All posts by Hoa K. Hoang

Economic researcher, mom, reader, traveller, Vietnamese blogger.

Giới thiệu bài hát Santa Lucia

Santa Lucia là một trong những bài hát nổi tiếng của dòng nhạc Neapolitan, là thể loại nhạc hát bằng ngôn ngữ của vùng Naples nước Ý, thường do một giọng nam hát solo. Đây là bài hát ca ngợi thành phố Naples và vùng Santa Lucia ở vịnh Naples.

Lời bài hát là những lời mô tả người lái thuyền về phong cảnh của vùng Santa Lucia khi màn đêm buông xuống và ánh trăng phản chiếu trên mặt biển. Người lái thuyền kể với chúng ta về sự kì diệu khó diễn tả khi nhìn những con thuyền dong khơi thật nhẹ nhàng và lướt đi bởi những làn gió. Người lái thuyền mời chào mọi người lên thuyền và không ngớt lời ca ngợi cảnh đẹp của biển và thành phố Naples.

Bài hát này cũng được dùng phổ biến trong ngày lễ thánh Lucy vào 13 tháng 12 hàng năm tại các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Ai-xơ-len, Latvia, Estonia, Phần Lan, Ý…Trong ngày lễ này một cô gái sẽ được chọn để làm biểu tượng của thánh Lucy. Cô mặc váy trắng dài với dải băng màu đỏ và đội vương miện bằng nến. Đi sau cô là những người phụ nữ, mỗi người cầm một cây nến, thể hiện ngọn lửa đã khước từ lấy đi sự sống của thánh Lucy khi bà bị trừng phạt và buộc phải chết thiêu. Họ cất vang bài Santa Lucia khi bước vào làm lễ nhà thờ.

Mời các bạn nghe giai điệu của Santa Lucia qua các giọng ca của Elvis Presley và Mario Lanza

1. Elvis Presley

.

2. Mario Lanza
.

Sul mare luccica l’astro d’argento.
Placida è l’onda, prospero è il vento.
Sul mare luccica l’astro d’argento.
Placida è l’onda, prospero è il vento.
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!

Con questo zeffiro, così soave,
Oh, com’è bello star sulla nave!
Con questo zeffiro, così soave,
Oh, com’è bello star sulla nave!
Su passegieri, venite via!
Santa Lucia! Santa Lucia!
Su passegieri, venite via!
Santa Lucia! Santa Lucia!

In fra le tende, bandir la cena
In una sera così serena,
In fra le tende, bandir la cena
In una sera così serena,
Chi non dimanda, chi non desia.
Santa Lucia! Santa Lucia!
Chi non dimanda, chi non desia.
Santa Lucia! Santa Lucia!

Mare sì placida, vento sì caro,
Scordar fa i triboli al marinaro,
Mare sì placida, vento sì caro,
Scordar fa i triboli al marinaro,
E va gridando con allegria,
Santa Lucia! Santa Lucia!
E va gridando con allegria,
Santa Lucia! Santa Lucia!

O dolce Napoli, o suol beato,
Ove sorridere volle il creato,
O dolce Napoli, o suol beato,
Ove sorridere volle il creato,
Tu sei l’impero dell’armonia,
Santa Lucia! Santa Lucia!
Tu sei l’impero dell’armonia,
Santa Lucia! Santa Lucia!

Or che tardate? Bella è la sera.
Spira un’auretta fresca e leggiera.
Or che tardate? Bella è la sera.
Spira un’auretta fresca e leggiera.
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!

Cuộc sống ơi, tôi là năm mới

Cuộc sống ơi, tôi là năm mới
Tôi là một trang giấy trắng tinh trong cuốn sách thời gian của bạn
Tôi là một cơ hội tiếp theo của bạn trong nghệ thuật sống
Tôi là thời cơ của bạn để rèn luyện những gì đã học về cuộc sống trong suốt mười hai tháng qua
Tất cả những gì bạn đã kiếm tìm và đã không thấy, đang ẩn giấu trong tôi,
Chờ bạn tìm ra với nhiều quyết tâm hơn.
Tất cả những điều tốt đẹp bạn đã cố gắng và không giành được,
Là của tôi để cho bạn khi nào bạn có ít ham muốn mâu thuẫn.
Tất cả những gì bạn đã mơ nhưng không dám làm, tất cả những gì bạn đã hi vọng nhưng đã không quyết tâm,
Tất cả những niềm tin bạn đã khẳng định nhưng đã không có được –
Những điều này đã rơi vào giấc ngủ một cách nhẹ nhàng, đang chờ đợi để được thức tỉnh
Bởi lay động của một mục đích mạnh mẽ.
Tôi là cơ hội của bạn
Để làm mới lòng trung thành với Ngài, người đã nói “Nhìn đây, ta sẽ làm mới mọi sự.”
Tôi là năm mới.

~Unknown author
~Hoàng Khánh Hòa dịch
.

Life, I am the new year

Life, I am the new year.
I am an unspoiled page in your book of time.
I am your next chance at the art of living.
I am your opportunity to practice what you have learned about life during the last twelve months.
All that you sought and didn’t find is hidden in me,
waiting for you to search it out with more determination.
All the good that you tried for and didn’t achieve
is mine to grant when you have fewer conflicting desires.
All that you dreamed but didn’t dare to do, all that you hoped but did not will,
all the faith that you claimed but did not have —
these slumber lightly, waiting to be awakened
by the touch of a strong purpose.
I am your opportunity
to renew your allegiance to Him who said, “behold, I make all things new.”
I am the new year.

Khởi sự một tổ chức phi lợi nhuận ở Mỹ

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một số bước căn bản để có thể thành lập một tổ chức phi lợi nhuận (non-profit organization) ở Mỹ.

Tóm tắt sứ mệnh

Cách tốt nhất để thực sự nắm rõ bạn muốn làm gì khi bắt đầu một tổ chức phi lợi nhuận (viết tắt là NPO) (hay kể cả một công ty thương mãi) là viết một bản vắn tắt vể sứ mệnh thật cơ bản về tổ chức của mình. Đây là sao bắc đẩu để mình cà các cộng sự viên đi theo.

Tóm tắt sứ mệnh mô tả mục tiêu chung của tổ chức và trả lời câu hỏi “Vì sao tổ chức này tồn tại?”

1. Tóm lược sứ mệnh có thể có nhiều dạng, độ dài khác nhau, có thể vài câu đến vài trang nhưng thường là nửa trang giấy

2. Khi viết sứ mệnh, bạn cố gắng mô tả NPO mới của mình sẽ làm gì:

a. Các lợi ích và dịch vụ chính dành cho những “người người thừa hưởng” (tương tự như khách hàng của một công ty).

b. Các nhóm “người thừa hưởng” sẽ hưởng lợi từ những dịch vụ này.

c. Các giá trị tinh thần sẽ dẫn hướng cho NPO của bạn hoạt động.

d. Bạn thích người khác nhìn nhận tổ chức của mình như thế nào.

NPO của bạn thuộc hình thức nào?

1. Bạn có thể thành lập một NPO chỉ qua hợp tác với bạn bè, ví dụ như thành lập nhóm tự giúp đỡ (self-help group). Trong trường hợp này, NPO của bạn là không chính thức (nhưng vẫn hợp pháp).

2. Bạn có thể thành lập NPO như một tổ chức hợp pháp riêng rẽ để a) sở hữu tài sản và có tài khoản ngân hàng riêng, b) bảo vệ bạn khỏi các nghĩa vụ nợ từ hoạt động của tổ chức.

3. Nếu bạn muốn NPO được miễn thuế liên bang (và có thể là một vài loại thuế khác), bạn nên nộp lên cơ quan thuế IRS để được là tổ chức được phép miễn thuế (hình thức tổ chức này phổ biến nhất là thuộc phân loại 501(c) (3) – tổ chức phi lợi nhuận từ thiện). Chú ý là được miễn thuế khác với được giảm trừ thuế.

4. Vì thế bạn có thể khởi động một NPO hoat động hợp pháp, và được miễn thuế.

Các tổ chức “tìm tiền” chuyên nghiệp cho bạn

Ban có thể nhờ một tổ chức tìm tiền chuyên nghiệp (fund-raising organization) giúp bạn kiếm tiền để hoạt động, trong trường hợp tổ chức của bạn:

– không có đủ nguồn lực để chi trả chi phí khởi sự và các phí nộp hồ sơ thành lập (chi phí này khoảng từ $500 đến $5,000, đặc biệt là các chi phí luật sư để hoàn thành các hồ sơ xin miễn thuế và hồ sơ cho tổ chức từ thiện)

– không có đủ kĩ năng để lên kế hoạch, tổ chức, và bắt đầu quản trị một tổ chức mới

Ở Mỹ, các tổ chức fund-raising chuyên nghiệp chịu trách nhiệm trước cơ quan thuế và các nhà hảo tâm góp quỹ cho bạn, đặc biệt là cách thức mà tổ chức fund-raising thu và chi tiền. Quay trở lại, nhà tài trợ thu phí, thường là phần trăm nào đó (5%-10%), của số tiền doanh thu mà họ thu được cho tổ chức của bạn.

Tuy nhiên, thường thướng các NPO khởi đầu bằng cách vài thành viên trụ cột bỏ một số tiền túi nhỏ lo công việc lúc đầu, và vận động bạn bè cùng làm việc không công. Khi công việc đã phát triển và nhiều người biết đến tổ chức, người ta mới bắt đầu tìm cách quyên góp tiền bạc. Đây là sự trưởng thành tự nhiên của đa số tổ chức từ thiện trên thế giới.

Tuyển dụng các thành viên trong ban quản trị

Bạn cần ít nhất một vài thành viên quản trị để giúp bạn thành lập một NPO mới. Thành viên ban quản trị không nhất thiết phải là những tên tuổi lớn, vì nhiều người cho rằng họ sẽ giúp thu hút được nhiều tiền quyên góp nhưng trên thực tế không như vậy. Tốt nhất thành viên quản trị là người đã từng trong ban quản trị trước đó và có sự hiểu biết sâu sắc về nhu cầu của những “người thừa hưởng” và làm thế nào để đáp ứng các nhu cầu này. Hơn nữa, họ cũng không nên là nhân viên trong tổ chức, không có các quan hệ kinh doanh với tổ chức, và không có bạn bè thân thiết với những người sáng lập, đặc biệt là CEO và chủ tịch hội đồng quản trị.

Ngoài ra một tổ chức mới cần thông qua một vài bước như: tuyển kế toán, tìm đại lý bảo hiểm để bảo hiểm tài sản và các bảo hiểm cho nhân viên, bảo hiểm y tế, đăng kí miễn thuế với địa phương, xin số đăng kí gây quỹ với chính phủ.

Hoàng Khánh Hòa, theo http://www.managementhelp.org

Giới thiệu bài hát: Hotel California

Tất cả chúng tôi đến Los Angeles vào đêm, không có ai từ California cả, và nếu bạn lái xe ở Los Angeles vào ban đêm, bạn chỉ có thể nhìn thấy ánh sáng tỏa ra từ một chân trời ánh đèn điện phía trước, trong đầu bạn vụt qua hình ảnh về Hollywood và những giấc mơ.

Hotel California đã ra đời khi nhóm The Eagles lần đầu tiên đến Los Angeles và sau khi phát hành trong album cùng tên năm 1977, bài hát nhanh chóng đứng trong top những bài hát được biết đến nhiều nhất trong thời kì này.

Lời của bài hát mô tả sự xa hoa của một khu nghỉ dưỡng nơi mà “bạn có thể rời bất cứ lúc nào bạn thích, nhưng [thực tế là] bạn sẽ không bao giờ rời được”. Bài hát là một ví dụ cho đời sống xa hoa, hưởng thụ ở California, Mỹ cuối những năm 1970. Don Henley gọi đó là “sự diễn tả đời sống ăn chơi của Los Angeles”, và sau này cũng nhắc lại rằng bài hát này ám chỉ giấc mơ Mỹ cũng như và sự giàu có, thừa thãi trong đời sống Mỹ lúc bấy giờ.

Bản đầu tiên The Eagles phát hành do Henley hát và kết thúc bằng một đoạn nhạc guitar điện rất tuyệt vời do Felder và Joe Walsh trình bày.

Mời các bạn cùng thưởng thức Hotel California với một chút dư vị của “đời sống Mỹ” những năm 1970 nhé.

.

Bản do The Eagles trình bày:

https://www.youtube.com/watch?v=mpAkMk0phOs

.

Bản phối theo flamenco do Gypsy Kings trình bày bằng tiếng Tây Ban Nha

.

Hòa tấu guitar

http://www.youtube.com/watch?v=s3blGDkpSiw

Lời bài hát:

On a dark desert highway, cool wind in my hair
Warm smell of colitas, rising up through the air
Up ahead in the distance, I saw a shimmering light
My head grew heavy and my sight grew dim
I had to stop for the night
There she stood in the doorway;
I heard the mission bell
And I was thinking to myself,
�this could be heaven or this could be hell�
Then she lit up a candle and she showed me the way
There were voices down the corridor,
I thought I heard them say…

Welcome to the hotel california
Such a lovely place
Such a lovely face
Plenty of room at the hotel california
Any time of year, you can find it here

Her mind is tiffany-twisted, she got the mercedes bends
She got a lot of pretty, pretty boys, that she calls friends
How they dance in the courtyard, sweet summer sweat.
Some dance to remember, some dance to forget

So I called up the captain,
�please bring me my wine�
He said, �we haven�t had that spirit here since nineteen sixty nine�
And still those voices are calling from far away,
Wake you up in the middle of the night
Just to hear them say…

Welcome to the hotel california
Such a lovely place
Such a lovely face
They livin� it up at the hotel california
What a nice surprise, bring your alibis

Mirrors on the ceiling,
The pink champagne on ice
And she said �we are all just prisoners here, of our own device�
And in the master�s chambers,
They gathered for the feast
The stab it with their steely knives,
But they just can�t kill the beast

Last thing I remember, I was
Running for the door
I had to find the passage back
To the place I was before
relax,� said the night man,
We are programmed to receive.
You can checkout any time you like,
But you can never leave!

Nghệ sĩ mù vẽ tranh – John Bramblitt

Khoảng 17 học sinh lớp 3 của trường tiểu học Lee ngồi bịt mắt xung quanh bàn trong lớp học vẽ ngày thứ 5. Trước mặt các là những tờ giấy trắng với 4 cốc sơn – đỏ, vàng, xanh da trời, và trắng. Mỗi mầu có tính chất riêng nên học sinh có thể cảm nhận được sự khác biệt khi chúng vẽ.

Trước khi bị bịt mắt, các học sinh chọn một tờ giấy trắng hoặc một bức tranh đã có vài đường phác họa. Chúng bắt đầu cười rúc rích khi bắt tay vào vẽ:

Tớ thấy cái này kì cục quá”

“Cái này như cát ý”

“Tớ đang dùng màu gì thế này?”

“Cái này cứng quá”

“Dừng lại”, cô giáo của lớp, Ann Mehr nói. Nhưng cô không mắng. Cô chỉ muốn chúng sử dụng các giác quan của mình. “Các em có nghe thấy tiếng vòi nước chảy không?”, cô hỏi, “Các màu khác nhau thì cảm nhận thế nào?”.

Các học sinh của cô Mehr đang học cách cảm nhận màu sắc mà không cần nhìn, giống như nghệ sĩ John Bramblitt làm mỗi ngày. Sau khi bị mù vì chứng epilepsy, Bramblitt, 37 tuổi, đã chính thức mù vĩnh viễn từ năm 2001. Kể từ đó, nghệ sĩ từ Denton, Texas này đã phát triển một thị lực khác. Các bức tranh của anh đã giúp anh có được sự chú ý trên cả nước, và anh đến thăm Columbia tuần này để phát biểu trong hội thảo và nói chuyện với các nghệ sĩ khuyết tật.

“Vẽ tranh đang giúp tôi nhìn”, Bramblitt nói sau khi làm việc với các học sinh của cô Mehr. “Thế giới này có nhiều màu sắc [hơn thế], và khi thời gian trôi đi, chúng càng sáng lên dần dần”.

Trong buổi hội thảo với các lớp của cô Mehr, Bramblit giải thích cho các sinh viên vì sao anh bị mù và điều đó đã thay đổi cuộc đời anh và nghệ thuật như thế nào.

“Tất cả các bạn dùng mắt để nhìn”, anh nói với lũ trẻ, “Tôi cũng làm như vậy, nhưng tôi làm với đôi bàn tay”.
Để vẽ được một tranh, Bramblitt bắt đầu phác thảo bằng việc dùng loại sơn cứng dành cho vải vẽ. Khi sơn này khô đi, anh có thể cảm nhận được các đường hoạc của bức tranh với các ngón tay. Anh nói rằng vì các loại sơn dầu mầu khác nhau sẽ có các kết cấu khác nhau và tính dính khác nhau. Anh có thể xác định được các màu sơn chỉ bằng cách sờ lên chúng. Trong buổi họp báo ngày thứ 4 với các giáo viên, Bramblitt nói màu anh thích dùng nhất khi vẽ là màu xanh da trời sáng, là hỗn hợp của màu trắng và xanh đậm.

“Nó như kem vậy”, anh nói, “cảm giác mềm như da người, mượt và thật thú vị”

Vào ngày thứ 5, sau khi nghe về các phương pháp, học sinh bị bịt mắt lại và yêu cầu dùng các giác quan của mình để vẽ tranh. Mỗi màu tranh có một chất phụ gia, như là cát hay là bột, vì để học sinh có thể phân biệt được.

Praise Tyler, một học sinh lớp 3 thiết kế một hệ thống khác để phân chia các màu của mình thành 4 điểm của chiếc la bàn.

“Màu đỏ là ở phía bắc, nên em biết nó ở đâu”, Praise nói, “và màu xanh bên cạnh nó”

Sau khi Praise đã vẽ xong tranh của mình, em nói “Em rất vui vì anh ấy đã dạy chúng em cái này. Em muốn vẽ một bức nữa”.

Bramblitt là một trong số những người đã làm thay đổi lịch sử nước Mỹ và các học sinh đã được biết đến những người làm thay đổi lịch sử là người khuyết tật.

“Điều đó cho thấy rằng tất cả chúng ta đều có thể tạo nên sự khác biệt, dù là khuyết tật như thế nào”, cô Mehr nói sau lớp học ngày thứ 5. “Chắc chắn là có anh John ở đây là một kinh nghiệm thực tế cho các em học sinh thây rằng mỗi người đều có thể tạo nên một sự khác biệt”.

Sau đây mời các bạn xem một clip ngắn về anh John Bramblitt xem anh đã dùng tay để cảm nhận và vẽ như thế nào nhé.

Chúc các bạn một ngày thật sáng,

Hoàng Khánh Hòa, dịch từ Bramblitt.net

Hãy là người phụ nữ như thế

Chào các bạn,

Hôm nay mình xin giới thiệu với các bạn một clip ngắn gọi là “Be That Woman” nhấn mạnh vai trò quan trọng của người phụ nữ trong xã hội. Clip này được xây dựng dựa trên hai “tiền đề” được biết đến rộng rãi:

Nếu bạn đầu tư vào một người phụ nữ hay một cô gái, khoản đầu tư đó đem lại lợi ích cho tất cả.
~If you invest in a woman or girl, the investment benefits all.

Nếu bạn đầu tư vào một cô gái, cô ấy sẽ làm những điều còn lại.
~If you invest in a girl, she will do the rest.

Clip này thuộc chương trình vận động của tổ chức Washington Area Women’s Foundation nhằm tăng cường trao quyền và giúp đỡ cho hơn 300,000 phụ nữ ở khu vực thủ đô Washington, Mỹ.

Các hoạt động chính của tổ chức này bao gồm:

– mở rộng hoạt động từ thiện do phụ nữ đảm trách
– tăng cường các hoạt động từ thiện giúp thay đổi cộng đồng
– cung cấp các khoản trợ cấp, các nguồn hỗ trợ hoạt động và kĩ thuật cho cộng đồng trong vùng, nhất là các phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập hoặc thất nghiệp
– đại diện cho tiếng nói của phụ nữ trong vùng

Ở Mỹ các tổ chức như thế này hoạt động rất mạnh, và các chương trình vận động của họ cũng bài bản. Ngoài liên tục cập nhật thông tin trên website, mỗi dịp vận động họ có thể in tờ rơi, các bumper sticker (miếng dán) để mọi người có thể dán lên xe ô tô hay bất cứ thứ gì mà mọi người đều nhìn thấy, các tranh ảnh, áp phích to vv…Các video clip là một cách để vận động qua mạng rất tốt.

Chúc các bạn một ngày vì phụ nữ 🙂

Hoàng Khánh Hòa

Hoạt động của các NPOs ở Mỹ

Ở Mỹ, các tổ chức phi lợi nhuận (Non-Profit Organizations, gọi tắt là NPOs) phát triển rất mạnh như là một phần không thể thiếu trong quá trình xây dựng một xã hội dân sự tiên tiến và phát triển cộng đồng bền vững.

Theo thống kê của National Center for Charitable Statistics (NCCS), từ năm 1998 đến năm 2008, tổng số NPOs ở Mỹ đã tăng từ 1.1 triệu lên 1.5 triệu tức là tính trung bình cứ 220 người Mỹ thì có một tổ chức phi lợi nhuận. Năm 2007, các tổ chức từ thiện đã báo cáo 1.4 tỉ USD tổng doanh thu và 1.3 tỉ USD tổng chi phí. Trong số 1.4 tỉ USD doanh thu, 22% là từ các đóng góp, quà, và tiền tài trợ (grant), 67% là từ doanh thu dịch vụ, bao gồm thu từ phí và hợp đồng. Trong năm 2008, các tổ chức tôn giáo nhận số tiền đóng góp nhiều nhất, chiếm tới 34.7%, các cơ quan giáo dục đứng thứ 2 với 13.3% tổng doanh thu của các NPOs (con số này không bao gồm các khoản endowment – tiền hiến tặng).

Nhiều trường đại học tư ở Mỹ hoạt động dựa chủ yếu vào số tiền hiến tặng này. Ví dụ, đại học Harvard có tổng số endowment năm 2008 lên tới 36.5 tỉ USD.

Theo luật, các NPOs được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, nếu tổng số tiền nhận lớn hơn 25,000$ thì phải đăng kí với cơ quan thuế, nếu tổ chức nhỏ với tổng số tiền nhận dưới 5,000$ thì không phải đăng kí. Hai tổ chức phi lợi nhuận lớn nhất ở Mỹ hiện nay là Bill và Melinda Gates Foundation, với tổng số tiền tài trợ là 38 tỉ $, và Viện Y tế Howard Hughes với số tiền tài trợ khoảng 14.8 tỉ $.

Các NPOs được chia làm một số dạng chính:

Các tổ chức từ thiện (public charitities): bao gồm bệnh viện, bảo tàng, dàn nhạc, các trường tư, các tổ chức tôn giáo, trạm phát thanh và truyền hình, bếp ăn công cộng, các tổ chức cung cấp dịch vụ và giúp đỡ người dân.

Các quỹ (foundations): nhiều cá nhân, gia đình, doanh nghiệp và cộng đồng thiết lập các quỹ như là một cách để xúc tiến các chương trình có ích cho xã hội.

Phúc lợi xã hội (social welfare): tham gia chủ yếu vào các hoạt động thúc đấy ban hành luật, lobbying, và các hoạt động cổ động chính trị

Các tổ chức chuyên ngành và thương mại: bao gồm phòng thương mại, các hiệp hội thương mại, và các tổ chức khác xúc tiến thương mại hoặc các lợi ích ngành nghề của một cộng đồng, ngành hoặc nghề nào đó.

Hầu như bất cứ một ngành nghề, lĩnh vực nào ở Mỹ cũng có một vài tổ chức NPOs hoạt động, ví dụ như:

National Association of Consumer Advocates: Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng. Hiệp hội này là một tổ chức bao gồm hơn 1,000 luật sư trên khắp nước Mỹ, đại diện cho hàng trăm nghìn người tiêu dùng ở Mỹ là nạn nhân của các hoạt động kinh doanh lừa đảo hay độc quyền. Việc tham gia các tổ chức này cũng giúp cho các thành viên (là luật sư) tăng thêm hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của mình, chia sẻ thông tin, tạo network vv…

America’s Soup Kitchen: tổ chức phi lợi nhuận cung cấp các bữa ăn miễn phí cho người vô gia cư.

Higher Education Associations, Các hiệp hội trong giáo dục đại học và sau đại học: có khoảng hơn 30 hiệp hội, ví dụ như Hiệp hội các trường Y tá, Hiệp hội các Giáo sư, Hiệp hội các trường Luật vv…

US Chamber of Commerce, Phòng Thương Mại Mỹ: là hiệp hội thương mại lớn nhất thế giới đại diện cho 3 triệu doanh nghiệp Mỹ, trong đó 96% là các doanh nghiệp nhỏ dưới 100 nhân viên với các hoạt động chính như phát triển thị trường vốn, luật, giáo dục, năng lượng, cơ sở hạ tầng, thương mại, công đoàn, sở hữu trí tuệ vv…Khi là thành viên của hiệp hội, ngoài đóng phí hàng năm, các doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều lợi ích như: tham gia các cuộc hội thảo hàng kì, tiếp cận các nguồn thông tin về lĩnh vực hoạt động của mình, các khóa đào tạo, mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp khác, hưởng chiết khấu từ một số dịch vụ do các công ty thành viên khác cung cấp vv…

Các tổ chức phi lợi nhuận không có nghĩa là không được phép hoạt động vì lợi nhuận.

Theo quy định, họ hoạt động như một tổ chức lợi nhuận khác, có thu chi và một tổ chức hoạt động hiệu quả sẽ có “lãi” (doanh thu lớn hơn chi phí) cuối năm hoạt động. Điểm khác với các tổ chức lợi nhuận là cách thức mà số lãi này được phân chia. Đối với các tổ chức lợi nhuận, lãi sẽ được tính vào cổ phần và chia cho các cổ đông. Ngược lại, các NPOs không được phép chia lãi cho các cổ đông, thành viên sáng lập mặc dù được phép trả lương, thưởng cho ban điều hành, tùy mức độ hoạt động hiệu quả của mình.

Ban điều hành (Board of Director hoặc Board of Trustees), chịu trách nhiệm đảm bảo hoạt động của tổ chức tuân thủ luật pháp và sứ mệnh hoạt động của tổ chức, quản lý tài sản, gây quỹ. Ngoài ra còn có các nhóm kiểm soát tư nhân (watchdog, cũng là NPOs) kiểm soát hoạt động của các tổ chức NPOs khác. Báo chí và truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát hoạt động của các tổ chức này.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của một vài cá nhân, hay một cộng đồng, các hoạt động của NPOs góp phần vào đắp những “lỗ hổng” trong đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội mà các cơ quan nhà nước không thể kiểm soát hết. Hoạt động của NPOs cũng góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của các nhóm thiểu số trong xã hội, chống lại các hoạt động thương mại mà các doanh nghiệp lớn áp đảo và gây ảnh hưởng tới chính quyền.

Các NPOs đại diện cho tiếng nói của công dân góp phần vào quá trình xây dựng một xã hội dân chủ và đem lại bình đẳng cho mọi người.

Hoàng Khánh Hòa

Khoan dung

Khoan dung là gì? – đó là kết quả của lòng nhân ái. Chúng ta đều hình thành bởi sự mềm yếu và lỗi lầm; hãy tha thứ nhau về những hành động ngu ngốc của nhau – đó là quy luật đầu tiên của tự nhiên.

Hoàng Khánh Hòa dịch
.

What is tolerance? — it is the consequence of humanity. We are all formed of frailty and error; let us pardon reciprocally each other’s folly — that is the first law of nature.

~ François-Marie Arouet (Voltaire)

Vốn xã hội

Chào các bạn,

Hôm nay mình đề cập đến một loại vốn gọi là Vốn xã hội rất quan trọng đối với chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như sự phát triển bền vững của một xã hội.

Vốn xã hội (social capital), cũng như tài nguyên thiên nhiên (natural capital – vốn tự nhiên) hay máy móc thiết bị sản xuất (manufactured capital – vốn sản xuất), cũng là một nguồn vốn trong nền kinh tế. Khái niệm này bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỉ 20 bởi Lyda Judson Hanifan, sau đó liên tục được phát triển bởi các nhà xã hội học, kinh tế học như Pierre Bourdieu, James Coleman hay Francis Fukuyama. Tuy vậy Robert D. Putnam, nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ, giáo sư đại học Harvard ngành chính sách công, là người đầu tiên đưa khái niệm vốn xã hội trở thành tâm điểm của các nghiên cứu khoa học và tranh luận rộng rãi.

Theo Putnam “vốn xã hội là các mối liên kết giữa các cá nhân – các mạng lưới xã hội và các quy tắc qua lại và từ đó hình thành nên sự tin tưởng”. Ông nhấn mạnh rằng yếu tố căn bản trong vốn xã hội đó là “đạo đức dân sự” (civic virtue), và yếu tố này càng mạnh hơn trong một xã hội có các mối quan hệ xã hội qua lại (reciprocal social interactions). Một xã hội có nhiều cá nhân bị tách biệt thì không giàu vốn xã hội . Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các hiệp hội (association) và xã hội dân sự. Vốn xã hội góp phần nâng cao chất lượng c ủa một đời sống dân sự và phát triển một xã hội dân sự.

Ngân hàng thế giới cũng đã công nhận “vốn xã hội chỉ đến các tổ chức, các mối quan hệ, và các khái niệm hình thành nên số lượng và chất lượng của các tương tác xã hội trong một xã hộị. Ngày càng có nhiều minh chứng cho thấy các cố kết xã hội rất quan trọng cho các xã hội tăng trưởng về mặt kinh tế và phát triển một cách bền vững”.

Trong cuốn sách “Bowling Alone: The collapse and revival of American community” ông đưa ra một số lý do giải thích vì sao vốn xã hội quan trọng:

1. Vốn xã hội cho phép công dân giải quyết các vấn đề tập thể dễ dàng hơn, mọi người thường có lợi nếu họ hợp tác với nhau để giải quyết phần việc của mình

2. Khi mọi người tin tưởng và đáng tin tưởng, thì các mối quan hệ xã hội và kinh doanh sẽ tốn ít chi phí hơn

3. Khi con người thiếu các liên hệ với người khác, họ sẽ không thể kiểm tra sự đúng đắn của quan điểm của họ, do đó họ dễ có xu hướng bị lung lay bởi những lúc thiếu bình tĩnh.

Vốn xã hội đối với một cá nhân có thể đơn giản là các mối quan hệ xã hội mà người đó có, được xây dựng trên sự tin tưởng và có tính cố kết chặt chẽ. Một người nói rằng danh sách bạn bè của mình có hơn 100 người, nhưng có khi cả năm không nói chuyện với nhau thì đó không phải là những mối quan hệ bền vững. Mặt khác, một người có ít hơn 100 bạn, nhưng lại thường xuyên nói chuyện, hỏi thăm, trao đổi thư từ, gặp gỡ những người này thì rõ ràng là vốn xã hội mà người này có lớn hơn nhiều. Giàu vốn xã hội hay nói cách khác là giàu các mối quan hệ xã hội dựa trên sự tin tưởng, tích cực và bền chặt là có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các cá nhân hạnh phúc và thành công hơn trong cuộc sống. Ví dụ đơn giản, khi bạn cần mua một chiếc máy tính chẳng hạn. Nếu bạn có một người bạn làm trong nghề buôn bán máy tính hay am hiểu máy tính, bạn biết người này rất rõ và tin tưởng họ, thì bạn hoàn toàn có thể nhờ người này tư vấn để mua máy tính mà khỏi cần tìm hiểu các nguồn thông tin trên mạng rất mất thời gian.

Khi xin việc cũng vậy. Có một con số không chính thức là 70% việc ở Mỹ không được đăng tải chính thức trên các phương tiện truyền thông, mà qua truyền miệng. Do đó rất nhiều người tìm được việc qua bạn bè giới thiệu, và thực tế cũng cho thấy tỉ lệ hài lòng với công việc cao hơn, tỉ lệ bỏ việc thấp hơn trong nhóm những người xin việc qua các mối quan hệ cá nhân như thế này.

Đối với các tổ chức hay doanh nghiệp, vốn xã hội cũng đem đến một số lợi ích như:

1. Chia sẻ kiến thức tốt hơn có được từ các mối quan hệ tin tưởng đã được thiết lập, các khung tham khảo chung, các mục tiêu chung

2. Chi phí giao dịch giảm, do mức độ tin tưởng tăng cao hơn

3. Tỉ lệ nghỉ việc và thay thế nhân viên thấp, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo

4. Tính cấu kết cao giúp cho tổ chức ổn định và chia sẻ những hiểu biết chung

Putnam cũng đưa ra một số yếu tố để xác định vốn xã hội thông qua một số ví dụ về sự suy giảm nguồn vốn này trong xã hội Mỹ ở thế kỉ 20:

1. Tham gia về chính trị và dân sự: ví dụ như tỉ lệ bỏ phiếu, mức độ hiểu biết chính trị hay tin tưởng chính trị (politial trust). So với một thập kỉ trước đây, hiện nay số lượng người Mỹ kí vào các thư kêu gọi giảm 30%, và tham gia vào các cuộc tẩy chay hàng tiêu dùng giảm 40%. Điều đó cho thấy sự suy giảm trong đời sống cộng đồng, các hoạt động của các câu lạc bộ và các tổ chức tôn giáo cũng giảm đáng kể.

2. Các ràng buộc xã hội không chính thức: ví dụ vào năm 1975 trung bình một người Mỹ mời bạn của mình về nhà chơi 15 lần một năm, con số đó năm 1998 giảm xuống còn một nửa. Các hoạt động thể thao tập thể cũng đang suy giảm.

3. Sự khoan dung và tin tưởng: mặc dù người Mỹ ngày càng khoan dung hơn với người khác nhưng lại kém tin tưởng người khác hơn. Cơ hội nghề nghiệp cho các ngành như cảnh sát, luật sư, và bảo vệ cá nhân đã giảm đi trong thế kỉ 20. Ví dụ số lượng luật sư trên đầu người năm 1970 giảm so với năm 1900.

Do vậy xây dựng vốn xã hội rất quan trọng trong thành công của mỗi cá nhân cũng như một xã hội nói chung. Có nhiều hoạt động để chúng ta tham gia thường xuyên và liên tục phát triển vốn xã hội của mình, ví dụ như:

1. Thường xuyên gọi điện hỏi thăm bạn bè và người thân ở xa
2. Giúp đỡ mọi người mọi lúc mọi nơi nếu có thể, và giúp đỡ một cách chân thành
3. Nói “Không có gì” khi có ai đó xin lỗi
4. Nói “Xin lỗi” và “Cảm ơn” mỗi ngày
5. Tổ chức một buổi họp mặt với bạn bè hay người thân
6. Tham gia cuộc họp của khu phố
7. Đăng kí bầu cử và bầu cử
8. Ủng hộ các doanh nghiệp địa phương
9. Hiến máu
10. Tránh “buôn dưa lê”
11. Tham gia một buổi tiệc ở nhà bạn bè khi được mời
12. Biết được các giáo viên của con bạn
13. Hát trong một nhóm nhạc
14. Đi bộ hoặc đi xe đạp để ủng hộ một hoạt động nào đó và rủ mọi người cùng tham gia
15. Trả lời một bản điều tra nếu bạn được hỏi
16. Đọc sách cho con bạn
17. Tham gia một nhóm tình nguyện
18. Đọc tin tức địa phương thường xuyên
19. Tình nguyện đưa đón giúp một người nào đó
20. Chào khi gặp một người quen
21. Chào những người lạ khi đi trên phố
22. Đi bộ ra công viên
23. Rủ bạn bè tham gia một buổi tiệc hay dã ngoại
24. Mở cửa cho ai đó khi họ cần giúp đỡ
25. Tổ chức một buổi họp mặt gia đình

Chúc các bạn một ngày thân ái,

Hoàng Khánh Hòa

Cuộc sống giống như một cốc café

Một nhóm cựu sinh viên đã có những thành công nhất định trong sự nghiệp, cùng nhau đến gặp giáo sư đại học cũ của họ. Câu chuyện nhanh chóng trở thành những lời than phiền về sự căng thẳng trong công việc và cuộc sống.

Mời sinh viên của mình uống café, thầy giáo đi vào bếp và quay ra với một cái ấm café lớn và một lô cốc – sứ, nhựa, thủy tinh, một số cái trông đơn giản, một số cái đắt tiền, một số cái nhìn rất đặc biệt – và bảo sinh viên tự tay rót café.

Khi tất cả các sinh viên đã có một cốc café trong tay, vị giáo sư bảo: “Nếu các em để ý, tất cả những cái cốc đẹp đã được lấy hết, chỉ còn lại mấy cả trông đơn giản và rẻ tiền. Việc các em chỉ muốn cái tốt nhất cho mình là lẽ thường, và đó là nguồn gốc của các vấn đề và căng thẳng mà các em gặp phải”.

Hãy nhớ rằng chiếc cốc bản thân nó không tăng thêm giá trị cho café. Trong phần lớn các trường hợp, nó chỉ đắt tiền hơn và trong một số trường hợp, làm chúng ta quên đi chúng ta đang uống gì. Cái mà các em thực sự muốn là café, không phải là chiếc cốc, nhưng các em đã tự chọn những chiếc cốc tốt nhất…Và sau đó thì nhìn sang cốc của người khác.

Bây giờ hãy nghĩ về điều này: Cuộc sống là café, còn công việc, tiền và vị trí trong xã hội là những chiếc cốc. Chúng chỉ là dụng cụ để đựng và chứa cuộc sống, và hình thức của chiếc cốc không định nghĩa, cũng không thay đổi chất lượng cuộc sống mà chúng ta sống.

Đôi khi, do tập trung vào cái cốc, chúng ta đã quên việc thưởng thức café. Hãy thưởng thức café, không phải chiếc cốc. Những người hạnh phúc nhấ không có những thứ tốt nhất của mọi thứ. Họ chỉ tạo ra thứ tốt nhất của mọi thứ. Sống đơn giản. Yêu rộng lượng. Quan tâm sâu sắc. Nói chân thành.

~ Unknown Author
Hoàng Khánh Hòa dịch

Life is Like a Cup of Coffee

A group of alumni, highly established in their careers, got together to visit their old university professor. Conversation soon turned into complaints about stress in work and life.

Offering his guests coffee, the professor went to the kitchen and returned with a large pot of coffee and an assortment of cups – porcelain, plastic, glass, crystal, some plain looking, some expensive, some exquisite – telling them to help themselves to the coffee.

When all the students had a cup of coffee in hand, the professor said: “If you noticed, all the nice looking expensive cups have been taken up, leaving behind the plain and cheap ones. While it is normal for you to want only the best for yourselves, that is the source of your problems and stress.

Be assured that the cup itself adds no quality to the coffee. In most cases it is just more expensive and in some cases even hides what we drink. What all of you really wanted was coffee, not the cup, but you consciously went for the best cups… And then you began eyeing each other’s cups.

Now consider this: Life is the coffee; the jobs, money and position in society are the cups. They are just tools to hold and contain Life, and the type of cup we have does not define, nor change the quality of life we live.

Sometimes, by concentrating only on the cup, we fail to enjoy the coffee. Savor the coffee, not the cups! The happiest people don’t have the best of everything. They just make the best of everything. Live simply. Love generously. Care deeply. Speak kindly.

Rèn luyện trực giác

The primary force is intuition. In that deep force, the last fact behind which analysis cannot go, all things find their origin – Ralph Waldo Emerson

Sức mạnh cơ bản là trực giác. Trong sức mạnh sâu thẳm đó, sau con số cuối cùng phân tích không thể đi tiếp, tất cả mọi sự vật đều tìm thấy nguồn gốc của chúng.

Trực giác là bước đi tắt đến sự hiệu quả, sâu sắc, kiến thức, đổi mới, và ra quyết định. Làm thế nào để bạn củng cố trực giác của mình?

Bạn có khả năng giải quyết các vấn đề ngay lập tức.

Bạn đã bao giờ nhìn một vấn đề và biết ngay nguyên nhân gốc rễ của nó và giải pháp chưa – ngay lập tức – mà không cần phải tìm hiểu? Bạn được dạy để nghi ngờ tiếng gọi bên trong? Vì thế bạn kiểm tra trực giác với các thử nghiệm thực tiễn và thường đúng?

Bạn có khả năng giải quyết các vấn đề ngay lập tức nếu bạn tin vào bản thân mình. Tất cả chúng ta đều thế. Vậy làm thế nào để chúng ta tăng cường sức mạnh của đấng sáng tạo bên trong – tiếng gọi vượt qua những điều ngớ ngẩn và nói cho chúng ta biết sự thật?

Sáu cách để tăng cường trực giác:

1. Biết cảm thông tự nhiên: tưởng tượng bạn đang ở trong hoàn cảnh của ai đó. Tốt hơn nữa là hãy trải nghiệm những điều mà họ đang trải nghiệm. Nếu bạn làm nhân viên lễ tân, và ai đó từ nhà máy gọi cho bạn phàn nàn về tốc độ của máy tính, đừng ngồi với cái màn hình của bạn với những cái bảng biểu số liệu. Hãy đứng lên và đi xuống đó xem cái gì đang xảy ra. Hãy đi và cảm nhận nỗi đau! Hãy để cho toàn bộ con người bạn cảm nhận được và điều đó sẽ giúp bạn tăng cường trực giác của mình. Hành động, hành động, và hành động. Hãy cố gắng trải nghiệm những gì mà người khác trải nghiệm.

2. Cho phép bạn cảm nhận nỗi sợ của mình: bạn không thích nỗi sợ hãi đúng vậy không? Tôi cũng vậy. Nhưng phần lớn chúng ta phải sống chung với sợ hãi như là bạn bè chứ không phải kẻ thù của mình. Trừ khi bạn là siêu nhân và đã vượt qua sự sợ hãi, bạn sẽ phải tìm một cách để củng cố điều này. Nỗi sợ hãi ngăn chặn trực giác và thường tăng lên khi chúng ta chống lại nó. Hãy cho phép bản thân cảm nhận nỗi sợ. Đừng chống lại bất cứ phần nào của nó. Hãy tập trung vào nó và cưỡi lên nó. Bạn sẽ vượt qua phía bên kia và nhìn thấy mọi thứ rõ ràng hơn. Cho phép bạn cảm nhận nỗi sợ sẽ tăng cường trực giác của bạn, vì nó dạy bạn cách lắng nghe thế giới bên trong và chấp nhận nó như là nó vốn thế thay vì đấu tranh với nó.

3. Kết nối với người khác về mặt cảm xúc: Khi bạn giao thiệp với người khác, mặt đối mặt, trên điện thoại, trên mạng, hãy đọc cảm xúc của họ. Hãy gọi tên cảm xúc của họ. Liệu người đó có đang giận dỗi, hi vọng, vu vẻ, trầm cảm, hay buồn? Bạn càng kết nối với cảm xúc của người khác, bạn càng hiểu hoàn cảnh xã hội và trực giác của bạn hoạt động. Các ý tưởng trừu tượng và trực giác vì xuất phát từ bên trong bạn – nơi hình thành nên cảm xúc của bạn, nên bạn càng xác định được cảm xúc của người khác, bạn càng có khả năng giao tiếp thông qua trực giác. Xác định và gọi tên các cảm xúc trong bạn và người khác là một cách thực hành hiệu quả.

4. Vứt bỏ các đánh giá chủ quan: khi bạn thấy mình đang đánh giá người nào đó hay cái gì đó – cả chính bản thân bạn – mà không phải trực giác, đó là năng lượng tiêu cực ngăn cản trực giác của bạn. Khi bạn nghe những tiếng chỉ trích trong đầu như “Anh ta ngu ngốc”, “ Cô ta xấu”, “Tôi béo”, hay “Tôi sẽ thất bại”. Dừng lại và suy nghĩ – Tại sao tôi lại nói thế? Hãy vứt bỏ ngay những suy nghĩ tiêu cực đó. Khi tôi thấy mình nghĩ “Tôi sẽ không bao giờ làm cái này xong được”. Tôi sẽ tự chuyển suy nghĩ đó thành “Làm thế nào để tôi làm nó xong được?”. Nếu tôi kiên nhẫn, tôi sẽ lắng nghe tiếng nói bên trong mình, nó sẽ nói cho tôi biết làm thế nào để tôi làm được. Khi tiếng nói bên trong cất lên “Nó sẽ không thành đâu”, tôi sẽ hỏi mình “Cái phần nào trong ý tưởng này sẽ thực hiện được?” hay “Ý tưởng nào hay hơn đây?”. Một khi bạn hỏi những câu hỏi tích cực, tiềm thức của bạn sẽ đưa ra giải pháp thông qua trực giác.

5. Tĩnh lặng: cách tốt nhất là thiền. hãy có ít nhất 30 phút mỗi ngày để ở một mình với các suy nghĩ của bạn. Hãy dành thời gian để ngồi một mình với các suy nghĩ, cảm xúc và hình tượng hóa. Tôi đã dành phần lớn cuộc đời mình không quan tâm đến những thứ xung quanh tôi. Nhờ dành thời gian lắng nghe thế giới bên trong bạn, bạn sẽ thấy những điều kì diệu của chính mình. Học cách lắng nghe bản thân trong tĩnh lặng sẽ giúp bạn lắng nghe tiếng nói bên trong khi bạn không một mình và sẽ đưa bạn đến những ý tưởng trực giác khi bạn cần đến chúng.

6. Đặt câu hỏi: đây là cái tôi gọi là xây dựng con người (bodybuilding). Đặt câu hỏi là cách tốt nhất để tạo ra trực giác mạnh mẽ. Trực giác mạnh và sáng tạo nhất sẽ đến với bạn sau những câu hỏi và các câu trả lời. Hãy tham gia một nhóm bạn và thảo luận những vấn đề phức tạp – triết học, khoa học, xã hội, logic, y học, hay văn chương. Sức mạnh không đến từ câu trả lời, mà từ các câu hỏi, đưa bạn đến những con đường mà bạn chưa từng xem tới, đưa ra những câu hỏi xa hơn và nhiều câu trả lời hơn. Không có cách nào tốt hơn là thực tập trực giác bằng cách đặt các câu hỏi và trả lời chúng.

Một số người cho là trực giác không phải là khoa học và không có lý. Họ vừa đúng vừa sai. Các ý tưởng trực giác sáng tạo không phải là khoa học trừ khi bạn có thể chứng minh được. Tuy vậy, tất cả các khoa học bắt nguồn từ các giả thuyết. Và giả thuyết đến từ đâu? Những giả thuyết tốt, sáng tạo, độc đáo đến từ trực giác.

~ Steve Olson
Hoàng Khánh Hòa dịch

Tin Tưởng

Trust is like a vase…once it’s broken, though you can fix it the vase will never be the same

Unknown author

Sự tin tưởng giống như một cái bình…một khi vỡ, dù bạn có sửa lại thì cái bình sẽ không bao giờ như cũ.

.

We’re never so vulnerable than when we trust someone – but paradoxically, if we cannot trust, neither can we find love or joy.

Walter Anderson

Chúng ta trở nên bị tổn thương hơn bao giờ hết khi chúng ta tin tưởng ai đó – nhưng nghịch lý là, nếu chúng ta không thể tin, thì chúng ta không thể tìm thấy tình yêu và niềm vui.

.

To be trusted is a greater compliment than being loved

George MacDonald

Được tin tưởng là sự khích lệ còn hơn cả được yêu.

.

I’m not upset that you lied to me, I’m upset that from now I can’t believe you

Friedrich Nietzsche

Tôi không thấy thất vọng vì bạn đã nói dối tôi, tôi thất vọng vì từ giờ tôi không thể tin bạn nữa.

Hoàng Khánh Hòa dịch

Kiên Trì

Khi thế giới tối dần
Sự vật không rõ nữa
Khi bóng đêm luẩn quất
Chúa ơi, con kiên trì.

Khi mọi thứ rời rã
Không tìm thấy lối đi
Hãy giúp con nhớ ra
Hành trình đôi khi chậm

Con nên dừng và nghỉ
Trên con đường đang đi
Là lúc để suy nghĩ
Trò chuyện với Chúa trời

Thêm sức mạnh con đi
Không hoài nghi lo sợ
Mọi thứ sẽ ổn thôi
Và thế, con kiên trì.

Hoàng Khánh Hòa dịch

.

Perseverance

When all the world is looming dark
And things seem not so clear
When the shadows seems to hover around
Lord I may persevere

When it seems everything’s been tired
And there’s no way to go
Just keep me remembering
Sometimes the journey’s slow

I may just need to stop and rest
Along the way I trod
A time I try to understand
And have my talk with God

As I gain new strength to carry on
Without a doubt or fear
Somehow I know things will be right
And so, I persevere.

By Anne Stortz

Các từ quan trọng nhất

Sáu từ quan trọng nhất: Tôi thừa nhận lỗi của tôi.

Năm từ quan trọng nhất: Bạn đã làm rất tốt.

Bốn từ quan trọng nhất: Bạn nghĩ thế nào?

Ba từ quan trọng nhất: Bạn làm ơn.

Hai từ quan trọng nhất: Cảm ơn.

Từ quan trọng nhất: Ta.

Từ kém quan trọng nhất: Tôi.

(Hoàng Khánh Hòa dịch)

.

The six most important words: I admit I made a mistake.
The five most important words: You did a good job.
The four most important words: What is YOUR opinion?
The three most important words: If you please.
The two most important words: Thank You.
The one most important word: We.
The least important word: I.” –

(Author Unknown)

Giáo dục đại học Mỹ và cơ cấu biên chế

Với hơn 4,000 trường, hệ thống đại học ở Mỹ rất phong phú và đa dạng về chương trình học, lĩnh vực nghiên cứu với các mức độ khác nhau. Ví dụ, cùng là một chương trình học về Kinh tế học (economics), so sánh hai trường ở hai bang của nước Mỹ sẽ cho ra những kết quả như sau: theo xếp hạng của US News and World Reports[1] trường A xếp thứ 50, trong khi trường B xếp thứ 100; chương trình học của trường A là 2 năm, của trường B là 1 năm rưỡi; trường A có nhiều môn thiên về kinh tế lượng và toán trong khi trường B lại có một số môn như kinh tế chính trị, kinh tế môi trường mà trường A không có vv…

Về mặt nghiên cứu và giảng dạy, hệ thống giáo dục đại học và sau đại học (Higher Education) chia làm hai dạng (tạm dịch): đại học nghiên cứu (research university) và đại học giảng dạy (teaching university). Về sở hữu thì chia làm đại học quốc lập (public university) và đại học tư (private university). Cũng chính vì sự phong phú của giáo dục đại học Mỹ mà có rất nhiều các cơ quan xếp hạng các trường đại học theo những tiêu chí khác nhau. Các bảng xếp hạng có uy tín được nhiều người sử dụng như US News and World Reports, hay xếp hạng do các tổ chức chuyên ngành như The Center of Measuring University Performance.

Theo CMUP, các tiêu chí xếp hạng một trường đại  học nghiên cứu hàng đầu bao gồm: tổng số bài nghiên cứu, số tiền nhận tài trợ (endowment), số tiền cấp cho nghiên cứu hàng năm, số lượng giải thưởng của giáo viên trong khoa, số lượng sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ vvv…Các trường nghiên cứu hàng đầu theo xếp hạng năm 2008 [2]là Columbia University, MIT, Standford University, Havard University. Điểm đáng chú ý là 7 trường top đầu của bảng xếp hạng này đều là trường đại học tư. Khác với Việt Nam hay các trường ở châu Âu, các trường tư tại Mỹ rất hoạt động hiệu quả và luôn dẫn đầu trong hệ thống giáo dục bậc cao.

Mỹ là một trong số ít các nước áp dụng chế độ biên chế (tenure) trong giáo dục đại học và sau đại học. Thông thường muốn làm giảng viên đại học ở Mỹ thì ứng viên phải có ít nhất bằng tiến sĩ (Doctor of Philosophy). Tùy thuộc trường mà ứng viên được vào làm việc và xét biên chế là trường thiên về nghiên cứu hay giảng dạy mà tiêu chí xét biên chế sẽ khác nhau. Có 3 mức bổ nhiệm cho vị trí giảng viên đại học: Assistant Professor, Associate Professor, và (Full) Professor. Giảng viên mới được gọi là Assistant Professor và kí hợp đồng làm việc với nhà trường trong một vài năm đầu (6-7 năm).

Trong giai đoạn thử việc (probationary period) các giảng viên thường được yêu cầu phải có một số lượng bài nghiên cứu nhất định đăng trên tạp chí chuyên ngành hàng đầu của Mỹ hoặc thế giới, xin được tài trợ từ các tổ chức uy tín, viết sách hoặc là đồng tác giả viết sách, được trao giải thưởng về thành tích nghiên cứu hay giảng dạy xuất sắc, có những đóng góp tích cực trong các công tác xã hội khác (ví dụ, là thành viên quản trị của một tổ chức nào đó trong ngành/lĩnh vực liên quan) vv…  Sau 6 hoặc 7 năm của giai đoạn xét biên chế sẽ có một hội đồng thẩm định các kết quả làm việc của ứng viên. Nếu được chấp nhận biên chế, ứng viên sẽ được gọi là Associate Professor, sau một vài năm nếu tiếp tục có những nghiên cứu đáng kể thì sẽ được bổ nhiệm thành Professor.

Ví dụ, trường Rice University có quy định về biên chế như sau[3]: Assistant Professor được kí hợp đồng 4 năm đầu tiên, và được hội đồng xem xét vào năm thứ 3. Nếu được tiếp tục bổ nhiệm và kí hợp đồng làm việc 4 năm nữa, ứng viên sẽ được phép nghỉ 1 kì học chỉ để tập trung vào nghiên cứu, tìm nguồn tài trợ, hoặc các hoạt động sáng tạo khác, thường là vào năm thứ 4 hoặc thứ 5 trong khi vẫn nhận lương đầy đủ. Nếu sau lần xét đầu tiên vào năm 3 mà ứng viên không đạt yêu cầu thì họ sẽ có 1 năm để đi tìm việc và kết thúc hợp đồng vào năm thứ 4. Tương tự như vậy với hợp đồng lần 2 vào năm thứ 7.

Năm 1: bổ nhiệm chức Asssistant Professor và giao nhiệm vụ

Năm 3: xét lần đầu và bổ nhiệm lần hai hoặc chấm dứt hợp đồng

Năm 5: giai đoạn 2 bắt đầu

Năm 4 hoặc 5: nghỉ phép (cho phép nghỉ một kì để ứng viên tập trung vào nghiên cứu trong khi vẫn nhận lương đầy đủ)

Năm 7 hoặc sớm hơn: xét lần 2

Hết năm 7: thăng chức hoặc chấm dứt hợp đồng (có 1 năm sau đó để ứng viên đi tìm việc).

Lí do áp dụng chính sách biên chế được giải thích là giúp cho các học giả nghiên cứu có được sự tự do trong nghề nghiệp. Các giảng viên đại học hoặc giáo sư đôi khi không dám đi sâu nghiên cứu những ý tưởng mới lạ do bị sức ép từ phía giám hiệu nhà trường để đạt thành tích nghiên cứu, giải thưởng, hay thu hút nhiều sinh viên theo học. Nếu như không có chế độ biên chế, nhiều người sẽ chấp nhận chọn một con đường an toàn hơn là đề xuất những ý tưởng đột phá.

Hơn nữa việc xét biên chế cũng giúp các trường giữ chân người tài, tránh các chi phí tuyển dụng người mới hay cạnh tranh giữa các trường để thu hút giáo viên giỏi từ trường khác.

Các giáo sư lâu năm cũng nhiệt tình giúp đỡ những người mới vào vì không bị lo “mất ghế”.

Ngoài ra sự hấp dẫn của chế độ biên chế cũng là động lực giúp cho các giảng viên trẻ tích cực nghiên cứu và có những công trình xuất sắc trong lĩnh vực của mình.

Một điểm đặc biệt trong hệ thống giáo dục Mỹ không thể không nhắc tới đó là chế độ nghỉ phép (sabbatical leave) dành cho các giáo sư đã có biên chế. Cứ sau mỗi 6 năm giảng dạy toàn thời gian, các giáo sư sẽ được nhà trường cho phép nghỉ 1 năm có lương để hoàn toàn tập trung vào các hoạt động nghiên cứu, xin tài trợ, hoặc đi khảo sát thực địa vv…

Tuy nhiên chế độ biên chế cũng có những hạn chế của nó đó là một số giáo sư sau khi có được biên chế thì không còn hứng thú với nghiên cứu nữa và gần như không có đóng góp gì đáng kể trong lĩnh vực của họ. Để tránh việc này nhiều trường ở Mỹ hiện nay có chính sách cấp biên chế với số lượng có hạn, còn lại là tuyển dụng theo hợp đồng hoặc thời hạn.

Hoàng Khánh Hòa

20.11.2009


[1] http://www.usnews.com/

 

[2] http://mup.asu.edu/research2008.pdf

[3] http://professor.rice.edu/professor/Faculty_Appointments,_Promotions,_Tenure.asp