Tăng quyền cho trẻ em gái dân tộc thiểu số để chấm dứt nạn tảo hôn

Tảo hôn vẫn diễn ra dai dẳng ở nhiều nhóm dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Để giải quyết tình trạng này, Nhà nước cần tạo mọi điều kiện nhằm giúp trẻ em DTTS, đặc biệt là trẻ em gái, được dễ dàng tiếp cận các cơ hội học tập và tìm kiếm việc làm. Khi thấy tương lai rộng mở phía trước, các em gái DTTS sẽ thêm vững tin trên con đường học tập và tự chủ kinh tế. Từ đó, các em có thể làm chủ cuộc đời mình và góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng để đẩy lùi nạn tảo hôn.

An An

  1. Non cao còn lời ru buồn? (Bài 1): “Giấc mơ hẹp”
  2. Tảo hôn ở các dân tộc thiểu số đã giảm nhưng vẫn phức tạp
  3. Những giải pháp tăng cường quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em gái dân tộc thiểu số

***

Non cao còn lời ru buồn? (Bài 1): “Giấc mơ hẹp”

(vhds.baothanhhoa.vn) – Tảo hôn. Học sinh bỏ trường, bỏ lớp đi… “lấy chồng”, rồi lại làm bố, làm mẹ ở cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”. Giấc mơ đời, vì thế cứ quẩn quanh…

Thứ 6, 27/06/2025 | 08:00 GMT+7

Non cao còn lời ru buồn? (Bài 1): “Giấc mơ hẹp”Trường PTDT Bán trú THCS Trung Lý (Mường Lát) tổ chức cho học sinh thi bóng chuyền.

Chưa đủ tuổi kết hôn, vẫn “vượt rào”

Nhắc đến vấn đề tảo hôn của học sinh, Hiệu trưởng Trường PTDT bán trú THCS Phú Xuân (Quan Hóa), thầy giáo Nguyễn Danh Kiên bỗng thở dài. Sự bộc lộ cảm xúc ấy của ông, âu cũng dễ hiểu, bởi lẽ, “số học sinh ở độ tuổi từ 14 – 16 đi “lấy chồng” hàng năm là có nhưng cụ thể bao nhiêu thì khó thống kê vì học sinh sau khi ra trường hoặc đi học tiếp hoặc đi làm và có một số ít ở nhà,… vì vậy, việc nắm bắt thông tin cũng hạn chế”.

Tuy nhiên, theo như chia sẻ của hiệu trưởng Nguyễn Danh Kiên, gần đây nhất, trong năm học 2023 – 2024, học sinh P.Q.L., dân tộc Mông, sinh năm 2008, sinh con sau khi tốt nghiệp THCS 4 tháng. Khi đó, P.Q.L. mới 15 tuổi. Tiếp đó, học sinh H.P.U., sinh năm 2009, học xong lớp 8 cũng đi “lấy chồng” khi 14 tuổi. “Chồng” của H.P.U. hơn em 1 tuổi, học cùng trường. Do không đỗ tốt nghiệp THCS nên “chồng” H.P.U. đã bỏ học và ở nhà lấy “vợ”.

Sự việc xảy ra, các “ông chồng nhí”, “bà vợ nhí” và các bậc phụ huynh xem đó là điều bình thường, nhưng với những người đứng trên bục giảng thì đó là một dấu lặng. Đối với học sinh vùng dân tộc thiểu số (DTTS) ở các bản làng vùng cao, biên giới, khu vực còn nhiều khó khăn, có 2 khoảng thời gian mà cán bộ, giáo viên thấp thỏm nhất đó là sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán và kỳ nghỉ hè. Sau những kỳ nghỉ này, nếu học sinh, nhất là học sinh nữ không trở lại trường theo đúng thời gian quy định thì có khả năng đã đi lấy chồng.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn ở vùng cao vẫn xảy ra có nhiều, có yếu tố khách quan, chủ quan, trong đó tác động lớn nhất vẫn là hạn chế về trình độ văn hóa, nhận thức. Đặt trong bối cảnh trường học, mặc dù đã có sự tuyên truyền bằng nhiều hình thức nhưng vẫn không ngăn được việc học sinh bỏ học đi “lấy chồng”. Công tác tại Trường PTDT bán trú THCS Trung Lý (Mường Lát), cô giáo Vũ Thị Minh Hồng đã chứng kiến không ít lần học sinh “vượt rào” để ra ngoài đi chơi đêm. Cô kể: “22h thầy, cô đi kiểm tra khu ký túc xá, học sinh vẫn còn ở phòng nhưng khoảng 24h đi kiểm tra lần nữa thì bắt gặp học sinh nhảy qua tường để đi chơi với bạn khác giới. Học sinh hứa không tái phạm, nhưng sau lại đâu vào đấy. Cũng có học sinh, thứ 7 tuần này vẫn đi học bình thường, không có biểu hiện gì nhưng thứ 2 tuần sau đã đi “lấy chồng, lấy vợ”.

Chỉ cần về với nhau là đủ?!

Là “chồng”, là “vợ” khi chưa đủ tuổi kết hôn, hay nói đúng hơn là những đứa con nít tự nguyện về ở với nhau bởi những suy nghĩ hãy còn non nớt, như chỉ đơn giản là thích nhau rồi tính chuyện “trăm năm”… Chẳng cần biết “trăm năm” ấy ra sao, buồn, vui thế nào, miễn sao cứ được về với nhau…

Non cao còn lời ru buồn? (Bài 1): “Giấc mơ hẹp”L.T.M. làm mẹ khi mới 15 tuổi.

Như buổi chiều nắng gắt này, ở bản Khằm 2, xã Trung Lý (Mường Lát), “vợ chồng” S.T.G. và V.A.H. cùng đang dỗ dành con gái V.T.V. Năm nay, S.T.G. 18 tuổi còn V.A.H. 21 tuổi. Nhưng 2 năm trước đó, khi học xong lớp 9, S.T.G. đã bỏ học và về ở với V.A.H. Cả 2 là “vợ chồng” khi chưa đủ tuổi kết hôn. Con gái V.T.V. được sinh ra khi mẹ S.T.G. cũng mới 17 tuổi.

“Về với nhau vui không?”. V.A.H. gật đầu: “Cũng vui”. “Sao lấy nhau sớm thế?”. V.A.H. thẹn thùng, bẽn lẽn: “Thích thì lấy thôi, chứ không thích, không yêu là không có lấy”. “Về sớm thế lấy gì mà ăn?”. V.A.H. gãi đầu, cười bảo: “Thì cũng có 1 năm đi chăn lợn nhưng mệt quá nên nghỉ, giờ bố mẹ nuôi”. Và không chỉ nuôi mình V.A.H., bố mẹ còn nuôi cả con dâu, cháu nội. Gia đình con nít lại phải dựa vào gia đình người lớn. Nhưng V.A.H. cũng đang tính, rằng: “Sắp tới em sẽ đi làm, lo cho vợ, cho con. Chưa đẻ tiếp đâu, để con gái lớn lên chút nữa rồi tính”.

Là câu chuyện của “vợ chồng” L.T.M. và P.N., ở bản Na Pọng, xã Na Mèo (Quan Sơn). Học xong lớp 9, M. bỏ học đi làm cho một công ty điện tử ở tỉnh Bắc Ninh. Tình cờ, ở đây M. gặp N. Hai đứa quen nhau được 1 tháng thì M. có bầu. Khi đó, M. mới 15 tuổi còn N. 21 tuổi. Hai “vợ chồng” đã bỏ làm để về quê, sinh con. Từ đó đến nay đã gần 1 năm, sinh hoạt của gia đình M. chủ yếu nhờ vào ông bà nội. Con trai M. xanh xao. Bố chồng M., ông P.V.T. thở dài: “Chúng nó khổ lắm đấy. Chồng nó trước bị lừa sang Campuchia đi làm việc nhẹ lương cao, tôi chuộc 40 triệu về. Sau đó, nó ra tỉnh ngoài làm việc thì gặp con dâu tôi bây giờ. Con trai điện về xin phép, cho 2 đứa về ở với nhau. Biết làm sao được, thì cũng phải đồng ý chứ”.

Khi một bộ phận trong đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao, nhất là dân tộc Mông đang còn nặng hủ tục trong hôn nhân, hạn chế về trình độ văn hóa và phương tiện đi lại, rào cản về ngôn ngữ thì việc tham gia các hoạt động tiếp cận kiến thức về hôn nhân, gia đình và pháp luật sẽ hạn chế. Đặc biệt, đối với phong tục cưới hỏi của đồng bào dân tộc Mông là không tổ chức ăn hỏi trước mà để đôi trẻ dẫn nhau về nhà trai rồi mới thực hiện các thủ tục ăn hỏi – cưới nên nhiều khi bố, mẹ bị động trong việc kết hôn của con cái… Vậy nên, tảo hôn, một hủ tục, đã và vẫn đang tiếp diễn…

Thẳng thắn nhìn nhận, tỷ lệ tảo hôn giảm từ 2,38% xuống còn 1,54% những năm qua là sự chuyển biến tích cực, cùng với đó là sự cố gắng, nỗ lực không ngừng của các ban, ngành, đoàn thể… Tuy nhiên, trong công tác phòng, chống tảo hôn vẫn còn nhiều điều phải suy ngẫm…

Bài và ảnh: Bằng An

***

Tảo hôn ở các dân tộc thiểu số đã giảm nhưng vẫn phức tạp

Nguyễn Dương – Thứ ba, 05/12/2023 – 08:16

(Dân trí) – Mặc dù bị cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vẫn tồn tại dai dẳng trong các dân tộc thiểu số (DTTS) ở Việt Nam.

Tảo hôn, kết hôn trẻ em đe dọa cuộc sống hiện tại và tương lai của trẻ em gái và phụ nữ trên khắp thế giới, khiến họ mất quyền tự định đoạt trong cuộc sống và làm mất đi cơ hội học tập, đào tạo.

Ngoài ra, tảo hôn khiến họ dễ bị bạo hành, phân biệt đối xử và lạm dụng hơn; làm hạn chế sự tham gia của họ vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội.

Tảo hôn, kết hôn trẻ em cũng thường đi kèm với mang thai sớm và đẻ dày, dẫn đến tăng tỷ lệ tử vong bà mẹ.

Vấn đề tảo hôn ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam

Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vẫn tồn tại dai dẳng trong các DTTS ở Việt Nam (Ảnh: UN Women).

Theo Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women), tảo hôn ở các DTTS đã giảm nhưng vẫn phức tạp, một số DTTS có tỷ lệ tảo hôn trên 50%.

Mặc dù bị cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vẫn tồn tại dai dẳng trong các DTTS ở Việt Nam.

Tảo hôn đã gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực và là một trong những lực cản đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội bền vững của vùng DTTS.

Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 DTTS năm 2019 cho thấy, tỷ lệ người DTTS tảo hôn năm 2018 là 21,9%, giảm 4,7 điểm phần trăm so với năm 2014 (26,6%).

Tuy nhiên tỷ lệ tảo hôn vẫn ở mức cao tại những vùng tập trung nhiều đồng bào DTTS sinh sống như Tây Nguyên 27,5%, Trung du và miền núi phía Bắc là 24,6% và Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 22,4%.

Tỷ lệ tảo hôn của người dân tộc thiểu số theo giới tính và vùng kinh tế – xã hội, năm 2018 (nguồn Tổng cục thống kê, kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế – xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019).

UN Women cho biết, hậu quả của việc tảo hôn sẽ dẫn đến việc kết hôn sớm, mang thai và sinh đẻ trong lứa tuổi vị thành niên.

Khi cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện, thiếu hiểu biết, kinh nghiệm và chưa sẵn sàng về mặt tâm lý để mang thai và sinh con gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe bà mẹ, sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ sinh.

Thực trạng này là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em DTTS, tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em DTTS dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi, tăng tỷ lệ tử vong của bà mẹ DTTS liên quan đến thai sản.

Về nguyên nhân, UN Women cho biết, tảo hôn trong các DTTS ở Việt Nam là một vấn đề mang tính bối cảnh phụ thuộc cả vào bối cảnh lịch sử và các thay đổi trong đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Đây không chỉ đơn thuần là vấn đề xã hội mà còn đi kèm với văn hóa của các DTTS. Nói cách khác, văn hóa DTTS có thể góp phần vào việc gia tăng tảo hôn.

Một số nguyên nhân cụ thể dẫn đến tảo hôn, gồm: Khó khăn về kinh tế là một yếu tố rõ ràng dẫn đến tảo hôn ở các DTTS.

Trong bối cảnh điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho phát triển sinh kế và đời sống, tình trạng nghèo đói dai dẳng ở vùng DTTS và miền núi (MN) khiến cho việc tảo hôn trở thành một phương thức đối phó với các biến động xã hội và trở thành “chiến lược” về an toàn sinh kế.

Hôn nhân được coi đồng nghĩa với việc mang lại an ninh về sinh kế. Các em gái DTTS sau khi kết hôn sẽ trở thành lao động chính trong gia đình nhà chồng và làm hầu hết công việc nội trợ, chăm sóc.

Do ảnh hưởng của những quan niệm, phong tục tập quán thói quen có hại trong các DTTS gây áp lực kết hôn sớm và hôn nhân cận huyết thống ở người DTTS.

Áp lực xã hội có thể ảnh hưởng đến quyết định tảo hôn của em gái và thường liên quan đến việc bảo vệ danh dự của gia đình. Dưới áp lực danh dự và kinh tế, cha mẹ ở hộ gia đình DTTS thường đồng ý với quyết định kết hôn của con cái, mặc dù chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật;…

Trách nhiệm của chính quyền địa phương trong xử lý, can thiệp đối với các trường hợp tảo hôn còn chưa mạnh mẽ, thiếu kiên quyết.

Cán bộ thực thi pháp luật ở cơ sở chưa cương quyết xử lý loại hình vi phạm này, đa số áp dụng hình thức xử phạt hành chính và không cho đăng ký kết hôn. Khi xảy ra các trường hợp cố tình vi phạm pháp luật về tảo hôn, các cơ quan chính quyền lại thụ động, lúng túng, không giải quyết triệt để.

Nhận thức về pháp luật nói chung, Luật Hôn nhân và Gia đình nói riêng và ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật của một bộ phận người DTTS còn hạn chế. Bên cạnh đó, họ chưa nhận thức đầy đủ về các hệ lụy của tảo hôn.

Tăng quyền năng cho trẻ em gái dân tộc thiểu số

Để khắc phục vấn nạn tảo hôn ở vùng DTTS, theo UN Women cần áp dụng cách tiếp cận đa chiều, toàn diện để xây dựng một chiến lược can thiệp tổng thể và bền vững đối với tảo hôn ở vùng DTTS&MN.

Cụ thể, cần tăng quyền năng cho trẻ em gái DTTS, đặt trẻ em gái DTTS là trung tâm của chiến lược và các giải pháp can thiệp về tảo hôn trong vùng DTTS&MN.

Tăng cường tiếp cận thông tin và giáo dục cho trẻ em ở lứa tuổi từ 13 tuổi đến 18 tuổi về sức khỏe sinh sản và nhận thức về hôn nhân phù hợp với đặc điểm văn hóa của các dân tộc khác nhau trong trường học và trong cộng đồng.

“Bình thường hóa” việc sử dụng các biện pháp tránh thai trong quan niệm đạo đức của người DTTS. Bảo đảm cho thanh, thiếu niên DTTS (nam và nữ) có khả năng tiếp cận các dịch vụ chất lượng về chăm sóc sức khỏe sinh sản; dịch vụ tư vấn về tâm lý, tình dục; nhà tạm lánh và các dịch vụ xã hội khác.

Giải pháp tiếp theo, phải tăng cường tiếp cận của trẻ em DTTS (nam và nữ) tới cơ hội có chất lượng trong thị trường lao động và trong hoạt động cộng đồng.

Cụ thể, tăng cường cơ hội cho trẻ em DTTS tham gia các khóa học nghề có chất lượng và phù hợp với lứa tuổi, từ đó tạo cơ hội tiếp cận tới những việc làm có chất lượng.

Một giải pháp nữa theo UN Women là tăng cường sự tham gia của trẻ em DTTS (nam và nữ) vào quá trình ra các quyết định có liên quan đến trẻ em; nâng cao năng lực để trẻ em DTTS (nam và nữ) có thể tự tin, độc lập, tự chủ khi tham gia các hoạt động ở nhà trường và cộng đồng

Ngoài 3 giải pháp trên, UN Women cho rằng cần tăng cường cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tư vấn và can thiệp cho nữ và nam DTTS dưới 18 tuổi; mở rộng hơn so với quy định của pháp luật Việt Nam về độ tuổi ‘trẻ em là người dưới 16 tuổi”.

Tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn cho cán bộ các cơ quan, tổ chức chính trị – xã hội địa phương để thực hiện tốt nhiệm vụ rà soát, phát hiện các trường hợp có nguy cơ tảo hôn; cung cấp dịch vụ tư vấn, can thiệp ngăn chặn kịp thời, hiệu quả các trường hợp tảo hôn;…

***

Những giải pháp tăng cường quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em gái dân tộc thiểu số
Trường Lê (thực hiện) – 11/08/2025 – 16:46 (GMT+7)

Những giải pháp tăng cường quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em gái dân tộc thiểu số

Ảnh minh họa

TS. Ngô Thị Hồng Nhung – Học viện Phụ nữ Việt Nam – đã có cuộc trao đổi với PV Báo Phụ nữ Việt Nam xoay quanh vấn đề quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em gái dân tộc thiểu số (DTTS) ở Việt Nam hiện nay.

Những giải pháp tăng cường quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em gái dân tộc thiểu số- Ảnh 1.
TS. Ngô Thị Hồng Nhung

– Xin bà cho biết lý do vì sao cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em gái DTTS ở Việt Nam?

Trong hệ thống pháp luật quốc tế cũng như của mỗi quốc gia, tiếp cận giáo dục là một trong những quyền cơ bản của con người.

Đầu tư vào giáo dục trẻ em gái sẽ thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng, quốc gia và toàn thế giới. Trẻ em gái có điều kiện thụ hưởng giáo dục lâu dài, ngăn ngừa việc tảo hôn và có cơ hội, khả năng hưởng thụ cuộc sống khỏe mạnh, hiệu quả hơn.

Trẻ em gái có cơ hội nâng cao thu nhập trong tương lai, tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng nhất đến họ và xây dựng tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân và gia đình nhờ vào tiếp cận giáo dục.

Giáo dục dành cho trẻ em gái củng cố nền kinh tế và giảm bất bình đẳng. Giáo dục cho trẻ em gái góp phần tạo nên một xã hội ổn định, kiên cường hơn, mang lại cho tất cả các cá nhân – bao gồm cả trẻ em trai và nam giới – cơ hội phát huy hết tiềm năng của mình.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, trẻ em gái DTTS vẫn phải chịu sự phân biệt đối xử và bất bình đẳng trong việc hưởng các quyền cơ bản, trong đó có quyền tiếp cận giáo dục. Chính vì vậy, việc bảo đảm quyền học tập cho nhóm đối tượng này là nhiệm vụ cấp thiết, không chỉ ở góc độ công lý mà còn mang tính chiến lược phát triển bền vững.

– Hiện nay, hệ thống pháp luật và chính sách của Việt Nam đã có những quy định gì để bảo vệ quyền học tập của trẻ em gái DTTS, thưa bà?

Khung pháp lý về giáo dục tại Việt Nam tương đối toàn diện và ngày càng hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền học tập cho trẻ em gái DTTS. Cụ thể, Điều thứ 6 Hiến pháp năm 1946 nêu rõ “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”.

Những giải pháp tăng cường quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em gái dân tộc thiểu số- Ảnh 2.

Ảnh minh họa

Vấn đề đảm bảo quyền bình đẳng trong tiếp cận giáo dục cho phụ nữ DTTS nói chung và đồng bào DTTS nói riêng cũng được cụ thể hóa thông qua các quy định như: “Ngoài quyền bình đẳng, các DTTS còn được giúp đỡ để về mọi phương diện để nhanh chóng tiến kịp trình độ chung”; hoặc “Nên sơ học cưỡng bách và không học phí ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp đỡ. Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” (Điều 16).

Các luật chuyên ngành như Luật Giáo dục năm 2019, Luật Bình đẳng giới năm 2006, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014… cũng đưa ra các quy định cụ thể nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận giáo dục và trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, xã hội đối với quyền học tập của trẻ em DTTS.

Chính phủ cũng đã ban hành hàng loạt chính sách hỗ trợ như miễn học phí, hỗ trợ học sinh nội trú, bán trú, chế độ cử tuyển vào trung cấp, cao đẳng, đại học…

Riêng Luật Giáo dục 2019 quy định học sinh DTTS được học tiếng Việt trước khi vào lớp 1, đồng thời được tạo điều kiện học tiếng DTTS của mình. Đây là nền tảng bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục cho nhóm đối tượng đặc thù này.

Những giải pháp tăng cường quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em gái dân tộc thiểu số- Ảnh 3.
Giáo dục dành cho trẻ em gái củng cố nền kinh tế và giảm bất bình đẳng

 Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách pháp lý đó, theo bà, đâu là những rào cản lớn nhất hiện nay khiến trẻ em gái DTTS vẫn gặp khó khăn trong việc đến trường?

Mặc dù khung pháp lý đã khá đầy đủ, nhưng trên thực tế, trẻ em gái DTTS vẫn đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng:

Thứ nhất, sự chênh lệch kinh tế và nghèo đói là một rào cản lớn. Theo Tổng cục Thống kê (2020), thu nhập bình quân ở các tỉnh miền núi như Điện Biên, Hà Giang chỉ khoảng 1,7 – 1,8 triệu đồng/người/tháng, thấp hơn nhiều so với Hà Nội (5,981 triệu), TPHCM (6,537 triệu).

Thu nhập thấp và chênh lệch phát triển giữa vùng đồng bằng và miền núi ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng học tập của trẻ em DTTS.

Thứ hai là khó khăn về cơ sở vật chất và giao thông. Nhiều bản vùng cao như ở huyện Sìn Hồ, Lai Châu, vẫn có tới 18 bản chưa có đường xe máy đến nơi. Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở một số tỉnh Tuyên Quang, Điện Biên… khiến việc đến trường trở thành hành trình gian nan, nhất là với các em gái.

Thứ ba, rào cản ngôn ngữ là vấn đề nổi cộm. Trẻ em DTTS chủ yếu nói tiếng mẹ đẻ, ít được tiếp xúc với tiếng Việt trước khi vào lớp 1, khiến các em khó tiếp thu bài giảng, gây chán nản và dễ bỏ học. Theo khảo sát của World Bank (2012), hơn 90% trẻ em DTTS nói tiếng mẹ đẻ ở nhà và nhiều em không được tiếp xúc với tiếng Việt trước khi vào học.

Thứ tư, định kiến giới và phong tục tập quán lạc hậu như tảo hôn cũng là nguyên nhân chủ yếu. Tỷ lệ kết hôn trước 18 tuổi ở người DTTS là 23,1%, cao gấp gần 2,5 lần so với người Kinh (9,2%) (Tổng cục Thống kê, 2020).

Điều này dẫn đến việc nhiều em gái phải nghỉ học sớm để lấy chồng, chăm con, không thể tiếp tục học hành hay tham gia các khóa đào tạo nghề.

Ngoài ra, tình trạng thiếu giáo viên người DTTS có trình độ tốt và cơ sở vật chất còn nghèo nàn cũng khiến chất lượng giáo dục ở các vùng dân tộc thấp hơn rất nhiều so với trung bình cả nước.

Những giải pháp tăng cường quyền tiếp cận giáo dục cho trẻ em gái dân tộc thiểu số- Ảnh 4.
Chính phủ cũng đã ban hành hàng loạt chính sách hỗ trợ như miễn học phí, hỗ trợ học sinh nội trú, bán trú…

 Để đảm bảo quyền học tập cho các em gái DTTS, theo bà, đâu là những giải pháp căn cơ trong thời gian tới?

Trước hết, Chính phủ cần thực hiện hiệu quả các chính sách giảm nghèo bền vững, đặc biệt ở các vùng đồng bào DTTS. Việc cải thiện điều kiện kinh tế gia đình là nền tảng để các em có cơ hội tiếp cận giáo dục một cách ổn định.

Tiếp theo là tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng giáo dục: xây dựng trường học gần nơi ở, cải thiện đường sá, ký túc xá, nhà ăn… để giúp học sinh không phải đi xa hay sống trong điều kiện thiếu thốn.

Cần phát triển các chương trình giáo dục song ngữ (tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt), mở rộng các bộ sách giáo khoa bằng tiếng dân tộc. Báo cáo tại Ủy ban Quyền trẻ em (2022) cho biết đã có 8 chương trình và 6 bộ sách giáo khoa bằng tiếng dân tộc được xây dựng, hỗ trợ học sinh người Mông, Jrai, Khmer…

Thêm vào đó, phải đẩy mạnh truyền thông, thay đổi nhận thức cộng đồng, nhất là người lớn trong gia đình, để phá bỏ định kiến “học chỉ dành cho con trai”. Giáo dục cần đi đôi với vận động xã hội, đặc biệt tại các vùng có phong tục tảo hôn, trọng nam khinh nữ.

Cuối cùng, cần có chính sách đào tạo và tuyển dụng giáo viên DTTS chất lượng cao, hỗ trợ họ bám trường, bám lớp ở những nơi khó khăn, bởi thầy cô chính là cầu nối quan trọng để các em gái DTTS đến được với tri thức và tương lai.

– Trân trọng cảm ơn bà!

Leave a comment