All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Bình đẳng giới tính

Chào các bạn,

Tại Việt Nam, chúng ta có đến hai ngày phụ nữ, 8/3 là Ngày Quốc Tế Phụ Nữ và 20/10 là Ngày Phụ Nữ Việt Nam. Chẳng có ngày nào cho phụ nam cả. 🙂 Xem ra đây là một bất công cho phái nam. Nhưng “bất công” này thật sự là bằng chứng cho bất công bình đối với phái nữ, vì nếu hai bên đã công bình thì chẳng ai cần đến ngày phụ nữ làm gì trong khi chẳng có ngày nào cho phái nam.

Thật sự là xã hội mọi nơi trên thế giới dành nhiều khó khăn, và tại vài vùng trên thế giới, nhiều bất hạnh, cho phụ nữ. Ngày Phụ Nữ không chỉ là ngày mua hoa hồng và đưa nàng đi ăn, mà là ngày để mọi người, nhất là phái nam, ‎ ý thức được những bất công mà người phụ nữ phải gánh chịu tại khắp nơi trên thế giới. Và những bất công này làm chậm đà phát triển văn minh của con người.

Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon mới nói hôm thứ tư vừa qua: “Với tư cách một người con, một người chồng, một người cha và và một người ông cho các cháu gái, là một danh dự, và với tư cách Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc, là nhiệm vụ của tôi—bình đẳng giới tính và trao năng lực cho phụ nữ là các vấn đề nền tảng cho chính bản thân Liên Hợp Quốc.”

Ông nói rằng nếu phụ nữ chưa được giải phóng khỏi nghèo khổ và bất công, sẽ khó có được phát triển hòa bình, an ninh và bền vững.

Năm nay là kỷ niệm 15 năm ngày Liên Hợp Quốc thông qua Tuyên Ngôn Bắc Kinh và Kế Hoạch Hành Động (Beijing Declaration and Platform for Action), kết quả của Đại Hội Thế Giới Lần 4 về Phụ Nữ ở Bắc Kinh năm 1995.

Ban Ki-moon nói rằng đã đạt được nhiều tiến bộ từ năm 1995: “Ngày càng có nhiều quốc gia đưa ra chính sách và luật lệ ủng hộ sự bình đẳng giới tính và sức khỏe sinh sản. Giờ đây có nhiều bé gái được cắp sách đến trường, nhất là cấp tiểu học. Ngày càng có nhiều phụ nữ làm chủ doanh nghiệp và vay được tiền nhiều hơn. Phụ nữ giờ đây cũng tham gia chính quyền nhiều hơn.”

Tuy nhiên, ông cảnh báo hiện tượng bất công và phân biệt đối xử phụ nữ vẫn còn tồn tại ở khắp nơi. Hiện tượng này xuất hiện dưới nhiều dạng, tệ nhất là bạo hành—“khoảng 70% phụ nữ trên thế giới là nạn nhân của bạo hành một lần nào đó trong đời.” Còn các dạng khác là tảo hôn hoặc ép hôn, các vụ giết hại phụ nữ về tội gọi là “làm mất danh dự gia đình”, hãm hiếp, và buôn người. Ban Ki-moon cho rằng những hành vi như vậy là lạm dụng và tội phạm, chống lại các quyền căn bản của phụ nữ.

Ông cũng ghi nhận các tổ chức dân sự (NGO), nhất là các tổ chức của phụ nữ, đã đóng vai trò chính trong các thắng lợi đạt được. Ông nói: “Phụ nữ khắp nơi đang vận động để đòi bình đẳng và có thêm sức mạnh, và họ đang thành công.”

Liên Hợp Quốc đã làm gương. Tại Liên Hợp Quốc, kể từ khi Ban Ki-moon nhậm chức, số phụ nữ lãnh đạo cao cấp đã tăng đến 40%.

Tại Việt Nam, theo báo Nhân Dân thì: “Việt Nam là một nước có hệ thống chính sách tốt về giới. Ngoài Hiến pháp, chúng ta còn có Luật Hôn nhân và Gia đình (1986). Mới đây nhất, Luật Bình đẳng giới (2007) và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2008) là những luật chuyên môn về giới. Chính sách bình đẳng giới còn được đề cập trong các luật khác và nhiều nghị quyết, chính sách riêng cho công tác phụ nữ… Năm 1995 Việt Nam được LHQ xếp thứ 72/130 nước theo chỉ số phát triển giới (GDI). Chỉ số này được giữ vững trong nhiều năm, đến năm 2007 – 2008, Việt Nam đứng hàng thứ 91/177 nước với chỉ số là 0,732 thuộc nhóm nước tốt nhất Ðông-Nam Á – Thái Bình Dương (UNDP, Báo cáo phát triển con người).”

91/177 là vẫn còn dưới trung bình.

Chúng ta cần nhìn vấn đề bình đẳng giới tính rõ ràng hơn. Phụ nữ tại nhiều nơi trên thế giới, và ở nước ta, không được coi trọng bằng phái nam từ trong gia đình ra ngoài xã hội (con trai quý hơn con gái); ít có cơ hội được giáo dục, nhất là giáo dục cao cấp; mang nhiều gánh nặng gia đình hơn (kể cả khi người phụ nữ đi làm bên ngoài); và khi đi làm thì ít khi nắm các chức vụ chỉ huy như nam.

Nhiều loại tội ác gần như dành riêng cho phụ nữ là nạn nhân, như là bạo hành trong gia đình, mãi dâm, buôn người, “hôn nhân” lừa bịp với người nước ngoài, v.v…

Vấn đề này là vấn đề tranh đấu của phụ nữ, nhưng là vấn đề ‎ý thức của phái nam về năng lực và tiềm năng phụ nữ.

Và đây không phải chỉ là vấn đề ga-lăng của các anh đối với các chị, dù rằng ga-lăng cho đáng mặt nam nhi cũng là chuyện tốt. Đây là vấn đề chính sách phát triển. Bất kỳ kỳ thị dưới hình thức nào cũng làm chậm phát triển đất nước—kỳ thị dân tộc đối với các dân tộc thiểu số, kỳ thị vì l‎ý do tôn giáo, kỳ thị vì lý do lý lịch, kỳ thị vì lý‎ do giới tính…

Khi chúng ta kỳ thị, chúng ta không cho người bị kỳ thị cơ hội để phát triển tối đa tiềm năng của họ, và như vậy là quốc gia thất thoát nhân tài.

Cho nên, chúng ta cần nhìn kỳ thị giới tính, cũng như mọi kỳ thị khác, sâu sắc hơn, với con mắt của những người làm chính sách phát triển cho quốc gia.

Rồi sau đó, là con mắt của người đàn ông tốt cho người phụ nữ của mình. 🙂

Chúc các bạn một ngày 8/3 rộn rã tiếng cười.

Hoành
.

Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon, nhân ngày 8/3/2010

Ryonen đắc ngộ

Ni cô Ryonen sinh năm 1797. Cô là cháu của Shingen, một võ tướng nổi tiếng của Nhật. Thiên tài thi phú và sắc đẹp khuynh thành của cô tuyệt đến mức mới 17 tuổi cô đã thành người hầu cận của hoàng hậu. Dù còn trẻ thế, danh vọng đang chờ đợi cô.

Hoàng hậu yêu quý chết bất thần và mọi giấc mơ của Ryonen tiêu tán. Cô thấy rất rõ tính vô thường của đời sống trong thế giới này. Vì vậy cô muốn học thiền.

Tuy nhiên, thân nhân của cô không đồng ‎ý và ép cô lập gia đình. Với lời hứa hẹn là cô có thể đi tu sau khi đã sinh ba đứa con, Ryonen đồng ý. Cô làm tròn điều kiện này trước khi đầy 25 tuổi. Chồng cô và mọi người thân chẳng thể cản cô được nữa. Cô cạo đầu, lấy tên là Ryonen, có nghĩa là đạt ngộ sáng lạn, và bắt đầu hành hương.

Cô đến thành phố Edo và xin thiền sư Tetsugya nhận làm đệ tử. Nhưng chỉ liếc mắt qua một tí là thiền sư đã từ chối, vì cô quá đẹp.

Ryonen đến gặp một thầy khác, Hakuo. Hakuo cũng từ chối với cùng lý do, nói là sắc đẹp của cô chỉ gây rắc rối.

Ryonen lấy một thanh sắt nóng ép vào mặt. Chỉ trong một lúc là sắc đẹp của cô đã tiêu tán vĩnh viễn.

Hakuo bèn nhận cô làm đệ tử.

Để k‎ỷ niệm chuyện này, Ryonen viết một bài thơ trên mặt sau của một tấm gương nhỏ:

Phục vụ Hoàng Hậu, ta đốt hương xông thơm quần áo lụa là
Nay khất thực không nhà, ta đốt mặt để vào thiền viện.”

Khi sắp sửa lìa đời, cô viết một bài thơ khác:

Sáu mươi sáu lần đôi mắt này đã chứng kiến mùa thu thay đổi.
Ta đã nói đủ về ánh trăng,
Đừng hỏi nữa.
Hãy chỉ lắng nghe tiếng nói của thông và tuyết tùng khi gió lặng.

.

Bình:

• Ryonen không những đẹp mà còn rất trí tuệ khi còn trẻ. Một biến cố là đủ để cô nhận chân tính vô thường của đời sống.

• Và ‎ý chí thật là vững chắc. Đã nói đi tu là đi tu, chẳng có gì cản được, kể cả sắc đẹp của mình.

Có lẽ cô đã giác ngộ cả trước khi đi tu.

• Các thiền sư thường làm một bài thơ trước khi qua đời, gọi là “bài thơ chết” (the death poem). Đây là lời dạy cuối cùng, và do đó là lời dạy quan trọng nhất, của người ra đi. Bài thơ chết của Ryonen cũng không ngoài lệ đó:

Sáu mươi sáu lần đôi mắt này đã chứng kiến mùa thu thay đổi: Ta đã thấy rất rõ lẽ vô thường (trong 66 năm sống).

Ta đã nói đủ về ánh trăng, đừng hỏi nữa: Ta đã nói đủ về giác ngộ, về tỉnh thức, đừng hỏi nữa.

Hãy chỉ nghe tiếng nói của thông và tuyết tùng khi lặng gió: Hãy chỉ nghe tiếng nói của tĩnh lặng.

• Tất cả những người đã đắc đạo đều dạy chúng ta “nghe” tiếng nói của tĩnh lặng, nghe tiếng vỗ của một bàn tay. Đây là một chân l‎ý mà người chưa nắm được không thể hiểu được.

Thực ra vấn đề rất giản dị để ta có thể trực nghiệm hàng ngày, nếu ta muốn trực nghiệm: Khi một đám đông đang điên cuồng hò hét “Giết nó! Giết nó!”, nếu bạn không chạy theo đám đông và có thể ngồi tĩnh lặng, bạn sẽ thấy vấn đề rõ và sâu hơn đám đông rất nhiều. Nhiều điều bạn thấy, chẳng ai trong đám đông thấy cả.

Khi chúng ta tĩnh lặng chúng ta nghe tiếng nói của trí tuệ từ trong tĩnh lặng.

• Tĩnh lặng đây không có nghĩa chỉ là (1) mất hết âm thanh, mà còn là (2) mất hết các dao động trong tâm—tức giận, buồn chán, ghen ghét, v.v… và mất hết (3) các suy nghĩ và tư tưởng chạy ngược xuôi trong đầu.

Tâm hoàn toàn rỗng lặng.

• Bạn muốn hiểu sâu xa các hiện tượng chính trị, kinh tế, giáo dục… của xã hội, hay những hỉ nộ ái ố bi lạc dục trong lòng bạn? Sâu xa hơn người khác, và hơn cả chính bạn, rất nhiều?

Vậy thì, tĩnh lặng.

Nhiều người tưởng là đọc nhiều, ngốn nghiến nhiều sách vở và thông tin. Không. Không phải vậy.

Tĩnh lặng. Và bạn sẽ đọc một hiểu mười.

(Không tĩnh lặng, và bạn sẽ đọc mười hiểu một).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Ryonen’s Clear Realization

The Buddhist nun known as Ryonen was born in 1797. She was a granddaughter of the famous Japanese warrior Shingen. Her poetical genius and alluring beauty were such that at seventeen she was serving the empress as one of the ladies of the court. Even at such a youthful age fame awaited her.

The beloved empress died suddenly and Ryonen’s hopeful dreams vanished. She became acutely aware of the impermanency of life in this world. It was then that she desired to study Zen.

Her relatives disagreed, however, and practically forced her into marriage. With a promise that she might become a nun after she had borne three children, Ryonen assented. Before she was twenty-five she had accomplished this condition. Then her husband and relatives could no longer dissuade her from her desire. She shaved her head, took the name of Ryonen, which means to realize clearly, and started on her pilgrimage.

She came to the city of Edo and asked Tetsugya to accept her as a disciple. At one glance the master rejected her because she was too beautiful.

Ryonen went to another master, Hakuo. Hakuo refused her for the same reason, saying that her beauty would only make trouble.

Ryonen obtained a hot iron and placed it against her face. In a few moments her beauty had vanished forever.

Hakuo then accepted her as a disciple.

Commemorating this occasion, Ryonen wrote a poem on the back of a little mirror:

In the service of my Empress I burned incense to perfume my exquisite clothes,
Now as a homeless mendicant I burn my face to enter a Zen temple.

When Ryonen was about to pass from this world, she wrote another poem:

Sixty-six times have these eyes beheld the changing scene of autumn.
I have said enough about moonlight,
Ask no more.
Only listen to the voice of pines and cedars when no wind stirs.

# 50

Phật mũi đen

Một ni cô đang đi tìm giác ngộ, làm một bức tượng Phật và dát vàng lên tượng. Bất kỳ đi đâu cô cũng mang tượng Phật vàng này theo.

Nhiều năm trôi qua, vẫn còn mang tượng Phật, ni cô đến sống trong một ngôi chùa nhỏ ở một xứ có rất nhiều Phật, mỗi vị Phật có đền thờ riêng.

Ni cô muốn thắp nhang trước tượng Phật vàng của cô. Không thích hương thơm của nhang mình đi lạc qua chỗ người khác, cô chế ra một cái phểu lớn, chuyển khói nhang đến tượng Phật của cô mà thôi. Điều này làm mũi của tượng Phật vàng bị nám đen, nhìn rất xấu.
.

Bình:

• Phật đâu có ngoài ta. Khi tâm ta trở lại với “mặt mũi nguyên thủy” (bản lai diện mục), không còn bị màn si mê bao phủ, thì tâm sáng láng. Đó là Phật.

Có tượng Phật để giúp nhắc nhở mình con đường mình đang đi, thì hay. Nhưng xem tượng như là cứu rỗi của mình thì hỏng. Vì chỉ có mình giải thoát được mình thôi.

Chính vì vậy mà tổ Lâm Tế nói “Gặp Phật giết Phật, gặp ma giết ma”; tức là những gì mình thấy đều là ảo tưởng, chỉ tâm tĩnh lặng của mình (chân tâm) là thật.

Đan Hà thiền sư chẻ tượng Phật gỗ ra làm củi sưởi ấm đêm đông, cũng là thế.

• Dù là mỗi người phải tự giải thoát, Phật giáo vẫn có khái niệm “trợ lực” hay “trợ duyên”, như truyện Mục Kiền Liên nhờ chư tăng tụng kinh cầu nguyện để giúp mẹ thoát khỏi địa ngục khổ đau; hay trong Tịnh Độ Tông, người thành tâm niệm Phật Adiđà thì chết có thể được hóa độ đầu thai tại Tây Phương Tịnh Độ do Phật Adiđà cai quản.

Trên phương diện tâm lý, khi chúng ta tụng kinh cầu nguyện cho ai đó, người được hưởng lợi đầu tiên là ta (người tụng kinh), vì chính lời cầu nguyện và lời kinh sẽ ảnh hưởng đến tâm ta trước nhất.

• Trong bài này, không lo tự giải thoát mà tìm giải thoát ở tượng Phật vàng là đã sai đường rồi, lại còn sai đến mức chuyển khói hương đến tượng Phật, tức là sự tôn sùng bức tượng lên đến mức chống lại tất cả những gì khác tượng Phật của mình.

Giác ngộ, giải thoát, cũng không; mà ngay cả tượng vàng để trang trí cũng không giữ được cho sạch.

• Mỗi người chúng ta có bao nhiêu tượng Phật vàng mang theo kè kè?

1. Tiền: Bao nhiêu người chạy theo tiền như là Chúa Phật để mưu cầu hạnh phúc?

2. Quyền lực: Bao nhiêu người tôn thờ quyền lực và chức vị?

3. Tiếng tăm: Bao nhiêu người tin rằng đời mình chỉ có hạnh phúc nếu mình nổi tiếng?

4. Chủ nghĩa: Mấy từ tiếng Anh có chữ cuối là ISM, nhất là các ism chính trị, được bao nhiêu quí vị tôn thờ đến mức khùng điên?

5. Sách và kiến thức: Bao nhiêu người tôn thờ sách, hay là kiến thức nào đó, như đó là con đường giải thoát?

Mọi thứ này đều có giá trị tương đối của chúng. Nhưng tôn thờ chúng là đã si mê rồi. Tôn thờ đến mức chỉ biết chúng là duy nhất, hương khói đời mình cứ chăm vào đó, thì ngay cái giá trị ngoài da của chúng cũng bị mình làm cho đen mũi.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Black-Nosed Buddha

A nun who was searching for enlightenment made a statue of Buddha and covered it with gold leaf. Wherever she went she carried this golden Buddha with her.

Years passed and, still carrying her Buddha, the nun came to live in a small temple in a country where there were many Buddhas, each one with its own particular shrine.

The nun ished to burn incense before her golden Buddha. Not liking the idea of the perfume straying to others, she devised a funnel through which the smoke would ascend only to her statue. This blackened the nose of the golden Buddha, making it especially ugly.

#49

Đầu ngày

Đầu ngày

Mù sương che khuất dãy đồi
Triền non mây đọng chắn đôi địa đàng
Tùng lay huyễn ảo sơ hoang
Bỗng từ đỉnh núi rực vàng ánh dương

TĐH
LOW, 10:14 am, Sun., Feb. 28, 2010

Beginning of the day

The fog hides the hills
On mountainside the cloud freezes and divides the earth
The pines sway unreal and primordial
Suddenly from the mountaintop come the golden sunrays

translated by TĐH
LOW, 4:51 pm, Wed. March 3, 2010

Quê Hương trường ca – Đoạn 7

Ôi quê hương!
Em đã đi và xa, đã xa và nhớ.

Khi bất chợt khóm dừa Yên Sở
Giữa trùng trùng rặng tre quê Bắc – vươn mình
Khi mỗi giọng Nam Ai xứ Huế
Em thấm bao điệu hát thân quen.

Khi chạm những Makara, Garuda trên tháp đền Hà Nội
Khi chiều Tây Nguyên giáp mặt Yang Praung
Khi Phan Rí u huyền mắt gái Cham-Ywơn
Khi Sài Gòn phố đông chàng trai da màu bánh mật
Lững thững
Bước qua đường
Em bắt gặp quê hương.

Là quê hương khi em đi chuyến tàu Thống nhất
Thoắt lúa đồng xanh, thoắt núi rừng xanh, thoắt biển bờ xanh
Hay lúc em trên xe đò con đường Cái quan
Chợt thành phố, chợt xóm plây, làng bản
Qua từng ánh mắt, mỉm môi ẩn hiện
Em nhận mặt quê hương.

Ôi quê hương
Ta muốn điểm danh sự vật quê hương như thầy giáo
trường làng mỗi sáng điểm danh học sinh
(Dù chỉ bằng cái liếc nhanh, người đủ biết ai vắng mặt)
Điểm danh từng cánh đồng, khu rừng, miếng đất
Điểm danh dòng sông chết, con kênh đào.
Điểm danh tất cả đỉnh cao, vũng sâu
Điểm danh người còn, điểm danh kẻ mất
Điểm danh trong ta bao suy tư, cảm xúc
Để chắt qua chiều lớp không-thời gian nguồn suối hơi thơ.

Inrasara

Tỉ lệ chính xác

Sen no Rikya, một trà sư, muốn treo một lẳng hoa trên cột nhà. Thầy nhờ một người thợ mộc giúp, chỉ cho anh ta treo cao hơn hay thấp hơn một tí, nhích qua bên phải hay bên trái, cho đến khi thầy tìm được đúng chỗ. “Chỗ đó đó,” cuối cùng Sen no Rikya nói.

Anh thợ mộc, muốn thử thầy, bèn đánh dấu chỗ đó rồi giả vờ quên mất. “Chỗ này phải không? Có lẽ, nó là chỗ này?” anh thợ mộc cứ hỏi, chỉ vào vài chỗ khác nhau trên cột.

Nhưng cảm quan về tỉ lệ của thầy chính xác đến nỗi chỉ đến khi anh thợ mộc chỉ đúng vào điểm đã đánh dấu thì thầy mới chấp nhận.
.

Bình:

• Cái đẹp luôn luôn là vấn đề tỉ lệ hài hòa. Lẳng hoa không đứng một mình; lẳng hoa đứng trong tương quan với tất cả mọi thứ khác trong phòng.

Lấy ảnh một cô gái thật đẹp, rồi dùng computer di chuyển hai con mắt cô gần hơn hay xa nhau hơn một tí, miệng đi xuống hay đi lên một tí, mũi nhích xuống hay nhích lên một tí… rồi xem thử cô ấy còn đẹp không, hay đã có thể thành dị dạng. Cũng những bộ phận đẹp đó, nhưng chỉ đổi tỉ lệ, là không còn hài hòa, không còn đẹp.

• Dĩ nhiên là cái đẹp, và tỉ lệ, còn lệ thuộc một phần vào điều người nghệ sĩ muốn diễn tả–quân bình tĩnh lặng, hay chênh vênh, hay sôi nỗi… Mỗi vị thế có một tỉ lệ mới và một cảm xúc đẹp mới.

• Cuộc sống của chúng ta cũng là những tỉ lệ. Nếu tỉ lệ đúng thì mọi sự đều đẹp, từ cách ăn uống ngủ nghỉ, đến cách làm việc hàng ngày, đến cung cách cư xử với mọi người chung quanh… Những cung cách cực đoan thường bị mất tỉ lệ và không hiệu nghiệm. Các cung cách hợp tỉ lệ, trong từng trường hợp, thường đưa lại hiệu quả tốt.

• Cũng như cái đẹp và tỉ lệ lệ thuộc phần nào vào ‎ý sáng tạo diễn tả của người nghệ sĩ, tỉ lệ của cung cách sống hàng ngày còn lệ thuộc vào ý muốn của chúng ta–chúng ta muốn gì trong tình huống nào.

• Và cũng như người nghệ sĩ luôn luôn chỉ đúng vào một điểm nếu anh ta biết cái đẹp mình muốn diễn tả, nếu ta biết mục đích của ta trong mỗi tình huống, ta luôn luôn “chỉ” đúng điểm cho vị thế của mình trong mỗi tình huống.

Vấn đề khó khăn nhiều người gặp hàng ngày là họ không biết họ muốn gì trong một tình huống, cho nên họ không biết phải cư xử thế nào cho “hợp tỉ lệ.”

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Accurate Proportion

Sen no Rikyu, a tea-master, wished to hang a flower basket on a column. He asked a carpenter to help him, directing the man to place it a little higher or lower, to the right or left, until he had found exactly the right spot. “That’s the place,” said Sen no Rikya finally.

The carpenter, to test the master, marked the spot and then pretended he had forgotten. Was this the place? “Was this the place, perhaps?” the carpenter kept asking, pointing to various places on the column.

But so accurate was the tea-master’s sense of proportion that it was not until the carpenter reached the identical spot again that its location was approved.

# 48

Enya – Công nương New Age

Enya tên thật là Eithne Patricia Ní Bhraonáin, sinh ngày 17 tháng 5 năm 1961, là môt ca sĩ và nhạc sĩ Ireland, và là một nhạc sĩ cột trụ của làng nhạc New Age thế giới kể từ 1988 khi album solo đầu tiên của chị, Watermark, ra đời năm 1988 và ngay lập tức nổi tiếng trên thế giới.

Âm nhạc của Enya có sắc thái riêng, với nhiều lớp giọng ca trong trẻo của chị chồng lên nhau, với giai điệu dân ca cổ truyền Ireland, nhạc nền synthersizer, và âm thanh vang dội nhè nhẹ như nhạc từ trời.

Năm 2000 album A Day Without rain của chị chiếm kỷ lục bán 15 triệu bản, biến chị thành nữ nghệ sĩ có nhạc bán chạy nhất năm 2001. Hiên nay chị là nghệ sĩ xuất cảng nhạc thứ hai của Ireland, chỉ sau ban U2, với 70 triệu đĩa năm 2009.

Chị đã thắng 4 giải Grammy và được đề nghị một lần cho giải Oscar.

Sau đây mời các bạn nghe 3 bản nhạc trượng trưng của Enya:

1. Watermark

2. We are free now. Dùng trong phim Gladiator.

3. Caribbean blue

Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành.
.

1. Watermark


.

2. We are free now


.

3. Caribbean Blue

Điều kiện cần thiết cho sáng tạo

Chào các bạn,

Nếu chúng ta quan sát đời sống con người, ta có thể nhận ra ngay điều kiện cần thiết cho sáng tạo là “đối chọi” hay “đối phó.” Con người ở trong vùng bị lụt hàng năm chẳng hạn, sẽ phát minh ra nhiều cách để đối phó với lũ lụt, từ đê điều, đến hệ thống kinh rạch thoát nước, đến hệ thống thuyền bè di tản. Người ở vùng sa mạc, thì đương nhiên là sẽ biết cách tìm nước từ trong gốc cây kẻ đá, nơi mà không ai khác có thể biết, hoặc là cách nào chỉ uống một ngụm nước nhỏ mà đi cả chục cây số.

Đối phó với thử thách tạo ra phát minh mới, qui luật này ai cũng biết. Vì vậy, trong quản lý người ta tạo ra các tình huống đối chọi để tìm phát minh hàng ngày. Ví dụ, brainstorming, động não, dùng hầu như hàng ngày để tìm sáng kiến, là hình thức một nhóm người thảo luận vô giới hạn về tư tưởng. Hoặc cạnh tranh thi đua giữa các nhóm sẽ thúc đẩy các nhóm phát minh ra phương cách để chiến thắng. Hoặc devil’s advocate (biện hộ cho chúa quỷ) khi các nhóm viên chia thành hai phe tranh luận nhau để tìm ‎ý mới.

Không có đối chọi, đối phó, thì rất khó để ‎ý tưởng sáng tạo ra đời.

Bởi vì vậy, các nền kinh tế chính trị mạnh nhất thế giới ngày nay đều là các quốc gia rất trân trọng tranh luận trên mọi lãnh vực. Và chính nhờ sự trân trọng tranh luận này mà khối Âu Mỹ trở thành nền văn minh mạnh nhất thế giới ngày nay, vượt qua hẳn những nền văn minh lớn thời cổ đại nhưng không mở rộng thảo luận—như Trung quốc, Ấn Độ, Ai Cập.

Đây cũng là vấn đề đã kéo dài cả bao thế kỷ, và ngày nay vẫn còn tiếp diễn với dân Việt. Chúng ta chú trọng đến gọi dạ bảo vâng, cho nên óc sáng tạo của người Việt nói chung thì rất là khiêm tốn. Và các hệ thống quyền lực chính trị của Việt Nam, từ thời quân chủ cho đến ngày nay, cũng là nạn nhân của truyền thống đó—thích quản lý bằng gọi dạ bảo vâng hơn là tạo điều kiện để nhân dân tranh luận.

Và vì không quen tranh luận, nên mỗi khi tranh luận ta có khuynh hướng đánh nhau hơn là tranh luận.

Và “đánh nhau” lại là l‎ý do để các hệ thống quyền lực hạn chế hay cấm tranh luận.

Nói chung là ta nằm trong vòng lẩn quẩn ngàn năm, không bước ra được, chung qui cũng chỉ vì văn hóa chống tranh luận, gọi dạ bảo vâng.

Đây là việc các nước tiền tiến trên thế giới đều đang làm để khuyến khích tranh luận:

1. Thầy cô khuyến khích các em phát biểu ‎ kiến riêng từ hồi mới vào vườn trẻ.

2. Năng lực đóng góp của một em vào thảo luận nhóm luôn luôn là điểm quan tâm số một của các giáo chức, cũng như của cha mẹ. Nếu các em có vấn đề ở trường là bố mẹ được thông báo ngay.

3. Bố mẹ dạy các em nói ra điều mình muốn từ lúc 2, 3 tuổi, chứ không tập các em chỉ vâng dạ điều bố mẹ muốn cho các em (Dĩ nhiên, là bên cạnh đó các em cũng được dạy vâng lời trong một số việc).

4. Trong học đường các em được dạy phân tích và thảo luận mọi vấn đề và tìm kết luận riêng cho mình thay vì chỉ nuốt các phân tích và kết luận có sẵn của thầy cô.

Và hệ thống xã hội thì:

1. Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền hiến định cao cả nhất. Từ đó đưa đến tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình (trật tự) để phát biểu ý ‎ kiến với chính phủ…

2. Nhà nước áp dụng luật để bảo đảm sân chơi tự do cho nhân dân được tự do ngôn luận.

3. Nhà nước không rớ vào và xía vào tranh luận của nhân dân. Nhà nước chỉ hành xử luật khi có người phạm luật.

4. Các đại học có quy chế đại học tự trị và tự do nghiên cứu cũng như phát hành ấn phẩm.

Nói chung, toàn hệ thống xã hội, từ gia đình đến trường học đến guồng máy công quyền được tổ chức để khuyến khích và nâng cao khả năng mỗi cá nhân nói lên ý tưởng của mình, và tìm ý tưởng mới qua tranh luận thảo luận tự do.

Xã hội của ta thì ngược lại. Từ gia đình đến học đường đến guồng máy công quyền đặt trọng tâm vào gọi dạ bảo vâng.

Nếu chúng ta không tìm cách thoát ra khỏi vòng kim cô của cách sống thiếu sáng tạo này thì chúng ta sẽ tiếp tục nghèo đói vài ngàn năm nữa. Đây không phải là chuyện nhỏ.

Có ai quan tâm không vậy?

Mà ngay cả khi không quan tâm đến tổ quốc, thì có ai lo cho cái đầu của chính mình và của con cháu trong nhà mình không vậy?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Họa sĩ tham lam

Gessen là một thiền sư họa sĩ. Trước khi vẽ hay sơn một bức tranh, thiền sư luôn luôn yêu cầu trả tiền trước, và giá của thiền sư rất cao. Thiền sư có tiếng là “Họa sĩ tham lam.”

Một nàng ca kỹ hỏi thiền sư vẽ tranh. “Cô có thể trả bao nhiêu?” Gessen hỏi.

“Bất cứ giá nào ông tính,” cô gái trả lời, “nhưng tôi muốn ông vẽ trước mặt tôi.”

Rồi ngày nọ nàng ca kỹ gọi Gessen. Cô đang mở tiệc khoản đãi các thân chủ của cô.

Gessen vẽ rất đẹp. Khi đã xong, thiền sư đòi giá cao nhất cho thời gian làm việc của mình.

Thiền sư được trả tiền. Rồi nàng ca kỹ quay về hướng khách khứa của cô và nói: “Anh chàng họa sĩ này chỉ muốn tiền. Tranh của ông ta thì được nhưng đầu của ông ta bẩn thỉu; tiền có thể làm đầu óc ông ta đầy bùn. Tranh vẽ từ cái đầu bẩn thỉu như vậy không đáng để trưng bày. Chỉ đáng để làm đẹp váy lót của tôi.”

Nàng cởi váy, rồi bảo Gessen vẽ một bức tranh khác trên mặt sau của váy lót của nàng.

“Cô trả bao nhiêu?” Gessen hỏi.

“Ô bao nhiêu cũng được,” cô gái nói.

Gessen ra một gái rất cao, vẽ bức tranh theo cách yêu cầu, rồi ra về.

Sau này người ta biết được Gessen có những ly’ do này để cần tiền:

Tỉnh của Gessen thường bị nạn đói. Người giàu không giúp người nghèo, vì vậy Gessen có một nhà kho bí mật, chẳng ai biết. Thiền sư giữ đầy gạo trong kho, chuẩn bị cho những khi khẩn cấp.

Từ làng của thền sư đến Đền Thờ Tổ Quốc đường xá rất xấu và nhiều khách lữ hành khốn đốn khi đi đường. Thiền sư muốn làm một con đường tốt hơn.

Thầy của Gessen đã qua đời mà không thực hiện được giấc mơ xây một ngôi chùa. Thiền sư muốn hoàn thành y’ nguyện cho thầy.

Sau khi Gessen đã hoàn thành ba ước nguyện này, thiền sư vất cọ, vất đồ nghề vẽ, và rút lên núi ở, không bao giờ vẽ nữa.
.

Bình:

• Nếu lấy quy luật khế ước mua bán tự do trong kinh tế thị trường để xét đoán thì họa sĩ tính giá cao bao nhiêu và đòi trả trước cách nào, mà người mua vẫn muốn mua, thì có nghĩa là bức tranh vẫn xứng đáng tất cả đòi hỏi đó. Chẳng có gì phải phàn nàn cả. Nếu cho là đòi hỏi quá đáng, thì đừng mua. Tranh chứ đâu có phải cơm gạo đâu mà phải mua dù không thích.

• Gessen bị nàng ca kỹ làm nhục mà không nổi giận. Đó là gạt giận qua một bên để tập trung vào việc kiếm tiền, hay đó là thiền sư không bao giờ nổi giận vì đã là thiền sư đạt đạo?

• Xem ra Gessen làm việc như một nhà kinh doanh chuyên nghiệp: Có mục tiêu kiếm tiền, tiền bạc thẳng thừng tiền trao cháo múc, gạt hết tất cả tự ái qua một bên để đạt được mục đích kiếm tiền. Thế nghĩa là rất “có tâm” và tâm rất vướng mắc vào mục tiêu kiếm tiền.

Sao lại có thể thiền vô tâm được?

Đây là công án cho các bạn. Chúc các bạn giải được công án.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Stingy Artist

Gessen was an artist monk. Before he would start a drawing or painting he always insisted upon being paid in advance, and his fees were high. He was known as the “Stingy Artist.

A geisha once gave him a commission for a painting. “How much can you pay?” inquired Gessen.

“‘Whatever you charge,” replied the girl, “but I want you to do the work in front of me.”

So on a certain day Gessen was called by the geisha. She was holding a feast for her patron.

Gessen with fine brush work did the paining. When it was completed he asked the highest sum of his time.

He received his pay. Then the geisha turned to her patron saying: “All this artist wants is money. His paintings are fine but his mind is dirty; money has caused it to become muddy. Drawn by such a filthy mind, his work is not fit to exhibit. It is just about good enough for one of my petticoats.”

Removing her skirt, she then asked Gessen to do another picture on the back of her petticoat.

“How much will you pay?” asked Gessen.

“Oh, any amount,” answered the girl.

Gessen named a fancy price, painted the picture in the manner requested, and went away.

It was learned later that Gessen had these reasons for desiring money:

A ravaging famine often visited his province. The rich would not help the poor, so Gessen had a secret warehouse, unknown to anyone, which he kept filled with grain, prepared for these emergencies.

From his village to the National Shrine the road was in very poor condition and many travelers suffered while traversing it. He desired to build a better road.

His teacher had passed away without realizing his wish to build a temple, and Gessen wished to complete this temple for him.

After Gessen had accomplished his three wishes he threw away his brushes and artist’s materials and, retiring to the mountains, never painted again.

# 47

Thông báo: IVCE tuyển phụ giảng tại Việt Nam


New York (February 26, 2010).

The Institute for Vietnamese Culture & Education (IVCE), is a New York 501(c)(3) non-profit organization that is a leader in promoting Vietnamese culture and assisting Vietnamese students study abroad in American universities.

IVCE would like to announce the call for applications for our educational program: Vietnam Teaching Assistantship (ViTA). Since 2000, IVCE has delivered a “Study Abroad in America” conference every summer to help students in Vietnam pursue higher education abroad. The goal of this conference is to provide information about the admission and testing processes in addition to scholarships offered for study in the United States. We also aimed to provide students with tools to improve their chances of gaining admission and securing financial aid.

According to the Institute of International Education, the number of Vietnamese students attended U.S. colleges and high schools from 2000-2009 as follow,

Year Undergraduate Graduate Other TOTAL
2008-09 8694 2411 1718 12823
2007-08 5945 1648 1176 8769
2006-07 4092 1135 809 6036
2005-06 3043 1287 267 4597
2004-05 2429 815 124 3670
2003-04 2226 815 124 3165
2002-03 1924 649 149 2722
2001-02 1852 563 115 2531
2000-01 1424 488 113 2022

IVCE has a long-term goal of increasing the total number of Vietnamese students who pursue higher education in the U.S. to between 30 and 50 thousand in ten years (2005-2015). To achieve this goal, IVCE has conducted 28 study-abroad seminars since 2002 and has offered individual assistance with application materials. We believe students who have the opportunity to study abroad will bring back with them ideas and concepts from American universities that can contribute to the development of Vietnam.

The ViTA program is the companion to our “Study Abroad in America” workshop series. Through ViTA, IVCE actively recruits and develops a group of Vietnamese-American college and graduate students to teach TOEFL, SAT, GRE & GMAT workshops to students this summer in Vietnam.

Type of work: Teaching your choice of TOEFL, SAT, GRE or GMAT.
Eligibility: At least a Sophomore in college.
Length of project: 8 weeks (4-week stay in two cities) or longer.
Location: Can Tho Univ, Da Nang Institute of Technology, Ho Chi Minh City, Thai Nguyen Univ, and Ha Noi Institute of Technology.
Housing: College provides the guest housing, except in Ho Chi Minh City
Stipend: $200-$300/month, except in Thai Nguyen & Can Tho
Application: http://www.ivce.org/education.php?educationid=0000000006

Deadline for registration: March 20th for the summer.

Please be advised that as a participant in ViTA, you are expected to fundraise money for your own roundtrip travel and other related expenses for the 8-week stay in Vietnam. Past participants have been able to get past this hurdle by applying to grants or fellowships offered by their respective universities. IVCE’s role in this program is one of guidance, coordination and training. We will organize all the logistics for your travel and stay as a group in Vietnam.

Outside of your teaching responsibility, you will have the time and independence to explore Vietnam as it interests you. Although we encourage travel as a group, we understand that you might have personal research projects or independent studies to conduct. IVCE will gladly serve as a point of contact and support for all your endeavors in Vietnam.

IVCE calls for the participation of any student who wants to experience Vietnam first-hand and to contribute toward its educational development. Please respect the deadline, as we might be unable to arrange accommodations for you after that date. Feel free to contact us with any questions or concerns at nhipsong@ivce.org. You can also check us out at www.ivce.org.

We look forward to your participation in ViTA.

Cỏ cây giác ngộ thế nào?

Vào thời Kamakura, Shinkan học Thiên Thai Tông sáu năm, sau đó học Thiền 7 năm; rồi thiền sư qua Trung Quốc và nghiên cứu Thiền 13 năm nữa.

Khi thiền sư trở về Nhật nhiều người muốn gặp thiền sư và hỏi các câu bí hiểm. Nhưng Shinkan rất ít tiếp khách, và khi tiếp khách, thiền sư rất ít khi trả lời câu hỏi của họ.

Ngày nọ có một người 50 tuổi đang học về giác ngộ, nói với Shinkan, “Tôi đã học tư tưởng của Tông Thiên Thai từ lúc còn nhỏ, nhưng một điều tôi không hiểu nổi. Thiên Thai cho rằng ngay cả cỏ cây cũng sẽ giác ngộ. Đối với tôi đây là điều rất lạ.”

“Bàn luận cỏ cây giác ngộ thế nào thì được ích gì?” Shinkan hỏi. “Câu hỏi là anh làm thế nào để có thể giác ngộ. Anh có bao giờ nghĩ đến chuyện đó không?”

“Tôi chẳng bao giờ nghĩ như vậy cả,” ông già kinh ngạc.

“Vậy thì về nhà và nghĩ đến nó,” Shinkan kết thúc.
.

Bình:

• Thời Kamakura bắt đầu từ năm 1185 đến năm 1333.

• Thiên Thai Tông của Nhật thật ra cũng có thiền. Thiên Thai Tông do Tối Trừng (Saicho) thiết lập năm 805 sau khi đã học Thiên Thai từ Trung Quốc. Tuy nhiên Thiên Thai Nhật của Saicho có đển bốn phần: (1) Thiên Thai Trung Quốc (dùng tư tưởng của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là chính); (2) Mật tông (Tây Tạng); (3) Thiền (nhưng chú trọng nhiều đến thiền chỉ – Samatha – tập trung tư tưởng vào một điều gì đó như là hơi thở để lắng đọng, hơn là thiền quán – Vipassana – quán sát một điều gì đó để hiểu được thâm sâu); và (4) giới luật (đại thừa).

Trong bài này nói Shinkan ngưng Thiên Thai để học Thiền, có lẽ là dòng Thiền thuần túy như thiền Lâm Tế của Thiền sư Hakuin Vậy À.

• Bài này rất rõ: Giải phóng chính mình, giải phóng tư tưởng của mình, giác ngộ của chính mình, là trọng tâm của Phật pháp và Thiền học.

Rất nhiều câu hỏi triết lý bí hiểm hấp dẫn ở đời thật ra là không quan trọng và tốn thời gian vô ích.

Trong Tiểu Kinh Malunkya, Malunkya nhận thấy:

Có một số vấn đề này, Thế Tôn không trả lời, bỏ một bên, loại bỏ ra: “Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường, thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên; sinh mạng này và thân này là một, sinh mạng này và thân này là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

Đức Phật nói:

Này Malunkyaputta, ví như một người bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè và bà con huyết thống của người ấy mời một vị y sĩ khoa mổ xẻ đến săn sóc. Nhưng người ấy lại nói: “Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi thuộc giòng hoàng tộc, hay Bà-la-môn, hay buôn bán, hay người làm công. ..[hay]… tộc tánh là gì…[hay]… cao hay thấp, hay người bậc trung… [hay]… da đen, da sẫm hay da vàng … [hay] thuộc làng nào, thuộc thị trấn nào, thuộc thành phố nào… [hay]… cái cung mà tôi bị bắn, cái cung ấy thuộc loại cung thông thường hay loại cung nỏ … [hay]… dây cung mà tôi bị bắn, dây cung ấy làm bằng cây leo, hay cây lau, hay một thứ gân, hay một thứ dây gai, hay một thứ cây có nhựa… [hay]… cái tên mà tôi bị bắn, cái tên ấy thuộc một loại cây lau này hay cây lau khác… [hay]… mũi tên ấy có kết lông gì, hoặc lông con kên, hoặc lông con cò, hoặc lông con ó, hoặc lông con công, hoặc lông một loại két… [hay]… cái tên ấy được cuốn (parikkhittam) bởi loại gân nào, hoặc là gân bò cái, hoặc là gân trâu, hoặc là gân nai, hoặc là gân lừa… [hay]… tên nhọn, hay … tên móc, hay… như đầu sào, hay… như răng bò, hay… như kẽm gai”.

Này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết và vẫn không được biết gì.

Và Đức Phật, nói thêm:

Và này Malunkyaputta, vì sao điều ấy Ta không trả lời ? Này Malunkyaputta, vì điều ấy không liên hệ đến mục đích, điều ấy không phải là căn bản Phạm hạnh, điều ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, cho nên điều ấy Ta không trả lời.

Và này Malunkyaputta, điều gì Ta trả lời. “Đây là khổ… Đây là [nguyên nhân] khổ… Đây là [diệt] khổ… Đây là con đường đưa đến [diệt] khổ” là điều Ta trả lời.

Và này Malunkyaputta, vì sao điều ấy Ta trả lời? Này Malunkyaputta, vì điều ấy có liên hệ đến mục đích, điều ấy là căn bản Phạm hạnh, điều ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, vì vậy điều ấy Ta trả lời.

Do vậy, này Malunkyaputta, hãy thọ trì là không trả lời những điều Ta không trả lời. Hãy thọ trì là trả lời những điều Ta có trả lời.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

How Grass and Trees Become Enlightened

During the Kamakura period, Shinkan studied Tendai six years and then studied Zen seven years; then he went to China and contemplated Zen for thirteen years more.

When he returned to Japan many desired to interview him and asked obscure questions. But when Shinkan received visitors, which was infrequently, he seldom answered their questions.

One day a fifty-year-old student of enlightenment said to Shinkan: “I have studied the Tendai school of thought since I was a little boy, but one thing in it I cannot understand. Tendai claims that even the grass and trees will become enlightened. To me this seems very strange.”

“Of what use is it to discuss how grass and trees become enlightened?” asked Shinkan. “The question is how you yourself can become so. Did you even consider that?”

“I never thought of it that way,” marveled the old man.

“Then go home and think it over,” finished Shinkan.
#46

Kiến thợ

Chào các bạn,

Hồi nhỏ mình hay ngắm các đàn kiến làm việc, hoặc là một đàn kiến vàng lớn đang tha mấy con sâu róm lớn bằng cả mấy chục con kiến từ gốc cây mảng cầu lên tổ kiến gần ngọn, hoặc một đàn kiến lửa tha mỗi con một hạt cơm trong góc nhà, hoặc một đàn kiến đen nhỏ đang tha một con dế chết trong góc sân.

Và ai nhìn kiến làm việc cũng phải phục—một đàn chạy tới chạy lui lăng xăng, nhưng luôn luôn trong một con đường nhỏ ngoằn nghèo như sợi chỉ. Các con tha mồi thì một nhóm ring một miếng mồi khổng lồ, các con chạy ngược chiều thì lại cụng đầu các con khác hỏi thăm chi đó… Rất chăm chỉ, trật tự, và hình như kiến không bao giờ đánh nhau.

Và mình thường tự hỏi, không biết trong đàn kiến này có bao nhiêu cấp chỉ huy, bao nhiêu tướng, bao nhiêu tá, bao nhiêu úy, bao nhiêu lính… Sao mà đoàn quân này kỹ luật và hiệu nghiệm đến vậy? Cách thức tổ chức thế nào?

Mình chưa bao giờ có câu trả lời. Câu trả lời duy nhất mình thấy là mọi con kiến và mỗi con kiến đều như nhau, đều siêng năng, đều làm việc tốt, và mình chẳng phân biệt được con nào với con nào cả.

Ngoại trừ kiến chúa, tất cả các kiến thợ còn lại có hệ cấp hay không, có lẽ chúng biết, nhưng ta không biết. Nhưng điều đó chẳng quan trọng gì với ta cả. Kiến làm việc đoàn kết và bình đẳng—đó là điều ta thấy.

Về sau này, khi suy tư về con người, mình cũng thấy là có lẽ con người cũng như kiến. Từ góc độ của các con người nhìn nhau, chúng ta có sang hèn, giỏi dốt, giàu nghèo, ông thằng… và chúng ta thường xử với nhau bằng hệ cấp.

Nhưng từ một góc độ cao hơn và lớn hơn, từ trên cao nhìn xuống loài người, như ta nhìn đàn kiến, thì các hệ cấp đó đều chẳng nghĩa l‎ý gì cả–Mọi con người đều nhỏ bé như nhau, nhìn như nhau, làm việc cho đoàn người lăng xăng chăm chỉ như nhau. Người khổng lồ nào đang nhìn đàn người đó, chắc là không có những ý ‎ nghĩ bất bình đẳng giữa các con người, như chúng ta thường nghĩ về nhau.

Sự khác biệt là ở nơi góc độ nhìn: Cái nhìn thiển cận ở góc độ ngang nhau, hay cái nhìn lớn từ góc độ cao hơn nhiều.

Vì vậy nếu chúng ta có thể phóng tâm đến tầm cao hơn, để có thề nhìn xuống chính mình và mọi người chung quanh, thì chúng ta có thể có cái nhìn rộng lớn và toàn diện, trong đó bằng cấp, chức vị, tiền bạc, danh tiếng, danh dự, hay bất cứ cái gì ta có đều chẳng nghĩa l‎ý gì cả, và ta cũng chỉ là một con người như anh hàng xóm, đều cùng lăng xăng trong một đoàn người như nhau.

Thế thì vì cớ gì mà ta cứ kềm cái đầu sát mặt đất để kiêu hãnh hão với các thứ vỏ ảo tưởng trên mình?

Những thứ phân chia hệ cấp thực ra chẳng nghĩ lý gì cả. Nhưng vì hệ thống quản lý kinh tế chính trị không hoàn hảo của ta tạo ra đủ thứ lăng nhăng như vậy, chung qui chỉ vì lòng tham của chúng ta—mọi người ham hố những thứ phụ tùng đó—nên chúng ta tranh nhau để có chúng, và để thu được “phần thưởng” do chúng mang lại. Từ đó, ta có hệ cấp, phân chia, tranh giành, và chiến tranh khi tranh giành trở thành quá lớn. Đa số các cuộc cách mạng nhân quyền, dân quyền, xã hội, và các cuộc chiến tranh ý thức hệ trên thế giới, chẳng qua cũng chỉ là tranh giành các cái vỏ bên ngoài này, hay là tranh giành quyền phân phát hoặc quyền ấn định hệ thống phân phát các vỏ này.

Thế giới chắc là sẽ tốt hơn một tí, nếu mỗi ngày bạn có thể phóng tâm lên tầng cao và nhìn xuống đoàn người chi chít lăng xăng dưới chân bạn, như một đàn kiến.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Gipsy Kings và nhạc Rumba Flamenca

Chào các bạn,

Gypsy Kings là tên của một ban nhạc ở Pháp, đến từ vùng Arles và Montpellier. Các thành viên là người Pháp gốc Tây Ban Nha; cha mẹ họ là gitanos, gypsi người Tây Ban Nha gốc Romania, đã tị nạn đến Pháp từ Catalonia, thời nội chiến Tây Ban Nha thời thập niên 1930.

Họ chú trọng nhiều đến nhạc Rumba Catalana, một loại Rumba Flamenco của vùng Catalina, thêm một số âm thanh mới của nhạc pop, và mang Rumba Catalina mới này đển với thính giả toàn thế giới. Nhiều bản nhạc của họ cũng có âm hưởng Salsa, vì vậy rất được ủng hộ trong giới vũ Salsa.

Sau đây mời các bạn nghe một vài bản nhạc nổi tiếng thế giới của Gypsi Kings:

1. Volare
2. Baila Me
3. Bamboleo
4. Djobi Djoba
5. Bem bem bem Maria

Chúc các bạn một cuối tuân lang thang Gypsi ! 🙂

Hoành
.

Gipsy Kings – Volare

.

Gipsy Kings-Baila Me


.

Gipsy Kings Bamboleo

.

Gipsy Kings Djobi Djoba


.

Gipsy Kings – Bem bem bem Maria

Ngày thầy thuốc Việt Nam: Biểu tượng y khoa và Hải Thượng Lãn Ông

Chào các bạn,

Hôm nay ngày 27 tháng 2 năm 2010 là 55 năm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam, kể từ năm 1955 khi nhà nước Việt Nam ấn định 27/2 là Ngày Thầy Thuốc hàng năm. Chúc các bạn đã và đang trong ngành y tế một ngày nhiều tình yêu và tạ ơn. Y sĩ là việc cứu người. Chẳng còn gì quan trọng cấp kỳ hơn thế.

Nhân Ngày Thầy Thuốc chúng ta hãy nói qua một tí về biểu tượng y tế và Hải Thượng Lãn Ông, được xem như ông tổ của đông y Việt Nam.

Biểu tượng ngành y

Biểu tượng nghề y sĩ là một cây gậy với một con rắn quấn quanh, gọi là Gậy Aesculapius hay Gậy Asklepios, dùng tên của vị thần thuốc men trong thần thoại Hy Lạp. Vị thần này có tên Hy Lạp là Asklepios và tên La Mã là Aesculapius, được xem là một vị thần hiền dịu, chữa lành các bệnh tật về thể xác cũng như tinh thần của con người. Các tín hữu của thần này lập các đền thờ gọi là asclepions, đền thờ Asklepios, đền thờ chữa bệnh. Đền thờ lớn nhất tọa lạc trong một khu vườn rộng rãi ở Corinth, một thành phố rất lớn thời cổ đại. Người bệnh khắp nơi đến đền thờ, ngủ lại đêm để chờ lấy thuốc, và thường cúng cho thần một con gà.

Aesculapius có nhiều con, kể cả Hygieia, nữ thần của sức khỏe, từ đó có chữ hygiene (vệ sinh), và Panaceia, nữ thần chữa bệnh, từ đó có chữ panacea, thần dược vạn năng.

Gậy Aesculapius là biểu tượng của y tế tại nhiều nơi trên thế giới kể cả American Medical Asociation và Bộ Y Tế Việt Nam.

Tuy vậy, ngày nay, nhiều nơi đã nhầm lẫn và dùng Gậy Caduceus làm biểu tượng y tế. Gậy Caduceus (phát âm /kəˈdjuːsiəs, -ʃəs/, từ tiếng Hy Lạp kerykeion κηρύκειον) là một cây gậy ngắn với hai cánh ở đầu và hai con rắn quấn quanh thân.

Gậy này trước là do Iris mang. Iris là thần thông tin của nữ thần Hera, vợ của vua trời Zeus. Sau này, gậy này đổi tên là Đũa Thần của Hermes, vì thần Hermes mang nó. Gậy này về sau lại là biểu tượng của thần Mercury, hành tinh trong Thái dương hệ.

Dù chẳng liên hệ gì đến y ‎ tế, ngày nay gậy Caduceus được dùng là biểu tượng y tế nhiều nơi, chỉ vì người ta lẫn lộn nó với gậy Asclepius.

Ông tổ Đông Y Việt Nam

Ở Âu Mỹ, Hippocrates của Hy Lạp (460 B.C. – 377 B.C.) được xem là thủy tổ của y học.

Ở Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông ngày nay được xem là biểu tượng cho y sĩ. Hải Thượng Lãn Ông (“Ông già lười Hải Thượng”) là biệt hiệu của danh y Lê Hữu Trác.

Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý 1720 tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Khi ấy, 20 tuổi, ông vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, nhưng xã hội bấy giờ rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi, ông bắt đầu nghiên cứu thêm binh thư và võ nghệ, “nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình”.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, nhiệt tình chữa khỏi.

Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường đọc “Phùng thị cẩm nang” và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, bèn đem hết những hiểu biết về y học truyền cho ông.

Ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu “Hải Thượng Lãn ông”. Hải Thượng là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là xã Bầu Thượng quê mẹ. “Lãn ông” nghĩa là “ông lười”, ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi.

Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ “Y tôn tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn ông.

Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn.

Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh thiền sư. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 22 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh là công trình y học suất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học. (Theo Wikipedia)

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành