Làm sao để nâng vị thế phụ nữ Việt trong khoa học?

Tại VN, phụ nữ làm việc trong lĩnh vực khoa học vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn và rào cản. Việc các nhà khoa học nữ thiếu cơ hội phát triển nghề nghiệp và khẳng định năng lực lãnh đạo phản ánh định kiến giới còn tồn tại trong lĩnh vực khoa học – công nghệ cũng như trong xã hội nói chung.

VN sẽ khó có thể bứt phá mạnh mẽ nếu trí tuệ của phụ nữ – vốn được xem là một nửa nguồn lực quý giá của xã hội – bị lãng phí. Vì vậy, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ nâng cao năng lực trong lĩnh vực khoa học cũng như mọi lĩnh vực nghề nghiệp khác. Bởi đây là bước đi đúng đắn, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới và đưa đất nước đi lên.

An An

 

***

Làm sao để nâng vị thế phụ nữ Việt trong khoa học? – Bài 1: Tài năng không thiếu nhưng rào cản cũng còn nhiều

 22/08/2025 – 06:28

PNONghiên cứu khoa học vốn đã là một công việc khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức và sự kiên trì. Với phụ nữ, hành trình ấy thường gian nan hơn…

LTS: Dù chiếm gần một nửa lực lượng nghiên cứu khoa học ở nhiều địa phương, nhưng phụ nữ vẫn là nhóm thiểu số ở các vị trí lãnh đạo nghiên cứu, chủ nhiệm đề tài hoặc hoạch định chính sách khoa học – công nghệ. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, yêu cầu về bình đẳng giới trong khoa học không còn là vấn đề riêng của phụ nữ, mà là yêu cầu chiến lược để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tận dụng toàn diện nội lực trí tuệ quốc gia.

Sáng sớm, cô sinh viên năm 3 Võ Yến Oanh (Khoa Quản lý văn hóa – nghệ thuật, Trường đại học Văn hóa TPHCM) đã có mặt trên chuyến phà để đến với xã đảo Thạnh An, TPHCM. Nơi đây đã trở thành “phòng thí nghiệm thực tế” cho đề tài nghiên cứu “Bảo vệ môi trường và phát triển văn hóa sinh kế của người dân xã đảo” mà cô thực hiện gần 3 năm qua.

Khó khăn của nữ khi làm nghiên cứu

Những chuyến đi khảo sát của Oanh và cộng sự thường kéo dài vài ngày. Đợt ra xã đảo, Oanh thường xin ở lại nhà dân. Có ngày, cô theo bà con đi bắt hàu, có ngày thì theo tàu ngư dân đánh bắt gần bờ. Mỗi câu chuyện, mỗi thông tin thu thập đều được Oanh ghi chép cẩn thận.

Phó giáo sư, tiến sĩ Phan Thị Hồng Xuân (thứ ba từ phải qua) tại một hội thảo khoa học quốc tế
Phó giáo sư, tiến sĩ Phan Thị Hồng Xuân (thứ ba từ phải qua) tại một hội thảo khoa học quốc tế

Ở trường, Oanh còn tích cực tham gia các dự án nghiên cứu chung với thầy cô. Oanh cũng là thành viên chủ chốt trong Câu lạc bộ Sinh viên nghiên cứu khoa học của khoa. Câu lạc bộ có 64 thành viên, đang thực hiện khoảng 8 đề tài nghiên cứu. Trong đó, đề tài của Oanh được các giảng viên hướng dẫn hoàn thiện, chuẩn bị tham gia giải thưởng Sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ 27. Cô chia sẻ: “Nữ thường nhẹ nhàng, dễ tạo thiện cảm với người dân, nên việc tiếp cận thuận lợi hơn. Nhưng đi xa hay những việc cần nhiều sức lực rõ ràng vẫn cần sự hỗ trợ của bạn nam đi cùng”.

Tiến sĩ Nguyễn Hồ Phong – giảng viên Khoa Quản lý văn hóa – nghệ thuật, Trường đại học Văn hóa TPHCM, đồng thời là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Sinh viên nghiên cứu khoa học của khoa – chia sẻ: “Nghiên cứu khoa học vốn đã là một công việc khó khăn, đòi hỏi nhiều công sức và sự kiên trì. Với phụ nữ, hành trình ấy thường gian nan hơn do những đặc điểm sinh học, áp lực xã hội và đặc biệt là những định kiến giới vẫn tồn tại”.

Ông phân tích, ngoài công việc chuyên môn tại cơ quan, phần lớn phụ nữ còn gánh vác vai trò của một người vợ, người mẹ, người con trong gia đình. Trách nhiệm chồng chéo khiến họ bị phân tán thời gian, giảm mức độ tập trung, đầu tư cho nghiên cứu khoa học. Trong các chuyến đi điền dã, thực địa – hoạt động thường xuyên trong nghiên cứu khoa học – nữ cũng dễ đối diện với rủi ro hơn nam…

Phó giáo sư, tiến sĩ Phan Thị Hồng Xuân – Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM) – cho biết, bản thân bà từng chịu nhiều áp lực cả về thể chất lẫn tinh thần khi tham gia một đề tài nghiên cứu liên ngành tại Ấn Độ. Bà đã tham gia khảo sát thực địa tại nhiều nơi trong thời tiết khắc nghiệt, hạ tầng hạn chế và những khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ… May mắn, nhờ sự hỗ trợ của đồng nghiệp, sự động viên của gia đình và quyết tâm cao, đề tài của bà đã hoàn thành đúng hạn.

Xây dựng mạng lưới hỗ trợ và cố vấn mạnh mẽ

Từ kinh nghiệm thực tế của mình, bà Phan Thị Hồng Xuân cho rằng, phụ nữ vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong khoa học và công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi cường độ nghiên cứu cao như công nghệ thông tin. Đó là áp lực về thời gian và vai trò đa nhiệm khiến các nhà khoa học nữ vừa phải gánh vác trách nhiệm gia đình, vừa hoàn thành công việc chuyên môn, dẫn đến quỹ thời gian dành cho nghiên cứu bị thu hẹp. Năng lực lãnh đạo và khả năng đảm nhận các dự án lớn của phụ nữ cũng chưa được nhìn nhận đầy đủ.

Phó giáo sư, tiến sĩ Mai Huỳnh Cang (đứng hàng đầu) - Trường đại học Nông Lâm TPHCM - hướng dẫn nhóm sinh viên Khoa Công nghệ hóa học và thực phẩm của trường tham gia nghiên cứu khoa học - ẢNH: NGUYỄN LOAN
Phó giáo sư, tiến sĩ Mai Huỳnh Cang (đứng hàng đầu) – Trường đại học Nông Lâm TPHCM – hướng dẫn nhóm sinh viên Khoa Công nghệ hóa học và thực phẩm của trường tham gia nghiên cứu khoa học – Ảnh: Nguyễn Loan

Sức khỏe và thiên chức làm mẹ cũng là yếu tố tạo áp lực, nhất là khi giai đoạn mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ thường trùng với thời điểm cần tập trung phát triển sự nghiệp. Ngoài ra, hạn chế trong tiếp cận nguồn lực, mạng lưới hợp tác quốc tế, cùng khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ khi làm việc trong môi trường đa quốc gia cũng trở thành rào cản đáng kể, đặc biệt đối với các nghiên cứu liên ngành hoặc dự án hợp tác quốc tế.

Nữ làm chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học và công nghệ chỉ chiếm 25,5%

Theo số liệu từ Cục Thông tin khoa học và Công nghệ quốc gia, trong 11 năm qua, số lượng nhà khoa học nữ Việt Nam tăng từ 56.846 người (chiếm 44%) năm 2013 lên 79.078 người (46%) năm 2023. Tuy nhiên, số lượng nữ giới làm chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học và công nghệ chỉ chiếm 25,5%. Điều này cho thấy cần có chính sách đặc thù để khuyến khích và tạo cơ hội cho phụ nữ đảm nhiệm vai trò lãnh đạo dự án.

Để vượt qua những rào cản nói trên, bà Phan Thị Hồng Xuân cho rằng phụ nữ cần chủ động nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng quản lý dự án, khẳng định giá trị bản thân bằng những kết quả cụ thể. Xây dựng mạng lưới hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và đồng nghiệp để san sẻ trách nhiệm, tạo điều kiện tập trung cho nghiên cứu. Đồng thời, các chị cần tận dụng các chính sách ưu tiên và chương trình hỗ trợ dành cho các nhà khoa học nữ, mạnh dạn ứng cử và tham gia các đề tài quy mô lớn. Trên tất cả, các chị phải gìn giữ sức khỏe, cân bằng tâm lý. Đây là nền tảng để có thể đi đường dài trong sự nghiệp nghiên cứu.

Thạc sĩ Lê Thị Khánh Vân – nguyên Phó cục trưởng Cục Thông tin khoa học và Công nghệ quốc gia – đánh giá: “Nhiều kết quả nghiên cứu của phụ nữ có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên chưa được thương mại hóa do rào cản thị trường, định kiến giới và áp lực cân bằng giữa nghiên cứu và đời sống gia đình”.

Chính vì vậy, bà cho rằng, để nữ trí thức phát triển sự nghiệp, cần thực hiện bình đẳng giới thực chất trong các tổ chức khoa học và công nghệ từ tuyển dụng đến bổ nhiệm; xây dựng mạng lưới hỗ trợ và cố vấn mạnh mẽ; mở rộng học bổng quốc gia dành riêng cho nữ sinh theo học ngành STEM; hoàn thiện chính sách đãi ngộ xứng đáng cho nhà khoa học; thúc đẩy hợp tác giữa các viện nghiên cứu và doanh nghiệp, cũng như tăng cường hợp tác quốc tế.

Cần hoàn thiện cơ chế chính sách về phát triển nhân lực nữ khoa học và công nghệ

Tại hội thảo “Khoa học và công nghệ vì sự phát triển bền vững” do Hội Nữ trí thức Việt Nam và Hội Nữ trí thức TPHCM tổ chức vào cuối tháng Bảy vừa qua, phó giáo sư, tiến sĩ Lê Thị Kim Oanh – Trưởng khoa Môi trường, Trưởng phòng Phát triển nghiên cứu khoa học, Trường đại học Văn Lang – cho biết: giai đoạn trước thập niên 1990, tỉ lệ nữ giới trong các ngành kỹ thuật và công nghệ còn rất khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 5 – 10% tổng số sinh viên tại các trường đại học khoa học, kỹ thuật. Nhưng hiện nay, con số này đã thay đổi đáng kể.

Riêng Trường đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM) năm học 2022-2023, tỉ lệ sinh viên nữ nhập học là 22%, cao nhất trong lịch sử 65 năm thành lập. Nhiều ngành công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), kỹ thuật y sinh, robot và tự động hóa cũng bắt đầu thu hút mạnh mẽ nữ sinh.

Hiện nay, đội ngũ nữ giảng viên có thể lên đến 30 – 40% tổng số giảng viên tại các trường đại học thuộc khối STEM ở TPHCM. Trong đó, có nhiều người đã đạt học hàm phó giáo sư, giáo sư; đặc biệt trong các ngành như công nghệ sinh học, môi trường, hóa học, công nghệ thực phẩm, công nghệ thông tin.

Tuy vậy, sự phân bổ nhân lực nữ khoa học và công nghệ chưa đồng đều giữa các ngành nghề và lĩnh vực công nghệ cao; định kiến giới trong giáo dục và xã hội vẫn là rào cản vô hình; thiếu chính sách hỗ trợ đặc thù cho phụ nữ trong nghiên cứu và khởi nghiệp khoa học; việc thống kê, phân tích, đánh giá định kỳ về giới trong lĩnh vực khoa học công nghệ còn chưa được chú trọng.

Để thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, bà Lê Thị Kim Oanh đề xuất TPHCM cần triển khai đồng bộ các nhóm chính sách theo hướng đổi mới, lồng ghép giới và mang tính hệ sinh thái. Cần hoàn thiện cơ chế chính sách về phát triển nhân lực nữ khoa học và công nghệ, có định hướng dài hạn. Tăng cường đầu tư cho các chương trình giáo dục STEM cho nữ sinh từ phổ thông đến đại học…

Trang Nguyễn

***

Làm sao để nâng vị thế phụ nữ Việt trong khoa học? Bài 2: Khoảng trống chính sách và định kiến vô hình

 25/08/2025 – 06:02

PNOHành trình của các nhà khoa học nữ không chỉ là nỗ lực chuyên môn mà còn là cuộc đấu tranh thầm lặng với định kiến giới. Nhưng họ vẫn không ngừng tiến bước…

LTS: Dù chiếm gần một nửa lực lượng nghiên cứu khoa học ở nhiều địa phương, nhưng phụ nữ vẫn là nhóm thiểu số ở các vị trí lãnh đạo nghiên cứu, chủ nhiệm đề tài hoặc hoạch định chính sách khoa học – công nghệ. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, yêu cầu về bình đẳng giới trong khoa học không còn là vấn đề riêng của phụ nữ, mà là yêu cầu chiến lược để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tận dụng toàn diện nội lực trí tuệ quốc gia.

Bài 1: Tài năng không thiếu nhưng rào cản cũng còn nhiều

Từ những lớp học ngành kỹ thuật với phần lớn là nam đến các phòng thí nghiệm nơi áp lực luôn hiện diện, hành trình của các nhà khoa học nữ không chỉ là nỗ lực chuyên môn mà còn là cuộc đấu tranh thầm lặng với định kiến giới. Nhưng họ vẫn không ngừng tiến bước, bằng trí tuệ, sự bền bỉ và niềm đam mê khoa học.

Không ngại dấn thân vào ngành khoa học kỹ thuật

Phạm Vũ Huyền Trang (23 tuổi, tỉnh Ninh Bình) là một trong những gương mặt trẻ nổi bật trong lĩnh vực khoa học dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI). Chị tốt nghiệp xuất sắc ngành khoa học dữ liệu và AI tại Đại học Bách khoa Hà Nội với GPA 3.81/4.0, đồng thời nhận học bổng tiến sĩ toàn phần trị giá hơn 10 tỉ đồng tại Đại học Texas – Austin (Mỹ).

Giáo sư Đặng Thu Hương và con gái nhỏ trong ngày cô nhận bằng tốt nghiệp tiến sĩ năm 2022 tại Trường Quản lý Lancaster, Anh quốc - Ảnh do nhân vật cung cấp
Giáo sư Đặng Thu Hương và con gái nhỏ trong ngày cô nhận bằng tốt nghiệp tiến sĩ năm 2022 tại Trường Quản lý Lancaster, Anh quốc – Ảnh do nhân vật cung cấp

Niềm đam mê với AI đến khi Trang tình cờ tìm hiểu về khả năng ứng dụng công nghệ này trong phân tích hình ảnh y khoa – một hướng đi tiềm năng giúp bác sĩ chẩn đoán sớm và giảm tải hệ thống y tế. Thế nhưng, hành trình theo đuổi một ngành học còn khá mới với nữ giới chưa bao giờ dễ dàng. Thời đại học, Trang đã phải làm quen với việc là một trong số ít nữ sinh trong lớp. “Lúc đi học, tôi ngại phát biểu vì cảm thấy mình khác biệt. Đi làm rồi, số lượng nữ giới trong ngành còn ít hơn” – Huyền Trang kể.

Không chỉ cảm thấy đơn độc giữa môi trường nam giới chiếm ưu thế, chị còn đối mặt với nhiều định kiến. Chị chia sẻ: “Có người hỏi tôi: Học AI rồi lấy chồng sinh con thì còn làm nổi nữa không? Những lời nói tưởng như vô hại ấy khiến tôi chạnh lòng. Nhưng sau này, tôi hiểu rằng, chính năng lực và sự bền bỉ mới là điều quyết định con đường mình có đi xa được không”.

Không chỉ riêng Huyền Trang, con đường nghiên cứu cũng đầy thử thách với tiến sĩ Nguyễn Cao Thùy Giang (29 tuổi), tốt nghiệp xuất sắc ngành công nghệ sinh học Trường đại học Cần Thơ, hiện đang làm việc tại Mỹ trong lĩnh vực BioNano Engineering – chuyên nghiên cứu vật liệu dẫn thuốc điều trị ung thư.

Từ những năm đầu đại học, Giang đã bị cuốn hút bởi công nghệ bionano – lĩnh vực mới mẻ nhưng đầy tiềm năng. Tuy nhiên, bước ra khỏi Việt Nam, chị mới cảm nhận rõ khoảng cách về thiết bị, phương pháp, nhịp độ làm việc giữa môi trường nghiên cứu trong nước và quốc tế. “Phải mất nhiều thời gian để mình thích nghi với môi trường mới – nơi mọi thứ thay đổi nhanh chóng và áp lực cập nhật kiến thức là không ngừng nghỉ” – tiến sĩ Nguyễn Cao Thùy Giang nói.

Chị từng có những tháng ngày miệt mài trong phòng thí nghiệm, thực hiện các chuỗi thí nghiệm kéo dài đến kiệt sức. “Cũng có lúc tôi muốn buông xuôi, nhưng mỗi lần nghĩ đến ý nghĩa của những kết quả nghiên cứu dù thành công hay thất bại, tôi lại có thêm động lực. Sự hỗ trợ từ thầy cô, bạn bè cũng giúp tôi không bỏ cuộc” – chị kể. 8 năm sống xa nhà để theo đuổi học thuật là một sự đánh đổi lớn.

Ngay cả ở những quốc gia được đánh giá cao về bình đẳng giới như Anh, định kiến vẫn hiện diện. Giáo sư Đặng Thu Hương – hiện giảng dạy khoa học quản lý tại Trường Quản lý Lancaster (Đại học Lancaster, Vương quốc Anh) – chia sẻ: “Một lần, tôi giải thích rất chi tiết cho sinh viên một phần trong môn học. Nhưng cuối buổi, em ấy hỏi lại: Cô là trợ giảng ạ? Câu hỏi tưởng chừng vô hại, nhưng ẩn sau đó là một định kiến: Những người giảng dạy các môn thiên về kỹ thuật, phân tích thường sẽ là nam giới. Có thể thấy cách nhìn nhận về vai trò giới vẫn còn ăn sâu, kể cả ở những nền giáo dục tiên tiến”.

Tháo gỡ rào cản giới trong nghiên cứu khoa học

Tiến sĩ Nguyễn Cao Thùy Giang bày tỏ: “1, 2 công trình có giá trị và ứng dụng thực tiễn còn quý hơn hàng trăm công bố chỉ để lấy số liệu. Phụ nữ có thế mạnh ở sự tỉ mỉ, khéo léo, điều đó giúp họ đôi khi thể hiện tốt hơn cả nam giới trong một số thí nghiệm. Vì vậy, để nhìn nhận đúng năng lực, cần đánh giá cả quá trình và ý nghĩa thực sự của công việc họ làm, thay vì chỉ nhìn vào những con số”.

Tiến sĩ Nguyễn Cao Thùy Giang hiện là nghiên cứu viên sau tiến sĩ kiêm trợ lý giáo sư tại Đại học Massachusetts (Mỹ), chuyên nghiên cứu về vật liệu dẫn thuốc điều trị ung thư não - Ảnh do nhân vật cung cấp
Tiến sĩ Nguyễn Cao Thùy Giang hiện là nghiên cứu viên sau tiến sĩ kiêm trợ lý giáo sư tại Đại học Massachusetts (Mỹ), chuyên nghiên cứu về vật liệu dẫn thuốc điều trị ung thư não – Ảnh do nhân vật cung cấp

Bàn về chuyện cân bằng giữa sự nghiệp và gia đình, chị Thùy Giang thẳng thắn nói: “Không dễ để làm tốt cả hai cùng lúc. Xã hội mong phụ nữ giỏi việc nước, gia đình lại muốn họ chu toàn việc nhà. Nhưng tôi tin rằng, nếu biết sắp xếp thời gian hợp lý, giữ tinh thần lạc quan và biết nhờ đến sự hỗ trợ từ chồng, gia đình, bạn bè, phụ nữ hoàn toàn có thể dung hòa”.

Từ kinh nghiệm cá nhân, cô Đặng Thu Hương cho rằng, Việt Nam có thể học hỏi mô hình mentorship – kết nối giữa các nhà khoa học nữ có kinh nghiệm và thế hệ trẻ nhằm chia sẻ, đồng hành và giúp phụ nữ vượt qua áp lực kép nghiên cứu và gia đình. Việc xây dựng các chính sách riêng để hỗ trợ phụ nữ làm nghiên cứu khoa học là điều rất cần thiết. Không phải vì phụ nữ yếu thế hay cần được ưu ái, mà bởi họ đang đối mặt với những bất bình đẳng vốn tồn tại một cách tự nhiên trong cuộc sống và sự nghiệp học thuật.

Theo cô Doãn Thị Ngọc – nhà sáng lập Gendertalk (hoạt động học thuật về giới và bình đẳng giới), giảng viên bộ môn giáo dục khai phóng, Trường đại học Hoa Sen – định kiến giới đã thấm sâu vào nhận thức, hành vi và cả tiềm thức qua nhiều năm. Những khuôn mẫu vô thức như “phụ nữ không nên học cao”, “phụ nữ không hợp ngành kỹ thuật” vẫn len lỏi trong đời sống, từ gia đình, nhà trường đến truyền thông đại chúng, tạo nên khoảng trống trong chính sách khi đánh giá và phát triển nhân lực nữ trong lĩnh vực khoa học – công nghệ.

Hiện nay, dù số lượng nhà nghiên cứu nữ đang tăng lên và có nhiều đóng góp đáng kể, tỉ lệ phụ nữ đứng tên chủ trì các đề tài khoa học cấp Nhà nước vẫn chỉ khoảng 19% (theo số liệu năm 2022). Một phần nguyên nhân đến từ hệ tiêu chí xét duyệt đề tài hiện hành vốn thiên về định lượng, yêu cầu công bố quốc tế, chuyển giao sản phẩm hoặc thương mại hóa. Những tiêu chí này vô hình trung gây khó khăn cho nhà khoa học nữ, nhất là khi họ phải tạm ngưng nghiên cứu vì sinh con, chăm sóc gia đình, hoặc thiếu điều kiện để theo đuổi các công trình quy mô lớn.

Ngoài giải thưởng Kovalevskaia, Việt Nam hiện chưa có nhiều cơ chế khen thưởng dành riêng cho nữ giới trong nghiên cứu. Trong khi đó, vẫn có rất nhiều nhà khoa học nữ thầm lặng đóng góp, như phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị Trâm, nghiên cứu thành công hàng chục giống lúa lai giá trị cao. Hay giáo sư, tiến sĩ Lê Mai Hương – nhà khoa học của các sản phẩm từ hợp chất thiên nhiên (nguyên Viện phó Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) – nhưng chưa được truyền thông tôn vinh đúng mức.

Để phụ nữ thật sự có cơ hội phát triển công bằng, cô Doãn Thị Ngọc nhấn mạnh cần có những điều chỉnh mạnh mẽ về chính sách: đưa giáo dục bình đẳng giới vào học đường, cải cách giáo dục STEAM theo hướng đa dạng giới, hình thành quỹ nghiên cứu riêng cho nữ, tạo môi trường học thuật linh hoạt và đặc biệt, xây dựng các cơ chế hỗ trợ nhà khoa học nữ trong giai đoạn thai sản, nuôi con nhỏ. “Chỉ khi những khoảng trống về giới được nhìn nhận và bù đắp, thì sự đóng góp của nữ giới trong khoa học mới thật sự được phát huy toàn diện” – cô nhấn mạnh.

3 đề xuất hỗ trợ phụ nữ phát triển sự nghiệp khoa học

Từ trải nghiệm cá nhân và quan sát môi trường học thuật quốc tế, cô Đặng Thu Hương đề xuất một số hướng đi nhằm hỗ trợ phụ nữ phát triển sự nghiệp khoa học một cách bền vững:

– Tái khởi động sự nghiệp sau gián đoạn: Cần có các chương trình tài trợ riêng dành cho nhà khoa học nữ quay lại công việc sau thời gian nghỉ sinh, chăm sóc con nhỏ đi kèm chính sách giảm tải giảng dạy, linh hoạt giờ làm để giúp họ cân bằng lại cuộc sống.

– Phát triển hệ thống cố vấn cho nữ giới: Mạng lưới cố vấn giữa các thế hệ nhà khoa học nữ không chỉ giúp chia sẻ chuyên môn mà còn là nơi đồng hành, hỗ trợ định hướng sự nghiệp và phát triển cá nhân – một mô hình đã chứng minh hiệu quả tại nhiều quốc gia.

– Thay đổi định kiến trong học thuật: Phụ nữ thường bị đánh giá kém năng suất nếu có giai đoạn gián đoạn hoặc phải nỗ lực gấp đôi để được nhìn nhận ngang hàng. Do đó, việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong tuyển chọn, đánh giá và lãnh đạo là yếu tố then chốt.

Phụ nữ khi được tạo điều kiện phát triển trong học thuật không chỉ mang lại giá trị cá nhân, mà còn giúp khoa học trở nên đa dạng, nhân văn và toàn diện hơn.

Thanh Tâm

***

Làm sao để nâng vị thế phụ nữ Việt trong khoa học? – Bài cuối: Xây hệ sinh thái bao trùm để phụ nữ là chủ thể sáng tạo

 27/08/2025 – 06:22

PNO – Ông Lâm Đình Thắng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM – khẳng định, đổi mới sáng tạo chỉ có thể thành công khi mọi tài năng – bất kể giới tính – đều được trao cơ hội công bằng.

LTS: Dù chiếm gần một nửa lực lượng nghiên cứu khoa học ở nhiều địa phương, nhưng phụ nữ vẫn là nhóm thiểu số ở các vị trí lãnh đạo nghiên cứu, chủ nhiệm đề tài hoặc hoạch định chính sách khoa học – công nghệ. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, yêu cầu về bình đẳng giới trong khoa học không còn là vấn đề riêng của phụ nữ, mà là yêu cầu chiến lược để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tận dụng toàn diện nội lực trí tuệ quốc gia.

Bài 1: Tài năng không thiếu nhưng rào cản cũng còn nhiều
Bài 2: Khoảng trống chính sách và định kiến vô hình

Trao đổi với phóng viên Báo Phụ nữ TPHCM, ông Lâm Đình Thắng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM – khẳng định, đổi mới sáng tạo chỉ có thể thành công khi mọi tài năng – bất kể giới tính – đều được trao cơ hội công bằng. TPHCM đang xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bao trùm, nơi phụ nữ được đồng hành, dẫn dắt và tỏa sáng.

Phóng viên: Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ (KH-CN) và đổi mới sáng tạo là 1 trong 3 đột phá chiến lược, trong đó nhấn mạnh phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, cơ cấu đồng bộ. Theo ông, việc nâng cao vai trò và vị thế của phụ nữ trong khoa học có phải là một phần không thể thiếu trong chiến lược này?

Ông Lâm Đình Thắng: Chúng tôi hoàn toàn đồng thuận với ý kiến này. Việc nâng cao vai trò và vị thế của phụ nữ trong khoa học là một phần không thể tách rời trong chiến lược phát triển KH-CN và đổi mới sáng tạo.

 ông Lâm Đình Thắng - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM
ông Lâm Đình Thắng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM

Tại TPHCM, năm 2024, lực lượng nữ trí thức tham gia hoạt động KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chiếm khoảng 49,9% tổng nhân lực nghiên cứu – phát triển. Tuy nhiên, mức độ tham gia của nữ giới ở các vị trí lãnh đạo và ra quyết sách còn hạn chế. Chỉ khoảng 30 – 32% nữ chủ trì nhiệm vụ KH-CN cấp thành phố hoặc giữ vị trí lãnh đạo, trong đó các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật chỉ 15 – 18%. Tỉ lệ nữ trong Hội đồng KH-CN tại TPHCM chỉ đạt 25 – 28%.

Trước thực trạng này, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ đạo giao Bộ KH-CN quan tâm, hỗ trợ và đặt hàng các nhiệm vụ phù hợp để Hội Nữ trí thức Việt Nam và các nữ khoa học Việt Nam tham gia nghiên cứu, đóng góp. Hội thảo khoa học quốc gia do Hội Nữ trí thức TPHCM tổ chức tháng 7/2025 đã cho thấy một bức tranh sinh động: phụ nữ không chỉ góp sức mà còn là chủ thể kiến tạo tri thức, tiên phong trong chuyển đổi số, công nghệ xanh, giáo dục STEM và quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới qua nền tảng số.

Tôi tin rằng, phát triển đội ngũ khoa học phải đảm bảo không chỉ về số lượng mà cả chất lượng, tính đại diện và khả năng phát triển bền vững.

* Trong lộ trình hoàn thiện cơ chế, chính sách KH-CN như tinh thần Nghị quyết 57 đặt ra, TPHCM có định hướng lồng ghép yếu tố giới, khắc phục tình trạng nữ giới bị thiệt thòi trong các tiêu chí đánh giá, xét chọn đề tài, bổ nhiệm không, thưa ông?

– Thực tế hiện nay, hệ thống tiêu chí đánh giá – xét chọn – thi đua trong lĩnh vực KH-CN vẫn đang áp dụng chung cho mọi đối tượng mà chưa tính nhiều đến những đặc thù về giới hoặc bối cảnh xã hội. Điều này vô hình trung tạo bất lợi cho nhiều nhà khoa học nữ, nhất là những người bị gián đoạn sự nghiệp vì sinh nở, chăm con nhỏ hoặc đảm nhận trách nhiệm gia đình.

Sắp tới, TPHCM sẽ nghiên cứu và đề xuất các giải pháp lồng ghép yếu tố giới vào chính sách KH-CN địa phương. Chẳng hạn, điều chỉnh tiêu chí đánh giá nhiệm vụ KH-CN theo hướng công bằng giới: Bổ sung cơ chế cộng điểm ưu tiên hợp lý cho các nhà khoa học nữ có hồ sơ gián đoạn chính đáng; gia hạn thời gian thực hiện đề tài, dự án cho các chủ nhiệm nữ đang nuôi con nhỏ hoặc có hoàn cảnh gia đình đặc biệt.

Chúng tôi sẽ xem xét đưa chỉ tiêu nữ chủ nhiệm đề tài vào bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả các chương trình KH-CN trọng điểm, nhằm khuyến khích các tổ chức, viện nghiên cứu, trường đại học chủ động phát hiện, đề cử và trao cơ hội phát triển cho nữ trí thức. Thành phố cũng sẽ rà soát chính sách hiện hành về bình đẳng giới trong KH-CN và xây dựng các cơ chế hỗ trợ cho nữ trí thức.

Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hoài (bìa trái) - giảng viên Trường đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TPHCM) - hướng dẫn nhóm sinh viên ngành công nghệ sinh học làm nghiên cứu - Ảnh: Nguyễn Loan
Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hoài (bìa trái) – giảng viên Trường đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TPHCM) – hướng dẫn nhóm sinh viên ngành công nghệ sinh học làm nghiên cứu – Ảnh: Nguyễn Loan

Chúng tôi quan niệm rằng lồng ghép yếu tố giới không phải là ưu tiên đặc quyền cho nữ giới, mà là công cụ xây dựng chính sách khoa học công bằng hơn, phản ánh đúng những khác biệt sinh học, vai trò xã hội và rào cản đặc thù mà phụ nữ phải vượt qua.

* Nghị quyết 57 cũng yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về cơ chế tài chính và đầu tư cho khoa học. TPHCM có thể tiên phong trong việc xây dựng quỹ nghiên cứu dành riêng cho nhà khoa học nữ, hay các mô hình “ươm tạo” tài năng nữ không, thưa ông?

– Đây là một ý tưởng có tính tư duy mở, mới và hay. Thành phố đang rà soát, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp KH-CN, trong đó có quỹ phát triển KH-CN; cũng như đang xây dựng các chính sách mới về phát triển KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong quá trình này, chúng tôi sẽ tiếp thu, nghiên cứu các nội dung liên quan đến ý tưởng trên. Có thể hình thành các mô hình mới hoặc mở rộng tiêu chí, đối tượng đối với các mô hình đã có. Dù là hình thức nào cũng phải đặt tính hiệu quả lên hàng đầu, thực sự tạo điều kiện cho nữ giới được phát huy trí tuệ, tài năng, tâm huyết để nghiên cứu và hoạt động KH-CN.

* Thực tế vẫn còn phổ biến hình ảnh phụ nữ làm khoa học gắn với hy sinh, kiên trì, hơn là sáng tạo, đột phá. Theo ông, truyền thông và hệ thống giáo dục cần thay đổi cách kể câu chuyện về nhà khoa học nữ như thế nào để tạo cảm hứng cho thế hệ mới?

– Đây là vấn đề văn hóa – xã hội rất quan trọng nhưng thường bị xem nhẹ. Khi hình ảnh phụ nữ làm khoa học chỉ gắn với “kiên cường vượt khó” hay “âm thầm hy sinh”, chúng ta vô tình khắc sâu định kiến rằng khoa học chỉ dành cho những người chịu đựng giỏi, thay vì là lĩnh vực của sáng tạo, phát kiến và tinh thần tiên phong – nơi phụ nữ hoàn toàn có thể tỏa sáng.

Theo tôi, truyền thông và giáo dục cần thay đổi cách kể câu chuyện theo 3 hướng:

Một là từ “nghị lực” sang “năng lực”: Không chỉ tôn vinh sự hy sinh, mà cần làm nổi bật thành tựu, sáng kiến và tác động xã hội của nữ trí thức, xem họ là người kiến tạo chứ không chỉ là người bù đắp.

Hai là từ “cá biệt” sang “phổ quát”: Thay vì vài tấm gương hiếm hoi, hãy phản ánh sự hiện diện đa dạng và rộng khắp của phụ nữ trong toàn bộ hệ sinh thái khoa học. Điều này giúp các em gái và phụ nữ trẻ thấy rõ: làm khoa học là khả thi, gần gũi và có nhiều con đường khác nhau để bước vào.

Ba là từ “người đơn độc” sang “người đồng hành đổi mới”: Khắc họa phụ nữ trong vai trò lãnh đạo nhóm nghiên cứu, đồng sáng lập startup hay thúc đẩy hợp tác đa ngành, nhấn mạnh tinh thần cộng tác và tác động tích cực.

Tại TPHCM, cần tổ chức nhiều hơn chuỗi tọa đàm truyền cảm hứng, xây dựng chuyên trang báo chí về phụ nữ làm khoa học thế hệ mới, đồng thời lồng ghép chủ đề này vào giáo dục STEM ở cấp THCS-THPT. Khi thay đổi cách kể, chúng ta cũng thay đổi được cách xã hội, gia đình và chính các em nữ sinh nhìn nhận về con đường khoa học.

* Xin cảm ơn ông.

3 “mặt trận” góp phần nâng cao vị thế phụ nữ trong khoa học

Nâng cao vị thế phụ nữ trong khoa học cần sự chung tay của cả cộng đồng. Đây là mục tiêu mang tính hệ thống, cần làm đồng bộ trên 3 nhóm chủ thể:

Thứ nhất, với giáo dục: Cần định hướng nghề nghiệp không thiên lệch giới ngay từ phổ thông; mời nữ trí thức, nhà khoa học đến giao lưu định kỳ; đưa hình ảnh phụ nữ đa dạng hơn vào giáo trình STEM; tổ chức các chương trình trải nghiệm khoa học cho nữ sinh.

Thứ hai, với gia đình và cộng đồng: Gia đình phải là nơi đầu tiên ủng hộ con gái theo đuổi khoa học, không áp đặt định kiến nghề “phù hợp giới”. Các đoàn thể, hội phụ nữ cần tổ chức diễn đàn, chiến dịch truyền thông lan tỏa hình ảnh tích cực về phụ nữ khởi nghiệp sáng tạo.

Thứ ba, với các tổ chức xã hội – nghề nghiệp: Cần mở rộng không gian kết nối học thuật, cố vấn cho nữ trí thức trẻ, cấp học bổng, tài trợ nghiên cứu, tham gia đề xuất chính sách thúc đẩy bình đẳng giới trong KH-CN.

Tại TPHCM, chúng tôi đang xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bao trùm, trong đó có phụ nữ. Sở KH-CN sẽ phối hợp chặt chẽ với Hội LHPN, Hội Nữ trí thức, Thành đoàn, Báo Phụ nữ TPHCM và các viện – trường để lồng ghép nội dung nâng cao vị thế phụ nữ vào các chương trình hành động. Kêu gọi doanh nghiệp, quỹ đầu tư và các tổ chức phi chính phủ cùng tham gia. Đổi mới sáng tạo chỉ thành công khi mọi tài năng – bất kể giới tính – đều có cơ hội phát triển công bằng.

Ông Lâm Đình Thắng – Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TPHCM

Minh Linh (thực hiện)

Leave a comment