Trước diễn biến khó lường của thiên tai, VN hoàn toàn có thể đối mặt với nguy cơ động đất. Để chủ động ứng phó, Nhà nước cần thường xuyên cập nhật số liệu và đánh giá chi tiết rủi ro động đất theo từng vùng. Đồng thời, cần siết chặt quản lý trong lĩnh vực xây dựng, yêu cầu các chủ công trình tuân thủ đầy đủ tiêu chuẩn kháng chấn. Bên cạnh đó, việc phổ biến kiến thức và kỹ năng phòng tránh động đất cho người dân cũng rất cần thiết, nhằm giảm thiểu rủi ro và đảm bảo an toàn ở mức cao nhất.
An An
- Việt Nam cần đánh giá rủi ro động đất, thích ứng từ khâu “đổ móng, xây nhà”
- Phòng ngừa thảm họa trong xây dựng
- Lỗ hổng kỹ thuật trong các tòa nhà cao tầng
- Một thế kỷ thay đổi kiến trúc công trình để chống động đất của Nhật Bản
***
Việt Nam cần đánh giá rủi ro động đất, thích ứng từ khâu “đổ móng, xây nhà”
Thứ ba, 01/04/2025 – 07:33
(Dân trí) – Dù cách tâm chấn hơn 1.000km, người dân tại Hà Nội và TP.HCM vẫn cảm nhận rõ rung lắc từ trận động đất ở Myanmar. Câu hỏi đặt ra: Việt Nam đã thực sự sẵn sàng ứng phó với nguy cơ động đất?

Trận động đất mạnh 7,7 độ Richter ngày 28/3 có tâm chấn tại Myanmar đã làm rung chuyển khu vực Nam Á, gây thiệt hại nghiêm trọng và khiến nhiều người thiệt mạng.
Đây có thể coi là trận động đất mạnh nhất mà quốc gia này phải hứng chịu trong khoảng 100 năm qua.

Cảnh hoang tàn ở Myanmar sau trận động đất (Ảnh: Getty)
Mặc dù tâm chấn ở xa, cách Việt Nam hàng nghìn kilomet, nhưng việc nhiều người dân ở Hà Nội và TPHCM có thể cảm nhận rõ những rung chấn đang dấy lên nhiều lo ngại.
Phóng viên Dân trí đã có cuộc phỏng vấn với Tiến sĩ Nguyễn Xuân Anh, Giám đốc Trung tâm Báo tin động đất và Cảnh báo sóng thần, Viện Các Khoa học Trái đất, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam để làm rõ tác động của trận động đất, cũng như khả năng đáp ứng của Việt Nam với thiên tai này.
Việt Nam từng có động đất 6,8 độ Richter
Thưa ông, vì sao khi trận động đất mạnh 7,7 độ Richter ở Myanmar xảy ra, nhiều người sống ở Hà Nội và TPHCM cảm nhận được rung lắc nhưng có các khu vực khác không cảm nhận được gì?
– Cảm nhận về rung chấn động đất phụ thuộc vào 3 yếu tố chính.
Thứ nhất là khoảng cách. Tâm chấn của trận động đất này nằm ở Mandalay, Myanmar (tại tọa độ 22.013 vĩ độ bắc, 95.922 độ kinh đông). Khu vực này cách chúng ta hơn 1.000km. Khi trận động đất xảy ra, sóng địa chấn sẽ lan truyền nhưng khi càng ra xa sẽ càng giảm.


Yếu tố thứ hai là môi trường lan truyền sóng tức là nền đất. Ví dụ trận động đất ở Myanmar thì sóng địa chấn sẽ lan truyền từ đó về đến Hà Nội hoặc TPHCM sẽ bị ảnh hưởng bởi yếu tố nền đất dọc theo đường lan truyền.
Tùy theo đặc điểm nền đất mà sóng có thể bị mạnh lên hay yếu đi mặc dù về cơ bản khi lan truyền càng xa thì càng yếu dần. Trong lịch sử đã ghi nhận được nơi ở xa tâm chấn hơn lại bị ảnh hưởng nặng nề hơn ở gần do có yếu tố cộng hưởng của nền đất với sóng địa chấn.
Sự phụ thuộc này khá phức tạp và vì vậy hoàn toàn có thể ở Hà Nội xa Myanmar hơn Hòa Bình, nhưng do sự tương tác này thì ở Hà Nội có thể bị rung lắc mạnh hơn. Những nghiên cứu ảnh hưởng của động đất từ các nguồn xa cần được thực hiện để đánh giá hiện tượng này. Có thể thấy động đất ở Myanmar gây ảnh hưởng mạnh ở Bangkok, Thái Lan.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Anh, Giám đốc Trung tâm Báo tin động đất và Cảnh báo sóng thần, Viện Các Khoa học Trái đất, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam chia sẻ về ảnh hưởng của động đất (Ảnh: Thành Đông).
Thứ ba là yếu tố công trình. Về cơ bản, công trình càng cao, càng dễ cảm nhận được rung lắc. Thực tế ở các đô thị lớn như Hà Nội và TPHCM tập trung nhiều công trình cao tầng, kéo theo việc nhiều người dân có thể cảm nhận rõ rung chấn từ trận động đất này.
Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, do trận động đất ở xa, tác động của trận động đất đến Việt Nam là rất ít. Do đó, khi nó xảy ra, Trung tâm Báo tin động đất và Cảnh báo sóng thần đưa ra cảnh báo chỉ có rủi ro cấp “0”.
Về cơ bản chúng ta vẫn cần các nghiên cứu để đánh giá hiệu ứng nền từ các trận động đất ở xa như trận vừa qua.

Người dân ở nhà cao tầng TPHCM sơ tán ra bên ngoài khi cảm nhận rung lắc (Ảnh: CTV).
Trong thời gian tới, chúng tôi dự đoán sẽ có các trận dư chấn. Tuy nhiên, những trận dư chấn sẽ yếu hơn kích động chính và khả năng ảnh hưởng đến Việt Nam là rất thấp.
Dẫn chứng là trong ngày 28/3, thực tế, có các trận động đất xảy ra ở Myanmar nhưng ở Việt Nam, chúng ta chỉ cảm nhận được rung chấn từ trận động đất lớn nhất, xảy ra lúc 13h20.
Trước đây, nhắc đến động đất, nhiều người xem là chuyện chỉ có ở nước ngoài. Vì sao vài năm trở lại đây, Việt Nam liên tục chịu ảnh hưởng bởi động đất. Ngoài dư chấn của động đất ở nước ngoài, thì ở Tây Bắc hay Kontum cũng đã ghi nhận nhiều trận?
– Cần nhìn nhận điều này từ 2 yếu tố.
Thứ nhất là tác động từ biến đổi khí hậu. Con người tạo ra nhiều biến đổi bất thường làm gia tăng về cường độ và bất thường về tần suất rất đáng kể của các thiên tai như các cơn bão siêu mạnh hay các trận động đất.
Các dạng thiên tai có thể liên kết với nhau, ví dụ mưa lớn, cường độ mạnh có thể thay đổi nền đất và ảnh hưởng lâu dài đến hoạt động động đất. Việc xây dựng các công trình thủy điện đã gây ra động đất kích thích ở một số khu vực như Tây Bắc, Quảng Nam và Kontum.

Ở Việt Nam cũng từng ghi nhận nhiều trận động đất (Ảnh: Thành Đông).
Về khía cạnh thứ hai, trước đây ở các đô thị như Hà Nội hay TPHCM vẫn chưa có nhiều công trình cao tầng thì người dân khó có thể cảm nhận được động đất rõ ràng như hiện tại. Khi có nhiều người cảm nhận thấy và thông tin được chia sẻ, chúng ta sẽ có cảm giác như ảnh hưởng của động đất nhiều lên.
Trên thực tế, ở Việt Nam từ trước đến nay vẫn có động đất. Thậm chí ở khu vực Tây Bắc đã từng ghi nhận các trận động đất mạnh, có độ lớn lên tới 6,7-6,8 độ.
Thêm vào đó, không như các cơn bão, động đất là loại thiên tai có chu kỳ lặp lại rất dài, đặc biệt các trận động đất càng lớn thì càng lâu lặp lại. Chu kỳ này có thể là 100 năm, vài trăm năm hay thậm chí là cả nghìn năm, ví dụ như trận động đất M = 7,8 vào năm 2023 ở Thổ Nhĩ Kỳ có chu kỳ lặp lại vài trăm năm.

Theo TS Xuân Anh, động đất là loại thiên tai có chu kỳ lặp lại rất dài, đặc biệt các trận động đất càng lớn thì càng lâu lặp lại (Ảnh: Thành Đông).
Do đó, cần có các nghiên cứu chuyên sâu để đánh giá liệu hiện tại số lượng các trận động đất ở Việt Nam có nhiều hơn so với trước hay không, khi nó là tổng hòa của rất nhiều yếu tố.
Đâu là những khu vực có nguy cơ cao về động đất ở Việt Nam, thưa ông?
– Việt Nam đã có bản đồ phân vùng động đất, đánh giá nguy hiểm động đất. Dựa theo phân vùng này, Hà Nội nằm trong phân vùng có động đất cấp 7, cấp 8. Trong khi đó, khu vực Tây Bắc là nơi có thể xảy ra động đất mạnh nhất ở nước ta.
Nơi đây đã từng ghi nhận các trận động đất mạnh 6,7-6,8 độ vào năm 1935 và năm 1983.
Ở Tây Nguyên thời gian qua ghi nhận rất nhiều những trận động đất nhỏ do kích thích từ hồ, đập thủy điện gây ra.
Kiểm soát khả năng kháng chấn công trình đặc biệt quan trọng
Năng lực giám sát, cảnh báo động đất và sóng thần hiện nay của nước ta như thế nào?
– Việt Nam đang có hơn 30 trạm địa chấn quốc gia để theo dõi hoạt động động đất trên toàn lãnh thổ. Ngoài ra có gần 100 trạm địa chấn địa phương quan trắc tại các công trình trọng điểm như: thủy điện, khu vực dự kiến phát triển điện hạt nhân.
Dữ liệu từ các trạm sẽ được truyền ngay về Trung tâm Báo tin động đất và Cảnh báo sóng thần đặt tại Hà Nội để phân tích tự động, qua đó xác định được chấn tâm, độ sâu chấn tiêu của động đất để phát đi cảnh báo nhanh nhất.

Trung tâm Báo tin động đất và Cảnh báo sóng thần đặt tại Hà Nội nhận thông tin từ các trạm địa chấn (Ảnh: Thành Đông).
Theo quy định, tất cả những trận động đất có độ lớn trên 3,5 thì chúng tôi sẽ phát thông báo. Tuy nhiên hiện nay cả những trận động đất độ lớn 2,5, chúng tôi cũng có công bố để thông tin thêm cho người dân.
Lưu ý rằng, việc dự đoán chính xác thời điểm động đất xảy ra thì không chỉ riêng nước ta mà trên thế giới chưa có quốc gia nào làm được. Ngay cả các nước nhiều động đất như Nhật Bản hay các nước tiên tiến nhất. Về cơ bản, dự báo độ lớn tại một khu vực có thể làm được, nhưng dự báo thời điểm chính xác xảy ra động đất thì chưa làm được.
Cần lắp máy đo rung chấn ở cao ốc
Việc một khu chung cư ở TPHCM có dấu hiệu nứt tường sau dư chấn của trận động đất tại Myanmar vừa qua khiến nhiều người băn khoăn về khả năng chống chịu động đất của các công trình tại Việt Nam, ông nhận định như thế nào về vấn đề này?
– Với các công trình việc phòng chống động đất là rất quan trọng.
Hiện nay ở Việt Nam đã có tiêu chuẩn thiết kế kháng chấn cho công trình, trong đó đã xây dựng bản đồ nguy hiểm động đất với các giá trị gia tốc nền cho cả nước. Theo đó, tất cả các công trình đều phải được thiết kế chống chịu được động đất theo tiêu chuẩn này.

Theo TS Xuân Anh việc đảm bảo khả năng kháng chấn của các công trình là rất quan trọng (Ảnh: Trần Kháng).
Vai trò của chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên ngành liên quan chịu trách nhiệm là rất quan trọng. Việc không chủ quan, thực hiện các kiểm tra, giám sát, đánh giá định kỳ về chất lượng kháng chấn của công trình là cần thiết theo quy chế phòng chống động đất của Chính phủ.
Ví dụ ở Hà Nội có nhiều khu nhà chung cư, tập thể đã xuống cấp, kết cấu yếu cần có đánh giá rủi ro về động đất.
Khi công trình yếu, không đảm bảo kháng chấn sẽ rất nguy hiểm. Các cơ quan chức năng cần có đánh giá định kỳ để có phương án hoặc là gia cố, hoặc là phá bỏ để đảm bảo an toàn cho người dân.
Đối với những công trình cao tầng, chúng tôi cũng khuyến cáo nhiều lần là nên lắp đặt các máy đo rung chấn để đánh giá xem rung lắc thế nào, ảnh hưởng bao nhiêu.
Hiện nay việc đánh giá ảnh hưởng đến công trình chủ yếu do người ghi nhận bằng cảm quan. Các thiết bị quan trắc này cho phép xác định chính xác mức độ rung lắc, và từ những số liệu đó đưa ra các cảnh báo, khuyến cáo phù hợp cho người dân.
Tầm nhìn sắp tới, chúng ta sẽ xây dựng các dự án trọng điểm như đường sắt cao tốc, tàu điện ngầm, nhà máy điện hạt nhân hay những công trình phát triển kinh tế biển cũng phải tính toán rất kỹ lưỡng về yếu tố nguy cơ động đất, sóng thần.
Cấp thiết xây dựng chương trình quốc gia đánh giá nguy hiểm động đất
Dưới góc nhìn chuyên môn, theo ông, đâu là những giải pháp cần sớm thực hiện để nâng cao năng lực ứng phó động đất ở Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp?
– Chúng tôi nhấn mạnh tính cấp thiết của việc xây dựng một chương trình quốc gia để đánh giá nguy hiểm động đất trên cả nước.
Bản đồ phân vùng động đất, đánh giá nguy hiểm động đất của chúng ta đang dùng đã có từ năm 2006. Mặc dù sau đó đã có cập nhật nhưng đòi hỏi phải cập nhật số liệu cũng như đánh giá một cách chi tiết, đặc biệt là các vùng nguy hiểm.
Thông qua đánh giá rủi ro sẽ cung cấp cơ sở khoa học, cơ sở kỹ thuật cho định hướng phát triển kinh tế xã hội; giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quy định định, văn bản pháp lý hiệu quả nhất.
Ví dụ như chúng ta không nên xây thành phố nhiều nhà cao tầng ở nơi có nguy cơ động đất cao sẽ tốn kém; ở các khu đô thị lớn như Hà Nội, TPHCM cần có phân vùng chi tiết rủi ro động đất để quy hoạch xây dựng thành phố phát triển bền vững.
Thứ hai, cần nâng cao năng lực cảnh báo động đất và sóng thần. Điển hình là tăng số lượng trạm quan trắc, và như tôi chia sẻ trước đó, là những thiết bị để đo rung chấn trực tiếp ở các công trình cao tầng.
Thứ ba là đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân về kỹ năng ứng phó với động đất. Trên thực tế, trận động đất vừa qua cũng đã bộc lộ thực trạng thiếu kỹ năng xử trí khi gặp động đất ở nhiều người dân.
Các nước trong khu vực đang thích ứng với động đất như thế nào?
– Những quốc gia nằm trên vành đai có nhiều động đất lớn như: Nhật Bản, Indonesia hay Philippines đều đã chủ động xây dựng chiến lược thích ứng lâu dài với động đất.
Ở Nhật Bản, chính phủ quy định nghiêm ngặt các tiêu chuẩn xây dựng, yêu cầu các công trình phải đảm bảo khả năng chống chịu động đất ở mức rất cao. Họ cũng đầu tư hệ thống cảnh báo sớm, diễn tập thường xuyên và truyền thông mạnh mẽ để nâng cao nhận thức cộng đồng.
Tuy nhiên, xây dựng công trình có khả năng chống chịu cao đồng nghĩa với chi phí đầu tư lớn.
Do đó, ở đây tôi nhấn mạnh lại tầm quan trọng của việc nghiên cứu đánh giá nguy hiểm và đánh giá rủi ro động đất.
Làm sao xác định được mức độ động đất phù hợp với từng khu vực để đưa ra những giải pháp kinh tế, kỹ thuật phù hợp, hiệu quả. Việc triển khai dự án này sẽ cung cấp luận cứ khoa học, giúp tiết kiệm nhiều chi phí không đáng có và phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội.
Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
Ảnh: Thành Đông
***
Phòng ngừa thảm họa trong xây dựng
ND – Thứ Sáu, ngày 04/04/2025 – 15:26
Việt Nam đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Do đó, việc nghiên cứu các biện pháp thiết kế, thi công công trình chống động đất, xây dựng quy định bảo đảm khả năng kháng chấn càng trở nên cấp bách.

Không thể lơ là, chủ quan
Những năm qua, tại nhiều địa phương trên cả nước từng xảy ra hàng loạt trận động đất như: năm 1968 tại Bắc Giang, năm 1989 tại Hòa Bình, năm 1996 tại Điện Biên, năm 2005 xảy ra ở Hà Giang và Nghệ An… Xa hơn, vào năm 1935 đã xuất hiện trận động đất mạnh lên tới 6,9 độ richter tại lòng chảo Điện Biên, gây thiệt hại một số công trình.
PGS,TS Cao Đình Triều, Viện trưởng Địa vật lý ứng dụng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Địa Vật lý Việt Nam cho biết, mỗi năm trên lãnh thổ Việt Nam xảy ra hàng chục vụ động đất. Tuy nhỏ và chưa gây ra thiệt hại lớn, song không vì thế mà chúng ta được phép chủ quan, lơ là. Các cơ quan chức năng phải xây dựng trước các kịch bản để ứng phó, bởi thiên tai rất khó lường và rất khó dự báo chính xác. “Để đề phòng rủi ro, cần quan tâm nhiều hơn tới khả năng kháng chấn của các công trình xây dựng, cập nhật liên tục bản đồ phân vùng nhỏ (chi tiết) động đất ở các đô thị, các vùng có nhiều công trình thủy điện”, ông Triều nhấn mạnh.
Cũng theo ông Triều, Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện xây dựng bản đồ phân vùng nhỏ động đất từ năm 2009, nhưng đến nay chưa cập nhật lại. Ngay từ bây giờ, các đô thị lớn phải cập nhật thường xuyên; các cơ quan chuyên môn nên đánh giá phân vùng nhỏ động đất tại các công trình thủy điện nhỏ và siêu nhỏ do tư nhân làm chủ, từ đó kịp thời có các biện pháp xử lý, tránh để xảy ra bị động.
Theo Viện Khoa học công nghệ xây dựng (Bộ Xây dựng), kết cấu của các công trình nhà cao tầng được áp dụng chủ yếu vẫn là kết cấu khung vách hoặc khung lõi bằng bê-tông cốt thép đổ tại chỗ, kết hợp sàn bằng bê-tông cốt thép đổ tại chỗ, hoặc sàn bê-tông nửa lắp ghép (dạng sàn sandwich). Hầu hết các công trình nhà cao tầng được xây dựng ở Hà Nội hiện nay đều được thiết kế chịu động đất cấp 7. Tuy nhiên, với mức 7 độ richter, những chung cư cũ, xây trước năm 2006 sẽ gặp nguy hiểm.
Ông Đinh Quốc Dân, Phó Viện trưởng Khoa học công nghệ xây dựng kiến nghị, phải đẩy nhanh tiến độ cải tạo các chung cư cũ. Công trình nào đã ở mức độ nguy hiểm, gấp rút dỡ bỏ, và thực hiện tái định cư cho người dân bằng những công trình bảo đảm chất lượng.
Quy định chặt chẽ về khả năng kháng chấn
Năm 2006, Bộ Xây dựng đã ban hành Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 375:2006 “Thiết kế công trình chịu động đất” và được chuyển đổi thành tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9386:2012 năm 2012. Đây là cơ sở cho các chủ đầu tư tính toán kháng chấn cho công trình.
Hay Điều 91 Luật Xây dựng 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã có quy định về việc bảo đảm an toàn công trình. Theo đó, các công trình xây dựng phải được thiết kế và thi công bảo đảm khả năng chịu lực, tính ổn định và tính bền vững trong điều kiện động đất. Đặc biệt, đối với những khu vực có nguy cơ động đất cao, mỗi công trình xây dựng phải đáp ứng các tiêu chuẩn thiết kế chống động đất theo quy định của pháp luật.
Theo TS Đỗ Tiến Thịnh, Giám đốc Viện Chuyên ngành Kết cấu Công trình xây dựng (Viện Khoa học công nghệ xây dựng – Bộ Xây dựng), đối với các tòa nhà cao tầng, khi thi công các kết cấu của cọc, móng, cột, dầm phải tuân thủ tuyệt đối quy chuẩn, vì đó là phần gánh lực cho tòa nhà.
Nhấn mạnh các giải pháp ứng phó thảm họa, KTS Ngô Viết Nam Sơn kiến nghị, các cơ quan địa chất nên cung cấp những nghiên cứu khoa học về nguy cơ động đất ở từng tỉnh, thành phố, đồng thời đánh giá hiện nước ta đang nằm trong ngưỡng nào, vùng nào có nguy cơ cao trong năm tới. Từ đó bổ sung những quy chuẩn phù hợp, nghiêm ngặt cho từng khu vực cụ thể, với từng loại công trình xây dựng, chứ không quy định chung chung như hiện nay.
Về lâu dài, Việt Nam cần xây dựng bộ luật về phòng, chống động đất, trong đó có quy định chặt chẽ, chi tiết các yêu cầu kháng chấn trong xây dựng công trình nói chung, công trình cao tầng nói riêng. Một điều nữa, trong bối cảnh cát xây dựng ngày càng khan hiếm, việc nghiên cứu, sản xuất, sử dụng các vật liệu xây dựng thay thế, vật liệu xanh, nhất là vật liệu có khả năng chống chịu động đất, như bê-tông uốn cong; bê-tông dạng phun; bê-tông siêu tính năng… là vô cùng cần thiết.
“Các cơ sở sản xuất vật liệu nên đầu tư công nghệ sản xuất bê-tông siêu tính năng. Đây là loại bê-tông được gia công bằng sợi thép phân tán và sợi hữu cơ, có độ chịu nén tốt và cường độ chịu kéo cao”, TS Thái Duy Sâm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam chia sẻ.
HẢI MIÊN
***
Lỗ hổng kỹ thuật trong các tòa nhà cao tầng
Võ Nhật Liễu (*) • 07/04/2025 12:47
Trong khi các nhà đầu tư quốc tế xem hồ sơ kháng chấn là điều kiện tiên quyết, nhiều dự án tại Việt Nam vẫn coi đây là “tùy chọn thêm”.
Sự tương phản này không chỉ tạo ra lỗ hổng an toàn mà còn đặt ra rào cản vô hình cho bất động sản Việt trên trường quốc tế.

Một tòa nhà đang xây 34 tầng đổ sụp trong vài phút sau trận động đất gần Bangkok tháng 3/2024. Thảm họa này đặt ra câu hỏi về khả năng ứng phó của các đô thị Đông Nam Á – trong đó có Việt Nam – trước rủi ro địa chấn.
Tiêu chuẩn có nhưng chưa bắt buộc
Tính đến năm 2023, TPHCM có 1.458 tòa nhà hoàn thành, với 276 tòa cao trên 100 mét và con số đang tăng nhanh. Đặc điểm địa chất yếu, tốc độ xây dựng nhanh và mật độ cao tầng dày đặc tạo nên rủi ro tiềm ẩn: hệ thống công trình thiếu tiêu chuẩn kháng chấn trong khi pháp luật chưa có cơ chế kiểm soát đầy đủ.
Quy định kháng chấn hiện hành là TCVN 9386:2012, dựa trên tiêu chuẩn Châu Âu Eurocode 8, được đề cập trong tiêu chuẩn thiết kế công trình 2006 và Quy chuẩn xây dựng VN 2009.
Kháng chấn giống như “bộ giảm xóc” cho tòa nhà khi đất rung chuyển. Kỹ sư tính toán dựa trên vị trí địa lý (TPHCM có chỉ số PGA ~0.05g), loại đất nền và đặc điểm công trình. Họ thiết kế dầm, cột, lõi thang với độ bền và độ dẻo phù hợp để phân tán năng lượng động đất. Mục tiêu không phải ngăn mọi hư hại, mà đảm bảo tòa nhà không sập đổ hoàn toàn, đủ vững để sơ tán người.
Qua 17 năm công tác phát triển dự án tại TPHCM, tôi nhận thấy đa số công trình không áp dụng hoặc không có hồ sơ kháng chấn theo quy chuẩn. Nhiều chủ đầu tư chỉ gửi văn bản xin ý kiến về “cấp độ dẻo”, đồng thời cam kết tự chịu trách nhiệm về an toàn kết cấu.
Tiêu chuẩn đã ban hành nhưng không được viện dẫn trong quy chuẩn hay văn bản pháp luật bắt buộc, trở thành “vùng xám pháp lý” và bị xem như không cần thiết trong thủ tục cấp phép.
Ngay cả với nhà đầu tư có thiện chí, việc áp dụng TCVN 9386:2012 vẫn gặp nhiều khó khăn. Bởi một là, tính học thuật cao, đặc biệt với cấp độ dẻo trung bình và cao, đòi hỏi chuyên môn kết cấu sâu và phần mềm chuyên biệt như ETABS, SAP2000 để mô phỏng ứng xử công trình.
Hai là chi phí tăng, từ thiết kế đến thi công có thể tăng 5-15% khi tính thêm yếu tố kháng chấn. Tăng một cấp độ dẻo đòi hỏi đầu tư thêm kết cấu thép để tăng sức chịu tải trọng động đất tối thiểu 2 lần. Và thiếu đơn vị tư vấn đủ năng lực khiến chủ đầu tư phải chọn phương án đơn giản hoặc bỏ qua tiêu chuẩn.
Thêm vào đó, kháng chấn không nằm trong danh mục hồ sơ bắt buộc khi xin phép xây dựng, thẩm tra thiết kế hay nghiệm thu, khiến các bên không có động lực tuân thủ.
Siết chặt tiêu chuẩn kháng chấn
Tuy nhiên, nhiều năm qua, nhà đầu tư quốc tế luôn coi hồ sơ kháng chấn là điều kiện tiên quyết trong phân khúc bất động sản cao cấp, dù tiêu chuẩn này chưa phổ biến tại Việt Nam. Khảo sát PROPIIN với 12 đối tác M&A quốc tế cho thấy nhiều thương vụ bị trì hoãn, ép giá 10-15%, hoặc hủy bỏ vì thiếu tài liệu này.
Đặc biệt sau sự cố Bangkok vừa qua, các nhà đầu tư quốc tế tại Đông Nam Á – khu vực dễ tổn thương bởi động đất – sẽ đặt ra yêu cầu kháng chấn ngày càng nghiêm ngặt. Việt Nam có đặc điểm địa chất và nền đất tương đồng với Thái Lan, đặc biệt là các thành phố lớn xây dựng trên nền đất yếu như TPHCM, Hà Nội. Mặc dù thường được xem là khu vực ít động đất, chúng ta không nằm quá xa các đường đứt gãy địa chất khu vực, và tác động từ các trận động đất xa vẫn có khả năng lan truyền đến. Không chỉ khách thuê dài hạn là tập đoàn nước ngoài, mà các ngân hàng và tổ chức bảo hiểm quốc tế cũng thắt chặt tiêu chí thẩm định khi không có chứng chỉ này.
Trong hệ sinh thái đầu tư – tài chính toàn cầu, hồ sơ kháng chấn không chỉ là “giấy tờ kỹ thuật”, mà là bằng chứng đảm bảo tài sản trong kịch bản xấu nhất và là cơ sở để bảo hiểm, tài chính quốc tế bảo lãnh rủi ro. Vì vậy, việc sở hữu chứng chỉ kháng chấn sẽ trở thành vũ khí cạnh tranh mạnh mẽ của doanh nghiệp bất động sản trong tầm nhìn 5 năm tới. Do đó, cần siết chặt kiểm tra và khơi thông thực thi các tiêu chuẩn xây dựng.
Thứ nhất, đưa yêu cầu kháng chấn vào Luật Xây dựng và nghị định, chuyển từ tự nguyện thành bắt buộc.
Thứ hai, cập nhật tiêu chuẩn. Rà soát TCVN 9386:2012, ban hành hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp áp dụng nhất quán.
Thứ ba, minh bạch hóa hồ sơ. Quản lý và công khai hồ sơ kháng chấn tương tự PCCC, đặc biệt trong M&A và kiểm toán kỹ thuật.
Thứ tư, nâng cao năng lực. Đào tạo kỹ sư thiết kế và phát triển đơn vị thẩm tra độc lập về kháng chấn.
Và bên cạnh đó, các chủ đầu tư cũng cần thay đổi tầm nhìn chiến lược, xem tiêu chuẩn kỹ thuật là lợi thế, không chỉ là chi phí, kết hợp kháng chấn với tiêu chuẩn xanh và thông minh từ sớm. Doanh nghiệp tiên phong là những người dám đầu tư vào những thứ chưa bắt buộc hôm nay, xác lập vị thế – không chỉ trên bản đồ đô thị, mà trong tâm trí nhà đầu tư toàn cầu.
(*) Tổng Giám đốc Viện Đào tạo Phát triển dự án bất động sản PROPIIN
***
Một thế kỷ thay đổi kiến trúc công trình để chống động đất của Nhật Bản
Thứ Bảy, 06/01/2024 20:40 |
Nhà chức trách Nhật Bản cho biết ít nhất 270 ngôi nhà bị phá hủy trong trận động đất vừa qua ở Ishikawa, trong khi trận động đất cùng cường độ ở Kashmir năm 2005 đã đánh sập hơn 30.000 tòa nhà.

Cảnh tượng các tòa nhà biến thành đống đổ nát đã được chiếu khắp thế giới sau trận động đất mạnh 7,6 độ xảy ra ở tỉnh Ishikawa bên bờ biển phía tây Nhật Bản hôm 2/1. Mức độ thiệt hại đầy đủ vẫn chưa được biết. Nhà chức trách cho biết ít nhất 270 ngôi nhà trong khu vực đã bị phá hủy, tuy nhiên con số cuối cùng có thể còn cao hơn nhiều.
Các báo cáo như vậy nói lên những thiệt hại mà nhiều cư dân trong khu vực phải đối mặt. Nhưng nếu so sánh thì những trận động đất có cường độ tương tự ở những nơi khác trên thế giới thường có sức tàn phá lớn hơn nhiều, chẳng hạn như trận động đất mạnh 7,6 độ đánh sập hơn 30.000 tòa nhà ở vùng Kashmir năm 2005.
Trong khi đó, Ishikawa có thể đã vượt qua động đất tương đối nhẹ nhàng – theo Robert Geller, giáo sư danh dự về địa chấn học tại Đại học Tokyo.
“Các tòa nhà hiện đại dường như thể hiện rất tốt”, ông Geller nói với CNN một ngày sau trận động đất ở Ishikawa, đồng thời lưu ý rằng những ngôi nhà cũ “với mái ngói đất sét nung” dường như ở tình trạng tệ nhất. “Hầu hết các ngôi nhà dành cho một gia đình, ngay cả khi bị hư hại, cũng không bị sập hoàn toàn”.
Tính linh hoạt mang lại cơ hội sống sót cao nhất
Có một câu ngạn ngữ ở Nhật Bản ý nói rằng, “động đất không giết người, mà là các tòa nhà”. Và tại một trong những quốc gia thường xuyên xảy ra động đất nhất thế giới như Nhật Bản, các kiến trúc sư, kỹ sư và nhà quy hoạch đô thị từ lâu đã cố gắng đối phó các trận động đất lớn ở các đô thị bằng cách kết hợp trí tuệ cổ xưa, sự đổi mới hiện đại và các quy tắc xây dựng liên tục được nâng cao.

Từ “bộ giảm chấn” quy mô lớn, lắc lư như con lắc bên trong các tòa nhà chọc trời, đến hệ thống lò xo hoặc ổ bi cho phép các tòa nhà lắc lư độc lập với nền móng, công nghệ xây dựng đã tiến bộ vượt bậc kể từ trận động đất lớn Kanto san phẳng phần lớn Tokyo và Yokohama cách đây trên 100 năm.
Nhưng những đổi mới chủ yếu tập trung vào một ý tưởng đơn giản: tính linh hoạt mang lại cho các công trình cơ hội tồn tại lớn nhất.
Miho Mazereeuw, phó giáo sư kiến trúc và đô thị tại Viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ), cho biết: “Bạn sẽ thấy rất nhiều tòa nhà, đặc biệt là bệnh viện và các công trình quan trọng, nằm trên những vòng bi cao su này để tòa nhà có thể lắc lư”.
“Về mặt khái niệm, tất cả đều quay trở lại ý tưởng rằng, thay vì chống lại chuyển động của Trái đất, bạn hãy để tòa nhà chuyển động theo nó”, ông Mazereeuw nói.
Nguyên tắc này đã được áp dụng ở Nhật Bản trong nhiều thế kỷ. Ví dụ, nhiều ngôi chùa bằng gỗ truyền thống của đất nước vẫn sống sót sau các trận động đất, ngay cả khi các công trình kiến trúc hiện đại bị phá huỷ. Ngôi chùa Toji cao 55 mét, được xây dựng vào thế kỷ 17 gần Kyoto là ngôi chùa nổi tiếng vẫn còn nguyên vẹn sau trận động đất Kobe khủng khiếp năm 1995, trong khi nhiều tòa nhà gần đó sụp đổ.

Kiến trúc truyền thống của Nhật Bản có nhiều điểm tương đồng với kiến trúc của nước láng giềng Hàn Quốc và Trung Quốc, mặc dù nó khác nhau ở chỗ phản ánh rủi ro động đất cao hơn ở đất nước này.
Đặc biệt, tỷ lệ tồn tại vượt trội của các ngôi chùa từ lâu đã được ghi nhận là nhờ “shinbashira” – những cây cột trung tâm làm từ thân cây và được các kiến trúc sư Nhật Bản sử dụng trong ít nhất 1.400 năm qua.
Cho dù được neo xuống đất, tựa trên dầm hay treo lơ lửng từ trên cao, những cột này có thể uống cong, dẻo trong khi các tầng riêng lẻ của tòa nhà di chuyển theo hướng ngược lại với các tầng lân cận. Kết quả là chuyển động lắc lư — thường được so sánh với chuyển động của một con rắn đang trườn – giúp chống lại lực chấn động. Chuyển động đó được hỗ trợ bởi các khớp nối lồng vào nhau, các giá đỡ lỏng cũng như những mái hiên rộng.
Học từ những thảm kịch
Các tòa nhà ở Nhật Bản ngày nay có thể không hoàn toàn giống những ngôi chùa, nhưng những tòa nhà chọc trời thì chắc chắn là như vậy.
Cho đến những năm 1060, Nhật Bản vẫn áp đặt giới hạn chiều cao nghiêm ngặt là 31 mét do nguy hiểm động đất, nhưng sau đó các kiến trúc sư đã được phép xây dựng nhà cao hơn. Ngày nay, Nhật Bản có trên 270 tòa nhà cao hơn 150 mét, nhiều thứ năm trên thế giới.
Bằng cách sử dụng khung thép để tăng thêm tính linh hoạt cho kết cấu bê tông cứng, các nhà thiết kế nhà cao tầng càng được khuyến khích hơn nhờ sự phát triển của các đối trọng quy mô lớn và hệ thống “cách ly chân đế” (như các vòng bi cao su nói trên) hoạt động như bộ giảm xóc.
Công ty bất động sản là chủ đầu tư tòa nhà cao nhất Nhật Bản, mới khai trương tại khu Azabudai Hills ở Tokyo vào tháng 7 năm ngoái, tuyên bố rằng các tính năng thiết kế chống động đất của toà nhà – bao gồm cả bộ giảm chấn quy mô lớn – sẽ “cho phép các doanh nghiệp tiếp tục hoạt động” trong trường hợp xảy ra địa chấn mạnh tương đương trận động đất Tohoku có cường độ 9,1 độ năm 2011.

Nhưng đối với nhiều nơi ở Nhật Bản không có tòa nhà chọc trời, như Wajima, khả năng chống động đất chủ yếu là bảo vệ các tòa nhà thông thường, như nhà cửa, trường học, thư viện và cửa hàng. Và về mặt này, thành công của Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào chính sách cũng như công nghệ.
Thứ nhất, các trường kiến trúc Nhật Bản đã đảm bảo rằng sinh viên được trang bị nền tảng về cả thiết kế và kỹ thuật.
Ông Mazereeuw cho biết: “Không giống như hầu hết các quốc gia, các trường kiến trúc Nhật Bản kết hợp kiến trúc với kỹ thuật kết cấu. Hai ngành này luôn gắn liền với nhau”.
Qua nhiều năm, các quan chức Nhật Bản cũng đã tìm cách rút kinh nghiệm từ mọi trận động đất lớn mà đất nước phải đối mặt, thông qua việc tiến hành khảo sát chi tiết và cập nhật các quy định xây dựng cho phù hợp.
Phó giáo sư Mazereeuw cho biết quá trình này bắt nguồn từ ít nhất là vào thế kỷ 19. Ông dẫn chứng, sự phá hủy hàng loạt đối với các tòa nhà bằng gạch và đá kiểu châu Âu trong trận động đất Mino-Owari năm 1891 và trận động đất Kanto năm 1923 đã dẫn đến các luật mới về quy hoạch thành phố và nhà đô thị.

Bước ngoặt – bộ luật “shin-taishin”
Sự phát triển của các quy định xây dựng tiếp tục diễn ra trong suốt thế kỷ 20. Nhưng phải đến khi một bộ luật được đưa ra vào năm 1981 có tên là “shin-taishin” hay “Bản sửa đổi tiêu chuẩn xây dựng chống động đất mới” – một phản ứng trực tiếp đối với trận động đất ngoài khơi Miyagi 3 năm trước đó – thì đó mới là một bước ngoặt.
Đặt ra các yêu cầu cao hơn về khả năng chịu tải của các tòa nhà mới và tiêu chuẩn về “độ trôi” (số tầng có thể dịch chuyển so với nhau) lớn hơn và nhiều vấn đề khác, các tiêu chuẩn mới đã tỏ ra hiệu quả đến mức những ngôi nhà được xây dựng theo tiêu chuẩn trước năm 1981 trở nên khó bắn và có phí bảo hiểm đắt hơn đáng kể.
Cuộc thử nghiệm thực sự đầu tiên về các quy định này diễn ra vào năm 1995 khi trận động đất lớn Hanshin gây ra sự tàn phá trên diện rộng ở phía nam tỉnh Hyogo. Kết quả thật rõ ràng: 97% các tòa nhà bị sập đã được xây dựng trước năm 1981.

Đổi mới và chuẩn bị
Trận động đất năm 1995 đã khơi dậy một nỗ lực trên toàn Nhật Bản nhằm trang bị thêm cho các tòa nhà cũ theo tiêu chuẩn năm 1981. Kể từ đó, sự đổi mới đã tiếp tục diễn ra trong nhiều thập kỷ, với việc các kiến trúc sư Nhật Bản thường dẫn đầu về thiết kế địa chấn.
Chẳng hạn, một trong những kiến trúc sư nổi tiếng nhất đất nước Kengo Kuma đã hợp tác với công ty dệt may Komatsu Matere vào năm 2016 để phát triển một “tấm rèm” bao gồm hàng nghìn thanh sợi carbon bện để neo trụ sở chính của công ty – chỉ cách tâm chấn của trận động đất hôm 2/1 khoảng 120km – xuống đất như một cái lều. Gần đây hơn, ông Kuma cũng thiết kế một trường mẫu giáo ở phía nam tỉnh Kochi với hệ thống tường kiểu bàn cờ chống động đất.
Ở những nơi khác, các kiến trúc sư hàng đầu của Nhật Bản như Shigeru Ban và Toyo Ito đã đi tiên phong trong việc sử dụng gỗ ghép nhiều lớp (CLT)

Mô hình máy tính tiên tiến cũng cho phép các nhà thiết kế mô phỏng điều kiện động đất và xây dựng phù hợp.
Giáo sư Geller của Đại học Tokyo cho biết: “Có rất nhiều tòa nhà cao tầng và đã có rất nhiều nỗ lực để thiết kế chúng sao cho an toàn, nhưng những thiết kế đó chủ yếu dựa trên mô phỏng máy tính. Chúng ta có thể không biết liệu những mô phỏng đó có chính xác hay không cho đến khi một trận động đất lớn xảy ra.”
Do đó, câu hỏi khiến các kỹ sư và nhà địa chấn học Nhật Bản đau đầu từ lâu vẫn là: Điều gì sẽ xảy ra nếu một trận động đất lớn tấn công trực tiếp vào một thành phố như Tokyo, điều mà các quan chức ở thủ đô Nhật Bản đã cảnh báo có tới 70% khả năng xảy ra trong 30 năm tới?
“Tokyo có lẽ khá an toàn. Nhưng không có cách nào biết chắc chắn điều đó cho đến khi trận động đất lớn tiếp theo thực sự xảy ra”, ông Geller nói thêm.
Em cảm ơn chị Hằng và anh Hoành đã chia sẻ và phân tích thêm để vấn đề xây dựng công trình chống động đất được nhìn nhận cả về mặt kỹ thuật lẫn kinh tế.
Cảm ơn anh, chị giúp cả nhà được hiểu hơn về chủ đề này ạ.
Em. An An
LikeLike
Chào cả nhà,
Giả sử mình tập trung vào chống đỡ động đất (các thứ khác như gió, điện, lửa, nước thì dễ chống đỡ hơn) thì xây building với chuẩn chống động đất của Nhật sẽ tăng giá building lên ít nhất là gấp 3. Thị trường địa ốc chịu không nổi.
Những building cũ thì chỉ phải để yên đó chứ chẳng làm gì được.
Có lẽ câu hỏi để đặt ưu tiên kinh tế là: Nguy có động đất ở VN có cao không?
Từ ngày có nhiều đập thủy điện và hồ chứa nước cho thủy điện, thì có nhiều động đất, gọi là động đất “kích thích”, tạo ra do sức ép của nước trong hồ tích nước thủy điện ép xuống vỏ trái đất.
Ở phía Bắc thì có động đất ở gần vùng các hồ tích nước Hòa Bình, Sơn La, và Lai châu.
Nhưng ở miền Trung thì thường xuyên hơn. Kon Tum không có hồ thủy điện cực lớn nào, nhưng có một loạt nhiều hồ thủy điện nhỏ và vừa. Cho nên Kon Tum có động đất kích thích thường xuyên.
Quảng Nam có hồ thủy điện Sông Tranh II khá lớn cũng xảy ra động đất kích thích những năm gần đây. Người ta cũng lo sợ động đất có thể làm vỡ đập thủy điện Sông Tranh II thì thiệt hại sẽ lớn hơn.
Những trận động đất kích thích thường yếu. Hình như có một trận ở Kon Tum có độ Richter 4.7 là cao nhất, và 4.7 là động đất nhẹ. Cho nên động đất kích thích cũng không phải là nguy cơ lớn.
Nhiều chuyên gia cho rằng động đất kích thích thường chỉ có trong thời kỳ đầu của các hồ tích nước, về sau sẽ giảm dần.
Đây là giải thích độ Richter:
_______
Vậy, chúng ta có cần đặt động đất ở VN vào loại nguy cơ lớn cần tập trung vào để giải quyết hay không?
Đây là vấn đề chọn lựa ưu tiên kinh tế.
Hoành
LikeLike
Hi An An và cả nhà,
Về động đất, thực ra Việt Nam có tiêu chuẩn xây dựng TCVN chống động đất từ 2006, sau đó tiếp tục chỉnh sửa cải thiện. Dù vậy hiểu biết và thích ứng với đông đất còn sơ khai so với kinh nghiệm hàng trăm năm của Nhật Bản. Điều này tức là những nhà cửa công trình xây trước những năm 2010 hầu như không có hề đảm bảo chống động đất, vì không có tiêu chuẩn nào, và đại đa số không được đào tạo và có tư duy chống động đất trong xây dựng. Cho nên ta cần giải pháp cho những toà nhà cũ đã xây rồi thì sao, và toà nhà mới xây ra sao?
Vấn đề lớn nhất của xây dựng VN không phải là không có tiêu chuẩn xây dựng chống động đất mà xây dựng có đảm bảo như đúng thiết kế đã đưa ra và những hưá hẹn của chủ đầu tư hay không. Điều này, phụ thuộc vào cơ quan thẩm tra, đánh giá phê duyệt dự án, và đạo đức của chủ đầu tư. Nếu cứ xây dựng đúng thiết kế tiêu chuẩn thì ít nhất giảm nhiều thiệt hại, thương vong.
Xây dựng ở VN giảm động đất ở VN còn nhiều vấn phải làm ví dụ xây nhà cấu trúc nhẹ như nhà gỗ, nhà tre truyền thống khó chống chịu được 1 – gió, 2 – lửa.
Gió ở VN rất mạnh, miền Trung trở ra miền bắc mạnh hơn miền Nam, có sẵn bản đồ phân vùng các loại gió ở VN để kỹ sư dựa vào đó thiết kế các công trình.
Hoả hạn, cháy: nhà gỗ, tre nữa nguy cơ cháy cao. Động đất dễ gây ra chập điện. cháy nổ. Nhật đã nghiên cứu rất nhiều năm để xử lý gỗ xây nhà sao cho có khả năng làm chậm cháy lại. Thực tế thì không có vật liệu nhẹ nào chống được cháy, nhà bằng đá sỏi, kim cương thì trụ được. Những quảng cáo cửa chống cháy, sơn chống cháy rất gây hiểu lầm vì không phải là nó không cháy mà nó có khả năng không bắt cháy trong vòng bao lâu, vài phút hay vài tiếng, và khi bắt cháy rồi thì chịu được lửa trong vòng bao lâu trước khi cháy rụi. Thời gian, trì hoãn được cháy là điểm quan trọng nhất trong thoát nạn, cứu nạn, và tính bằng giây. Vật liệu cách nhiệt giảm cháy để kéo dài thời gian cho người chạy thoát nạn.
LikeLike