All posts by hlinhnie

Độc đáo kiến trúc nhà Tây Nguyên

Tôi đã từng kể các bạn nghe ý kiến của bà A.Tonia, nhà dân tộc học người UCraina rằng ” bà con các dân tộc TN rất thông minh khi tổ chức cuộc sống”. Vậy hãy để tôi  khoe sự thông minh ấy, trong vài nét về kiến trúc nhà ở Tây Nguyên  với mọi người nhé

Đến Tây Nguyên, điều đập vào mắt du khách trước tiên là những nhà rông mái cao vút như chiếc rìu khổng lồ tạc vào bầu trời xanh lồng lộng. Ở vùng Êđê, Jrai còn là căn nhà sàn “ dài bằng một tiếng chiêng ngân” mà Trường ca – sử thi Dam San đã nhắc tới.  Kiến trúc nhà ở & nhà mồ đó chính là những  đặc trưng cơ bản nhất của văn hoá vật thể các dân tộc thiểu số Trường Sơn- Tây Nguyên nói chung.

Vậy đặc trưng kiến trúc Tây Nguyên là gì?
Continue reading Độc đáo kiến trúc nhà Tây Nguyên

Mình đồng ý rồi

Thằng Điểu San khóc đã mệt,cứ một chặp nó lại nấc lên,chốc chốc lại hờ hờ vài tiếng.Nó nằm bẹp,co quắp trên cái vạt nứa đen sạm mồ hôi của hàng chục con người,mấy đời trong căn nhà sùm sụp,mái tranh trùm sát mặt đất này.Ba tuổi mà vóc dáng nó chỉ như đứa trẻ mới qua một mùa suốt lúa. Nó đói.

Sau khi lót bụng bằng một chén cháo bắp lõng bõng lẫn với rau rừng, mè nó nấu trong chiếc ống nứa,cả nhà,tức là ông ngoại, bắp *,mè **và ba anh chị nó,từ sáng sớm đã đi vào rừng cả. Họ, và cả Bon lan ***, đi tìm đào củ chụp về ăn.

Cả bon đói. Gạo đã hết từ hai ba lần con trăng tròn bằng cái miệng cối rồi. Lúa bắp mới trổ cờ,gặp con lũ sớm nước rút chậm, thối ngọn hết.Nhà thằng Điểu San là còn may,vì có nhiều lao động,nên năm ngoái gieo nhiều bắp,may còn sót lại một ít trỉa không hết bữa trước.Chớ nhiều gia đình khác trong Bon từ lâu rồi, chỉ có củ chụp với rau rừng thôi.

Chiều buông tấm áo xám xuống dãy núi Jook Đa một lúc lâu.Đêm sắp bước qua khỏi rừng,mới thấy cả làng nối gót chân nhau lội qua suối Đăk Đa về. Lưng ai cũng cong xuống gần tới đầu gối vì gùi nặng. A ! Chắc chắn là nhiều củ lắm.

Bắp Man châm cành củi vô ống điếu rít mấy hơi đến giơ cả xương gò má lẫn xương hàm trên cặp má lõm xuống,rồi lại nhả cái tẩu ra nói với con rể:

– Phải phát cánh rừng dưới chân núi Jook Đa mà gieo lúa bắp thôi Băp Tân ạ.Mở cái rẫy mới may ra còn có cái mà ăn.Lúa nước thì lụt ăn, rẫy cũ thì trỉa 4-5 mùa rồi, đất không còn cái gì cho cây lúa cây bắp nó ăn mà lớn nữa đâu.Mấy nhà trong Bon hôm nay cũng bàn nhau ,muốn phát cái rừng đầu suối đấy.

Mè Tân vỗ vỗ vào cái lưng thằng Điểu San,ru cho nó ngủ,nói thêm :

– Phải đó Bắp Tân à. Mình không phát người ta cũng phát thôi.Cái rừng ấy nhiều cây to,đất nó ngon,tra lúa bắp tốt lắm đó. Gỗ ta bán cho mấy người xe cây. Còn có thêm tiền mua tôn lợp nhà nữa. Mái tranh bên bếp lửa phía kho lúa đã thủng rôi đấy. Trời mưa là dột như người đổ ống nước đó.

Bắp Tân ngồi trầm ngâm nãy giờ bên bếp lửa,lúc lắc cái đầu :

– Không được đâu Băp à . Xưa nay Băp vẫn nói cái rừng Jook Đa là rừng thiêng,ai đụng vô là Yang phạt.Sao bây giờ lại bảo tui phát đi ? Yang đâu chưa thấy,chớ mấy ông lâm trường với kiểm lâm phạt trước là chắc rồi đó.

– Ơ thì xưa nay vẫn thế.Ai đụng vô cái rừng đó là gây động tới các Yang. Thú dữ về bắt người,bắt heo gà luôn. Yang còn cho con nước to theo về lôi người đi nhiều lắm. Nhưng không phát cái rẫy mới thì lấy chỗ nào mà trỉa bắp,tra hạt lúa chớ? Đói miết. Mày không thấy mấy đứa con nít da bụng nó dính hết vô lưng rồi đó à?

Thằng Điểu Tân đang ngồi lấy con dao nhỏ như lá lúa,mà bén tựa nước,cạo vỏ củ chụp với em nó đầu hồi,lắng nghe câu chuyện từ nãy giờ của ông ngoại và cha ,cũng xen vào:

– Thày giáo cháu nói phá rừng là vi phạm lâm luật đó ông ạ. Thày với mấy chú ở lâm trường nói nhiều chữ lắm,cháu không biết hết là sao,nhưng bây giờ muốn bắn con chim,bẫy con cheo cheo cũng chẳng còn nữa.Đi xa thiệt xa như vô tận chỗ đào củ hôm nay,cũng chỉ có mấy con chim lích chích,nướng chưa thơm đã chui tọt vô cái bụng đói.Hết rừng chim với thú chúng nó bay đi ở chỗ nào hả ông?Hồi xưa đứa nào cũng có cái lồng chim với con nhồng thiệt đẹp biết nói,bây giờ làm gì còn chim mà đan lồng chớ.

– Mày không nuôi chim là do nhà trường vận động đừng có làm bẫy,chớ đâu phải tại không bắt được chim nuôi ?

Bắp Tân cao giọng mắng con sang chuyện khác,sợ nó làm ông ngoại buồn.Bắp Man chưa kịp trả lời thằng cháu thì bỗng có tiếng chân bước ngoài sân,rồi ai đó gọi to trong đêm :

– Bắp Man với cả nhà còn thức không ?

– Ai giống tiếng giám đốc Sơn hè ? Vô chơi đi.Còn thức thôi.

Sơn,giám đốc Công ty Phát triển rừng Quảng Mai và kỹ sư Lâm cán bộ khuyến nông khom người bước qua cái cửa thấp lè tè như chui vào cái tổ con tò vò.Cả hai người miệng lớn tiếng vừa cười vừa nói

– Chào già làng. Chào Bắp Tân, Mè Tân. Cả nhà ăn tối chưa ? Đang nói chuyện vui hả.?Ô ! Cháu Tân đang nấu củ đấy à ?

– Vui gì. Cũng chẳng dấu ông.Ông tới đây rồi thì mình nói cho biết luôn.Đang tính đi phát cái rừng ở chân núi Jook Đa mà làm rẫy đây giám đốc ạ. Đói hung rồi. Ăn củ chụp miết sôi cả bụng,con nít đâu có lớn nổi mà vui.

– Ây ! Rừng Jook Đa là rừng phòng hộ đầu nguồn ,chặt sao được già làng ơi. Già làng còn bàn chụyện đi phát rừng làm rẫy thì tụi con thua to rồi.

– Người Bu Na không chặt cái rừng ấy,thì cũng có người ở nơi khác đến chặt đốt hết thôi. Cây to quá mà.Tại sao đất rừng này người Mnông mình ở hàng bao đời nay,ông bà mình cũng sống chết ở đất này mình không được chặt,mà người nơi khác lại tự do muốn chặt chỗ nào cũng được,giám đốc nói mình nghe thử xem ?

Giám đốc Sơn cơi thêm cho ngọn lửa trong bếp sáng to hơn,rồi nhìn từ mặt già làng Băp Man sang Bắp Tân,tới Mè Tân,tới cả anh em thằng Tân đang ngồi đầu nhà ,chậm rãi nói :

– Rừng núi là tài sản quốc gia,không ai được tự do chặt phá.Phá rừng là vi phạm pháp lụật của nhà nước,kiểm lâm bắt được nhẹ thì phạt tiền,nặng là đi tù đó già làng ạ.Còn cánh rừng ở chân núi đó,giữ cho con suối Đăk Đa luôn luôn đầy nước.Nếu mình chặt hết cây,mùa mưa tới không có gì ngăn lại, nước chảy ào về xuôi hết. Vừa gây lũ lụt dưới đó,vừa gây hạn hán trên này,lại còn làm cạn kiệt nguồn nước ngầm nữa.Như mấy năm trước khô cháy hết,vài năm nay lại lũ lụt liên miên,già làng có nhớ không ?

– Mình nhớ ! Mình nghe nói cây cà phê các nơi chết hết. Con bò con trâu cũng không có cả vũng nước mà uống nữa.

Kỹ sư Lâm tiếp lời giám đốc Sơn :

– Mấy năm nay Tây nguyên mình không hạn thì lũ lụt,chuyện mà bao đời nay chưa thấy xảy ra,có đúng không già làng? Nguyên nhân cũng chỉ do phá rừng quá nhiều,quá nhanh mà ra thôi.Voi không còn có chỗ trú, không có lá cây ăn, kéo nhau xuống miền xuôi phá dữ lắm già làng ạ.Bắp vẫn nói là động rừng đó mà.

– Vậy để cho cả Bon chúng ta đói à ? Mà có phải một Bon đâu? Lại còn bọn trẻ nữa chớ.Chúng nó cũng phải nghỉ học theo Bắp Mè đi mà đào củ mới có cái ăn. Con chữ trong bụng đâu có làm no hả ông giám đốc?

– Thế già làng chưa biết rồi. Huyện đã cho xe chở về 3T gạo cứu đói giáp hạt cho bà con.Ngày mai mời các gia đình lên Cụng ty nhận. Cụng ty cũng đã xây dựng xong quy hoạch giao đất giao rừng cho dân rồi.Mỗi hộ sẽ nhận 20 ha ,có quyền chủ sở hữu sổ đỏ đàng hoàng.Rừng già, rừng đầu nguồn thì khoanh nuôi bảo vệ.Rừng bụi có thể chuyển mục đích sang trồng cao su,bời lời,điều.Cụng ty sẽ lấy vốn của chương trình 5 triệu ha rừng để cấp giống và trả công cho bà con trồng rừng. Ơ đất đó mình trồng thêm màu cũng được vài ba vụ trong lúc cây rừng chưa khép tán ,già làng ạ.

– Bọn cháu sẽ đưa giống bắp lai và đậu cao sản về cho bà con .Hướng dẫn tỷ mỉ kỹ thuật gieo trồng.Còn cho nợ phân vi sinh,đến mùa trả bằng đậu bắp nữa,được không già làng?

Giám đốc Sơn và kỹ sư Lâm thay nhau trình bày.Già làng Bắp Man cứ gật gật cái đầu búi tó lia lịa.Hai dái tai võng xuống thành vòng tròn, dấu vết của chiếc khuyên tai bằng ngà voi to tướng, cứ đong đưa,đong đưa.Thằng Điểu Tân nghe thủng câu chuyện nhảy cẫng lên :

– Hoan hô chú Sơn,hoan hô chú Lâm.Thế là hết đói rồi.Cháu lại được đi học,không phải đi đào củ chụp nữa. Để cháu đi báo cho thằng Điểu Kan biết chuyện này,rủ nó mai ra lớp luôn.

Thằng bé hớn hở chạy chân sáo ra khỏi nhà,bỏ lại em nó ngồi với đống củ chụp đang gọt dở.Câu hát gì không rõ nó ư ử trong miệng còn vương lại ngoài cửa.Già làng Bắp Man gõ chiếc tẩu thuốc xuống thành bếp kêu cành cạch:

– Ô ! Ô ! Nghe lọt lỗ tai đó. Mình cũng vẫn biết là phạm vô rừng cấm thì sẽ bị động rừng chớ. Các Yang sẽ cho thú lớn,cho con nước to về hại người ngay.Nhưng cái đói của lũ nhỏ còn đáng sợ hơn giám đốc à.Nay các cán bộ đã nói vâỵ thì ta cũng đồng ý thôi.Mè Tân mai đi lãnh gạo hé. Còn Bắp Tân phải rủ mấy đàn ông lên lâm trường nghe xem giao đất giao rừng thế nào. Giám đốc cứ yên tâm đi .Giao rừng của người Mnông,cho người Mnông giữ,làm sao mà mất được,mà cháy được ?

Bếp lửa reo vui.Nước trong nồi củ chụp sôi lóc bóc.Không khí trong nhà ấm áp vui vẻ hẳn lên.

Linh Nga Niê Kdăm

Tin hay không thì tùy

Cả Tây Nguyên của tôi suốt tháng ba cờ hoa rợp trời. Nhiều sự kiện nên chắc chắn cũng nhiều vui buồn.Đã định bỏ qua không “nhàn đàm” gì những việc này, nhưng tình cờ gặp người bạn than thở: “Mấy người bạn em ở xa đi du lịch nhân tham dự lễ kỷ niệm của thành phố Buôn Ma Thuột, chê chương trình nghệ thuật chào mừng hôm 10/3 quá trời. Họ nói mấy ngày lễ ấy của riêng đất này giá trị cao quý lắm. Nào là 105 năm thành lập, nào 35 năm mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, nào là lên thành phố lớn của khu vực Tây Nguyên…vậy mà đêm biểu diễn cứ như xem văn nghệ ở quận 1 hay quận 5 thành phố HCM ấy. Mời chi nhiều ngôi sao thành phố lên hát với múa, chả vô nội dung nào. Chắc cao tiền lắm. Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng vài chục triệu là chắc. Chương trình dở thế làm sao thu hút được khách du lịch?…”…đành lại phải nói vài câu

Vào những dịp kỷ niệm lớn như thế, để chào mừng, ở địa phương nào người ta cũng thường tổ chức nhiều những hoạt động văn hoá thể thao, đặc biệt là một đêm biểu diễn nghệ thuật hoành tráng. Có điều lạ là nếu quay ngược về nhiều năm trước đây, đội ngũ cán bộ văn hoá nghệ thuật tại chỗ ( tạm gọi là ở các tỉnh lẻ đi), thường chưa đạt tới trình độ và năng lực đủ để đứng ra thực hiện một chương trình nghệ thuật có “tầm cỡ” lớn, nên chính quyền và ngành chủ quản địa phương thường phải thuê những tác giả, đạo diễn có tên tuổi ở Trung ương hoặc các thành phố lớn viết kịch bản hoặc làm Tổng đạo diễn, âu cũng là lẽ thường tình. Thế nhưng đất nước thống nhất đã 35 năm, đủ thời gian để đội ngũ cán bộ các ngành, các địa phương đã trở nên có kinh nghiệm hoạt động và am hiểu chuyên sâu về văn hoá truyền thống bản địa. Thậm chí đạt tới học vị cao trong ngành, một việc mà ngay cả năm 1975 ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng còn là của quý hiếm. Vậy mà những người có trách nhiệm tổ chức ở các địa phương vẫn thích việc mời những đơn vị và nghệ sỹ ngoài tỉnh, để thực hiện viết kịch bản & tổ chức các chương trình như đã nói ở trên. Ngoài việc họ nghĩ các vị ấy giỏi hơn “ gà nhà” , còn có gì nữa không, ai biết được ?

Vậy nên mới có chuyện dân tình ngán ngẩm vì Festival Quốc tế văn hoá cồng chiêng ( đạo diễn Hà Nội ), toàn là trang phục váy đầm dạ hội tràn xuống chính diện quảng trường trong nhịp điệu rokc, disco còn nghệ nhân 24 dân tộc lẫn các đoàn cồng chiêng quốc tế thì biểu diễn gần hết thời gian ở hai bên hông khán đài. …Hay Liên hoan văn hoá cồng chiêng mà hiện diện tới 2/3 thời lượng truyền hình trực tiếp là phần biểu diễn của các nhóm nghệ thuật nước ngoài và rock của thành phố HCM Còn các chủ nhân của “ Di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu của nhân loại” thì kéo nhau chạy như bị rượt đuổi qua sân khấu ( đạo diễn thành phố HCM). Hoặc như khách của bạn tôi chê bai chương trình 10/3 nói trên.

Vậy nên sẽ xáy ra những trường hợp :

– Một là : khi duyệt kịch bản, thấy không thể nào chấp nhận được, vì sự thiếu hiểu biết dẫn đến méo mó cả hình ảnh văn hoá truyền thống địa phương; lãnh đạo đành lại phải quay về “ tắm ao ta”, phát huy nội lực sẵn có ( được thế đã là may cho cả người xem lẫn văn nghệ sỹ địa phương lắm) .

– Hai là chuyện ở phố núi của tôi 10/3 vừa rồi, Công ty tổ chức sự kiện ở thành phố HCM nhận được hợp đồng vài tỷ, đã quay lại thuê chính Trung tâm văn hoá tỉnh Đăk lăk thực hiện. Họ chỉ ghép thêm một số ngôi sao ca nhạc và các vũ đoàn thành phố vào phần sau . Chắc với ý định cho dân tỉnh lẻ được thưởng thức “ phần mới lạ” chăng ?.

Thế, có cần bình luận gì nữa không? Tin hay không thì tuỳ bạn

Linh Nga Niê Kdăm

Dân ca Tây Nguyên

Trong kho tàng âm nhạc dân gian các tộc người Tây Nguyên, dân ca chiếm một vị trí đáng kể. Những năm đất nước còn tạm chia làm hai miền, thông qua những người con Tây Nguyên tập kết ra Bắc, luôn gìn giữ trong tâm hồn mình nỗi đau đáu về một miền quê đầy âm thanh của gió, của rừng đại ngàn, mà dân ca các dân tộc Tây Nguyên được truyền bá và phổ biến rộng rãi . Mỗi dân tộc một tính cách, một chất liệu âm nhạc dân gian khác nhau, độc đáo và phong phú. Chúng tôi không có tham vọng nói hết được về dân ca các dân tộc Tây nguyên,bởi trong kho tàng đồ sộ đó,mỗi dân tộc thiểu số anh em đều có thể tự hào về những nét đặc sắc,độc đáo riêng biệt trong dân ca của dân tộc mình.Dân ca ,như hơi thở của con người,như miếng cơm nướng thơm trong ống nứa trên bếp lửa hồng,bầu nước suối trong mát ngọt lành.Dân ca không chỉ quen thuộc ,mà còn gắn bó hàng ngày với cuộc sống của bà con các dân tộc thiểu số.Điều đặc biệt ở đây là nó nằm trong tâm thức,trong máu thịt của mỗi con người,nên các nghệ nhân không phải chỉ có giọng hát hay,mà còn ứng tác ngay qua những làn điệu có sẵn ấy,những nội dung mới rất có vần có điệu nữa. Các cán bộ thông tin muốn động viên thanh niên đi nghĩa vụ quân sự bằng lời hát ư? Có ngay ! Chị cộng tác viên dân số muốn vận động kế hoạch hóa gia đình ư ? Chờ một chút nhé,xong rồi đấy ! Đoàn kết dân tộc à ? Kêu gọi sản xuất hả ? Được thôi ! Còn đề tài tình yêu thì muôn thuở,lúc nào cũng có thể cất lên say đắm

Rằng : “Em ơi / Ướt váy ta phơi cành cây tang/ Ướt khố ta vắt lên cây Tung/ Ướt người ta cùng sưởi bên lửa hồng/ Xuống suối cùng anh bắt cá/ Lên rừng với em hái rau/ Ta sống bên nhau mãi mãi”. (dân ca Êđê)

Không cần phải yêu cầu,chỉ cần có người muốn nghe,thêm một chút men cho la đà lâng châng nữa,là có thể hát sáng đêm, nhất là hát giao duyên nam

nữ. Và khi đó “say nhau rồi chẳng cần nữa rượu ơi”

Dân ca Tây nguyên là vậy.Những lúc nghỉ ngơi tránh nắng trưa dưới bóng cây knia trên rẫy,những khi ngừng tay cắt lúa trên đồng, đêm trăng sáng gái trai gọi nhau nơi đầu sàn, các lễ cầu cúng Yang diễn ra thường xuyên theo nông lịch..vv..,chính là dịp để tụ họp nhau,và không thể thiếu những lời hát cất lên .

Có thể chia dân ca các dân tộc Tây nguyên ra làm hai thể lọai chính : Loại hát nói (recitativ) và loại hát có nhịp điệu (tempo.

Thể loại hát nối phổ biến nhất chính là phương tiện thể hiện trường ca – sử thi . Người Mnông ở DakLak còn có thể loại hát – kể gia phả bằng văn vần rất độc đáo, mà hầu như dòng họ nào cũng có người thuộc nằm lòng, để tránh sự kết hôn nhầm lẫn giữa những người trong cùng một họ. Trong một lần đi sưu tầm tại xã Nâm Nung, huyện Krông Nô tỉnh Daklak, chúng tôi đã bật máy ghi âm đến 10 phút , chỉ để ghi một trong những gia phả của dòng họ như thế.

Hát nói thường không có nhạc cụ đệm, như một thứ tự sự, nghĩ gì nói đấy, với khách đến thăm, với cha mẹ già héo, với người thân đi về thế giới bên kia , dặn dò con cháu những điều hay lẽ phải, phán xử theo luật tục,bày tỏ niềm vui mừng, nỗi buồn bã với bất cứ sự việc gì diễn ra trong làng buôn, kon, plei, bon . . . hay trong gia đình.

Ngược lại, những bài dân ca có nhịp điệu thường được đệm bằng các loại ting ning, t’rưng, đinh năm . . . rộn ràng.

Nội dung của các bài dân ca rất đa dạng, bất cứ một điều gì trong cuộc sống cũng có mặt trong lời hát. Chỉ cần có một cuộc tụ tập, một chút rượu cho la đà, hoặc đơn giản là có mặt cả hai phiá nam và nữ, là có thể khởi hứng cho ca hát.

a) Dân ca trong lao động sản xuất:

Đại đa số các dân tộc ở Tây nguyên (trừ một số dân cư trú tại những vùng trũng dọc theo các triền sông ĐăkKrông, Sông Ba, sông Ayun Pa, Sông Krông ana . . có canh tác lúa nước một vụ) sản xuất theo phương thức luân canh nương rẫy, chọc lỗ tra hạt và theo tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, thì việc cúng kiến các Yàng để cầu cho mùa màng tươi tốt là điều không thể thiếu. Những bài cầu cúng trong các lễ nghi theo nông lịch, cũng có xuất xứ giai điệu từ dân ca, và là nguồn gốc của thể lọai hát- kể trường ca.

Để cúng thần đất khi lập buôn người chủ làng khấn :

“Tôi dẫn dắt gia đình/Tôi dẫn dắt làng buôn/Cầu thần chớ nói lời giận dữ/ Cầu thần chớ mắng mỏ thân tôi”( Bài cúng Mnông)

Trong lễ cúng hồn luá phải cầu xin :

“Búi rơm cho to tựa tranh lợp nhà /Hỡi hạt thóc to,/Hỡi hạt thóc bé /Nay mau về với ta”( Bài cúng K’Ho)

Đầu mùa sản xuất phải có lễ cầu mưa :

“Buôn đằng Đông mây lui nhanh xuống/Buôn đằng Tây mây cuốn nhanh lên/Ước sao cho được trận mưa to/Ước sao cho được cả mưa rào” (Bài cúng Ê đê )

Đến lúc gieo hạt lại phải cầu xin :

“Này rượu một ché, gà một con/gà Yàng ăn gan, rượu Yang ngậm cần/Yang thêm bông cho lúa, thêm hạt cho kê/Sâu ở gốc rễ hãy bắt sạch trơn/Mọc lên được búp/Đức nên được trái”. (Bài cúng Jrai)

Được muà lớn phải tạ ơn, hiến sinh bằng trâu :

“Tiết trâu đã xoa lên đầu/Cho dân làng sống lâu khỏe mạnh/Cho đầy chòi lúa bắp”.( Bài cúng Sê đăng)

Phổ biến nhất là khi nghỉ ngơi, người ta đều có thể ca hát, giống như các hình thức hát ví, hát lý, hát đố trong lao động sản xuất của người Việt.

b) Dân ca trong cuộc sống đời thường :

Nhiều dân tộc Tây nguyên có hệ thống luật tục bằng văn vần, do những người thông thái trong buôn, plêi nắm giữ. Khi có việc xảy ra ở trong cộng đồng cần có sự phân xử, họ là người đứng ra thay mặt chủ làng “cầm cân nảy mục”. Đây là sự tập hợp những câu răn dạy về phương thức đối nhân xử thế giữa cá nhân với cộng đồng, với thiên nhiên, như lời người già hay cha mẹ Ê đê dạy con cái :

“Con gái (phải) biết rõ thân họ/Con trai biết rõ thân ta/Bò trâu biết ai là chủ”

Đi xúc cá ngưòi Ktu hát :

“Vừa thả lứơi, vừa bơi/cá mắc vào lưới/Trắng như bã mía rơi:

“Ăn” ong trên rừng cũng thành lời ca :

“Ong như lúa vãi/Ong giống rũ nằm cho đông/leo lên tận ổ Ktưng/Lấy cho hết mật rừng, mật cây”.(dân ca Êđê)

Đến cơn ho cũng được hát thành lời :

“Cơn ho khôc khôc/Cơn ho trăng cho/Cơn ho đầy trời/Cơn ho đầu rừng

(Dân ca Mnông)

Nhiều nhất ,hay nhất là những bài hát đố, hát giao duyên, chỉ cần ngồi kề bên nhau, hát lên một câu là có người đối đáp lại ngay. Ngắm người yêu chàng trai Bâhnar ca ngợi.

“Em thắm đẹp như hoa cheng rét/Tóc như suối nguồn êm trôi/Cuối rừng anh nhìn em ngẩn ngơ “

Không lấy được nhau thì họ dám thề thốt :

“Hai ta chết sẽ nằm chung một hòm/Em hoá thành thần chớp sáng/Anh hoá thành thần sét thét vang”.(Dân ca Ê đê)

Trong lễ cưới cũng có sự hát đối đáp giữa nhà trai với nhà gái :

Nhà gái thách thức :

“Hai sừng trâu cong vút đều nhau/Con trâu mộng béo tròn/Nhiều tấm vải sặc sỡ”

Nhà trai đáp :

“Chúng tôi có nhiều cồng chiêng /Có nồi to, nồi nhỏ/Gả con cho chúng tôi/Sẽ trọn đời chung sống”.(dân ca Ca tu)

Nội dung của các bài dân ca của dân tộc Tây nguyên có thể đế cập tới mọi vấn đề liên quan đến đời sống của con người, với rất nhiều làn điệu khác nhau, đặc biệt là thể lọai hát nói. Hát nói cũng chính là một trong những đặc trưng riêng của các dân tộc miền núi Việt Nam, hầu như dân tộc nào cũng có. (Điều này đã chứng minh qua những cuộc “ Liên hoan hát dân ca các dân tộc Việt Nam” do Đài TNVN và Đài THVN tổ chức từ 1998 trải qua đã nhiều năm ), có rất nhiều nội dung và làn điệu. Mà đỉnh cao của hát nói, hát kể chính là thể lọai trường ca.

Trước khi đất nước hoàn toàn giải phóng , đi đến thống nhất, chúng ta vẫn thường biết đến dân ca, dân nhạc Tây nguyên qua thang âm ngũ cung: “Son si #đo mi #pha son“ có những quãng nửa cung rất ấn tượng.

Rất nhiều nhạc phẩm của các tác giả không công tác ở Tây nguyên, nhưng yêu thích âm nhạc Tây nguyên, thường dựa trên thang âm ngũ cung này. Nhưng thực ra, thang âm trên chỉ là đặc trưng âm nhạc của hai dân tộc có khu vực cư trú tương đối đan xen và gần kế với nhau là Jrai và Bana mà thôi. Riêng các tộc người Êđê, Mnông, K’Ho, Mạ …có những thang âm riêng, không có nhiều những quãng nửa cung liền bậc như Jrai và Bânar.

Mỗi một dân tộc thiểu số Tây nguyên , đều có thang âm riêng tiêu biểu cho dân nhạc của mình. Thanh âm #Đô mi #pha sol si chỉ là thang âm thường được dùng nhất trong âm nhạc dân gian Bana và Jrai, chứ không phải là đặc trưng của tất cả dân ca Tây Nguyên .

Linh Nga Niê Kdăm

TĐH: Sau đây mời các bạn thưởng thức một số dân ca Tây Nguyên trên Youtube

Người Ta Cười – Dân ca X’tiêng – Kim Anh

.

Lời Tỏ Tình – Dân ca Jlai – Ksor H’Hoanh & Ksor Thức

.

Em Đẹp Như Hoa Pơ Lang – Dân ca Bơhnar

.

Ma Dieng (Hát Mừng Lứa Đôi) – Dân ca Roglay – Cao Dy

.

Đôi Ta Chung Một Con Đường – Dân ca Xơđang – A Vân

.

Dùng Làng – dân ca Kơ-ho

.

Hat Ayray (Gọi Anh Về) – Dân ca Êđê – Mi Na

.

Tiếng Chim Rô Túk Báo Mùa – Dân ca Chu Ru – Rô Đa Nai Trần

.

Yang Bay Minority Dance

.

Hát Ru – Dân ca Êđê – Hji Na Bya

.

Lời Dặn Dò – Dân ca Êđê – Ami Dhu’k

.

Giai Điệu Bu Roong – Dân ca Tây Nguyên – H’ Plơ

.

Nàng Tiên – Dân ca K’ho – CII K’Mhô

.

Giữ Rẫy Đuổi Chim – Dân ca Bahnar – A Long

Đàn T’rưng nước

Các dân tộc ở Tây nguyên có nhiều loại đàn dân gian có âm sắc rất độc đáo. Người Êđê có cây kèn Đinh năm thiết tha, người Jrai dùng chiếc đàn goong réo rắt làm phương tiện tỏ tình, người Xê đăng tự hào với Klong put bì bộp ấm áp, người Mnông có bộ Nung (Tù và ) lớn nhỏ có tiếng vang da diết. Còn người Banar có đàn T’rưng nước. Khác với những loại đàn xử dụng trong nhà, người Banar làm đàn bên bờ suối, lợi dụng sức nước kéo sợi dây buộc những chiếc dùi nhỏ, gõ vào nhiều ống nưá, phát lên tiếng kêu trầm bổng rất vui tai. Người Banar Rngao ở Kon tum cũng có đàn đánh bằng sức nước. gọi tên Ting gling. Cấu tạo cũng như chiếc đàn t’rưng. Trước tiên,người ta chặt nhiều ống nứa dài ngắn khác nhau, treo thẳng đứng ven bờ suối. Những ống to, dài có âm thanh trầm. Những ống ngắn, nhỏ, có âm thanh cao. Có nhiều những thanh gỗ được buộc thành dây chuyền, nối liên hoàn từ một gàu nước buộc nơi dòng chảy xuôi của con suối, đến những ống nứa. Mỗi khi gàu đầy, nghiêng đi, nước đổ xuống, kéo theo sự chuyển động của hệ thống dây chuyền.Những thanh gỗ lập tức cũng chuyển động, gõ vào thân những ống nứa buộc dựng đứng, phát ra tiếng kêu. Lần lượt từ cao đến thấp. Hoặc theo thẩm mỹ thính giác của người nghệ nhân làm nên cây đàn. Khi đã đổ hết nước, chiếc gàu chuyển động trở lại vị trí cũ, cũng lay động những sợi dây. Các dùi gỗ lại đập vào ống nứa. Chiếc gàu cứ liên tục nâng lên, trĩu xuống, đổ đi như thế, tạo ra hàng chuỗi những âm thanh trầm bổng. Ấy chính là T’rưng nước, gõ suốt đêm ngày trên dòng suối.

Đàn T’rưng phụ thuộc vào nguồn nước nhiều hay ít. Ơ nơi dòng chảy nhỏ, người ta buộc chừng 15-20 ống.Với dòng chảy lớn hơn, có thể buộc từ 30-40 ống. Nguồn cung cấp nước lớn hơn nữa, có thể buộc tới 45-50 ống nứa to nhỏ. Hoặc có thể làm hai chiếc T’rưng loại vừa. Không phải ai cũng có thể làm được đàn T’rưng nước. Bởi cần có một thính giác, một thẩm mỹ âm thanh tuyệt vời, để sắp xếp các ống nứa theo một thứ tự nào đó, để cả khi nước đầy đổ xuống, hay di chuyển trở lại vị trí cũ, vẫn tạo ra những giai điệu trầm bổng. Không chỉ sắp xếp các ống nứa to nhỏ,dài ngắn, mà còn cả hệ thống dùi gõ, sao cho lần lượt gõ từ ống này sang ống khác. Có người nói đàn T’rưng nước mô phỏng âm thanh những dàn chiêng. Nhưng thực ra T’rưng nưóc đã có từ rất lâu, trước cả khi xuất hiện bộ chiêng đồng.

Làm một chiếc đàn T’rưng nước, kể từ khi vào rừng chặt nứa, kiếm dây buộc, đến khi cất lên những giai điệu đầu tiên, cần phải mất từ 1 tuần trăng đến 10 ngày .Người Bâhnar không làm T’rưng nước ở trong Plei (Làng ), cũng không thể dùng nó biểu diễn trong nhà Rông vào những dịp lễ hội. Mà thường chỉ làm bên bờ suối, gần kề bên rẫy lúa hay rẫy trồng củ mì (sắn) của các gia đình. Bởi hầu hết 6-7 tháng trong năm , mọi người đều thường xuyên có mặt ngoài nương rẫy, ngay từ khi ông mặt trời mới thức, cho tới mặt trời đi ngủ. Lúc lao động trên rẫy, T’rưng là nhịp điệu nghỉ ngơi, giải trí cho vui tai những khi mệt nhọc. T’rưng cũng gợi đến không khí vui tươi của buôn ,Plơi trong các lễ hội. Trong tiếng ngân nga trầm bổng của dàn chiêng đồng, gái trai nắm tay nhau chung vòng múa Xoang, quanh đống lửa,ché rượu cần và cột nêu cao vút rung rinh trong gió.

Đêm xuống ,khi mọi người đã quây quần trong ánh lửa nhà sàn,tiếng T’rưng vẫn bổng trầm nơi suối vắng, xua đi bầy thú rừng phá hoại mùa màng. Hình như T’rưng đang hát rằng “ Hỡi con chim bay đi, con khỉ đi ngay. Đừng ao ước phá hóại mùa màng của chúng ta nhé …” Bà con các dân tộc Tây nguyên còn tin rằng: Rẫy nào có chiếc đàn T’rưng kêu to, vang xa, thì rẫy đó sẽ có cây lúa nhiều bông, trái bắp to đầy hạt.,cây củ mì có nhiều củ to. Dường như các Thần linh coi sóc rẫy nương cũng hài lòng vì những âm thanh vui tai ấy, mà phù hộ cho gia chủ. Do vậy, người ta thường chọn làm rẫy ở những nơi gần nguồn nước. Đó là một trong những nét đẹp của

“ Nền văn minh lúa rẫy” Tây nguyên.

Có một người làm thơ của tỉnh Kon Tum, Lê văn Sỹ ,đã kể về cây đàn ting gling Rngao như thế này:

“ Anh chọn ống to căng no gió núi/ chọn ống nhỏ chứa tròn tiếng suối/ Treo thành dàn trên rẫy/ Giăng thành dãy trên nương/ Nhờ suối kéo cần.

Để cho tiếng Ting gling :

“ Tiếng trầm lội qua con suối/Tiếng thanh luồn qua hẻm núi”

Khiến em :

“Tay vướng tiếng Ting gling / Ngập ngừng ngưng lại ngẩn ngơ/Chân vấp tiếng Ting gling / Dùng dằng dừng lại thẫn thờ.”

Ngày nay, lên Tây nguyên ít gặp những dàn T’rưng nưóc như thế. Bởi bà con đã chuyển từ canh tác lúa rẫy sang làm ruộng nước, hoặc chuyên canh cây công nghiệp,không còn gắn bó nhiều với rừng nữa. Môi trường cho những nhạc cụ dân gian ấy là những dòng suối róc rách chảy suốt đêm ngày cũng không còn nhiều.Nhưng nếu may mắn đi đến những vùng xa xôi hẻo lánh,bạn vẫn có thể nghe tiếng lanh canh của tr’ưng nước bên một dòng suối nào đó. Hoặc nếu có dịp về í thành phố Hồ Chí Minh, bạn có thể đến vườn cây trong Dinh Thống Nhất, bên một chiếc nhà Rông, có một dàn T’rưng nước đã được các nghệ nhân Gia Lai tái tạo lại ở đó. Để không chỉ làm vui tai, mà còn giúp bạn bè hiểu thêm về cái đẹp của văn hóa các dân tộc Tây nguyên.

Linh Nga Niê Kdăm

Cồng chiêng Tây Nguyên sẽ ra sao?

Chào các bạn,

Cồng Chiêng và một nét văn hóa thiêng liêng của Tây Nguyên và là di sản văn hóa nhân loại như UNESCO công nhận.  Văn hóa Tây Nguyên thường được viết và đọc như là vấn đề riêng của các bộ tộc Tây Nguyên.  Nhưng, Tây Nguyên là Việt Nam và văn hóa Tây Nguyên là văn hóa Việt Nam.  Chúng ta cần cùng quan tâm với anh chị em Tây Nguyên.

Bài tường trình về buổi thảo luận sau đây có nhắc đến chị Linh Nga của chúng ta trong đó–một tiếng nói chính cho Tây Nguyên.  (Cám ơn, chị Linh Nga)

Sau đó là một câu chuyện cảm động mình tình cờ đọc được trên Nhân Dân về  tình cảm cả  đời cho đến lúc chết của  Già E Mướt ở  Chư M’gar (Đắc Lắc) đối với cồng chiêng.

Mến,

Hoành

.


Sau festival này, cồng chiêng sẽ ra sao?

(VietNamNet)-Nhà nước chi nhiều tiền để bảo tồn cồng chiêng, nhưng đã có ai hỏi ý kiến bà con xem họ nghĩ thế nào chưa?

Mô tả ảnh.
Chiêng trong lễ bỏ mả ở làng Phung (xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai)

Truyền dạy cồng chiêng để làm gì?

Cũng đồng thuận với việc phải bảo vệ các nghệ nhân, nhưng TS Lê Thị Minh Lý, Cục phó Cục Di sản văn hóa lại nhắc hội thảo nhớ đến một đối tượng trung tâm rộng lớn hơn nhiều là cộng đồng chủ thể của di sản, bởi chính họ mới quyết định họ muốn giữ cái gì và giữ như thế nào? Các nhà khoa học hay nhà quản lý đều không thể áp đặt họ nếu họ không muốn. Theo TS Lý, xu thế đi ngược lại quá khứ, cố tìm ra “nguyên gốc” của di sản rồi mới bảo vệ là sai lệch với tinh thần của công ước UNESCO về bảo vệ di sản phi vật thể. Việc tập huấn vì thế phải là tập huấn để cộng đồng nhận thức rõ về di sản của họ, cũng như việc kiểm kê di sản phải có sự tham gia của chính cộng đồng, để thông qua quá trình kiểm kê ấy, mỗi cộng đồng sẽ quyết định họ sẽ giữ không gian văn hóa cồng chiêng ra sao?

Ý kiến của TS Lê Thị Minh Lý được nhà nghiên cứu Linh Nga Niê Kdam bổ sung bằng một câu chuyện thực. Việc truyền dạy cồng chiêng diễn ra tại rất nhiều làng ở Tây Nguyên, già làng muốn truyền dạy, lớp trẻ cũng muốn học, nhưng học xong thì để làm gì? Không lẽ chỉ để khi nào có khách, có hội diễn mới đánh? Không còn môi trường cho cồng chiêng thì tôn vinh nghệ nhân hay truyền dạy cũng không khiến cồng chiêng sống được.

Không vì hại cồng chiêng mà không làm du lịch!

Nhiều đại biểu lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc đưa nghệ thuật cồng chiêng phục vụ du lịch, nhất là việc đưa các lễ hội có tính thiêng như lễ bỏ mả, lễ đâm trâu… ra sân khấu. Chưa kể, việc trình diễn sẽ “làm hư” lớp trẻ, khi họ chỉ học vài bài để trình diễn, chứ không đi sâu tìm hiểu bảo tồn, phát huy vốn cổ. “Đừng biến cồng chiêng thành đơn điệu, vô hồn, sân khấu hóa” là lời kêu gọi của nhiều đại biểu trong hội thảo.

Không đồng tình với quan điểm trên, TS Nguyễn Văn Lưu (Bộ VH-TT-DL) lại cho rằng du lịch sẽ dẫn dắt con người đến với di sản, tạo ra việc làm, nguồn lực tài chính, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của chính quyền, cộng đồng để bảo tồn phát huy văn hóa. “Không thể vì những tác hại của du lịch có thể tác động đến di sản (như suy giảm giá trị truyền thống, ô nhiễm môi trường văn hóa…) mà không làm du lịch. Chính quyền và cộng đồng chủ nhân di sản sẽ phải điều chỉnh để phát triển du lịch theo hướng bền vững“, TS Lưu kết luận.

Mặc quần jean, áo phông thì làm sao chơi cồng chiêng?

Chủ đề được thảo luận sôi nổi nhất của hội thảo là việc phải ứng xử ra sao với sự biến đổi không thể ngừng lại của không gian văn hóa cồng chiêng. TS Nguyễn Hữu Thông, phân viện Viện Nghiên cứu VHNT Huế cho rằng phải chấp nhận sự thật khách quan, rằng cồng chiêng đã mất đi giá trị vật chất, tinh thần. Khi xưa cồng chiêng là gia sản của dòng họ, là uy tín của làng bản, còn bây giờ những giá trị đó đã được thay thế bằng nhà cửa, xe máy, tủ lạnh… Giá trị nghệ thuật của cồng chiêng chỉ thật sự cao khi gắn với đời sống tâm linh, khi tạo ra sự thông thiên trời đất với con người. “Mất đi tính thiêng ấy thì riêng âm nhạc cồng chiêng lại không phải là đỉnh cao gì ghê gớm. Cồng chiêng thiếu không gian thiêng sẽ như cá bị tách khỏi nước, chỉ còn là cá ươn, cá khô, cá chết”, TS Thông mạnh mẽ.

Ông Nguyễn Đức Tuấn (Văn phòng Bộ VH-TT&DL tại Đà Nẵng) thẳng thắn thừa nhận, với những cộng đồng không còn không gian, việc tổ chức lễ hội sẽ không có tác dụng. Mặc quần jean, áo phông thì làm sao chơi cồng chiêng? Đường đi qua địa phương nào thì thanh niên ở đó không còn tha thiết với trang phục dân tộc, âm nhạc dân tộc nữa. “Ta có xây nhà rông văn hóa cho bà con thì họ cũng không chăm chút. Họ xem đó như nhà sinh hoạt của nhà nước thôi“, đó là ông Tuấn còn chưa nói thẳng việc nhà rông “văn hóa” lợp mái tôn khác xa với nhà rông của bà con. Có đại biểu còn thẳng thắn nêu câu hỏi: “Sau festival này, cồng chiêng sẽ ra sao? Không lẽ festival chỉ là dịp gặp gỡ để vui vẻ?”.

Nhà nước không vào cuộc thì các nhà khoa học chỉ bàn cho vui thôi!

Giải pháp mà nhiều đại biểu đưa ra là ngoài việc làm chậm lại sự thay đổi của không gian văn hóa truyền thống với rừng, làng, giọt nước…, phải tạo ra không gian mới cho nghệ thuật cồng chiêng. Bà Linh Nga một lần nữa nhấn mạnh việc phải có những người nghiên cứu bản địa am hiểu văn hóa, hướng dẫn bà con để các cộng đồng tự ý thức về di sản rồi tự mình khôi phục những gì bà con muốn, hoặc giúp bà con tạo ra môi trường mới. “Nhà nước chi nhiều tiền để bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng, nhưng đã có ai hỏi ý kiến bà con xem họ nghĩ thế nào chưa? Ta kiểm kê cồng chiêng, nhưng có kiểm kê nhà rông, nhà dài, kiểm kê nghệ nhân, kiểm kê làng nghề không?”, TS Nga chất vấn.

Các nhà nghiên cứu đến từ Nhật Bản, Hà Lan, Canada đều khẳng định không thể đề cập đến tính nguyên bản của di sản trong việc bảo tồn, phải chấp nhận sự thay đổi với môi trường và chỉ có cộng đồng chủ thể của di sản khi nhận thức đầy đủ mới quyết định được họ sẽ muốn cồng chiêng thay đổi thế nào.

Nhiều nhà nghiên cứu của ta thực tế hơn lại băn khoăn nhiều đến vấn đề kinh phí, “nếu cộng đồng không đủ ăn, không biết chữ thì khó hy vọng họ bảo tồn và phát huy cồng chiêng” như lời TS Trương Bi.

Ông Phạm Sanh Châu, Tổng thư ký Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam đưa ra hai kiến nghị rất được chú ý: Hội nghị có thể làm bản kiến nghị gửi UNESCO đề xuất tài trợ cho công tác giáo dục và tuyên truyền (trích từ quỹ di sản phi vật thể). Ngoài ra, nếu ta đã có những mô hình “hứa hẹn” bảo vệ thành công di sản phi vật thể, UNESCO sẽ hỗ trợ khoản tiền lớn hơn. “Năm nay chỉ có 2 nước đề xuất thôi, còn 1.7 triệu Euro của quỹ đang… bỏ không”, ông Châu “bật mí”.

Thật tiếc vì những ý kiến tâm huyết của hội thảo lại không được lãnh đạo cấp cao của tỉnh, của Bộ lắng nghe đến phút cuối. Như GS Tô Ngọc Thanh khẳng định: “Nếu nhà nước không vào cuộc thì các nhà khoa học ngồi đây bàn chỉ cho vui thôi“.

  • Khánh Linh

.

Chư M’ga: tìm lại tiếng chiêng

NDĐT- Trước cuộc sống có quá nhiều biến chuyển như hiện nay, việc gìn giữ, kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của cha ông để lại là điều không phải dễ dàng. Đối xử với những di sản văn hóa phi vật thể ở Tây Nguyên cũng vậy, rất cần những người có tâm huyết uốn nắn, định hướng… để nguồn mạch văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc mình không mai một và đứt gãy.

Khi bí mật trên dầm nhà hé lộ

Những anh chị làm công tác văn hóa lâu năm ở huyện Chư M’gar (Đác Lắc) kể: Người dân ở buôn Rai (xã Ea Tal) chẳng bao giờ quên “chuyện nhà” ông E Mướt xảy ra hồi cuối tháng 7 vừa rồi.

Chuyện rằng: Già E Mướt tuổi đã hơn tám mươi mùa rẫy. Ông nằm liệt giường cả tháng trời, cơm cháo gì nuốt cũng không trôi, thế mà vẫn không chịu nhắm mắt để về với “thế giới ông bà”. Con cháu trong nhà phải cơ khổ vì ông cứ chết đi, sống lại không biết bao nhiêu lần. Họ phải chạy vạy đủ cách, kể cả việc cầu xin Yàng, khấn vái thần linh để làm sao cho ông ra đi được thanh thản. Thế mà vẫn không được như ý nguyện, đôi mắt ông E Mướt cứ mở trừng trừng nhìn lên dầm nhà như khẩn khoản một điều gì đó cơ mật mà không thể nói ra.

Đã ba ngày trôi qua vẫn thế, hoảng quá anh Y Tiếp, con trai ông bắc thang trèo lên dầm nhà xem thử thì mới phát hiện một bộ chiêng cổ (7 cái) được bọc trong những chiếc bao tải cất cẩn thận. Y Tiếp đem xuống và mở ra từng chiếc chiêng đã lên màu đen trũi. Đôi mắt người sắp chết nhìn theo như ngấn lệ.

Biết đây là điều mong mỏi cuối cùng của ông già trước khi từ giã cõi đời này, mọi người không ai nói với ai lời nào, họ chỉnh tề ngồi vào vị trí của dàn chiêng và bắt đầu diễn tấu. Những âm thanh thiêng liêng ngân lên lúc trầm, lúc bổng trong không gian tưởng chừng như đông đặc lại và vô cùng huyền hoặc. Lúc đó, đôi mắt già Y Mướt mới từ từ khép lại và “yên ngủ” như thể không còn điều gì vướng bận nữa…

Chị H’Hoa (cán bộ Phòng VH-TT huyện Chư M’gar-Đác Lắc) bảo, sau câu chuyện cảm động và có sức lay động sâu xa này, mọi người tìm hiểu ra mới biết cách đây cả chục năm, khi cồng chiêng bị người ta bán đi không thương tiếc vì nhiều lý do: hoặc là đời sống kinh tế khó khăn, lễ hội thưa vắng dần nên không có môi trường để diễn xướng; hoặc là một bộ phận theo đạo Tin Lành nên không cần nó nữa, vì thế cụ E Mướt âm thầm cất giữ bộ chiêng quí truyền đời của mình mà không ai hay biết.

Đến khi bí mật trên được phát hiện mọi người mới hiểu ra một điều: di sản của cha ông cũng có lúc thăng trầm, dâu bể… song, không vì một lý do thường nhật nào đó mà dễ dàng mất đi. Nó được những người như già E Mướt bảo tồn và gìn giữ cho đến hơi thở cuối cùng, dù bất kỳ dưới hình thức nào.

Anh Y Nan, Phó trưởng Phòng VH-TT huyện Chư M’gar nói rằng, đến bây giờ con cháu cụ mới hiểu ra và thấm thía điều đó. Tiếng chiêng cũng như các giá trị văn hóa truyền thống khác ở vùng đất này như được tiếp thêm nguồn xúc cảm mới để ngân vang và thăng hoa thêm.

Câu chuyện đầy xúc động của gia đình già E Mướt được những người làm công tác văn hóa ở đây lấy làm gương cho lớp trẻ trong việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức bảo tồn và gìn giữ vốn văn hóa cha ông. Và thật không ngờ nó có sức lay động đến thế, hầu hết thanh niên nam nữ ở các buôn làng đều hiểu ra ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong câu chuyện, nên tự nguyện tham gia nhiều lớp dạy đánh chiêng được tổ chức thường xuyên trên địa bàn.

Đến nay, Chư M’gar là một trong những huyện dẫn đầu về phong trào bảo tồn, gìn giữ và phát huy vốn văn hóa truyền thống của tỉnh. Hầu hết các buôn làng đều thành lập được những đội chiêng trẻ để cùng với thế hệ cha anh họ, tự tin góp mặt trong những dịp hội hè của cộng đồng dân tộc mình tổ chức như một sự tiếp nối tiềm tàng và đáng trân trọng.

Ai sẽ lưu giữ ký ức?

H’Hoa tâm sự, đời sống kinh tế của bà con đã khá hơn trước rất nhiều. Vì thế qua nhiều lễ hội truyền thống được phục dựng, số thành viên trong từng cộng đồng cũng tham gia ngày càng nhiều, càng thân thiết với nhau hơn. Bên cạnh cồng chiêng cùng nhiều nhạc cụ khác được mọi người chăm chút, hồi sinh… thì những làn điệu dân ca, dân vũ – vốn đã trở thành ký ức của người già cũng đang được thế hệ trẻ có tâm huyết sưu tầm, biên soạn và phổ biến trở lại.

Chẳng hạn như điệu múa cổ T’Lang Grư (chim Grư bay lên), Khớt H’gơr (hát múa trong nghi lễ bọc trống)… đã được H’Hoa và các chị H’Duôn, H’Nhé, H’Yang ở xã Ea Tul lĩnh hội từ những người già, hoặc lục lọi lại trong ký ức thời thơ bé để truyền dạy lại cho nhiều thiếu nữ ở các buôn làng. Chính những thiếu nữ này là “hạt nhân” ươm mầm và nhân rộng ra cho bạn bè cùng trang lứa.

Cô bé H’Lina vui lắm khi được các cô, bà mình truyền dạy cho những điệu múa tưởng chừng đã thất truyền. Cô bé thành thật : “Vòng xoang bình thường trong các dịp lễ hội thì ai cũng biết và múa được. Nhưng điệu múa cổ như T’Lang Grư, hay Khớt H’gơr… thì gần đây em mới biết nhờ theo học những lớp dân ca, dân vũ do chị H’Hoa dạy cho. Hóa ra dân tộc mình có điệu múa đẹp và kiêu hãnh đến thế.”.

Những cô gái trẻ trung, xinh đẹp trong tư thế vươn mình và xòe đôi bàn tay mềm mại như cánh chim Grư đang bay lên, chở đầy khát vọng và mơ ước của mình, của cộng đồng trên nền chinh T’Lang Grư nhún nhảy, nhuốm chút mơ màng…thì quả thật không gì có men say hơn thế. Ngược lại, Khớt Hgơr thì thành kính, dịu dàng trong từng bước chân, nét mặt đều hướng về một tâm điểm như để chia sẻ, nhận lấy mối đồng cảm và tri ân với cộng đồng, khiến bất kỳ ai có mặt cũng được yên vui, vỗ về.

Những bước nhảy ấy, họ không chỉ học được từ những bài học của cha ông mình, mà họ còn tích lũy, kế thừa bằng cả niềm đam mê và vốn hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ về dòng chảy liền mạch của đời sống văn hóa mỗi cộng đồng từ ngàn xưa cho đến hôm nay.

Nguyễn Đình

Nghĩ, một sớm tháng ba

Nguyên Tiêu đã qua, trăng hạ tuần  mòn dần theo vòng quay của trái đất, nhưng vẫn long lanh sáng rỡ khắp vòm trời cao nguyên. Dường như trăng đang muốn đua với những dàn đèn đủ kiểu dáng, đủ màu sắc trên phố phường Tây Nguyên ? Nào đèn lồng, đèn chùm, đèn dây, đèn cao áp, đèn tuýp, đèn tròn…trên cột điện, trong vòm lá, giữa những bụi hoa lúp xúp, quanh thân cây cổ thụ, trên mọi mặt tiền các cơ quan, cao ốc…Buôn Ma Thuột  xuân Canh Dần dồn dập những niềm vui, vào mùa hội lớn. Không chỉ kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng, mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đón nhận Huân Chương Hồ Chí Minh cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng, được công nhận là thành phố cấp I ( cũng còn có nghĩa là thành phố của khu vực); mà còn tròn 105 năm hình thành và phát triển Buôn Ma Thuột…một thành phố chứng nhân của lịch sử . Tây Nguyên của tôi, không chỉ có lịch sử văn hoá đầy huyền thoại của một vùng đất, mà còn cả bề dày lịch sử chiến tranh nhân dân vĩ đại của đất nước.

Ngã Sáu BMT, giữa thập niên 60s

Ngắm cờ hoa, dòng xe cộ chảy như những dòng sông phập phồng thở trên mọi con đường thảm nhựa, thêm yêu miền quê hơn trăm tuổi mà dáng dấp vẫn vô cùng trẻ trung, căng đầy sức thanh xuân trên con tàu hội nhập vùn vụt đi tới tương lai. Và những dòng ký ức bỗng tràn về ào ạt như  sông Chồng Krông Knô, sông Vợ  Krông Ana mùa nước lớn.

4 giờ sáng ngày 15-5-1975, xe chở Đoàn Ca múa Tây Nguyên chúng tôi dừng lại trước ngôi nhà của Uỷ ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột. Từ các ngả đường, dòng người tham gia mít tinh chào mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng, với cờ hoa trong tay, đã từ 6 ngả đường náo nức đổ về sân vận động trung tâm. Chúng tôi nhanh chóng nhận chỗ nghỉ ngơi, để chuẩn bị cho đêm biểu diễn đầu tiên nơi đô thị còn ngổn ngang đổ vỡ, vì bị máy bay Mỹ ném bom ngay sau ngày 10/3. Chúng tôi, hầu hết là những đứa con Tây Nguyên trở về sau 21 mùa rẫy xa bến nước rừng cây, có đủ trong tâm hồn những nỗi vui, buồn, thương mến của ngày hồi lại cố hương, nên chẳng ai nghỉ ngơi mà tại những địa điểm dừng chân của Đoàn trên khắp Tây Nguyên : Buôn Ma Thuột, Plei Ku, Kon Tum… ai nấy đều dành thời gian rảo những bước chân tò mò tìm hiểu về những  tên gọi đã quá thân quen, nhưng vẫn đang hoàn toàn xa lạ, bởi đa số đều ra đi từ lúc còn là những đứa trẻ đứng chỉ ngang hông những amí, ama.

Ngày ấy, 35 năm trước, Buôn Ma Thuột, Plei Ku chỉ là những thị xã nhỏ, và Kon Tum với các nhà thờ, chủng viện bình yên, lặng lẽ, đúng như tên gọi “ miền đất bị lãng quên”. Nhà nhỏ, phố nhỏ, những con đường dầu ngắn quanh co, lên dốc, xuống đồi vây quanh các trung tâm nội thị …Cả ba thị xã Tây Nguyên chỉ có một Trường sư phạm cao nguyên duy nhất ở Buôn Ma Thuột đào tạo giáo viên cấp I, cấp II. Dòng thác Drei H’Linh xinh đẹp chỉ dồn nước cho một nhà máy thuỷ điện bé nhỏ, đủ cung cấp điện năng cho các chốn công vụ và cư dân nội thị…Thứ duy nhất làm ấm lòng du khách là hình dáng lấp vấp trong tấm váy đen của những người phụ nữ lưng mang gùi rảo bước chân trên mọi nẻo đường phố thị khắp cao nguyên ( trong bài hát của nhạc sỹ Phạm Duy “ em Plei ku má đỏ môi hồng”) .

Tây Nguyên tôi ơi, đất với người ngày ấy – hôm nay, còn có nhiều lắm những mất còn của rừng, của nước, mang đến sự se thắt con tim.Nhưng ai nói gì thì nói, những cái được, những đổi thay của mọi buôn, bon, kon, plei trên cao nguyên chan hoà nắng, chứa chan gió miền tây Tổ quốc này, không thể dùng số đếm của ngôn ngữ Êđê, Jrai, Bâhnar hay Sê Đăng xưa để kể cho hết, sau những tháng năm thật sự chuyển mình nữa rồi.

Ngã Sáu BMT 2010

Đã 35 mùa rừng khộp thay lá . Buôn Ma Thuột, Plei Ku và cả Kon Tum nay đều đã là những thành phố khang trang, hình thành những dấu chấm son lớn hơn của Tây Nguyên trên tấm bản đồ hình chữ S.Đường Hồ Chí Minh nối Tây Nguyên với mọi miền quê từ bắc vào nam. Đường nhựa các phố núi rộng thênh với hệ thống đèn giao thông xanh đỏ điều hành mọi hướng đi đến cả những huyện xa xôi. Các công trình thuỷ điện trên sông Sê San, sông Srê Pôk, sông Đăk Bla… mang ánh điện tràn đến khắp núi rừng, từ tận đỉnh Ngok Linh cho tới đồng cỏ M’Drăk ven chân núi Mẹ bồng con Cư H’Mú, kéo theo truyền hình cáp, “ ăng ten chảo” đem cả thế giới đến mọi buôn, bon, kon plei quê tôi. Thuỷ lợi A Yun Hạ, Đăk Uy, Plei Krông, Ea Kao, Ea Suop thượng…biến đất hoang nên ngàn cánh đồng 5 tấn lúa, cho cái đói chạy xa khỏi miền đất cao nguyên;  cho Buôn Ma Thuột mơ một ngày không chỉ mang thương hiệu Cà phê Ban Mê được quốc tế công nhận, mà còn sẽ là thủ phủ của món đồ uống gắn kết toàn cầu; cho Hoàng Anh Gia Lai kết nối cùng bóng đá thế giới; để sâm Ngok Linh, bauxit Nhân Cơ có thể làm thay đổi bộ mặt của một vùng đất nghèo….Trường đại học Tây Nguyên, hệ thống các trường Cao đẳng & Trung học chuyên nghiệp, hàng ngàn trường, lớp từ Mầm non đến cấp III cho con em mọi người dân tận buôn, bon, kon, plei đều có thể tung tăng áo trắng mỗi sớm chiều nghe tiếng trống đến trường. Và vượt lên tất cả là sự tôn vinh của thế giới đối với di sản đầy sáng tạo cuả những nghệ nhân chân đất, góp phần làm sang cho Văn hoá Việt nam, không chỉ có “ Không gian văn hoá cồng chiêng”, mà còn cả kho tàng sử thi dân gian lớn nhất thế giới của cả 6 tộc người Êđê, Jrai, Mnông, Bâhnar, Sê Đăng, Răk Glay …

Tôi nhìn thấy bóng các Tù trưởng Dam San, N’Trang Lơng, Săm Brăm, Ama Thuột…lừng lững trên ngọn gió mang hương hoa bay khắp núi đồi; Vua săn voi Y Thu Khun Zu Nốp oai nghiêm trên bành voi ung dung vượt sông . Các vị lão thành cách mạng Nay Der, Nay Phin, Y Wang Mlô Dun Du, Y Ngông Niê Kdam…hể hả cười nâng cần rượu mừng ngày hội lớn. Vang vang trong gió, tiếng các nàng H’Linh, H’Ly hát trong ánh cầu vồng nơi đầu những dòng thác tung nước trắng xoá, bài hát “ Tây Nguyên giải phóng” phới phới niềm vui của tháng ba một chín bảy lăm, mà nhạc sỹ người Jrai – Kpă Púi năm ấy đã nhanh chóng gửi ra Hà Nội, rằng :  “ Cồng chiêng ơi cùng ta nhảy múa / đàn tr’ưng ơi ca hát vang lên / kết đoàn lại, vững một lòng / gìn giữ lấy buôn làng Tây Nguyên ” .

5h sáng 10/3/010

Linh Nga Niê Kdăm

Khởi công dự án Bô Xít Nhân Cơ

Hôm nay 28/2 tỉnh Đăk Nông tổ chức lễ khởi công dự án khai thác Bô xít Nhân Cơ, do Trung Quốc trúng thầu thi công. Nhiều ý kiến trái ngược nhau về vấn đề này. Để rộng đường dư luận , tôi trích bản báo cáo của nhóm nghiên cứu nhanh – mà tôi là một thành viên –  những ảnh hưởng đến đời sống dân cư tại chỗ khi triển khai dự án này. Báo cáo đã được trình bày ở hội thảo tại Đăk nông cuối năm 2008.

( Xin được nói rõ một điều : Huyện Đăk Rlâp, nơi địa điểm thực hiện dự án này, có diện tích hơn 500km2. Đã được ký giao cho dự án 300km2)

Trích BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ SINH KẾ NÔNG THÔN CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VÙNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN BAUXIT, SẢN XUẤT ALUMIN VÀ LUYỆN NHÔM

(Nghiên cứu trường hợp tại ba xã Nhân Cơ, Nhân Đạo và Nghĩa Thắng thuộc mỏ Bauxit Nhân Cơ, huyện Đăk Rlâp, tỉnh Dăk Nông)

Nhóm nghiên cứu[1]

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì khai thác Bauxit được xác định là 1 trong 10 ngành Công nghiệp ưu tiên ở Việt Nam từ nay cho đến năm 2015. Mới đây nhất, ngày 1 tháng 11 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ cũng đã ra thêm Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg về việc “phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025”. Theo như quyết định này thì Bauxit sẽ trở thành một ngành công nghiệp lớn ở Miền trung, đặc biệt là tỉnh Đăk Nông.

Đăk Nông có vị trí địa lý cao (trung bình khoảng 700 mét so với mực nước biển). Là đầu nguồn của lưu vực sông Serepok (nhánh nhỏ đổ về sông Mê Kông) và sông Đồng Nai. Nếu khai thác Bauxit sẽ phải chặt hạ một số lượng rừng tương đối lớn, có thể gây ảnh hưởng đến xói mòn bề mặt và mực nước ngầm ở Tây nguyên và các tỉnh miền Trung. Sau quá trình khai thác, đất bề mặt sẽ có nhiều thay đổi về tính chất, đồng thời phải tái tạo lại hoàn toàn cây trồng, vật nuôi, công trình dân sinh trên mặt đất.

Đăk nông có 31 dân tộc anh em sinh sống, trong đó có cả người dân tộc bản địa như Êđê, Mơ Nông. Khi thực hiện khai khoáng sẽ phải tổ chức di dời, tái định cư cho người dân sống trong các vùng mỏ. Các ảnh hưởng về văn hóa, quan hệ xã hội và kinh tế của người dân địa phương là những vấn đề cần được quan tâm theo như tinh thần Quyết định số 219/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách bảo hộ quyền lợi của nhân dân địa phương nơi có khoáng sản được khai thác, chế biến và bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác“.

Mặc dù đã có sự quan tâm về các vấn đề trên trong quá trình điều tra, xây dựng các dự án. Tuy nhiên, phần lớn các chương trình/luận chứng khai thác vẫn còn tập trung chủ yếu về giá trị kinh tế đem lại từ hoạt động khai khoáng và yếu tố kỹ thuật khai khoáng mà chưa tập trung nhiều vào những ảnh hưởng khác của khai khoáng. Đặc biệt là đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người dân bị di dời để từ đó có những giải pháp giảm thiểu tác động một cách hiệu quả nhất. Để góp phần đưa ra những Dự báo về ảnh hưởng của Quá trình khai thác Bauxit, luyện alumin đến văn hóa-xã hội và sinh kế của cộng đồng dân cư sống trong vùng Dự án, theo đề nghị của Viện tư vấn phát triển (CODE) nhóm nghiên cứu  đã tiến hành nghiên cứu nhanh tại cộng đồng.

Mục đích của nghiên cứu này là:

  • Bước đầu tìm hiểu những tác động tiêu cực của quá trình khai thác Bauxit, sản xuất Alumin và luyện Nhôm đến văn hóa, xã hội của cộng đồng dân cư vùng khai khoáng
  • Thu thập các ý kiến, nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của người dân vùng khai khoáng

2 NGƯỜI DÂN VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI DỰ ÁN

2.1          Quá trình xây dựng cụm công nghiệp và đền bù giải tỏa

2.1.1          Cơ sở pháp lý

Phương án đền bù giải tỏa là một trong những nội dung lớn của Đề án Xây dựng “Nhà máy tuyển quặng Bauxit và sản xuất Alumin Nhân Cơ công suất 300.000 tấn Alumin/năm. có xem xét khả năng mở rộng lên 600.000 tấn Alumin/năm” (2007) (Sau đay gọi tắt là Cụm công nghiệp)

Phương án này được dành hẳn một chương X (từ trang 135 – trang 140). Kế hoạch được xây dựng dựa trên những cơ sở pháp lý là các văn bản chính sách của Chính phủ cũng như các Bộ ngành có liên quan. Tuy nhiên căn cứ theo Dự án này các cơ sở pháp lý để xây dựng Phương án (trang 135- 136): Giải phóng mặt bằng. di dân và tái định canh. định cư là chưa phù hợp. Hầu hết các Nghị định. Quyết định này đều đã được sửa đổi hoặc thay bằng các văn bản pháp lý mới. Ví dụ như:

  • Luật đất đai ban hành ngày 14/7/1993. được sửa đổi ngày 02/12/1998 và 01/10/2001. Luật Đất đai đã được sửa đổi 13/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003;
  • Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh. lợi ích quốc gia. lợi ích công cộng. Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 04/11/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh. lợi ích quốc gia. lợi ích công cộng. Văn bản này đã được thay thế bởi : Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chỉnh phủ Về việc bồi thường. hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
  • Nghị định số 87/CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ về quy định khung giá các loại đất; Quyết định số 302/TTg ngày 15/03/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh hệ số (K) ban hành theo Nghị định số 87/CP; Nghị định số 17/1998/NĐ-CP ngày 21/03/1998 của Chính phủ về việc sửa đổi. bổ sung khoản 02. điều 04 của Nghị định 87/CP ngày 17/08/1994 của Chính phủ; Văn bản này đã được thay thế bởi : Nghị định của Chính phủ Số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004. Về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.

–          Nghị định 188/2004

–          được hướng dẫn thi hành bởi các văn bản sau:

Thông tư 145/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007

Của Bộ tài chính Về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ sửa đổi. bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP

Thông tư 80/2005/TT-BTC ngày 15/09/2005 Của Bộ tài chính Về hướng dẫn việc tổ chức mạng lưới thống kê và điều tra. khảo sát giá đất. thống kê báo cáo giá các loại đất theo quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

Năm 2004 tỉnh Đắc Nông có quyết định tách khỏi tỉnh Đắk Lắk vậy làm sao năm 1998 UBND tỉnh đã ban hành được các văn bản sau:

  • Quyết định của UBND tỉnh Đắc Nông về việc ban hành đơn giá xây dựng mới và đơn giá cấu kiện tổng hợp để đền bù nhà cửa. công trình kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất  để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh. lợi ích quốc gia. lợi ích công cộng theo Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/04/1998 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Đắc Nông. (Tỉnh Đắc Nông mới tách từ tỉnh Đắc Lắc từ năm 2004 – Vậy làm sao năm 1998 đã có được quyết định này ???)
  • Quyết định của UBND tỉnh Đắc Nông về việc ban hành qui định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Đắc Nông. (Năm nào ? Số văn bản ???)
  • Quyết định của UBND tỉnh Đắc Nông về việc ban hành qui định nguyên tắc. phương pháp xác định giá các loaị đất trên địa bàn tỉnh Đắc Nông. (Năm nào ? Số văn bản ???)

Có lẽ rằng do Phương án đền bù giải tỏa được căn cứ trên những văn bản đã cũ nên quá trình thực hiện đã dẫn đến một số bất cập “sẽ được trình bày trong những phần sau”.

2.1.2          Sự chủ động của Công ty Nhân Cơ

Từ khi bắt đầu xây dựng Cụm công nghiệp công ty đã chủ động triển khai các hoạt động giúp đỡ địa phương và cộng đồng như : hỗ trợ san ủi đường vào bon Bu Zấp. xây một nhà tình nghĩa. những ngày lễ tết công ty đều có quà cho già làng. thiếu nhi và hỗ trợ các gia đình chính sách hoặc gia đình neo đơn ăn tết như gạo. mắm… và nhiều loại sách báo

Hồ nước nằm trong mặt bằng cụm công nghiệp cần phải san lấp có tên là hồ Cá Trê (4 ha). Đây là hồ nước có từ lâu đời. gắn liền với đời sống sinh hoạt của người M’Nông. bon Bù Zấp. Nơi đây là vùng đất đỏ bazan sau mỗi trận mưa. các sình nước ngầu đỏ. nước giếng khoan cũng vậy. nhưng đặc biệt nước ở hồ Cá Trê lại luôn trong vắt. Hồ Cá Trê không chỉ là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho đồng bào mà còn là nơi lưu giữ bao truyền thuyết. kỷ niệm và đây còn là nơi mỗi năm có một ngày hội đánh cá cho cả cộng đồng. Già trẻ gái trai ai cũng tham gia ngày hội này. tất cả cùng bắt cá và cùng nấu ăn. không khí thật vui vẻ và gắn kết. Để được sự đồng ý của cộng đồng cho san lấp hồ Cá Trê. công ty đã kiên trì thuyết phục và hỗ trợ cộng đồng mua trâu làm lễ cúng Yang xin cho lấp hồ xây cụm công nghiệp.

Công ty đã phối hợp với trường công nhân kỹ thuật Mỏ mở trường dạy nghề tại trường dạy nghề Phương Nam. tỉnh Đắk Nông.

Tuy nhiên. công ty chưa chủ động lên kế hoạch và tổ chức các hoạt động truyền thông giúp cho cộng đồng dân cư trong vùng dự án. hiểu và hợp tác với công ty trong thực hiện DA. Dường như công ty chưa lường hết được các vấn đề sẽ phát sinh khi thông tin không được minh bạch và phổ biến sâu rộng.

2.2          Sự tham gia của người dân

Qua khảo sát tình hình thực tế cho thấy người dân luôn luôn ở thế bị động trong quá trình Dự án được triển khai. Thông tin không được phổ biến một cách cụ thể đến các bên liên quan và cả những người chịu tác động trực tiếp (sau đây gọi là hộ dân).

  • Tiến trình khảo sát thăm dò

Kế hoạch khảo sát thăm dò của công ty được triển khai chưa cụ thể đến chính quyền cấp xã. thôn. Mức đền bù hoa màu khi khoan thăm dò không được thông báo cụ thể đến các bên liên quan như chính quyền xã. thôn. hộ dân có điểm khoan thăm dò. Theo ý kiến của các hộ thôn Quảng Sơn. xã Nghĩa Thắng “Khi triển khai khoan khảo sát thăm dò. công ty đã không thông báo cụ thể mức đền bù. Hộ nào cản trở quá trình khảo sát sẽ được đền bù. mức độ cản trở càng mạnh thì mức đền bù càng cao. Hộ nào không có ý kiến gì thì công ty không đề cập đến chế độ đền bù tại điểm khoan. Cách làm như vậy đã gây mâu thuẫn và bất bình cho người dân”.

  • Quá trình đền bù giải tỏa. tái định cư

Thảo luận tại Thôn 1 xã Nhân Đạo cho biết: Kế hoạch kiểm kê tài sản. đền bù và thu hồi đất đai không được phổ biến sớm. thông thường họ chỉ được thông báo trước một buổi tối. Sau khi kiểm kê tài sản xong. hộ dân cũng không được biết khi nào thì được nhận tiền đền bù. Theo giải thích của Công ty: Nếu thông báo trước. các hộ dân sẽ xây nhà. trồng cây bổ xung nhằm mục đích tăng tiền đền bù giải tỏa.

Không chỉ các hộ dân mà cả bộ phận ở thôn xã phối hợp làm công tác đền bù cũng không nắm rõ tiêu chí đánh giá xếp loại vườn cây và tài sản khác. họ cũng chỉ biết thống kê vườn cây và tài sản hiện có mà thôi. Tài sản sau khi thống kê xong cũng không được xác định kết quả phân loại ngay tại thực địa có sự chứng kiến của các bên liên quan. Kết quả này do ban đền bù tự xác định và đánh giá. sau đó thông báo cho người dân. đây cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến nẩy sinh bất đồng và cản trở trong quá trình đền bù giải tỏa.

Kế hoạch đền bù giải tỏa cũng chưa được thông báo rõ ràng. Cộng đồng thôn 1 xã Nghĩa Thắng cho biết: đã có trường hợp. kiểm kê tài sản xong 6 tháng sau cũng chưa thấy đền bù. vườn cây thì không được chăm sóc hay thu hoạch. Phía công ty thì lo lắng rằng khi đã kiểm kê xong mà người dân vẫn sản xuất trên diện tích đó sau này sẽ khó khăn trong khâu giải tỏa. Hai bên không có cơ hội nào để gặp gỡ trao đổi và tìm ra phương án giải thích hợp lý hợp tình. Cộng đồng các điểm nghiên cứu đều nói rằng. sự tiếp xúc với nhóm nghiên cứu là lần đầu tiên có người ngoài cộng đồng đến trao đổi với họ những khó khăn bất cập trong quá trình giải tỏa xây dựng Cụm công nghiệp.

Người dân rất thiếu thông tin về Phương án tái định canh. định cư. Họ chỉ biết rằng sau khi nhận tiền đền bù. nếu muốn có thể mua nền trong khu tái định cư. Còn đất canh tác ở đâu hay làm gì để sinh sống tiếp vẫn đang là một câu hỏi lớn với các hộ chịu ảnh hưởng của vùng dự án. Nguy cơ khai thác trái phép Vườn quốc gia Cát Tiên để lấy đất canh tác là rất lớn. Đại diện công ty lại cho rằng tiền đền bù cao. người dân có thể tự mình tìm nơi sản xuất và tạo sinh kế mới.

Về phía các hộ dân. do chưa hiểu rõ ý nghĩa của việc xây dựng dự án và tâm lý luôn lo sợ bị thua thiệt nên đã có những việc làm sai trái như xây thêm nhà cửa. trồng thêm nhiều loại cây vào diện tích giải tỏa. cản trở quá trình giải tỏa đến bù.

2.3          Hiểu biết của người dân về Cụm công nghiệp và nhận thức của họ về những ảnh hưởng trong tương lai.

Thông qua kết quả thảo luận nhóm: Sự hiểu biết của người dân về Cụm công nghiệp được tổng hợp lại bao gồm những ý chính sau:

+ Xây dựng cụm công nghiệp để phát triển kinh tế của Nhà nước vì thế người dân sẵn sàng hy sinh quyền lợi của gia đình.

+ Nông dân sản xuất nông nghiệp là làm kinh tế gia đình. Công ty Cổ phần Nhân Cơ là đơn vị kinh doanh nhưng khi thu hồi đất của người dân lại để người dân phải chịu thiệt thòi nhiều quá. như vậy không công bằng.

+ Công ty Nhân Cơ là Công ty cổ phần. vậy sau này Quyền sử dụng đất “thu hồi của người dân” sẽ thuộc về ai? Cá nhân hay Nhà Nước

+Không biết cụ thể những lợi ích mà công ty đem lại là gì. chỉ biết rằng cuộc sống bị xáo trộn. môi trường sẽ bị ảnh hưởng (bụi bặm. nước rửa quặng và của nhà máy sẽ làm ô nhiễm nguồn nước; nguồn nước tưới cho sản xuất và sinh hoạt chắc chắn sẽ bị giảm vì cần nhiều nước để rửa quặng.

Nhóm nghiên cứu đã đề nghị cộng đồng bày tỏ cảm nhận của họ về tương lai khi Cụm công nghiệp hình thành và đi vào hoạt động bằng cách tự trao đổi và đưa ra nhận định của mình. Ở cộng đồng nào “Viễn cảnh tương lai” cũng được người dân thể hiện tương đối khách quan bằng hai mặt tích cực và tiêu cực. Qua kết quả thảo luận cho thấy toát lên nỗi ưu tư lo lắng trước biến động lớn của cuộc sống gia đình. Những lợi ích đem lại của Cụm công nghiệp dường như còn rất xa vời. không liên quan gì đến họ vì khi đó họ đã đi khỏi nơi này rồi.

Tâm lý chung của cộng đồng: nhận tiền đền bù rồi biết làm gì tiếp để sinh sống. không dễ một lúc mà chuyển đổi ngành nghề với người dân chuyên làm nghề nông, tuổi đã lớn,  trình độ không có. Chị Phượng thôn 1 Nghĩa Thắng tâm sự:  “Tiền đền bù là một khoản tiền lớn, có tiền rồi không biết quản lý ra sao, sợ chồng con sinh tật nhậu nhẹt tiêu xài lãng phí thì bao nhiêu công sức của cải của gia đình sẽ không cánh mà bay,  hạnh phúc thật mong manh”.

Ông Bí thư Đảng ủy xã Nhân Đạo cho biết: “Xã đã có kế hoạch xây chợ. phân lô bán. tạo điều kiện cho các hộ mất đất chuyển sang kinh doanh dịch vụ”. Thông tin này được chúng tôi chia sẻ với cộng đồng thì chị em đều nói: “đâu phải ai cũng biết kinh doanh đâu. từ xưa đến giờ họ chưa buôn bán bao giờ. bây giờ làm sợ lỗ thì chết. Hơn nữa biết bán cho ai, nghe nói có nhiều công nhân về nhưng bao giờ họ đến, họ sẽ ở đâu có thuận tiện cho việc buôn bán không? Tất cả những thông tin đó đều không có gì rõ ràng”.

Viễn cảnh tương lai khi Cụm công nghiệp hình thành và hoạt động

Tích cực Tiêu cực
+Nhà máy sẽ mọc lên sầm uất

+Giao thông đi lại thuận lợi vì có đường phục vụ cho nhà máy

+ Có thể một số người sẽ có việc làm

+Dân cư đông đúc hơn do nhiều người từ nơi khác đến

+ Người dân không còn đất sản xuất nông nghiệp

+ Lao động trên 40 tuổi không có việc làm do tuổi cao không thay đổi được ngành nghề phù hợp với khu CN

+ Thu nhập gia đình sẽ giảm sút do thiếu việc làm

+ Xã hội phức tạp vì dân số tăng đột biến. kéo theo phát sinh nhiều tệ nạn xã hội

Nguồn: Kết quả thảo luận của thôn Quảng Sơn-Nghĩa Thắng

Tích cực Tiêu cực
+ Đường giao thông sẽ được đầu tư

+ Trường học. chợ sẽ được xây dựng đẹp hơn

+ Điện thắp sáng sẽ không bị thiếu do có điện của nhà máy

+ Một số người biết buôn bán sẽ giầu lên

+ Nông dân mất đất. nguy cơ thất nghiệp rất lớn

+ Trẻ em không có tương lai do kinh tế gia đình giảm sút

+ Gia đình sẽ dễ dẫn đến mâu thuẫn. không hạnh phúc vì cuộc sống quá khó khăn

+Dân số tăng đột ngột: Thiếu đất ở. giá cả tăng cao. an ninh xã hội phức tạp

+Sức khỏe bị ảnh hưởng bởi môi trường ô nhiễm bụi bặm

Nguồn: Kết quả thảo luận của thôn 1 – Nhân Đạo

3 NHỮNG ẢNH HƯỞNG TIỀM ẨN ĐẾN VĂN HÓA. XÃ HỘI VÀ SINH KẾ CỦA CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG VÙNG DỰ ÁN KHAI THÁC BOXIT

Qua khảo sát thực tế tại huyện Đắk R’lâp, chúng tôi đã phần nào khái quát được bức tranh toàn cảnh cũng như tâm lý, thái độ nông dân tại địa bàn khai thác quặng. Mặc dù việc khai thác chưa được tiến hành, với những thông tin dân nhận được từ các phía, quá trình đo đạc kiểm kê tài sản vườn cây của tập đoàn công nghiệp khai thác khoáng sản Việt Nam đã làm thay đổi xã hội, đời sống và không gian tại các xã Nhân Cơ, Nhân Đạo và Nghĩa Thắng – nơi trực tiếp chịu ảnh hưởng bước đầu của việc khai thác, chế biến bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm. Nếu như tiến trình xây dựng Cụm Công nghiệp không thay đổi cách tiếp cận chúng tôi dự báo sẽ tiềm ẩn những ảnh hưởng đến văn hóa xã hội và sinh kế của cộng đồng dân cư trong vùng dự án.

3.1          Ảnh hưởng đến bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc tại chỗ

Văn hoá cộng đồng dân cư huyện Đắk R’Lấp từ xưa đến nay đều bị chi phối bởi yếu tố tự nhiên. Nét nổi bật nhất tạo nên đặc trưng bản sắc của văn hoá nơi đây  là văn hóa cổ truyền Mnông. Những lý do khiến văn hóa vật thể và phi vật thể Mnông bị suy giảm, đó là thực trạng rừng bị tàn phá, nguồn nước bị sụt giảm, đất đai bị thu hẹp dần và môi trường bị ô nhiễm. Tất cả những yếu tố đó đã trực tiếp ảnh hưởng đến văn hóa truyền thống Mnông tại huyện Dâk R’Lâp nói riêng và toàn tỉnh nói chung. Theo tìm hiểu bước đầu của chúng tôi và qua đánh giá của cộng đồng địa phương cho thấy, nếu quá trình khai thác, chế biến bauxit. sản xuất alumin và luyện nhôm được tiến hành, thì toàn bộ văn hóa truyền thống Mnông đã mai một và sẽ bị đặt trước nguy cơ hoàn toàn biến mất khỏi cộng đồng.

Xói mòn quan hệ tín ngưỡng dẫn đến mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên mất hoàn toàn. Tín ngưỡng của cộng đồng nơi đây luôn gắn với “không gian văn hoá rừng”, “không gian thảm thực vật”, với đất canh tác. Nếu đất đai bị khai thác phục vụ cho khu công nghiệp thì toàn bộ cộng đồng dân cư không còn đất canh tác. Đặc biệt các cộng đồng phải di dời, tái định cư, hoặc tự chuyển chỗ ở đến vùng khác – vùng không phải là nơi sinh sống truyền thống của họ. Việc này đồng nghĩa với việc con người mất đi mối tương tác với thiên nhiên. Khi mối quan hệ liên kết mất thì ý thức về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đã có từ trước cũng sẽ bị mất theo.

Mất không gian truyền thống, người Tây Nguyên nói chung và người Mnông tại Đâk R’Lâp dường như đang đứng trước sự chông chênh, khó bền vững. Theo Nguyên Ngọc “cú sốc lớn nhất đối với Tây Nguyên là làn sóng di dân tự do”. Có lẽ cú sốc tiếp theo sẽ là sự thay đổi địa bàn cư trú, nếu chúng ta không có những phương án  Tái định canh, định cư bền vững nhằm đảm bảo sinh kế và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của dân cư tại địa phương trước khai thác mỏ quặng, sẽ còn có những tác hại lớn hơn không lường trước được.

Anh Điểu Sroong bon Bu Zấp tâm sự:

Bon mình trước đây chiến tranh phải dời đi chỗ khác. Năm 1976 Già làng phải lên tận Buôn Ma Thuột gặp Y Ngông “Bí thư tỉnh ủy thời bấy giờ” xin về lại đất ông bà xưa để lại, từ đó mới được về lại nơi đây. Bây giờ không ai muốn di dời đi đâu nữa.

Anh em người Kinh vào đây định cư 10-15 năm rồi. ai cũng có hộ khẩu, có đất, có nhà, nhưng cứ đến Tết họ lại xách đồ ra đón xe về quê. Hiện nay “thần đất. thần  rừng đã đi mất” vì thần linh không còn nơi để trú ngụ, “nếu đưa người Mnông dời bon đi nơi khác ở thì làm gì còn gốc gác nữa. Đến tết, người Kinh vác balô về quê còn người Mnông sẽ đi về đâu?”, đồng bào mình cũng phải có quê chứ, quê mình ở nơi đây, mình không đi đâu nữa. Con cháu mình đi học đi làm trên tỉnh. huyện hay ở TP.Hồ Chí Minh cũng phải có quê để về ngày Tết chứ.

Không chỉ mình anh mà tất cả những người đại diện cho bon đều cho rằng “kiên quyết bám bon. giữ bon vì bon là nguồn cội là gốc gác của tổ tiên. đó là tài sản của tổ tiên trao tặng”. Lời nói của anh khiến chúng ta phần nào cảm nhận được nỗi day dứt. lo âu của họ.

Bon Bu Zấp ngày 16.7.2008

Không gian văn hóa truyền thống có xu hướng bị biến đổi đột ngột: Khu công nghiệp làm thay đổi toàn cục không gian sinh thái và văn hóa. Văn hóa truyền thống gắn với khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên không thể tồn tại và phát triển trong một môi trường đô thị, công nghiệp, nhà máy… (môi trường tồn tại và phát triển văn hóa truyền thống đang từng ngày từng giờ biến mất). Không gian sinh hoạt cộng đồng (khu mộ địa. rừng thiêng. bến nước) và khu đất sản xuất bị thu hẹp dễ dàng làm mất không gian sinh tồn và phát triển văn hóa truyền thống. ý thức cội nguồn dễ mờ nhạt…

Chuyện Hồ Cá Trê

Tại Bon Bu Zấp. khi chúng tôi gợi hỏi về Ngày lễ bắt cá truyền thống ở hồ Cá Trê thì mỗi thành viên của cộng đồng dường như đều hoạt bát hẳn lên. người thì kể về cảnh bắt cá vui nhộn ra sao. người thì cướp lời nói về bước chuẩn bị trước khi xuống hồ bắt cá. rồi các món ăn được chế biến từ cá đa dạng thế nào.

Trước đây. hàng năm vào mùa khô người Mnông tại Bon Bu Za Rấp thường diễn ra một loại hình sinh hoạt văn hoá cộng  đồng tại hồ Cá Trê  cách bon không xa. Trong không gian ấy một số người thì  thi nhau bắt cá. người diễn tấu cồng chiêng. người hát dân ca. biểu diễn dân vũ… tất cả hợp thành không gian lễ hội. Đấy không chỉ là dịp để bà con “được bắt cá tập thể” mà còn là dịp giao lưu. gặp gỡ và cộng cảm trong mùa thu hoạch cá.

Bỗng nhiên một người nói: tiếc là con cháu mình sau này chẳng bao giờ còn được thấy những cảnh đó nữa. Không khí như chùng xuống. Mặc dù đã cúng Yang xin phép đồng ý cho công ty cổ phần Nhân Cơ san lấp hồ Cá Trê huyền thoại. nhưng mỗi thành viên của cộng đồng Bon Bu Zấp đều vẫn còn đầy ưu tư.

Bon Bu Zấp ngày 16.7.2008

Khi cụm Công nghiệp Nhân Cơ hình thành và đi vào hoạt động, cường độ giao thoa giữa các luồng văn hóa nhanh chóng, sôi động sẽ trở thành sức ép một chiều. Khó khăn “khi sàng lọc” và tiếp nhận giữa văn hóa của các tộc người bản địa và tộc người từ các nơi đổ về. Hiện nay, chúng ta chỉ còn nhận biết tộc người bản địa ở màu da, tiếng nói, chứ không phải qua văn hóa vật thể mô hình cấu trúc làng truyền thống nữa. Điều này chứng tỏ áp lực của quá trình giao lưu, cộng cư giữa các thành phần dân tộc diễn ra mạnh mẽ, trong khi đó “nội lực” từ phía tộc người bản địa thể hiện rất yếu ớt, dễ nhiễu loạn giữa văn hóa tộc người này với tộc người khác.

Sự đan xen, cộng cư giữa cư dân mới và cư dân cũ dễ tạo sự giao thoa tiếp biến theo chiều hướng mờ dần đi bản sắc văn hóa truyền thống. Điều ấy còn chưa tính đến sự thiếu hiểu biết văn hóa về văn hóa bản địa của nhóm người từ khắp nơi đến tham gia khai thác quặng, sẽ nảy sinh những mâu thuẫn, khó tránh khỏi  va chạm. Chúng ta đang lựa chọn con đường cho các dân tộc hoà nhập nhưng không hoà tan. Trong tương lai gần khi nhà máy bắt đầu hoạt động, liệu cộng đồng dân cư nơi ảnh hưởng có tránh khỏi sự hoà tan!

Môi trường sinh hoạt truyền thống thay đổi, thêm vào đó sự thay đổi đột ngột về cơ cấu kinh tế, xã hội, áp lực từ các khu công nghiệp dễ tạo ra sự chán nản đối với nông dân đứng ngoài cuộc khu chế xuất. Nhịp sống kinh tế của người dân địa phương theo đuổi không kịp guồng quay của khu công nghiệp trong thời gian dài sẽ khiến cho dễ tạo ra tâm lý chán nản, tâm thế chủ thể văn hóa bị hụt hẫn, không ổn định. tạo sự lo lắng, bất an. Khi kinh tế bấp bênh, không ổn định thì nội lực văn hóa cũng dễ bị triệt tiêu.

Cái cũ tại địa phương sẽ mất đi cái mới chưa kịp hình thành, tạo nên sự hẫng hụt trong đời sống văn hóa và kéo theo đời sống văn hóa suy kiệt và trở nên nghèo nàn. Bản sắc văn hoá địa phương sẽ mất đi nhanh chóng, thậm chí ngộ nhận dẫn đến chủ nhân văn hóa cũng sẽ quay lưng chối bỏ cội nguồn văn hóa dân tộc. Tất cả chuẩn mực đạo đức, ứng xử cộng đồng dễ bị chuẩn lệch, đảo lộn và nhiễu loạn. Ngô Đức Thịnh gọi sự hỗn loạn văn hóa cũ và văn hóa mới là quá trình làm đứt gãy giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại giữa các tộc người.  Điều này cảnh báo sự bất an về kinh tế – xã hội tại nơi khai thác, sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến toàn diện văn hóa – xã hội, kể cả an ninh chính trị không chỉ địa bàn khai thác mà cả diện rộng của Tây Nguyên.

Theo Ngô Đức Thịnh, tỉnh Đăk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung, khung cảnh bon làng truyền thống có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, duy trì và phát triển của văn hóa dân tộc tại địa phương. Nếu va chạm, biến động, thậm chí không gian của nó biến đổi thì tính năng của bon làng truyền thống bị suy giảm. thậm chí bị triệt tiêu. Khi vai trò. vị trí của nó không còn cũng đồng nghĩa với việc toàn bộ kinh tế, xã hội và văn hóa của người Mnông tại xã Nhân Cơ nói riêng và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên trong vùng dự án nói chung bị phá hủy.

Văn hoá vật thể, phi vật thể có nguy cơ mai một, lãng quên văn hóa truyền thống: tiếng nói, trang phục, nghi lễ truyền thống, luật tục, phong tục tập quán mờ dần, không đủ điều kiện tồn tại, phát triển… xuất hiện sự pha tạp, lai căng giữa các thành phần. nội – ngoại. Ngay cả những người miền xuôi ngụ cư tại đây cũng đã và đang tồn tại hiện  tượng mai một, thậm chí triệt tiêu bản sắc văn hóa vùng miền gốc, kể cả các dân tộc phía Bắc di cư vốn đậm nét văn hóa riêng.

3.2          Ảnh hưởng đến đời sống xã hội

Đời sống văn hoá – xã hội của cộng đồng dân cư tại địa phương đang trong thời kỳ thực hiện chủ trương của Đảng & Nhà nước là “bảo tồn, khôi phục lại vốn văn hoá cổ truyền ” trước nguy cơ mai một. Có thể nói các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong những năm gần đây đã làm sống dậy ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá. Ở các địa phương trong đó cả huyện Đak R’Lấp có phong trào “bon văn hoá”. “thôn văn hoá”. các phong trào văn nghệ quần chúng giữa các thôn bon. giữa các dân tộc…bước đầu đã có khởi sắc. tạo được không khí hân hoan trong cộng đồng.  Chính sách “giao đất giao rừng” cho người địa phương đã cho thấy sự đúng đắn của việc “tôn tạo lại không gian văn hoá – xã hội” với “văn hoá rừng”. “văn hoá thảm thực vật”…Cộng đồng dân cư nơi này, đặc biệt là người Mnông đã mơ đến một viễn cảnh tương lai tươi sáng cho tộc người mình. Niềm vui của họ chưa thành thì nỗi lo lại đến từ việc nghe loáng thoáng thông tin về hình thành cụm Công nghiệp khai khoáng Alumin.

Cơ hội được tạo thêm ngành nghề cho người lao động hay mất đất sản xuất và thất nghiệp, nghèo đói lại trở về?

Lãnh đạo các cấp của tỉnh Đắc Nông (từ tỉnh, huyện, đến cấp xã) và cả người dân vẫn rất hy vọng vào tương lai tươi sáng: Kinh tế của tỉnh nhà sẽ tăng trưởng cao. đẩy mạnh quá trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, lao động địa phương sẽ được tạo công ăn việc làm, như Báo QĐND ngày 20.8.2008 đã đưa tin “Dự án sẽ tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động; để sản xuất 1 triệu tấn alumin cần tới hơn 6.700 lao động: 2.700 lao động trực tiếp và hơn 4.000 lao động gián tiếp”.

Thực trạng của tình hình tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương như cam kết “bằng lời” của lãnh đạo công ty cổ phần Nhân Cơ đang diễn ra thế nào?

Điều kiện tuyển chọn lao động của công ty như sau: Đối tượng tuyển chọn là học sinh trên vùng địa bàn. Con em dân tộc tại chỗ và các gia đình chịu ảnh hưởng trực tiếp sẽ được ưu tiên tuyển chọn đào tạo làm công nhân kỹ thuật tại thị xã Gia Nghĩa. Người kinh: tốt nghiệp lớp 12 loại khá; Dân tộc: tốt nghiệp lớp 9. Công ty cho biết hiện nay đang đào tạo đợt I: 300 em (huyện Đắk Lấp: 200 em) năm 2010 sẽ tốt nghiệp đi làm. kinh phí đào tạo gia đình tự bỏ ra.

Theo kết quả tìm hiểu của chúng tôi tại các điểm nghiên cứu: người dân không biết nhiều lắm về thông tin tuyển chọn đào tạo nghề này. cụ thể chỉ biết có một vài em được đi học và cũng đã có người bỏ về. Ngay tại xã Nhân Đạo và Nghĩa Thắng các cán bộ xã chúng tôi đã gặp cũng không nắm rõ danh sách cũng như số lượng người đã được tuyển đi học công nhân. Với 12 bon làng Mnông ở huyện Đắk Rlâp. số người đủ trình độ lớp 9 để làm công nhân chỉ đếm trên đầu ngón tay. con số có trình độ hết lớp 12 lại càng khiêm tốn. Tại thôn Quãng Sơn xã Nghĩa Thắng chúng tôi được biết có 05 em được chọn đi học để làm công nhân thì cả 05 em đều bỏ về vì không phù hợp…

Đại diện Công ty cổ phần Alumin cho biết: Tháng 9 khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ tập trung một khối lượng lớn lao động bao gồm kỹ sư và công nhân khoảng 3000 người (Bao gồm các chuyên gia nước ngoài từ Mỹ, Trung Quốc và lao động từ ngoài Bắc vào)

Tuy nhiên, qua tổng hợp số liệu lao động của Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ lại cho thấy nhu cầu lao động cho các nhà máy và công ty không nhiều như các tin đã đưa. Tổng số lao động cần là 447 người. đã tuyển chọn 230 người. Trình độ lao động chắc chắn là rất cao, vậy những người nông dân mất đất sẽ được tuyển chọn vào đâu? (nếu có)

Bảng 7: Tổng hợp lao động

STT Đơn vị Cán bộ quản lý Lao động trực tiếp

(Có chuyên môn )

Cộng
1 Công ty 58 96 154
2 Nhà máy tuyển quặng 3 38 41
3 Nhà máy luyện alumin 7 245 252
Tổng cộng 68 379 447
Đang đào tạo ở TQ (Con em trong CT) 30 Đã có (Từ Công Ty đưa vào) 200

Nguồn: Dự án Đầu tư xây dựng khu công nghiệp khai thác và luyện alumin (Trang 159-162)

Triển khai Dự án “Hàng nghìn tỷ” liên quan đến hàng chục ngàn người lao động. thế nhưng công ty chưa chú trọng cùng với chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho người lao động tại chỗ. Chưa có một đánh giá nghiêm túc về nguồn nhân lực hiện nay ở địa phương (số lượng, trình độ và độ tuổi), khả năng đáp ứng cho Dự án được đến đâu? Giải pháp nào cần thực hiện để đáp ứng được nhu cầu lao động của Dự án và tạo được công ăn việc làm cho người dân ở địa phương? Tất cả những vấn đề này chưa được bàn bạc một cách cụ thể. Thông tin về nhu cầu lao động rất nhiễu loạn, gây hiểu lầm không đáng có.

3.3          Ảnh hưởng đến sinh kế

Việc xây dựng cụm công nghiệp đã và sẽ mang đến nhiều xáo trộn về đời sống và khó khăn trong sinh kế của những hộ dân chịu tác động trực tiếp cho đến thời điểm này. Những khó khăn được cộng đồng thể hiện như dưới đây:

§         Tiêu chuẩn đánh giá vườn cây và tài sản không được thông báo và giải thích rõ ràng

§         Không được biết về Kế hoạch đền bù giải tỏa: Tiến độ. thời gian. phân loại tài sản.

§         Giá đất đai ngày càng cao. quỹ đất ở đâu để đầu tư phát triển sản xuất?

§         Rất lúng túng trong việc chuyển đổi ngành nghề để kiếm sống

§         Không biết quản lý và hạch toán sản xuất. nguy cơ mất vốn “Tiền được nhận đền bù” là rất lớn.

Đặc biệt đối với cộng đồng dân tộc Mnông sự ảnh hưởng tưởng chừng như không có, nhưng thật ra vẫn đang tiềm ẩn rất nhiều vấn đề. Sự phát triển nhanh chóng. vượt bậc của sản xuất công nghiệp sẽ tạo thế ngược lại đối với văn hóa tại đây. Trong quá trình khai khoáng hoặc trong quá trình tái định cư rất dễ dẫn đến gia tăng khoảng cách giàu nghèo, phá vỡ cấu trúc xã hội. Sự đụng độ, va chạm mạnh giữa văn hóa nông nghiệp và văn hóa công nghiệp tạo ra sự hôn phối nhiễu loạn, mờ bản sắc, dẫn đến thay đổi giá trị văn hóa truyền thống.

Ngày nay, mô hình đại gia đình gồm ông bà, cha mẹ, con cái chưa lập gia đình, được thay thế bằng mô hình tiểu gia đình. (Bây giờ khi con cái  lập gia đình cha mẹ thường cho ra ở riêng và cho đất canh tác, sản xuất riêng ). Tuy nhiên, quỹ đất hiện nay rất hạn hẹp, chỉ trông chờ từ mảnh đất canh tác bé nhỏ ấy người dân Mnông không đủ trang trải cho cuộc sống. Nguyên nhân này kéo theo sự thiếu thốn. nghèo đói diễn ra khá thường xuyên. Cụ thể, người Mnông ở Bon Bu Dâp và Bon Bu Zarâp thường phải vay mượn lương thực trước khi thu hoạch. Vòng luẩn quẩn cứ bám riết lấy bà con, khiến cuộc sống nơi đây bấp bênh thoát nghèo rồi lại tái nghèo. Không gian sinh hoạt thay đổi kéo theo chuẩn mực đạo đức, ứng xử cộng đồng, ứng xử cá nhân, ứng xử gia đình sẽ bị ảnh hưởng từ những mặt trái của xã hội.

Cho đến hôm nay số hộ đồng bào Mnông bị mất đất sản xuất vì Cụm công nghiệp chưa phải là nhiều, nhưng thật ra chưa có Cụm công nghiệp họ đã thiếu đất sản xuất rồi. Bon Bu Zấp cho biết bà con phải đi canh tác rất xa, xã Trường Xuân huyện Đắc Song. Thế nhưng hiện nay canh tác như vậy được gọi là “trái phép” và diện tích này đã “được” công ty thu hồi để trồng ca cao. Nếu đất đai canh tác không còn, thu nhập cứ bấp bênh không ổn định, không gian sinh hoạt cộng đồng không tồn tại người dân địa phương sẽ khó có thể giữ được “ bản sắc văn hoá” của họ.

4                     TÂM TƯ NGUYỆN VỌNG CỦA CỘNG ĐỒNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

5                     Tâm tư, nguyện vọng của các cộng đồng dân cư

Các hộ dân chịu tác động trực tiếp cũng như cộng đồng dân cư chịu ảnh hưởng gián tiếp đều có chung các tâm tư nguyện vọng như sau:

  • Lo lắng về điều kiện sống. sức khỏe và môi trường trong tương lai có được đảm bảo hay không?
  • Nhu cầu lao động của công ty với chất lượng cao như vậy thì làm thế nào để con em mình được tiếp nhận vào cụm công nghiệp, ổn định kinh tế gia đình?
  • Mong muốn cho con em được tạo công ăn việc làm tại khu công nghiệp.
  • Khi cụm công nghiệp đi vào hoạt động, lao động được đưa từ nơi khác đến rất đông liệu có ảnh hưởng gì đến tình hình an ninh xã hội không?
  • Khai thác Bauxit và luyện Alumin cần rất nhiều nước vậy có ảnh hưởng gì đến nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp hay không?
  • Nguồn nước thải của nhà máy có làm ô nhiễm đất và nước trong vùng hay không?
  • Quặng được vận chuyển từ nơi khai thác đến nhà máy tuyển quặng có làm không khí ô nhiễm vì bụi không?

Đối với các hộ chịu ảnh hưởng trực tiếp còn có thêm như nỗi lo như:

  • Giá đất đai ngày càng cao. quỹ đất ở đâu để đầu tư phát triển sản xuất?
  • Khi mâu thuẫn giữa công ty và hộ dân phát sinh cơ quan nào sẽ là người giúp đỡ tháo gỡ, hòa giải?
  • Đất tái định cư ở đâu? Có thuận lợi cho việc sản xuất nuôi sống gia đình hay không? Đất tái định cư có đắt không?

Người dân cũng đưa ra các đề nghị sau

  • Các cấp chính quyền và công ty cần có phương án cụ thể về đào tạo nguồn nhân lực để con em trong vùng dự án có cơ hội được tạo việc làm trong cụm công nghiệp.
  • Đề nghị đảm bảo an toàn cho môi trường sống: Đất, nước, không khí.
  • Cộng đồng đồng bào Mnông đề nghị không di dời bon làng đi nơi khác
  • Người dân cần được cung cấp đầy đủ mọi thông tin liên quan đến Phát triển cụm công nghiệp.
  • Đề nghị các cấp chính quyền cũng như công ty bố trí thời gian tiếp xúc, lắng nghe tâm tư nguyện vọng và giải quyết những bức xúc của người dân một cách thường kỳ.
  • Các hộ chịu tác động trực tiếp phải được biết cụ thể về kế hoạch đền bù giải tỏa: Phương pháp đánh giá tài sản và phân loại vườn cây; tiến độ kiểm kê và giải ngân đền bù; Kết quả đánh giá tài sản cần được thảo luận giữa các bên liên quan.
  • Cần có bản cam kết về trách nhiệm của cả hai bên là công ty và người dân về quá trình thực hiện. Trong thực tế chỉ có người dân bị cưỡng chế, hay bị phạt. còn công ty đền bù chậm không phải chịu trách nhiệm gì.
  • Nếu đất thổ cư tái định cư phải mua thì đề nghị có chính sách hỗ trợ cụ thể như trả chậm, cho vay tín dụng.
  • Đề nghị bố trí quỹ đất sản xuất cho các hộ chịu tác động trực tiếp (tối thiểu 1 ha/hộ)
  • Đề nghị tạo điều kiện trong việc xác nhận giấy tờ khi di chuyển hộ khẩu.

5.1          Một số kiến nghị

Để giảm thiểu tác động tiêu cực do khai thác và chế biến quặng Bauxit tại Đăk Nông và ngành công nghiệp Bauxit phát triển bền vững nhóm nghiên cứu xin có một số kiến nghị như sau:

5.1.1          Kiến nghị đối với chính quyền các cấp

  • Làm tốt hơn nữa công tác giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức, cũng như phổ biến chủ trương chính sách của Nhà nước đến cho người dân.
  • Hoàn thiện ngay Phương án tái định cư với sự tham gia góp ý kiến của các bên có liên quan (bao gồm cả cộng đồng và doanh nghiệp)
  • Cần phối hợp với doanh nghiệp đưa ra cam kết cụ thể về mặt trách nhiệm: đào tạo và tuyển chọn nhân công là người tại địa phương không phân biệt thành phần, dân tộc (đặc biệt chú ý tới các hộ bị ảnh hưởng trực tiếp)
  • Đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong việc động viên tinh thần. chia sẻ khó khăn với những hộ chịu tác động trực tiếp.
  • Có các hoạt động cụ thể hỗ trợ người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp như đào tạo nghề cho các lứa tuổi khác nhau; Cố gắng tạo điều kiện đất sản xuất cho người dân. Hướng dẫn người dân trong quá trình chuyển đổi ngành nghề từ sản xuất nông nghiệp sang ngành nghề khác; Có chính sách cho vay vốn chuyển đổi ngành nghề.
  • Tổ chức định kỳ tiếp xúc với cộng đồng để lắng nghe tâm tư nguyện vọng cũng như giải thích các chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ.
  • Tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động bảo tồn văn hóa truyền thống: như lễ hội dân gian, ngành nghề truyền thống, truyền dạy cồng chiêng, hát dân ca, sử thi…
  • Chính quyền cấp huyện, xã và các tổ chức đoàn thể cần thường xuyên tổ chức tuyên truyền nâng cao hiểu biết cho người dân cũng như đón nhận thông tin phản hồi của dân, tránh gây hoang mang trong dân chúng chỉ vì thiếu thông tin hoặc thông tin chỉ đi một chiều.

5.1.2          Kiến nghị đối với công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ

  • Cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của công ty dựa trên nguồn lực lao động tại chỗ.
  • Cùng với chính quyền sở tại đầu tư vào các hoạt động truyền thông nâng cao hiểu biết của cộng đồng về các hoạt động của công ty cũng như chiến lược phát triển của ngành công nghiệm khai thác Bauxit và luyện Alumin.
  • Cần tiến hành nâng cao nhận thức của toàn đội ngũ công ty về “Văn hóa, phong tục tập quán, tâm lý các dân tộc tại chỗ” tránh những hiểu lầm mâu thuẫn không đáng có sau này.
  • Dự án khai thác Bauxit và luyện Alumin ảnh hưởng rất lớn đến phát triển bền vững kinh tế xã hội và môi trường, chính vì thế cần phải có phương pháp tiếp cận phù hợp. Cụ thể đối với các hoạt động đền bù, giải tỏa cần được xây dựng phương án có sự tham gia của nhiều bên liên quan. Lưu ý cập nhật các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các Bộ ngành cho kịp thời.
  • Công ty cần có những cam kết cụ thể mang tính pháp lý về đảm bảo an sinh, bảo vệ môi trường.
  • Các hoạt động hỗ trợ cộng đồng cần cụ thể hơn, không mang tính phong trào và hình thức (đặc biệt đối với cộng đồng dân tộc tại chỗ cần chú ý đặc thù văn hóa dân tộc)
  • Cần có các cuộc tiếp xúc lắng nghe ý kiến tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của lãnh đạo các cấp và người dân.

5.1.3          Một số nghiên cứu liên quan đến dự án cần tiếp tục

  • Nghiên cứu Phát triển nguồn nhân lực địa phương phục vụ cho nhu cầu phát triền ngành công nghiệp khai thác Bauxit và luyện Alumin ở tỉnh Đắc Nông.
  • Xây dựng Phương án Hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề sau đền bù giải tỏa phát triển công nghiệp khai thác Bauxit và luyện Alumin ở tỉnh Đắc Nông.
  • Xây dựng mô hình thử nghiệm “Phương án Tái định cư bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa có sự tham gia của các bên liên quan”.
  • Nghiên cứu sâu về những ảnh hưởng văn hóa-xã hội dân tộc thiểu số trong các vùng dự án phát triển công nghiệp khai thác Bauxit và luyện Alumin ở tỉnh Đắc Nông.
  • Nghiên cứu về thực trạng và giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong các vùng dự án phát triển công nghiệp khai thác Bauxit và luyện Alumin ở tỉnh Đắc Nông.

[1] TS Trần Trung Dũng – Phòng NCKH – Quan hệ Quốc tế Trường Đại học Tây Nguyên, TS. Tuyết Nhung Buôn Krông – Trung tâm KHXH & NV Tây Nguyên, Trường Đại học Tây Nguyên; TS. Tuyết Hoa Niêkdăm – Khoa Kinh tế, Trường Đại học Tây Nguyên; Th.S Văn Ngọc Sáng – Khoa Sư phạm, Trường Đại học Tây Nguyên; NNC VH Linh Nga Niêkdăm

Kết hợp giữa chính sách dân tộc & bảo vệ môi trường, thiên nhiên

Mùa xuân này, được nghỉ dài ngày, nhiều bạn chọn Tây Nguyên làm điểm đến ( Có bạn còn nói ” tại lời mời gọi trên mạng của LN nữa đấy”). Nhưng rồi cũng nhiều bạn thất vọng than thở với tôi về việc những thác nước cạn khô tại các điểm du lịch sinh thái.Vâng! Quả thật tôi cũng sốc khi chỉ cách vài tháng trước, đoàn làm phim của Đài TH TP HCM còn thật sự ” kính nể” vẻ đẹp hùng tráng của ngọn thác Drei Nu, thì bây giờ …chỉ còn là những bờ đá cao câm lặng. Tôi chưa có dịp kiểm chứng đó là ” thói thường” của mùa khô cao nguyên? hay kết quả của hàng chục công trình thủy điện trên những dòng sông cao nguyên? Nhưng xuân này, đọc lại những kiến nghị của ba tôi với Quốc hội từ hơn 20 năm trước, về vấn đề rừng và nước ở miền núi, vẫn thấy sự cảnh báo của ông còn nguyên tính thời sự… Thương cho thiên nhiên TN mỗi ngày một thêm kiệt quệ , càng thêm thương cho tấm lòng người thí thức dân tộc lão thành… Mời các bạn đọc và kiểm chứng lại ý kiến ông.

Miền núi & trung du chiếm đại bộ phận đất tự nhiên của nước ta, là căn cứ của cách mạng, là địa bàn chiến lược quan trọng của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, là quê hương của các dân tộc anh em. Nhưng lại là những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nhất, nên việc thực hiện các chính sách dân tộc phải thể hiện trong sự đầu tư thích đáng, để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, tạo điều kiện phát huy hết tiềm năng của miền núi cao nguyên, đó là rừng. Câu nói “Rừng vàng biển bạc” đã có từ ngàn xưa. Trong quá trình phát triển, phải dựa vào thế mạnh của miền núi cao nguyên, đó là vựa cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thuốc, các giống vật nuôi phong phú,và các đặc sản khác của rừng, để làm giàu cho miền núi và cao nguyên, cũng là để làm giàu cho toàn bộ đất nước.

Vì nếu kinh tế miền núi và cao nguyên phát triển, sẽ tạo ra được nền kinh tế hàng hóa nhằm thoả mãn sự giao lưu giữa miền ngược và miền xuôi. Miền núi và cao nguyên sẽ có đủ gạo của đồng bằng, trong khi đồng bằng sẽ có đủ các sản phẩm của rừng.

Miền núi & trung du còn là quê hương của các nhà máy thuỷ điện, đang giữ vai trò then chốt của công nghiệp điện nước ta. Vì vậy tài nguyên thiên nhiên ở đây là tài nguyên chiến lược, không chỉ của riêng vùng, mà còn chi phối khắp mọi miền đất nước. Nên việc xử dụng phải hết sức thận trọng và cần được cân nhhắc kỹ theo ý nghĩa chiến lược của nó.

Về quan điểm, bảo vệ thiên nhiên, môi trường các tỉnh miền núi & trung du chứa đựng nhiều tiềm năng quyết định, trong việc bảo vệ và duy trì sự cân bằng sinh thái của toàn bộ đất nước, mà chủ yếu là các hệ thảm thực vật rừng, nhất là các hệ thống rừng đầu nguồn. Vòng luân chuyển thiên nhiên hùng vĩ này được tạo lập theo quy luật của chính nó. Miền núi & cao nguyên là vùng thu gom quy tụ nước tự nhiên, làm nên những bể chứa nước ngọt khổng lồ,nguồn sống của mọi sinh vật. Đó cũng là trạm điều tiết nước cho hàng ngàn khe suối và hàng trăm con sông lớn, nhỏ đưa nước về xuôi.

Chúng ta đã biết rằng, nếu hệ thống rừng đầu nguồn không được bảo vệ, thì các cơn lũ sẽ xảy ra liên tục sau những trận mưa nguồn, làm cho các vùng phụ cận và các tỉnh đồng bằng chịu hậu quả đến mức nào. Bài học thực tiễn này đã được chứng minh trong những năm gần đây ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, miền trung du, và đồng bằng sông Cửu Long, do rừng ở Tây bắc & Tây Nguyên bị tàn phá nghiêm trọng. Nếu Tây Nguyên là mái nhà chung của các tỉnh đồng bằng miền Trung và Nam Bộ, thì Tây bắc là mái nhà chung của các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Những mái nhà này cần phải được bảo vệ hết sức nghiêm ngặt, Khi rừng đã tàn phá, sau những cơn mưa nguồn, đất ở các tỉnh miền núi và cao nguyên sẽ bị xói mòn và nước thì không được rừng giữ lại nữa. Cả hai tài nguyên quyết định sự sống của con người và mọi sinh vật là đất & nước, thì cả hai đều không còn.Điều đó nói lên tính tất yếu của việc phải bảo vệ thiên nhiên & môi trường, phải gìn giữ sự cân bằng sinh thái của thiên nhiên. Con người không thể đảo ngược quy luật khắc nghiệt của tạo hoá.

Khi nói đến việc thực hiện chính sách dân tộc và nói đến đầu tư để phát triển bền vững các vùng dân tộc và miền núi, cùng đồng nghĩa với việc đầu tư để bảo vệ thiên nhiên & môi trường. Đây là sự đầu tư để mang lại lợi ích cho toàn bộ đất nước. Trong đó, đầu tư cho phát triển rừng là chủ yếu, đầu tư để giữ bằng được hệ thống rừng đầu nguồn. Vì rừng là lợi ích sống còn của cả nước trong sự duy trì cân bằng môi sinh. Phải có chính sách khuyến khích để rừng càng phát triển thì lợi ích của nhân dân ở miền núi càng cao. Phải có hướng đầu tư mạnh về công nghiệp, chăn nuôi… vào những vùng thích hợp để tạo ra nguồn thu nhập chính cho dân, để dân không phải phá rừng mà vẫn ấm no. Do đó, việc thực hiện chính sách dân tộc không thể tách rời việc bảo vệ môi trường sinh thái. Phải làm thế nào để hai nhiệm vụ nói trên gắn bó mật thiết với nhau, bổ xung cho nhau, tác động hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau để cùng tồn tại, vận động và phát triển.

Việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng thực chất là đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, bằng những việc làm cụ thể của Nhà nước, như các chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc 327, chương trình định canh định cư… hiện đang làm và bước đầu có hiệu quả. Việc thực hiện các chính sách dân tộc là biến đổi đường lối đổi mới của Đảng, vào các mục tiêu của sự phát triển kinh tế bền vững ở các tỉnh miền núi & cao nguyên. Là làm thế nào để đưa đời sống của miền núi tiến kịp miền xuôi, là làm thế nào phục hồi màu xanh cho miền núi và cao nguyên.

Chúng tôi tin chắc rằng, sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và sự nghiệp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên- môi trường của các tỉnh miền núi & cao nguyên, sẽ được thực hiện, bằng các chương trình đầu tư theo quy mô lớn của quốc gia, theo quy mô vừa của địa phương và theo quy mô nhỏ của kinh tế hộ gia đình. Chúng tôi cũng tin chắc rằng các mô hình về phát triển lâm-nông nghiệp, mô hình về rừng-vườn-chuồng, rừng-vườn-ao-chuồng… sẽ được triển khai khắp mọi nơi. Các mô hình về làng sinh thái sẽ xuất hiện ở các tỉnh miền núi và vùng cao nguyên , trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Các buôn làng, thị trấn, các thành phố sinh thái cũng sẽ được hình thành trên bất cứ vùng miền núi và cao nguyên nào. Vì vấn đề này chứa đựng tính hiện thực, tính khách quan trong sự nghiệp đổi mới của Đảng & Nhà nước ta. Trong thực tiễn, muốn xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số, việc đầu tiên là phải giao đất khoán rừng cho nhân dân. Phải làm cho quyền lợi của dồng bào dân tộc thiểu số gắn bó với rừng và mãi mãi gắn bó với rừng.

Chúng tôi kiến nghị Quốc hội ra nghị quyết tạo điều kiện cho nhà nước ban hành được các chính sách cần thiết, để thực hiện cho bằng được những vấn đề này. Đây là điều kiện quan trọng cho sự phát triển của đồng bào dân tộc, sự sống còn của đất nước. Thông qua luật, các dân tộc thực hiện nghiêm chỉnh các Luật về bảo vệ môi trường, Luật bảo vệ rừng, hướng nhân dân vào việc sống và làm việc theo Hiến pháp & pháp luật

Chúng tôi kiến nghị với Nhà nước sớm xây dựng các chương trình về phát triển kinh tế -xã hội bền vững, đầu tư các chương trình về bảo vệ thiên nhiên & môi trường cho các tỉnh miền núi & vùng cao. Để đủ cán bộ khoa học là người các dân tộc thiểu số, trực tiếp phục vụ công cuộc đổi mới của các vùng dân tộc, cần thành lập thêm các trường đại học Tây bắc, đầu tư nâng cấp các trường đại học Bắc Thái & Tây Nguyên, củng cố các Trung tâm nghiên cứu khoa học và các trường dân tộc nội trú của các tỉnh miền núi & cao nguyên.

Linh Nga Niê Kdăm

Câu chuyện cuối năm: Bảo tồn và phát huy thủ công nghiệp

Câu chuyện cuối năm

Cuối năm, tất bật với việc chuẩn bị cho hai đêm khai mạc & bế mạc Tuần văn hóa du lịch Đak Lăk và nghiệm thu các đề tài nghiên cứu, đến nỗi không còn thời gian kể với bạn bè những chuyện buồn vui hàng ngày. Hôm nay mới tạm gọi là ôn ổn công việc.

Sáng đi chợ sớm, gặp một chị cầm rao bán mỗi một chiếc sảo tre, bảo “ Từ sáng đến giờ chưa ai hỏi mua”. Lại chạnh nhớ tới điều các nghệ nhân đan mây tre người Mnông, Châu Mạ, Êđê ở Đăk Glong & Krông Nô ( Đăk Nông ) tâm sự khi chúng tôi đi thực hiện khảo sát , lẫn hội thảo về nghề truyền thống,rằng “ làm cho đỡ nhớ nghề thôi, chứ bán có được đâu”. Quả có thế, làm sao những rổ rá bằng tre, dẫu tay nghề có cao đến đâu, cũng mất vài ngày mới đan xong một chiếc, có thể cạnh tranh nổi với rổ rá bằng nhựa sản xuất công nghiệp hàng trăm chiếc một lúc, giá rẻ rề chứ? Bà con đều nhất trí rằng nên chuyển sang làm hàng mây tre mỹ nghệ là điều phù hợp nhất, nhưng muốn có người hướng dẫn , sao cho có những mẫu mã đẹp hơn, phù hợp với một địa phương giàu tiềm năng du lịch như Đăk Nông, rồi có nơi giúp thu mua…Đơn giản vậy mà e không dễ, vì những người có trách nhiệm ở địa phương thì lại trả lời rằng “ chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ vốn, nếu có người của bà con đứng ra làm việc này”.

Thật … “tội nghiệp” cho tư duy của nền sản xuất tự cung tự cấp, chuyển đổi không kịp theo đời sống kinh tế thị trường. Cần lắm một biện pháp hỗ trợ nào đó để bà con có thể có thêm thu nhập từ những nghề phụ vốn có truyền thống từ ngàn xưa…Lại chạnh nhớ nữa, năm ngoái khi thực hiện đề tài “ Nghề thủ công truyền thống Tây Nguyên” của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, tôi đến nhà nghệ nhân Mlốp, người dân tộc Bâhnar ở thị trấn Đăk Đoa ( tỉnh Gia Lai), ngoài trang phục truyền thống, chị chỉ làm thêm những chiếc túi thổ cẩm có dệt hình cây thánh giá, bán rất chạy cho bà con dùng đựng Kinh Thánh đi lễ nhà thờ ngày chúa nhật.Vậy mà năm nay, gian hàng của chị tại Hội chợ làng nghề thủ công truyền thống tại thành phố Plei Ku, trong những ngày Liên hoan văn hóa cồng chiêng quốc tế, tôi thấy có thêm nhiều loại sản phẩm, không kém gì của người Chăm, thậm chí có cả những bộ váy đầm, xường sám…đi kèm túi thổ cẩm đồng màu rất đẹp và thời trang. Chị khoe, “ Dệt 1000 chiếc túi thổ cẩm cho Ban tổ chức festival làm quà tặng khách. Còn những mẫu sản phẩm này là do các xơ ở nhà thờ bày cho làm. Thanh niên người dân tộc rất thích mua” …

Tôi cũng đã tận mắt thấy những nghệ nhân người Bâhnar ở xã Ia Pin huyện Cư Prông tỉnh Gia Lai, đang miệt mài biến những tấm bẹ chuối thành salon, bình, giỏ xách…một cách rất điêu luyện tại cơ sở mây tre đan Thảo Nguyên. Những nữ nghệ nhân K’Ho cần cù bên khung dệt, để chị Nguyễn Thị Vân làm nên những bức tranh thêu, tranh sơn mài trên nền thổ cẩm, bán cả ngàn đola, tại cơ sở Vân Nguyễn ở Đạ Đơnh, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng…

Thế đấy, sự tác động của yếu tố tri thức bên ngoài quan trọng biết mấy .Vấn đề là ai thật sự quan tâm và ai là người đứng ra thúc đẩy một cách cụ thể việc này ở những địa bfn khác trên Tây Nguyên ? Có tiền đó, nhưng có dễ làm đâu…

Sản phẩm từ thổ cẩm Chăm hiện nay bày bán tràn lan trên khắp mọi địa chỉ du lịch trong cả nước.Ít người biết rằng hàng chục năm trước, người Chăm ở miền Trung đã biết xử dụng hoa văn Tây Nguyên, dệt nên những tấm vải, bán ngược lên cho người dân Tây Nguyên. Hình ảnh những người phụ nữ Chăm đầu đội bao vải, len lỏi khắp các buôn làng, từ lâu đã trở nên quen thuộc. Đến nỗi bây giờ có người lầm tưởng đó là hoa văn Chăm và cho rằng phong phú hơn hoa văn Tây Nguyên (?)

Khắp Tây Nguyên đều có những nghệ nhân tài hoa trong việc đan lát mây tre. Hoa văn thổ cẩm mỗi tộc người một khác biệt, nhưng đều tinh vi và độc đáo. Chỉ có điều thiếu những đầu tàu là người tại chỗ với một “ cái tâm” thật sự, đứng ra tổ chức lại việc chế tác mẫu mã sản phẩm, thay đổi nguyên vật liệu cho mềm mại hơn những sản phẩm dệt bằng len hay chỉ rẻ tiền…

Lâu nay đã có nhiều đơn vị, nhiều tổ chức,cá nhân cấp tiền cho việc khôi phục và bảo tồn nghề truyền thống, nhưng chỉ đến đó là hết. Còn việc phát huy và mang lại nguồn thu nhập thật sự từ nghề phụ lúc nông nhàn cho bà con thì “ không phải chức năng”. Thậm chí đã nhiều lần thử thuyết phục những người có quyền và có tiền đó, nhưng đều thất bại…Đã có lần tôi đành khuyên một nghệ nhân Êđê, cho con gái đi học nghề may, để giúp mẹ may những sản phẩm dệt một cách “ có nghề” hơn.

Thêm một ví dụ nhé : từ khi chia tách tỉnh, có bao nhiêu thác đẹp vốn đã là những địa chỉ du lịch quen thuộc,nay đều thuộc về tỉnh Đăk Nông hết, như Drei Sáp, Gia Long, Dray H’Linh, Dray Nu, Trinh nữ……Chưa kể còn nhiều những ngọn thác đẹp khác đã và đang được tỉnh đưa vào khai thác. Báo cáo của ngành du lịch Đăk Nông năm 2008 cho biết : “ Năm 2007, có 130.000 lượt khách, trong đó có 10.000 lượt khách quốc tế đến Đăk Nông. Doanh thu vượt 126% kế hoạch. Dự kiến đến năm 2020, Đăk Nông sẽ đón 58.000 lượt khách nội địa và 40.000 lượt khách quốc tế. Cũng vào thời điểm đó, sẽ có 10.460 lao động có việc làm …”…

Một vị quan chức ở tỉnh đã kể tôi nghe “ lần Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tới thăm Đăk Nông, tỉnh muốn có một sản phẩm địa phương để làm quà tặng, nhưng tìm khắp nơi không có, phải cho người sang Buôn Ma Thuột và về thành phố Hồ Chí Minh kiếm”. Quả thực, bạn có đốt đuốc lên tìm đỏ mắt ở thị xã Gia Nghĩa, lẫn các khu du lịch cũng chẳng có một sản phẩm gì của văn hóa dân tộc bản địa mà làm quà tặng, chứ chưa nói gì đến việc bán lưu niệm cho du khách. Con số khách mà ngành du lịch Đăk Nông nêu trên, không biết đã được liệt vào hàng “ tiềm năng” cho ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống bản địa chưa nhỉ?

Bạn có thể trách “ sao không phải là tôi?”. Nhưng lực bất tòng tâm, tôi đâu có thể một lúc làm nhiều việc như thế được? Hơn nữa, cần có thêm những người thật sự hiểu và tâm huyết với việc này.

Nhưng nói vậy đó, biết đâu có lẽ cũng đến lúc phải bằng cách nào đó “ sáp vô” làm cho bà con mình thôi. Bạn nghĩ sao?

Linh Nga Niê Kdăm

Vẫn còn có người tốt

Báo chí và mọi phương tiện thông tin đại chúng lâu nay phản ảnh nhiều về sự xuống cấp của đạo đức. Trong những cuộc “ trà dư tửu hậu” người ta cũng đua nhau kể những chuyện buồn lòng về sự thờ ơ giữa con người với nhau…Những chuyện ấy dường như thường trực ở mọi lúc, mọi nơi. Vậy mà nữ sỹ Huyền Trang ở Hội Văn học nghệ thuật Bình Định lại kể với tôi một câu chuyện, mà ngay chính chị cũng bị bất ngờ :

Huyền Trang ra Hà Nội sớm hơn một ngày ghi trên giấy mời đón tiếp đại biểu tham dự Hội nghị quốc tế về quảng bá văn học Việt Nam với thế giới. Chị đành lên nghỉ tạm tại Nhà sáng tác của Hội Nhà Văn Việt Nam tại Quảng Bá – Tây Hồ.

Buổi chiều đúng ngày hẹn, sau khi nhận phòng ở khách sạn Tây Hồ, nữ sỹ định đi bộ sang Nhà sáng tác để lấy đồ đạc còn để lại đó. Hai địa điểm cách nhau không bao xa. Không ngờ vì không rành đường, nên chị quanh quẩn mãi vẫn không tìm được cả đường về khách sạn Tây Hồ lẫn Nhà sáng tác Quảng Bá.

Thấy Huyền Trang đi ngang qua quán nước mấy lần, một người phụ nữ ngồi trong quán đã gọi chị lại hỏi han. Biết đang bị lạc, chị ấy nhờ ngay người đàn ông ngồi trên xe máy cạnh đó, đưa Huyền Trang sang nhà sáng tác lấy đồ đạc, rồi lại chở nữ sỹ về lại khách sạn. Khi Huyền Trang ngỏ ý thanh toán tiền xe đi – về, người đàn ông này từ chối, và nói “ chỉ là giúp chị thôi mà ”.

Kể cho tôi nghe chuyện này, Huyền Trang cứ tấm tắc mãi “ Đời vẫn còn nhiều người tốt chị nhỉ ”.

Tôi vừa chia sẻ với Huyền Trang niềm vui ấy, vừa nghĩ đến một việc đã diễn ra ở Trung tâm đào tạo của chính tôi : có một nữ sinh lớp Trung cấp Quản lý văn hóa bị bệnh máu trắng. Nhà em rất nghèo. Cha mẹ đều nguyên là thanh niên xung phong thời kháng chiến chống Mỹ, ngày chỉ đi làm thuê để kiếm tiền nuôi các con ăn học. Đến nhà cũng phải ở thuê trong huyện Buôn Đôn. Hôm em bị cấp cứu, 12 sinh viên trong lớp đã tình nguyện hiến máu để bạn vượt qua được ca mổ. Ngày bạn mất,cả lớp còn đóng góp mỗi em một khoản tiền nhỏ giúp gia đình lo tang lễ cho bạn. Cũng vẫn là do các em tự bàn nhau, thày cô chưa phải động viên câu nào.

Trong năm học, có những lúc tôi buồn lòng vì các em chưa chăm, ngoan. Và ai cũng biết, sinh viên đi học xa, ăn uống tiết kiệm, học phí và ở trọ hàng tháng đã là những khoản kinh phí phải tính toán chi li. Nhưng trước khó khăn của bạn, các em đã biết cùng sẻ chia.

Vậy đó, xin đừng ai bi quan quá, lòng tốt, tính hướng thiện của con người vẫn còn đó lấp ánh saáng trong cuộc sống hôm nay. Nghĩ thế mà trái tim ấm hẳn lên.

Linh Nga Niê Kdăm

Lễ hội Tăm nghét

( Của người Mnông Đăk Nông)

Khi lúa đã ngủ yên trong kho , bắp treo lủng liểng đầy sà nhà, năm cũ với những buồn vui cũ đã bay đi cùng những cơn gió từ rừng đại ngàn tràn về. Mùa xuân mới sà xuống đậu trên búp non của những cành cây, người Pu Noong lại tổ chức lễ Tăm Nghét. Không phải là lễ ăn cơm mới như của tộc người Êđê, tổ chức sau khi gặt những gùi lúa đầu tiên , mà thu hoạch xong mùa màng, người ta làm thịt một con gà, buộc một ghè rượu nhỏ để xin Yang đóng cửa kho lúa. Rồi mới làm lễ tăm nghét để xin chính thức mở cửa kho xử dụng, hoặc sum họp gia đình vào đầu năm mới.

Hàng năm, lễ này chỉ này chỉ cúng rượu và heo. Chỉ khi thu được hơn 100 gùi lúa, sẽ phải ăn trâu. Sau khi thày cúng đã chọn ngày chính thức, gia đình cho người đi báo tin và mời họ hàng ở buôn xa ,buôn gần về dự lễ. Trai gái các bon cũng nhân lúc này mà có lời hẹn hò.

Gia chủ phải lo chuẩn bị cho lễ tăm nghét này từ hàng tháng trước đó, nhất là việc ủ những ghè rượu thật ngon, sau khi suốt được những gùi lúa đầu tiên.

Ngày đầu, những người đàn ông đi chặt cây Blang để làm cột mới buộc trâu. Cũng trong ngày này , đàn ông khéo tay trong gia đình phải dùng gỗ Blang thay những chiếc khung D’rang day vẽ hoa văn màu đen, nẹp chung quanh dàn kho lúa trên bếp lửa và chiếc giá để bầu cơm trong nhà, làm lại cho đẹp, cho mới để cúng vị thần coi sóc kho lúa, và còn đón khách quý các bon đến nhà nữa chứ .Đám phụ nữ trong nhà tíu tít chuẩn bị lương thực, thực phẩm, ai cũng có việc của mình.Chỉ riêng lũ con nít chộn rộn, hết chạy tới lại chạy lui vô ra ngắm nhìn. Xem cho kỹ nghe,những lễ hội sau là của các con đấy.

Dựng cột buộc trâu Gơng rga và cột nêu Gơng la là công việc quan trọng nhất trong ngày thứ hai.Việc này chỉ chọn người khéo tay.Từ khi mây mù còn vây bủa khắp thung lũng, tiếng chày giã gạo của lũ con gái đã len lỏi khắp trong bon lan. Thậm thịch thậm thịch tiếng chày nện xuống lòng cối.Lốc cốc, lộc cộc tiếng va nhau của chày đôi, chày ba.Cứ từng nhóm hai ba cô gái trẻ, váy na put n’rưng dệt đẹp dài ngang bắp chân thon, chuyện trò ríu rít, mắt sáng ngời, má hồng rạng rỡ, vồng ngực căng lên như những quả đồi đang thở vì luôn tay nhanh nhẹn nâng chày lên, giã xuống.

Người đàn bà chủ nhà – U ruanh – chỉ huy đám phụ nữ lớn tuổi lo phần nấu nướng.Những món gì ngon nhất của riêng gia đình mình hôm nay phải làm cho thêm ngon hơn nhé. đám đàn ông phân công nhau ai làm thịt heo, đi dắt trâu về, ai dựng cột . cây cột bằng gỗ Blang cao quá đầu người , có tượng Kon Nuih – một người đàn ông và một người đàn bà – ngồi hai bên, tay chống lên đùi, để chào tiễn biệt con trâu.Phía trước dựng một khung tre ngăn cách với chỗ người ngồi, lại thêm một cây cọc để ghì trâu cho chắc.Sát bên cạnh là cột nêu- Gơng la, trên đỉnh có chim kring giang cánh như sắp bay lên, sáu chùm lá cọ Lha sra xé tua rua trang trí như hoa dọc thân cột gơng, với bốn sợi dây prei jum – chỉ khi được mùa mới có- kết dài những hạt cườm , tượng trưng cho bày ong, và những mảnh gỗ vẽ hoa văn các màu.Khác với trong nhà dùng màu đen, tất cả ở đây chỉ dùng màu đỏ.Một chiếc dàn N’rơng rla buộc chắc ở lưng chừng cột, để người ngồi thổi kèn Rlet khi cúng và ngồi canh trâu.Tiếng chiêng đã nối lên từ lúc bắt đầu chôn cột.dựng xong, đội chiêng đi ba vòng quanh nhà như một hình thức thông báo cho các thần xung quanh, để chuẩn bị đón trâu về buộc. Váy, khố, áo đẹp cất kỹ trong gùi, nay thơm mùi nắng xuân mới phơi, đung đưa theo những bắp chân,cánh tay nâu bóng.Vồng ngực trần đàn bà mẩy hồng, đôi vai và bắp chân trai tráng rắn đanh trong ánh ban mai và trong hàng trăm ánh mắt long lanh ngưỡng mộ của cả bon lan.

Trâu đã dắt về, cột chắc bằng những sợi dây mây và da trâu bện xuắn vào nhau. Bà chủ nhà sẽ cất tiếng ca bài “ khóc trâu” , an ủi và sẻ chia :

“ Ơ Pô, ơ Pô!/ Lâu nay sống trong nhà/ Ta với mày thương nhau/ Hôm nay dâng trâu cúng lúa/ Cầu mọi điều an lành/ Mở cửa kho/ Cho chủ nhà no/ Ơ Pô ! ơ Pô”

Thày cúng bắt đầu phần nghi lễ của mình. ông hút rượu từ trong ché, hoà với huyết heo, lẩm bẩm khấn khứa, rồi bôi rượu huyết lên dàn kho lúa, cột nhà, cột buộc trâu, trong tiếng Rlét dìu dặt.Rlét này sau lễ cúng, sẽ mang cất lên gác bếp chiếc bầu, còn ống nứa Tưng kar phải chôn ngay xuống chỗ chân cột nêu ấy. Sang năm nếu Yang cho 100 gùi lúa nữa , được anư trâu, sẽ lại làm Rlét khác với chiếc bầu đó.Còn đây là rượu, này là huyết cúng dân lên các vị thần linh đó nhé.Cha, mẹ, vợ chồng, con gái đầu lòng cùng đứng vị tay vào cột Gơn rla, đọc lời khấn theo thày cúng. Này là cả gia đình chúng tôi cùng đồng lòng cầu khấn các Yang đây :

“ Ơ Yang , lúa đã ngủ kín trong kho! Hãy cho chúng tôi năm sau lúa bắp nhiều hơn năm trước, được thuận hoà năm mưa tháng gió,cây cối sinh sôi nảy chồi ,đâm lộc. Con người không bệnh tật ốm đau.Mở kho này cho cả năm no đủ, chúng tôi xum họp ở đây cầu xin các Yang. Ơ Yang ! ”

Mặt trời đã lên cao quá đỉnh núi Jôk Nghi Pran, cái nắng như mật ong trải vàng trên đồng cỏ hoe hoe, lốm đốm sáng dưới bóng lá cây cà phê xanh rậm rịt trong vườn, nhà, thắp sáng bừng những gương mặt hớn hở của cả Bon lan.Gần 100 mùa rẫy rồi, cả bon không nhà nào đủ lúa để được “ ăn trâu” mà. Dù đã có nhiều nhà trồng cà phê, làm ruộng nước , học người Kinh gieo giống lúa có năng suất cao theo kỹ thuật mới. Nhưng cái thơm , cái ngon của hương lúa bay xa ba Bon, bốn làng để cúng tế các vị thần linh, thì chỉ trong giống lúa cũ của ông bà ta để lại mới đậm đà thôi.

Tiếng chưng của các Bon lan xa gần đến dự hội đang vang lên thì thụp xa xôi đâu đó trong nắng. Bà chủ hối hả dục dàn chưng mau đi đón khách.Theo lệ của người Pu Noong, chủ nhà phải ra tận đầu bon , mang theo đĩa đựng trầu cau , thanh nứa dài cắm sẵn những miếng trầu đã têm sẵn, nhiều ống nứa khác cột dây đỏ đựng rượu cần, trong tiếng chưng rộn ràng đón khách. Trầu được mời trên môi, rượu được đổ vào tận miệng trong tiếng chưng bung boong, rồi cùng vừa tấu chưng , vừa đưa nhau vào Bon, vào nhà.Lại những hồi chiêng dài, những ống rượu nghiêng vào vai nhau mà uống cho đến cạn, miếng trầu cay ấm nồng như tấm lòng Bon lan thơm thảo, để rồi đến phần các dàn chưng đua tài. Này là bài Pep kon jun, hay bài Dôk khleng đảo nhịp vui đến khiến cả người chơi lẫn người nghe đều ngả nghiêng, nhún nhảy.Nào là bài T’rơ chưng pu pét chững chạc, tự tin trong địa vị chủ lễ. Hay bài “ Tiếng chim hót trong rừng” tiết tấu chầm chậm vừa phải mà thanh thoát và khắc khoải ?

Ngày thứ ba, ngày chính thức của lễ hội. Mọi lễ thức khẩn cầu lại được lặp lại, trước khi hiến tế. Người được chọn để đâm trâu phải thật sự thành thạo với nghi thức này. Bởi sau khi đã chặt hai khuỷu chân sau , mà lại đâm không trúng tim, trâu không chịu chết ngay, lồng lộn lên là bị xui xẻo đấy.Thịt trâu này sẽ chia đều cho mọi người đến cùng tham gia lễ hội,mỗi người một rẻo nhỏ. Vâng, rất nhỏ thôi , những là sự sẻ chia vui buồn, là sợi dây kết nối tình nghĩa cộng đồng , tồn tại mãi hàng bao đời nay trong các lễ hội Tây Nguyên.Phần xương và bộ lòng, bà chủ làm canh đãi đằng chủ khách. Bộ da sẽ được lóc sạch dùng làm mặt trống hay dây buộc rất chắc chắn.

Ngày thứ tư của lễ, gia chủ mang chiếc đầu trâu vẫn đặt trên dàn cúng xuống, nấu bữa ăn chia tay khách gần, khách xa. Tiêng chưng lại vang lên bài đưa tiễn. Hẹn gặp lại trong những lễ Tăm Nghét của bon nào thu 100 gùi lúa nhé.

Linh Nga Niê Kdăm

Mùa lễ hội Tây Nguyên

Tây nguyên , vùng đất mỗi bước chân đi là có một huyền thoại gắn liền với tên những nàng sơn nữ . Đằng sau những ngọn thác trắng xóa, cánh rững đại ngàn biếc xanh kia, có biết bao nhiêu điều bí ẩn, hãy thử một lần cùng dạo chơi trong mùa lễ hội của vùng cao nguyên đất đỏ nhé.

Không ở đâu có nhiều lễ thức như ở Tây Nguyên.Do tín ngưỡng “ vạn vật hữu linh” , nên bất cứ điều gì liên quan đến sản xuất và đời sống con người, đều phải có sự cầu xin để được cho phép của các Yang cho tiến hành .Xong việc, được việc phải tạ ơn. Vi phạm luật lệ cộng đồng khiến các yang nổi giận phải tạ tội….từ đó mà diễn ra dày đặc các lễ thức, lễ nghi, lễ hội.

Do có cùng một địa bàn cư trú trên phía Đông dãy núi Trường Sơn, cùng chung tín ngưỡng đa thần, nên sự tương đồng văn hóa tập quán giữa các tộc người, đặc biệt là trong lĩnh vực các lễ hội, cũng là điều tất yếu .

Hệ thống các lễ hội Tây Nguyên có thể chia làm ba nhóm theo ba tính chất nội dung như sau :

– Các Lễ nghi & Lễ hội theo nông lịch.

– Các Lễ nghi & Lễ hội theo vòng đời

– Các Lễ nghi & Lễ hội đối với những mối quan hệ ngoài cộng đồng.

Cả ba nhóm lễ nghi và lễ hội này, đều nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh, phục vụ cho hai đối tượng chủ yếu là toàn thể cộng đồng và gia đình cá thể.

Sự cố kết cộng đồng là một trong những cơ sở tồn tại của các tộc người Tây Nguyên, do đó, việc chăm lo cúng kiếng các vị thần linh,sao cho mọi hoạt động trong một năm của toàn thể cộng đồng được suôn xẻ, bao giờ cũng được các vị thủ lĩnh ( chủ bến nước, tù trưởng…) và hội đồng già làng hết sức coi trọng.

Có thể điểm lại một cách sơ lược một vài lễ hội cộng đồng chính trong đời sống Tây Nguyên :

Các lễ hội cộng đồng chính tính theo thời gian một năm

Những lễ thức theo nông lịch :

1- Lễ Cầu mưa :

Lễ cầu mưa

Thường diễn ra vào dịp tháng 3, tháng 4 hàng năm, khi thiên nhiên bắt đầu chuyển mùa, việc dọn sạch rẫy cũ hoặc khai hoang rẫy mới, được mọi gia đình bắt tay vào thực hiện.

Lễ cầu mưa sẽ tiến hành vào thời điểm sau khi một nửa số gia đình trong buôn, bon, kon, plei đã làm xong việc dọn cỏ, đốt rẫy. ( Rẫy mới phát lần đầu, rẫy hiện đang trỉa lúa sau khi thu hoạch mùa trước, để lại những gốc rạ , nay phải cuốc lên và đốt đi như một hình thức bổ xung tro cho đất; rẫy bỏ hoang nhiều năm cho đất tự hồi phục, nay đến thời hạn luân chuyển…vv…). Chủ làng sẽ cùng với các thày cúng, và một số già làng chuẩn bị cho lễ này.Lễ có thể diễn ra gần bến nước ngoài buôn, cũng có thể tổ chức tại sân nhà Rông, hoặc ngay tại sân nhà hay trong nhà của chủ bến nước ( tùy theo tập quán cư trú của mỗi tộc người).

Lễ vật hiến sinh chuẩn bị cho lễ cầu mưa lớn nhất chỉ là một con heo từ 3-5 gang

( khoảng 60kg) gà, rau và rượu cần không hạn chế số lượng, do toàn thể cộng đồng đóng góp ( tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình, không có quy định nào về mức độ hay số lượng bắt buộc . Người không có của sẽ đóng góp bằng công phục vụ). Thày cúng sẽ khấn những lời bày tỏ nguyện vọng của cả cộng đồng cầu mong không chỉ nhanh chóng có mưa để tiến hành gieo trỉa, mà còn xin cho được một năm mưa gió thuận hòa, đủ nước cho cây lương thực, thực phẩm sinh sôi,phát triển, phục vụ nhu cầu ăn, uống trong cuộc sống hàng ngày của con người.

Người Bâhnar Rngao ở Kon Tum còn có lễ cầu mưa rất đặc biệt : trước tiên cúng thần Sấm ( Book Glaih) , nếu trời vẫn không mưa , sẽ phải cúng cả tình nhân của thần Sấm là Yang Đăk để nhờ xin hộ với thần làm ra mưa. Lễ vật hiến sinh là một con dê trắng và một con heo trắng.

2- Lễ mừng lúa mới :

Lễ mừng lúa mới

Đối với các tộc người theo nhóm ngữ hệ Môn – Khơ mer ( Nam Á), lễ ăn cơm mới thường được chủ làng, chủ giọt nước đứng ra tổ chức chung cho cả cộng đồng. Lễ thường được tổ chức vào dịp cắt những gùi lúa đầu tiên

( khác với lễ đóng cửa kho lúa của từng nhà sau khi đã thu hoạch xong. Cũng như khác với lễ ăn cơm mới của từng gia đình của nhóm các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo ) .

Lễ thường diễn ra ở sân nhà Rông, hoặc ở nhà chủ giọt nước ( chủ làng), vào dịp tháng 11 hoặc đầu tháng 12 dương lịch, có thể kéo dài trong 2 – 3 ngày, tùy theo mức độ mùa màng dự kiến sẽ thu được.Lễ vật hiến sinh trong ngày tổ chức ăn cơm mới có thể là heo, bò, đối với các nhóm tộc người ngữ hệ Môn –Khơmer thì nếu được mùa lớn ( thu được 100 gùi lúa trở lên) phải có ăn trâu.

Đây là một trong những lễ hội cộng đồng lớn của mọi tộc người trong năm, bởi sự no đủ đã nhìn thấy rõ. Con người cũng đến lúc cần được nghỉ xả hơi sau một quãng thời gian vất vả lao động, tạ ơn các vị thần linh đã phò trợ, giao đãi với dòng họ và bạn bè đã hỗ trợ trong năm.

Trong lễ hội này, người ta thường mời cả các buôn cận kề, họ hàng, hoặc con cái đã đi lấy vợ, hoặc lấy chồng ở các làng khác tới cùng chung vui, giao lưu, kết nghĩa cũng diễn ra .

3- Lễ cúng bến nước ( uống nước giọt, cúng máng nước) :

Lễ cúng bến nước

Nước là một nhu cầu thiết yếu của con người, nên đây cũng là một lễ tạ rất quan trọng của cả cộng đồng đối với các vị thần linh coi sóc bến nước, giọt nước hay máng nước.

Lễ này có thể diễn ra những ngày cuối năm, khoảng tháng 12 dương lịch, nhưng cũng có thể được tổ chức vào đầu năm mới, khoảng tháng 2 hoặc 3, sau khi đã thu hoạch hoàn tất mùa vụ.

Đến ngày đã định, cả làng phải tham gia vào việc dọn vệ sinh sạch sẽ trong ngoài buôn, bon, kon, plei, nhất là xung quanh bến nước, phát quang cây cỏ dại, thay thế những ống nước bị hư hỏng, khơi thông lại dòng chảy của nguồn nước. Lễ tổ chức ngay cạnh giọt nước, bến nước, gốc đa hoặc gốc cây blang giữa đường từ giọt nước về, để cảm tạ thần bến nước và tiếp tục cầu xin một năm mới có đủ nước dùng cho người, cho cây cối

( lương thực) .Con vật hiến sinh trong lễ này thường là heo, không ăn trâu bò và không thể thiếu những tiếng ching chiêng, những vòng múa xoang, vì đặc biệt phần hội của các lễ thức này rất được coi trọng. Những Lễ hội này người ta đều có mời các làng cận kề cùng tham dự trong tiếng ching chêng vang lừng và rượu chảy rong róc trong cần nứa uốn cong.

Lễ của gia đình , dòng họ

Thời tiết ở Tây nguyên chia làm hai mùa rõ rệt : mùa mưa , từ cuối tháng 4 đến tháng 10 dương lịch. Mùa khô, bắt đầu từ cuối tháng 10 cho đến đầu tháng 4 sang năm. Cuối mùa mưa , khi hàng ngàn những bông hoa mnga phí ( dã quỳ ) khoe sắc vàng rực rỡ khắp mọi nẻo đường, đung đưa trong gió và cái nắng cũng vàng chói lọi của bầu trời Cao nguyên, ấy là vụ thu hoạch mùa màng đã tới, nhà nhà nhộn nhịp gặt hái . Sau đó là đến vụ nông nhàn . Người lao động nghỉ ngơi , bước vào “mùa ăn năm uống tháng”. Mọi lễ lạt không liên quan gì đến lịch sản xuất nông nghiệp (như đám cưới , bỏ mả , chúc sức khỏe …) cũng đều tập trung trong mùa khô, kéo dài từ khi gặt lúa sớm ( cúng hồn lúa , ăn cơm mới …), cho đến tận mùa dọn rẫy tháng 4 năm sau . Lúa bắp đã chất đầy sang mdliê ( kho lúa ), cái no đủ , dư thừa đã thấy rõ . Đây là lúc nghỉ ngơi , cho bõ những tháng ngày mặt sấp , lưng ngửa cùng trời đất . Đây cũng là lúc phải cảm tạ các thần linh , baó hiếu cùng cha mẹ , vui chơi giao đãi với bạn bè , tiễn đưa năm cũ , đón mừng một năm mới đến… Do đó bao giờ các lễ cũng đông vui , trở thành ngày hội của một buôn làng , cả vùng , hay chỉ của một gia đình , dòng họ .

Bất cứ một gia đình nào trong buôn làng có việc phải cúng kiếng,là bà con dù trong hay ngoài dòng họ , cũng đều kéo đến tham gia giúp đỡ , đóng góp công sức hay vật chất. Dù chỉ một bó rau , gùi củi , hay lon gạo , trái bí , ghè rượu ..vv.. đều được gia chủ trân trọng đón nhận , cảm tạ .

Những lễ cúng của một gia đình ngày nay thường không thành “ hội”. Nhưng thuở xưa, lễ của nhà các tù trưởng, các chủ bến nước hay của các nhà giàu, có địa vị nào đó trong buôn, trong bộ tộc, thường mời nhiều khách sang trọng, khách xa gần ăn uống kéo dài 5-7 ngày . Trong lễ , để giúp vui sẽ mời các nghệ nhân đến kể trường ca, cổ tích .Trai gái tụ tập thách đố nhau , thi tài bằng văn vần , hát đối đáp , hoặc chơi các trò chơi phổ biến trong dân gian , để thi tài , thi khỏe… Do đó phần sau của lễ trở thành hội . Những lễ cúng của cả buôn , hay cả vùng cai quản của một tù trưởng lớn , như : cúng bến nước , vào mùa săn bắn , ăn mừng năm mới , đâm trâu mừng được mùa… càng đông vui kéo dài “lễ thành hội” là như thế .

Mùa “ăn năm uống tháng ” ở Tây nguyên thường vào cuối năm cũ , đầu năm mới, tức là đã vào mùa xuân. Xuân Tây nguyên đến vào tháng Ba , trước khi mùa mưa bắt đầu chừng hai, ba tháng. Lúc này cây cối đâm chồi nảy lộc , hoa nở , ong bướm bay rợp trời . Cảnh quan cũng tạo nên cho con người niềm hứng khởi . Đồng bào không gọi ăn Tết , nhưng một số vùng cũng có lễ hội đón năm mới, một hình thức tạ ơn chung với các thần linh đã phù trợ cho trong năm cũ . Cầu các Yàng tiếp tục bảo trợ cho năm mới .

Người Êđê gọi là “ mnăm thun mrâo”.Người Jrai gọi là“ bơng tơ kuh thun”.

Ông chủ làng, các già làng, thày bói, thày cúng cùng nhau bàn định lựa chọn ngày tháng xong xuôi, sẽ phân công đàn ông tu sửa nhà Rông cho gọn gàng , sạch sẽ. Vào rừng chọn cây để làm cột Gơng ( như cột nêu của người Kinh ) . Cột có thể làm bằng tre , hoặc bằng thân cây gòn ( thứ cây gỗ trắng , mềm , dễ đẽo gọt ). Trong những lễ cúng lớn người Tây nguyên bao giờ cũng dùng lễ vật tế thần là con trâu , buộc vào những cây cột này. Đồng thời chủ làng cũng thông báo cho cả plei (buôn ) biết ngaỳ đã được chọn để tổ chức lễ cúng .

Đến ngày đã định, cả plei Jrai tụ tập về nhà rông , ăn mặc váy áo , khố đẹp , mới, mang nhiều vòng cổ , còng tay , chân bằng đồng , bạc , hoặc các chuỗi hạt cườm. Nhà nào có bộ chiêng quý , chiếc trống lớn , tiếng hay , sẽ được huy động mang tới góp vui . Con trâu hoặc bất cứ một con vật dùng để hiến tế nào , sẽ được dắt tới buộc vào cột Gơng.Bên cạnh đặt cái nia đựng các lễ vật khác như : rượu, muối , lúa , ngũ cốc… vừa thu hoạch xong .

Chủ làng cùng các già làng đến tận nhà mời thày cúng ra làm lễ . Sau khi đã khấn khứa với các Jàng , trần tình cùng con trâu ( Trâu ở Tây nguyên thường chỉ dùng cho các cuộc tế lễ , không được xử dụng vào bất cứ một lao động nào ), rằng : vì quyền lợi của cả cộng đồng mà trâu phải thay cho người bày tỏ với mọi thầìn linh tấm lòng thành của gia chủ , hoặc buôn làng… Sau đó là nghi lễ đâm trâu ( nếu có ). Người ta lấy chiếc đầu và đuôi trâu đặt lên dàn cúng , đốt những chiếc đèn bằng sáp ong và bắt đầu khấn vái , mời gọi các Jàng mà họ cho là tốt bụng , đã có lòng phù trợ cho buôn làng làm ăn sinh sống thuận lợi năm qua , và khẩn cầu tiếp tục được giúp đỡ trong năm tới.

Cúng xong , những ai đã được cắt cử sẽ xẻ thịt trâu cho phụ nữ nấu đồ ăn. Hội đồng gìa làng ( phôn pô bút) lên nhà Rông với thày cúng và các nhân vật quan trọng khác trong plei , bàn chuyện làm ăn trong năm mới . Những người không có việc ở nhà Rông thì về nhà minh nấu cơm nếp , làm thêm đồ ăn , để đến giờ quy định , lại tập trung về nhà Rông , góp cỗ chung cùng cả làng . Ai không góp cơm thịt thì góp rượu ghè . Đến trước giờ ăn chung , sau khi đã bày dọn trên nhà Rông , thày cúng lại một lần nữa khấn vái , rồi cả buôn cùng vào tiệc .

Rượu càng vơi , mọi người càng hào hứng trong tiếng chiêng trống rộn ràng . Trai gái nắm tay nhau chung vui trong nhịp múa xoang , bước chân rậm rịch , men rượu ngấm la đà , chẳng còn ai có thể đứng ngoài vòng xoang nữa . Ai mệt thì nghỉ ,ai đói thi ăn, ăn uống xong lại tiếp tục . Tới khi cạn nguồn tiếp tế cơm rượu thịt , có khi đã vài ba ngày .

Sau hội chung của cả plei , nhà nào muốn cúng riêng thì cứ tự tổ chức và mời mọc họ hàng , bè bạn .

Mong sao mỗi độ xuân về, lên Tây Nguyên du khách còn được tham dự nhiều những lễ hội hồn nhiên của cộng đồng cư dân bản địa.

Linh Nga Niê Kdăm

Tìm về bến nước

Bình minh âu yếm nâng nhẹ tấm khăn sương che chiếc gương bạc của nàng tiên H’Lung dắt ngang đỉnh trời tròn, từ từ hiện ra hàng ngàn đóa sen trắng, sen hồng đung đưa trên mặt nước biêng biếc. Đang giữa mùa sen, gió đẫm hương mát ngọt. Thuyền độc mộc đi đánh cá, rời bến từ lúc bóng đêm còn loãng, đang đua nhau tung lưới. Trong ánh hồng e thẹn của bình minh, nhìn từ xa, các vàng lưới tung lên như những tấm mạng nhện khổng lồ. Bóng người chống thuyền, thả lưới rung rinh uốn lượn trong sương như điệu múa mời rượu pah kngan rông yang của các nàng sơn nữ. Phía tây hồ, đỉnh Cư Yang Sin hiện dần như vóc dáng chàng Lăk cường tráng đang trìu mến ấp ủ, chở che gương mặt xinh đẹp của người tình.

Đứng trên hiên nhà sàn, Y Tlang hít một hơi thật dài khoan khoái. Bao nhiêu mệt nhọc của một ngày đi bộ hôm qua, gió thơm dừơng như mang đi hết. Chào amí chủ nhà, vịn lên đôi bầu vú căng mẩy chạm đầu thang xuống sàn, Pie Y Tlang và H’Zen quả quyết rảo bước về phía buôn Phơi. Lại đi. Lại hỏi. Nữ thần lúa Yang Hri có bảy người con gái, mỗi nàng là một loại giống. Trong một cơn giận dữ của cha rừng, bảy người con lạc mẹ. Việc H’Zen phải tìm cho ra bảy giống lúa, bảy người con gái thất lạc đã khó, nhưng tìm cho ra gốc rễ của Pie Y Tlang còn khó hơn. Đức Cha Phrancis đã đưa anh về Pháp từ bốn mươi bảy năm trước đây, lúc còn đỏ hỏn như con chuột nhắt mới sanh. Trước lúc đi về cõi vĩnh hằng, Đức Cha mới tiết lộ và khuyên Y Tlang nên đi tìm lại nguồn cội của mình. Sáu tháng trời về tới thành phố Hồ Chí Minh, nhờ mục nhắn tin của báo Tuổi Xanh, cả sự nhiệt tình của Ban bạn đọc, Y Tlang mới gặp được kỹ sư nông nghiệp H’Zen, tìm được người bảo lãnh để về đến cái hồ trên đỉnh cao nguyên, cao hơn mặt biển tới hơn bảy trăm mét này.

Cũng may, H’Zen lại đang được giao đề tài “ Giống lúa rẫy truyền thống của đồng bào Tây Nguyên”, chị mới có dịp đưa Y Tlang đi tìm bến nước gốc cội của anh, kết hợp với việc truy tìm các giống lúa cũ. Hai người đã đến nhiều bến nước Êđê, gặp hàng chục người già không còn đếm được số mùa rẫy đã qua, mà vẫn chưa tìm ra manh mối gì. Tất cả vẫn còn phủ một tấm màn bí ẩn. Hôm nay, H’Zen khuyên Y Tlang chuyển hướng sang tìm ở các bon Mnông.

H’Zen đã lần lượt mở toang ra từng cánh cửa mà đôi chân Pie Y Tlang run rẩy mỗi lần bước qua. Đây là cội nguồn của anh ư? Quê hương của anh đó ư? Mông muội? Hoang dã? Hay chính là những gì trong suốt nhất, hơn cả giọt sương, hơn cả nắng trời, vượt lên trên tất cả? Anh sẽ phải tiếp nhận hay chối bỏ “ nó” đây? Những câu hỏi cứ nhay đi nhay lại trong tâm trí Y Tlang như một lưỡi cưa cùn. Có lúc anh đã muốn bỏ chạy, vứt lại sau lưng tất cả. Thế là đủ rồi, không cần biết điều gì hơn nữa.Nhưng rồi anh cũng lại thấy cần phải đi cho đến tận cùng của sự tìm kiếm. Bởi thật là ngỡ ngàng trước những gì nhìn thấy, nghe thấy và gặp gỡ. Nó chẳng có chút nào chung với cuộc đời bốn mươi bảy năm ở nơi “ kinh đô ánh sáng” mà Y Tlang đã sống. Nhưng lại như giúp anh lần giở từng trang một cuốn sách đầy những điều hấp dẫn. Này nhé, người Êđê ở những nhà sàn mang hình dáng con thuyền, dài đến “ một hơi ngựa chạy ”. Cả buôn dựng nhà theo hướng Bắc –Nam, san sát nhau như các con thuyền độc mộc chiều về neo lại nơi bến nước. Bon làng Mnông lại là những căn nhà trệt nằm kề nhau, mái tranh lợp rủ dài sát đất, tròn như những chiếc nấm mối. Khách muốn vào nhà Êđê phải leo cầu thang đằng trước, vịn tay lên bầu vú gỗ để đến được với không gian mẫu hệ. Nhà Mnông lại có hai cửa hình vòng cung cùng mở về hướng đông, thấp lè tè. Bước qua cửa nào cũng gặp bếp lửa cháy quanh năm. Giữ gìn lửa là việc sống còn của con người giữa rừng đại ngàn. Lửa soi sáng mọi việc làm trong nhà. Lửa nấu chín thức ăn. Lửa xua cái lạnh giá những tháng mưa rừng. Lửa phừng phừng da thịt gái trai thương nhau…Nhà dài Êđê mỗi bếp lửa, mỗi ngăn là một cặp vợ chồng con cái. Người Mnông chỉ có hai bếp lửa chung. Một sạp nứa dài suốt chiều ngang nhà, kêu răng rắc mỗi khi có người bước lên bước xuống. Đây là chỗ ngủ chung của cả đại gia đình lẫn khách. Mọi đôi chân đều hướng ra bếp lửa. Ấm chân sẽ ngủ yên cả đêm, dù chỉ đắp một tấm chăn thổ cẩm mỏng.

H’Zen đang lúi húi bên bếp với mẹ chủ nhà. Y Tlang nằm tựa đầu lên chiếc gối gỗ, đối diện với cửa bên trái, chỗ nằm của khách. Từ đây có thể nhìn xa sang tận bên kia hồ, tới chỗ cánh đồng lớn mênh mang viền quanh bờ Nam. Cánh đồng như một tấm lụa xanh, Mẹ Đất âu yếm choàng cho cô con gái yêu. Hoang sơ, tĩnh lặng, tưởng như đang ở vào thời khắc của chàng dũng sỹ Dam San và nàng H’Nhi thuở trước. Đầu Y Tlang đau như có ai đem búa nên vào…

– Tha lỗi cho Cha, từng ấy năm đã giấu con sự thật. Cha đã từng nghĩ phải để cho con xa hẳn, quên hẳn nguồn gốc man rợ của mình. Nhưng về trước Chúa, Cha không có quyền đem đi bí mật của đời một con người. ..Có Chúa chứng giám…Chắc cha mẹ con trên thiên đàng cũng sẽ hài lòng….Cha…đã…làm hết sức mình để con nên người….Ai cũng có nguồn cội con ạ. Phải trở về thôi….rất tiếc, đã từ rất lâu…Cha không có liên hệ gì với bên ấy….Nhưng con cứ…đến giáo xứ Lạc Thiện…cái hồ…..núi Yang Sin…hỏi…ông…

Tiếng cười đắc thắng của Thần Chết cắt ngang câu nói hổn hển khó nhọc của vị linh mục già. Đồng loạt các quả chuông lớn nhỏ trong mái của nhà thờ xứ rung lên não nề. Bóng áo choàng đen cao lênh khênh, tay lưỡi hái, tay dắt linh hồn vượt qua vòm trần cao thăm thẳm, bay về vô định. Bàn tay Đức Cha Phrancis tuột khỏi đầu Pie Y Tlang, biến thành chiếc cánh vẫy vẫy. Y Tlang cuống cuồng ngẩng lên, đuổi theo

– Đừng bỏ con Cha ơi! Cha! Tìm ông gì Cha ơi…

Đuôi chiếc áo choàng đen quật vào ngực anh đau điếng. Y Tlang mở mắt nấc nghẹn. Chao ôi! Cái hồ hơn năm trăm héc ta mặt nước. Họ đã đi nửa số buôn bản địa quanh nó. Mấy lần trăng? Mấy mùa rẫy Y Tlang mới đi giáp vòng? Mới tìm được cái nơi mẹ đã cắt nhúm nhau, cha đã chôn cuống rốn cho anh? Mà người ta có ở mãi một chỗ đâu. Tìm đến chỗ này là buôn mới, buôn cũ đã dời đi từ hồi bệnh dịch thổ tả hoành hành. Đến chỗ nọ, rẫy cũ đã hết màu, bon làng phải dắt díu nhau đi tìm vùng rẫy khác. Thời chiến tranh còn chạy giặc, dồn dân gom về các ấp chiến lược. Từ ngày thống nhất hai miền, cũng đã vài đợt quy hoạch định canh định cư rồi. Mà Y Tlang đâu có biết mình vốn gốc Êđê hay Mnông đâu để tìm chứ?

– Cha đặt tên con là Y Tlang. Con chim Tlang pút vẫn hót bên cửa số nhà thờ của Cha ở bên cạnh hồ, mỗi sáng sớm…

Cứ đi, cứ hỏi. Mà hỏi ở đâu? Tìm ở đâu? Hỏi ai? Mẹ ơi, cha ơi! Con lại phải tiếp tục sống trong mù mờ thế này bao lâu nữa?

Chiều đang mờ dần trên mặt hồ. Bóng tối trong nhà đã đặc như cắt được. Chợt có tiếng thoang thoảng :

– Về đi con! Những người Mẹ mang con đằng trước, mang gùi đằng sau, không khi nào chối bỏ con cái của mình đâu…

Y Tlang bật dây, thoáng như thấy một phụ nữ tóc dài chấm gót, váy quấn ngang cặp vú, đôi vai trần loang loáng nước, uyển chuyển lướt qua cửa. Bà tan biến trong sương đêm đang mỗi lúc một dày lên.

*

Mệt mỏi. H’Zen và Y Tlang leo lên chiếc xe đò đầy bụi về thành phố Buôn Ma Thuột. Nóc xe chất cao nghệu những sọt hàng chở đầy ốc, cá , lươn…Họ phải về vì đã đi gần trọn tháng. H’Zen thiu thiu ngủ. Y Tlang không dứt khỏi được những ý nghĩ triền miên, lặng lẽ ngó mông ra ngoài cửa xe. Vùng đất này đến lạ, vượt qua những qủa đồi cao với những dãy núi đá thấp chen đất đỏ bạc phếch, những rừng cây lưa thưa, là gặp những cánh đồng rộng đến khó tin.Lúa xanh mơn mởn trải dài đến tít tận chân núi xa. Chơ vơ giữa đồng, một thân cây với đầy những cụm hoa lớn trắng xóa. Đứa trẻ chăn trâu chạy vụt qua, những cụm hoa lay động, biến thành cả trăm con cò trắng táo tác bay lên trong nắng. Bầy cò hợp thành đàn lớn, giang cánh bay về phía núi xa, như một dải lụa trắng phơi ngang nền trời xanh trong vắt. Cái màu xanh ngăn ngắt của bầu trời cao nguyên sao diệu kỳ đến vậy. Dường như không giống với màu xanh của bất cứ một vùng trời nào Y Tlang đã từng thấy, ngay cả bầu trời ở vùng ngoại ô Paris đầy cây xanh mà anh đã lớn lên. Màu xanh ở đây cứ trong vắt, thăm thẳm, nó hợp với chàng gió phóng khoáng tạo nên sự bao la đến vô tận. Giá không có những người phụ nữ váy kéo ngang đầu gối, đang lom khom cấy lúa, làm cỏ, chắc người ta ngỡ đang ở một vùng đồng bằng hay trung du nào đó. Chợt Y Tlang há hốc miệng, chồm lên thành xe, thò hẳn đầu ra ngoài : một người đàn ông mặc độc chiếc quần cộc, phơi tấm lưng trần loáng mồ hôi nâu bóng, vạm vỡ, đang đuổi…voi cày ruộng. Con voi thủng thẳng nhấc từng chiếc chân to như cột nhà, lội bì bõm trong đám bùn. Đuôi ngoe nguẩy như làm nũng với ông bố đang cầm cày phía sau, nhưng vòi lại hít đầy nước ruộng phun lên thằng bé đang nhảy chồm chộp bắt dế trên bờ ruộng. Người đàn ông nhẫn nại đẩy chiếc cày, lật lên những tảng đất bùn đen bóng.

Ôi ! Có biết bao nhiêu điều bí ẩn kỳ lạ mà ta chưa từng được thấy. Có phải quê hương ta thực đó không? Giá mà được sục chân trong đám bùn mát rượi kia. Giá mà được nằm lăn trên đám cỏ mịn dưới gốc cây knia đơn độc giữa đồng ấy. Giá mà được lắc lư trên bành voi đi trong bóng râm mát của rừng đại ngàn? Mẹ ơi! Mẹ chối bỏ con ư ?

Con đường làm từ thời Pháp đến nay, chưa được tu sửa lớn lần nào, xóc dữ dội.Chả trách người ta gọi là Lắc. Đường hẹp chỉ đủ hai xe tránh nhau. Một cái xóc nảy người, quăng cả H’Zen lẫn Y Tlang chúi về phía trước. Từ lúc lên xe, quá mệt mỏi và mải suy nghĩ, bây giờ họ mới chợt nhận thấy : ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu đặt thêm cạnh thùng máy, ngay trước mặt hai người là một ông già dáng nhỏ thó.Tóc ông loăn xoăn trắng như bông blang, xòa xuống tận cổ, viền quanh khuôn mặt đen cháy, đầy nếp nhăn xếp nếp như thân cây bằng lăng cỗi. Hai bàn chân khô đét đầy bụi đường, ngón cái xòe ra tách hẳn với những ngón chân kia, kẹp chặt chiếc dép bằng da bò, co hết lên trên chiếc ghế nhỏ. Tẩu thuốc đen bóng dính chặt trên môi. Đôi mắt ông đã sùm sụp nhưng vẫn ánh lên vẻ tinh anh của người già được coi là thông thái trong buôn. Một chiếc áo không tay dày cộm, cứng queo, luốc luốc màu đà khoác trên vai. H’Zen nhận ra chiếc áo bằng vỏ cây đập dập rất kỹ. Ông lão lạc lõng với xung quanh như vừa bước ra từ câu chuyện cổ về con lươn thần của hai chàng Lăk, Liêng. Một tia sáng lóe lên trong đầu, H’Zen tỉnh ngủ hẳn :

– Ti ih nao ? ( Ông đi đâu vậy?)

Mắt nheo nheo, hai lỗ mũi nở bung, phì ra một đám khói đặc, khét lẹt mùi lá thuốc gốc, thủng thẳng ông nói từng tiếng :

– Đi Buôn Thuật! Cho đứa cháu chứng dùm lại cái giấy cách mạng ghi cho mình đóng góp voi từ hồi chống Pháp.

– Ông mấy lần rẫy rồi?

– Cái bầu khô từ hồi Âe Tăng mình bỏ vô, mấy con cháu đếm được tám mươi sáu hòn đá suối đấy.

– Ti anôk buôn ih? ( Ông ở buôn nào?)

– Buôn Du đó chớ đâu.

Y Tlang chồm tới vồ lấy hai bàn tay như hai chiếc lá đa úa khô, lắc lắc:

– Ông ơi, buôn Du hồi xưa có ai đưa con nít mới sinh cho Đức Cha người Pháp nuôi không ông?

– Để coi coi…Ôi Yang ạ. Cái đầu mình khô như hạt giống trong bầu rồi đấy…

Cặp mắt lại nheo nheo, lại một đám khói đặc khét lẹt che mờ cả khuôn mặt ông lão. Ánh mắt ông bỗng lờ đờ, lờ đờ như đang lạc vào cõi hư vô nào xa lắc…

*

Tiếng ching báo có người chết rầm rập nổi lên từ cuối buổi chiều, các bà í ới xôn xao gọi nhau suốt các nhà dài, từ cây blang đầu buôn, tới bến nước cuối buôn :

– Con H’Liang nó tắt hơi rồi đấy. Nghe tiếng ching báo không?

– Amí Tin ơi, bà sang đó giúp thay váy áo cho nó với.

– Ơ amí Son. Mày ghé bà Chàm lấy mấy cuộc chỉ màu tết sợi dây cúng hồn nhé.

– H’ Yên ! Ở đâu rồi? Con xúc cho amí một nồi ba gạo mang sang nhà cô H’Liang nhé…

Nhà H’Liang không lúc nào ngớt người lên xuống. Sàn nứa rung rinh kêu ràm rạp. Vịn đôi bầu vú gỗ đến nơi cầu thang đằng trước là đàn ông, người mang cột gơng cúng thần, kẻ vác ché rượu, anh khiêng nồi nước, thoăn thoắt nối bước chân nhau. Thang đằng cuối nhà, cô cõng gùi gạo, chị xách con gà, bà nọ hấp tấp chạy sai bọn trai trẻ bổ thêm củi, mấy cô gái gùi thêm bầu nước. Khói đặc sệt từ các bếp lửa dưới sân nhà rung rinh theo nhịp ching, nhịp chân. Các ông oang oang cắt cử người đào huyệt, kẻ tạc tượng, bác làm hòm, cháu bẻ lá nhét vô ghè rượu. Xì xào là tiếng các bà bàn tán sự đẻ khó của H’Liang, tính toán số gạo phải giã, đồ ăn phải đủ cho ba ngày cúng đám. Vượt lên trên những tiếng nhộn nhạo ấy, như một cánh chim chấp chới hốt hoảng, là tiếng khóc của thằng bé mới sinh. Nhăn nhúm như một trái cà dái dê để héo, nó ngoác cái miệng đói sữa mà gào lên từng chặp. Bà đỡ bồng nó đung đưa, vỗ về, kể lể. Mặc ! Nó cứ gào bằng cái giọng đến là chói tai. Đôi lúc bà lão đút ngón tay út vô miệng cho nó mút. Không nhận được chút gì, nó lại nhả ra la chói lói. Dường như thằng bé linh cảm thấy số phận của nó chẳng khác gì rừng đêm không trăng. Pap mnai – tội nghiệp cái thằng ! Cha nó cách nay ba lần con trăng treo vì bắn hụt con hổ thọt, bị nó xé xác trong một đêm săn. Một mình mẹ nó, cái bụng khệ nệ như chiếc trống h’gơr, hết lên rẫy cuốc cỏ, lại xuống suối xúc cá, mò ốc. Chắc không muốn mẹ mang nặng, nên chưa tới ngày tháng đủ, thằng nhỏ đã quẫy đạp đòi ra, khiến amí nó ngã dụi, bao nhiêu máu trong người ào ra cả bờ suối như nước trong bầu dội xuống. Lúc bà đỡ phát vô cái mông bé teo cho nó khóc, cũng là lúc mẹ nó tắt làn hơi cuối cùng, không kịp mở mắt nhìn thấy mặt con. Nó khóc ngằn ngặt từ lúc đó. Ác cái là mẹ nó mồ côi, là người cuối cùng của dòng họ H’Druê ở buôn này. Còn cha nó, lưu lạc từ đâu tới, cả buôn không ai biết rõ, ở làm nô lệ nhà người ta, tới lúc thương nhau, mẹ nó mang tất cả những vật dụng quý còn lại của gia đình, sang nộp cho Âe Tăng làm lễ hỏi và cưới cha nó. Cả dàn ching Lao quý giá pha đồng đen, lẫn bộ ché Tuk, ché Tang ba đời, lớn nhỏ mười cái, mới chuộc được cha. Lúc cha mẹ nó về ở chung, chỉ còn cái nhà trống lổng. Gió đuổi nhau chạy từ cửa phía Bắc sang cửa đằng Nam, không gặp cái gì ngăn lại. Còn bây giờ á, không có người đặt tên cho nó. Càng không có ai để mang tên nó, mẹ nó cứ mãi là H’ Liang với hai mươi mùa rẫy. Cha nó cũng vẫn cứ là Y Rit. Chẳng ai được buôn làng gọi ama thằng nọ, amí thằng kia theo tập tục nữa. Thằng bé vẫn cứ khóc không lặng.

– Tội nghiệp thằng nhỏ quá đi. Buôn mình sao lúc này không có ai đang nuôi con bú hè?

– Con H’Liang có còn bà con nào ở buôn gần, buôn xa không? Đem thằng nhỏ tới đó gửi.

– Đâu có còn ai ! Chắc phải chôn nó theo mẹ thôi. Lời luật tục ông bà ta là thế đó.

– Bếp mình nhận nuôi nó được không amí?

– Đâu có được. Mình không phải bà con, cũng không có người đang còn sữa, làm sao làng cho nhận. Nuôi không nổi nó còn khổ hơn. Phải làm cái hòm rộng cho mẹ nó mang đi theo thôi. Sau này về nhà ai cũng có mẹ có con. Luật tục khít như vậy rồi.

– Ama ! Cái ông áo đen, tóc vàng như râu bắp đó, là ai vậy ?

– A! Đó là người Cha ở nhà thờ buôn Tâng Jú. Con trai buôn mình có người học cái chữ với ông đó mà…

Từng hồi chiêng tang lễ vẫn dồn dập, dai dẳng.

*

Pie Y Tlang ngồi lặng nơi đầu sàn, ngó ra mặt hồ. Chiều, như cô gái tắm, hờ hững buông rơi tấm choàng hoàng hôn. Hàng đàn chim kiú quáo gọi nhau về tổ, cánh chấp chới chao nghiêng in trên nền trời đỏ. Xa xa, những cành thủy tùng khô khỏng, tạc vào chiều như bao nhiêu cánh tay níu kéo, kêu gọi.

Tiếng ching đón khách rộn rã trong nhà ông Ama Nhen, cháu ba đời của Âe Tâng. Không biết có yang nào phù trợ vượt được mọi đổi thay, mà ngôi nhà sàn dài này đã chứng kiến gần cả trăm lần sen tàn, sen nở trên hồ Lăk rồi. Những cây cột một vòng tay ôm, chiếc ghế kpan độc mộc dàn chiêng đang ngồi, dài hàng sải tay; cả chiếc jhưng nơi ông chủ nhà nằm ngủ mỗi đêm bên bếp lửa, đều đã đen bóng như thoa nhọ nồi.

Y Tlang gục đầu. Tay phải vô tình cứ xoay xoay chiếc vòng đồng mà thày cúng sau khi khấn khứa các vị thần linh thiêng, đã lồng vào cổ tay trái cho anh. Tiếng chiêng dội trong ngực anh đau nhói.

– Thế rồi cuối cùng con cũng tìm được bến nước của mình, mẹ ơi.

– Con ơi! Mấy chục mùa gió nổi nay, cha mẹ cứ bay vật vờ như con mối, vì không có người bỏ mả, không thoát được bến nước này, làm sao theo phù trợ cho con được. Nhưng con đã về đây rồi, núi này, rừng nọ, bến nước đây sẽ không bỏ rơi con đâu. Ơ con của mẹ….

Lời khấn của Pô riu yang âm âm trên mặt hồ lãng đãng phủ kín hơi sương :

– Tôi gọi ông Du, ông Diê. Tôi gọi ông Gỗn trên làng trời. Tôi gọi bà Dung bà Dai dưới đất. Tôi gọi hồn mẹ hồn cha phơ phất. Hãy nhận lấy con mình lạc nơi bến nước lạ, nay đã về được với bến nước mẹ cha. Xin các yang cho cái tay nó khỏe như hùm beo, cái chân nó mạnh như heo rừng. Cho của cải của nó tầng tầng như lá cây, tình anh em tràn đầy như nước suối.Ơ Yang !

– Nhưng mẹ ơi, nơi này con đâu còn có ai?

– Còn chớ con ! Bến nước đầu buôn nơi mẹ đổ máu sanh con. Rừng xanh ở đây máu cha con đã đỏ gốc. Cái rốn con chôn chỗ này. Nước sương nơi đây con đã uống. Đó chính là sức mạnh của rừng, đất đã cho con. Bà con đó sẽ là anh em. Buôn làng đó sẽ là nhà con.

– Mẹ! Mẹ ơi!

– Cha mẹ luôn ở mãi với con đây con à.

Y Tlang se sẽ rùng mình. Bàn tay nào vừa vuốt nhẹ từ trên đầu xuống mặt anh.

Vẫn là tiếng chiêng ấy, bây giờ ngân nga ca hát. Tiếng ching dội vang trên mặt hồ, chạy theo những con sóng lăn tăn, gọi vầng trăng mười sáu to như chiếc nong phơi lúa, nhô lên khỏi mặt nước. Những con ruà, con chim, kỳ đà trên xà nhà như được ánh trăng đánh thức, động đậy, động đậy. Y Tlang vươn người đứng dậy hít căng lồng ngực hơi nước mát lành. Anh như mỗi lúc một lớn bổng lên, tràn đầy sinh lực.. Quay lại, H’Zen đã đứng bên cạnh từ lúc nào. Tiếng ching rộ lên đón chào, vây bọc lấy hai người, ấm áp. Lung linh, lung linh, mặt nước bạc xôn xao, chở tiếng ching vui về bao bến nước….

Linh Nga Niê Kdăm

Con trai của rừng Xa Nu

Con đường năm cây số từ trung tâm xã về làng Kon Riêng lúc chạy vòng theo ven hồ Đac Noa, khi lại men theo những thuở ruộng lúa nước, có chỗ lại luồn dưới bóng xanh mát của rừng xà nu. Nắng trải chiếc chiếu vàng lên mặt hồ, mặt ruộng lung linh, nhưng chỉ lọt thành những tia sáng xanh trong đám lá xà nu dày đặc. Dưới tán rừng tiếng ong bay vi vu hoà trong lời xạc xào của gió, lẫn với tiếng suối róc rách chảy. Thứ hương lá, hương nhựa, hương hoa đặc biệt của xanu nhè nhẹ lan trong không gian. Cũng lạ cho cây xanu, chỉ mọc ở những triền núi dốc đứng cằn cỗi, có khí hậu khắc nghiệt, nhưng rễ cắm sâu vào lòng đất, san sát bên nhau thân nào cũng vươn thắng, lá biếc đến tưởng như không còn cách gì xanh hơn được nữa.

Y Sao từ uỷ ban xã về, nét mặt tươi rói, bước chân đi như chạy. Mọi ngày đi dạy về cô còn lang thang chán, hết ngắt những ôm cúc dại mọc đầy ven đường, lại ngồi hàng giờ trên hòn đá hình đầu cá giữa suối, dầm chân trong nước mát mà lẩm nhẩm hát “Chim Jil tắm bên sông DakBla…” Nhưng hôm nay Y Sao muốn đi cho nhanh về đưa thư cho A Siêng. Thư của A Manh bạn anh ấy gửi từ Buôn Ma Thuột. Trong những đêm ngồi trong bếp lửa, A Siêng thường kể cho anh chị, các cháu và bạn bè nghe những chuyện hồi học trường nội trú dân tộc, trường đại học Tây Nguyên, về những người bạn cùng học ở Dak Lak. Trong đó có A Manh. Với những người chưa bao giờ đi xa như ở làng Kon Riêng này, những chuyện A Siêng kể thật hấp dẫn. Còn Y Sao biết những đêm kể chuyện như thế, A Siêng thường mất ngủ. Ký ức với anh bây giờ sao mà xa vời vợi…Không biết A Manh nói gì, nhưng có thư chắc là A Siêng vui lắm. Anh ít khi nhận được thư từ của ai, kể từ vài năm về đây ở với anh chị. Từ lúc nào không biết, Y Sao đã vui với cái vui của A Siêng, hiểu nỗi buồn của A Siêng thế nhỉ? Cô gọi to ngay từ chỗ cây xoài quẹo vô sân:

– A Siêng! A Siêng à! Có thư của anh A Manh này.

A Siêng quýnh cả hai chân, nhảy bổ từ trong nhà ra , giật lấy lá thư trong tay Y Sao:

– Đâu! Đâu! Đưa coi đi.

Nhưng đọc xong rồi A Siêng thẫn thờ ngồi thụp ngay xuống sân, nét mặt bỗng trở nên đờ đẫn xa vắng dần. Y Sao cuống lên:

– Chị Y Mải ơi, A Siêng làm sao đây?

Chị gái A Siêng chạy vội ra hối hả giục Y Sao cùng đưa A Siêng vô nhà. Cứ như người bị ma lai bắt lạc mất hồn, anh để mặc hai người dìu như kéo đi, đặt lên chiếc giường nhỏ ở góc nhà. Chị Y Mải bảo Y Sao đọc xem lá thư viết gì. Thì ra A Manh dặn A Siêng làm gấp hồ sơ gửi sang trước, rồi người từ từ qua sau để cơ quan phỏng vấn và thử việc.

– Ôi, việc mừng thế này còn gì? Không đi làm bác sĩ cũng được chứ sao. Miễn được vô nhà nước là tốt rồi. Sao A Siêng biết tin này lại buồn thế hả chị Y Mải?

Y Sao ngơ ngác, hết nhìn chị lại nhìn sang A Siêng đang nằm thiêm thiếp nhắm mắt như ngủ. Mãi mà chẳng hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra. Chị Y Mải buồn buồn nói nhỏ:

– Y Siêng tủi cái đầu đó mà. Năm ngoái A Manh cũng đã một lần gửi thư. Nó nói hỏi thăm hoài mới biết A Siêng về đây. Lại hỏi A Siêng đi làm chưa? Có muốn làm việc ở chỗ nó không, để nó nói thử với thủ trưởng, vì bên đó đang cần người. Trúng lúc cuối mùa không còn hột gạo mà ăn. Cả ngày cả nhà đi đào củ trong rừng, nên A Siêng đâu có gửi trả lời cho A Manh. Bây giờ cũng lại giống như hồi đó thôi.

Bỗng hai chị em giật mình thấy A Siêng nhỏm dậy, đập mạnh trán vô tường mấy cái. Chạy vội đến bên, cả hai thấy A Siêng miệng cắn chặt cái chăn, hai bàn tay quắp lại, nước mắt chảy tràn xuống gối.

– A Siêng à, đừng buồn thế em! Mình không đi sang đó được thì thôi. Chắc A Manh nó cũng hiểu mà.

Chị Y Mải vỗ về em. Y Sao nhẹ nhàng vuốt lên tay A Siêng, lần lần gỡ dần những ngón tay đang co quắp cứng ngắc ra. Dưới tác động tình cảm của hai người phụ nữ, thân hình A Siêng lỏng dần, giãn dần ra rồi chợt ngủ thiếp đi. Anh rể cũng vừa về tới, chị Y Mãi vội vàng kể lại cho chồng nghe. Cả ba ngồi quanh bếp lửa, buồn cho A Siêng mà không biết nói gì. Hồi lâu Y Sao đứng dậy:

– Thôi em về đây, chào anh chị.

Nhìn theo bước chân cô gái, chị Y Mãi khẽ thở dài. Chuyện Y Sao thương thầm A Siêng mấy năm nay,ở Kon Riêng ai cũng biết.Hai bên nhà cũng ưng bụng cho hai người thành đôi. Nhưng không biết vì sao A Siêng cứ như tránh né. Mỗi lần có ai nói đến chuyện này, lại im lặng bỏ đi chỗ khác. Xem ý thì không phải thờ ơ với Y Sao đâu, nhưng im im thế miết, ai mà biết ra thế nào chớ. Anh rể mở nắp chiếc nồi trên bếp, ấn thử coi củ đã chín chưa, rồi đậy lại, bỏ thêm mấy cành củi vô bếp, thủng thỉnh nói một mình nghe:

– Tội nghiệp cho cậu quá! Từ đây đi xe ôm ra huyện, từ huyện xuống thị xã Kon Tum rồi qua Buôn Ma Thuột. Cả đi về cũng gần hai trăm nghìn đồng tiền xe. Chưa nói tiền ăn uống nữa chớ. Biết lấy đâu ra bằng đó tiền cho cậu đi.

Cả Kon Plei này đói. Cả xã đói. Trận lũ quét vừa qua đã cuốn đi tất cả lúa lẫn đậu bắp đang còn trên rẫy gần như của cả làng. Số lúa ruộng ít ỏi ngập trong nước hàng tuần cũng thối rụng hết. Y Mải nói với chồng:

– Mình thấy dạo này cậu hay đau đầu lắm. Anh có nhớ bữa hôm đào củ trong rừng, A Siêng cắm đầu xỉu dưới hốc củ không? Không có mấy người cùng đi chắc chết không ai biết rồi. ở nhà cậu cũng lúc đi ra đi vô lờ đờ, có khi lại ngồi im cả ngày không nói câu nào.

– Thì cái tánh cậu ít nói từ xưa. Không nói ra được để ở trong người nó man man là phải thôi. Học đại học ra mà không được đi làm, đi rẫy miết thế này sao chịu nổi.

Có điều, là bác sĩ nên A Siêng biết cách giữ cho thần kinh mình không vượt quá sức chịu đựng có thể. Thấy bệnh tình em như vậy anh chị cũng không dục đi rẫy, đi ruộng, cứ để A Siêng tự làm những gì mà sức khoẻ cho phép. Khi nào cảm thấy sắp lên cơn thì phải về nhà ngay.

Suốt thời gian đó, Y Sao luôn luôn ở bên cạnh A Siêng. Những buổi phải lên lớp thì thôi, rảnh việc là cô lại chạy qua nhà trò chuyện cùng cho A Siêng đỡ buồn. Có một lúc tỉnh táo, A Siêng nói với Y Sao:

– Y Sao cưới chồng đi. Tui biết tình cảm của Y Sao, nhưng đừng có chờ tui làm gì. Y Sao với tui không thành đâu.

– A Siêng nói gì như vậy? Y Sao chưa bao giờ trách anh một tiếng nào mà. Nhưng tại sao A Siêng lại nghĩ hai đứa mình không thành đôi?

– Đừng hỏi tui. Tui không muốn Y Sao bỏ phí những năm chờ đợi. Các bạn gái của Sao không chỉ lấy chồng mà còn có con hai ba đứa rồi đó.

– Nếu A Siêng nói một lời thương Y Sao sẽ chờ tới khi nào cũng được mà.

– Không! Tui không thể!

– Nhưng tại sao? Tại sao chớ?

A Siêng bỏ đi như chạy ra khỏi nhà, để lại Y Sao nước mắt đầm đìa và nỗi buồn không thể nói thành lời. Nóng như lửa. Ngột ngạt không thở được. Một bầy kiến càng cắn trong lồng ngực đau nhói.

* *

*

Nửa khuya, bà Y Vui chuyển bụng sanh, rên la ầm ĩ. Cả nhà cuống quýt. Mưa to.Trạm xá thì xa, lỡ nửa đường sanh biết làm sao? Ông A Sam quýnh lên bảo con:

– Chạy qua nhà cô Y Mải, nói chú A Siêng tới coi dùm mẹ con đi. Nó bác sĩ mà.

Thằng cậu đang lui cui cột võng vào cái đòn khiêng, quát lên:

– Cứ đưa đi trạm xá thôi, thằng A Siêng tâm thần mà, bác sĩ gì.

Bà ngoại đang ngồi cạnh giường giữ tay con gái, nhổ toẹt miếng nước trầu vô vách, ngoái cổ ra bảo:

– A Siêng bác sĩ có bằng chớ. Nó tâm thần có lúc thôi. Cứ chạy qua coi, đang lúc nó tỉnh may ra giúp được mẹ mày.

Thằng nhỏ chạy ào ào. Đêm đen như hũ mực.Gió cứ rit lên trong những tàn cây như tức giận điều gì. Mưa tạt vào mắt xót tới không mở ra được. Con đường bò đi đầy bùn trơn trượt, chốc chốc thằng bé lại ngã cái uỵch, nó tấm tức khóc, dơ cánh tay đầy bùn lên quệt nước mắt chạy tiếp. May quá trong nhà còn ánh lửa. Nó nhào tới đập cửa thình thình:

– Chú A Siêng! Chú A Siêng cứu mẹ cháu với.

A Siêng bật dậy hỏi to.

– Ai kêu gì đêm khuya vậy?

– Mẹ cháu đau đẻ, nhờ chú tới giúp.

Chị Y Mải ngồi dậy từ trong buồng nói vọng ra:

– Khiêng đi trạm xá thôi. Chú Siêng đau mà, làm sao giúp được.

A Siêng quyết định rất nhanh.

– Chị để em đi coi thử. Nếu gay go quá thì em đi cùng ra trạm xá cũng được mà. Chờ chú ra ngay!

Nói rồi A Siêng lục tìm chiếc ống nghe lâu nay vẫn cất kỹ, với lấy chiếc túi nhỏ có vài loại thuốc ít ỏi,hối hả đi theo thằng bé. Từ khi về ở với anh chị, A Siêng chỉ chữa bệnh cho người trong nhà. Đây là lần đầu tiên có người gọi anh đi giúp. Vừa đi A Siêng vừa cố nhớ nhanh những kiến thức về sinh đẻ đã học.

Hơn một tiếng đồng hồ căng thẳng, bà mẹ cũng may mắn sanh dễ, đứa bé gái đã cất tiếng khóc đầu tiên. A Siêng toát mồ hôi ngồi phịch xuống chiếc ghế nhỏ bên bếp lửa, rửa đôi tay trong chậu nước ấm, rồi anh giơ ống tay áo quệt những giọt mồ hôi đầm đìa trên trán. Đến bây giờ anh mới thấy mệt rã rời, đã ngồi xuống rồi mà hai chân vẫn run lẩy bẩy . May quá không có sự cố gì. Ông A Sam ngồi xuống bên A Siêng:

– Cám ơn bác sỹ nhiều lắm. Không có anh, phải đưa đi trạm xá chắc bả sanh rớt giữa đường rồi.

– Không có gì đâu anh, người trong làng giúp nhau thôi mà…

Bà ngoại bọc đứa nhỏ trong tấm chăn thổ cẩm đưa cho A Siêng:

– Cho chú làm cha kết nghĩa này.

Đôi tay run run ôm chiếc bọc ấm áp vô người,đột nhiên một sức mạnh ấm nóng nào từ từ dâng lên trong người A Siêng. Anh như người say ruợu ghè, lâng lâng, choáng váng, siết chặt thân hình bé nhỏ của đứa trẻ vô ngực, nước mắt chảy ròng ròng…

Kể từ buổi tối hôm đó, người trong làng ai có bệnh gì đều chạy tới tìm A Siêng. Lúc đầu anh còn từ chối, viện cớ bệnh đau đầu thường hay tái phát, hoặc không có đồ nghề lẫn thuốc chữa bệnh. Thế là tại nhà Rông có một cuộc họp của làng:

– Bây giờ A Siêng nó chịu chữa bệnh cho người Kon Plei ta, nhưng nhà bác sĩ nghèo quá, không có đồ khám chữa bệnh,không có tiền mua thuốc, ta phải làm sao?

– Già làng cứ nói một tiếng, mọi bếp đều góp tiền lại cho A Siêng làm vốn chữa bệnh có được không?

– Ai có ít nộp ít, ai có bi nhiêu nộp bi nhiêu. Lâu nay có bác sĩ trong làng mà không để chữa bệnh cho mình.

– Hay ta đề nghị xã cho bác sĩ vay vốn xóa đói giảm nghèo?

Cả nhà Rông ồn ào lên:

– Được đấy! Bác sỹ mà nghèo đói thì cũng cần phải giúp đỡ chớ.Trưởng kon plei ngày mai làm giấy đề nghị xã giúp A Siêng thôi.

– Cho vay nhiều nhiều đi, để bác sĩ mua thuốc chữa bệnh luôn…

Vậy là với số tiền hai trăm ngàn bà con cả làng đóng góp và 2 triệu đồng quỹ xoá đói giảm nghèo cho vay, A Siêng đã có thể hàng ngày làm công việc trị bệnh cứu người mà anh mong ước. Khắp mấy Kon Plei quanh vùng, trong xã, rồi người cả xã bên đến tìm anh ngày một đông. A Siêng chẳng nề hà đêm hay ngày, mưa hay bão, xa hay gần, hễ có người gọi là xách túi thuốc đi liền. Bà con tin cậy và yêu mến anh lắm. Cũng may mà hồi đi học, A Siêng ý thức được trách nhiệm của mình nên đã theo đa khoa. Cũng lạ, căn bệnh đau đầu trầm cảm của anh ngày một thưa dần rồi chấm dứt hẳn từ lúc nào không biết. Chỉ có điều, bà con nghèo nên có lúc người khỏi bệnh trả bằng gà, trứng gà, gạo, thậm chí cả bằng bắp, củ mì ,A Siêng cũng nhận. Nhưng anh chẳng có nhiều tiền phụ cho anh chị, cũng không dùng gạo, hay gà đó trả vốn ,lãi cho xã được. Tuy nhiên, được làm nghề của mình đã học là tốt rồi.

* *

*

Vừa sang chích thuốc cho bà Chen, đang chuẩn bị đi rẫy thì chị Y Mải ở ngoài chạy về, hổn hển, vội vã:

– A Siêng đừng đi nữa! ủy ban tới nhà mình bây giờ đấy. Nghe nói có người nhà nước tới tìm em đi làm. Cả A Manh nữa đó!

A Siêng đứng lặng một lúc rồi vô nhà cất cuốc và nón, cẩn thận rửa chân tay, rồi lôi đôi dép da phủ đầy bụi ra lau . Săm soi đám quần áo ít ỏi của mình, anh cố chọn bộ nào có vẻ mới nhất. Tất cả đều may từ thời còn là sinh viên, nhưng bao năm nay ít có dịp mặc đến nên có thể lỗi mốt, nhưng vẫn là những thứ tốt nhất mà anh có. A Siêng muốn xuất hiện trước những người bạn cũ bằng một hình ảnh dễ gây được cảm tình nhất.

Thế mà năm năm đã qua kể từ khi A Siêng nhận được tấm bằng tốt nghiệp Đại học Y khoa Tây Nguyên. Những tưởng mọi lo lắng vất vả của các anh chị và của A Siêng đến đây là chấm dứt. Anh, người đầu tiên của làng Kon Riêng và Kon Đào tốt nghiệp đại học, người dân tộc Sê đăng đầu tiên của cả xã học làm bác sỹ, sẽ là người đẩy lùi mọi bệnh tật trong cộng đồng của mình…

Năm ấy chiến sự diễn ra ác liệt giữa quân giải phóng và chính quyền ông Thiệu. Sau trận bom Mỹ dội xuống thị trấn Tân Cảnh và làng Kon Đào, Già A Nhiên mời hội đồng già làng về nhà rông để bàn một việc lớn. Đêm. Đống lửa giữa nhà rông đã nhóm lên. ánh bập bùng soi lúc mờ lúc rõ những con rùa, con chim khắc nổi và các hình vẽ đủ màu trên những cột kèo. Ghè rượu đã đổ đầy nước. Già A Nhiên uống hết kiang đầu tiên, chuyển tay cho già A Min. Đưa mắt nhìn quanh những khuôn mặt gầy già nua khắc khổ, nhưng vẫn ánh lên những nét tinh nhanh của trí tuệ cộng đồng cả làng,khoát tay một vòng về phía những ngôi nhà đang ngún lửa ở bên ngoài nhà rông, già A Nhiên nói:

– Kon plei mình phải đi khỏi đây thôi. Pháo giải phóng dội uỳnh uỳnh xuống ban đêm. Bom ông Thiệu đổ ầm ầm suốt ban ngày. Không sống nổi nữa đâu.

– Đã có năm bếp bị lửa ăn hết cả nhà lẫn người rồi.

– Nhưng rồi chạy đi đâu bây giờ? Không thể vô rừng được đâu. Quân Việt Cộng ở chỗ nào bom Mĩ ném xuống chỗ đó. Chạy đi chỗ khác cũng là đất của ông Thiệu. Chúa bắt chết mình chết. Chúa cho sống thì được sống. Cứ ở lại đây không được sao?

Già A Min nhả cái cần ra khỏi hàm răng cà sát xuống tận lợi:

– Không được! Phải đi thôi! Người Sê đăng Kon Đào không thể chết, cũng không thể sống mà chống chọi lại bom đạn của cả hai phía. Ta sẽ đi Buôn Ma Thuột, tìm một nơi nào đó để dựng nhà rông, lập làng mới.

Vậy là cả làng gùi cõng nhau chạy sang Đak Lak. Chuyển vài nơi rồi mới ở lại mảnh đất giữa hai con sông nước trong nước đục. Cha mẹ A Siêng đã chết cả trong trận bom Mỹ dội xuống Đak Tô để trả thù Việt Cộng ấy. Bốn anh chị em phải cõng nhau chạy theo họ hàng. Cả làng đi hết ở lại biết sống với ai.

Hơn mười tuổi, A Siêng đã thay anh dắt trâu dẫm ruộng, gánh cả sào mạ cho các chị gái cấy. Thương đứa em út vóc dáng gầy guộc, các anh chị cố gắng động viên A Siêng đi học. Thương anh chị vất vả, A Siêng biết mình phải gắng học sao cho giỏi. Suốt mười hai năm hết học trường huyện, đến trường nội trú dân tộc của tỉnh, A Siêng luôn ở trong nhóm vài người đứng đầu lớp. Việc thi vào đại học Y Khoa những năm đó, không phải là khó đối với A Siêng.

Những năm học đại học, A Siêng đã phải làm đủ mọi việc, vừa học vừa phụ giúp các anh chị nuôi các cháu. Cũng may mấy năm đó, sinh viên người dân tộc thiểu số có học bổng, có bếp ăn ở ký túc xá, nên A Siêng đủ ngày hai bữa ăn. Còn tiền làm cỏ, hái cà phê, kể cả đi quét vôi công trình xây dựng,dạy kèm…anh đều giành mua tài liệu và gửi cho các cháu. Ai chơi gì thì chơi, suốt ngày A Siêng chỉ miệt mài với sách vở và các tua trực.

Tốt nghiệp đại học, trong đầu nóng bỏng bao nhiêu ước mộng. A Siêng đã gõ cửa từ bệnh viện tỉnh cho đến trạm xá xã. ở đâu cũng nhận được câu trả lời “Đang giảm biên chế, làm gì còn định biên để nhận người mới”. Mọi cánh cửa đều đóng. Có nơi nhận hồ sơ, nhưng lần sau đến người ta bắn tin phải nộp 15 triệu mới xong việc. Chúa ôi ! Cả một năm cắm mặt xuống ruộng mới thu được vài chục bao lúa, chưa đủ ăn hết năm cho cả bảy tám người gia đình chị gái. Nhà chỉ có chiếc xe đạp là đáng tiền nhất, anh chị giao cho A Siêng đi học, để có phương tiện lúc rảnh chạy làm thuê, hay ngày nghỉ về làm rẫy giúp anh chị. Cả làng không nhà nào có nổi vài trăm ngàn đồng cất giữ trong nhà, nói gì tới 15 triệu. Hai con sông nước trong, nước đục thay nhau hàng năm dâng nước ngập cánh đồng Ea Yang, năm nào cả xã cũng gặt lúa non chạy lụt. Đến mùa khô cái nắng nơi này cũng dữ dội lắm. Mặt ruộng nứt nẻ , các con suối cạn khô chỉ còn là những dòng bùn loãng. Cá tôm cạn kiệt, hoạ may chỉ còn vài con lươn, trạch rúc sâu dưới bùn đất còn sống được. Người Ea Yang năm nào cũng phải nhận cứu trợ của huyện là thế.

Hai năm lận đận tìm việc và làm ruộng dẫu có dài rồi cũng trôi qua. A Siêng xin anh chị về Kon Tum làm rẫy với vợ chồng chị Y Mải, may ra còn có thể xin được việc chăng. Nhưng anh cũng không có cơ hội nào suốt ba năm cho đến tận bây giờ.

Cài nút chiếc áo màu xanh da trời mà anh vẫn thích, thở sâu một hơi, A Siêng bước ra nhà ngoài. Đông nghẹt. Tíu tít. Ông bí thư xã tươi cười nắm tay A Siêng nói:

A Siêng à! Đài TNVN cho người về xác minh lý lịch và muốn đón cháu về làm phát thanh viên chương trình tiếng dân tộc Sẽ đăng ở Buôn Ma Thuột. Đồng thời huyện cũng có quyết định tiếp nhận cháu làm trưởng trạm y tế của xã. Công việc nào cũng cần thiết cho dân tộc mình. Vậy cháu trao đổi với các anh chị rồi mai cho xã biết ý kiến quyết định có được không?

A Manh nhìn bạn tha thiết :

– Về bên đó lương và nhuận bút dịch ,đọc mỗi tháng cũng được hơn 1 triệu đồng đó A Siêng ạ. Có nhà tập thể ở, không phải đi thuê đâu.

Bác chủ tịch xã góp lời :

– Lương trạm trưởng được vài trăm ngàn. Nhưng cháu vẫn có thể khám bệnh thêm ở nhà mà.

Gần như cả làng tụ tập trong nhà Y Mải, khi nghe nói có cán bộ xã và đài TNVN đến tìm A Siêng. Anh chị Y Mải lúc quay bên này, lúc quay bên kia nghe ý kiến của mọi người. Góc nhà, cặp mắt khắc khoải âm thầm của Y Sao nhìn chằm chặp vô A Siêng như chờ đợi. Rộ lên những lời bàn tán, ồn ào tranh cãi. Chỉ mình A Siêng im lặng.

Cả đêm không ngủ. Anh ra khỏi nhà khi trời chưa sáng, thơ thẩn bên hồ Đak Noa. Mặt trời chưa mọc nhưng tít trên cao, một vòm xanh ngọc đang lan rộng dần, đẩy lùi những đám mây xám, hứa hẹn một ngày nắng đẹp. Đỉnh Ngok Linh thường vẫn khuất trong mây trắng, bỗng hiện rõ, dáng núi mềm mại tạc vào chân trời đang hé lên màu hồng. Quả đồi thấp như gò ngực người đàn bà nằm duỗi dài dưới chân núi ven hồ phập phồng thở trong sương sớm. Sóng vỗ óc ách, những con cá mương nép vô bờ ngủ qua đêm,quật đuôi lách tách vượt vội ra ngoài xa. Một cánh chim lẻ loi liệng mãi trên bầu trời, như muốn dấn sâu vào nỗi cô đơn nên đôi cánh nhỏ không buồn vẫy, cứ giang rộng từ trên cao sà xuống tận sát mặt nước, rồi lại lao vút lên bầu trời thăm thẳm. Như có cánh ná nào bắn vụt mặt trời lên đỉnh núi, ánh sáng chói loà thành một dải lụa vàng trải giữa mặt nước xám bạc lung linh. A Siêng quay người đi trở lại làng. Dưới tán lá xà nu xanh nơi bìa rừng, Y Sao đã đứng đấy từ lúc nào.A Siêng bước nhanh hơn, vươn thẳng người khẽ nói lên thành tiếng “Mình sẽ ở lại!” .

Linh Nga Niê Kdăm