

5. Mới học được đâu đó vài ba chữ mới, xổ ngay ra một chùm, trong khi chính người nói cũng chưa thật sự hiểu được nó là gì, vì mới đọc được loáng thoáng đâu đó.

6. Thích xổ cổ ngữ và ngoại ngữ dù mình chưa hiểu đến nơi.

Trong văn hóa thế giới, đôi khi mình phải kèm theo ngoại ngữ để người đọc hiểu đúng ý mình, vì nói về một câu chuyện ở Đức chẳng hạn, thì một số từ tiếng Việt không đủ chính xác để diễn tả, phải kèm theo tiếng Đức. Đó là chuyện đương nhiên. Ở đây, ta chỉ muốn nói đến các vị thích xổ La Tinh, Hán ngữ, ngoại ngữ cho dù rằng mình chẳng hiểu được sâu xa chữ mình nói.

7. Biết chỉ được một tí, mà nói là biết nhiều.

Vi dụ: “Tôi chắc chắn chuyện này nó phải thế này”, thay vì: “Theo kinh nghiệm của tôi trong hai năm nay, thì chuyện này thường là thế này. Có ngoại lệ không thì tôi chưa được gặp.”

Hay là: “Kiến thức của thầy về việc này chỉ tới đó. Mai này em có thể học cao hơn và nghiên cứu cao hơn. Rồi lúc đó em cho thầy biết kết quả nghiên cứu của em.”

8. Cứ lôi các câu trong sách ra nói, nhất là sách cổ, mà chẳng hiểu gì hoặc chẳng giải thích rõ thêm được gì.

Đây là do lối học từ chương, học thuộc lòng như vẹt mà ra. Nếu không giải thích được cho người nghe, thì đó là vì mình dốt chứ không phải người nghe dốt. Làm ơn tôn trọng sự thông minh của người nghe, và thành thật với cái dốt của mình.

9. Nói mà không ai hiểu được mới giỏi.

Thường là người viết/nói cũng chẳng biết mình viết/nói gì. Nhưng như thế mới là thông thái!

Qui luật viết/nói ngày nay: Tôi viết cho bạn, hoặc nói với bạn, mà bạn không hiểu, thì đó là do tôi viết tồi nói tồi, chứ không phải vì bạn đọc tồi nghe tồi.

Kiểu kiến thức ngày xưa của các ông đồ nho nói chữ Hán dân quê không hiểu tí gì và phục sát đất, thời bán khai đó đã qua rồi. Ngày nay, anh nấu ăn mà tôi ăn không ngon là anh nấu tồi, chứ không phải tôi ăn tồi. Anh nói tôi không hiểu , đó là vì anh không biết nói, chứ không phải tôi không biết nghe.

Các bạn có thể thêm vào vài ví dụ nữa về vấn đề kiến thức giả.

Điều quan trọng ở đây là chúng ta cần thành thật.

Thành thật là khởi nguồn của trí tuệ.

Thành thật với chính mình để biết kiến thức của mình đến đâu, mình biết đến đâu, và đâu chưa biết.

Rồi thành thật với mọi người, biết đến đâu nói biết đến đó, điều gì chưa chắc thì nói là chưa chắc, điều gì chưa biết thì nói là chưa biết.

Chỉ một chữ “thành thật” thôi, có gì phức tạp đâu. Sao mà khó quá vậy? Sao mà nhiều vấn đề quá vậy?

Nếu chúng ta tiếp tục để kiến thức giả phát triển quá nhiều trên đất nước, kiến thức thật sẽ tiếp tục bị ngộp thở mà chết, như là cây tốt bị chết ngợp giữa đám cỏ hoang.

Các vị giáo chức bị buộc phải dạy các em những điều mình không tin hay chưa tin, vì mình chưa nắm vững vấn đề hoặc mình tin là nó sai, các vị có thể làm một bước trưởng thành tâm linh rất lớn cho đời mình, bằng cách nói với thủ trưởng: “Anh làm ơn cho tôi dạy môn khác, tôi thật là không thể tự dối lòng, huống hồ là dối các em.”

Làm được như vậy là Phật tâm đó! Đó là từ bi bác ái với học trò của mình, và tích cực đóng góp vào việc phát triển tương lai của tổ quốc.

Truyền bá kiến thức mình không tin, là truyền bá kiến thức giả. Đừng làm vậy, nhất là đối với các học trò nhỏ. Giáo dục giả là tội rất lớn với tổ quốc, và với Chúa Phật, vì đó là tích cực hủy hoại đầu óc tuổi trẻ.

Trí tuệ lệ thuộc vào thành thật. Và đôi khi, can đảm.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

ESPAÑA CAÑI (Vũ điệu Gipsy Tây Ban Nha) và vũ điệu Paso Doble

Chào các bạn,

Trong các bản nhac để khiêu vũ vũ điệu đấu bò sinh động Paso Doble, thì España Cañí là bản nhạc số 1 trên thế giới.

España Cañí có nghĩa là “Spanish Gypsy” hay Gipsy Tây Ban Nha. Gipsy là những nhóm người du sinh, gốc Romania và nói tiếng Romany, sống lang thang khắp Âu Châu, sống bằng cách làm thuê theo mùa và buôn bán lặt vặt. Họ thường dùng nhạc và vũ Flamenco hoặc múa bụng, để kêu gọi khách hàng đến quầy hàng của mình, như Sơn Đông mãi võ bán thuốc dạo.

España Cañí, còn có tên là Spanish Gypsi Dance, nguyên thủy là nhạc Flamenco cho guitar Flamenco, do Pascual Marquina Narro (1873-1948) viết vào khoảng năm 1925. Tuy nhiên vì nó quá phổ thông, ngày nay ta thường nghe bản này với dàn đại hòa tấu, hoặc với ban nhạc trong các dạ vũ.

Đây cũng là bản nhạc thường được chọn trong các cuộc biểu diễn hoặc thi đấu vũ điệu Paso Doble.

Hôm nay chúng ta sẽ nghe bản nhạc này, cùng thưởng thức một số màn trình diễn vũ điệu Paso Doble:

1. Dàn Nhạc của soạn giả, nhạc trưởng kiêm nghệ sĩ vĩ cầm Andre Rieu, với dàn vũ minh họa.

2. Dàn hòa tấu vĩ đại chỉ toàn guitar.

3. Thi đấu Paso Doble tại giải IDSF Grand Slam Final 2005.

4. Riccardo Cocchi – Yulia Zagoruychenko biểu diễn Paso Doble, Disney 2016

Chúc các bạn một ngày Paso !

Hoành
.

1. Andre Rieu – Espana Cani (DRESDEN 2008) DIGITAL TV


.

2. ESPAÑA CAÑI – Guitar Ensemble

.

3. Giải IDSF Grand Slam Final 2005 – Vũ Điệu Paso Doble

.

4. Riccardo Cocchi – Yulia Zagoruychenko | Disney 2016 | Showdance Paso Doble

Câu trả lời của người chết

Khi Mamiya, sau này là một giảng sư nổi tiếng, đến gặp thầy để nhận giáo huấn riêng, Mamiya được giao công án giải thích tiếng vỗ của một bàn tay.

Mamiya tập trung suy nghĩ vào điều gì có thể là tiếng vỗ của một bàn tay. “Con không tập luyện chuyên cần đủ,” thầy bảo Mamiya. “Con cứ bị vướng mắc vào thức ăn, tài sản, và cái tiếng đó . Con chết đi còn hơn. Như vậy sẽ giải quyết được vấn đề.”

Lần kế tiếp Mamiya vào gặp thầy và lại bị hỏi chỉ cho thầy tiếng vỗ của một bàn tay. Mamiya tức thì ngã lăn ra như là chết rồi.

“Đúng là con chết rồi,” thầy quan sát. “Nhưng vể tiếng vỗ đó thì sao?”

“Con vẫn chưa giải được,” Mamiya trả lời, ngước nhìn lên .

“Người chết không nói,” thầy bảo. “Đi ra!”
.

Bình:

• Đây là vướng mắc đầu tiên của Mamiya: “Mamiya tập trung suy nghĩ vào điều gì có thể là tiếng vỗ của một bàn tay.”

Như chúng ta đã thấy trong bài Tiếng vỗ của một bàn tay, mục đích của công án không phải là để tìm câu trả lời, mà là “để chận tâm trí không đi lang thang”. Cuối cùng là có được tâm trí hoàn toàn tĩnh lặng, hoàn toàn trống không, “vô tâm”. Nếu tâm trí ta cứ vướng mắc với câu hỏi “Tiếng vỗ của một bàn tay là gì?”, thì tâm trí không bao giờ tĩnh lặng được.

• Vì vậy cho nên thầy nói: “Con cứ bị vướng mắc vào … cái tiếng đó.”

• Thầy còn nói vướng mắc vào “thức ăn và tài sản.” Đây là thầy muốn nhắc khéo là cả ba thứ vướng mắc đều như nhau. Con mà còn vướng mắc vào “cái tiếng đó” và vẫn còn tìm lời giải “cái tiếng đó là gì?”, thì con vẫn còn vướng mắc y như là người ham ăn và người ham của cải.

• Thầy còn hướng dẫn xa hơn: “Con chết đi còn hơn.” “Chết” tức là không suy nghĩ nữa, không có câu hỏi trong đầu nữa. Nhưng trò vẫn không hiểu được.

Thầy phải nhắc khéo thêm lần nữa: “Người chết không nói”—tức là, không có câu hỏi, không có câu trả lời.

• Tâm tĩnh lặng, tâm không, vô tâm là đích điểm cuối cùng. Khi đạt được đích đó thì tâm hoàn toàn rỗng lặng, không có câu hỏi và không có câu trả lời.

Nếu nói theo kiểu Tanzan, thiền sư ẳm cô gái qua vũng bùn, thì: “Ủa, câu hỏi đó con đã để nó lại lúc thầy hỏi con hai tháng trước rồi, sao thầy lại con mang nó theo tới bây giờ?”

• Chú ý: Các thiền sư không nói nhiều. Chữ nào trong câu nói của các vị cũng quan trọng.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Dead Man’s Answer

When Mamiya, who later became a well-known preacher, went to a teacher for personal guidance, he was asked to explain the sound of one hand.

Mamiya concentrated upon what the sound of one hand might be. “You are not working hard enough,” his teacher told him. “You are too attached to food, wealth, things, and that sound. It would be better if you died. That would solve the problem.”

The next time Mamiya appeared before his teacher he was again asked what he had to show regarding the sound of one hand. Mamiya at once fell over as if he were dead.

“You are dead all right,” observed the teacher. “But how about that sound?”

“I haven’t solved that yet,” replied Mamiya, looking up.

“Dead men do not speak,” said the teacher. “Get out!”

#42

Thiền của Joshu

Joshu bắt đầu học Thiền lúc 60 tuổi và tiếp tục cho đến 80, lúc ngài đạt Thiền.

Joshu dạy Thiền từ năm 80 cho đến 120 tuổi.

Một ngày nọ môt đệ tử hỏi Joshu: “Nếu con không có gì trong tâm hết, con phải làm gì?”

Joshu trả lời: “Ném nó ra.”

“Nhưng con không có gì hết, làm sao mà ném ra được?” người đệ tử hỏi tiếp.

“Vậy thì,” Joshu nói, “khiêng nó ra.”
.

Bình:

• “Không có gì trong tâm” sao lại hỏi?

Có nguyên một câu hỏi nặng vậy mà nói là không có sao được!

Lần thứ nhất thầy bảo ném nó ra ngoài. Nhưng lại hỏi tiếp, thầy biết là câu hỏi này nặng quá, không ném được, phải khiêng ra ngoài.

• Tâm Thiền là tâm rỗng lặng, chẳng có gì trong đó hết–Vô tâm (no-mind).

• Joshu là tên Nhật của thiền sư Trung Quốc tên Triệu Châu, mà chúng ta đã nói đến qua công án Con Chó Của Triệu Châu trong bài Dạy kiểu hà tiện

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Joshu’s Zen

Joshu began the study of Zen when he was sixty years old and continued until he was eighty, when he realized Zen.

He taught from the age of eighty until he was one hundred and twenty.

A student once asked him: “If I haven’t anything in my mind, what shall I do?”

Joshu replied: “Throw it out.”

“But if I haven’t anything, how can I throw it out?” continued the questioner.

“Well,” said Joshu, “then carry it out.”

# 41

Văn hóa sáng tạo

Chào các bạn,

Chúng ta thường nói đến sáng tạo như là một kỹ năng: 30 quy luật để sáng tạo, kỹ‎ thuật động não, k‎ỹ thuật đặt câu hỏi, v.v… Dĩ nhiên là sống ở đời chuyện gì cũng có một số kỹ năng và kỹ thuật liên hệ. Nhưng sáng tạo không phải là kỹ năng. Sáng tạo là bản tính của một người, cũng như là lễ độ, chẳng hạn. Lễ độ không phải là các kỹ năng lễ độ, mà là bản tính của một người. Một người lễ độ không phải vì người ấy biết các kỹ năng lễ độ, mà vì người ấy có bản tính lễ độ và sống lễ độ với mọi người.

Sáng tạo cũng vậy. Người sáng tạo là người luôn luôn sáng tạo, đi đâu cũng sáng tạo, làm gì cũng sáng tạo, sáng tạo một ngày 24 tiếng (có thể sáng tạo ngay trong khi ngủ). Sáng tạo là bản tính của anh ta, là máu chảy trong người, lâ từng hơi thở, từng nhịp đập.

Bởi vì vậy, chúng ta không thể nghiên cứu và giải quyết vấn đề thiếu sáng tạo như là một vấn đề kỹ thuật (hay kỹ năng) thuần túy, và ta phải xem đó như là một vấn đề văn hóa của một người—tức là về cách sống, về môi trường sống, về mọi người chung quanh anh ta.

Môi trường sống thường tạo ra con người—môi trường cướp bóc thường tạo ra người cướp bóc, môi trường từ thiện thường tạo ra người từ thiện, môi trường thiếu sáng tạo thường sinh ra người thiếu sáng tạo.

Muốn sáng tạo chúng ta phải thiết lập một môi trường sống sáng tạo.

Có nhiều điều tạo ra môi trường. Nhưng giản dị hóa đến tận cùng thì môi trường sống của chúng ta gồm có chính ta và những người chung quanh ta. Ta và vòng người quanh ta tạo thành môi trường sống của ta.

Hãy tưởng tượng một người đứng giữa vòng muốn làm cái gì đó mới lạ, và đa số hay tất cả những người đứng ở mấy trăm vòng tròn quanh anh ta, biển người quanh anh ta, nói “không”, thì liệu anh ta có sáng tạo được không?

Có thể là một trong triệu người vẫn sáng tạo được, nhưng đại đa số chắc là không.

Nhận xét này đưa đến suy luận sau đây: Nếu chính ta muốn sáng tạo mà mọi người chung quanh ta chống sáng tạo thì rất khó sáng tạo.

Tuy vậy, khi nói đến “khoa học” sáng tạo, chúng ta thường chỉ chú tâm đến người đứng giữa vòng tròn: “Làm thế nào để tôi biết cách suy nghĩ sáng tạo?” Nhưng, nếu tôi biết cách suy nghĩ sáng tạo mà mọi người chung quanh tôi chống sáng tạo, thì có lẽ là tôi cũng bỏ cuộc sớm thôi.

Quảng cáo tuyên truyền của Sở Nước Denver

Vì vậy, chúng ta phải đặt vấn đề ngược lại: Làm thế nào để những người chung quanh tôi khuyến khích và ủng hộ tôi sáng tạo?

Đổi góc nhìn: Tôi đứng ở vòng bên ngoài, nhìn vào người đứng giữa vòng, câu hỏi sẽ là “Làm thế nào để tôi khuyến khích anh ta sáng tạo?”

Đây chính là mấu chốt căn bản nhất của vấn đế: Làm thế nào để chúng ta khuyến khích những người khác trong xã hội của ta sáng tạo?

Tập trung của ta không nên nhắm vào “Làm thế nào để tôi sáng tạo?” Câu này mang xuống ưu tiên hai.

Ưu tiên đầu nên là: Làm thế nào để tôi khuyến khích người khác sáng tạo?

Và khi ta hỏi như thế thì ta sẽ được cả hai, vì nếu cả ngày ta khuyến khích ngưởi khác sáng tạo thì đương nhiên ta sẽ trở thành sáng tạo.

Như thế, muốn tạo một môi trường sáng tạo, cho mình và cho tất cả mọi người, mỗi chúng ta phải tích cực khuyến khích người khác sáng tạo luôn luôn trong cuộc sống.

• Bạn bè khuyến khích nhau.
• Anh chị em khuyến khích nhau.
• Bố mẹ khuyến khích con cái.
• Thầy cô khuyến khích học trò.
• Chỉ huy khuyến khích thuộc hạ.
• Nhà nước khuyến khích nhân dân.

Nhưng, khuyến khích sáng tạo cách nào?

• Luôn luôn kêu gọi mọi người có ‎ ý tưởng mới, phương cách mới, tư duy mới…

Tập tự động khen cái mới về tính mới của nó (Ô, mới lạ nhỉ!) Đúng hay không, để đó tính sau. Đã là mới thì khó biết đúng sai. Nhưng mới thì ít ra cũng hay về “tính sáng tạo” (creativity).

• Tính sáng tạo (creativity) luôn luôn nên là một phần điểm trong tổng số điểm.

• Thấy ‎ý tưởng mới hay phương cách mới chói tai mình, thì cũng đừng chống đối. Vẫn nên khen, “Đây là một ý tưởng mới. Hay đấy. Cho tôi ít thời gian để suy gẫm thêm.”

• Đừng ép người khác, nhất là người thấp hơn mình, đồng ‎ý với mình luôn luôn. Khuyến khích họ có lập trường của họ. Nếu không đồng ý được thì “ta đồng ‎ý là ta bất đồng ý.”

• Khuyến khích người thấp hơn mình khám phá mọi sự, thay vì cứ nhồi họ vào cái khuôn của mình.

Có bố mẹ nào nói với con, “Nhà mình công giáo (hay phật giáo). Nhưng có nhiều đạo khác ngoài kia, con đã lớn rồi, nên nghiên cứu và khám phá. Rồi mai mốt con có thể tự quyết định nên giữ đạo mình hay theo đạo khác”?

• Điều càng mới, nghe càng điên rồ. Cho nên ta cần ủng hộ và khuyến khích người có ‎ ý tưởng “điên rồ”. Thành hay bại là chuyện của họ. Ủng hộ họ là chuyện của mình.

(Sáng tạo để cái mới vào khuôn cái cũ thì cũng như không! “Em sáng tạo cho anh môt cái bánh tráng mới giống y hệt cái bánh tráng truyền thống mình đang ăn”. Em nghiêng người, lấy một cái bánh tráng có sẵn trên bàn: “Đây anh, em đã sáng tạo được cái giống hệt cái bánh truyền thống cho anh đây”).

Nói chung là tâm ta phải yêu sáng tạo, yêu thay đổi, yêu cái mới, đến mức mà đi đâu ta cũng muốn mọi người có cái mới, ý tưởng mới, phương pháp mới thường xuyên.

Dĩ nhiên ta muốn nâng cao giá trị truyền thống, nhưng truyền thống là nền để ta đứng trên đó sáng tạo cái mới. Truyền thống không phải là cái khuôn làm bánh in, 100 năm cũng chỉ ra một kiểu bánh.

Trên ĐCN, chúng ta nói đến những truyền thống rất lâu đời của ta—từ Phật pháp, đến Thánh kinh, đến Lĩnh Nam Chích Quái, ngay cả thơ cổ như Thiền thi và Đường Thi, để làm nền cho chúng ta sáng tạo tư tưởng mới cho đời sống mới, không phải để ta láp nháp toàn những điều xưa cũ như vẹt, mà không suy nghĩ biến hóa gì.

Nếu ta thực tâm yêu sáng tạo mãnh liệt, thì tự nhiên ta biết làm thế nào để khuyến khích tất cả mọi người quanh ta sáng tạo. Cho nên nơi cuối cùng, và cũng là khởi điểm đầu tiên, vẫn là tâm ta. Nếu ta chỉ nghĩ đến sáng tạo như là một kỹ năng công việc, mà chưa yêu nó say mê như yêu phở, yêu bánh cuốn, thì ta có vấn đề rất lớn. Hãy để ý tâm mình, và hãy suy tư về sáng tạo cho đến lúc mình bị tiếng sét ái tình với nó.

Đây là chuyện trăm năm, nghìn năm, của đất nước. Mong các bạn cẩn trọng.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc

Chào các bạn,

Mình rất thích tiếng đàn bầu, cây đàn một dây thuần túy Việt Nam với những âm thanh ai oán của dân nhạc miền Nam.

Dĩ nhiên là đàn bầu có thể phát ra âm thanh cho mọi loại nhạc, kể cả rock and roll của Mỹ, nhưng đàn bầu chỉ đạt được đỉnh cao của nó với những lời nhạc đứt ruột của dân ca miền Nam–dân ca của những người biệt xứ, từ Bắc hay Trung bị đày vào miền Nam làm đồn điền cao su cho Pháp, hay đào sình đắp mương để khai phá miền Nam. Những lời ca của những kẻ xa nhà, tâm tư heo hút.

Và tiếng đàn của chàng nghệ sĩ mù Nguyễn Thanh Tùng có lẽ là tiếng đàn bầu hay nhất mình đã từng được nghe. Hôm nay chúng ta sẽ đọc về cuộc đời lạ thường và tiếng đàn tuyệt diệu của Nguyễn Thanh Tùng qua bài báo Thanh Niên năm 2007 và một số youtube videos. Continue reading Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc

Phát triển ở Singapore

Chào các bạn,

Câu hỏi Nghiên Cứu Xã hội tuần này là:

“Điều gì bạn nghĩ là quan trọng nhất trong phát triển ở Singapore?”

và 6 câu trả lời là:

Chính quyền trong sạch
Chế độ chính trị
Dân singapore sáng tạo
Dân Singapore đoàn kết
Dân Singapore thông minh
Other (Thêm câu trả lời)

Chúc các bạn trả lời vui vẻ !

Mến,
Hoành

Một số sinh hoạt liên hệ đến người Việt vùng vịnh San Francisco

Chào các bạn,

Mình mới nhận được lịch sinh hoạt này từ anh Vũ Đức Vượng, giáo sư tại De Anza College, California. Lịch này chủ yếu là cho các bạn vùng Vịnh San Francisco. Có lẽ các bạn đọc được tiếng Anh 🙂 nên mình để nguyên bản Anh ngữ đây.

Cám ơn anh Vượng.

Chúc mọi người vui khỏe!

Hoành

____________________

A few events relating to Vietnamese, around the Bay Area


The Summer Program at De Anza  “VIETNAM  in  VIET-NAM”  will take place in August this year.

Orientation meetings:    at De Anza: tues. March 16  —  noon – 1 pm —   Second floor of the Library (Learning Center);

at Foothill:  Thu.  March 18  —  noon – 1 pm —   Toyon Room, in the Campus Center.

For more info, email me at this address.

Vu-Duc Vuong
Coordinator-Teacher
Vietnam in Vietnam
Summer Program of De Anza College
August 6 – 30, 2010

________________

Wednesday, February 24

The Long Shadow of Vietnam

Contemporary Asia Seminar Series

Marvin Kalb, James Clark Welling Presidential Fellow at The George Washington University and Edward R. Murrow Professor Emeritus at Harvard’s Kennedy School of Government

Please join Marvin Kalb to discuss the impact of the Vietnam War on presidential/strategic decisions about national security issues.

Marvin Kalb is also a contributing news analyst for National Public Radio and Fox News Channel. In addition, he is frequently called upon to comment on major issues of the day by many of the nation’s other leading news organizations.

Kalb had a distinguished 30-year broadcast career, working for both CBS News and NBC News, where he served as Chief Diplomatic Correspondent, Moscow Bureau Chief, and moderator of Meet the Press. Among his many honors are two Peabody Awards, the DuPont Prize from Columbia University, the 2006 Fourth Estate Award from the National Press Club and more than a half-dozen Overseas Press Club awards. He has lectured at many universities, here and abroad. Kalb was the founding director of the Joan Shorenstein Center on the Press, Politics, and Public Policy at the Kennedy School of Government at Harvard University.

A graduate of the City College of New York, Kalb has an M.A. from Harvard and was zeroing in on his Ph.D. in Russian history when he left Cambridge in 1956 for a Moscow assignment with the State Department. The following year, he joined CBS News, the last correspondent hired by Edward R. Murrow. Kalb has authored or co-authored 10 nonfiction books and two best-selling novels. His latest book, The Media and the War on Terrorism (co-edited with Stephen Hess), was the recipient of the 2004 Arthur Rowse Award for Press Criticism. He is currently engaged in research for a book on U.S. involvement in the Vietnam War and its impact on American politics and foreign policy.

12:00p.m. – 1:30p.m, RSVP required by February 23

http://aparc.stanford.edu/events/registration/6089/

Okimoto Conference Room

Encina Hall, 3rd floor, east wing

For more information please contact Debbie Warren

dawarren@stanford.edu or 650-723-8387


___________________

Thursday, February 25

The Health Policy Environment in Vietnam: Observations from an Outside Insider

Co-Sponsored by the Asia Health Policy Program and the South East Asia Forum

Dr. Khoa Truong, Assistant Professor of Department of Public Health Science Clemson University

The health sector’s successes in Vietnam have been described as “legendary” by international donors, but there is always the other side of the story. One can question the objectivity of reports from the government of Vietnam, the World Bank, and the World Health Organization. One can wonder in what areas the health sector has failed, who has paid for a “success story” and at what cost, and how much information is well documented and has been made public. Are there “stylized facts” regarding those aspects of health that have been successfully reformed compared with those where reform has lagged? Given these concerns, how can the research community contribute to improving health policy in Vietnam?

Dr. Truong will share his thought on recent socioeconomic development in Vietnam, discuss key health policy issues, and reflect upon his experiences including a research project in which the University of Queensland collaborated with Ministry of Health of Vietnam. Additional evidence will be drawn from a study of the cost-effectiveness of interventions to reduce tobacco use in Vietnam.

Khoa Truong was a visiting faculty member at the Hanoi School of Public Health and a research fellow at the Health Strategy and Policy Institute in 2008-2009.  Prior to that he spent six years as a doctoral fellow at the RAND Corporation.  His research interests include tobacco, alcohol, and illicit drug control policies; the impacts of built environments on health; international health issues; and economic development.

He received his doctorate and master of philosophy in policy analysis from the Pardee RAND Graduate School and earned a master’s degree in development economics from Williams College. A native of Vietnam, he began his career working with NGOs in bilateral and multilateral development projects in Southeast Asia. He was awarded a Fulbright scholarship and wrote “most outstanding paper” submitted at an Academy Health’s Annual Research Meeting (acknowledged as the premier forum for sharing the results of scholarship on health services).

12:00p.m. – 1:15p.m, RSVP required by February 24

http://aparc.stanford.edu/events/registration/5941/

Okimoto Conference Room

Encina Hall, 3rd floor, east wing

For more information please contact Lisa Lee

llee888@stanford.edu or 650-725-2429
_______________

A community  event

Please come join us in this upcoming theater event and post-theater dialogue within the Vietnamese community on issues of parenting, mental health, immigration policy; we are hoping that you take the collective journey to share your individual story thru story telling and to take additional step from self-care, caring for family to caring for larger community and to care for the planet earth.

Who: Guardians, Disciplinarians and Planters of Values.

Let us generate solutions together for a healthy and vibrant community!

Asian American Recovery Services, Inc. presents…

A Theater and Dialogue Event `LangTa’

performed by San Khau Viet Cali theater group.

on Feb 21st, March 7th and 14th 2010

When: February 21, 2010 Where: Shirakawa Community Center2072 Lucretia Ave San Jose, CA 95122 Time: 1:00 p.m.-4:00 p.m.

When: March 7th and 14th, 2010 Where: Mayfair Community Center2039 Kammerer Ave San Jose, CA 95116 Time: 1:00 – 4:00 p.m.

RSVP: thùy trang at 408-271-3900 x 343 or ttnguyen@aars-inc.org

Other: all events are free, light lunch will be provided.
_______________

A film about New Orleans & Katrina & Viet-Ams

Dear Folks,

A VILLAGE CALLED VERSAILLES has a busy couple months coming up! Please find our March screenings below. Hope to see you at one soon, and please don’t forget to forward this on to friends who might want to see the film.

We are also excited to announce A VILLAGE CALLED VERSAILLES has just been invited to the 2010 American Documentary Showcase, curated by the US Department of State and the International Documentary Association (IDA). The film will travel with the Showcase to over 30 countries around the world this year. Finally, A VILLAGE CALLED VERSAILLES was recently honored with its third award, the Council on Foundations distinguished Henry Hampton Award for ‘Excellence in Film & Digital Media.’

Thank you for your continued support.
________________

SEBASTOPOL, CA:

WHAT: Sebastopol Documentary Film Festival
WHEN: 3/6 @ 7pm
WHERE: Sebastopol Cinemas, 6868 McKinley Street, Sebastopol, CA
INFO/TICKETS: Sebastopol Documentary Film Festival
FACEBOOK EVENT: http://tinyurl.com/avcvsebastopol

Filmmaker S. Leo Chiang, and associate producers Brittney Shepherd and Eva Moss will be in attendance.
________________

SAN JOSE, CA:

WHAT: California Association for Bilingual Ed (CABE) Conference
WHEN: 3/12 @ 4pm
WHERE: McEnery Convention Center, 150 West San Carlos St., San Jose, CA
FACEBOOK EVENT: http://tinyurl.com/avcvcabe

Filmmaker S. Leo Chiang will be in attendance. Please visit the CABE Conference page for more information.

SAN FRANCISCO/SAN JOSE, CA (Three Screenings):

WHAT: San Francisco Int’l Asian American Film Fest
INFO/TICKETS: San Francisco Int’l Asian Am Film Festival. Members of Center for Asian American Media (CAAM) receive discounts.
FACEBOOK EVENT: http://tinyurl.com/sfiaaff

Screening #1
WHEN: Sat 3/13 @ 2:15 pm
WHERE: Sundance Kabuki Cinemas, 1881 Post St @ Fillmore, SF

Screening #2
WHEN: Tue 3/16 @ 9 pm
WHERE: VIZ Cinema, 1746 Post St @ Webster, SF

Screening #3 – SAN JOSE
WHEN: Sat 3/20 @ 5:30 pm
WHERE: Camera 12 Cinema, 201 S. 2nd St @ San Carlos, San Jose

Filmmaker S. Leo Chiang and Associate Producers Brittney Shepherd & Eva Moss to attend.