All posts by Nguyễn Nguyên Bảy

Ánh gằm gằm giấu sau đít chai Cháy thành lửa cũng chỉ là lửa mắt

Thủng thẳng với thơ… (phần 13)

 

    Việc tu vần đã khiến cho những câu thơ viết ra đạt được những tiêu chuẩn nhất thiết phải có của nó, về tính họa trong thơ, tính nhạc trong thơ, tính tư tưởng trong thơ…

    …Nói cách khác, hình ảnh, hình tượng, triết lý, trí tuệ đều làm nên bởi câu chữ, mà câu chữ sử dụng trong thơ là câu chữ của vần điệu.

    Sẽ có người nói rằng: Thơ tự do chính là thơ không vần! Đúng, nó không nằm trong qui luật vần thông thường, nó tuân theo qui luật vần ẩn, vần kín kín đáo nằm trong nhịp điệu, trong các thanh bằng chắc và chấm phẩy. Đó là sự tự do trong giới hạn thơ, chứ tuyệt nhiên không phải tự do là muốn lắp ghép từ ngữ thế nào cũng được…

Những Người Đãi vàng

Thực ra trong cách nói văn vẻ này tôi không chỉ dừng lại ở việc chọn chữ. Mà phải nói khái quát một quá trình chọn: Hình tượng, hình ảnh, câu, chữ, vần điệu…

Quá trình chọn được tiến hành như thế nào?

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 13)

Thủng thẳng với thơ… (phần 12)

    Tình trạng thơ không có tứ hiện rất phổ biến và nhiều người mắc phải. Những bài thơ này thường kể lể dài dòng, miên man, vấn đề tung ra vung vãi, hình ảnh và hình tượng chạy xa chủ đề. Nói tóm lại là người đọc chẳng hiểu nhà thơ định nói gì…

    Muốn làm thơ có tứ, thì việc tập dượt ban đầu phải như người học sinh làm luận, cả trong tư duy và khi viết, luôn luôn tự hỏi mình: Câu này có phục vụ cho điều mình định nói không. Lúc đầu, phương pháp sáng tác này có thể hơi lố bịch, thêm cái khô khan, cứng ngắc và không có vẻ gì là công việc của một nghệ sĩ. Nhưng từ những lao động cơ bản này công việc làm thơ dần dà trở nên vững chắc con đường thành tựu. Ví như người diễn viên chèo vất vả khi học những làn điệu cổ trước khi cập nhật những làn điệu cách tân.

Xương Cốt Của Thơ

Thật thú vị khi nói về xương cốt của thơ. Xương cốt của thơ chính là cái tứ, bài thơ cần thiết phải có xương cốt, cần phải có tứ.

Nên định nghĩa thế nào là tứ thơ?

Trước hết hãy nói công việc mở đầu cho một bài thơ. Đối với một bài thơ tôi thường bắt đầu bằng hai phương pháp khác.

1. Đã thuộc rất mạch lạc vấn đề mình sẽ viết, thuộc đến nỗi – như tôi đã nói ở trên – chỉ việc đặt bút xuống và mặc cho dòng thơ cuốn mình đi, cuốn cho đến chữ cuối cùng dừng lại, là bài thơ đã kết thúc. Chẳng những tôi thuộc lòng nội dung mà còn thuộc lòng cả hình thức biểu hiện. Đối với phương pháp này tôi có thể trả lời một cách dũng cảm: Mình viết cái gì và đã viết như thế nào.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 12)

Có Một Tô Hoàng tiểu thuyết

Nguyễn Nguyên Bảy đò đưa

Cuốn tiểu thuyết dày 374 trang, tôi đã đọc một mạch từ 8 giờ tối cho đến quá nửa đêm thì xong, chợp mắt một lúc là sáng, tỉnh dậy, tôi gọi điện thoại cho Hoàng. Câu hỏi: Sự thật là như thế nào? Hoàng đáp: Trăm phần trăm sự thật. Tôi cúp máy và trở lại với Ngửa Mặt Kêu Trời, đọc lướt chừng một giờ. Lại nối máy với Hoàng. Ông vẫn là chính ủy đấy chứ? Hoàng đáp: Ông mất lòng tin ở tôi từ bao giờ vậy? Tôi cúp máy. Ngay từ thời chúng tôi cùng thần tượng Paven, đám bạn cùng thời với Hoàng, tất nhiên cả tôi, chúng tôi đều coi Tô Hoàng là chính ủy, chính ủy từ tâm hồn đến lời ăn tiếng nói, đến chiếc sà cột luôn khoác vai đến cái vẫy tay, cái miệng mở câu chào, cái gì cũng chính ủy cả, chính ủy toàn phần. Tôi vừa lật dở cuốn sách của Hoàng, vừa lan man nghĩ về câu hỏi của Hoàng: Ông mất lòng tin với tôi từ bao giờ vậy? Vì không đáp thoát được câu hỏi của Hoàng, tôi nối lại điện thoại, lần này chúng tôi nói với nhau bằng tiếng Nga. Hoàng cười từng cười ngắn và nói câu phương ngữ Nga “ Rứbắc rứbắcka vídít idờ đalêka “, nôm na là “Người đánh cá nhìn thấy người đánh cá từ xa”, ứng với một câu tám trong Kiều “ Phải người cùng hội cùng thuyền đâu xa”, ý rằng phải nên là Hoàng mà đồng cảm với Hoàng. Tôi từ câu nói đó của Hoàng mà viết bài đò đưa này.

Continue reading Có Một Tô Hoàng tiểu thuyết

Giới thiệu sách mới: Thủng Thẳng Với Thơ


 

    TĐH: Đây là phần giới thiệu sách mới Thủng Thẳng Với Thơ của ba tác giả Lý Phương Liên (thơ), Nguyễn Nguyên Bảy (thơ), Nguyễn Lý Phương Ngọc (tranh, với bài giới thiệu Chân Dung Mộng Mị của Đạo diễn điện ảnh Nguyễn Anh Tuấn đã post trên ĐCN), và loạt bài Thủng Thẳng Với Thơ của anh Bảy (đang post trên ĐCN).

    Sau phần Lời Tựa của anh Bảy dưới đây là phần giới thiệu sách của mình, có tên là Không Đề. Mình viết lời giới thiệu, nhưng không cho nó đầu đề gì cả, gởi cho anh Bảy, và bây giờ lại thấy nó có đầu đề Không Đề. Bài học là: Điều gì ta viết cũng đã có sẵn một tên đề là Không Đề. Nếu ta không chọn cho nó một tên khác, Không Đề sẽ dính 🙂

 

Tập sách nhan đề Thủng Thẳng Với Thơ, đã biên tập xong, đang xin phép xuất bản, đây là tập sách thơ Gia đình Nguyễn Nguyên Bảy, gồm 9 bài thơ tình Lý Phương Liên, 27 bức tranh sơn dầu của Nguyễn Lý Phương Ngọc, 41 bài thơ tình và 14 khúc Đò Đưa thơ của Nguyễn Nguyên Bảy.

Dưới đây giới thiệu Lời Thưa của Nguyễn Nguyên Bảy và Không Đề của Tiến sỉ Trần Đình Hoành.

Continue reading Giới thiệu sách mới: Thủng Thẳng Với Thơ

Thủng thẳng với thơ… (phần 11)

    Cái tưởng tượng trong thơ ảo nhưng mà thực không nhưng mà có, vô lý nhưng mà hữu lý…

    Trí tưởng tượng có mức độ thượng và hạ cách của nó. Hạ cách của trí tưởng tượng diễn ra dưới dạng liên tưởng, suy tưởng. Dạng này thường nặng nề về hình thức, nêu không biểu đạt một cách tinh tế thì dễ sa vào sự gán ghép khiên cưỡng – gán ghép cho từng hình ảnh, hình tượng, gán ghép diễn ra trong từng câu thơ. Thượng cách của trí tưởng tượng là sự bay bổng của một tâm hồn thơ, một trí tuệ thơ, trong từng bài hoặc từng khổ thơ. Người đọc chỉ cảm thấy một cái gì say sưa, một cái gì cao hơn cuộc sống thực nhưng vẫn là cuộc sống, một cái gì rất thơ. Thượng cách của trí tưởng tượng sử dụng rất nhuyễn, rất ảo, rất lôgích một chuỗi hình ảnh, hình tượng xảy ra trong cuộc đời đã được thơ hóa bằng trí tuệ nhà thơ.

Từ Trời Đất Đến Trăng sao…

Phải đến thế kỷ thứ 21, may ra bước chân của con người mới thực sự đặt lên mặt trăng, trong khoảng không vũ trụ mới bay lượn những con tàu…Nhưng từ vạn năm nay, trí tưởng tượng đã đưa con người tới đó. Xã hội vũ trụ trong trí tưởng tượng của con người cũng hệt như xã hội con người vậy, những thiên thần, thiên tướng, những tiên nữ, tiên đồng…Chẳng những thế mà còn có Giáng Kiều Tú Uyên bích câu kỳ ngộ, lại có thằng Cuội ngồi gốc cây đa, để trâu ăn lúa gọi cha hời hời…Với trí tưởng tượng, con người như có cánh bay, sao Hỏa sao Kim đều cũng hóa nên gần.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 11)

Thủng thẳng với thơ… (phần 10)

 

    … lục bát… và song thất lục bát…

    Vì sao lại phải nghiên cứu phép làm thơ truyền thống ? Phải nghiên cứu phép làm thơ truyền thống, bởi đấy là hồn cốt của mọi phép làm thơ khác. Cũng ví như đất vậy, đất làng ta trồng ra hạt lúa làng ta…

    Nắm được vững chắc các phép làm thơ dân tộc thì việc sử dụng các thể thơ mới không còn là điều khó khăn nữa. Bởi lẽ, tất cả các thể thơ mới đều tôn trọng và mở rộng các cách hiệp vận, cách gieo nhạc điệu, các đồng hưởng, điệp từ và tiểu đối như ở các thể thơ dân tộc. Không có sự kế thừa ấy quyết không phải là thơ Việt.

Luận Về Những Chiếc Áo Của Thơ

Tôi có ý định viết về phép làm thơ lục bát của Nguyễn Du và phép làm thơ song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm, nhưng ý định ấy chưa thực hiện được, vì tôi cứ có ý chờ những chuyên gia nghiên cứu về luật thơ viết những nguyên lý đó. Tôi đã nói điều này với Thầy tôi và yêu cầu Người viết. Nhưng cho đến nay Người cũng chỉ mới hứa sẽ bắt đầu.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 10)

Thủng thẳng với thơ… (phần 9)

    Sự cô đọng là cốt lõi của thành công. Do đó sự tự loại bỏ những hình ành, hình tượng không cần thiết, cắt những ý, những câu không thuộc về chủ đề là một “đau lòng” đáng có. Chính cái đó đã quyết định sự thành công.

    Ngày xưa, các bài thơ ngắn được qui định bởi niêm luật rất nghiêm ngặt, sự gò bó này có làm khó dễ cho nội dung tư tưởng, song lại đòi hỏi người làm thơ phải có nhiều công phu và muốn có thơ hay người viết đã trả đúng giá cho nó. Biết bao nhiêu bài tứ tuyệt, bát cú, đã thành bất tử chỉ với 4 câu hay 8 câu. Ngày nay, các bài thơ gọi là ngắn đã không còn là ngắn nữa, 50 câu như tôi nói cũng được coi là ngắn, nhưng dưới 100 câu cũng chưa phải thơ dài. Do sự mở rộng ước lệ dài ngắn này, đã khiến tính cô đọng của thơ có bị giảm sút, nguyên nhân chính là do người viết nhiều tham lam. Cái tinh túy của vàng, bạc lẫn quá nhiều với quặng và sỏi đá. Người đọc phải thanh lọc rất nhiều mới được những hạt bạc, hạt vàng.

Loại Thể Những Khúc Ca

Trong quá trình lao động, tôi đã cố gằng sử dụng gần hết các thể loại có thể sử dụng được để biểu đạt thơ. Tuy vậy, vẫn không đúc rút được kinh ngiệm gì đáng kể, chưa định được qui luật đã là sự nhảm nhí, định một khuôn mẫu cho thơ mà hổ thẹn ư?

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 9)

Cùng Trần Vân Hạc Lên Tây Bắc Hái Thơ

 

Nguyễn nguyên bảy đò đưa thơ Trần Vân Hạc

1/ Tôi thực không biết mình lên Tây Bắc trước hay sau Trần Vân Hạc, và cũng không biết Trần Vân Hạc lên và ở lại Tây Bắc vì duyên cớ gì, còn tôi, vì bốn câu thơ hoành tráng, thúc gọi trí trai của Chế Lan Viên, mà mon men lên Tây Bắc /Tây Bắc ư? Có gì riêng Tây bắc/ Khi lòng ta đã hóa những con tầu/ Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát / Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu / ( 4 câu thơ này tôi thuộc trong trí nhớ, nếu sai với nguyên gốc xin bạn đọc thể tất).

Lần thứ nhất, khoảng 1963-64, lúc ấy, tuổi sức hai mươi, hùng hổ tưởng mình chân đi sóng gió, vậy mà mới qua vài cua vùng biên Tây Bắc, từ Yên Bái đi Nghĩa Lộ, trên xe hơi chở khách, vào đến Nghĩa Lộ thì tôi ơi đã say xe “mướt cò bợ” và đổ gục tại Nghĩa Lộ, được nàng tiên người Kinh Tây Bắc, quen dọc đường, đánh gió cháy lưng, cò bợ tôi mới oai hùng trở lại theo nữ tiên ra suối rửa mặt tắm hôi. Và, một kỳ lạ của lần đẩu lên Tây Bắc ấy, đã ùa vào tâm khảm tôi, mà sau này Trần Vân Hạc gọi là Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc.

Continue reading Cùng Trần Vân Hạc Lên Tây Bắc Hái Thơ

Thủng thẳng với thơ… (phần 8)

    Tôi lắng nghe nhịp đập trái tim mình từ mọi phía khác nhau của cuộc đời, sự chỉ huy không phải là bộ óc, mà là trái tim, cho nên những phấn khích nội dung nơi trái tim liền tức khắc thành thơ, những vần thơ ấy nhiều khi mâu thuẫn với chính tư duy của mình. Vì sao không có sự thống nhất giữa trái tim và khối óc mà tôi vẫn làm? Việc hôm nay chớ để ngày mai, rung cảm trái tim có lập lại bao giờ…

    Cần thiết phải có một tư duy không mệt mỏi, một thái độ lao động nghiêm ngặt, chuyên cần. Tìm đủ mọi cách rèn luyện cho bằng được dòng tư duy thơ, chuyển hóa tất cả cái gì mắt gặp và khi tay cầm bút thì ghi lấy những rung cảm trái tim. Phương pháp ấy đã khiến cho mở rộng rất nhiều trong cách biểu đạt và thường là những bất ngờ mới lớn làm sao, trước khi cầm bút, ý nghĩ về bài thơ còn chưa chín, thế mà cầm đến bút, cứ thế viết, và thực sung sướng, bài thơ đã đi xa hơn trí tưởng tượng rất nhiều.

Thơ Là Thơ

Trong tập viết nhỏ này đã hai lần tôi nhắc đến một luận đề nghe mơ hồ: Thơ là thơ…Cứ làm như là thiếu nữ phải là con gái vậy. Nhưng quả thực sự mơ hồ ấy đã trở thành một phổ biến trong hiện tình văn học. Thơ phải là thơ! Đưa ra luận điểm này, vì hiện đang có nhiều du nhập vào thơ, làm biến chất thơ, không phải là sự làm hiện đại nó, làm thời trang nó, mà chuyển hóa nó từ vị này trí khác, từ hướng này sang phương khác, từ khuôn này sang mẫu khác. Quá trình biến chất ấy đã xảy ra trên cả hai mặt nội dung và hình thức.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 8)

Thủng thẳng với thơ

    Ngơ ngác quá tôi gào cùng trời đất: Đâu gian tà? Đâu chính nghĩa? Đâu trong sạch? Đâu thối tha? Ai ngụy trang? Ai mộc mạc? Ai kẻ cướp? Ai bà già? Hay chân lý chỉ là danh từ chưa bao giờ có thật?

    Tôi đi giữa thác người như đi trên sa mạc, chới với đuổi theo một cái gì ảo ảnh tít mù xa, chân lý nơi đâu? Bên Tàu, bên Nhật hay bên Nga? Mà nước Mỹ nữ Thần Tự Do vẫn hồng tươi sắc mặt?

    Ôi mỉa mai, viển vông và huyền hoặc. Họng súng đen ngòm, hay lí lịch ông cha? Lý tưởng vữa tan khi ánh sáng chói lòa và chính nghĩa đã thành khuôn lệch lạc.

Tung Cánh Đại Bàng

Đối với người cầm bút đề tài nào là đề tài nên né tránh ?

Người cầm bút chân chính không thể né tránh bất kỳ đề tài nào. Nhưng vì sao lại phải đặt câu hỏi này? Có phải chủ thể của câu hỏi, là  bây giờ – thời đại chính trị của chúng ta thì cái khó, cái nên né tránh mới xảy ra đối với người cầm bút? Câu đáp là Không. Thời đại nào cũng có những cái đẹp, cái khó của nó và không cái khó, cái đẹp của thời  nào giống thời nào. Ai dám bảo thời Nguyễn Du dễ viết hơn bây giờ, và ngược lại thời bây giờ khó viết hơn thời Nguyễn Du?

Continue reading Thủng thẳng với thơ

Thủng thẳng với thơ… (phần 6)

 

    Vấn đề được tôi quan tâm nhất trong khi làm thơ là cái đạo mà thuyền thơ chở. Thuyền thơ của mỗi thế hệ nhà thơ phải chở cái đạo của thời đại mình. Cái đạo nào? Cái đạo mà thời đại quan tâm nhất. Trong phạm vi một xứ xở thì đấy là cái đạo mà đồng bào xứ xở quan tâm. Cái đạo khái quát được xã hội mà lại rất riêng – riêng cho từng số phận con người. Nguyễn Du đã đau khổ với mình về thân phận con người. Chẳng lẽ chúng ta ngày nay lại không đau khổ về thân phận con người của thời đại chúng ta?  Xã hội thời Kiều có vấn đề của thời Kiều, xã hội thời ta có vấn đề của thời ta . Thời Kiều ở trong truyện Kiều, lẽ nào thời ta không hiện diện trong thơ ta?

Bạn đường thân yêu

Không người làm thơ nào lại không có những bạn đường thân yêu của mình. Người có  Puskin, người có Erenbua, người có Aragông, người có Lý Bạch, Đỗ Phủ. Tôi có nhiều người bạn, nhưng người bạn đường thân yêu nhất của tôi là Truyện Kiều.

Vì sao lại có sự lựa chọn lạ lùng ấy?

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 6)

Thủng thẳng với thơ… (phần 5)

 

    Con mắt nhìn là chiêu thức đầu tiên của người làm thơ! Có một con mắt nhìn đúng đắn tức là có một sự vô tận của nguồn suối tuôn chảy những dòng thơ hòa đồng giữa mạch đập trái tim ta với mạch đập trái tim đời.

    Sự thực, nếu chỉ có nỗi thống khổ thì con người làm thể nào chịu đựng hết được những thống khổ ấy và không thể, dù khát vọng, làm được công việc sáng tạo của thi ca. Mỗi người cầm bút tìm cho mình một giải thoát nỗi thống khổ của mình, có người sung sướng với vài ba đồng tiền nhuận bút, có người hãnh diện vì cái tên, có người giải trí bằng sự thích sách… Còn tôi, tôi đã không sống thiếu tình yêu.

    Kính chào sự nghèo đói và tình yêu!

    …Những đề tài tưởng như là nóng bỏng nhất: Chiến tranh, xây dựng, luân lý, giáo huấn…Chẳng phải đều ra đời từ tình yêu và cái đói đó sao?

Nước nguồn mát trong

Nhiều bạn hỏi: Tôi đã bắt đầu công việc thơ ca như thế nào?

Câu hỏi tưởng như rất thường, bởi làm bất kỳ công việc gì cũng có sự bắt đầu, với thơ cũng có sự bắt đầu. Bắt đầu công việc thơ ca như thế nào ư? Tôi đã có hàng ngàn cái bắt đầu cho từng câu thơ và cái bắt đầu cho từng bài thơ nhưng để nói được một lời đích đáng thì thực lòng không sao nói được. Cũng như hàng ngày chúng ta ai cũng nói tiếng Việt Nam mà đã mấy người hiểu được qui luật của ngôn ngữ Việt Nam, công việc tầm nguyên chưa được bắt đầu, công việc làm từ điển chưa được chú trọng, ngay cả công việc từ đôi (chúng ta quen gọi là từ lấp láy) cũng đã chuẩn định nghĩa thế nào đâu. Rồi đây các qui luật của thơ dù người ta đã định nghĩa nhiều rồi, nhưng sẽ còn định nghĩa mãi, định nghĩa mãi. Sự bắt đầu công việc thơ ca ở mỗi người khác nhau, và đoan chắc không ở người nào giống người nào.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 5)

Thủng thẳng với thơ… (phần 4)

 

    Xã hội con người ở dạng này hay dạng khác cũng chỉ mới thay được cái vỏ bên ngoài, chưa bao giờ thay đổi được cốt lõi của nó. Vì sự thay đổi luôn luôn là cải lương, những thành phần mới, vừa ở vị trí bạn con người đã mau chóng nhảy lên địa vị cai trị con người. Lòng tham của chúng là không cùng và thế là con người  lại lập lại mọi khổ đau. Khổ đau chỉ được thay đổi tên gọi, mầu sắc, và sự đốn mạt của nó là đau khổ mới bao giờ cũng mang những nhân danh rất hào nhoáng, những nhân danh hào nhoáng làm run động lòng người, nhưng…than ôi, cái mới còn tồi tệ hơn cái vừa bỏ đi. Do vậy phải động không ngừng, cách mạng không ngừng. Đó là qui luật mâu thuẫn của triết học và cũng chính là sứ mạng cao quí của thơ…

    Chỉ còn rất ít thơ để lay thức trái tim con người. Thơ nói vào những nơi sâu kín nhất của trái tim cả niềm dũng cảm, niềm vui và những khốn cùng, tác dụng của thơ không nhỏ, bởi khi trí tuệ con người mơ hồ về những vô lý thì có một người, bằng một dẽ hiểu nhất nói lên những nghịch lý ấy, một công việc không tầm thường và không dễ dàng. Trước những phẫn nộ của cường quyền, hồi âm vô giá của thơ chính là sự đón chào của công chúng.

 

Khi ngôi sao rụng chín

Vòm trời như một cây cổ thụ, mà những ngôi sao là những trái quả. Chỉ có điều cây trời ra hoa quanh năm và kết quả quanh năm, mỗi một quả sao khi chín rụng xuống lại nở sinh ra những cây non khác và lại ra hoa kết quả. Sự sinh sôi là không ngừng nghỉ, là mãi mãi, biết đâu chẳng có một trời sao…Trên vòm trời có những ngôi sao sáng và có những ngôi sao mờ, sao sáng tức là quả đã gần ngày chín, còn sao mờ là quả đang xanh. Một đêm hè kia, khi ta ngước mắt lên nhìn vòm trời, thấy ngàn muôn sao, và bỗng, một ngôi to như quả bưởi trời rụng xuống. Sao băng hà, một sinh mệnh đã đi vào bất tử…

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 4)

Giá Tôi Có Thể Quên Giá Mà Quên Được

nguyễn nguyên bảy đò đưa

Nguyễn Nguyên Bảy và Ngô Thế Oanh

1. Câu thơ trên của Ngô Thế Oanh, lời lòng hay thật, hay đến nỗi đọc lên ta thấy lòng ngân nga, đúng là trong cõi đời này, trong cuộc sống này, bao nhiêu là bao nhiêu chuyện,bao nhiêu là bao nhiêu điều, lòng bảo lòng quên đi, dĩ vãng đi, giấc ngủ đi, nhưng lòng không chịu, nó cứ thức, cứ nhớ,cứ làm lòng da diết, da diết một nỗi không thể quên nên mới giá mà quên được, chữ giá mà hay quá Oanh ơi, giá mà ấy thơ thật, thơ thật vì thật lòng,nên thơ không giả.

Tôi với Oanh bạn với nhau, hồi những năm 1970, tôi là phóng viên Đài Tiếng Nói  Việt Nam, Oanh là phóng viên Báo Tiền Phong. Oanh xù xì, đăm chiêu, triết gia và thật hiếm cười. Còn tôi láu cá, nhố nhăng, bạ đâu, bạ gì cũng cười toe hàm răng hô mà không biết ngượng. Tình bạn chúng tôi ngộ lắm, tôi yêu người tên Liên và sau này thành khoai lúa suốt đời. Còn Oanh cũng yêu, bạn của Liên, tuy họ không thành khoai lúa của nhau, nhưng đến tận bây giờ họ vẫn hát về nhau những lời bạn nhất, chân thành, mở lòng và nói về nhau mà lòng vẫn… Cách quãng 40 năm, chúng tôi kẻ Bắc, người Nam, không một lời tin, không một dòng địa chỉ. Nhưng khi gặp lại nhau, chúng tôi ôm nhau, tôi ôm cả cô bạn xưa của Oanh nay đã “lão” và vẫn cười toe như hoa, và vẫn như thế vừa mới xa nhau hôm qua và biết về nhau làu làu mọi chuyện. Thật đúng là Giá Tôi Có Thể Quên Giá Mà Quên Được…

Continue reading Giá Tôi Có Thể Quên Giá Mà Quên Được

Thủng thẳng với thơ… (phần 3)

 

    Cái sự tự tin ta, nói vậy mà không vậy, khó giữ vô chừng, vì cái quyền lực mặc áo thi vương, thi bá , tưởng ảo mà hóa thực, bởi chúng có đủ những nhân danh chẳng những chính trị mà cả đạo đức, luôn uốn bắt ta theo khuôn phép bầy đàn, nhắm mắt ngậm miệng bay theo chúng, thơ mà như thế được sao? Ta mà không theo, chúng chế nhạo, phổ biến nhất là chúng mím nụ cười “chuyên nghiệp” mỉa ta “nghiệp dư”, cao hơn chút là chúng bôi đen ta, vu khống ta, gán ghép đẩy ta vào thiên lạ chính trị, địa võng đạo người…

Tôi ơi, đừng bao giờ chán nản…

Tôi thói thường hay ngửa mặt hỏi trời. Lần ấy ngửa mặt chỉ thấy trời cười, cười chan hòa nắng, cười mãi không thôi, cưới đến ứa nước mắt để nắng vụt tắt nhường  lại cho mưa, mưa phập phồng bọt, và tôi liền đọc thấy những phập phồng bot ấy chậm chạp từng lời trời: Đừng bao giờ chán nản. Bọt mưa viết lan man nhiều chữ lắm, nhưng tôi đọc mà chẳng hiểu nghĩa, liền vớt bọt uống mà ngẫm nghĩ.

Khi đã có niềm say mê chân chính thì thơ chính là cái bả tình yêu của phù thủy – là cái nghiệp mà mình càng muốn rũ ra thì  như giây nó càng buộc lại. Đã là (sự) nghiệp, như đã nói, tất có chướng, nghiệp chướng, thì nhất định phải đuổi đeo, phải trả nợ, và luôn luôn phải tự nói với mình: Đừng bao giờ chán nản…

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 3)