Việt Nam có cần sân vận động 135.000 chỗ?

Dự án xây sân vận động Trống Đồng với sức chứa 135.000 chỗ ngồi trong khu đô thị thể thao Olympic tại Hà Nội là một công trình tham vọng, mang tầm vóc quốc tế của VN.

Tuy nhiên, giá trị của dự án không thể chỉ xét trên quy mô mà ở khả năng vận hành hiệu quả, bền vững và đảm bảo tính kết nối với các cơ sở hạ tầng xung quanh.

Để đem lại lợi ích thiết thực cho người dân và tránh nguy cơ lãng phí như nhiều công trình thể thao trước đây, Chính Phủ và nhà đầu tư cần đánh giá năng lực quản lý, duy trì hoạt động, cũng như xem xét rủi ro vận hành của một sân vận động lớn hơn gấp 3 lần sân Mỹ Đình hiện tại.

Quan trọng hơn, chỉ khi mọi người dân đều có sân chơi thể thao đúng nghĩa và chất lượng thể thao nước nhà từng bước vươn tầm thế giới, các sân vận động quy mô lớn mới thực sự đem lại lợi ích cho cộng đồng và thu hút bạn bè quốc tế, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò biểu tượng.

An An

 
***

Việt Nam có cần sân vận động 135.000 chỗ?

Lê Minh Đức

Lê Minh Đức 21/12/2025 10:03

Ngày 19.12 vừa qua, siêu đô thị thể thao Olympic với điểm nhấn là sân vận động Trống Đồng 135.000 chỗ ngồi đã được khởi công. Đây là một bước đi đầy tham vọng. Nhưng để một công trình vĩ đại không trở thành một “ốc đảo” lãng phí, chúng ta cần nhiều hơn là những khối bê tông cốt thép.

Từ niềm tự hào của những thế hệ “mở mắt là thấy bóng đá”

Trong ký ức của những người Hà Nội yêu bóng đá, sân Cột Cờ hay sân Hàng Đẫy không đơn thuần chỉ là những địa danh, đó là những thánh đường của cảm xúc. Khi sân Hàng Đẫy được nâng cấp năm 1998 chuẩn bị cho Tiger Cup, rồi sau đó là sự ra đời của Mỹ Đình để phục vụ SEA Games 22 năm 2003 mà Việt Nam là chủ nhà, mỗi cột mốc ấy đều tạo nên một làn sóng phấn khích đối với người hâm mộ.

san-trong-dong.jpeg
Phối cảnh Dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị thể thao Olympic được khởi công vào sáng 19.12 – Ảnh: UBND TP Hà Nội

Giờ đây, thông tin về sân vận động Trống Đồng với sức chứa 135.000 chỗ – lớn nhất thế giới – không đơn thuần là một con số thống kê. Việc chọn hình tượng “Trống Đồng” làm ngôn ngữ kiến trúc đã chạm đúng vào lòng tự hào dân tộc. Đây rõ ràng là một tầm nhìn chiến lược: Một siêu biểu tượng để kích cầu du lịch, văn hóa và thể thao, quảng bá hình ảnh Việt Nam trên phạm vi toàn cầu.

Hãy tưởng tượng lại những tour du đấu của các “gã khổng lồ” như Arsenal, Man City, Borussia Dortmund hay đêm nhạc bùng nổ như Blackpink từng làm tại Mỹ Đình năm 2023. Với sức chứa khổng lồ và hạ tầng hiện đại mang tên siêu đô thị thể thao Olympic – do Tập đoàn Vingroup đầu tư, với tổng vốn đầu tư sơ bộ khoảng 925.651 tỉ đồng, quy mô sử dụng đất 9.171 ha – Hà Nội hoàn toàn có thể trở thành “thỏi nam châm” thu hút các sự kiện giải trí hàng đầu thế giới. Đó là “cú hích” cho kinh tế ban đêm, cho ngành dịch vụ và cho thương hiệu quốc gia.

Và siêu đô thị thể thao Olympic cũng là điều kiện cần để Việt Nam có thể nghĩ tới việc đăng cai các sự kiện thể thao lớn tầm châu lục và quốc tế như: ASIAD, Olympic.

Bài học từ những “người khổng lồ” cô đơn

Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tế: Vật chất là nền tảng, nhưng con người và phương pháp vận hành mới là “hệ điều hành” quyết định hiệu năng.

Trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0, khi trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi mọi thứ, chúng ta vẫn khẳng định: AI chỉ là công cụ, con người mới là trung tâm. Tương tự, một sân vận động lớn nhất thế giới cũng chỉ là “phần cứng”. Nếu không có một “phần mềm” nội lực mạnh mẽ, nó sẽ chỉ là một khối tài sản nằm yên.

Hãy nhìn sang Ấn Độ với sân Narendra Modi lớn nhất thế giới lúc này với 132.000 chỗ hay sân Rungrado của CHDCND Triều Tiên với 114.000 chỗ. Dù có sức chứa kỷ lục, nhưng trong bản đồ bóng đá và giải trí toàn cầu, chúng ít khi được nhắc đến một cách đầy sức sống. Tại sao?

Vì nội lực bóng đá và ngành công nghiệp giải trí của Ấn Độ và đặc biệt là CHDCND Triều Tiên chưa tương xứng để “lấp đầy” những khoảng trống mênh mông trên các khán đài. Việc người hâm mộ chọn tới sân Allianz Arena (sân nhà của CLB Bayern Munich), Camp Nou (Barcelona), Santiago Bernabeu (Real Madrid), San Siro (AC Milan, Inter Milan), Old Trafford (M.U), Anfield (Liverpool), Emirates (Arsenal)… tham quan, check-in trước hết là vì danh tiếng, truyền thống, cũng như sức hút hiện tại của các đội bóng đó.

Khách du lịch tới Đức, Tây Ban Nha, Anh, Ý… chẳng ngại “dốc hầu bao” vào tận hưởng bầu không khí một trận đấu có ý nghĩa như một kỷ niệm khó quên trong cuộc đời mình. Công nghệ marketing, trình độ tổ chức các sự kiện thể thao, giải trí, và một điều không thể không nhắc tới nữa là trình độ kinh tế (cụ thể là GDP đầu người…) cũng là những yếu tố cần thiết bắt buộc để phát huy hiệu quả của các đại công trình.

Lúc này, trong thời điểm cả nước đang say sưa men chiến thắng đội tuyển U22 của huấn luyện viên Kim Sang-sik tại SEA Games 33, cũng như những chiến thắng trước đó dưới thời Park Hang Seo, chúng ta có quyền mơ về một sân Trống Đồng rực lửa. Nhưng cũng phải đặt dấu hỏi: Từ nay tới khi dự án hoàn thành – dự kiến hoàn thành khu liên hợp thể thao, sân vận động vào quý 2/2030 và hoàn thành toàn bộ dự án năm 2035 – những bước tiến của bóng đá Việt Nam nói riêng và Thể thao Việt Nam nói chung có được duy trì?

Và sau những phút giây hưng phấn, chúng ta sẽ làm gì để sân vận động này không rơi vào cảnh “lạnh lẽo” như tình trạng của Khu liên hợp thể thao Mỹ Đình hay sân Hàng Đẫy hiện nay? Chi phí bảo trì cho một công trình 135.000 chỗ ngồi là một con số khổng lồ. Chi phí để xây dựng sân lại là một con số khổng lồ hơn nữa. Và cho dù nguồn vốn có là của ai – công hay tư – thì cũng là tiền của dân, của nước. Nếu không có các sự kiện diễn ra liên tục, nó sẽ trở thành gánh nặng kinh tế, sự lãng phí không thể chấp nhận trong điều kiện đất nước còn nghèo.

Để “Trống Đồng” không vang tiếng… rỗng

Sự đầu tư của Vingroup và quyết tâm của Chính phủ, TP. Hà Nội là một định hướng dũng cảm. Nhưng để Trống Đồng không phải là một công trình lãng phí, trách nhiệm nặng nề giờ đây nằm ở vai trò của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các cơ quan ban ngành, thậm chí ở tầm trách nhiệm cao hơn nữa.

Việt Nam có cần một sân vận động 135.000 chỗ ngồi vào thời điểm này?

Để trả lời câu hỏi đó, cần làm rõ hàng loạt vấn đề:

Chúng ta cần chi tiết hóa lộ trình vận hành: Không thể đợi xây xong sân rồi mới tính chuyện mời ai về đá, mời ai về hát… Cần một chiến lược marketing toàn cầu ngay từ bây giờ.

Lấy thể thao phong trào làm gốc: Cốt lõi của thể thao đỉnh cao không thể tách rời thể thao phong trào. Một sân vận động hiện đại chỉ thực sự sống khi nó được đặt trong một hệ sinh thái mà ở đó, người dân thực sự tham gia vào các hoạt động thể chất hàng ngày. Thể thao học đường cần phát triển mạnh, tạo chân đế vững vàng cho thể thao đỉnh cao.

Công nghệ hóa quản lý: Cần áp dụng những công nghệ quản lý công trình thể thao tiên tiến nhất, công nghệ quản lý đô thị thông minh nhất để vận hành siêu sân vận động, siêu đô thị này, đảm bảo tính kết nối giữa thể thao, nhà ở và dịch vụ (mô hình TOD).

Chúng ta sẽ tự hào về một sân vận động lớn nhất thế giới, nhưng sẽ càng tự hào hơn nếu sân vận động đó luôn đầy ắp khán giả, là nơi sản sinh ra những giá trị văn hóa, kinh tế thực thụ. Đừng để sân Trống Đồng trở thành một “biểu tượng” của sự lãng phí đất đai và tiền của.

vna_potal_du_an_xay_dung_khu_do_thi_the_thao_olympic_tai_phia_nam_thanh_pho_ha_noi_154129136.jpg

***

Khu đô thị thể thao 10.000 ha: Hà Nội trước quyết định tạo ra một cực phát triển mới

  11:10 | Thứ năm, 11/12/2025 0

Hà Nội đang cân nhắc một đề xuất quy hoạch chưa từng có trong lịch sử phát triển đô thị từ trước đến nay: một khu đô thị thể thao quy mô tới 10.000 ha ở phía Nam thành phố. Tham vọng của dự án không chỉ dừng ở việc xây thêm sân bãi hay hạ tầng thể thao, mà còn hướng đến việc kiến tạo một cực phát triển mới, san sẻ gánh nặng với khu nội đô đã quá tải nhiều thập niên qua.

Nhưng câu hỏi quan trọng nhất vẫn còn ở phía trước: “Đô thị thể thao” thực chất là gì? Đây chỉ là một siêu tổ hợp thể thao, hay là lời tuyên bố về một mô hình đô thị thế hệ mới, nơi sức khỏe, không gian xanh và lối sống năng động trở thành trọng tâm của phát triển? Xoay quanh vấn đề này, Người Đô Thị đã có cuộc trao đổi đa chiều với với TS. Nguyễn Quang, nguyên Giám đốc Chương trình UN-Habitat Việt Nam.

Ông nhấn mạnh rằng kế hoạch này là cơ hội để Thủ đô chuyển mình, phát triển theo mô hình đô thị tích hợp và hiện đại 2.0. Tuy nhiên, song song với đó thành phố cũng cần giải quyết rất nhiều bài toán lớn để quy hoạch đạt được hiệu quả như mong muốn: vận hành khai thác tối ưu mô hình đô thị thể thao và tránh vết xe đổ của những “thành phố ma” trên thế giới.

Trước tiên, ông có thể giải thích một cách khái quát “đô thị thể thao” là gì? Điểm khác biệt căn bản giữa mô hình này với việc xây dựng các khu liên hợp thể thao truyền thống?

TS. Nguyễn Quang.

TS. Nguyễn Quang: Mô hình này nghe có vẻ lớn lao, nhưng thực ra rất đời thường. Đó là việc người dân có một nơi để chạy bộ không phải vòng quanh khu chung cư. Là việc trẻ nhỏ có sân chơi đúng nghĩa chứ không phải một hai chục m2 dưới chân tòa nhà. Là việc buổi chiều bạn có thể đạp xe, chèo thuyền, picnic… ngay trong thành phố. Là việc bố mẹ có nơi khám phục hồi chức năng mà không cần bay ra nước ngoài.

Thể thao, hiểu theo nghĩa rộng, chính là thứ giúp đô thị “lành mạnh hóa”. Còn đô thị là thứ giúp thể thao trở thành một phần của đời sống, chứ không phải cái gì quá xa xỉ. Tóm lại, chúng ta không xây khu thể thao để người dân đi xem vận động viên vận động; chúng ta xây để người dân… vận động chính họ. Và đó mới là giá trị lâu dài.

Được biết, khu vực quy hoạch trải rộng qua 12 xã/phường, với quy mô lên đến 10.000 ha. Ông có thể phân tích những nguyên tắc cốt lõi nào cần được ưu tiên hàng đầu để đảm bảo một khu đô thị thể thao quy mô lớn như vậy hài hòa giữa chức năng thể thao, đô thị hóa và phát triển bền vững?

Chúng ta vẫn hay nói rằng Hà Nội đang “quá tải”, nhưng thực tế không chỉ là quá tải, mà là quá phụ thuộc. Phụ thuộc vào lõi nội đô cũ, phụ thuộc vào những khu phát triển kiểu cũ, phụ thuộc vào hạ tầng đã chạm ngưỡng từ nhiều năm. Trong bối cảnh ấy, dự án Khu đô thị Thể thao Olympic 10.000 ha là một đề xuất được đặt vào thời điểm Hà Nội cần một mô hình phát triển khác, tầm vóc khác, cách tiếp cận khác. Thủ đô Hà Nội đang cần một mô hình không gian đô thị tích hợp và hiện đại 2.0.

Sơ đồ 4 phân khu thành phần (ký hiệu A, B, C, D) dự kiến thuộc khu đô thị thể thao Olympic trên diện tích 16.000ha phía Nam thành phố Hà Nội.

Một dự án thể thao – đô thị quy mô lớn chỉ bền vững khi giữ được sự cân bằng giữa thể thao, không gian sống và môi trường. Theo tôi, Hà Nội cần ưu tiên năm nguyên tắc chính: Một là, tổ chức không gian hợp lý, trong đó tập trung các công trình thể thao lớn vào một lõi trung tâm, các khu còn lại bố trí tiện ích thể thao cộng đồng để người dân sử dụng hàng ngày. Công trình thiết kế linh hoạt để vừa phục vụ sự kiện, vừa dùng cho dân sinh.

Hai là, giữ hệ sinh thái – mặt nước. Khu vực có nhiều sông, hồ, ruộng trũng nên cần giữ “vành đai xanh – vành đai nước”, tránh bê tông hóa, ưu tiên công viên, hành lang xanh và mặt nước tự nhiên. Ba là, kết nối giao thông đa tầng: cần làm tốt metro, BRT, bãi đỗ xe ngầm và hệ thống đi bộ – xe đạp liên tục. Mục tiêu là tổ chức sự kiện lớn mà không gây tắc đường.

Bốn là, phát triển kinh tế đi kèm thể thao. Theo đó, khu vực nên trở thành điểm đến công nghệ thể thao, du lịch – giải trí, dịch vụ và đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ là nơi tổ chức vài sự kiện.

Và cuối cùng là đặt cộng đồng vào trung tâm. Thành phố cần tôn trọng không gian làng xóm, làng nghề, đảm bảo sinh kế, tái định cư tại chỗ và không gian công cộng mở cho cư dân.

Đô thị thể thao nên được hiểu là một mô hình đô thị thúc đẩy người dân hướng đến tích cực vận động lành mạnh thay vì thuần túy phục vụ chức năng thể thao. Ảnh: Thanh Niên


Trên thế giới, nhiều thành phố lớn đã đối mặt với thách thức “thành phố ma” sau khi đăng cai các sự kiện thể thao lớn. Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm quốc tế thành công nào về việc chuyển đổi và vận hành một khu đô thị thể thao để tạo ra giá trị kinh tế – xã hội bền vững cho cộng đồng địa phương, thay vì trở thành gánh nặng?

Đây là một câu hỏi rất quan trọng, bởi bài học quốc tế cho thấy nếu chỉ xây dựng phục vụ sự kiện mà không nghĩ đến tương lai, rất dễ tạo ra những “thành phố ma”. Ngược lại, những mô hình thành công như tại London hay Sydney chứng minh rằng, nếu được quy hoạch đúng cách, một khu đô thị thể thao có thể trở thành động lực kinh tế – xã hội lâu dài.

Những thành phố làm Olympic thành công như Barcelona hay London đều không bắt đầu từ câu hỏi “làm sân vận động to bao nhiêu?”, mà từ câu hỏi: chúng ta muốn tái thiết phần nào của thành phố? Chúng ta muốn người dân sống ra sao trong 30 năm tới? Chúng ta muốn tạo ra mô hình kinh tế mới như thế nào?

Không chỉ bởi Olympic mùa hè 2012, London đã được bình chọn là thành phố dành cho thể thao tốt nhất thế giới, với hơn 500.000 lượt khách hâm mộ thể thao thăm viếng vào năm 2024. Ảnh: Shutterstock.com


Hà Nội đang đứng trước một cơ hội tương tự. Đó là cơ hội để tạo ra một cực phát triển mới ngoài lõi cũ, mở rộng không gian xanh, hình thành một lối sống mới xoay quanh vận động – sức khỏe – trải nghiệm ngoài trời và tạo hệ sinh thái kinh tế mới gắn với thể thao – du lịch – công nghệ – y học vận động.

Kinh nghiệm nổi bật nhất là: tư duy phát triển phải bắt đầu từ ngày đầu tiên. Năm 2012, thành phố London đã làm rất tốt điều này khi thiết kế toàn bộ khu vực thành một đô thị đa chức năng – có nhà ở, công viên, trường học, khu công nghệ – chứ không chỉ là sân thi đấu. Nhờ vậy, sau Olympic, khu vực này mang lại việc làm, thu hút doanh nghiệp và trở thành một phần sôi động của thành phố.

Điểm thứ hai là thiết kế đa năng và linh hoạt. Các cấu trúc được xây với tư duy “dùng một lần cho Olympic, nhưng sử dụng hàng chục năm cho cộng đồng”. Ví dụ, sân vận động Olympic London hiện trở thành sân nhà của câu lạc bộ West Ham, đồng thời được dùng cho hòa nhạc, hội chợ và sự kiện thương mại.

Tiêu tốn 51 tỷ đô la, chỉ sáu tháng hậu-Olympic mùa Đông 2014, đô thị Olympic Sochi, Nga đã trở thành thành phố ma. Tình trạng này tương tự diễn ra với khu đô thị Olympic Athens năm 2004. Ảnh: Alexander Belenkiy/Macos


Thứ ba, các mô hình thành công đều có cơ quan quản lý độc lập sau sự kiện, đảm bảo vận hành minh bạch và thu hút đầu tư đúng hướng. Điều này giúp duy trì mục tiêu ban đầu và tránh việc quy hoạch bị điều chỉnh theo lợi ích thương mại ngắn hạn.

Cuối cùng, những khu đô thị thể thao thành công đều gắn với lợi ích thiết thực cho cộng đồng địa phương: nhà ở giá hợp lý, cơ hội việc làm, không gian xanh và khả năng tiếp cận các tiện ích công cộng.

Nếu rút lại thành thông điệp ngắn gọn thì: muốn tránh “thành phố ma”, phải thiết kế một khu đô thị đa chức năng cho cuộc sống hàng ngày, chứ không chỉ cho sự kiện.

Nhiều ý kiến hoài nghi về việc Hà Nội liệu có thực sự cần một khu đô thị thể thao mới quy mô 10.000 ha hay không, khi khu liên hợp Mỹ Đình chưa khai thác hết tiềm năng và dự án trường đua F1 đã dừng lại. Theo ông, Hà Nội cần đánh giá lại các yếu tố nào để xác định tính cần thiết, tránh lặp lại sai lầm trong quy hoạch đô thị, cũng như tình trạng “sân không khán giả” sau khi sự kiện lớn kết thúc?

Sự hoài nghi của dư luận là hoàn toàn hợp lý, nhất là khi một số dự án thể thao lớn trước đây chưa được khai thác hiệu quả. Vì vậy, trước khi quyết định quy mô hay địa điểm, Hà Nội cần trả lời được ba câu hỏi lớn:

Sân vận động Mỹ Đình thuộc Khu liên hợp thể thao quốc gia, khởi công năm 2001, khánh thành 2003 với tổng kinh phí 53 triệu đô. Sau 20 năm sử dụng đã xuống cấp toàn diện do sự quản lý yếu kém, thiếu kinh phí duy tu bảo dưỡng. Ảnh: SGGP


Thứ nhất, nhu cầu thực tế là gì? Cần có nghiên cứu độc lập về khả năng sử dụng thường xuyên, không chỉ cho các sự kiện lớn mà cho đào tạo, thể thao cộng đồng, trường học, phục hồi chức năng hay du lịch.

Thứ hai, mô hình tài chính có bền vững không? Một khu đô thị thể thao phải có nguồn thu đa dạng, từ dịch vụ, thương mại, giáo dục, cho thuê không gian đến sự kiện. Nếu chỉ dựa vào bán đất hay vé thể thao thì rủi ro rất cao.

Thứ ba, lợi ích cộng đồng được bảo đảm như thế nào? Không gian xanh, tiếp cận công cộng, nhà ở xã hội, kết nối giao thông, cơ hội việc làm và chương trình tái định cư cần được thiết kế ngay từ đầu và có cơ chế giám sát độc lập.

Tóm lại, một dự án lớn chỉ nên triển khai khi có nhu cầu rõ ràng, mô hình vận hành khả thi và cơ chế đảm bảo lợi ích công bằng cho người dân. Khi đó, thay vì trở thành gánh nặng, dự án có thể trở thành tài sản chung của thành phố, đúng nghĩa một “di sản sống”.

Nhìn từ góc độ tiềm năng phát triển, ta cũng thấy đây là cơ hội để Hà Nội tạo ra một mô hình phát triển đô thị hoàn toàn mới, hiện đại, bền vững và hướng tới con người. Nếu được triển khai đúng cách, dự án có thể mở ra ba thay đổi lớn cho Thủ đô trong 20–30 năm tới.

Thông tin quy hoạch đô thị thể thao Olympic rộng 16.081ha. Ảnh: Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội.


Đầu tiên, đó là sự chuyển đổi về không gian. Hà Nội đã mở rộng nhiều năm nhưng chưa có một “trung tâm mới” đủ tầm để chia sẻ áp lực với khu nội đô cũ. Dự án này có thể tạo nên một cực phát triển mới: đô thị xanh, hạ tầng mở, giao thông đi bộ – xe đạp thuận tiện, và một hệ sinh thái thể thao – văn hóa – giải trí phục vụ cộng đồng. Đây không chỉ là nơi tổ chức sự kiện, mà có thể trở thành một điểm đến mới của Hà Nội trong nhiều thập kỷ tới.

Kế đến, dự án có thể tạo ra một cấu trúc kinh tế mới. Trên thế giới, thể thao, công nghệ sức khỏe, sự kiện quốc tế và du lịch thể thao đang trở thành ngành kinh tế giá trị cao. Nếu gắn quy hoạch với đào tạo vận động viên, công nghệ thể thao, nghiên cứu y học và du lịch wellness, Hà Nội có thể hình thành một hệ sinh thái kinh tế mới, nơi tạo ra việc làm chất lượng cao và giảm phụ thuộc vào mô hình phát triển truyền thống.

Cuối cùng, dự án có thể thay đổi mô hình sống của người dân. Một đô thị tốt không chỉ xây đẹp, mà giúp người dân sống khỏe, tiếp cận dễ dàng với không gian xanh, hoạt động thể thao và tiện ích công cộng. Khi trẻ em có chỗ chạy chơi, người cao tuổi có không gian vận động, và hoạt động thể thao trở thành thói quen hằng ngày, đó mới là thành công bền vững nhất.

Nếu triển khai một cách hợp lý và có cơ sở khoa học, dự án có thể tạo ra sự chuyển đổi tích cực về không gian lẫn tạo ra cấu trúc kinh tế mới cho Hà Nội dựa trên thể thao. Ảnh: Tomorrow.City.


Tất nhiên, để đạt được điều đó, tinh thần quan trọng nhất là quy hoạch minh bạch, có kỷ luật, và đặt lợi ích cộng đồng lên trước. Người dân cần được tham gia và giám sát; nhà quản lý cần kiên định với tầm nhìn dài hạn; và nhà đầu tư cần coi đây là dự án của giá trị, không phải cuộc đua lợi nhuận ngắn hạn. Nếu nói một cách giản dị, kỳ vọng của tôi là dự án này sẽ không chỉ thay đổi một vùng đất, mà thay đổi cách chúng ta làm đô thị.

Và thông điệp cuối cùng gửi đến tất cả các bên là với nhà quản lý, hãy giữ kỷ luật quy hoạch và tầm nhìn dài hạn; với nhà đầu tư, đây là cơ hội để tạo nên giá trị bền vững, chứ không chỉ một dự án xây dựng; và với người dân, dự án sẽ chỉ thực sự thành công khi trở thành không gian của mọi người.

Nếu Hà Nội kiên định với hướng đi này, trong 20–30 năm tới, chúng ta có thể tự tin nói: Thành phố đã tạo ra một di sản không chỉ bằng công trình, mà bằng chất lượng sống.

Còn tiếp…

Tại cuộc họp của Thường trực Chính phủ xem xét Đồ án quy hoạch trục đại lộ cảnh quan sông Hồng và Khu đô thị thể thao Olympic, Thủ đô Hà Nội tổ chức ngày 15.11, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Hà Nội cần nỗ lực khởi côngkhởi công dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng và khu đô thị thể thao Olympic vào ngày 19.12, chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Với Khu đô thị thể thao Olympic, toàn bộ 4 phân khu của dự án đã được thành phố duyệt nhiệm vụ quy hoạch. Dự án có quy mô khoảng 10.000 ha, thuộc phạm vi khu vực nghiên cứu quy hoạch có quy mô hơn 16.100 ha.

Phân khu B – phân khu có diện tích lớn nhất với 4.560,65 ha. Ảnh: Báo Tiền Phong


Dự án sẽ hình thành đô thị thể thao, dịch vụ gắn với khu liên hợp thể thao quy mô hàng đầu Thủ đô và cả nước. Các phân khu được bố trí chức năng đa dạng gồm đất thể dục thể thao, đất ở, hỗn hợp, dịch vụ công cộng, trường học, cây xanh và đất hạ tầng kỹ thuật.

Khu vực lập quy hoạch tỷ lệ 1/2.000 thuộc địa giới hành chính phường Thanh Liệt và các xã Đại Thanh, Ngọc Hồi, Tam Hưng, Thường Tín, Bình Minh, TP Hà Nội. Về ranh giới của khu đô thị, được giới hạn bởi phía Bắc giáp đường Phan Trọng Tuệ, phía Nam giáp đường Vành đai 4, phía Đông tiếp giáp với khu dân cư hiện hữu và CCN Ngọc Hồi, phía Tây giáp với phân khu đô thị C4.

Ngọc Phạm thực hiện

***

Minh bạch và quản trị chuyên nghiệp quyết định thành công “siêu dự án” đô thị thể thao

  21:11 | Chủ nhật, 14/12/2025 0

Trên thực tế, rất nhiều đô thị thể thao trên thế giới từng được vẽ ra bằng những tầm nhìn đẹp, nhưng lại vấp phải thất bại vì cơ chế tài chính thiếu minh bạch, mô hình vận hành yếu kém hoặc lợi ích công cộng bị lấn át bởi mục tiêu ngắn hạn.

TS. Nguyễn Quang.

Nếu kỳ trước cuộc trao đổi đặt câu hỏi “đô thị thể thao là gì”, thì bài này đi thẳng vào câu hỏi quyết định: lấy nguồn lực ở đâu để xây dựng, và bằng cách nào để vận hành hiệu quả một đô thị thể thao quy mô 10.000 ha? Từ kinh nghiệm quốc tế, TS. Nguyễn Quang, nguyên Giám đốc Chương trình UN-Habitat Việt Nam, cho rằng một khu đô thị thể thao chỉ có thể trở nên khả thi nếu được đặt trên nền tảng tài chính bền vững, quản trị chuyên nghiệp và cơ chế giám sát xã hội chặt chẽ – nơi từng đồng vốn công, từng mét vuông đất và từng lợi ích cộng đồng đều được đo đếm công bằng.

Với quy mô đầu tư khổng lồ của Khu đô thị Thể thao Olympic 10.000ha, vấn đề tài chính và mô hình vận là cực kỳ quan trọng. Ông có khuyến nghị gì về một cơ chế tài chính và vận hành minh bạch, hiệu quả để thu hút đầu tư mà vẫn đảm bảo lợi ích công cộng, đồng thời tránh việc đội vốn và kéo dài dự án?

TS Nguyễn Quang: Với một dự án quy mô đặc biệt lớn như Khu đô thị Thể thao Olympic 10.000 ha, điều quan trọng là thiết kế một mô hình tài chính – quản trị đủ mạnh để tránh đội vốn, kéo dài tiến độ và đảm bảo lợi ích công. Dựa trên kinh nghiệm của London Olympic Park, LA28 hay Singapore Sports Hub, tôi cho rằng cấu trúc phù hợp nên dựa trên 5 trụ cột: tài chính, đấu thầu, vận hành, quản trị rủi ro và minh bạch.

Về tài chính, dự án cần sử dụng mô hình đa nguồn và phân lớp. Hạ tầng công cộng cốt lõi như thoát nước, giao thông hay các công trình thể thao mang tính chiến lược nên do Nhà nước đầu tư. Các khu thể thao – giải trí thương mại có thể phát triển theo mô hình hợp tác công tư PPP với cơ chế chia sẻ doanh thu. Những phân khu nhà ở, dịch vụ và thương mại sẽ tạo nguồn thu bù đắp chi phí hạ tầng thông qua cơ chế Thu hồi giá trị đất đai (Land Value Capture [1]) – một công cụ rất hiệu quả trong các dự án quốc tế.

Về lựa chọn nhà đầu tư, cần áp dụng đấu thầu cạnh tranh và minh bạch, sử dụng mô hình Hai túi hồ sơ (Two-Envelope Bidding [2]) để đánh giá năng lực kỹ thuật trước khi xét giá. Hợp đồng nên gắn KPI rõ ràng và áp dụng cơ chế Giá tối đa được đảm bảo (Guaranteed Maximum Price [3]), nhằm hạn chế rủi ro vượt ngân sách.

Nhiều mô hình đô thị thể thao trên thế giới thành công nhờ nền tảng tài chính bền vững và cơ chế giám sát minh bạch, là yếu tố quyết định đối với một dự án quy mô lớn. Trong ảnh: Phối cảnh quy hoạch mới cho khu vực Olympic Park London. Ảnh: Dezeen.

The Kailang (Singapore Sports Hub) là một tổ hợp đô thị thể thao 35ha tại Singapore, bao gồm sân vận động Quốc gia, cung thể thao dưới nước và trung tâm thương mại. Khu vực được vận hành theo PPP, kết hợp hạ tầng công cộng với dịch vụ thương mại. Đây là ví dụ điển hình về phân lớp nguồn vốn và quản trị chuyên nghiệp Ảnh: CEPhoto.


Khi đi vào vận hành, nên thành lập một cơ quan chuyên trách độc lập tương tự mô hình tại London để quản lý tài sản công, vận hành các công trình thể thao và giám sát tiến độ phát triển đô thị. Mô hình này giúp tách biệt giữa sở hữu, khai thác và điều hành, từ đó tránh xung đột lợi ích và đảm bảo sự ổn định lâu dài.

Cùng với đó, các giải pháp chống đội vốn như hoàn thiện thiết kế trước khi thi công, giám sát độc lập, quỹ dự phòng minh bạch và triển khai theo từng cụm nhỏ sẽ giúp kiểm soát rủi ro hiệu quả hơn.

Cuối cùng, yếu tố minh bạch là điều kiện tiên quyết để thu hút vốn quốc tế. Việc công khai dữ liệu, bắt buộc sử dụng BIM – Digital Twin (Bản sao Kỹ thuật Số) [4] và kiểm toán độc lập hằng năm sẽ giúp dự án được giám sát chặt chẽ và tạo lòng tin với nhà đầu tư và cộng đồng.

Tóm lại, mô hình tối ưu là sự kết hợp giữa đầu tư công chiến lược, cơ chế PPP linh hoạt, quản trị chuyên nghiệp, tiêu chuẩn quốc tế về minh bạch và cơ chế kiểm soát chi phí chặt chẽ. Nếu làm tốt, dự án không chỉ thành công trong giai đoạn sự kiện mà sẽ trở thành một hệ sinh thái thể thao – đô thị – du lịch bền vững trong nhiều thập kỷ.

Phân khu chức năng của Khu đô thị Thể thao Olympic 10.000ha. Ảnh: Đề án Thành phố Thể thao Quốc tế Vinhomes Olympic Hà Nội.


Không ít người dân bày tỏ quan ngại rằng, ngoài việc xây dựng một vài sân vận động, mục đích chính đằng sau quy hoạch là chia đất cho các tập đoàn bất động sản khai thác phân lô bán nền. Theo ông, làm thế nào để chính quyền thành phố có thể tăng cường tính minh bạch trong quá trình quy hoạch, công bố rõ ràng tỷ lệ đất dành cho thể thao, tiện ích công cộng, và phát triển nhà ở/thương mại, để xua tan những hoài nghi này?

Dưới góc nhìn quản lý đô thị, việc người dân lo ngại “lấy danh thể thao để phân lô bán nền” là điều dễ hiểu, nhất là với một dự án lớn, nếu dự án kéo dài nhiều năm và liên quan đến đất đai vùng ven. Vì vậy, minh bạch từ đầu không chỉ để trấn an dư luận, mà còn là điều kiện để dự án có tính chính danh và bền vững.

Theo tôi, để có thể tăng cường niềm tin cộng đồng, chính quyền cần triển khai một số cách tiếp cận cụ thể. Trước hết, cần công bố rõ cơ cấu sử dụng đất ngay từ giai đoạn lập quy hoạch, kèm số liệu định lượng cụ thể: bao nhiêu % cho thể thao, bao nhiêu cho công cộng, cây xanh, hạ tầng, nhà ở xã hội, tái định cư hay thương mại. Khi mọi con số minh bạch và cố định, suy đoán sẽ giảm.

Phối cảnh phân khu A của Khu đô thị Olympic. Theo thông tin công bố, mật độ xây dựng dự kiến: chỉ 35 – 40%, dành phần lớn diện tích cho cây xanh, công viên, mặt nước, quảng trường thể thao và hạ tầng du lịch. Ảnh: Báo Tiền Phong


Tiếp theo, nên tách bạch ba giai đoạn: quy hoạch – đấu thầu – triển khai, để tránh việc nhà đầu tư tham gia quá sớm và ảnh hưởng định hướng quy hoạch. Cách làm này giúp “khóa” chức năng sử dụng đất, tránh nguy cơ điều chỉnh theo lợi ích riêng.

Một yếu tố quan trọng khác là công khai dữ liệu quy hoạch dưới dạng số hóa, theo mô hình Dữ liệu quy hoạch mở (Open planning Data). Người dân, báo chí và chuyên gia có thể truy cập bản đồ GIS, tiến độ, chỉ tiêu kỹ thuật hay báo cáo môi trường một cách minh bạch và dễ dàng.

Ngoài ra, thành phố có thể ban hành quy định tỷ lệ đất thể thao tối thiểu không được điều chỉnh, tương tự cách nhiều đô thị quốc tế bảo vệ đất công cộng trong dài hạn.

Bên cạnh khuôn khổ pháp lý, cần có cơ chế giám sát độc lập, chẳng hạn hội đồng đại diện cộng đồng, chuyên gia, báo chí và các tổ chức nghề nghiệp. Hội đồng này có nhiệm vụ cập nhật, đối thoại và công bố báo cáo định kỳ.

Đối với các hạng mục lớn, việc đấu thầu công khai, đi kèm giám sát độc lập, cũng là cách giảm nghi ngờ lợi ích nhóm.

Cuối cùng, toàn bộ dự án nên gắn với các chỉ số đo lường lợi ích công cộng như: tỷ lệ đất xanh, khả năng tiếp cận tiện ích trong 5–10 phút đi bộ, tỷ lệ nhà ở xã hội hay bảo vệ vùng thoát lũ. Chỉ số rõ ràng sẽ giúp đánh giá khách quan và tránh điều chỉnh tùy tiện.

Ứng dụng BIM – Digital Twin và Dữ liệu quy hoạch mở (Open planning Data) giúp theo dõi tiến độ, kiểm soát chi phí và tăng cường giám sát quản lý đô thị. Ảnh: AVEVA


Để đảm bảo sự thành công và hài hòa lợi ích, vai trò của cộng đồng và người dân địa phương trong quá trình quy hoạch và giám sát dự án nên được thể hiện như thế nào? Ông có đề xuất giải pháp nào để thực hiện tham vấn cộng đồng một cách thực chất và hiệu quả, đặc biệt với những người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất?

Dưới góc nhìn quy hoạch quy mô lớn, sự tham gia của cộng đồng không phải là một thủ tục bắt buộc, mà là điều kiện để dự án thành công, giảm xung đột và tạo sự đồng thuận lâu dài. Với một dự án có ảnh hưởng rộng như khu đô thị thể thao 10.000 ha, tiếng nói của người dân, đặc biệt những nhóm bị thu hồi đất, cần được đặt đúng vị trí: trung tâm của quá trình ra quyết định, chứ không chỉ ở giai đoạn “xin ý kiến”.

Trước hết, cần chuyển từ tư duy “tham vấn” sang “đồng kiến tạo”. Người dân nên được tham gia ngay từ giai đoạn xác định yêu cầu quy hoạch, thay vì chỉ góp ý khi mọi thứ gần hoàn chỉnh. Các buổi làm việc theo mô hình đồng thiết kế (co-design workshop) sẽ giúp cộng đồng cùng xây dựng ý tưởng về không gian xanh, công trình công cộng, phương án tái định cư hay bảo tồn cảnh quan. Khi đó, người dân không còn là đối tượng phản biện, mà trở thành đồng tác giả của dự án.

Sự tham gia của cộng đồng từ đồng kiến tạo quy hoạch đến giám sát thực thi là yếu tố then chốt giúp dự án quy mô lớn giảm xung đột và tăng tính đồng thuận. Trong ảnh: Người dân tìm hiểu đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Cung triển lãm Kiến trúc quy hoạch xây dựng quốc gia. Ảnh: Báo Hà Nội Mới


Thứ hai, nên thành lập một Hội đồng đại diện cộng đồng với vai trò giám sát và tiếp cận thông tin dự án. Hội đồng này bao gồm đại diện cư dân, nhóm yếu thế, người bị thu hồi đất, chuyên gia độc lập và tổ chức xã hội nghề nghiệp. Vai trò của họ là theo dõi tiến độ, xử lý phản ánh ban đầu và công bố báo cáo định kỳ cho cộng đồng nhằm đảm bảo dự án không điều chỉnh tùy tiện so với cam kết ban đầu.

Song song đó, toàn bộ dữ liệu quy hoạch từ bản đồ, phương án bồi thường, danh sách tái định cư cho đến tiến độ… cần được số hóa và công khai, để người dân có thể kiểm tra trực tiếp thay vì phải “nghe qua truyền đạt”.

Việc tham vấn cũng cần triển khai đa dạng hình thức, phù hợp với từng nhóm đối tượng: họp công khai, tham vấn nhóm nhỏ, khảo sát định lượng hay không gian thông tin tại UBND xã/phường để người dân xem mô hình 3D và phương án di dời. Điều này giúp tất cả người dân đều có cơ hội tham gia, kể cả những nhóm khó tiếp cận như người già hay hộ làm nông.

Mô hình ‘xây dựng trước – di dời sau’ và các chương trình hỗ trợ sinh kế giúp người dân trở thành bên hưởng lợi thay vì chịu thiệt khi thu hồi đất. Trong ảnh: Tại khu đô thị mới Việt Hưng, bên cạnh khu nhà tái định cư, các hộ dân đủ điều kiện cũng sẽ được bố trí tái định cư bằng đất. Ảnh: Thanh Niên


Một yếu tố then chốt là việc đảm bảo quyền lợi và sinh kế của người bị thu hồi đất. Tái định cư nên được thực hiện theo mô hình “xây dựng trước – di dời sau”, đồng thời có các chương trình đào tạo nghề, ưu tiên việc làm, hỗ trợ tín dụng và cơ chế chia sẻ giá trị gia tăng địa tô để người dân cảm thấy mình là bên được hưởng lợi, không phải bên hy sinh.

Cuối cùng, cần cam kết rõ ràng về minh bạch tài chính và không điều chỉnh quy hoạch tùy ý, đặc biệt đối với quỹ đất công cộng, thể thao và không gian xanh – đây là những yếu tố quyết định niềm tin xã hội.

Ngọc Phạm thực hiện

__________________

[1] Land value capture (LVC) là cơ chế thu hồi giá trị gia tăng của đất do đầu tư công, như hạ tầng giao thông công cộng, mang lại để tái đầu tư vào cộng đồng và duy trì sự phát triển bền vững. Khoản lợi nhuận này thường được trích lại từ những người sở hữu đất có giá trị tăng lên nhờ các dự án hạ tầng, ví dụ như khu vực xung quanh nhà ga metro, để giúp tài trợ cho chính các dự án đó.

[2] Two-Envelope Bidding là phương thức đấu thầu “một giai đoạn hai túi hồ sơ,” là quy trình mà nhà thầu nộp đồng thời hai bộ hồ sơ riêng biệt: một bộ chứa đề xuất kỹ thuật và một bộ chứa đề xuất tài chính, cả hai được đặt trong một phong bì ngoài cùng. Đợt mở thầu đầu tiên chỉ công khai hồ sơ kỹ thuật để đánh giá năng lực và kinh nghiệm, sau đó hồ sơ tài chính mới được mở để so sánh và xác định nhà thầu trúng thầu.

[3] Guaranteed Maximum Price (GMP – Giá Tối đa Được Đảm bảo) là một loại hợp đồng xây dựng trong đó nhà thầu cam kết hoàn thành dự án với một mức chi phí trần (giới hạn tối đa) đã thỏa thuận, bảo vệ chủ đầu tư khỏi vượt ngân sách; nếu chi phí thực tế thấp hơn mức này, khoản tiết kiệm có thể được chia sẻ, khuyến khích nhà thầu làm việc hiệu quả và quản lý chi phí tốt.

[4] Digital Twin (Bản sao kỹ thuật số) là một mô hình ảo của một đối tượng, hệ thống hoặc quy trình trong thế giới thực, được cập nhật liên tục bằng dữ liệu thời gian thực từ các cảm biến và thiết bị IoT.

Leave a comment