Chảy máu” – lãng phí tài nguyên khoáng sản: Gánh nặng đè lên “vai” xã hội

Việc quản lý khoáng sản còn nhiều lỗ hổng, dẫn đến khai thác lỏng lẻo, thất thoát lớn và lãng phí tài nguyên. Nguyên nhân do cơ chế “xin–cho”, ít đấu giá và giám sát yếu.

Tình trạng khai thác trái phép và lãng phí khoáng sản đi kèm (đất, đá thải…) diễn ra phổ biến, gây ô nhiễm, sạt lở và nghịch lý thừa vẫn bỏ – thiếu vẫn cần vật liệu xây dựng.

Cần áp dụng triệt để Luật Địa chất và Khoáng sản, phân nhóm khoáng sản, tính tiền theo sản lượng thực tế, phân cấp cho địa phương, tăng đấu giá minh bạch và ứng dụng công nghệ giám sát, để hướng tới mục tiêu khai thác khoáng sản hiệu quả, giảm lãng phí, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Nguyễn Bảo Ngọc

***

bialoigioithieufinal.jpg

Tài nguyên khoáng sản là tài sản công của quốc gia đang bị “chảy máu” do gian lận trong khai thác; hàng tỷ m3 khoáng sản đi kèm trị giá hàng nghìn tỷ đồng đã và đang phải mang “thân phận” đất đá thải bỏ, trong khi nhiều dự án, công trình trọng điểm về giao thông của quốc gia đang “đói, khát” vật liệu san lấp. Thực trạng “cơm thừa gạo thiếu” này không chỉ khiến Nhà nước thất thoát nguồn thu, mà còn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra thảm họa sạt lở, đe dọa khu dân cư, làm tắc nghẽn “mạch máu” lưu thông của nền kinh tế, đẩy gánh nặng lên “vai” xã hội.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng tới công tác phòng, chống lãng phí. Bác căn dặn “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ.” Người chỉ rõ “Tham ô có hại nhưng lãng phí có khi còn hại nhiều hơn: Nó tai hại hơn tham ô vì lãng phí rất phổ biến.” Người cũng nhiều lần nhấn mạnh rằng “Phải quý trọng của công; phải tiết kiệm, giữ gìn, không được lãng phí.” “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội phải khắc phục khuyết điểm, tức là phải tăng gia sản xuất, tiết kiệm, chống lãng phí, bảo vệ của công.”

Trong bài viết “Chống lãng phí” mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục nhấn mạnh: “Chúng ta đang đứng trước cơ hội lịch sử để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đây cũng là thời điểm để định hình tương lai của chúng ta. Để nắm bắt cơ hội, đẩy lùi thách thức, gia tăng mạnh mẽ nguồn lực chăm lo cho nhân dân, làm giàu cho đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, xây dựng tương lai tốt đẹp, công tác phòng, chống lãng phí cần được triển khai quyết liệt, đồng bộ với những giải pháp hữu hiệu, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ.”

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đặc biệt lưu ý rằng: “Trước yêu cầu tăng cường nguồn lực, khơi dậy sức dân đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác phòng, chống lãng phí đang đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới rất khẩn trương, cấp bách.” Do vậy, “để đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập nước, nhất định chúng ta phải quyết tâm phòng, chống lãng phí gắn với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.”

Để công tác chống lãng phí thực sự hiệu quả, cũng như phát huy được giá trị từ các nguồn “nội lực” của quốc gia, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, mang lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân, việc chống lãng phí, tối ưu hóa nguồn tài nguyên khoáng sản trong thời gian tới là một trong những giải pháp đặc biệt quan trọng.

info.png

Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cả nước có khoảng 5.000 mỏ khoáng sản quy mô khác nhau đang hoạt động, với hơn 60 loại khoáng sản; trong đó một số loại có trữ lượng lớn như bauxit gần 900 triệu tấn, quặng apatit khoảng hơn 130 triệu tấn, quặng sắt khoảng trên 40 triệu tấn, đá hoa trắng làm bột carbonat canxi gần 500 triệu tấn, than khoảng 550 triệu tấn…

Đây là nguồn tài nguyên khoáng sản quý giá của đất nước, song quá trình khai thác và sử dụng thời gian qua lại chưa thực sự hiệu quả, gây thất thoát và lãng phí rất lớn, dẫn đến những hệ lụy về xã hội, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng gây bức xúc trong dư luận.

Một trong những nguyên nhân quan trọng của tình trạng trên là bởi hệ thống pháp luật hiện hành đang có nhiều “khoảng trống,” hay nói cách khác là tạo “khe hở” cho những sai phạm. Cùng với đó là quá trình giám sát, kiểm tra, quản lý tại các địa phương cũng bị buông lỏng nên “ung nhọt” lại có đất để “cắm rễ.”

quoteloigioithieu1final.png

Theo Hiến pháp năm 2013, tài nguyên khoáng sản là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Trước khi giao tài nguyên khoáng sản và tính tiền cấp quyền khai thác để cấp phép cho tổ chức, cá nhân, Nhà nước phải xác định được loại hình, quy mô, giá trị tài sản (mỏ khoáng sản) thông qua công tác phê duyệt, công nhận trữ lượng trong báo cáo thăm dò khoáng sản.

Mặt khác, theo Nghị định số 158/2016/NĐ-CP, đất đá thải của mỏ là “khoáng sản đi kèm.” Nếu muốn khai thác, các tổ chức, cá nhân phải phải báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường, và thực hiện rất nhiều thủ tục hành chính. Thế nhưng, điểm bất cập là Luật Khoáng sản hiện hành lại không có quy định về vấn đề này.

Lợi dụng bất cập từ cơ chế chính sách cùng với tâm lý “dễ làm, khó bỏ,” thời gian qua, phần lớn các doanh nghiệp khai khoáng đã chọn cách khai thác mỏ theo kiểu “ăn xổi.” Tức là mới chỉ quan tâm tới việc khai thác phần ruột, phần lõi khoáng sản có giá trị, “ngó lơ” các loại khoáng sản đi kèm (như đất, đá, xỉ than). Do vậy, hàng tỷ m3 khoáng sản đi kèm trị giá hàng nghìn tỷ đồng đã và đang phải mang “thân phận” đất đá thải bỏ, gây ô nhiễm môi trường, đe dọa khu dân cư đồng thời làm tắc, nghẽn “mạch máu” lưu thông của nền kinh tế bởi các dự án, công trình giao thông trọng điểm bị chậm tiến độ do phải chịu cảnh “đói,” thiếu vật liệu san lấp.

“Cái nảy sảy cái ung,” khi bí bách nguồn vật liệu san lấp, không ít địa phương trên cả nước đã chọn phương án “nhảy rào chính sách” hạ từng quả đồi, khoét đào mỏ đất mới. Hệ quả là dọc dài các tỉnh thành từ Bắc vào Nam, rất nhiều núi đồi đã bị đào bới tan hoang để phục vụ nhu cầu san lấp cho các dự án, công trình. Thậm chí nhiều địa phương còn xảy ra tình trạng khai thác trộm đất đá; nạo hút cát sỏi trái phép, gây sạt lở bờ sông, “nuốt trôi” nhà cửa, đất canh tác của người dân…

quote2loigioithieu(1).png

Theo Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia, thực tế trên đã và đang gây thất thoát, lãng phí một khối lượng rất lớn khoáng sản đi kèm của quốc gia.

Để bạn đọc có cái nhìn toàn diện về vấn đề trên, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã dành nhiều thời gian thâm nhập thực tế tại nhiều địa phương trên khắp cả nước để điều tra, làm rõ vì sao Đảng và Nhà nước đã ban hành rất nhiều quyết sách (trong đó xác định “tài nguyên khoáng sản là tài sản quốc gia, là nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để phát triển đất nước” và phải “khai thác, sử dụng bền vững, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả”), song nguồn tài sản công này vẫn bị “chảy máu,” gây thất thoát và đang bị lãng phí vô cùng lớn.

Trên cơ sở đó, phóng viên đã xây dựng loạt bài “Chảy máu” – lãng phí tài nguyên khoáng sản: Gánh nặng đè lên “vai” xã hội, như hồi chuông cảnh tỉnh đồng thời gợi mở các kiến nghị lên Chính phủ, Quốc hội sớm điều chỉnh chính sách pháp luật phù hợp với thực tiễn nhằm ngăn chặn tình trạng thất thoát, lãng phí tài nguyên khoáng sản quốc gia; giải quyết một cách căn cơ vấn đề thiếu vật liệu san lấp phục vụ các công trình trọng điểm quốc gia trên cả nước trong thời gian tới.

Bài 1: Quản lý lỏng lẻo: Khoáng sản như “miếng mỡ ngon đặt trước miệng mèo”

Bài 1: Quản lý lỏng lẻo: Khoáng sản như “miếng mỡ ngon đặt trước miệng mèo”

***

bia1final.jpg

Theo Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2013; Nghị quyết số 02-NQ/TW năm 2011, Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2022 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng, thì “khoáng sản là tài nguyên quý giá của đất nước, hầu hết không thể tái tạo, bồi đắp; đòi hỏi phải được quản lý, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đóng góp tương xứng với giá trị của nó vào ngân sách nhà nước, góp phần vào sự phát triển của đất nước.”

Thế nhưng, thực tế ghi nhận của phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus tại gần 30 tỉnh, thành phố trên cả nước cho thấy tài nguyên khoáng sản quốc gia bấy lâu nay đang là “miếng mỡ ngon đặt trước miệng mèo,” chưa được quản lý và bảo vệ chặt chẽ. Điều này không chỉ dẫn tới tình trạng tài sản công của quốc gia bị “mèo ăn vụng,” đánh cắp; nhiều lãnh đạo, cán bộ vi phạm bị khởi tố; mà còn để lại vô số hệ lụy, ảnh hưởng đến kinh tế, đe dọa tới cuộc sống của rất nhiều người dân.

titlephu1bai1.png

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus vào đầu năm 2024, lãnh đạo Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia, nhấn mạnh công tác quản lý cũng như hoạt động khai thác khoáng sản sau 38 năm đổi mới đã bộc lộ nhiều bất cập.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, tài nguyên khoáng sản là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Trước khi giao tài sản công và tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản để cấp phép khai thác cho tổ chức, cá nhân theo quy định, Nhà nước phải xác định được loại hình, quy mô, giá trị tài sản (mỏ khoáng sản) thông qua công tác phê duyệt, công nhận trữ lượng trong báo cáo thăm dò khoáng sản.

quote1bai1.jpg

Trên tinh thần đó, thực hiện theo Luật Khoáng sản năm 2010, từ năm 2011 đến nay, Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia cũng như ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã phê duyệt trữ lượng của gần 3.000 báo cáo thăm dò khoáng sản. Ngoài các loại khoáng sản quý như vàng; nhiều loại khoáng sản quan trọng, chiến lược như đá vôi ximăng, đất, cát san lấp,… cũng đã được phê duyệt trữ lượng.

Tuy nhiên, theo Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia, sau 13 năm thực hiện Luật Khoáng sản năm 2010, đến nay vẫn còn những vấn đề tồn tại, bất cập gây khó khăn cho công tác quản lý như: Luật chưa quy định quản lý nhà nước về địa chất; chưa phân loại các đối tượng khoáng sản để áp dụng thủ tục hành chính phù hợp; chưa quy định tính đúng, tính đủ khoáng sản ở dưới lòng đất…

“Đơn cử như việc cấp phép thăm dò, đánh giá trữ lượng khoáng sản, luật hiện hành mới chỉ xác định trữ lượng của khoáng sản chính, chưa xác định rõ đất, đá thải là khoáng sản đi kèm có giá trị lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Như vậy là chưa xác định đúng, đủ tài sản công của Nhà nước,” vị lãnh đạo Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia trăn trở và cho rằng đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới thất thoát, lãng phí tài nguyên khoáng sản trong thời gian qua.

Dẫn ví dụ từ hoạt động khai thác đá hoa trắng ở huyện Lục Yên (tỉnh Yên Bái), huyện Quỳ Hợp (tỉnh Nghệ An), lãnh đạo Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia cho hay các mỏ đá chủ yếu được thăm dò, cấp phép trữ lượng khai thác dạng đá nguyên khối và đá làm bột canxi cacbonat. Với đá ốp lát thì yêu cầu là độ nguyên khối của đá phải cao, tuy nhiên khai thác thường chỉ đạt khoảng 0,4/m3.

1.png
Hoạt động khai thác đá hoa trắng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
screenshot_1.png
Hoạt động khai thác đá hoa trắng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
1a.png
Hoạt động khai thác đá hoa trắng tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

“Nếu cấp phép làm bột đá canxi cacbonat với yêu cầu độ trắng, bóng lớn hơn 90% thì khả năng thu được cũng chỉ đạt khoảng 30-45%, số còn lại là vứt bỏ; chưa kể đất đá thải đi kèm trong quá trình khai thác,” vị lãnh đạo trên chia sẻ.

Hay như tại Phú Thọ – một trong số những tỉnh được “trời phú” nhiều cao lanh nhất cả nước, thế nhưng ngoài một số mỏ đã được cấp phép, nguồn “vàng trắng” ở trên địa bàn tỉnh này lại phân tán nhỏ lẻ tại nhiều khu vực khác nhau, cũng chưa được xác định trữ lượng cụ thể.

Lợi dụng việc này, nhiều tổ chức, cá nhân đã lấy lý do “xin hạ cốt nền” để lách luật khai thác đất san lấp, cao lanh đem đi tiêu thụ. Tình trạng này xảy ra phổ biến ở các huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy, Thanh Ba.

phu-tho-cao-lanh-5.jpg
Hoạt động khai thác cao lanh ở huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy, Thanh Ba của tỉnh Phú Thọ. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
phu-tho-cao-lanh-8.jpg
Tan hoang nhiều ngọn núi, quả đồi ở huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy, Thanh Ba của tỉnh Phú Thọ do hoạt động khai thác cao lanh trái phép diễn ra trong suốt nhiều năm qua. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
phu-tho-cao-lanh-9.jpg
Điều 49, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí quy định: Việc quản lý, khai thác, sử dụng khoáng sản của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phải bảo đảm hiệu quả kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. (Ảnh: PV/Vietnam+)
cao-lanh.png
Cũng theo Điều 49, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí – cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân khai thác, sử dụng khoáng sản phải thực hiện tận thu triệt để trong khai thác khoáng sản và sử dụng hiệu quả các sản phẩm phụ hữu ích của hoạt động khai thác khoáng sản. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Theo khảo sát của phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, tình trạng khai thác cao lanh trái phép trên diễn ra trong suốt hơn 10 năm nay, dẫn tới thảm cảnh hàng chục quả đồi chuyên trồng cây lâm nghiệp ở trên địa bàn Phú Thọ bị chặt hạ, đào bới tan hoang, làm thất thoát khối lượng không nhỏ “vàng trắng” của quốc gia.

Ngược vào miền Trung, huyện Phước Sơn (tỉnh Quảng Nam) được xem là “thủ phủ vàng” của cả nước. Thế nhưng, thực tế việc quản lý sản lượng vàng khai thác đối với các mỏ được cấp phép lại rất khó khăn; sản lượng khai thác thường khác xa so với kết quả thăm dò, đánh giá trữ lượng ban đầu; tình trạng khai thác vàng trái phép diễn ra phổ biến… Thực tế này không chỉ gây thất thoát vàng, mà còn kéo theo nhiều người bị tử nạn trong quá trình khai thác do không đảm bảo an toàn.

Đại điện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Phước Sơn cho hay theo quy định, các đơn vị khai thác vàng sẽ phải lắp đặt trạm cân, hệ thống camera truyền dữ liệu trực tiếp đến cơ quan thuế để kiểm tra, giám sát. Tuy nhiên, đa số các khu vực mỏ đều nằm sâu trong các vùng không có mạng Internet, hoặc mạng không ổn định, nên việc giám sát của các cơ quan gặp nhiều khó khăn, không thể giám sát được 100%.

“Vì vậy việc kê khai lượng quặng, khoáng sản thu hồi được phụ thuộc chủ yếu vào tính tự giác của các doanh nghiệp. Cơ quan quản lý Nhà nước rất khó kiểm soát việc này. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến gây thất thoát nguồn thu ngân sách,” đại điện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Phước Sơn cho hay.

artboard-1.jpg

titlephu2bai1.png

Không chỉ bất cập trong khâu thẩm định, phê duyệt và quản lý trữ lượng khoáng sản, theo tìm hiểu của phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, trong suốt hơn 10 năm qua, hàng nghìn mỏ khoáng sản vẫn được cấp phép theo cơ chế “xin – cho,” không qua đấu giá; tiềm ẩn nguy cơ thất thoát hàng tỷ USD ngân sách Nhà nước.

infob.png

Báo cáo 13 năm thi hành luật Luật Khoáng sản 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy trong số 441 giấy phép khai thác khoáng sản do bộ này cấp, chỉ có 10 giấy phép được cấp thông qua đấu giá (chỉ chiếm 2,2%).

Còn ở địa phương, trong số 5.200 giấy phép khai thác khoáng sản được cấp ở 63 tỉnh, thành, chỉ có 827 giấy phép được cấp thông qua đấu giá (chiếm tỷ lệ rất thấp 16%).

yb6(1).jpg
Đại biểu Quốc hội Trần Hữu Hậu (Uỷ viên Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội) cho hay theo báo cáo tổng kết 13 năm thực hiện Luật Khoáng sản năm 2010 thì Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp 440 giấy giấy phép khai thác nhưng chỉ có 10 khu vực thông qua đấu giá; ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cấp khoảng 3.000 giấy phép, trong đó chỉ có 827 khu vực thông qua đấu giá. Như vậy tỷ lệ cấp phép khai thác không qua đấu giá là rất thấp. (Ảnh minh họa)

infoa.png

Như vậy nếu so sánh với khoảng 5.000 mỏ khoáng sản quy mô khác nhau đang hoạt động ở trên cả nước, trong thời gian qua đã có hàng nghìn mỏ khoáng sản được cấp phép khai thác theo hình thức “xin – cho.”

Chưa kể, theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, hiện còn nhiều tồn tại trong việc xác định tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; nhiều địa phương chậm thực hiện đấu giá quyền khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, vi phạm thủ tục đấu giá…

Giải thích về vấn đề trên, lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng lý do là bởi Chính phủ đã quy định rõ các khu vực khoáng sản không đấu giá và bộ này phải thực hiện cấp phép; thực hiện theo Nghị định 158/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản 2010.

Trong khi đó, theo đánh giá của đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa (Ủy viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội), thì tỷ lệ cấp phép mỏ theo hình thức “xin – cho” nêu trên là rất cao.

Điều đáng nói là mức giá khởi điểm để đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo quy định hiện nay đang ở mức rất thấp. Nếu không đấu giá, ngân sách Nhà nước chỉ thu được số tiền tối thiểu từ công thức tính giá khởi điểm.

anh-16.jpg
Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh Trương Trọng Nghĩa (Ủy viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội) nhấn mạnh tỷ lệ cấp phép mỏ theo hình thức “xin – cho” trong thời gian qua rất cao. (Ảnh: TTXVN)

Nêu dẫn chứng, đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa cho hay Nghị định 22/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật Khoáng sản 2010 quy định “giá khởi điểm đấu giá thấp nhất bằng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.”

Trong khi đó, Thông tư liên tịch số 54/2014/TTLT-BTNMT-BTC của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính hướng dẫn “giá khởi điểm đấu giá thấp nhất bằng tiền khai thác khoáng sản.”

Chưa kể, tiền thu cấp quyền khai thác khoáng sản của Việt Nam còn thấp. Đơn cử giá quặng bauxite nguyên khai tính thuế năm 2023 tại tỉnh Đắk Nông là 390.000 đồng/tấn.

Căn cứ theo điều 5 Nghị định 67/2019/NĐ-CP hướng dẫn tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, thì 1 tấn quặng bauxite có tiền cấp quyền khai thác là 6.318 đồng (khoảng 0,3 USD/tấn). Đây là mức rất thấp nếu so với giá khởi điểm đấu giá quyền khai thác bauxite của Trung Quốc hay Ấn Độ là từ 5-6 USD/tấn.

Như vậy chỉ tính bauxite, nếu so sánh với giá khởi điểm của Trung Quốc, Ấn Độ thì trong 10 năm qua, số tiền có thể thất thoát là khoảng 7,5 tỷ USD.

Với trữ lượng bauxite của Việt Nam khoảng 31 tỷ tấn, nếu vẫn giữ nguyên giá khởi điểm bằng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, ngân sách có thể mất đi khoảng 20 tỷ USD.

Dẫn báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Nguyễn Mạnh Cường cũng nhấn mạnh hiện còn nhiều tồn tại trong xác định tiền cấp quyền khai thác khoáng sản.

anh-40.jpg
Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Bình Nguyễn Mạnh Cường – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

Việc thực hiện đấu giá quyền thăm dò, khai thác khoáng sản còn nhiều vi phạm. Nhiều địa phương chậm thực hiện đấu giá quyền khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, phê duyệt quy hoạch đấu giá nhưng không thực hiện, vi phạm thủ tục đấu giá.

Bên cạnh đó, công tác quản lý, theo dõi tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các địa phương cũng chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ.

anhscroll2.jpg
anhscroll3.jpg
anh-scroll-1(2).jpg
anh-scroll-4.jpg
anh-scroll-5.jpg
titlephu3bai1.png

Ngoài những bất cập trên, việc cấp phép, quản lý khai thác cát, sỏi hiện nay cũng đang được hầu hết các địa phương thực hiện theo hình thức “cảm tính.” Lý do bởi cát, sỏi lòng sông được hình thành, phân bố theo quy luật tự nhiên; phụ thuộc lưu lượng, tốc độ dòng chảy, địa hình tích tụ, tốc độ bồi lắng; quy hoạch chỉ thực hiện trên phạm vi các đoạn sông thuộc địa bàn của từng địa phương…

Lợi dụng những hạn chế, bất cập trên cùng với đặc thù của cát sỏi dễ khai thác (công nghệ không phức tạp), dễ vận chuyển, dễ tiêu thụ, giá trị “siêu lợi nhuận” – nhiều tổ chức, cá nhân đã ra sức “rút ruột” tài sản công của quốc gia. Tình trạng này đã và đang diễn ra phổ biến tại nhiều địa phương trên cả nước, nhất là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Điều này không chỉ gây thất thoát tài nguyên, thất thu thuế, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; mà còn gây ô nhiễm môi trường, sạt lở cuốn theo nhà cửa, đất đai hoa màu của dân, làm mất trật tự, an ninh, kéo theo tệ nạn xã hội.

quote2-bai-1.jpg

Theo nguồn tin từ một cán bộ đang công tác trong lĩnh vực môi trường ở tỉnh Tiền Giang (nơi được xem là “điểm nóng” khai thác cát sông trái phép ở Đồng bằng sông Cửu Long), trong khoảng 15 năm trở lại đây, ở khắp vùng đồng bằng này, xung đột giữa người dân bị sạt lở ven sông với “nhóm lợi ích” khai thác cát luôn gay gắt. Xung đột này càng lớn khi tình trạng thiếu hụt cát do nhu cầu sử dụng nhiều vật liệu san lấp phục vụ cho các dự án giao thông, đường cao tốc, công trình trọng điểm ngày càng tăng.

Trong bối cảnh đó, cát đã trở thành nguồn tài nguyên khoáng sản có giá trị siêu lợi nhuận. Đó cũng là cơ hội để “cát tặc” hoành hành, ngang nhiên thách thức người dân và tìm đủ cách để moi hàng triệu tấn cát tươi lên khỏi những “dòng sông đói.”

Lần theo những tiết lộ của vị cán bộ trên, trưa 20/7/2024, nhóm phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã trực tiếp đi thực tế điều tra hoạt động khai thác cát trái phép đang diễn ra tại tỉnh Tiền Giang. Khi biết chúng tôi là nhà báo tìm hiểu về vấn đề trên, rất nhiều người dân ở xã Thới Sơn (thành phố Mỹ Tho) – khu vực giáp ranh với xã Bình Đức (huyện Châu Thành) như “mở cờ trong bụng,” họ liên tiếp phản ánh nỗi bức xúc mà bấy lâu phải chịu đựng.

Trong câu chuyện với phóng viên, anh Nguyễn Văn N. – một người dân sinh sống ven sông Tiền – đoạn thuộc xã Thới Sơn, cho biết trong khoảng 10 năm qua, đất vườn ven sông của gia đình anh đã bị sạt lở khoảng gần 200m2. Ngày trước, hoạt động khai thác cát trên sông Tiền diễn ra cả ngày lẫn đêm. Còn khoảng vài năm trở lại đây, cát tặc chủ yếu hoạt động vào ban đêm.

pvtiepcan.png
Phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus theo chân người dân đi ghi nhận khu vực bị ảnh hưởng bởi hoạt động khai thác cát trái phép ở xã Thới Sơn, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Theo anh N, các đối tượng khai thác cát trái phép thường sử dụng các loại ghe, tàu hút cát công suất lớn với ống hút cát cao su lõi rộng từ 160-200mm. Cứ tầm khoảng 30 phút hút liên tục là những chiếc ghe tàu có khối lượng 30-60m3 đầy cát. Phương thức vận chuyển cát rất tinh vi.

Phần lớn ghe, tàu sau khi hút sẽ đổ vào các bãi cát ven sông ở gần khu vực hút cát. Thi thoảng, một số ghe, tàu nhập sẽ đổ cát sang các tàu cát cỡ lớn có giấy phép hoạt động, có biển kiểm soát rõ ràng để “hợp thức hóa” nguồn hàng rồi bán lại cho các dự án, công trình của Nhà nước.

“Thông thường hoạt động khai thác cát sẽ diễn ra vào khoảng từ 10 giờ tối đến 4 giờ sáng. Tôi cũng đã từng báo lực lượng chức năng, nhưng không hiểu lý do gì mà khi lực lượng chức năng đến kiểm tra lại không còn máy hút cát nào ở hiện trường. Thực tế này không chỉ khiến người dân chúng tôi mất đất canh tác, mà Nhà nước còn thất thu,” anh N. buồn rầu nói.

tau1.png
Một khu vực tập kết của nhiều tàu hút cát, vận chuyển cát ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
screenshot_3.png
Một khu vực tập kết của nhiều tàu hút cát, vận chuyển cát ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
screenshot_2.png
Đại biểu Quốc hội Đoàn Thị Thanh Mai (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội) cho biết trong quý I/2024, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về bảo vệ môi trường đã phát hiện 2083 vụ vi phạm về khai thác khoáng sản.
1.png
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Kim Bé (Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hôi tỉnh Kiên Giang) cho biết trong thời gian vừa qua và đến hiện tại, sạt lở, sụt lún bờ biển, bờ sông đang bủa vây Đồng bằng sông Cửu Long với mức độ hết sức phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sinh hoạt, sản xuất của người dân trong vùng

Có chung nỗi lo, ông Nguyễn Văn X., (người dân ở ấp Thới Hòa, xã Thới Sơn) cho biết nhà ông có đất, nhà ở trên Cồn Thới Sơn ven sông Tiền. Trong nhiều năm qua, tình trạng hút cát diễn ra rầm rộ đã gây sạt lở bờ sông, nuốt trôi đất, nhiều góc “sổ đỏ” của người dân trong vùng, trong đó có nhà ông.

“Mấy năm trước, tàu thuyền hút cát trên sông đông như chợ. Quá bức xúc, tôi và 6 hộ gia đình khác đã nhiều lần phản ánh tới cán bộ giao thông đường thủy, làm đơn cầu cứu lên chính quyền địa phương nhưng tình trạng cát tặc lộng hành vẫn diễn ra ồn ào suốt nhiều năm qua. Thậm chí họ (đối tượng khai thác cát) còn thách thức tôi phản ánh và tuyên bố có kêu cũng không ai giải quyết,” ông X., buồn bã nói.

Chỉ tay vào hàng cọc kè bao dọc vị trí sạt lở ven Cồn Thới Sơn, ông X., mắt đỏ hoe cho biết sau nhiều lần phản ánh vô vọng, gia đình ông đã phải bán một phần đất ven sông với giá rẻ để di dời vào sâu bên trong ấp sinh sống…

Từ thông tin người dân phản ánh, cùng dữ liệu sau thời gian tìm hiểu dọc sông Tiền trên địa bàn, rạng sáng 21/7, nhóm phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã tiếp cận được “điểm nóng” khai thác cát trái phép trên sông Tiền ở khu vực giáp ranh giữa xã Thới Sơn (thành phố Mỹ Tho) và xã Bình Đức (huyện Châu Thành). Điều đáng nói là vị trí khai thác cát chỉ cách chân cầu Rạch Miễu khoảng 200m.

anh-44.jpg
Hoạt động hút cát diễn ra rầm rộ trên sông Tiền tại khu vực giáp ranh giữa xã Thới Sơn (thành phố Mỹ Tho) và xã Bình Đức (huyện Châu Thành), tỉnh Tiền Giang, vào thời điểm 1 giờ 30 phút ngày 21/7. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
anh-45.jpg
Vị trí khai thác cát chỉ cách chân cầu Rạch Miễu khoảng 200m. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
anh-46.jpg
Khu vực sông Tiền giáp ranh giữa xã Thới Sơn (thành phố Mỹ Tho) và xã Bình Đức (huyện Châu Thành), tỉnh Tiền Giang. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
anh-48.jpg
Một điểm tập kết cát ở ven sông Tiền, thuộc địa phận tỉnh Bến Tre. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Tại thời điểm 1 giờ 30 phút ngày 21/7, nhóm phóng viên ghi nhận có ít nhất 3-5 điểm khai thác cát, tiếng hút cát náo động khắp vùng. Hoạt động khai thác cát tại đây diễn ra rầm rộ, bất chấp dòng người, phương tiện giao thông qua lại trên cầu.

Ngoài ra, phía bên kia cầu Rạch Miễu (hướng về phía Cảng du thuyền Mỹ Tho) cũng xuất hiện nhiều tàu đang hút cát. Từ trên cầu nhìn xuống, chính giữa sông Tiền như thể một đại công trường mờ ảo, với các loại tàu cát đang ra sức hoạt động, tiếng tàu hút gầm vang, vô tư rút ruột cát sông – tài sản công của quốc gia. Đến khoảng 2 giờ 10 phút, các nhóm tàu hút cát dưới sông Tiền thấy “động” khi phát hiện thiết bị ghi hình từ trên cao nên đã nhanh chóng tắt máy, rời đi.

Mở rộng tìm hiểu, nhóm phóng viên ghi nhận trong 9 tháng thực hiện “Đề án phòng, chống khai thác tài nguyên khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, vùng giáp ranh giữa Tiền Giang với các tỉnh” (tính đến tháng 7/2024), các sở ngành, địa phương của tỉnh Tiền Giang đã phát hiện 294 vụ việc vi phạm với 405 đối tượng vi phạm. Trong số đó có 55 vụ việc khai thác cát trái phép; 223 vụ việc vận chuyển cát không rõ nguồn gốc, không có hóa đơn chứng từ…

Trước đó, giai đoạn từ năm 2011 đến tháng 9/2023, tỉnh Tiền Giang đã phát hiện, xử lý 1.237 trường hợp vi phạm, đã xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền 46,7 tỷ đồng; tịch thu nhiều phương tiện khai thác cát trái phép. Tuy nhiên, theo phản ánh của người dân thì số trường hợp vi phạm có thể còn lớn hơn rất nhiều.

54.png
Nhiều phương tiện tàu hút cát bị lực lượng chức năng bắt giữ, tập kết tại khu vực huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
56.png
Tàu hút cát trái phép bị bắt giữ tạp kết ở xã Bình Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. (Ảnh: Hùng Võ /Vietnam+)
55.png
Nhiều phương tiện tàu hút cát bị lực lượng chức năng bắt giữ, tập kết tại khu vực huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Như vậy với hơn 1.500 vụ vi phạm trên, nếu mỗi tàu hút, vận chuyển cát trung bình tuồn lậu “trót lọt” khoảng từ 500-1.000 m3 trước khi bị bắt giữ, thì số lượng cát thất thoát, ngân sách thất thu trong suốt hơn 10 năm qua là vô cùng lớn.

Nằm giáp ranh với tỉnh Tiền Giang, tình trạng khai thác cát trái phép cũng diễn ra rất “nóng bỏng.” Thông tin tới phóng viên, lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long thẳng thắn thừa nhận tình trạng khai thác cát trái phép tiếp tục diễn ra ở cấp độ tinh vi hơn, khó kiểm soát hơn. Hình thức khai thác trái phép bằng ghe bơm hút, hoạt động thường xuyên vào ban đêm hoặc các ngày nghỉ – thời điểm mà lực lượng chức năng khó giám sát, kiểm tra, tiếp cận các phương tiện vi phạm.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Trà Vinh Lê Văn Hẳn cũng cho biết hiện nay nhu cầu nguồn vật liệu cát san lấp tăng lên, nguồn vật liệu cát bị khan hiếm, không đáp ứng đủ nhu cầu trong khi lại có siêu lợi nhuận. Thêm vào đó, lực lượng thực hiện nhiệm vụ còn mỏng, thiếu trang thiết bị, phương tiện nên nhiều đối tượng lợi dụng vào thời điểm ban đêm, các ngày nghỉ, lễ, tết, khu vực giáp ranh, địa hình phức tạp để khai thác khoáng sản trái phép nhằm tránh sự phát hiện, xử lý của các cơ quan chức năng. Mặt khác, các quy định pháp luật xử lý hành vi vi phạm trong lĩnh vực khoáng sản hiện hành còn nhiều bất cập và chưa đủ sức răn đe, dẫn đến tình trạng khai thác cát trái phép đến nay chưa được ngăn chặn triệt để./.

Bài 2: Hàng tỷ m3 khoáng sản đem đổ thải: Nghịch lý từ “núi vàng” dầm nắng, mưa

Bài 2: Hàng tỷ m3 khoáng sản đem đổ thải: Nghịch lý từ “núi vàng” dầm nắng, mưa

tacgiabrown(1).png

***

bia-2-final.jpg

Với con số khoảng 5.000 mỏ khoáng sản quy mô khác nhau đang hoạt động ở trên cả nước, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường thì khối lượng “khoáng sản đi kèm” (đất, đá, xỉ than) là rất lớn. Tuy nhiên do luật không quy định cụ thể nên nguồn khoáng sản này hiện vẫn đang phải mang “thân phận” thải bỏ, được các doanh nghiệp, chủ mỏ chất cao thành “núi” nằm phơi mưa, nắng… gần sát khu dân cư.

Hệ lụy là các “núi” thải trên không chỉ chiếm một diện tích rất lớn đất rừng, đất sản xuất để làm bãi chứa; tiềm ẩn nguy cơ xảy ra hàng loạt thảm họa sạt lở gây thiệt hại khủng khiếp (như thảm họa Làng Nủ ở tỉnh Lào Cai), gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống của người dân; mà còn gây thất thoát, lãng phí tài sản công khoáng sản quốc gia, nhất là trong bối cảnh các dự án, công trình giao thông trọng điểm tại nhiều địa phương vẫn đang chịu cảnh “đói,” thiếu vật liệu san lấp.

titlephu1bai2.png

Theo tìm hiểu của phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, hiện nay trên cả nước có hàng chục tỷ m3 đất, đá, xỉ than thải bỏ sau khi được tách ra trong quá trình hoạt động khai thác của các mỏ khoáng sản. Trong đó các nhóm mỏ có lượng khoáng sản đi kèm thải bỏ nhiều nhất là than, quặng và đồng; tập trung ở các tỉnh giàu có về tài nguyên khoáng sản nhất cả nước như Quảng Ninh, Lào Cai, Thái Nguyên.

Chỉ tính riêng các mỏ than tại tỉnh Quảng Ninh, nguồn tin từ Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia cho biết hiện có hơn 1 tỷ m3 đất, đá thải.

Hay như tại tỉnh Lào Cai, trong khoảng 5 năm trở lại đây có khoảng 125 triệu m3 đất, đá thải được “bóc ra” trong quá trình hoạt động khai thác mỏ đồng Sin Quyền. Phần lớn đất, đá, xỉ thải này đang chất cao thành “núi” quanh khu vực các mỏ.

screenshot_5.png
Bãi thải chất cao như núi của Mỏ đồng Sin Quyền tại tỉnh Lào Cai. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
screenshot_4.png
Bãi thải chất cao như núi của Mỏ đồng Sin Quyền tại tỉnh Lào Cai. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
anh-16.jpg
Bãi thải chất cao như núi của Mỏ đồng Sin Quyền tại tỉnh Lào Cai. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên là bởi theo Nghị định số 158/2016/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của luật khoáng sản, thì đất, đá thải của mỏ là khoáng sản đi kèm; nếu muốn khai thác, tổ chức, cá nhân phải thực hiện các thủ tục hành chính. Thế nhưng Luật Khoáng sản 2010 lại không có quy định cụ thể để tổ chức, cá nhân được thăm dò, khai thác các loại khoáng sản đi kèm như thế nào cũng như không quy định việc chuyển thẩm quyền phê duyệt, công nhận trữ lượng ra sao để tạo điều kiện cho doanh nghiệp, tránh thủ tục hành chính rườm rà…

Trong khi đó, thực tế thời gian qua cho thấy trong khu vực hoạt động khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường có khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (đất, đá thải mỏ). Ngược lại, trong khu vực hoạt động khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường thuộc thẩm quyền cấp phép của địa phương (như các tỉnh Lạng Sơn, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Bình Định,…) cũng có khoáng sản đi kèm thuộc thẩm quyền cấp phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường (đá ốp lát, đá nguyên liệu ximăng, đá vôi công nghiệp).

Thực tế trên đã khiến tài sản công khoáng sản của quốc gia bị thất thoát khi chưa được xác định đúng, đủ trữ lượng; gây lãng phí khi đất, đá, xỉ than trong quá trình hoạt động khai thác của các mỏ khoáng sản đang được các mỏ đem đổ thải.

quote1bai2(2).jpg

Trả lời câu hỏi của phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường thẳng thắn nêu thực tế mặc dù là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản, song công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản trên địa bàn còn bộc lộ những vướng mắc, khó khăn; nhất là khan hiếm vật liệu do gặp khó trong việc khai thác, thu hồi vật liệu xây dựng thông thường.

“Khoảng 5 năm trở lại đây, tỉnh có khoảng 125 triệu m3 đất, đá thải được bóc ra trong quá trình hoạt động khai thác khoáng sản, trung bình mỗi năm khoảng 25 triệu m3. Hầu hết khối lượng đất, đá thải sau khi được bóc ra trong quá trình khai thác được đơn vị khai thác đổ vào các khu vực đổ thải,” ông Trường nói.

Tại vùng “thủ phủ vàng đen” lớn nhất Việt Nam, hàng năm, các mỏ than trên địa bàn Quảng Ninh cũng đưa ra các bãi thải khoảng 150 triệu m3 đất, đá thải. Đây là tỉnh có khối lượng đất, đá thải trong quá trình khai khoáng lớn nhất cả nước.

yb1.jpg
Khu vực bãi thải chất cao như núi của Mỏ than Khánh Hòa ở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
qn5.jpg
Theo Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia, tại các mỏ than ở tỉnh Quảng Ninh hiện có hơn 1 tỷ m3 đất, đá thải. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
anh-64.jpg
Trên địa bàn tỉnh Hà Giang hiện có rất nhiều bãi thải, hồ chứa chất thải như những “quả bom” treo trên đầu dân. (Ảnh Hùng Võ/Vietnam+)
namluong1.jpg
Bãi thải Mỏ quặng sắt Nam Lương của Công ty Cổ phần khai thác và chế biến khoáng sản Nam Lương (ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang)
hg2.jpg
Bãi thải Mỏ quặng sắt Lũng Pù của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đức Sơn (ở xã Thuận Hòa, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang)

titlephu2bai2.png

Qua điều tra, khảo sát thực tế tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus ghi nhận hiện nay có hàng trăm bãi thải khoáng sản đi kèm được chất cao hàng chục mét. Nhiều bãi thải chất cao như núi. Các địa phương có nhiều bãi thải nhất là Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hà Giang, Lào Cai…

Điều đáng nói là phần lớn các bãi thải khoáng sản đi kèm được doanh nghiệp, chủ mỏ chất cao như núi lại nằm gần sát khu dân cư, không chỉ chiếm một diện tích rất lớn đất rừng, đất sản xuất để làm bãi chứa, mà còn tiềm ẩn nguy cơ sạt lở, gây ô nhiễm môi trường), ảnh hưởng đến đời sống của người dân sống xung quanh

yb4.jpg
Người dân sống ngay dưới chân bãi thải của Mỏ than Khánh Hòa ở xã Phúc Hà (thành phố Thái Nguyên). (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
yb8.jpg
Người dân sống ngay dưới chân bãi thải của Mỏ than Khánh Hòa ở xã Phúc Hà (thành phố Thái Nguyên). (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Đơn cử như tại tỉnh Thái Nguyên, suốt nhiều năm qua, người dân sống dưới chân bãi thải của Mỏ than Khánh Hòa ở xã Phúc Hà (thành phố Thái Nguyên) luôn phải thấp thỏm bất an bởi những rủi ro về nguy cơ sạt lở, thảm họa môi trường mà bãi thải có thể gây ra, nhất là vào mùa mưa lũ.

Mỏ than này nổi tiếng với 2 bãi thải “khổng lồ” được đắp cao thành núi, đập vào mắt bất cứ ai đi qua thành phố.

Tại tỉnh Quảng Ninh, báo cáo của ủy ban nhân dân tỉnh này gửi tới Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng nêu lên thực trạng: Với khoảng 150 triệu m3 đất, đá thải mà các mỏ than trên địa bàn đưa ra các bãi thải hàng năm, tổng diện tích đất chiếm dụng để làm bãi thải lên tới hàng nghìn hécta. Việc này dẫn tới nguy cơ sạt đất, đá trong mùa mưa lũ, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân quanh khu vực.

qn9.jpg
Theo Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia, tại các mỏ than ở tỉnh Quảng Ninh hiện có hơn 1 tỷ m3 đất, đá thải. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
qn3.jpg
Bãi thải của Mỏ than Cọc Sáu tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
qn2.jpg
Bãi thải của Mỏ than Cọc Sáu tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Chia sẻ với phóng viên, ông Nguyễn Văn Tuấn – người dân ở thành phố Cẩm Phả (tỉnh Quảng Ninh) cho biết trong suốt 10 năm trở lại đây, điều người dân lo lắng nhất là xảy ra sạt lở khi mưa lớn. Bởi lẽ, trên địa bàn thành phố hiện có rất nhiều “núi” thải khổng lồ với khối lượng đất, đá lên tới hàng trăm triệu m3, được tách bỏ từ các mỏ than. Trong đó, ngay phía dưới chân các dãy “núi” thải ở các phường Cẩm Trung, Cẩm Thành, Cẩm Bình là các khu dân cư, rất đông dân sinh sống.

“Thực trạng trên như ngàn cân treo sợi tóc. Nếu mưa lớn trút xuống, nguy cơ xảy ra thảm họa sạt lở là rất cao. Thậm chí mức độ thiệt hại còn nghiêm trọng gấp ngàn lần so với thảm họa ở thôn Làng Nủ, bởi khu vực dân cư của thôn này chỉ có gần 40 hộ gia đình, trong khi phía dưới các dãy “núi” đất, đá thải ở các phường Cẩm Trung, Cẩm Thành, Cẩm Bình có tới hàng nghìn hộ dân sinh sống. Khi xảy ra sạt lở, đất đá từ trên cao đổ xuống sẽ cuốn khu dân cư ra biển,” ông Tuấn lo lắng.

Ngược lên tỉnh Hà Giang, trên địa bàn tỉnh này hiện cũng đang có rất nhiều bãi thải, hồ chứa chất thải như những “quả bom” treo trên đầu dân. Điển hình như bãi thải, hồ chứa chất thải của Nhà máy tinh chế quặng Minh Sơn, Mỏ chì – kẽm (ở huyện Bắc Mê); Mỏ quặng sắt Nam Lương, Mỏ quặng sắt Lũng Pù (ở xã Thuận Hòa, huyện Vị Xuyên).

anh-66.jpg
Hình ảnh bãi thải, hồ chứa chất thải của Nhà máy tinh chế quặng Minh Sơn ở huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Các hồ, bãi thải này nằm lộ thiên trên thượng nguồn, có độ dốc cao, lại gần khu dân cư, tiềm ẩn nguy cơ gây ra thảm họa khi mưa lũ lớn.

Sinh sống gần bãi thải của Nhà máy tinh chế quặng Minh Sơn, anh L.V.D (thôn Khuổi Lòa, xã Minh Sơn) cho biết hồ chứa chất thải của nhà máy này trước đây là một thung lũng nước, sâu khoảng 150-180 m. Mỗi năm trôi qua, hàng nghìn tấn chất thải đã lấp kín thung lũng này. “Mỗi lần nhìn vào hồ chứa chất thải này tôi lại thấy lo lắng cho người dân dưới hạ nguồn suối Lũng Vầy,” anh D., buồn rầu nói.

Ông Thào Mỹ Chính, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Minh Sơn cũng khẳng định cứ mưa nhiều thì các hồ chứa chất thải trên địa bàn nghiễm nhiên tràn. “Nỗi lo lớn nhất của chúng tôi là mùa mưa lũ. Vừa qua, tôi đã đề nghị các sở, ngành trong tỉnh thẩm định, kiểm tra lại các hồ chứa xem có đảm bảo không. Nếu cứ làm rồi đổ cho thiên tai thì không được, người dân không thể chấp nhận!,” ông Chính nhấn mạnh.

Đáng chú ý là tại bãi thải của Mỏ quặng sắt Nam Lương, ghi nhận của phóng viên vào thời điểm giữa tháng 4/2024 cho thấy xung quanh sườn của bãi thải này hiện đang xuất hiện nhiều rãnh sụt lún kéo dài, có những vị trí lún sâu tới hơn 1m.

namluong6.jpg
Bãi thải Mỏ quặng sắt Nam Lương của Công ty Cổ phần khai thác và chế biến khoáng sản Nam Lương (ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) chất cao như núi với độ dốc sâu hàng trăm mét. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
namluong4.jpg
Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” nhấn mạnh: Tài nguyên là tài sản quốc gia, phải được đánh giá đầy đủ các giá trị, định giá, hạch toán trong nền kinh tế, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ.
namluong3.jpg
Bãi thải Mỏ quặng sắt Nam Lương của Công ty Cổ phần khai thác và chế biến khoáng sản Nam Lương (ở huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang). (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Thuận Hòa Nguyễn Thị Chiêm cho biết trên địa bàn xã có mỏ sắt Nam Lương (của Công ty Cổ phần khai thác và chế biến khoáng sản Nam Lương) và mỏ sắt Lũng Pù (của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đức Sơn), nhưng hiện chỉ có mỏ sắt Lũng Pù còn hoạt động theo giấy phép Bộ Tài nguyên và Môi trường. Trước đây, các mỏ này đều đã có sự cố môi trường.

“Nhìn bãi thải, hồ thải của 2 công ty này, chúng tôi rất lo bởi khối lượng chất thải quá khổng lồ. Những khu vực này nếu xảy ra sự cố (sạt lở, sụt lún gây vỡ bờ bao), chất thải sẽ đổ thẳng xuống sông Miện. Cả đầu nguồn lẫn hạ nguồn sẽ bị nhiễm chất thải, ảnh hưởng rất lớn đến người dân ở hạ lưu,” bà Chiêm chia sẻ.

screenshot_2.jpg
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Thuận Hòa Nguyễn Thị Chiêm chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus về nỗi lo từ hoạt động khai thác, đổ thải của Mỏ sắt Nam Lương và Mỏ sắt Lũng Pù ở trên địa bàn. (Ảnh: Vũ Võ/Vietnam+)

Nỗi lo của bà Chiêm thực sự đáng suy ngẫm bởi trong năm 2022, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đức Sơn đã từng bị Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt hành chính số tiền 150 triệu đồng. Công ty Cổ phần khai thác và chế biến khoáng sản Nam Lương cũng bị phạt 253 triệu đồng do xả nước thải ra môi trường có thông số tổng chất rắn lơ lửng vượt 2,6 lần, thông số sắt vượt 1,29 lần giới hạn cho phép…

Điều “tréo ngoe” là mặc dù người dân, lãnh đạo ở các địa phương có mỏ khoáng sản đều bày tỏ những nỗi lo về mất an toàn của các bãi thải, hồ chứa chất thải trong tương lai, song doanh nghiệp dường như không mảy may lo ngại, thậm chí còn “đá bay” trách nhiệm vì đã có lá bùa hộ mệnh là “phí bảo vệ môi trường.”

Đơn cử như tại Mỏ sắt Lũng Pù, ông Bùi Mạnh Thắng – Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đức Sơn cho biết doanh nghiệp này đang khai thác khoáng sản theo hình thức hầm lò và lộ thiên.

lungpu8.jpg
Khu vực khai thác, sàng tuyển tinh quặng tại Mỏ quặng sắt Lũng Pù của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đức Sơn ở xã Thuận Hòa, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Mỗi năm, doanh nghiệp này khai thác đúng trữ lượng cấp phép khoảng 70.000 tấn quặng sắt. Thông thường 1,4 tấn quặng thô khai thác, công ty thu được khoảng 1 tấn kim loại; còn lại 0,4 tấn đất đá thải là bỏ đi. Mỗi tấn khoáng sản thu được, doanh nghiệp phải đóng 50.000-60.000 đồng phí môi trường.

Ông Thắng cũng cho biết hiện hồ chứa của công ty có hơn 10.000 tấn chất thải. Bãi thải này được chính ông Thắng tự thiết kế và khẳng định tương đối an toàn với địa hình đồi núi dốc vì có hệ thống rọ đá kè dưới chân hồ chứa nước thải.

lungpu2.jpg
Bãi thải Mỏ quặng sắt Lũng Pù của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đức Sơn (ở xã Thuận Hòa, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang). (Ảnh Hùng Võ/Vietnam+)
lungpu1.jpg
Bãi thải nằm lộ thiên trên thượng nguồn, có độ dốc cao nhưng không được xây dựng kiên cố, tiềm ẩn nguy cơ gây ra thảm họa nếu gặp mưa lũ. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Tuy nhiên, khi người viết băn khoăn về khả năng chống chịu với thiên tai do mưa lũ của bãi thải, ông Thắng cho hay: “Cái này chỉ làm để chống sạt lở chứ không hiểu chịu được cấp mấy. Sau khi có hệ thống rọ đá kè dưới chân hồ chứa nước thải, bên môi trường mới đồng ý về thiết kế để bãi thải hoạt động, còn sự cố tính sau.”

“Hiện sự cố không xảy ra nhưng lúc khác thì không biết trước được điều gì. Nếu có sự cố, doanh nghiệp sẽ chủ động cứu hộ, sự việc lớn quá không xử lý được thì Chính phủ sẽ dùng quỹ môi trường mà doanh nghiệp đóng để cho máy móc vào cứu hộ,” Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đức Sơn thản nhiên nói thêm.

titlephu3bai2.png

Không chỉ gây thất thoát tài nguyên, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra thảm họa sạt đất, đá trong mùa mưa lũ, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, việc các bãi thải “khoáng sản đi kèm” nằm phơi mưa, nắng còn gây lãng phí vô cùng lớn khi các dự án, công trình giao thông trọng điểm tại nhiều địa phương trên cả nước hiện vẫn đang phải chịu cảnh “đói,” thiếu vật liệu san lấp.

Nghịch lý “cơm thừa gạo thiếu” này do thiếu giải pháp căn cơ đã và đang làm tắc nghẽn “mạch máu” lưu thông của nền kinh tế, đẩy gánh nặng lên “vai” xã hội.

Đơn cử như tại tỉnh Quảng Ninh, để đáp ứng nhu cầu phát triển các đô thị, dự án đầu tư xây dựng (đặc biệt là các dự án hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị), hàng năm, tỉnh này cần khối lượng vật liệu san lấp lên tới khoảng 130 triệu m3/năm.

qn12.jpg
Đại biểu Quốc hội Đỗ Thị Lan (Ủy viên Thường trực Uỷ ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội) cho biết tại tỉnh Quảng Ninh, các mỏ than đang khai thác với diện tích sử dụng khoảng 11.000 hecta nhưng diện tích để quy hoạch khoảng trên 50.000 hecta, gấp gần 5 lần diện tích cần phải sử dụng để hoạt động khoáng sản và thời gian thực hiện đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
qn11.jpg
Đất, đá thải từ quá trình khai thác của các mỏ than đang đổ thải thành “núi” ở Quảng Ninh, nhưng không “dễ dàng” sử dụng
qn13.jpg
Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh Đỗ Thị Lan (Ủy viên Thường trực Uỷ ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội), cho biết hiện nay tại một số tỉnh có tình trạng thiếu đất để đầu tư hạ tầng, trong khi đất quy hoạch khoáng sản nhiều năm không sử dụng, có sự chồng lấn giữa các quy hoạch, điều chỉnh mất rất nhiều thời gian.

Trong bối cảnh đất, đá thải từ quá trình khai thác của các mỏ than đang đổ thải thành “núi,” nhưng không “dễ dàng” sử dụng, trong năm 2023, tỉnh Quảng Ninh đã xác định được 79 mỏ đất đồi có thể đưa vào khai thác sử dụng làm vật liệu san lấp trong giai đoạn đến năm 2030.

Tuy nhiên với trữ lượng không lớn (chỉ khoảng 250 triệu m3), trường hợp Quảng Ninh bắt buộc phải “san phẳng” 79 mỏ đất đồi trên, thì trung bình mỗi năm tỉnh này cũng chỉ đáp ứng được 30 triệu m3/năm.

“Điều này đặt ra nguy cơ thiếu vật liệu san lấp rất lớn trong thời gian tới; ảnh hưởng đến tiến độ, việc triển khai các dự án công trình, dự án phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội của tỉnh,” báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh đề cập.

info.png

Cùng chia sẻ khó khăn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường cho biết trung bình mỗi năm tỉnh này có khoảng 25 triệu m3 đất, đá thải (tập trung khối lượng đất, đá thải lớn trong quá trình khai thác mỏ đồng Sin Quyền), song đến nay cũng chưa được nghiên cứu để sử dụng làm nguyên vật liệu phục vụ mục đích san lấp cho các dự án, công trình trên địa bàn.

Từ thực tế đơn vị triển khai công trình trọng điểm quốc gia, ông Hoàng Đức Thọ – Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh Cao Bằng, cho biết đơn vị đang thực hiện dự án đầu tư xây dựng tuyến cao tốc Đồng Đăng (tỉnh Lạng Sơn)-Trà Lĩnh (Cao Bằng) theo hình thức đối tác công tư (PPP). Ngoài ra, ban đang thực hiện một số dự án trọng điểm của tỉnh.

Tuy nhiên vấn đề thiếu vật liệu san lấp, đất đắp là một trong những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện dự án giao thông trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.

anh-13.jpg
Đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Nông Trần Thị Thu Hằng (Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội), cho biết hiện nhiều công trình trọng điểm quốc gia cũng như các địa phương gặp nhiều khó khăn trong vấn đề khoáng sản, vật liệu xây dựng, nhất là vật liệu san lấp cho các công trình hạ tầng – nơi thiếu trầm trọng, nơi thừa không biết xử lý thế nào, vì các bất cập trong luật khoáng sản hiện hành. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Nguyên nhân dẫn tới khó khăn, theo ông Long đó là Điều 64, Luật Khoáng sản năm 2010 quy định việc tận dụng đất, đá từ đào nền đường chỉ được phép sử dụng cho công trình đó; không có hướng dẫn về việc sử dụng đất, đá thừa của dự án này để điều phối sang thực hiện dự án khác. Trong khi chỉ riêng dự án cao tốc Đồng Đăng-Trà Lĩnh, nhu cầu vật liệu đắp của dự án là khoảng 16 triệu m3, sau khi điều phối cân bằng đào đắp tối ưu, nhu cầu đất đắp từ mỏ của dự án khoảng 3 triệu m3.

“Đây là vấn đề cần sớm giải quyết để bảo đảm nguồn vật liệu, tiết kiệm chi phí, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư,” ông Long trăn trở.

quote3bai2.jpg

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, theo tính toán của Bộ Giao thông Vận tải trong năm 2023, các dự án cao tốc ở đồng bằng này có tổng chiều dài khoảng 355km sẽ cần khoảng 6,6 triệu m3 đá; 4,7 triệu m3 đất đắp và gần 54 triệu m3 cát đắp và san lấp… Tuy nhiên thực tế cho thấy việc khai thác cát sông, hay tìm kiếm các nguồn vật liệu san lấp thay thế cát sông như khai thác cát biển, vẫn đang gặp khó khăn.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long Lữ Quang Ngời cho biết năm 2024, nhu cầu sử dụng cát san lấp đối với các công trình có vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh là 6,03 triệu m3, chưa tính được nhu cầu dân dụng (tạm ước khoảng 30% của công nghiệp là 1,8 triệu m3). Theo đó, nhu cầu sử dụng cát trong toàn tỉnh khoảng 7,8 triệu m3. Tuy nhiên, với tổng khối lượng cho phép khai thác còn lại năm 2024 (5 giấy phép) là 535.000 m3/năm, thì nhu cầu sử dụng cát san lấp thiếu hụt khoảng 7,3 triệu m3.

anh-55.jpg
Hệ thống thu bụi tro xỉ của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải tại tỉnh Trà Vinh. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
anh-54.jpg
Tro xỉ tại bãi thải của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải ở tỉnh Trà Vinh. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
screenshot_5.jpg
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” nhấn mạnh quan điểm: Tài nguyên địa chất, khoáng sản vừa là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, vừa là nguồn dự trữ lâu dài của quốc gia cần phải được quy hoạch, điều tra, thăm dò đầy đủ. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Trong bối cảnh đó, tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện được nhiều chuyên gia, đại biểu Quốc hội nhận định là nguồn vật liệu thay thế hiệu quả để phục vụ san lấp mặt bằng cho các công trình giao thông. Tuy nhiên, việc tận dụng tro xỉ để thay thế một phần nguồn cát đến nay vẫn đang gặp không ít khó khăn, “mắc kẹt,” lãng phí vì chưa có hướng dẫn rõ ràng trong quá trình thực hiện, dù đã được phép sử dụng.

Ghi nhận của phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus tại tỉnh Trà Vinh cho thấy chỉ riêng các nhà máy nhiệt điện của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải ở tỉnh này hiện đang có gần 3,9 triệu tấn tro, xỉ tồn đọng trong suốt 8 năm qua. Nguồn tro, xỉ này được chôn lấp thành 2 bãi thải “âm” rộng lớn với độ sâu 8-10m. Bên trên bãi thải cỏ cây mọc cao tới gần 2m. Bên cạnh là con đường được nén bằng xỉ đá chắc chắn.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, ông Âu Nguyễn Đình Thảo – Phó Giám đốc Công ty Nhiệt điện Duyên Hải, cho biết công ty này đi vào hoạt động sản xuất tại tỉnh Trà Vinh từ năm 2016.

anh-50.jpg
Ông Âu Nguyễn Đình Thảo – Phó Giám đốc Công ty Nhiệt điện Duyên Hải chia sẻ với phóng viên Báo điện tử VietnamPlus

Hiện công ty đang quản lý, vận hành 3 nhà máy nhiệt điện với tổng sản lượng điện phát hàng năm khoảng 20-21 tỷ kWh. Lượng tro xỉ thải ra từ các nhà máy tương đối lớn. Chỉ riêng trong quý 1/2024, tổng lượng tro xỉ chứa trong các bãi chứa của Trung tâm Điện lực Duyên Hải là 4,222 triệu tấn.

“Với tình hình tiêu thụ tro xỉ nhiệt điện hiện nay, nếu gần 3,9 triệu tấn tro, xỉ tồn đọng tại 2 bãi thải của công ty không sớm được giải quyết tiêu thụ, về lâu dài nguy cơ các bãi sẽ đầy tro xỉ là rất cao,” ông Thảo nói và bày tỏ lo ngại việc này sẽ ảnh hưởng đến môi trường, nhu cầu sử dụng của xã hội về vật liệu san lấp thay thế cát; từ đó phát sinh về chi phí như buộc phải khai thác cát ở những vị trí xa hơn.

Về vấn đề này, đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa – Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, cũng cho biết những vướng mắc, bất cập trên đã làm chậm trễ tiến độ thi công của các công trình, dự án giao thông; khiến giá vật liệu đắt đỏ, gây bức xúc của người dân. Minh chứng là các công trình xây dựng nhà ở của dân ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay, người dân khi làm nhà phải mua cát với giá rất đắt.

quote2bai2.jpg

“Trong khi đó, khối lượng đất, đá đem đổ thải tại các bãi thải trên cả nước hiện nay rất lớn nhưng lại không sử dụng… Tôi cho rằng thực tế này là rất lãng phí; chưa kể có thời điểm xỉ than còn bị xuất lậu, bán ra nước ngoài, gây thất thoát tài sản của quốc gia. Cá nhân tôi đề xuất sử dụng xỉ than để làm vật liệu san lấp các công trình giao thông trong bối cảnh hiện nay,” đại biểu Phạm Văn Hòa nói./.

Bài 3: Chống thất thoát, lãng phí khoáng sản đi kèm: Cần sớm “vá lỗ hổng” chính sách

Bài 3: Chống thất thoát, lãng phí khoáng sản đi kèm: Cần sớm “vá lỗ hổng” chính sách

tacgiabrown(1).png

***

bia-3.jpg

Để tận dụng tối đa khoáng sản đi kèm (đất, đá thải); khắc phục tình trạng “chỗ thừa, chỗ thiếu” vật liệu san lấp để đáp ứng nhu cầu cho các công trình, dự án; hạn chế dung tích bãi thải, đảm bảo môi trường; tăng thu cho ngân sách Nhà nước – nhiều chuyên gia, đại biểu Quốc hội và lãnh đạo các tỉnh, thành phố cho rằng việc quan trọng hiện nay là Chính​ phủ cần sớm “vá lỗ hổng” chính sách: Quy định rõ việc phê duyệt trữ lượng, cấp phép khai thác, tận thu khoáng sản đi kèm.

Cùng với đó, Chính phủ, Quốc hội cần có cơ chế “thoáng” hơn về thuế để khuyến khích các doanh nghiệp khai khoáng tham gia trách nhiệm hơn vào việc “khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả khoáng sản đi kèm” như tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2022 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

artboard-1.png
artboard-1.jpg

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus về tình hình thực tế tại địa phương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường, cho biết là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản với trên 150 điểm mỏ có giá trị công nghiệp, trung bình mỗi năm có khoảng 25 triệu m3 đất, đá thải, song việc sử dụng đất, đá thải ở tỉnh Lào Cai vẫn đang gặp khó khăn.

anh-9.jpg
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường cho biết là tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản, mỗi năm có khoảng 25 triệu m3 đất, đá thải, song việc sử dụng đất, đá thải ở tỉnh Lào Cai vẫn đang gặp khó khăn. (Ảnh: TTXVN)

Vì thế, để “quản lý chặt chẽ, khai thác, chế biến, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, gắn với nhu cầu phát triển của nền kinh tế, bảo vệ môi trường” theo đúng mục tiêu tại Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2022 của Bộ Chính trị, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, nghiên cứu, đề xuất ban hành trình tự, thủ tục hành chính để được vận chuyển, sử dụng đất, đá thải theo hướng đơn giản hóa thủ tục, dễ thực hiện để đảm bảo việc cung cấp nguyên vật liệu phục vụ san lấp cho các dự án, tránh thất thu ngân sách…

Ủy ban Nhân dân Lào Cai cũng đề nghị Bộ Xây dựng cần chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương sớm xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể để khuyến khích, thúc đẩy việc sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng (vật liệu thay thế); ưu tiên các dự án sản xuất, sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải công nghiệp, chất thải xây dựng và từ các ngành, lĩnh vực khác nhằm đẩy mạnh kinh tế tuần hoàn…

bai-thai-cua-mo-dong-sin-quyen-tai-tinh-lao-cai.-1.jpg
Bãi thải của Mỏ đồng Sin Quyền tại tỉnh Lào Cai. Ủy ban Nhân dân Lào Cai đã đề nghị Bộ Xây dựng sớm xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể để khuyến khích, thúc đẩy ưu tiên các dự án sản xuất, sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải công nghiệp, chất thải xây dựng

Nằm ở khu vực Đông Bắc, tỉnh Cao Bằng cũng là địa phương có nhiều mỏ khoáng sản. Hàng năm, các mỏ thải ra khoảng trên 1,6 triệu m3 đất, đá thải.

Tuy nhiên cũng như nhiều tỉnh khác trên cả nước, tỉnh này đang gặp tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng, đặc biệt là đất đắp nền (đất san lấp) cho các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước và công trình vốn ngoài ngân sách.

anh-14.jpg
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Trước tình hình đó, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh cho biết tỉnh đã quyết định thành lập Tổ công tác liên ngành để giải quyết nhanh các thủ tục hành chính liên quan đến việc cấp điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản, đăng ký khai thác đất đắp; giao các cơ quan chuyên môn khẩn trương nghiên cứu, tích cực đề xuất các giải pháp khai thác đất tại bãi thải của các công trình, dự án đã hoàn thành để phục vụ các công trình, dự án đang thi công thiếu vật liệu xây dựng; nghiên cứu, tham mưu hướng dẫn các chủ mỏ thực hiện thủ tục khai thác khoáng sản đi kèm (đất, đá thải làm vật liệu san lấp).

“Tuy nhiên, hiện nay luật chưa có quy định cụ thể về hồ sơ, thủ tục hành chính để giải quyết đối với khai thác khoáng sản đi kèm. Vì vậy, tỉnh Cao Bằng mong muốn các bộ, ngành Trung ương sớm có hướng dẫn về trình tự, thủ tục để thống nhất thực hiện, nhằm khai thác tối đa, tránh lãng phí tài nguyên, tăng thu ngân sách nhà nước,” Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh kiến nghị.

Từ thực tế đơn vị triển khai dự án giao thông trọng điểm quốc gia, ông Hoàng Đức Thọ – Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh Cao Bằng cho biết theo quy định của Luật khoáng sản 2010, đối với các dự án không được hưởng các cơ chế đặc thù của Quốc hội về khoáng sản thì trình tự thủ tục cấp phép mỏ vật liệu xây dựng thông thường phải trải qua 11 bước với thời gian thực hiện khoảng gần 300 ngày.

anh-54.jpg
Theo quy định của Luật khoáng sản 2010, đối với các dự án không được hưởng các cơ chế đặc thù của Quốc hội về khoáng sản thì trình tự thủ tục cấp phép mỏ vật liệu xây dựng thông thường phải trải qua 11 bước với thời gian thực hiện khoảng gần 300 ngày.

Trong bối cảnh tiến độ phê duyệt của các dự án giao thông hiện này chỉ kéo dài khoảng 2-3 năm thì thời gian để được cấp phép khai thác đối với mỏ vật liệu xây dựng thông thường khó đảm bảo tiến độ.

“Do đó, luật cần làm rõ khái niệm khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (bao gồm cả các loại đất đồi, đất san lấp, đất đá bóc của mỏ…) để quy định việc khai thác, sử dụng đối với các loại khoáng sản này theo hướng đơn giản hóa tối đa các thủ tục hành chính, phù hợp với loại hình khoáng sản; đáp ứng nhu cầu thực tiễn nguồn vật liệu đất đắp cho các dự án giao thông, góp phần đẩy nhanh tiến độ và tiết giảm chi phí đầu tư của các dự án sử dụng đất đắp,” ông Thọ nhấn mạnh.

Nằm ở giữa “khúc ruột” miền Trung – nơi đường cao tốc Bắc Nam chạy qua, đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình cũng nhấn mạnh để giải quyết, sử dụng hiệu quả nguồn khoáng sản đi kèm tại các mỏ trong bối cảnh nhiều dự án, công trình giao thông trọng điểm đang gặp khó do thiếu vật liệu san lấp, tỉnh đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường tham mưu sửa đổi, đơn giản hóa các thủ tục pháp lý để nhà đầu tư thuận lợi trong việc cấp phép khai thác nhằm huy động tối đa nguồn sản đi kèm vào phục vụ cho các công trình dự án của địa phương.

anh-10.jpg
Đại biểu Quốc hội Đoàn Thị Thanh Mai (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội) nhấn mạnh báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp về dự thảo Luật Địa chất và Khoáng sản, đã đề cập một thực trạng rất đáng chú ý, đó là tình trạng vi phạm pháp luật trong khai thác khoáng sản nhóm 4. Các đối tượng đã lợi dụng tình hình khan hiếm, thiếu hụt nguồn cung vật liệu xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia để khai thác trái phép khoáng sản, cát, đá và sỏi, đất làm vật liệu xây dựng và vật liệu san lấp. (Ảnh: Phương Hoa/TTXVN)
bai3scroll.jpg
Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, nghiên cứu, đề xuất ban hành trình tự, thủ tục hành chính để được vận chuyển, sử dụng đất, đá thải theo hướng đơn giản hóa thủ tục, dễ thực hiện
bai32.jpg
Như nhiều tỉnh khác trên cả nước, Cao Bằng đang gặp tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng, đặc biệt là đất đắp nền (đất san lấp)
bai3ghep3.jpg
Ông Thọ cho rằng “luật cần làm rõ khái niệm khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (bao gồm cả các loại đất đồi, đất san lấp, đất đá bóc của mỏ…) để quy định việc khai thác.”
1920x1080-4-v.png
titphu2bai3.png

Đối với các tỉnh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhu cầu sử dụng vật liệu san lấp hiện nay đang rất lớn. Theo thống kê của Bộ Giao thông Vận tải, khu vực này đang triển khai 8 dự án đường cao tốc dài 463km chạy qua 10 tỉnh. Các dự án này cần khoảng 53,7 triệu m3 cát san lấp nền, trong đó cát san lấp nền của các dự án năm 2023 khoảng 16,78 triệu m3; năm 2024 khoảng 23,63 triệu m3.

Trong khi đó, kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trong chuyến công tác và làm việc với các bộ, địa phương về xử lý khó khăn, vướng mắc cho dự án giao thông trọng điểm khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liên quan, đặt mục tiêu: Đến năm 2025 phải hoàn thành 3.000 km đường cao tốc trên cả nước, trong đó khu vực đồng bằng sông Cửu Long phải nỗ lực phấn đấu hoàn thành khoảng 600 km hưởng ứng.

Theo đó, để giải quyết đủ nguồn vật liệu san lấp phục vụ các dự án cao tốc trên, Thủ tướng đã yêu cầu Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chủ trì và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục chỉ đạo hỗ trợ, hướng dẫn kịp thời các địa phương có nguồn vật liệu san lấp đắp nền đường ở Đồng bằng sông Cửu Long để giải quyết việc cấp phép khai thác mỏ, nâng công suất khai thác mỏ cát khi đủ điều kiện, gia hạn mỏ theo thẩm quyền và quy định của pháp luật.

screenshot_13.png
Cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng qua tỉnh Hậu Giang (dự án thành phần 3) có tổng nhu cầu nguồn cát là 6 triệu m3. (Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN)
screenshot_14.png
Công trường Dự án Đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông, đoạn qua tỉnh Quảng Bình tại Nút giao, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Trạch. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
screenshot_12.png
Cát sông tập kết thành bãi lớn ven sông ở thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Thủ tướng cũng yêu cầu chủ tịch ủy ban nhân dân các các tỉnh có nguồn vật liệu san lấp (Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Sóc Trăng, An Giang…) và các địa phương có nhu cầu vật liệu san lấp (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Cần Thơ, Hậu Giang, Cà Mau…) chủ động trao đổi, làm việc, áp dụng mọi cơ chế, chính sách đặc thù và cơ chế thuận lợi nhất để giải quyết đủ nguồn vật liệu theo chỉ tiêu được giao, cũng như đã cam kết (đảm bảo về trữ lượng, công suất), bảo đảm hoàn thành các thủ tục cấp phép.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ Trần Việt Trường, cho biết hiện trên địa bàn có 2 tuyến đường bộ cao tốc đi qua; trong đó tuyến đường bộ cao tốc Cần Thơ-Cà Mau (đoạn Cần Thơ-Hậu Giang) nhu cầu cát xây dựng và cát đắp nền là 6,84 triệu m3; tuyến Châu Đốc-Cần Thơ-Sóc Trăng (đoạn qua Cần Thơ) là 7 triệu m3.

anh-50.jpg
Thủ tướng Phạm Minh Chính nghe báo cáo tiến độ thi công tuyến đường cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng, đoạn đi qua xã Đông Thắng, huyện Cờ Đỏ. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)

Ngoài ra, một số dự án, công trình giao thông trọng điểm do thành phố Cần Thơ đầu tư để phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, với nhu cầu cát cần 1,7 triệu m3, công trình Khu công nghiệp huyện Vĩnh Thạnh (VSIP) với nhu cầu cát lên tới 9 triệu m3. Như vậy, nhu cầu sử dụng vật liệu san lấp trên địa bàn là rất lớn.

“Thời gian qua, thành phố đã chủ động làm việc với tỉnh An Giang, Tiền Giang để việc hỗ trợ cung cấp vật liệu xây dựng cho địa phương được đảm bảo theo tiến độ thi công công trình. Tuy nhiên các công trình, dự án trọng điểm khác của thành phố vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề thiếu cát,” ông Trường nói.

Ông Trường cũng cho biết để giải quyết nhu cầu vật liệu san lấp trên địa thành phố Cần Thơ nói riêng, trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, Chính phủ và các bộ, ngành đã có những chỉ đạo quyết liệt trong việc giải quyết các khó khăn, vướng mắc nhằm hạn chế thiếu hụt nguồn vật liệu san lấp. Bên cạnh việc huy động mỏ cát ở các tỉnh, Chính phủ đề nghị tiếp tục mở rộng thí điểm khai thác và sử dụng cát biển, thí điểm sử dụng tro xỉ làm vật liệu san lấp ở một số dự án.

Trong khi đó, về phía doanh nghiệp phát thải tro xỉ, ông Âu Nguyễn Đình Thảo – Phó Giám đốc Công ty Nhiệt điện Duyên Hải, cho biết việc thí điểm sử dụng tro xỉ làm vật liệu san lấp của công ty vẫn đang gặp khó khăn. Hiện công ty này có 3,9 triệu tấn tro, xỉ chôn lấp tại 2 bãi thải ở tỉnh Trà Vinh đã đầy, cần sớm được xử lý.

screenshot_19.png
Tro xỉ của tại các nhà máy của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải ở tỉnh Trà Vinh. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
screenshot_20.png
Tro xỉ của tại các nhà máy của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải ở tỉnh Trà Vinh. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
screenshot_22.png
Tro xỉ của tại các nhà máy của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải ở tỉnh Trà Vinh. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
screenshot_21.png
Khu sản xuất gạch không nung có nguyên liệu từ tro xỉ của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải ở tỉnh Trà Vinh. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Vì vậy, Công ty Nhiệt điện Duyên Hải kiến nghị Bộ Xây dựng sớm có hướng dẫn cụ thể trong thực hiện các giải pháp và có cơ chế ưu tiên sử dụng tro, xỉ để làm vật liệu san lấp các công trình giao thông, vật liệu xây dựng các công trình xây dựng; Bộ Tài chính có hướng dẫn về cơ chế tài chính, các chính sách hỗ trợ, ưu đãi để hỗ trợ công ty, khuyến khích các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng tro, xỉ làm vật liệu san lấp, xây dựng cho các công trình xây dựng để thay thế các vật liệu tự nhiên…

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Trà Vinh Lê Văn Hẳn cũng nhấn mạnh để có thể sử dụng rộng rãi tro xỉ làm vật liệu san lấp, tỉnh này kiến nghị các bộ, ngành Trung ương tiếp tục hướng dẫn, hỗ trợ các giải pháp và có cơ chế ưu tiên sử dụng tro, xỉ phát sinh từ các nhà máy nhiệt điện; xem xét, điều chỉnh các quy định, các tiêu chuẩn, quy chuẩn tro xỉ nhiệt điện làm vật liệu san lấp đã ban hành, tạo điều kiện thuận lợi trong sử dụng tro, xỉ phát sinh, đáp ứng nhu cầu đang thiếu hụt vật liệu san lấp đối với các dự án xây dựng, giao thông.

titlephu3bai3.png
artboard-1.jpg

Bên cạnh các giải pháp trên, nhiều ý kiến cơ quan quản lý, đại biểu Quốc hội cũng kiến nghị Chính phủ điều chỉnh cơ chế “thoáng” hơn về thuế tài nguyên để khuyến khích các doanh nghiệp chủ động tham gia trách nhiệm hơn vào việc khai thác, sử dụng bền vững, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả khoáng sản đi kèm về lâu dài.

screenshot_10.png
Đại biểu Quốc hội Phạm Văn Hòa – Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội (Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp) đề nghị dự án Luật Địa chất và Khoáng sản cần đề cập quy định rõ ràng về các loại khoáng sản đi kèm cũng như tôí ưu hóa việc khai thác, sủ dụng, để đảm bảo không gây lãng phí, thất thoát. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Chia sẻ kinh nghiệm qua hơn 20 năm nghiên cứu, quản lý về lĩnh vực khoáng sản, một cán bộ ở Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia nhấn mạnh rằng: “Tiết kiệm đối với tài nguyên khoáng sản không phải là giữ bo bo, không khai thác, mà tiết kiệm là phải làm sao khai thác, sử dụng hiệu quả.”

Dẫn điều 49 Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2013, vị cán bộ trên cho hay theo quy định việc quản lý, khai thác, sử dụng khoáng sản của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân phải “bảo đảm hiệu quả kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; thực hiện tận thu triệt để trong khai thác khoáng sản và sử dụng hiệu quả các sản phẩm phụ hữu ích của hoạt động khai thác khoáng sản”.

Tuy nhiên tài nguyên khoáng sản hiện vẫn chưa được khai thác hiệu quả, gây lãng phí lớn. Một trong những bất cập là quy định về thuế tài nguyên hiện nay đang “đánh đồng” theo nhóm, chủng loại, mỏ như nhau. Trong khi việc khai thác tài nguyên khoáng sản tùy thuộc vào từng vị trí, địa hình khác nhau (như mỏ nằm ven đường, giao thông đi lại thuận lợi; hay mỏ ở sâu trong rừng, địa hình phức tạp).

anh-29(1).jpg
Một trong những bất cập là quy định về thuế tài nguyên hiện nay đang “đánh đồng” theo nhóm, chủng loại, mỏ như nhau.

“Nếu đánh đồng quy định như trên, tôi e là không doanh nghiệp nào có mỏ ở xa, vị trí phức tạp… muốn làm. Như vậy, cơ chế chính sách này đã tạo trở lực ngay trong ý thức của doanh nghiệp khiến họ không muốn tiết kiệm,” vị cán bộ trên lưu ý và cho rằng muốn doanh nghiệp đầu tư khai thác mỏ khoáng sản có hàm lượng quặng nghèo cao, vẫn thu hồi tối đa được tài nguyên, không gây lãng phí (như điều 49), thì chính sách thuế tài nguyên cần phải phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp.

Đại diện Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản Quốc gia cũng cho rằng nếu cơ chế chính sách cho thuế tài nguyên xuất khẩu phù hợp thì doanh nghiệp chắc chắn sẽ làm triệt để và Nhà nước sẽ được lợi hơn.

Lý do là bởi đá địa chất khi khai thác ra khỏi núi và vứt bỏ ngoài môi trường thì chỉ 1-2 năm sau sẽ biến chất, đổi màu – khi đó khoáng sản không còn giá trị và doanh nghiệp cũng không thể sử dụng.

anh-35.jpg
Đá địa chất khi khai thác ra khỏi núi và vứt bỏ ngoài môi trường thì chỉ 1-2 năm sau sẽ biến chất, đổi màu

“Như vậy là không tiết kiệm, gây lãng phí, thất thoát rất lớn. Còn nếu áp dụng chính sách thuế bằng 0 đối với một số loại quặng nghèo, khoáng sản đi kèm thì doanh nghiệp trong quá trình khai thác mỏ sẽ cố gắng thu hồi hết. Quan trọng hơn là sẽ phục vụ được cho nền kinh tế như sử dụng nguồn đất đá thải, xỉ thải phục vụ cho nhu cầu san lấp của quốc gia,” vị cán bộ trên phân tích thêm.

Trao đổi với phóng viên, đại biểu Quốc hội Vũ Ngọc Long (Giám đốc Sở Công thương tỉnh Bình Phước, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Phước) cũng nhấn mạnh tài nguyên khoáng sản là nguồn không tái tạo và hữu hạn, nên việc khai thác cần phải cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng, đảm bảo hiệu quả và bền vững.

screenshot_7.png
Đại biểu Quốc hội Vũ Ngọc Long, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Phước lưu ý nếu khai thác khoáng sản kiểu “dễ làm, khó bỏ” thì không những không mang hiệu quả kinh tế, mà còn sẽ rất lãng phí, ảnh hưởng đến tương lai. (Ảnh: Vũ Võ/Vietnam+)

“Muốn vậy cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp để họ đầu tư công nghệ hiện đại vào khai thác, tránh gây lãng phí,” đại biểu Quốc hội Vũ Ngọc Long chia sẻ.

Dẫn ví dụ về khoáng sản bauxite ngay từ thực tế ở địa phương, đại biểu Quốc hội Vũ Ngọc Long cho hay nếu theo công nghệ khai thác hiện nay thì việc khối lượng đất đá cũng như khoáng sản thô không được tận thu, đem bỏ đi sẽ rất lớn, trở thành thứ bùn đỏ. Trong khi hiện nay công nghệ xử lý chưa đạt hiệu quả. Điều này không chỉ gây lãng phí, mà còn ảnh hưởng đến môi trường sống xung quanh.

“Đã đến lúc chúng ta cần phải có quy định cụ thể để khai thác tối ưu, đảm bảo yếu tố kỹ thuật, an toàn về môi trường cũng như hiệu quả về kinh tế-xã hội như sử dụng đất đá thải vào mục đích san lấp. Đây là vấn đề mà các đại biểu Quốc hội rất quan tâm. Thực tế hiện nay địa phương nào cũng mong muốn có cơ chế để sử dụng khoáng sản đi kèm để phục vụ san lấp,” đại biểu Quốc hội Vũ Ngọc Long nói.

anh-5.jpg
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đưa ra giải pháp điều chỉnh thuế suất thuế tài nguyên đối với một số khoáng sản nhằm khuyến khích đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại để khai thác, chế biến các mỏ khoáng sản có điều kiện địa chất – mỏ phức tạp, hàm lượng thấp, hạ tầng kỹ thuật thấp kém. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
anh-11.jpg
Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Trị Hồ Thị Minh (Ủy viên Hội đồng Dân tộc của Quốc hội) nhấn mạnh việc quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản hiện nay chưa phù hợp, còn nhiều chồng chéo, mất thời gian; các quy định hướng dẫn về thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu chưa thu hút, khuyến khích đầu tư vốn, công nghệ, thiết bị hiện đại, tiên tiến để khai thác, chế biến, thu hồi hiệu quả, sử dụng tổng hợp nhằm tiết kiệm tài nguyên khoáng sản. (Ảnh: An Đăng/TTXVN
screenshot_18.png
Khu vực bãi thải của Mỏ than Khánh Hòa ở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
anh-32(1).jpg
Đá thải từ các mỏ đá hoa trắng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, đang được tuồn ra để làm nền đường ở trên địa bàn. Theo đại biểu Quốc hội Vũ Ngọc Long, tài nguyên khoáng sản là nguồn không tái tạo và hữu hạn, nên việc khai thác cần phải cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng, đảm bảo hiệu quả và bền vững.(Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
1920x1080-3-v.png

Đại biểu Quốc hội Vũ Ngọc Long cũng lưu ý rằng nếu tận dụng các loại khoáng sản dư thừa đi kèm để phục vụ nhu cầu san lấp các công trình giao thông trọng điểm sẽ hiệu quả hơn nhiều so với việc đào bới thêm một quả núi sẽ tác động đến môi trường. Ông cũng nhấn mạnh Việt Nam đang phát triển theo hướng xanh, bền vững, nên không thể chăm chăm vào yếu tố phát triển mà coi nhẹ môi trường.

Đại diện Công ty Khai thác, chế biến khoáng sản Núi Pháo và Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên cũng đề xuất Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường cần xây dựng cơ chế ưu đãi để doanh nghiệp có cơ sở thu hồi tối đa khoáng sản có ích cũng như khoáng sản đi kèm; sớm đồng bộ hóa hệ thống quy định của Luật Địa chất và Khoáng sản với các quy định pháp luật chuyên ngành khác (ví dụ như pháp luật về môi trường, về thuế, phí áp dụng cho hoạt động khai thác khoáng sản), để tránh những bất cập, vướng mắc có thể phát sinh trong quá trình thực thi./.

Bài 4: Quản lý thực chất khoáng sản quốc gia: Phải phân nhóm, tính đúng tính đủ

Bài 4: Quản lý thực chất khoáng sản quốc gia: Phải phân nhóm, tính đúng tính đủ

tacgiabrown(1).png

***

bia4final(1).jpg

Nhận thấy sau 13 năm thi hành Luật Khoáng sản năm 2010, một số quy định đã “lỗi thời,” không còn phù hợp với tình hình thực tiễn, Chính phủ đã xây dựng dự án Luật Địa chất và Khoáng sản trình Quốc hội ​xem xét tại Kỳ họp thứ 7 vừa qua. Trong đó, Chính phủ đã bổ sung nhiều điểm mới về tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo sản lượng thực tế; phân nhóm quản lý khoáng sản… nhằm khai thác tối đa, tránh lãng phí, đảm bảo bền vững tài sản công khoáng sản quốc gia.

Cơ bản đồng tình với nội dung dự án luật trên, song nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội, lãnh đạo chính quyền địa phương trong các cuộc trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, đã nêu quan điểm đề nghị luật cần quy định cụ thể hơn về các tiêu chí phân nhóm, thẩm quyền quản lý; quy định cơ chế phối hợp liên ngành để giám sát chặt chẽ việc khai thác, tính đúng, tính đủ khoáng sản ở các mỏ.

anh-1.jpg
Theo Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị, tài nguyên địa chất, khoáng sản phải được quản lý tập trung, thống nhất; khai thác, sử dụng bền vững, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả; điều tra cơ bản địa chất, khoáng sản phải đi trước một bước, làm cơ sở xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thích ứng với biến đổi khí hậu. (Ảnh: PV/Vietnam+)
anh-2.jpg
Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu xác định một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng; đặc biệt là rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện quy định về đấu giá quyền khai thác khoáng sản, thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường phù hợp với thực tiễn. (Ảnh: PV/Vietnam+)
anh-3.jpg
Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định ưu tiên cấp phép dự án khai thác khoáng sản cho tổ chức doanh nghiệp có năng lực, kinh nghiệm, sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại; cải tạo, mở rộng nâng cấp các cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản, thu hồi tối đa khoáng sản chính, các khoáng sản đi kèm theo mô hình kinh tế tuần hoàn. (Ảnh: PV/Vietnam+)
da-hoa-trang-o-huyen-quy-hop-tinh-nghe-an-1.jpg
Luật Khoáng sản năm 2010 hiện nay không quy định phân nhóm khoáng sản, dẫn đến quy trình, thủ tục hành chính trong quản lý hoạt động khoáng sản đối với tất cả các loại, nhóm khoáng sản là như nhau.
khu-vuc-bai-thai-cua-mo-than-khanh-hoa-o-thanh-pho-thai-nguyen-tinh-thai-nguyen-12.jpg
Khu vực bãi thải của Mỏ than Khánh Hòa ở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

titlephu1bai4.png

Chia sẻ kinh nghiệm từ thực tế quản lý ở địa phương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường cho biết địa phương này hiện có trên 35 loại khoáng sản khác nhau; trong đó nhiều loại khoáng sản quý, chất lượng cao, trữ lượng lớn hàng đầu Việt Nam như: Apatít (2,2 tỷ tấn), sắt (150 triệu tấn), đồng (100 triệu tấn), vàng, môlípđen, fenspat, graphít…

Đây là tiền đề thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh.

anh-4(1).jpg
Theo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường, tỉnh đang có tiền đề thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản

Theo Điều 7 dự thảo Luật Địa chất và Khoáng sản đã được Chính phủ trình Quốc hội, thì khoáng sản sẽ được phân thành 4 nhóm. Trong số đó, khoáng sản thuộc nhóm IV (gồm các loại đất, đá chỉ phù hợp với mục đích làm vật liệu san lấp cũng như đất đá thải của mỏ để đáp ứng nhu cầu của các dự án giao thông, xây dựng công trình trọng điểm) thay vì phải thực hiện thủ tục cấp giấy phép thăm dò, giấy phép khai thác theo Luật Khoáng sản năm 2010, thì tới đây – theo dự thảo Luật Địa chất và Khoáng sản sẽ chỉ cần thực hiện đăng ký khai thác khoáng sản.

“Như vậy, việc thực hiện phân nhóm khoáng sản sẽ tạo điều kiện cho các địa phương trên cả nước, cũng như tỉnh Lào Cai phát huy được tính chủ động, có thẩm quyền cấp phép các loại khoáng sản theo nhóm đã được quy định đồng thời giải quyết một số khó khăn, vướng mắc hiện nay liên quan đến khoáng sản đi kèm như vật liệu san lấp trên địa bàn toàn tỉnh,” ông Trường nêu quan điểm.

anh-4.jpg
Theo ông Trường, thực hiện phân nhóm khoáng sản sẽ tạo điều kiện cho các địa phương trên cả nước, cũng như tỉnh Lào Cai phát huy được tính chủ động, có thẩm quyền cấp phép các loại khoáng sản theo nhóm đã được quy định.

Bên cạnh đó, việc phân nhóm khoáng sản để quản lý theo nhóm cũng sẽ tháo gỡ được những khó khăn về thủ tục hành chính; thực hiện việc khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; từng bước đổi mới công nghệ sản xuất, xử lý môi trường nhằm tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, kiểm soát và xử lý triệt để chất thải, hướng đến sản xuất sạch hơn; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch vào toàn bộ quy trình sản xuất; thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn.

Tuy nhiên, ông Trường cũng lưu ý để thực hiện được mục tiêu trên, các cấp, các ngành và địa phương cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm “coi môi trường là một trong ba trụ cột của phát triển bền vững; không phát triển kinh tế bằng mọi giá; không đánh đổi môi trường lấy kinh tế” đồng thời đổi mới phương thức quản lý môi trường “từ bị động giải quyết sang chủ động phòng ngừa,” nhằm từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững.

Có chung quan điểm, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh, nhấn mạnh việc phân nhóm khoáng sản sẽ giúp các địa phương nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thất thoát tài nguyên cũng như bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản cũng như giải quyết được tình trạng khan hiếm vật liệu đất đắp trong thời gian tới, qua đó đảm bảo sự phát triển bền vững.

anh-10(1).jpg
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh cho rằng Nhà nước nên có các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ khai thác hiện đại, thân thiện với môi trường và chế biến sâu khoáng sản tại chỗ

Tuy nhiên, ông Ánh cũng đề xuất dự thảo luật cần có các tiêu chí phân nhóm khoáng sản rõ ràng, khoa học và phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam; phân định rõ thẩm quyền quản lý giữa chính phủ, bộ, ngành và ủy ban nhân dân các cấp.

Cùng với đó, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ các địa phương trong việc xây dựng năng lực quản lý, giám sát và kiểm soát hoạt động khai thác khoáng sản; có các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ khai thác hiện đại, thân thiện với môi trường và chế biến sâu khoáng sản tại chỗ; cơ chế phối hợp liên ngành.

Phân tích thêm, đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình cho biết Luật Khoáng sản năm 2010 hiện nay không quy định phân nhóm khoáng sản, dẫn đến quy trình, thủ tục hành chính trong quản lý hoạt động khoáng sản đối với tất cả các loại, nhóm khoáng sản là như nhau.

Điều này là không phù hợp. Trong khi “việc phân nhóm khoáng sản” theo dự án Luật Địa chất và Khoáng sản đã được Chính phủ trình Quốc hội, sẽ cho phép xác lập cách tiếp cận phù hợp từ khâu quy hoạch đến cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản, cho phép thu hồi khoáng sản…

anh-11(1).jpg
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long Lữ Quang Ngời. (Ảnh: Lê Thúy Hằng/TTXVN)

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long Lữ Quang Ngời cũng nhận định với quy định “phân nhóm khoáng sản,” khi Luật Địa chất và Khoáng sản được thông qua sẽ cho phép địa phương xác lập cách tiếp cận phù hợp từ khâu quy hoạch đến cấp phép thăm dò, khai thác, thu hồi khoáng sản, đóng cửa mỏ. Trên cơ sở đó, luật sẽ quy định phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương, cải cách thủ tục hành chính phù hợp với từng nhóm khoáng sản.

Nhấn mạnh việc phân nhóm khoáng sản để quản lý theo nhóm là yêu cầu thực tiễn cấp thiết nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất, bảo đảm minh bạch; quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả khoáng sản, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ Trần Việt Trường bày tỏ mong muốn dự án Luật Địa chất và Khoáng sản liên quan đến quy định trên sẽ sớm được Quốc hội thông qua.

Dẫn thực tế nhiều doanh nghiệp khai thác khoáng sản, nhất là than hiện đang đổ thải một lượng lớn đất, đá, xỉ than, thấy tài nguyên mà không thể khai thác, trong khi một số công trình giao thông trọng điểm quốc gia hiện đang phải nhập cát từ Campuchia, đại diện Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên cho rằng đây là thực tế gây lãng phí đối với cả Nhà nước.

Vì thế, quy định phân nhóm để khai thác tối đa khoáng sản đi kèm trong bối cảnh hiện nay là giải pháp rất cấp thiết.

khu-vuc-bai-thai-cua-mo-than-khanh-hoa-o-thanh-pho-thai-nguyen-tinh-thai-nguyen-2.jpg
Nhiều doanh nghiệp khai thác khoáng sản, nhất là than hiện đang đổ thải một lượng lớn đất, đá, xỉ than, thấy tài nguyên mà không thể khai thác

Có chung quan điểm, một chuyên gia môi trường cho rằng quy định phân nhóm để khai thác tối đa khoáng sản đi kèm, cũng như đất, đá, xỉ than sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho đất nước, cũng như giảm được gánh nặng cho xã hội, đặc biệt là bảo đảm an toàn cho người dân như: Góp phần giải quyết tình trạng thiếu vật liệu san lấp; hạn chế, ngăn chặn nguy cơ xảy ra thảm họa sạt lở gây thiệt hại về người và kinh tế; phát triển kinh tế theo hướng tuần hoàn; hạn chế được diện tích đổ thải đồng thời tạo được mặt bằng để sản xuất kinh doanh, thậm chí có thể hình thành các khu đô thị mới ở các khu vực ven biển như thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh…

titlephu2bai4.png

Bên cạnh quy định phân nhóm khoáng sản để nâng cao hiệu quả quản lý, một vấn đề khác được lãnh đạo nhiều tỉnh, thành phố và đại biểu Quốc hội quan tâm là việc tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo hướng “tính đúng, tính đủ” đồng thời đảm bảo sự hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp.

artboard-1.jpg

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường cho rằng khoáng sản là tài nguyên quốc gia thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện làm chủ sở hữu. Vì vậy, muốn được khai thác, nhà đầu tư phải chịu các khoản thuế, phí theo quy định.

Ông Trường nhấn mạnh theo quy định về khoáng sản hiện hành thì tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Nhà nước thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản thông qua đấu giá hoặc không đấu giá. Tuy nhiên, hiện tiền cấp quyền khai thác khoáng sản được xác định căn cứ chính vào trữ lượng khoáng sản được phê duyệt của mỏ (bên cạnh các căn cứ khác: giá, chất lượng khoáng sản, loại hoặc nhóm khoáng sản, điều kiện khai thác khoáng sản).

da-o-huyen-yen-dinh-tinh-thanh-hoa-6.jpg
Ông Trường cho rằng quy định tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo trữ lượng khoáng sản như hiện nay là không đảm bảo tính chính xác.

Theo ông Trường quy định tính tiền theo trữ lượng khoáng sản như hiện nay là không đảm bảo tính chính xác do trữ lượng thực tế của mỏ có thể có biến động về địa chất (tăng hoặc giảm) so với kết quả khảo sát, thăm dò. Điều này cũng gây khó khăn cho tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đồng thời chưa đảm bảo sự hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp.

“Trong thực tế có trường hợp doanh nghiệp đã đấu giá được quyền khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng thông thường được cấp phép và tiến hành nộp tiền, nhưng thực tế doanh nghiệp lại không bao giờ khai thác được khoáng sản, vì đất có trữ lượng khoáng sản đưa ra đấu giá phần lớn là đất của người dân. Do vậy, doanh nghiệp trúng đấu giá và chủ đất không thể thỏa thuận được, doanh nghiệp không thể tiến hành khai thác được. Doanh nghiệp không có tiền thì không thể nộp tiền vào cho ngân sách Nhà nước,” ông Trường nêu thực trạng.

Từ thực tế trên, ông Trường cho rằng quy định về phương pháp xác định, phương pháp thu, nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo hướng “tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo trữ lượng và thu theo năm, quyết toán theo sản lượng khai thác” như dự thảo Luật Địa chất và Khoáng sản là phù hợp.

anh-12.jpg
Theo đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Thuận Nguyễn Hữu Thông (Ủy viên Ủy ban Tư pháp của Quốc hội), việc tính tiền theo trữ lượng khoáng sản như hiện nay là không đảm bảo tính chính xác, vì thực tế hiện nay phần lớn các doanh nghiệp hoặc các đơn vị khai thác thường khai thác vượt mức trữ lượng được cấp phép, dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước, cũng có thể xảy ra các rủi ro cho tổ chức, cá nhân khi bị thanh tra, kiểm tra. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

“Nộp tiền theo năm sẽ giúp nhà đầu tư không mất khoản chi phí lớn tại thời điểm bắt đầu triển khai dự án. Việc quyết toán tiền theo sản lượng thực tế sẽ công bằng hơn về vấn đề chênh lệnh giữa trữ lượng thăm dò với sản lượng thực tế. Điều này có lợi cho nhà đầu tư cũng như Nhà nước khi trữ lượng khai thác có thể không chính xác lúc khảo sát, thăm dò. Việc này cũng sẽ khắc phục được hạn chế của quy định cũ là tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản dựa trên trữ lượng khoáng sản được phê duyệt, mà trữ lượng này thường hay bị sai số,” ông Trường nói thêm.

Đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình cũng cho rằng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản nộp theo năm sẽ giúp doanh nghiệp không mất khoản chi phí lớn tại thời điểm bắt đầu triển khai dự án. Bên cạnh đó, việc quyết toán tiền cấp quyền theo sản lượng thực tế sẽ giải quyết vấn đề chênh lệch giữa trữ lượng thăm dò với sản lượng thực tế. Nếu tính tiền cấp quyền chỉ căn cứ trên cơ sở sản lượng thực tế thì có thể trùng với thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường, qua đó tránh phát sinh mâu thuẫn gây khó khăn cho cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp.

hoat-dong-khai-thac-cat-o-tinh-phu-tho.-6.jpg
Theo ông Ngời, phần lớn các doanh nghiệp hoặc các đơn vị được cấp phép khai thác thường khai thác vượt mức trữ lượng được cấp phép, dẫn đến thất thu ngân sách Nhà nước

Đồng quan điểm, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long Lữ Quang Ngời cho rằng việc tính tiền cấp quyền khai thác theo sản lượng khai thác thực tế hàng năm là hợp lý vì thực tế phần lớn các doanh nghiệp hoặc các đơn vị được cấp phép khai thác thường khai thác vượt mức trữ lượng được cấp phép, dẫn đến thất thu ngân sách Nhà nước. Quy định này cũng sẽ hạn chế các khiếu nại từ phía doanh nghiệp trong việc nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; hạn chế tình trạng ngân sách Nhà nước bị “treo nợ” tiền cấp quyền khai thác do không thu được từ các doanh nghiệp.

Trong khi đó, đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam (địa phương được xem là “thủ phủ vàng” lớn nhất cả nước), lại bày tỏ lo ngại việc xác định “sản lượng khai thác thực tế hàng năm” sẽ rất khó xác định nếu các doanh nghiệp khai thác khoáng sản cố tình gian lận và kê khai không trung thực.

anh-20.jpg
Đại diện lãnh đạo huyện Phước Sơn cho rằng việc giám sát hoạt động khai thác khoáng sản của các cơ quan gặp nhiều khó khăn và không thể giám sát được 100%

Nêu dẫn chứng tại địa phương, đại diện lãnh đạo huyện Phước Sơn cho biết trong thời gian qua, đa số các doanh nghiệp đều kê khai sản lượng không đạt so với sản lượng, công suất khai thác ghi trong giấy phép được cấp.

Mặc dù theo quy định, các đơn vị khai thác phải lắp đặt trạm cân, hệ thống camera truyền dữ liệu trực tiếp đến cơ quan thuế để giám sát, tuy nhiên đa số khu vực mỏ nằm sâu trong các vùng không có mạng Internet, sóng 4G, hoặc mạng không ổn định, bị hỏng. Vì vậy, việc giám sát của các cơ quan gặp nhiều khó khăn và không thể giám sát được 100%.

Ngoài ra, hàm lượng khoáng sản khi khai thác thường khác xa so với kết quả thăm dò, đánh giá trữ lượng ban đầu (nhất là khoáng sản vàng) nên rất khó quản lý. Vì vậy việc kê khai lượng quặng, khoáng sản thu hồi được phụ thuộc chủ yếu vào tính tự giác của các doanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nước rất khó kiểm soát việc này và là nguyên nhân dẫn đến gây thất thoát nguồn thu ngân sách.

“Còn nếu xác định được sản lượng, trữ lượng khai thác thì thu tiền như dự thảo là hợp lý. Như vậy, việc tính tiền cấp quyền khai thác theo sản lượng thực tế phải đi kèm với các quy định chặt chẽ để kiểm soát đảm bảo doanh nghiệp kê khai đúng sản lượng đã khai thác,” đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Phước Sơn nói.

anh-13.jpg
Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh Trần Thị Kim Nhung (Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội) cho rằng khoáng sản dù là giá trị cao hay thấp đều phải được quản lý chặt chẽ, công khai, minh bạch, hiệu quả, phát huy cao nhất giá trị sử dụng và đóng góp tốt nhất cho phát triển kinh tế-xã hội. (Ảnh: An Đăng/TTXVN)
phu-tho-cao-lanh-6.jpg
Hoạt động khai thác cao lanh tại tỉnh Phú Thọ đã làm tan hoang nhiều ngọn núi, quả đồi. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
anh-27.jpg
Quyết toán tiền cấp quyền theo sản lượng thực tế sẽ giải quyết vấn đề chênh lệch giữa trữ lượng thăm dò với sản lượng thực tế
anh-17.jpg
Hoạt động khai thác đá hoa trắng ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
1920x1080-1.png
1920x1080-4.png
titlephu3bai4.png

Cùng với yêu cầu quy định kiểm soát chặt chẽ việc kê khai trữ lượng khoáng sản từ thực tế khai thác của doanh nghiệp, đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Phước Sơn cho rằng muốn khai thác hiệu quả và chống lãng phí, thất thoát tài nguyên khoáng sản thì khâu điều tra, khảo sát đánh giá trữ lượng ban đầu cần “phải chuẩn” và chính xác. Việc này rất quan trọng vì nó quyết định đến việc tính thuế tài nguyên, tiền cấp quyền khai thác và sản lượng khai thác sau này.

Theo lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Phước Sơn, việc điều tra khảo sát, công tác thăm dò nên giao cho đơn vị độc lập của Nhà nước thực hiện, sau đó tổ chức đấu giá công khai để các doanh nghiệp tham gia. Nếu đơn vị nào trúng đấu giá tiền cấp quyền phải trả chi phí thăm dò và chỉ lập thủ tục cấp phép khai thác theo luật định.

hoat-dong-khai-thac-cat-o-tinh-phu-tho.-6.jpg
Muốn khai thác hiệu quả và chống lãng phí, thất thoát tài nguyên khoáng sản thì khâu điều tra, khảo sát đánh giá trữ lượng ban đầu cần “phải chuẩn” và chính xác. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Ngoài ra, các địa phương cũng cần ưu tiên chọn những doanh nghiệp có năng lực về tài chính, có dây chuyền, công nghệ tiến tiến hiện đại, ít ảnh hưởng đến môi trường được xét chọn tham gia đấu giá, xem đây là tiêu chí chính trong xét chọn hồ sơ ngay từ ban đầu cũng như khi cấp giấy phép kinh doanh cho các doanh nghiệp.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, ông Trịnh Xuân Trường – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân dân tỉnh Lào Cai, cũng khuyến nghị các cấp, các ngành cần sớm hoàn thiện cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực địa chất, khoáng sản phù hợp với tình hình, yêu cầu thực tế; rà soát, tham mưu điều chỉnh kịp thời các loại thuế, phí, lệ phí hợp lý, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân địa phương nơi có hoạt động về khoáng sản; quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác khoáng sản.

Ngoài ra, để “chống” lãng phí, thất thoát tài nguyên khoáng sản, ông Trường cho rằng các cấp, các ngành cần phải chỉ đạo, tổ chức thực hiện chuyển đổi số; xây dựng cơ sở dữ liệu dữ liệu quốc gia về tài nguyên địa chất, khoáng sản nhằm quản lý tập trung, thống nhất cơ sở dữ liệu quốc gia về địa chất, khoáng sản.

cat-song-tap-ket-thanh-bai-lon-o-thi-xa-duyen-hai-tinh-tra-vinh.-7.jpg
Hoạt động khai thác cát ở thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Việc thực hiện chuyển đổi số sẽ giúp chống” lãng phí, thất thoát tài nguyên khoáng sản. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

“Đặc biệt, các địa phương cần ưu tiên nghiên cứu ứng dụng công nghệ, để thu hồi tối đa khoáng sản, quặng nghèo, tránh lãng phí tài nguyên; khuyến khích tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên ứng dụng công nghệ hiện đại để tiết kiệm nguyên liệu, tuần hoàn tái sử dụng nguồn nước và nguyên liệu trong sản xuất để tiết kiệm tài nguyên, tăng giá trị sản phẩm,” ông Trường nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình nhấn mạnh để khai thác hiệu quả, sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản, Nhà nước cần phải điều tra, đánh giá đầy đủ tiềm năng, trữ lượng, chất lượng tài nguyên khoáng sản; áp dụng phương pháp tiên tiến trong quản lý, khai thác tài nguyên khoáng sản; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác, chế biến, xuất khẩu khoáng sản; xử lý nghiêm việc khai thác tài nguyên trái phép; nâng cao chất lượng quy hoạch và đánh giá đầy đủ trữ lượng khoáng sản cần huy động vào thiết kế khai thác.

anh-57.jpg
Một điểm khai thác vàng trái phép ở tỉnh Quảng Nam đã bị lực lượng chắc năng truy quét. Các địa phương kiên quyết không cấp phép hoạt động khoáng sản cho các tổ chức, cá nhân không đủ năng lực tài chính, công nghệ lạc hậu. (Ảnh: Hùng Võ /Vietnam+)

Các địa phương kiên quyết không cấp phép hoạt động khoáng sản cho các tổ chức, cá nhân không đủ năng lực tài chính, công nghệ lạc hậu; không chia cắt khu vực khoáng sản có thể đầu tư khai thác có hiệu quả ở quy mô lớn để cấp giấy phép khai thác khoáng sản cho nhiều tổ chức, cá nhân khai thác quy mô nhỏ.

Ngoài ra, lãnh đạo ủy ban nhân dân dân các tỉnh Quảng Bình, Lào Cai cũng nêu quan điểm các cấp, các ngành liên quan ở địa phương cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động khoáng sản; kiểm tra xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu các cấp, các ngành liên quan trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản để xảy ra vi phạm mà không được xử lý kịp thời; trường hợp phát hiện sai phạm thì kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định./.

Bài 5: Phân cấp mạnh gắn trách nhiệm quản lý: Bám sát thực tiễn, tối ưu hóa tài nguyên

Bài 5: Phân cấp mạnh gắn trách nhiệm quản lý: Bám sát thực tiễn, tối ưu hóa tài nguyên

tacgiabrown(1).png

***

bai5.png

Qua một loạt “bài học kinh nghiệm” được rút ra sau nhiều năm quản lý tài nguyên khoáng sản quốc gia theo kiểu “dễ làm, khó bỏ,” dẫn tới lãng phí, thất thoát nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội của đất nước – giới chuyên gia, đại biểu Quốc hội và các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo các tỉnh, thành phố đều cho rằng: Tài nguyên địa chất, khoáng sản cần phải được điều tra, đánh giá và lập quy hoạch, kế hoạch thăm dò đầy đủ, quản lý tập trung, thống nhất; khai thác, sử dụng bền vững, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài.

Do đó, dự án Luật Địa chất và Khoáng sản sẽ được Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV tới đây, cần phải căn cứ vào tình hình thực tiễn để quy định thật “sát,” phát huy được hiệu quả khi đi vào thực thi. Đặc biệt, luật cần phân cấp mạnh cho địa phương cấp tỉnh trên cơ sở quy định rõ trách nhiệm gắn với thẩm quyền của từng chủ thể để quản lý, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản của quốc gia; không để thất thoát, lãng phí tài sản công như thời gian qua.

titlephu1bai5.png

Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình cho biết Luật Khoáng sản trước đây đã quy định việc phân cấp quản lý khoáng sản (cụ thể là Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về khoáng sản; Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khoáng sản; ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã quản lý trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình). Tuy nhiên, việc phân cấp quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản và việc thực thi quyền hạn, trách nhiệm trong phân cấp quản lý tài nguyên khoáng sản vẫn còn hạn chế, chưa đồng bộ ở các cấp.

quote-1.jpg

“Nếu việc phân cấp quản lý tài nguyên khoáng sản được thực hiện một cách bài bản, phù hợp với từng địa phương sẽ phát huy được sự chủ động, sáng tạo trong việc quản lý tốt tài nguyên khoáng sản trên từng địa bàn; đảm bảo khai thác tận thu nguồn tài nguyên quy mô nhỏ, tránh việc khai thác thổ phỉ, góp phần tăng thu cho ngân sách và phát triển kinh tế, bảo vệ tài nguyên, môi trường của địa phương và của quốc gia,” đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình nhấn mạnh.

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai – ông Trịnh Xuân Trường cũng nhận định việc phân cấp, phân quyền cho các địa phương trong việc cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản theo từng nhóm khoáng sản, sẽ giúp cho địa phương có thẩm quyền và chủ động hơn trong việc cấp phép theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt, phù hợp với quy hoạch chung của địa phương.

Cùng quan điểm, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh cho rằng việc bổ sung quy định mới về phân cấp mạnh cho địa phương, đặc biệt là cấp tỉnh là một “bước đi” tích cực và phù hợp với xu hướng hiện nay. Quy định này không chỉ thể hiện rõ “sự chuyển dịch” trách nhiệm quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản mà còn hứa hẹn mang lại nhiều hiệu quả tích cực trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên quý báu, không tái tạo này.

Theo nhận định của ông Ánh, việc phân cấp rõ ràng trách nhiệm và thẩm quyền cho chính quyền địa phương sẽ giúp cho quá trình ra quyết định và giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực khoáng sản trở nên nhanh chóng và linh hoạt hơn. Các địa phương cũng sẽ có động lực hơn trong việc bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn đồng thời đảm bảo việc khai thác được thực hiện đúng quy định, hạn chế tối đa tình trạng khai thác trái phép.

ghep52b.jpg
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh cho rằng việc phân cấp rõ ràng trách nhiệm và thẩm quyền cho chính quyền địa phương sẽ giúp cho quá trình ra quyết định và giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực khoáng sản trở nên nhanh chóng và linh hoạt hơn

“Việc phân cấp còn giúp giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính (do trước đây tập trung về một đầu mối tại Trung ương, nay thực hiện tại các địa phương), tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản; phát huy tính chủ động của địa phương – các địa phương có thể xây dựng các chính sách, cơ chế khuyến khích đầu tư phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, tạo điều kiện thu hút đầu tư vào lĩnh vực khoáng sản,” ông Ánh nhận định.

Tuy nhiên, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng cũng lưu ý để thực hiện hiệu quả quy định mới trên, các địa phương cần lưu ý việc nâng cao năng lực cán bộ; hoàn thiện cơ chế phối hợp, đẩy mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, giữa chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý nhà nước Trung ương để đảm bảo sự thống nhất trong quản lý nhà nước về khoáng sản.

Từ kinh nghiệm của địa phương có trữ lượng vàng lớn nhất cả nước, cũng là “điểm nóng” về khai thác vàng thổ phỉ, đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Phước Sơn (tỉnh Quảng Nam) khẳng định huyện này ủng hộ chủ trương phân cấp, ủy quyền mạnh cho địa phương cấp tỉnh trong việc quản lý tài nguyên khoáng sản.

quote2.jpg

Theo Ủy ban Nhân dân huyện Phước Sơn, việc phân cấp trên sẽ tạo thuận lợi trong quá trình quản lý và thuận lợi cho các doanh nghiệp khi lập các thủ tục thăm dò, khai thác khoáng sản không phải đi nhiều nơi, nhiều cơ quan (như hiện nay) đồng thời gắn trách nhiệm của địa phương, đơn vị trong quản lý khoáng sản trong quá trình khai thác; việc đánh giá, nhận xét các yếu tố ảnh hưởng, hiện trạng, điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán cũng sẽ sát với tình hình thực tế tại địa phương hơn.

Về phía cơ quan trực tiếp xây dựng dự thảo Luật Địa chất và Khoáng sản, đại diện lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng cho rằng thời gian qua, việc phân cấp dù đã được triển khai ở các địa phương, song do còn hạn chế nên quản lý không tốt. Vì vậy, dự thảo luật lần này, bên cạnh việc quy định cụ thể về phân cấp còn tăng chế tài xử lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ.

Cụ thể, dự thảo Luật Địa chất và Khoáng sản đã bổ sung quy định về trách nhiệm, kể cả chủ mỏ, kể cả cơ quan nhà nước đều phải có một hệ thống giám sát việc khai thác mỏ. Tức là chủ mỏ phải lắp hệ thống camera, lắp hệ thống giám sát quan trắc để không khai thác ngoài ranh giới mỏ, khai thác quá công suất mỏ, gây ảnh hưởng đến môi trường so với giấy phép và được kết nối về cơ quan quản lý tài nguyên môi trường cấp tỉnh, cấp bộ. Việc quan trắc và giám sát sẽ thực hiện 24/24.

“Hiện nay, nước ta có điều kiện sử dụng hệ thống công nghệ thông tin để thực hiện việc giám sát trên. Có nghĩa là phân cấp về cách cấp giấy phép, về việc quản lý địa phương nhưng giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước quản lý chặt chẽ hơn. Do đó, chúng tôi sẽ tiếp tục đưa vào luật theo hướng phân cấp, phân quyền nhưng gắn với giám sát,” đại diện lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường nói.

titlephu2bai5.png

Để thuận lợi cho công tác quản lý tài nguyên khoáng sản ở địa phương, đại diện lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết tại dự án Luật Địa chất và Khoáng sản, Chính phủ cũng đã bổ sung quy định phân loại khoáng sản theo nhóm, trong đó có một chương riêng về “Quản lý cát, sỏi lòng sông, lòng hồ, khu vực biển.”

Chương này quy định nguyên tắc của hoạt động thăm dò, khai thác; thu hồi cát, sỏi lòng sông, lòng hồ và ở khu vực biển; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân thu hồi cát, sỏi.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình cho biết tỉnh này có tiềm năng, trữ lượng tương đối lớn về cát, sỏi làm vật liệu xây dựng thông thường. Tuy nhiên, Luật Khoáng sản năm 2010 mới chỉ quy định chung về khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, chưa có các quy định cụ thể về công tác quản lý cát, sỏi lòng sông (một loại hình khoáng sản rất cần thiết trong cuộc sống và có tính đặc thù riêng).

ai-tri-tue-nhan-tao-8-.jpg
Luật Khoáng sản năm 2010 mới chỉ quy định chung về khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường
ai-tri-tue-nhan-tao-7-.jpg
Luật Khoáng sản năm 2010 chưa có các quy định cụ thể về công tác quản lý cát, sỏi lòng sông (một loại hình khoáng sản rất cần thiết trong cuộc sống và có tính đặc thù riêng)
cat-song-tap-ket-thanh-bai-lon-o-thi-xa-duyen-hai-tinh-tra-vinh.-5.jpg
Cát sông tập kết thành bãi lớn ở thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Thực tế tại Quảng Bình thời gian qua cho thấy quản lý cát, sỏi lòng sông luôn phải gắn chặt với yêu cầu, nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với công tác bảo vệ lòng, bờ, bãi sông.

Trong khi đó, luật hiện hành chỉ điều chỉnh hoạt động điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; thăm dò, khai thác khoáng sản mà không điều chỉnh hành vi tập kết, mua bán, vận chuyển cát, sỏi lòng sông nên các văn bản hướng dẫn luật cũng không quy định để điều chỉnh các hành vi trên. Việc này dẫn đến tình trạng cấp phép, quản lý theo “cảm tính,” gây thất thoát tài nguyên, thất thu ngân sách.

“Mặt khác, hoạt động tập kết, mua bán cát, sỏi trái phép là một trong những nguyên nhân dẫn tới chưa thể phòng ngừa, ngăn chặn triệt để hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép thời gian qua. Do đó, dự án Luật Địa chất và Khoáng sản bổ sung một chương riêng về ‘quản lý cát, sỏi lòng sông, lòng hồ, khu vực biển’ được kỳ vọng sẽ góp phần kiểm soát chặt cát, sỏi; tránh tình trạng cấp phép, quản lý theo cảm tính, không thống nhất giữa các địa phương làm thất thoát tài nguyên, thất thu ngân sách,” đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình tin tưởng.

Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường cũng nhận định quy định về “Quản lý cát, sỏi lòng sông, lòng hồ, khu vực biển” sẽ thắt chặt về công tác quản lý trong hoạt động cát, sỏi; đảm bảo công tác cấp phép và hoạt động thăm dò, khai thác cát, sỏi được thực hiện đúng quy định, tránh nguy cơ thất thoát tài nguyên, ổn định lòng/bờ sông, lòng hồ, khu vực biển, đảm bảo về môi trường và nguyên vật liệu cho các dự án công trình phát triển kinh tế – xã hội.

ghepbai51.jpg
Hoạt động khai thác cát ở tỉnh Phú Thọ gây sạt lở bờ sông Lô, khiến người dân bức xúc. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Có chung quan điểm, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Trà Vinh Lê Văn Hẳn cho hay việc quản lý cát sỏi lòng sông, lòng hồ khu vực biển sẽ giải quyết được các vướng mắc, chồng chéo giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhau như luồng hàng hải, khu vực biển, giao thông đường thủy; nâng cao hiệu quả công tác quản lý, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống tội phạm vi phạm pháp luật trong hoạt động khoáng sản.

“Quy định trên cũng đã phân công đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với nguồn tài nguyên khoáng sản, không còn thuộc trách nhiệm của riêng ngành tài nguyên và môi trường; từ đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản trên cả nước nói chung, quản lý cát biển ở Trà Vinh nói riêng. Vì hiện nay cát biển chỉ có cơ quan Bộ đội Biên phòng là có điều kiện tuần tra kiểm soát, quản lý hoạt động khai thác cát biển,” ông Hẳn nói.

Từ thực tế của địa phương đang thiếu cát để phục vụ các dự án, công trình giao thông trọng điểm, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ Trần Việt Trường cho hay hiện các công trình giao thông trọng điểm trên phạm vi cả nước được đầu tư xây dựng ngày càng nhiều nên vấn đề cát san lấp mặt bằng trở nên “nóng” hơn bao giờ hết. Vì vậy, dự án Luật Địa chất và Khoáng sản bổ sung một chương riêng về “Quản lý cát, sỏi lòng sông, lòng hồ, khu vực biển” là hết sức cấp thiết.

screenshot_16.png
Thi công cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng qua tỉnh Hậu Giang (dự án thành phần 3), một dự án có tổng nhu cầu nguồn cát là 6 triệu m3. Thành phố Cần Thơ là địa phương đang thiếu cát để phục vụ các dự án, công trình giao thông trọng điểm. (Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN)
ai-tri-tue-nhan-tao-10-.jpg
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ Trần Việt Trường cho hay vấn đề cát san lấp mặt bằng đã trở nên “nóng” hơn bao giờ hết
ai-tri-tue-nhan-tao-9-.jpg
Luật Địa chất và Khoáng sản bổ sung một chương riêng về “Quản lý cát, sỏi lòng sông, lòng hồ, khu vực biển” là hết sức cấp thiết.

Tuy vậy, ông Trường cũng lưu ý trong dự thảo luật vẫn chưa đề cập đến vấn đề khoáng sản được thu hồi từ hoạt động nạo vét, cải tạo các tuyến đường thủy nội địa, đường hàng hải, cảng sông, cảng biển thuộc trường hợp tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản hay thực hiện đấu giá khoáng sản được thu hồi.

Bên cạnh đó, hiện nay trên địa bàn thành phố Cần Thơ có nhiều khu vực bến sông, bến thủy bị bồi lắng, cần phải được nạo vét, khơi thông để tàu thuyền ra, vào vận chuyển hàng hóa và đưa đón khách nhưng phải thực hiện thủ tục môi trường về đánh giá tác động ổn định lòng, bờ, bãi sông. Vấn đề này theo ông Trường là chưa phù hợp với những dự án có diện tích nhỏ và thực hiện trong thời gian ngắn.

Trước thực tế trên, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Cần Thơ đề xuất dự án luật cần quy định rõ hơn về việc thu hồi cát, sỏi lòng sông, lòng hồ và ở khu vực biển đồng thời bổ sung nghiêm ngặt quy định việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát sản lượng khai thác thực tế; quy định trách nhiệm tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phải phải xuất hóa đơn điện tử 100% và lực lượng quản lý thị trường, công an, ngành thuế tăng cường kiểm tra hóa đơn, xuất xứ nguồn gốc…

titlephu3bai5.png

Để góp phần nâng cao chất lượng quản lý, phát huy hiệu quả nguồn lực tài nguyên khoáng sản cũng như chống lãng phí, thất thoát tài nguyên khoáng sản quốc gia – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường đề nghị Quốc hội sớm thông qua dự án Luật Địa chất và Khoáng sản thay thế Luật khoáng sản năm 2010 để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật trong giai đoạn mới; hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Tuy vậy, để đảm bảo việc thực thi đối với Luật Địa chất và Khoáng sản, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai đề nghị Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cùng các bộ, ngành liên quan sớm ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết việc triển khai thực hiện luật đảm bảo hiệu quả, phù hợp với thực tiễn.

txt.jpg
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai Trịnh Xuân Trường đề nghị Quốc hội sớm thông qua dự án Luật Địa chất và Khoáng sản thay thế Luật khoáng sản năm 2010

Ngoài ra, Nhà nước cần sớm có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực quản lý về lĩnh vực khoáng sản cho các địa phương đồng thời có cơ chế bảo vệ cán bộ theo quy định đặc thù riêng trong quản lý khoáng sản.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long Lữ Quang Ngời cũng lưu ý trước khi dự án Luật Địa chất và Khoáng sản chính thức được Quốc hội bấm nút thông qua, Chính phủ cần hoàn thiện các quy định liên quan đến một số nội dung như: Khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng, nhất là cát sông làm vật liệu xây dựng thông thường để phục vụ cho các dự án quan trọng quốc gia hoặc dự án đầu tư công trong tỉnh; vấn đề kiểm soát sản lượng khai thác khoáng sản theo từng giấy phép; thuê đất có sử dụng mặt nước trong khai thác khoáng sản hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể; quy định về khu vực cấm/tạm thời cấm hoạt động khoáng sản, khu vực dự trữ tài nguyên khoáng sản quốc gia không phù hợp với thực tiễn.

Đại diện lãnh đạo Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Bình cũng đề xuất Chính phủ một số giải pháp để hoàn thiện dự án Luật Địa chất và Khoáng sản như: Hoàn thiện cơ chế đấu giá quyền khai thác khoáng sản; quy định cụ thể trình tự, thủ tục đấu giá; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong đấu giá tài sản, liên kết các cơ sở dữ liệu khác có liên quan để tăng tính thuận tiện, minh bạch.

anh-31.jpg
Tài nguyên địa chất, khoáng sản cần phải được điều tra, đánh giá và lập quy hoạch, kế hoạch thăm dò đầy đủ, quản lý tập trung, thống nhất. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
anh-32.jpg
Tài nguyên địa chất, khoáng sản cần phải được điều tra, đánh giá và lập quy hoạch, kế hoạch thăm dò đầy đủ, quản lý tập trung, thống nhất; khai thác, sử dụng bền vững, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)
anh-30.1.jpg
Tài nguyên địa chất, khoáng sản cần phải được điều tra, đánh giá và lập quy hoạch, kế hoạch thăm dò đầy đủ, quản lý tập trung, thống nhất; khai thác, sử dụng bền vững, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Cùng với đó, dự án Luật Địa chất và Khoáng sản cần quy định rõ trách nhiệm xử lý liên quan đối với cơ quan quản lý nhà nước, ủy ban nhân dân các cấp nếu có biểu hiện buông lỏng trong quản lý, cấp phép, kiểm tra, giám sát, để tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản trái phép kéo dài, gây hậu quả nghiêm trọng, bức xúc trong nhân dân; khai thác khoáng sản khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động khoáng sản.

Trong thời gian tới, theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, các cơ quan có thẩm quyền cần chủ động tăng cường thiết lập, duy trì hiệu quả quan hệ phối hợp nhằm kịp thời phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật về hoạt động khoáng sản, nhất là tại các khu vực giáp ranh, liên quan đến nhiều địa bàn, đặc biệt đối với khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường (cát, đá, sỏi…); kịp thời phát hiện, ngăn chặn, kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm về hoạt động khoáng sản, nhất là những vụ việc có dấu hiệu lợi ích nhóm, “sân sau,” bảo kê, tiếp tay của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan quản lý nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng.

titlephu4b.png

Trước khi kết thúc loạt bài này, chúng tôi xin trích lại chia sẻ của đại biểu Quốc hội Trần Hữu Hậu (Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội) đã nêu tại phiên thảo luận ở hội trường về dự án Luật Địa chất và khoáng sản diễn ra ngày 28/6/2024, Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV rằng: “Khoáng sản là tài nguyên quý giá của đất nước. Mặc khác, khoáng sản cũng là miếng mỡ ngon đặt trước miệng mèo. Chúng ta không thể chỉ tăng cường dạy dỗ, nhắc nhở mèo rằng phải giữ gìn phẩm chất đạo đức, không được ăn vụng vì đó là thức ăn của chủ mà cần phải đậy kỹ, phải khóa thật chặt. Nếu không gần như chắc chắn ta sẽ phải đuổi, phải đánh, phải nhốt mèo lại; thậm chí xử trảm mèo là mất đi những con mèo giỏi bắt chuột vốn là chức năng thiên bẩm của chúng.”

screenshot_24.png
Đại biểu Trần Hữu Hậu gây chú ý với phát ngôn: “Khoáng sản là tài nguyên quý giá của đất nước. Mặc khác, khoáng sản cũng là miếng mỡ ngon đặt trước miệng mèo.
screenshot_23.png
Cơ quan xây dựng dự án Luật Địa chất và Khoáng sản cần phải quy định chặt chẽ để quản lý, khai thác hiệu quả “miếng mỡ ngon” tài nguyên khoáng sản của quốc gia
anh-24.png
Hoạt động khai thác cát ở trái phép trên sông Hồng ở tỉnh Hưng Yên. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Mặt khác, khoáng sản cũng là miếng mỡ ngon đặt trước miệng mèo. Chúng ta không thể chỉ tăng cường dạy dỗ, nhắc nhở mèo rằng phải giữ gìn phẩm chất đạo đức, không được ăn vụng vì đó là thức ăn của chủ mà cần phải đậy kỹ, phải khóa thật chặt. Nếu không gần như chắc chắn ta sẽ phải đuổi, phải đánh, phải nhốt mèo lại; thậm chí xử trảm mèo là mất đi những con mèo giỏi bắt chuột vốn là chức năng thiên bẩm của chúng.”

Chia sẻ của đại biểu Trần Hữu Hậu không chỉ là lời cảnh tỉnh để nhắc nhở cơ quan xây dựng dự án Luật Địa chất và Khoáng sản cần phải quy định chặt chẽ để quản lý, khai thác hiệu quả “miếng mỡ ngon” tài nguyên khoáng sản của quốc gia; mà còn là “liều vaccine” tinh thần để phòng chống tham nhũng, lãng phí tài sản công, bảo vệ được các lãnh đạo, cán bộ cũng như các chủ doanh nghiệp… có chuyên môn về quản lý, khai thác khoáng sản vì lợi ích chung của đất nước.

Tại phiên họp chuyên đề của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc cho ý kiến tiếp thu, chỉnh lý dự án luật Địa chất và Khoáng sản, diễn ra vào ngày 12/8 vừa qua, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cũng lưu ý tại một số địa phương đã xảy ra vụ án hình sự, kỷ luật cán bộ liên quan đến địa chất, khoáng sản. Do vậy, trong quá trình xây dựng luật cần bám sát định hướng, chỉ đạo đã nêu trong Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Những vấn đề đã chín, đã rõ, được thực tế chứng minh thì đưa vào luật; vấn đề chưa chín, chưa rõ, chưa được thực tế chứng minh cần tiếp tục nghiên cứu.

anh-1.jpg
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn lưu ý quá trình xây dựng luật cần bám sát định hướng, chỉ đạo đã nêu trong Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Đặc biệt, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh cần phải thực hiện nghiêm túc quy định của của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật, chính sách liên quan đến khoáng sản; Ủy ban Thường vụ Quốc hội cam kết với Bộ Chính trị thận trọng, kỹ lưỡng, nghiêm túc trong thực hiện các quy định của Đảng. “Tôi đề nghị cơ quan chủ trì – Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan thẩm tra – Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường phải chịu trách nhiệm trước Đảng, trước Ủy ban Thường vụ và trước Quốc hội trong việc soạn thảo, thẩm tra dự án luật,” Chủ tịch Quốc hội yêu cầu.

Trong bài viết “Chống lãng phí” mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nhấn mạnh: Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm công tác phòng, chống lãng phí, đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về vấn đề này và lãnh đạo cả hệ thống chính trị, toàn dân tổ chức thực hiện đạt nhiều kết quả. Trước yêu cầu tăng cường nguồn lực, khơi dậy sức dân đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác phòng, chống lãng phí đang đứng trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới rất khẩn trương, cấp bách.

tong-bi-thu.jpeg
Trong bài viết “Chống lãng phí” mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng nhấn mạnh Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm công tác phòng, chống lãng phí. (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng lưu ý, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng phòng, chống lãng phí. Bác căn dặn “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”; Người nhiều lần nhấn mạnh “Phải quý trọng của công; phải tiết kiệm, giữ gìn, không được lãng phí”;… “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội phải khắc phục khuyết điểm, tức là phải tăng gia sản xuất, tiết kiệm, chống lãng phí, bảo vệ của công.”

“Chúng ta đang đứng trước cơ hội lịch sử để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đây cũng là thời điểm để định hình tương lai của chúng ta. Để nắm bắt cơ hội, đẩy lùi thách thức, gia tăng mạnh mẽ nguồn lực chăm lo cho nhân dân, làm giàu cho đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, xây dựng tương lai tốt đẹp, công tác phòng, chống lãng phí cần được triển khai quyết liệt, đồng bộ với những giải pháp hữu hiệu, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, trở thành tự nguyện, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, văn hóa ứng xử trong thời đại mới,” Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ; và nhấn mạnh: Để đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập nước, nhất định chúng ta phải quyết tâm phòng, chống lãng phí gắn với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực./.

tacgiabrown(1).png

Leave a comment