Việc tu vần đã khiến cho những câu thơ viết ra đạt được những tiêu chuẩn nhất thiết phải có của nó, về tính họa trong thơ, tính nhạc trong thơ, tính tư tưởng trong thơ…
…Nói cách khác, hình ảnh, hình tượng, triết lý, trí tuệ đều làm nên bởi câu chữ, mà câu chữ sử dụng trong thơ là câu chữ của vần điệu.
Sẽ có người nói rằng: Thơ tự do chính là thơ không vần! Đúng, nó không nằm trong qui luật vần thông thường, nó tuân theo qui luật vần ẩn, vần kín kín đáo nằm trong nhịp điệu, trong các thanh bằng chắc và chấm phẩy. Đó là sự tự do trong giới hạn thơ, chứ tuyệt nhiên không phải tự do là muốn lắp ghép từ ngữ thế nào cũng được…
Những Người Đãi vàng
Thực ra trong cách nói văn vẻ này tôi không chỉ dừng lại ở việc chọn chữ. Mà phải nói khái quát một quá trình chọn: Hình tượng, hình ảnh, câu, chữ, vần điệu…
Quá trình chọn được tiến hành như thế nào?
Tình trạng thơ không có tứ hiện rất phổ biến và nhiều người mắc phải. Những bài thơ này thường kể lể dài dòng, miên man, vấn đề tung ra vung vãi, hình ảnh và hình tượng chạy xa chủ đề. Nói tóm lại là người đọc chẳng hiểu nhà thơ định nói gì…
Cuốn tiểu thuyết dày 374 trang, tôi đã đọc một mạch từ 8 giờ tối cho đến quá nửa đêm thì xong, chợp mắt một lúc là sáng, tỉnh dậy, tôi gọi điện thoại cho Hoàng. Câu hỏi: Sự thật là như thế nào? Hoàng đáp: Trăm phần trăm sự thật. Tôi cúp máy và trở lại với Ngửa Mặt Kêu Trời, đọc lướt chừng một giờ. Lại nối máy với Hoàng. Ông vẫn là chính ủy đấy chứ? Hoàng đáp: Ông mất lòng tin ở tôi từ bao giờ vậy? Tôi cúp máy. Ngay từ thời chúng tôi cùng thần tượng Paven, đám bạn cùng thời với Hoàng, tất nhiên cả tôi, chúng tôi đều coi Tô Hoàng là chính ủy, chính ủy từ tâm hồn đến lời ăn tiếng nói, đến chiếc sà cột luôn khoác vai đến cái vẫy tay, cái miệng mở câu chào, cái gì cũng chính ủy cả, chính ủy toàn phần. Tôi vừa lật dở cuốn sách của Hoàng, vừa lan man nghĩ về câu hỏi của Hoàng: Ông mất lòng tin với tôi từ bao giờ vậy? Vì không đáp thoát được câu hỏi của Hoàng, tôi nối lại điện thoại, lần này chúng tôi nói với nhau bằng tiếng Nga. Hoàng cười từng cười ngắn và nói câu phương ngữ Nga “ Rứbắc rứbắcka vídít idờ đalêka “, nôm na là “Người đánh cá nhìn thấy người đánh cá từ xa”, ứng với một câu tám trong Kiều “ Phải người cùng hội cùng thuyền đâu xa”, ý rằng phải nên là Hoàng mà đồng cảm với Hoàng. Tôi từ câu nói đó của Hoàng mà viết bài đò đưa này. 
Cái tưởng tượng trong thơ ảo nhưng mà thực không nhưng mà có, vô lý nhưng mà hữu lý…
… lục bát… và song thất lục bát…
Sự cô đọng là cốt lõi của thành công. Do đó sự tự loại bỏ những hình ành, hình tượng không cần thiết, cắt những ý, những câu không thuộc về chủ đề là một “đau lòng” đáng có. Chính cái đó đã quyết định sự thành công.
1/ Tôi thực không biết mình lên Tây Bắc trước hay sau Trần Vân Hạc, và cũng không biết Trần Vân Hạc lên và ở lại Tây Bắc vì duyên cớ gì, còn tôi, vì bốn câu thơ hoành tráng, thúc gọi trí trai của Chế Lan Viên, mà mon men lên Tây Bắc /Tây Bắc ư? Có gì riêng Tây bắc/ Khi lòng ta đã hóa những con tầu/ Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát / Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu / ( 4 câu thơ này tôi thuộc trong trí nhớ, nếu sai với nguyên gốc xin bạn đọc thể tất).
Tôi lắng nghe nhịp đập trái tim mình từ mọi phía khác nhau của cuộc đời, sự chỉ huy không phải là bộ óc, mà là trái tim, cho nên những phấn khích nội dung nơi trái tim liền tức khắc thành thơ, những vần thơ ấy nhiều khi mâu thuẫn với chính tư duy của mình. Vì sao không có sự thống nhất giữa trái tim và khối óc mà tôi vẫn làm? Việc hôm nay chớ để ngày mai, rung cảm trái tim có lập lại bao giờ…
Ngơ ngác quá tôi gào cùng trời đất: Đâu gian tà? Đâu chính nghĩa? Đâu trong sạch? Đâu thối tha? Ai ngụy trang? Ai mộc mạc? Ai kẻ cướp? Ai bà già? Hay chân lý chỉ là danh từ chưa bao giờ có thật?
Vấn đề được tôi quan tâm nhất trong khi làm thơ là cái đạo mà thuyền thơ chở. Thuyền thơ của mỗi thế hệ nhà thơ phải chở cái đạo của thời đại mình. Cái đạo nào? Cái đạo mà thời đại quan tâm nhất. Trong phạm vi một xứ xở thì đấy là cái đạo mà đồng bào xứ xở quan tâm. Cái đạo khái quát được xã hội mà lại rất riêng – riêng cho từng số phận con người. Nguyễn Du đã đau khổ với mình về thân phận con người. Chẳng lẽ chúng ta ngày nay lại không đau khổ về thân phận con người của thời đại chúng ta? Xã hội thời Kiều có vấn đề của thời Kiều, xã hội thời ta có vấn đề của thời ta . Thời Kiều ở trong truyện Kiều, lẽ nào thời ta không hiện diện trong thơ ta?
Con mắt nhìn là chiêu thức đầu tiên của người làm thơ! Có một con mắt nhìn đúng đắn tức là có một sự vô tận của nguồn suối tuôn chảy những dòng thơ hòa đồng giữa mạch đập trái tim ta với mạch đập trái tim đời.
