
Người ta sẽ không trở nên già nua cho đến khi sự hối tiếc thay chỗ cho những giấc mơ.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
A man is not old until regrets take the place of dreams.
John Barrymore

Người ta sẽ không trở nên già nua cho đến khi sự hối tiếc thay chỗ cho những giấc mơ.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
A man is not old until regrets take the place of dreams.
John Barrymore

Có nhiều năm, tôi nán lại Sài Gòn đến tận hai mươi chín, ba mươi Tết, mặc dù mẹ cứ gọi điện thúc giục về mau.
Nán lại, để đợi lãnh hết các thứ tiền lương thưởng, rồi mới rộn rã chạy ra chợ Trần Hữu Trang mua mấy thứ bánh, mứt ở quê không có. Thứ mứt dừa non mềm và dẻo của Sài Gòn khác xa loại mứt dừa già tự sên ở nhà, chưa kể mứt me, mứt bí, hạt dẻ, các loại bánh kẹo “sang trọng” mà khi mời khách, bao giờ mẹ cũng thêm một câu “cái này mua tận Sài Gòn đó, ở đây không có đâu”. Xong lại chạy một vòng ra đường Hai Bà Trưng, Lê Văn Sỹ mua cho mấy đứa em chục chiếc áo sơ mi và quần jeans hàng thanh lý bán ở lề đường. Gom góp hết mấy tờ lịch treo tường được tặng. Vội vàng gói ghém cho kịp chuyến tàu tối.
Bình thường khi đi tàu, mạnh ai nấy ngồi. Những câu chuyện cảnh giác đầy rẫy trên báo khiến cho mọi người trở nên khép kín. Tôi thường trải qua những đêm trên tàu bằng cách ngủ co chân trên ghế, sao cho không phiền đến người bên cạnh.
Nhưng chuyến tàu Tết thì khác. Khi con tàu bắt đầu xình xịch lăn bánh ra khỏi ga Hòa Hưng, tôi nghe quanh mình bỗng đầy ắp những tiếng thở dài nhẹ nhõm. Về quê ăn Tết. Những lo toan thường ngày đã xếp lại. Mặc kệ những lo âu về việc phải tìm một chỗ ở mới hay thậm chí chỗ làm mới khi trở vào sau Tết. Tất cả đều thấy lòng xôn xao, chút tiền còm trong túi, chút quà mọn trong giỏ, và niềm vui được về quê kéo mọi người lại gần với nhau. Trong chốc lát, bỏ lại đằng sau những ánh đèn thành thị, tiếng nói chuyện bắt đầu tràn ngập toa tàu. “Quy Nhơn hả?” “Nha Trang cháu ở đường nào?” “Quê đâu mà nhìn mặt quen quen?”
Gần như tất cả những người bạn đường của tôi trên toa ghế cứng chật ních người đều đã qua một năm lao động mệt mỏi ở Sài Gòn. Những khó nhọc và bụi bặm của cuộc sống thường ngày vẫn vương bám trên vầng trán đầy nếp nhăn và những đôi bàn tay cáu bẩn. Nhưng trong khoé mắt họ ánh lên niềm vui. Những gói giấy, túi, giỏ nhét chật căng để chen chúc dưới gầm ghế.

Một năm kia, dưới chân tôi là hai chậu vạn thọ.
Chàng trai đen sạm ngồi ngay lối đi cười ngượng nghịu: “Chật quá, chị làm ơn cho để ké chút…” rồi như phân bua, anh nói tiếp “bông thọ này ông bác ở Củ Chi tặng, chứ ở ngoài quê rẻ rề”
Tôi mỉm cười. Đúng rồi, rẻ rề. Cái thứ vạn thọ lùn, bông tròn, màu vàng chanh hay ngả sang màu nghệ, một chục ngàn mua được vài chậu.
Có một lần, tôi tình cờ nhấp vào trang web từ điển mở Wiktionary ở ngay từ vạn thọ. Thấy trong đó viết: “Loài cúc, hoa có nhiều cánh, màu vàng, trồng làm cảnh”, ở dưới chêm một câu xanh rờn “Hoa vạn thọ rẻ tiền”. Tự dưng thấy nhoi nhói.
Chợt nhớ cô bạn đi du học ở Úc, năm kia Tết không về được, ra chợ người Việt nhìn bông vạn thọ mà òa khóc. Cô bảo rằng chợ Tết ở xứ xa chỉ có độc hoa vạn thọ, đích thị cái thứ hoa nhà quê mà sao sang đến đó lại nao lòng quá vậy.
Bạn nức nở qua điện thoại kể một năm nào đó ở lại Sài Gòn ăn Tết, tối ba mươi đi chợ hoa muộn, nhìn thấy mấy chậu vạn thọ không bán hết bị người bán bỏ lăn lóc bên lề đường, chưa qua giao thừa mà cánh đã rụng tả tơi. Bạn tiện chân đá bụp cả chậu vô đống rác, miệng than: “Chời chời, cái thứ bông này mà ở Sài Gòn cũng bán nữa nè chời?”
Kể lại, để thấy thương làm sao. Vạn thọ ơi vạn thọ, nếu không vì cái tên chắc mày còn thiệt thòi nữa. Vì cái màu vàng tròn đầy quá phô phang hết cả cái duyên, vì cái mùi thơm nồng hắc quá khiến người ta phải nhăn mặt.
Trên chuyến tàu về Tết năm ấy, người bạn đồng hành còn cho tôi biết thêm nhiều bài thuốc từ hoa vạn thọ. Rằng hoa vạn thọ phơi khô dùng nấu nước uống rất mát. Lá và hoa tươi giã ra trộn với chút muối đắp vào những chỗ sưng sẽ tan máu bầm rất nhanh… Tôi tiếc không ghi lại, chỉ nhớ sơ sơ.

Nhưng tôi vẫn nhớ rằng, người bạn đó là một sinh viên trốn vé, suýt nữa thì bị nhân viên tàu đẩy xuống cùng với hai chậu hoa và chiếc ba lô nhẹ tênh. Vài ba người ngồi quanh đó đã cùng tôi góp tiền mua vé cho anh tiếp tục cuộc hành trình. Đáp lại với đôi mắt long lanh và nụ cười ngượng nghịu, anh tặng tôi một chậu vạn thọ trước khi nhảy xuống ở một ga xép. “Chẳng có gì, chị nhận giùm cho tui khỏi áy náy”.
Ông cụ già ngồi cùng hàng ghế với tôi, vuốt chùm râu trắng bé xíu dưới cằm, khe khẽ đọc:
Nhất nhơn tác phước, thiên nhơn hưởng,
Độc thọ khai hoa, vạn thọ hương.*
Tàu lại xình xịch đi. Đêm mát và đen như thạch. Tôi nhìn xuống những bông vạn thọ chợt bừng sáng lạ lùng trong ánh điện mờ, mùi hương nồng tràn ngập toa tàu. Tết đang đến gần, gần lắm!
ĐặngNguyễn Đông Vy
* Câu này nguyên là “Nhất nhân tác phúc thiên nhân hưởng/ Độc thụ khai hoa vạn thụ hương”(Một người làm phúc, ngàn người được hưởng; một cây trổ hoa, vạn cây được thơm lây).

Những vấn đề của thế giới này không thể được giải quyết bởi những kẻ hoài nghi hay yếm thế, những người mà chân trời của họ bị hạn chế bởi thực tế hiển nhiên. Chúng ta cần những con người có thể mơ về những điều chưa bao giờ có.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
The problems of this world cannot possibly be solved by skeptics or cynics whose horizons are limited by the obvious realities. We need men who can dream of things that never were.
John F. Kennedy

Này Bi ơi này Lữ ơi
hồi tụi mình còn học lớp ba
nắng chắc vàng hơn bây giờ nhỉ?
(Thơ Nguyễn Hồi Thủ)
Tôi có một người bạn rất thân khi học cấp hai. Rồi không hiểu vì sao, do đâu và từ bao giờ, chúng tôi không gặp mặt nhau nữa, không trò chuyện với nhau. Chúng tôi mất hút nhau trong cuộc đời.
Một hôm kia, tôi chợt nhìn thấy bạn khi đang trên đường đi làm về. Tôi không kìm được mừng rỡ đến chào hỏi bạn, bắt tay bạn và nhắc lại thời thơ ấu xưa. Nhưng bạn có vẻ ngại ngần…Và tôi, sau mấy câu xã giao bỗng dưng không còn gì để nói. Chia tay bạn ra về, tôi chợt nhận ra rằng tình bạn ấy đã phai nhạt từ lâu lắm. Tôi vẫn yêu quý bạn như ngày cũ, vẫn nhớ về bạn dù bao năm trời không gặp. Và bạn, có lẽ không đến nỗi hững hờ. Nhưng những ngã rẻ cuộc đời đã khiến chúng tôi không còn gì chung để chia sẻ với nhau…
Người ta thường nói tình bạn khởi đầu từ tuổi hoa niên luôn rất đẹp. Nhưng người ta quên không nói rằng tình bạn ở tuổi hoa niên cũng có thể là một bước ngoặt.
Đó là thời điểm của những đổi thay về thể xác, tâm lý, nhận thức và tình cảm…Những thay đổi đến từ từ và không hề theo trình tự nào, không giống nhau ở từng người một. Đó là lúc ta nhận ra mình thay đổi, ta khám phá ra hình ảnh của mình, ngày một rõ ràng hơn. Và rồi, cả những người bạn vốn rất thân thiết của ta cũng thay đổi.
Những người bạn đồng hành cùng em đi qua thời mới lớn chông chênh này nhiều khả năng sẽ là những người bạn thân thiết và chân thành nhất mà em có được trong suốt cuộc đời. Đó là những người đã nhìn thấy em trong quá trình lột xác, có khi từ một người hiền lành bỗng dưng trở nên cục cằn, có khi từ xấu xí trở nên xinh đẹp, từ yếu đuối trở nên mạnh mẽ, hoặc ngược lại. Người đã chứng kiến những thay đổi lạ kỳ nhưng vẫn ở bên cạnh em, và người đã thay đổi nhưng em vẫn cảm thấy thân quen.
Có nhiều khả năng đó sẽ là một người bạn thiết.
Giai đoạn thơ ngây và thường vô vị lợi này là cơ hội tốt nhất để tìm được một tình bạn thân thiết. Em có thể có nhiều mối quan hệ trong đời được mệnh danh tình bạn, nhưng những người bạn thiết thì thật sự hiếm hoi. Vì thế, hãy cố giữ chặt lấy họ.
Nhưng nếu…

Nếu em không thể nào giữ được tình bạn thì sao? Trong quá trình thay đổi không gì ngăn cản được ấy, có những người bạn ngày càng trở nên gắn bó, nhưng cũng có khi, em đột nhiên nhận ra rằng có những người bạn từ thời ấu thơ giờ bỗng trở nên xa lạ. Có thể đó là lỗi của em, có thể đó là lỗi của bạn, có thể là lỗi cả hai, nhưng có thể (và cũng thường như thế) là không ai có lỗi.
Mary Tyler Moore đã nói rằng “Đôi khi, bạn phải quen biết một người thật sâu sắc mới có thể nhận ra đó là một người hoàn toàn xa lạ”. Cuộc sống đang chảy về phía trước. Em đổi thay và bạn cũng đổi thay. Sự chia xa âu cũng là lẽ thường tình của đời sống, có rồi lại mất, đến rồi lại đi. Vì thế sẽ có những tình bạn keo sơn kéo dài đến tận khi ta xa lìa cuộc đời với mái đầu bạc trắng, nhưng cũng có những người chỉ gắn kết với nhau trong một đoạn đời nào đó rồi thôi. Những người bạn của cuộc đời/ Có người như tấm gương/ Có người như cái lược/ Có người như con dao/ Có người như ngụm nước…(*) Theo sự đưa đẩy của cuộc đời (và đôi khi của cả lòng người), ta có thể kết thân rồi sau đó phải giã biệt không ít tình bạn qua mỗi chặng đường.
Người ta vẫn viết trong sách rất nhiều cách để giữ cho tình bạn lâu bền. Nhưng dường như chẳng mấy khi người ta nói cho chúng ta biết cách để tình bạn ra đi đúng lúc. Giữ được tình bạn đẹp là một nghệ thuật. Nhưng biết cách chia tay tình bạn (đã từng) đẹp cũng là một nghệ thuật. Đó là phải làm sao để dù không còn cà phê cà pháo, hẹn hò hàn huyên hay quan tâm sâu sắc đến nhau nữa, nhưng vẫn không hề ghét bỏ nhau.
Nếu sống chân thành, em sẽ hiểu là đôi khi phải buông tay để tình bạn ra đi – nhẹ nhàng trong luyến tiếc. Bởi sự thân mật một cách gượng ép – cốt để níu kéo một mối quan hệ đã nhạt nhòa – sẽ chỉ tạo nên những vết hằn xấu xí trên gương mặt hồn nhiên của kỷ niệm.
Chi bằng cứ trả tình bạn ấy về đúng chỗ của nó – trong một ngăn ký ức của ta – để mỗi lần nhớ đến ta đều thấy lòng mình rung lên bởi chút bồi hồi rất nhẹ: “Về đâu dăm người bạn nhỏ/ tựa những vì sao đêm/ lấp lánh trong dòng Ngân Hà của trí nhớ?”(*)
Và điều đáng kể nhất, chính là những dư vị còn lại trong trái tim ta, làm đầy ắp tâm hồn ta. Những dư vị ngọt ngào từ một tình bạn – dù đã nhạt nhòa.
Phạm Lữ Ân
(*) Thơ Nguyễn Hồi Thủ.

Nếu bạn muốn biến những giấc mơ của mình thành hiện thực, điều đầu tiên bạn phải làm là…thức dậy.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
If you want to make your dreams come true, the first thing you have to do is wake up.
J.M. Power

Ông lão xuất hiện trong sân trường với bộ quần áo cũ kỹ và hàng ria mép đen vểnh lên như lão phù thủy trong truyện Aladin. Trên yên sau của chiếc xe đạp là một chiếc thùng gỗ chứa đầy những điều kỳ diệu.
Một thằng bạn tôi sau khi đưa cho ông một đồng bạc mới đã được ghé mắt vào hai lỗ nhỏ trên thành thùng gỗ, cái miệng nó há ra đầy kinh ngạc và khoái trá. Rồi nó tung tăng chạy về lớp, kéo theo một dây những đứa tò mò như tôi: “Có gì trong đó hả mày?”. Không may, đó lại là thằng dở văn nhất lớp, nó chỉ có thể cười ngất ngây: “Đẹp… kinh dị luôn. Đẹp lắm! Y như xi nê” . Hết.
Tôi gần như điên lên vì tò mò. Giờ ra chơi, bao giờ tôi cũng là đứa đầu tiên chạy như bay đến bên cạnh ông, nhưng ngay sau đó, bị đẩy bật ra bởi những đứa có tiền: “Ông ơi, cháu coi “Người đẹp và quái vật”, cháu coi “Gullivơ phiêu lưu ký”… cháu coi “Bạch Tuyết bảy chú lùn…”
Rồi tôi cũng nghĩ ra cách kiếm tiền để coi cổ tích. Sắp đến mùa hoa lê-ki-ma rụng đầy gốc, xanh biếc, óng ánh như ngọc. Tôi nhặt đầy một bụng áo, buổi trưa bỏ cơm ngồi lui cui xỏ chỉ, xâu hoa… làm thành những sợi dây chuyền, vòng đeo tay, nhẫn, vương miện rồi mang lên trường, bán cho những con bé lớp dưới. Khấp khởi đếm những đồng tiền lẻ, tôi chạy ngay đến chỗ ông lão : “Cháu muốn xem…”
Ông lão, vốn đã quan sát tôi ngồi bán cả buổi chiều, tủm tỉm gật đầu: “Được rồi… để xem nào… Bạch Tuyết nhé”.

Tôi ghé mắt vào hai lỗ nhỏ trên thành thùng gỗ, dõi theo những tấm slide hình ảnh lên màu rực rỡ khi được ánh sáng chiếu qua trong thùng tối. Những hình ảnh tôi vẫn tưởng tượng hiện lên trứơc mắt tôi rực rỡ và đầy màu sắc. Giọng thì thầm của ông lão như đưa tôi trôi vào giấc mơ, lạc vào cánh rừng đầy hoa cỏ, với cô công chúa xinh đẹp và những chú lùn đáng yêu, Khi những hình ảnh cuối cùng biến mất, tôi ngẩng lên, ngơ ngẩn vì tiếc nuối.
“Cháu muốn xem nữa không?” “Nhưng cháu… hết tiền rồi! Để mai ạ!” và tôi tự hỏi ngày mai lũ nhóc lớp dưới có còn thích những chuỗi hạt Lê-ki-ma nữa hay không? Ông lão nói nhanh: “Ngày mai ông đi nơi khác rồi!”. Tôi đã thấy nước mắt trào lên mi, còn bao nhiêu chuyện cổ tích nữa tôi chưa được xem. Ông lão bối rối thật sự. “Thôi đừng khóc cháu, ông sẽ cho cháu xem hết những phim ông có”.
Và chiều đó, bên gốc dương liễu sần sùi trong sân trường, với trái tim hầu như ngừng đập vì vui sướng, tôi nhón chân dán mặt vào vách thùng gỗ, xem tất cả những cuốn phim mà tôi từng mơ ước.
Khi đã xem xong tất cả, tôi lại thẫn thờ vì tiếc nuối, mai ông lão sẽ đến những ngôi trường khác, với những đứa học trò khác và mang theo chiếc thùng gỗ kỳ diệu của mình. Bỗng ông lục trong chiếc thùng và lấy ra cho tôi một vật rất kỳ lạ, một chiếc kính vạn hoa. Tôi sững sờ hơn khi nhìn những bông hoa ánh sáng trong đó, và càng sững sờ hơn phát hiện ra mỗi lần tôi lúc lắc cái ống, những bông hoa khác lại hiện ra, muôn hình muôn vẻ. Ông lão âu yếm nhìn tôi trước khi đạp xe đi: “Nếu cháu chịu khó “lúc lắc trí óc” thì cháu sẽ làm nên nhiều điều kỳ diệu giống như cái kính vạn hoa này vậy”.
Đó là những gì một ông lão lang bạt với chiếc thùng kỳ diệu nói với tôi từ thời thơ ấu, chẳng ai có thể mang đi điều kỳ diệu của bạn, chỉ có điều là bạn có chịu “lúc lắc trí óc” để nhìn thấy nó không mà thôi.
Đông Vy

Người nghèo nàn nhất không phải là người không có một xu dính túi, mà là người không có lấy một ước mơ.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
The poorest man is not without a cent, but without a dream.
Anonymous
Cá rô cá rạch/ Gặp trận mưa rào/ Mày chẳng ở ao/ Mày lên rãnh nước/ Nước xuôi mây ngược/ Mày thích ra sông/ Thoả chí vẫy vùng…

Bài đồng dao này tôi nghe mẹ hát vào một chiều mưa, khi một con cá rô nhỏ xíu lạc theo dòng chảy lách tách rơi vào sân nhà tôi. Mẹ bắt nó thả vào thau nước, để ngày mai tôi đem thả nó về lại ruộng đồng.
Ấu thơ tôi lớn lên cùng đồng dao. Những câu hát ngô nghê dù có nghĩa hay vô nghĩa cũng chứa đựng một tâm hồn trong trẻo, một cái nhìn hồn nhiên trước cuộc đời. Những chiều mưa dầm ngồi trước hiên nhà nhìn bong bóng mưa lần lượt vỡ tan ra, tôi lại lẩm nhẩm: Lạy trời mưa xuống/Lấy nước tôi uống/Lấy ruộng tôi cày/Lấy đầy bát cơm/Lấy rơm đun bếp.
Những đêm trăng sáng, chúng tôi thường tập trung trên bãi cát để chơi trò “Rồng rắn lên mây, có cây lúc lắc…” hay túm tụm lại và thay nhau đọc từng câu: Ông trăng xuống chơi cây cau thì cau sẽ cho mo/Ông trăng xuống chơi học trò thì học trò cho bút/Ông trăng xuống chơi ông Bụt thì ông Bụt cho chùa/Ông trăng xuống chơi nhà vua thì nhà vua cho lính, cho đến khi không tìm ra người bạn nào cho ông trăng nữa thì thôi. Rồi trò Chi chi chành chành/ Cái đanh thổi lửa/ Con ngựa chết trương/ Ba vương ngũ đế. Cả những trò chơi đơn giản nhất cũng có câu hát : Tập tầm vông tay nào không, tay nào có? Tập tầm vó, tay nào có, tay nào không?
… Lâu rồi không nghe ai hát đồng dao. Cả những đứa trẻ ở miền quê xa cũng đã bắt nhịp được với cuộc đua của những con số trong sổ điểm. Bây giờ, những đứa trẻ sinh ra đều phải là thiên tài. Khi tôi lớn lên, “trẻ con” xa lạ với “thiên tài”. Những đứa trẻ quanh tôi chỉ quen với những bài đồng dao mỗi sáng và mỗi tối, với đất đai và cỏ cây. Bây giờ, mười lăm năm sau, những đứa trẻ ấy đang học tiến sĩ ở nước ngoài, khi chưa đầy 30 tuồi. Bây giờ, những đứa trẻ ấy là kiến trúc sư, giảng viên đại học, nhà báo và nhạc sĩ, vẫn sống hạnh phúc với mỗi ngày đang đến và những câu đồng dao trong kí ức.

Cũng như tôi, họ vẫn nhớ bài đồng dao về chiếc đồng hồ: Lúc la lúc lắc/Tích ta tích tắc/Ngày ngày đêm đêm/Chỉ giờ chỉ khắc Người đời nhờ tôi/ Lúc làm lúc chơi/ Có giờ có giấc/ Ngày thức đêm ngơi (nghỉ)
Khi nhìn vào chiếc đồng hồ, bạn nhìn kim nào trước? Kim giờ hay kim phút? Tôi thì nhìn kim giây. Tôi thích những chiếc đồng hồ có kim giây. Khi chiếc đồng hồ còn chạy tốt, đó là chiếc kim duy nhất chuyển động bất cứ lúc nào ta nhìn vào mặt đồng hồ. Nó báo hiệu sự sống. Bây giờ, người ta ngày càng thích giản đơn, và những nhà sản xuất đồng hồ nhiều lúc bỏ quên mất chiếc kim giây.
Tôi thấy buồn vì người ta đã bỏ quên những khúc đồng dao đâu mất, loại chúng khỏi cuộc sống của trẻ con, xoá chúng khỏi ký ức của người lớn. Có ai đó đã nói rằng, khi người ta còn nhớ về tuổi thơ, là người ta còn có thể sống tốt đẹp. Trở về với đồng dao, là trái tim ta trở về với niềm hứng khởi nguyên sơ và ngời sáng. Tình yêu cuộc sống bỗng trỗi dậy và được thanh lọc khỏi những bộn bề rác rưởi của bao nhiêu năm tháng bon chen.
Cuộc đời bắt đầu từ những điều nhỏ bé, thời gian bắt đầu từ một giây. Và nhân loại, chẳng phải bắt đầu từ trẻ con đó sao?!
Đông Vy

Mục tiêu là những ước mơ có thời hạn.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
Goals are dreams with deadlines.
Diana Scharf Hunt
Cả tôi và Đăng đều thích ve sầu. Nhưng Đăng thích ve sầu còn sống, còn tôi chỉ thích những cái xác. Chúng tôi cãi nhau mãi về điều đó.
Đăng bảo: “Còn sống ve sầu mới đẹp, vỏ bóng, cánh còn óng ánh, mắt long lanh, xanh biếc”. Tôi thì nghĩ, khi những con ve còn hát được, phải để chúng hát cho hết cuộc đời ngắn ngủi của chúng. Tại sao không đi tìm những xác ve sầu lột vỏ để giữ chúng lại như lòng biết ơn.
Ve sống thì kêu inh ỏi và Đăng biết chúng đang đậu ở đâu. Còn tôi, suốt mùa hè cứ phải chuyền như vượn trên những cành cây để tìm nhặt những cái xác rỗng không, trong suốt và giòn tan, dễ vỡ như giấy bóng gói kẹo, chỉ động một chút là nát như vỏ hạt đậu phộng đã rang.
Chúng tôi yêu ve sầu vì chúng không bao giờ hát một mình. Bạn rất hiếm khi được nghe một tiếng ve lẻ loi. Khi không thấy ai hoà theo, chúng im bặt và bay tìm chốn khác. Khi một con ve cất tiếng, cả đàn ve không biết nấp từ đâu trong những vòm lá sẽ hòa theo. Với tôi và Đăng, ve là biểu tượng của tình bạn.
Nhưng tôi thấy ghét Đăng khi nó vác cây sào tre có bôi mủ mít trên đầu để bắt dính những con ve sầu đang ra rả hát. Còn Đăng thì cười nhạo khi nhìn thấy những cái vỏ tội nghiệp, mỏng tanh và giòn tan mà tôi nâng niu giữ trong hộp. Một lần, Đăng lỡ tay bóp vỡ một xác ve của tôi, hai đứa giận nhau từ đó.
Trải qua nhiều chuyến đi, những cái xác ve tôi mang theo không còn nguyên nữa, cái thì bị nát từ trong vali, cái thì tự vụn vỡ ra theo thời gian. Nhưng tôi vẫn giữ lại những mảnh vụn. Mỗi khi nhìn chúng, tôi lại nhớ đến ngày chúng còn ca hát, nhớ đến những buổi trưa cùng Đăng nằm dưới vòm cây đoán xem dàn đồng ca kia được tạo nên bởi bao nhiêu “nghệ sĩ ve”. Đôi khi, tôi thèm được nhìn thấy lại màu xanh biếc trên những đôi cánh mỏng.
***

Từ quê nhà, Đăng gửi cho tôi một con ve sầu ép khô của mùa hè cũ: “Tôi muốn gọi thời gian trở về thời thơ ấu, những ngày tháng đầy niềm vui. Khi còn nhỏ, chúng ta chưa biết gì về những ganh đua và tham vọng. Yêu thương và chơi đùa là tất cả những gì ta biết về cuộc đời. Và những con ve sầu còn tượng trưng cho tình bạn. Tôi biết bạn giận vì tôi đã cố giữ lấy cho riêng tôi những màu sắc đẹp, những con ve sầu còn đang ca hát. Nhưng từ khi bạn đi, bộ sưu tập của tôi vĩnh viễn không có thêm một con ve sầu nào nữa. Tôi biết mình có lỗi. Nhưng chúng ta cũng đánh mất tình bạn rồi sao? Tôi nhớ bạn.”
Tôi đọc ở đâu đó rằng “Chúng ta thường đi qua cuộc đời mà không nhận biết sự khác nhau giữa tình bạn và sự quen biết. Người quen là người ta biết tên và thường hay gặp. Ta có thể chia sẽ nơi ở, bàn làm việc, những bữa ăn, kể cả thời gian. Nhưng họ không phải là người để ta chia sẻ những khoảnh khắc đặc biệt trong đời. Và ta cũng không biết được đâu là những khoảnh khắc quan trọng trong đời họ. Còn bè bạn là những người ta nhớ đến khi nhìn thấy điều gì đó mà ta biết là họ thích, có liên quan đến họ, hay gợi đến những giờ phút đã chia sẻ cùng nhau.” Tình bạn bắt đầu từ đó. Tôi với Đăng cũng vậy.
Tình bạn đầu tiên ấy, đối với tôi, cũng giống như lần đầu tiên được chiêm ngưỡng cầu vồng sau một cơn mưa phùn mùa xuân. Như vẻ đẹp của nụ hôn đầu tiên, của một đoá hồng leo lẻ loi trên tường nhà, của một lớp vỏ óng ánh sức sống của một con ve sầu còn biết hát. Có những vẻ đẹp bạn không nhận ra cho đến khi đã đánh mất nó, không phải như người yêu đã chia tay, không phải như nụ hoa đã tàn héo, mà như một phần cuộc đời bạn, không gì thay thế nổi.
Tôi gửi lại cho Đăng con ve sầu và viết : “Không nhớ sao, ve sầu tượng trưng cho tình bạn. Nó không bao giờ ca hát một mình. Ở đây không có ve sầu. Hãy để nó trở lại với Đăng, và tôi cũng vậy!”
Đông Vy

Một số kỳ công vĩ đại nhất của thế giới được hoàn thành bởi những người không đủ thông minh để biết rằng đó là những điều không thể được.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
Some of the world’s greatest feats were accomplished by people not smart enough to know they were impossible.
Doug Larson

Một lần tình cờ, tôi phát hiện một chiếc hộp sắt tây khóa kín để trên nóc tủ. Ba nói, nó đựng di chúc của ông nội. Trong đó viết rõ ông để lại cho tôi cái gì khi ông “về với đất”. Tôi chợt nghĩ, nếu mình cũng phải đi xa, xa thật xa, mình sẽ để lại gì cho những người mình thương yêu. Vậy là tôi quyết định mình cũng sẽ làm “di chúc”. Tôi cũng tìm một chiếc hộp có khoá. Trong đó, tôi cất tờ “di chúc” và tất cả …gia tài sản nghiệp của mình.
Mỗi năm một lần vào đêm giao thừa, sau khi đã quét dọn nhà cửa sạch sẽ, tôi ngồi vào bàn và viết. Tất nhiên, chẳng phải là thời điểm bi thảm để nghĩ đến cái chết nên “di chúc” của tôi chỉ là một bản kiểm kê và phân chia “tài sản”, những gì tôi đã dành dụm được trong suốt thời gian qua, cho những ai mà tôi đã gặp và yêu quý.
Bản di chúc đầu tiên năm tôi tám tuổi, rất ngắn vì gia tài của tôi chẳng có gì nhiều. Tôi để lại cho ba tấm ảnh ba đang bế tôi trên tay cười toa toét, để lại cho mẹ tấm ảnh mẹ đang dỗ tôi ngay trước nhà thờ Đức Bà. Để lại cho hai đứa em trai của tôi những chiếc xe điện mới toanh mà tôi đã phải dọa dẫm để dành với chúng. Để lại cho ông nội cây gậy mà tôi nhặt được ở nhà kho. Để lại cho Bảo Vi, đứa bạn thân nhất của tôi chiếc nón vải.

Rồi tôi lớn lên, dù có ra sao tôi vẫn về nhà vào mỗi đêm giao thừa, ngồi vào chiếc bàn bên cạnh cửa sổ, nhìn ra bầu trời tối đen, mịn màng của đêm ba mươi và viết. Mỗi năm, tôi đến nhiều nơi hơn trong những chuyến du lịch với bạn bè, những chuyến công tác…và những thứ tôi nhặt nhạnh về cũng nhiều hơn: một chiếc lược đồi mồi từ Hà Tiên, những nụ hoa ngọc lan khô cong vẫn thơm nồng nàn như khi chúng đánh thức tôi dậy trong một đêm rất trong bên cạnh sông Tiền, một chiếc vỏ ốc tầm thường dạt vào bãi cát ở Nha Trang, một mảnh đá xấu xí văng ra khi tôi đi ngang qua những người thợ đục đá Non Nước. Và mồi lần nhặt lên, tôi đều nghĩ rằng tôi sẽ dành lại chúng cho một người nào đó mà tôi đã gặp. Chúng đánh dấu sự hiện hữu của tôi trên thế gian, đánh dấu những bước chân của tôi đã đặt lên mảnh đất này, miền đất nọ, và đánh dấu tình yêu thương mà tôi dành cho những con người đã đến rồi đi trong đời tôi. Mỗi năm, những đồ vật chẳng đáng giá gì mấy cứ chất đầy chiếc hộp, cả một quả bàng khô, một con ve sầu chưa lột xác còn giữ nguyên màu xanh óng, đến nỗi tôi phải thay một chiếc hộp lớn hơn.
Khi ông nội mất đi, ba tôi mở hộp ra và đọc cho mọi người nghe tờ di chúc, thứ duy nhất ông để lại là những mảnh đất, chia đều cho tất cả mọi người, đất trồng cây ăn trái, đất trồng khoai sắn và đất trồng lúa. Ông để lại cho tôi tủ sách và một rẻo đất rất nhỏ hình tam giác, nằm cạnh những mảnh ruộng mà ông đã làm lụng suốt đời trên đó. Một mảnh đất đủ để tôi trồng những cây cà chua và những luống rau muống, ông viết vậy, với tất cả tình yêu thương. Trước đây, có lần ông bảo rằng, chỉ với một miếng đất bé xíu như thế thôi, người ta chẳng thể nào đói được. Tôi đã đứng trước rẻo đất ấy và khóc rất nhiều.

Tôi chợt nhận ra là cuộc sống thật sự ngắn ngủi và đầy bất trắc. Tôi cũng nhận ra rằng làm cho những người khác biết mình yêu thương họ ngay lúc này tốt hơn là ấp ủ tình yêu đó cho tới khi ta không còn cơ hội để trao nó cho họ nữa. Tôi buồn bã khi nghĩ rằng đáng lý ra, tôi phải cho em tôi những chiếc xe đồ chơi khi điều đó còn làm cho chúng vui sướng, hơn là cất giữ hàng năm trời, cho tới khi chúng bắt đầu mơ về những chiếc xe hơi thật. Từ đó, tôi không viết di chúc nữa, tôi vẫn nhặt nhạnh những đồ vật xinh xinh mà tôi nhìn thấy, nhưng không cất đi mà tặng ngay cho ai đó mỗi khi có dịp.
Cho đến bây giờ tôi vẫn giữ chiếc hộp đã trống không của tôi, cũng như chiếc hộp sắt tây chỉ đựng tờ di chúc dài hai trang trang giấy của ông nội, vì tôi biết, có một thứ vẫn luôn đầy ắp trong chiếc hộp ấy, đó là tình yêu thương ông Nội dành cho tôi, và tình thương tôi dành cho mỗi người tôi gặp, cho cuộc sống này.
Đông Vy

Dù bạn đi bất cứ đâu, bất kể thời tiết thế nào, hãy mang theo ánh nắng riêng của bạn.
Đặng Nguyễn Đông Vy
.
Wherever you go, no matter what the weather, always bring your own sunshine.
Anthony J. D’Angelo
Tôi còn nhớ đó là một buổi sáng tháng Chạp lành lạnh. Tôi dậy thật sớm, lúc mặt trời vừa ửng lên, khoác áo ấm, giày vớ đủ bộ rồi đĩnh đạc leo hàng rào sang nhà Minh mập. Tôi có hẹn sẽ theo ba nó đi chặt mai. 
Ba mẹ Minh kiếm sống bằng cách trồng đủ thứ trên khoảnh đất nhỏ sau vườn: dưa leo, củ kiệu, hành ngò, hoa hồng, hoa cúc… và mang ra chợ bán. Có khi lỗ, có khi lời. Nhưng chặt mai mới là nghề “cha truyền con nối” từ thời ông cố nó. Mỗi năm chỉ được một lần, nhưng nhờ đó mà tới chiều 30 mới kiếm được tiền ăn Tết.
Năm nay, ba Minh bảo sẽ cho nó đi theo để “học nghề”. Tôi phải hứa với Minh là chỉ đi theo cho biết thôi, không được chặt cành nào kẻo ba mẹ nó… mất mối. Vì Tết nào ba tôi cũng mua của nhà Minh mập cành mai to nhất, đẹp nhất và đắt tiền nhất.

Khi tôi thò đầu qua cửa sổ thì thấy ngay Minh mập và đám em út lau chau đang ngồi quây quần bên chiếc bàn gỗ thấp, đứa nào cũng áo trắng, quần soọc xanh, cũ kỹ nhưng thẳng thớm, tinh tươm. Cả bọn chụm đầu quanh một chiếc nồi gang to đen bóng vì ám khói, bên trong chứa đầy … hồ dán. Tôi biết rõ nó là hồ dán. Thời đó chưa có những lọ “keo dán” công nghiệp xinh xinh như bây giờ, mỗi khi tôi có môn thủ công ở trường, ba tôi vẫn lấy bột sắn trong kho ra, cho vào xoong nước, bắc lên bếp rồi khuấy đều tay cho tới lúc chất lỏng trắng đục như sữa kia biến thành một thứ bột sền sệt, dẻo quánh và trong veo. “Đây là hồ dán”- Ba tuyên bố.
Vậy mà bây giờ anh em nhà Minh mập xúm vào nồi, mỗi đứa một chiếc muỗng, hăm hở múc hồ dán chấm vào nước mắm… cho vào miệng ăn ngon lành. Nhìn thấy tôi, Minh mập vui ra mặt: “Ăn sáng không, mày ?”. Tôi nhìn đám em nó mặt mũi dính tèm lem thứ chất dẻo trong veo, buột miệng: “Hồ dán làm sao ăn được, ghê thấy mồ”. Minh mập lừ mắt: “Không ăn thì thôi, đồ làm phách!”

May mà nó không giận đến nỗi đuổi tôi về nhà, nhưng suốt buổi chặt mai hôm đó, Minh mập đâm ra lầm lì, chẳng thèm nói với tôi câu nào. Tôi cũng chẳng để ý đến những cành mai xem chúng nhiều hoa hay nhiều nụ, thế đẹp hay không đẹp, vì mãi nghĩ đến món …hồ dán. Thứ bột sắn đó, tôi chỉ thấy bà ngoại trộn với rau băm để cho heo ăn mà thôi.
Chuyện tôi phát ngôn một câu xanh rờn ở nhà Minh mập, không hiểu sao ba mẹ tôi lại biết. Sáng hôm sau thức dậy, tôi thấy mẹ đặt lên bàn ăn một nồi hồ dán còn bốc khói. Ba xoa xoa bàn tay, tỉnh rụi: “Lạnh quá, lạnh quá! Ăn sáng thôi”

Đó là lần đầu tiên trong đời tôi ăn… “hồ dán”, thứ bột sắn lọc pha với nước rồi khuấy lên một cách giản đơn. Ba quấn quanh chiếc đũa, chấm với nước mắm ớt, vừa ăn vừa hít hà. Mẹ múc vào chén, chan nước mắm, vừa ăn vừa cười tủm tỉm. Còn tôi, sau vài phút ngỡ ngàng cũng nếm thử… vì tò mò. Và tôi nhớ mãi… nhớ mãi vị nhạt nhếch của nó.
Buổi sáng hôm ấy, ba nói với tôi rằng không có gì đủ “kỳ cục” để phân biệt người này với người khác. Rằng trên đời này không có gì đủ “kỳ cục” để con người thấy xa lạ với nhau. Buổi sáng hôm ấy, tôi đã học được rất nhiều từ món “hồ dán”, Để rồi lớn lên, khi có dịp đến những vùng đất lạ, tôi có thể thản nhiên ăn những món lạ lùng hơn thế nữa.
…Minh mập bây giờ là một ông chủ trang trại trẻ chuyên trồng hoa, vẫn đi chặt mai mỗi mùa Tết đến và thỉnh thoảng, vẫn khuấy một nồi hồ dán để ăn. Nó viết thư nói với tôi rằng: “Mình đã lớn lên từ những bữa hồ dán đó”. Tôi biết là cả tôi cũng vậy.
Đặng Nguyễn Đông Vy

Nếu thời cơ không gõ cửa, hãy dựng lên một cách cửa.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
If opportunity doesn’t knock, build a door.
Milton Berle