Nhờ giá thành rẻ, hiệu quả cao và dễ tìm mua, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được nông dân Việt ưa chuộng sử dụng để phòng dịch bệnh và tăng năng suất cây trồng. Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc BVTV không chỉ gây ô nhiễm môi trường, làm suy thoái đất, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người nông dân và cộng đồng.
Hơn ai hết, nông dân là người cần được hỗ trợ nhiều nhất. Vì vậy, Nhà nước cần quản lý và siết chặt việc mua bán thuốc BVTV. Đồng thời, cần sát cánh với người nông dân để giúp họ hiểu cách dùng thuốc BVTV an toàn, biết tận dụng thiên địch và chế phẩm sinh học trong trồng trọt. Khi thấy lợi ích từ việc sản xuất nông nghiệp xanh mà vẫn đạt hiệu quả kinh tế, việc lạm dụng thuốc BVTV của người nông dân sẽ dần được giảm bớt.
An An
***
Vòng xoáy thuốc trừ sâu trên những cánh đồng
VNE – Thứ năm, 16/7/2020, 02:00 (GMT+7)
Năm 1956, thuốc bảo vệ thực vật gần như không tồn tại ở Việt Nam. Nửa đầu năm 2020, nước ta nhập khẩu thuốc trừ sâu nhiều hơn xăng.
Từ đầu năm 2020 cho đến ngày 15/6, Tổng cục Hải quan công bố Việt Nam đã nhập khẩu 308 triệu USD thuốc trừ sâu và nguyên liệu sản xuất mặt hàng này. Để so sánh, trong cùng kỳ, Việt Nam nhập 249 triệu USD tiền xăng.
Trong một báo cáo cách đây 3 năm, World Bank khẳng định có đến 50-60% nông dân trồng lúa đã sử dụng thuốc trừ sâu với tỷ lệ vượt quá mức đề nghị; 38 – 70% nông dân các tỉnh phía Nam đang sử dụng thuốc trừ sâu với tỷ lệ vượt quá mức khuyến cáo. Theo tổ chức này, khoảng 20% nông dân đang sử dụng thuốc trừ sâu vi phạm các quy định hiện hành, sử dụng thuốc trừ sâu bất hợp pháp nhập khẩu, cấm hoặc thậm chí giả mạo.

Giữa thập kỷ này, Tổng cục Môi trường khẳng định trên lãnh thổ Việt Nam “có hàng trăm điểm ô nhiễm tồn lưu do hóa chất bảo vệ thực vật”, và những điểm tồn lưu này có nguy cơ cao gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Cho đến năm 1957, Việt Nam mới bắt đầu “học” cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp. Trong suốt ba mươi năm sau đó, việc sử dụng vẫn được các nhà khoa học đánh giá là “cân bằng”. Nhưng hai thập kỷ qua chứng kiến xu hướng lạm dụng; cũng như một cuộc vật lộn của nhà quản lý với thói quen của người nông dân.
Từ giải pháp đến sự lệ thuộc
Năm 1957, theo giáo trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của Học viện Nông nghiệp, “biện pháp hoá học hầu như không có vị trí trong sản xuất nông nghiệp”.
Vụ đông xuân 1956-1957, dịch sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng Yên. Miền Bắc mất mùa. Sản lượng thóc trên đầu người tụt xuống còn 286 kg so với 304 kg vào năm 1956. Lần đầu tiên trên ruộng đồng miền Bắc Việt Nam, 100 tấn thuốc bảo vệ thực vật được dùng để diệt sâu bọ.

Ông Trương Quốc Tùng, Phó chủ tịch thường trực Hội Khoa học kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam gọi những năm 1957 đến trước 1990 là giai đoạn cân bằng, khi thuốc bảo vệ thực vật là thứ quyết định dập tắt các dịch sâu bệnh trên diện rộng. “Nếu không có thuốc, dịch hại cây trồng có thể làm giảm 40-60% năng suất trên diện rộng, cục bộ có thể mất trắng”, ông đánh giá.
Việt Nam trước những năm Đổi mới chưa từng sử dụng quá 9.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật mỗi năm, tương đương với mỗi ha chỉ dùng 0,3 kg. Kinh tế bao cấp chuyển sang thị trường, mạng lưới phân phối mặt hàng này rộng khắp nước, trao chai thuốc trừ sâu, gói thuốc diệt cỏ đến tận tay nông dân.
Mở cửa kinh tế, dỡ bở cấm vận và cánh cửa xuất khẩu mở tung cho thị trường nông sản đã thay đổi cục diện nông nghiệp. Từ 2000 đến 2010, lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng đã tăng từ 36.000 đến 75.800 tấn, gấp 2,5 lần so với mười năm trước đó. Số loại thuốc đăng ký sử dụng tăng 4,5 lần và giá trị thuốc nhập khẩu tăng 3,5 lần.
Mê Linh là một ví dụ của cuộc chuyển mình trong kinh tế nông nghiệp. Những năm 1990, người Mê Linh chuyển từ trồng lúa sang làm hoa. Sáng sớm hoặc chiều mát, những cơn gió thổi vào làng luôn mang theo thứ mùi hăng hắc, khi nông dân ra đồng “đánh” thuốc.
Ông Bảy khi ấy mới lấy vợ, phân nhà ở riêng. Vợ chồng được chia 22 thước đất, đổ vốn vào trồng hoa. Cây lúa lui dần về những mảnh đầm trũng rìa làng, nhường chân ruộng màu mỡ cho loài hoa thống trị nhà vườn Bắc Bộ những năm 1990, hoa hồng và hoa cúc.
“Rét 10 độ C, chỉ cần dùng tăm bông chấm một tí, bông hoa thâm sì qua một đêm lại tươi rói”, ông nhớ dùng loại thuốc ấy, chuột cũng không dám bén mảng đến chân ruộng.
Gần ba chục năm trồng hoa, ông Bảy luôn tự hào, nông dân quê mình hơn hẳn nơi khác về trình độ lẫn tay nghề. Một trong những bài học họ rút ra cho mình, là “trồng hoa, một ngày không phun thuốc sâu là mất ăn”.

Theo thống kê của Trạm bảo vệ thực vật huyện Mê Linh, mỗi năm xã Mê Linh sử dụng bình quân 9,2 tấn thuốc bảo vệ thực vật, riêng lượng thuốc dùng trên 206 ha hoa hồng hơn 8,2 tấn, tức khoảng 40 kg/ha/năm, cao gấp 4 lần mức trung bình toàn quốc.
Năm 2019, toàn huyện chiếm 1/6 lượng thuốc sử dụng của thành phố. “Mê Linh là một trong những huyện dùng thuốc bảo vệ thực vật nằm trong top của Hà Nội, do diện tích trồng hoa, rau màu lớn”, lãnh đạo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội đánh giá.
Trong một báo cáo của Tổ chức các quốc gia phát triển OECD năm 2015, cụm từ “sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu” được nhắc 4 lần để mô tả ngành nông nghiệp Việt Nam.
Cũng năm này, Bộ Y tế ước tính, cả nước có trên 11 triệu người thường xuyên tiếp xúc với hóa chất trừ sâu và số người nhiễm độc mạn tính ước khoảng 2,1 triệu người, chưa kể người tiêu dùng.
Cuộc chạy trốn chưa thành
Trên thực tế, lượng thuốc trừ sâu nhập khẩu (chính ngạch) của Việt Nam đang trong đà giảm hơn 3 năm qua. Năm 2017, nước ta nhập tới gần 1 tỷ USD thuốc trừ sâu và nguyên liệu, chủ yếu từ Trung Quốc. Con số này đến năm 2019 “chỉ” còn 864 triệu USD.
Thập kỷ qua chứng kiến sự tuyên chiến mạnh mẽ của cơ quan quản lý với các loại hóa chất nông nghiệp có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe và môi trường. Năm 2010, Luật An toàn thực phẩm được Quốc hội Việt Nam ban hành, kéo theo sự thay đổi trong quản lý đăng ký danh mục hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp.
Từ 2010 đến 2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn loại bỏ 14 hoạt chất, 1.706 sản phẩm có bằng chứng khoa học gây hại đến sức khỏe cộng đồng và môi trường. “Việt Nam là nước có bộ thuốc bảo vệ thực vật an toàn nhất khu vực Đông Nam Á hiện nay”, ông Huỳnh Tấn Đạt, Trưởng phòng Quản lý thuốc bảo vệ thực vật (Cục bảo vệ thực vật) khẳng định.
Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, trong một hội thảo năm 2018, vẫn khẳng định “còn bất cập lớn là sự lạm dụng gây độc hại cho chính người sản xuất, cộng đồng, giảm sự cạnh tranh sản phẩm, giảm sinh thái môi trường, gây thoái hóa đất đai”.

Những nông dân Hà Nội nhận ra chất lượng đất suy giảm từ khoảng chục năm nay. “Đất cứ tái đi, cháy một lượt vàng khè ở trên, từ nâu chuyển sang vàng, không tơi”, bà Phan Thị Hòe ở Mê Linh hoang mang. Đất đóng đanh vào, chắc nịch, nước chảy đến đâu trôi đến đấy, ráo nước là đất cũng khô cong.
Vụ hoa đông xuân 2011, hồng trên hơn một mẫu ruộng bà Hòe không cho hoa, cây còi rỉn, lác đác bông bé bằng đầu ngón tay, dù bà vẫn giữ nguyên lộ trình 5 năm thay cây giống và đánh thuốc đều đặn đôi ngày một lần.”Đất nhiễm độc vì phun thuốc lâu năm”, bà Hòe tự kết luận. Đã đến lúc phải “thay đất mới”.
Bà đầu tư 20 triệu đồng mua đất phù sa sông Hồng đổ vào bốn sào ruộng, hoa vụ đấy lại lên tốt ngùn ngụt. Nhưng thuốc sâu là thứ chẳng thể đừng, muốn hoa đẹp thì vẫn phải bơm. Mẻ đất “phù sa sông Hồng loại một” giá 600 nghìn một xe, cũng chỉ cầm cự được 5 năm. Mùa xuân năm nay, ông Hòe rục rịch tìm người đổ chục xe đất mới để thay.
Ở Mê Linh, khi những thớ đất ngậm hóa chất suốt 30 năm không còn nuôi nổi búp hoa, nông dân sẽ có hai cách để “thay đất mới”.
Những hộ canh tác lẻ tẻ, vốn ít như bà Hòe mua đất phù sa, đổ chồng lên lớp đất cằn. Cách thứ hai, dành cho người có vốn, là rũ bỏ hẳn mảnh ruộng cằn, đi thuê đất thật xa. Họ tới những nơi mà đất còn màu mỡ và chưa bị hóa chất tác động nhiều.
Cảm quan “đất nhiễm độc” không phải của riêng bà Hòe. World Bank, trong báo cáo về ô nhiễm nông nghiệp tại Việt Nam (2017) chỉ ra những ví dụ về những vùng thâm canh lúa tại Đồng bằng Sông Cửu Long “đã trở thành vùng chết, không còn ốc sên, ếch, cá, chuột và các sinh vật khác từng sống ở đó”.
Nhưng tổ chức này cũng đánh giá một trong những khó khăn lớn nhất của nhà quản lý Việt Nam là đối mặt với tập quán của nông hộ: “Mặc dù, những hộ nông dân nhỏ đóng góp đáng kể cho ô nhiễm môi trường nông nghiệp, nhưng hoạt động của họ, như đã nêu, hầu như là không thể giám sát được”.
Những nông dân thà thay đất chứ chưa thay tập quán canh tác. Trong danh mục 4.000 sản phẩm, thuốc sinh học chiếm chưa đầy 19%. Các chất hóa học trong danh mục cấm vẫn có thể được dễ dàng tìm mua trên Internet, hay giao dịch âm thầm giữa các tiểu thương. Hải quan vẫn liên tục bắt các lô thuốc nhập lậu trị giá hàng tỷ đồng.
Ở Mê Linh bây giờ, trên cánh đồng, xen giữa màu cúc, màu hồng là một vài khoanh ruộng trồng cải, trồng bí, dưa leo, những loại cần ít thuốc trừ sâu hơn hoa để cho đất nghỉ, với hy vọng vài năm nữa sẽ “hồi sinh” để quay lại với một vòng đời hoa mới.
Bà Hòe thấy sâu bệnh cứ nhiều thêm sau mỗi vụ hoa, và tiếc nhớ những ngày xưa “bỏ bẵng nửa tháng không đánh thuốc, hoa vẫn nở bừng”. Biện pháp duy nhất bây giờ mà người trồng hoa như bà nghĩ đến, là đánh thêm nhiều thuốc.
Thanh Lam – Hoàng Phương
***
Những nông dân lệ thuộc vào hóa chất
VNE – Thứ sáu, 17/7/2020, 00:00 (GMT+7)
Bà Thêu cầm trên tay chai thuốc diệt cỏ chứa paraquat, loại hóa chất đã bị cấm sử dụng: “Tôi không cần biết loại gì, hết cỏ là được”.
Chai thuốc của bà Thêu giá 25.000 đồng, ghi dòng chữ nhòe nhoẹt sai chính tả, “Thuốc trừ cỏ không trọn lọc”, trên nhãn ghi thành phần paraquat dichloride 210g/l, hoạt chất cực độc đã bị Việt Nam cấm buôn bán và sử dụng trong nông nghiệp từ năm 2017.

Người nông dân Tây Tựu, Bắc Từ Liêm có khoảng nửa sào Bắc Bộ trồng rau xà lách. Vợ chồng bà trước cũng thuê 8 sào ở xã bên để trồng hoa. Nhưng mùa đông 2015, ông Hữu đang phun thuốc cho hoa đồng tiền thì ngã ra ruộng, “thấy bác sĩ bảo bị tiền đình”. Từ đấy chân tay ông lúc nào cũng run rẩy, tháng lên khoa thần kinh của Bệnh viện Bạch Mai nằm đôi lần. Bà Thêu trả lại 8 sào ruộng thuê vì không còn người phun thuốc sâu.
“Trồng hồng trồng cúc, đôi ngày không bơm là mất ăn”, bà Thêu rút ra kết luận về đời trồng hoa. Bà quay lại trồng rau. Nhưng vẫn không thể rời được những chai thuốc bảo vệ thực vật mà bà “không biết là loại gì”, chỉ phân biệt qua giá tiền và màu sắc.
Một sáng cuối tháng 5/2020, bà Thêu gói hai lọ “diệt cỏ 25 nghìn” và một lọ “diệt cỏ 65 nghìn” vào túi nylon cùng hai chai nước uống, vác bình phun ra đồng. Con gái lớn của bà có 2 hecta đất trồng hoa ly, đưa mẹ 3 chai thuốc và dặn: “Loại siêu cỏ cháy này đa năng, diệt cỏ gì cũng chết”.
Thị trường thuốc độc
Paraquat là một đại diện cho tiêu chuẩn kiểu Trung Quốc: nước này cấm hoàn toàn việc sử dụng paraquat trong nội địa từ năm 2012, nhưng vẫn cho phép sản xuất để xuất khẩu. Hiện nay, họ cung cấp 80% nhu cầu toàn thế giới về paraquat.
Việc tiếp xúc với paraquat được nghiên cứu ở nhiều nước, trong đó có Viện sức khỏe Hoa Kỳ, khẳng định có liên hệ với bệnh Parkinson. Khi uống trực tiếp, nó là một loại thuốc độc nổi tiếng. Trong các thập kỷ trước, từ Nhật Bản đến Việt Nam, uống paraquat là biện pháp tự tử phổ biến. Thậm chí, Hàn Quốc thống kê tỷ lệ tự tử ở nước này đã giảm 10% sau khi họ cấm paraquat vào năm 2011.
Trong suốt nhiều thập niên, những nông dân Việt Nam đã lệ thuộc vào hóa chất diệt cỏ trứ danh này để duy trì sinh kế. Việt Nam loại paraquat ra khỏi danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng từ năm 2017. Nhưng những người như bà Thêu không biết lệnh cấm mới này: bà chưa bao giờ quan tâm “hoạt chất” bên trong chai thuốc là gì – mà phân biệt chúng bằng khả năng diệt cỏ.

Chai thuốc của bà Thêu được sản xuất tại Trung Quốc, đóng gói, đặt tên “thương hiệu” bởi một công ty tại Long An và không khó để tìm thấy trên một trong những trang thương mại điện tử lớn nhất Việt Nam, mục “Đồ dùng làm vườn”. Lần ngược về thông tin các nhà sản xuất tại Trung Quốc, dễ dàng thấy những đoạn giới thiệu tự hào về việc “sản xuất PARAQUAT bằng công nghệ mới, với sản lượng 3000 mét khối mỗi năm” (trích giới thiệu của công ty Hóa chất Hesenta Quảng Châu).
Trên thân chai “diệt cỏ 25 nghìn” ghi hướng dẫn sử dụng “Cỏ thấp hơn 20 cm: pha 125 ml/bình 20- 25 lít nước, phun 2 bình cho 1.000 m2”. Với 1,7 sào, tương đương 600 m2, trên lý thuyết bà Thêu chỉ cần pha 1 chai, phun 1 bình. Nhưng để “ăn chắc” cỏ không mọc như thửa ruộng hàng xóm, bà phun hết cả 3 chai.
Có dạo, hợp tác xã tặng cho bà vài gói thuốc cỏ sinh học. “Không biết tốt cho sức khỏe không, nhưng “không nhạy” bằng cái loại tôi đang dùng”, bà kết luận. Mấy gói thuốc được tặng giờ vẫn nằm xó bếp sau năm sáu vụ rau. Bà Thêu không có ý định dùng lại.
Cách Tây Tựu gần 2.000 km, lão nông 50 tuổi, Phan Biền đứng giữa ruộng rau thơm trên cù lao dọc sông Hậu. Nếm sương đọng trên lá thấy mằn mặn do sương muối, ông lắp máy bơm tưới nước khắp ruộng. Hai công đất rộng 2.000 m2 ông thuê của người Chăm với giá 5 triệu đồng mỗi năm, ở xã Khánh Hòa, (huyện Châu Phú), đất chuyên canh rau màu và cây ăn quả của An Giang.
Ông lôi từ vách chòi một bọc lổm cổm chai lọ, gói thuốc trừ sâu, phân bón, rồi chọn lấy hai món. Một lọ lão gọi là “đầu trâu”, trên nhãn ghi chứa Paraquat, chất cấm tương tự lọ thuốc bà Thêu dùng. Lão nông mua chai thuốc giá 100.000 đồng nửa lít. Chai xanh nắp đỏ còn lại, ông Biền chả nhớ tên, nhãn ghi chứa glyphosate, cũng nằm trong danh mục hoạt chất cấm.
Ông tin rằng nếu rau trên rẫy nhà mình đem đi đo lường thế nào cũng bị nói là nhiễm chất độc bởi xịt thuốc, hóa chất quá nhiều.”Cây rau mình bị bệnh gì thì cầm nó ra ngoài tiệm thuốc hỏi, người ta sẽ chỉ cho, chứ mình đâu biết thuốc gì đâu, xịt nhiều loại lắm”, nông dân có nhu cầu, đại lý sẽ đưa cho loại mạnh nhất, có hiệu quả lần sau còn đến mua. Còn các loại thuốc cấm, đại lý chỉ bán cho người quen. Nông dân như ông Biền không mấy bận tâm đến chai thuốc hiệu gì. Họ gọi nó bằng những tên phổ biến, “lô găng”, “mãnh hổ”, thuốc tăng trưởng “trái cà”.
Rau ăn lá có vòng đời một tháng, rau thơm tháng rưỡi. Nhưng ông Biền than, rau ăn lá giá “bèo”, nhiều sâu bệnh hại. Hành lá là loại khó trồng nhất, chuyên bị sâu xanh da láng, bệnh “mắt én”, dễ đốm, đục lỗ toàn thân.
Từ lúc trồng đến khi nhổ khoảng 40-50 ngày, ông Biền phải xịt trên dưới mười cữ, tức là cứ 4 ngày một lần. Tuần rồi, chỉ trong vòng bảy ngày, ông đã phải vác bình phun ra ruộng ba lần. Ông bảo, muốn biết thuốc có độc mạnh hay không, chỉ cần chấm đầu ngón tay vào thuốc rồi nếm thử, càng mặn thì thuốc càng mạnh.

“Không dùng mới chết”
Thi thoảng, ông Biền tham gia lớp tập huấn ở địa phương. Trong lớp học, người ta khuyên dùng thuốc sinh học. “Nhưng giá thành cao, tác dụng chậm, sâu ăn hết lá thì mới chết”, ông lắc đầu.
Bà Nga, vợ ông cùng người làm công ngồi cắt, bó rau kịp giao cho thương lái. Trúng vụ hành lá, ông lời được 8 triệu, cải xanh 5 triệu. Xui thì còn một nửa, có khi lỗ vốn, lấy cái này bù cái kia để mua giống, thuốc sâu, phân bón, tiếp tục vòng quay làm rau, năm này qua năm khác.
Mười năm trồng rau trên cù lao Khánh Hòa, dọc bờ Nam sông Hậu, ông Biền không còn trông thấy bóng dáng cánh cam, muồm muỗm, ễnh ương. Ông tin rằng, phun thuốc như thế thì sâu chết, mà các loài thiên địch của sâu cũng không sống nổi. “Đất ở đây cũng ô nhiễm hết, vì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật triền miên”, lão nông tự nhìn nhận.
Ba ngày sau phun bình thuốc cuối cùng, ông Biền cắt rau bán cho thương lái. Họ xuất đi đâu ông không biết, cũng chưa bao giờ quan tâm. Mỗi tháng, hai công ruộng xuất khoảng 5 tấn rau. Rau từ ruộng ông Biền sẽ theo xe thương lái về chợ Châu Long, đến mâm cơm nhiều gia đình ở TP Châu Đốc. Một phần xuống Cần Thơ hoặc sang Campuchia. Quá nửa số còn lại lên Sài Gòn, đổ về chợ Bà Chiểu, quận Bình Thạnh.
Ở TP HCM, số lượng rau được trồng tại các huyện Củ Chi, Hóc Môn, quận 12… chỉ đáp ứng khoảng 20-40% sản lượng tiêu thụ của 9 triệu cư dân thành phố. Số còn lại phải nhập từ ngoại tỉnh, như Lâm Đồng, An Giang…
Tổng quan về ô nhiễm nông nghiệp ở Việt Nam do Ngân hàng Thế giới (World Bank) thực hiện năm 2017 thống kê, khoảng 20% nông dân đang sử dụng thuốc trừ sâu vi phạm các quy định hiện hành, sử dụng thuốc trừ sâu bất hợp pháp nhập khẩu, cấm hoặc thậm chí giả mạo.
Khảo sát còn cho thấy một vấn đề khác trong thói quen của người nông dân, khi bao bì đựng thuốc hóa học sau khi sử dụng được thải ngay tại chỗ, cùng với các hóa chất còn sót lại, trực tiếp vào cánh đồng, kênh rạch và suối. Năm 2013, chỉ có 17% nông dân được hỏi cho biết họ có thu thập bao bì thuốc để chôn hoặc tái chế.
Ông Huỳnh Tấn Đạt, Trưởng phòng Quản lý thuốc bảo vệ thực vật, Cục Bảo vệ thực vật nhận định “chuyện người dân lưu trữ chất cấm trong nhà và sử dụng trái phép rất khó quản lý, vì khi đó đã là tài sản cá nhân. Về luật, không được bán trên thị trường, nếu vẫn còn tình trạng sử dụng thuốc cấm thì hoàn toàn do nhận thức của người dân”.
Bà Lưu Thị Hằng, Trưởng phòng thanh tra pháp chế, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội cho rằng: “Phạt người sử dụng chỉ là phần ngọn, để giải quyết gốc rễ vấn đề thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu phải phụ thuộc vào nhiều cơ quan chức năng và đặc biệt là ý thức của người dân”.
Các quan sát viên của World Bank nhận định rằng một trong những vấn đề của việc quản lý thuốc trừ sâu, là chính các nông hộ nhỏ “đôi khi thiếu năng lực về tài chính, không gian vật lý hoặc kỹ năng và chuyên môn để áp dụng các công nghệ hoặc thực tiễn nhất định và đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định”.
Tổ chức này khuyến nghị chính phủ Việt Nam sử dụng thêm “củ cà rốt” bên cạnh “cây gậy”. Đó có thể là cách khuyến khích kinh tế, các phương pháp trồng trọt mới giúp giảm chi phí, giảm ô nhiễm nhưng không giảm năng suất – thứ mà những người như ông Biền hay bà Thêu chưa biết, hoặc chưa thể hiểu.
Trong căn chòi dựng tạm cạnh vườn rau, ông Biền đung đưa võng nghỉ ngơi. Đôi bàn chân người đàn ông quen gắn bó với ruộng đồng to bè, móng két đầy phèn. Gương mặt ông sạm đen và đờ đẫn. Mười mấy năm ông Biền đã quen mùi phân bón, thuốc sâu giờ vẫn hay nhức đầu, chóng mặt sau mỗi lần xịt thuốc.
*Tên nhân vật đã được thay đổi.
Phương Lam – Thu Ngân
***
Thay đổi tập quán sử dụng thuốc bảo vệ thực vật – nền tảng để sản xuất rau an toàn, bền vững
HNM – Quỳnh Dung • 25/11/2025 – 11:43
Trong những năm gần đây, Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu trong việc phát triển vùng rau an toàn, rau hữu cơ, hướng đến nền nông nghiệp sạch, bền vững.
Một trong những yếu tố then chốt tạo nên chuyển biến tích cực ấy là việc hình thành tập quán sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hiệu quả trong cộng đồng nông dân. Phóng viên Báo Hànộimới đã có cuộc trao đổi với Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội Lưu Thị Hằng xung quanh câu chuyện này.

Nhiều chuyển biến tích cực
– Thưa bà, thời gian qua, Hà Nội đã có nhiều chuyển biến tích cực trong sản xuất rau an toàn. Vậy, đâu là yếu tố quan trọng nhất giúp người dân thay đổi thói quen, hình thành tập quán sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn hơn?
– Có thể nói, nhận thức của người nông dân chính là chìa khóa quyết định. Trước đây, bà con thường có thói quen “phòng bệnh hơn chữa bệnh” nên phun thuốc định kỳ, thậm chí phun theo cảm tính hoặc theo lời mách bảo, gây lãng phí và ảnh hưởng môi trường. Nhưng những năm gần đây, nhờ sự vào cuộc đồng bộ của ngành nông nghiệp, chính quyền các cấp và hệ thống khuyến nông, tập quán đó đã dần thay đổi.
Thời gian qua, Chi cục đã phối hợp với các địa phương mở hàng trăm lớp tập huấn mỗi năm, hướng dẫn kỹ thuật canh tác an toàn, phương pháp nhận diện sâu bệnh, nguyên tắc “4 đúng” trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (đúng thuốc, đúng liều, đúng lúc, đúng cách). Ngoài ra, Chi cục tuyên truyền sâu rộng về IPM (quản lý dịch hại tổng hợp), giúp nông dân biết cách tận dụng thiên địch, sử dụng thuốc sinh học, thảo mộc thay thế hóa chất độc hại. Nhờ vậy, người dân đã nhận ra rằng phun ít thuốc hơn nhưng hiệu quả cao hơn, rau sạch hơn và bán được giá hơn. Đây chính là yếu tố quan trọng hình thành tập quán mới – sản xuất gắn với an toàn và bền vững.

– Bà có thể chia sẻ kết quả công tác ứng dụng quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp trong sản xuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội?
Có thể thấy, sau khi mở các lớp tập huấn về IPM, tỷ lệ nông dân sử dụng thuốc sinh học, thảo mộc sinh học tăng dần (IPM là 83,4%; trong khi tập quán sử dụng là 38,9%. Lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng giảm đáng kể giữa ứng dụng IPM là 2,4 kg/ha/năm và theo tập quán là 3,8 kg/ha/năm); chi phí sử dụng thuốc bảo vệ thực vật giảm, tuân thủ thời gian cách ly khi thu hoạch. Đặc biệt, lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trên các cây trồng của Hà Nội (trong đó có rau) là khoảng trên 200 tấn chỉ bằng 0,3% so với toàn quốc. Tỷ lệ mẫu rau phân tích vượt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tối đa cho phép thấp (hàng năm phân tích khoảng 300-500 mẫu rau, chỉ có khoảng 1-2% mẫu vượt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tối đa cho phép).
Tuy nhiên, năng suất rau vẫn tăng 36,7% so với năm 2008 và tăng 4,9% so với năm 2017 (năm 2008 là 16 tấn/ha/vụ, năm 2017: 20,9 tấn/ha, năm 2024: 21,9 tấn/ha/vụ), sản lượng rau tăng 51,3% so với năm 2008, tăng 6,3% so với năm 2017 (năm 2008: 492.343 tấn, năm 2017: 700.252 tấn, năm 2023: 745.038 tấn), giá trị sản xuất đạt từ 300-500 triệu đồng/ha/năm. Riêng tại các vùng che phủ nilon, nhà lưới trồng rau trái vụ tăng thêm 3-5 vụ/năm (rau cải 5 vụ, su hào 3 vụ), hiệu quả kinh tế tăng thêm 600 triệu đồng/ha/năm; giá trị sản xuất đạt 1 tỷ đồng/ha/năm, có diện tích đạt 2 tỷ đồng/ha/năm, giá trị sản xuất rau an toàn cao hơn sản xuất rau thường từ 10-20%. Điều này chứng minh rằng canh tác an toàn không làm giảm năng suất mà ngược lại, giúp tăng hiệu quả và chất lượng sản phẩm.
Tăng cường tập huấn và kiểm tra giám sát
– Thực tế triển khai mô hình rau an toàn vẫn còn không ít khó khăn. Theo bà, nguyên nhân chính là gì?
– Thứ nhất, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, khiến việc áp dụng quy trình đồng bộ và kiểm soát chất lượng gặp trở ngại. Nhiều hộ trồng rau vẫn tự tìm đầu ra, chưa có liên kết với doanh nghiệp hay hợp tác xã, dẫn đến tiêu thụ bấp bênh.

Thứ hai, thói quen sản xuất theo hợp đồng còn hạn chế. Một bộ phận nông dân vẫn coi trọng lợi ích trước mắt, chưa chú ý đến tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, nên đôi khi vi phạm quy trình sản xuất an toàn.
Thứ ba, doanh nghiệp còn e ngại đầu tư vào nông nghiệp vì thiếu vùng nguyên liệu lớn, chi phí chứng nhận cao, lợi nhuận chưa ổn định. Đây là rào cản lớn cần tháo gỡ nếu muốn phát triển chuỗi giá trị rau an toàn bền vững.
– Trong thời gian tới, Chi cục sẽ triển khai những giải pháp gì để khắc phục khó khăn này và nâng cao hiệu quả sản xuất rau an toàn?
– Chi cục xác định thay đổi tập quán sản xuất vẫn là nhiệm vụ cốt lõi. Trong thời gian tới, Chi cục tiếp tục phối hợp với các địa phương tăng cường tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, đồng thời thông tin cụ thể cho người dân về các loại thuốc cấm, thuốc đã bị loại khỏi danh mục được phép sử dụng. Cùng với đó, phổ biến kiến thức an toàn thực phẩm, quy trình sản xuất hữu cơ, VietGAP và IPM cho nông dân ở các vùng rau tập trung. Nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật mới, giúp giảm sử dụng thuốc và phân bón hóa học, bảo vệ môi trường sinh thái.

Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng trồng, cấp mã số vùng trồng để truy xuất nguồn gốc và phục vụ xuất khẩu. Phát triển mô hình kiểm tra cộng đồng (PGS), cho phép người dân cùng giám sát, đánh giá chất lượng sản xuất tại địa phương; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm vi phạm trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Ngoài ra, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang phối hợp với các sở, ngành để xây dựng thương hiệu rau an toàn Hà Nội, thúc đẩy liên kết “4 nhà”, mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước.

Có thể khẳng định, thay đổi tập quán sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hiệu quả không chỉ góp phần nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, mà còn là bước đi tất yếu để Hà Nội hướng tới một nền nông nghiệp xanh, sạch, bền vững và mở rộng thị trường tiêu thụ.
– Trân trọng cảm ơn bà!