Ô nhiễm không khí đe dọa trực tiếp tới sức khỏe và tính mạng con người. Tại Việt Nam, tình trạng này đang ở mức báo động, đặc biệt ở Hà Nội và TP.HCM. Đáng nói, số liệu về chất lượng không khí tại nhiều địa phương vẫn còn mù mờ, khiến người dân không nắm rõ mức độ ô nhiễm nơi mình sinh sống.
Trước thực trạng này, minh bạch dữ liệu không khí là yếu tố then chốt giúp Nhà nước, người dân và toàn xã hội ý thức rõ về tình trạng không khí và các nguồn gây ô nhiễm. Từ đó, mới có các giải pháp cải thiện không khí hiệu quả và quyết liệt hơn.
An An
- Người chết do ô nhiễm không khí nhiều hơn tai nạn giao thông, COVID-19
- Không rõ nguồn ô nhiễm, giải pháp sẽ ‘mịt mù’
- Minh bạch thông tin trong cuộc chiến chống ô nhiễm không khí
- Cải thiện không khí, tìm lại bầu trời xanh: Việt Nam nên học gì từ quốc tế?
***
09/02/2025 17:41 GMT+7
Người chết do ô nhiễm không khí nhiều hơn tai nạn giao thông, COVID-19
Theo nghiên cứu của WHO, hơn 60.000 người tử vong năm 2016 do bệnh tim, đột quỵ, ung thư phổi, phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm phổi ở Việt Nam đều có liên quan tới ô nhiễm không khí.
Bệnh nhân tại phòng cấp cứu ở Trung tâm Hô hấp – Bệnh viện Bạch Mai – Ảnh: DANH KHANG
Theo Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), 9 trong số 10 người đang hít thở không khí có chứa mức độ ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo.
Năm chất gây ô nhiễm nguy hiểm nhất trong không khí
Theo UNEP hằng năm trên thế giới có khoảng 7 triệu người tử vong do các bệnh lý, nhiễm trùng liên quan đến ô nhiễm không khí. Số người tử vong do ô nhiễm không khí cao hơn năm lần số người tử vong do tai nạn giao thông, và nhiều hơn số người tử vong chính thức do COVID-19.
Ô nhiễm không khí cũng liên quan chặt chẽ đến biến đổi khí hậu vì các chất gây ô nhiễm tồn tại trong thời gian ngắn như: metan, carbon đen và ozone mặt đất…
Theo UNEP có năm chất gây ô nhiễm nguy hiểm nhất trong môi trường không khí đó là: bụi mịn PM2.5, ozone mặt đất, nitơ dioxide, carbon đen, metan.
Trong đó các hạt bụi mịn PM2.5 sinh ra từ việc đốt nhiên liệu không sạch để nấu ăn hoặc sưởi ấm, đốt chất thải – phụ phẩm nông nghiệp, các hoạt động công nghiệp và giao thông vận tải… Lo ngại hơn khi các hạt PM2.5 xâm nhập sâu vào máu, phổi sẽ làm tăng nguy cơ tử vong cho bệnh tim, phổi, đột quỵ, ung thư.
Bên cạnh đó việc tiếp xúc với ozone mặt đất gây ra ước tính 472.000 người tử vong sớm mỗi năm trên thế giới.
Không chủ quan với ô nhiễm không khí
Trong khi đó, nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Văn Phước (Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật TP.HCM) cùng các cộng sự công bố với nhiều con số đáng chú ý.
Cụ thể, trong tổng 1.397 ca tử vong tại TP.HCM năm 2017, số người tử vong do bệnh tim và phổi là cao nhất (841 người, chiếm 60,20%), đứng thứ hai là bệnh tim thiếu máu cục bộ (483 người, chiếm 34,57%) và cuối cùng là ung thư phổi (73 người, chiếm 5,23%).
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, bụi mịn PM2.5 có ảnh hưởng nhiều nhất tới sức khỏe, là nguyên nhân tử vong của 1.137 người (81,32%), sau đó đến NO2 (171 người, chiếm 12,31%) và cuối cùng là SO2 (88 người, chiếm 6,37%).
Ô nhiễm không khí là nguyên nhân gây tử vong khoảng 13,46% số ca tử vong tại TP.HCM.
Theo nghiên cứu của WHO cũng cho thấy hơn 60.000 người tử vong năm 2016 do bệnh tim, đột quỵ, ung thư phổi, phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm phổi ở Việt Nam đều có liên quan tới ô nhiễm không khí.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, Phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai Vũ Văn Giáp cho hay bên cạnh việc thực hiện biện pháp phòng tránh, mỗi người dân cần chung tay góp một việc nhỏ để bảo vệ môi trường sống trong lành hơn.
Thực thi Luật Bảo vệ môi trường 2020 cần được xem là nhiệm vụ ưu tiên
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, luật sư Trương Anh Tú, chủ tịch TAT Law Firm cho biết Hà Nội – “trái tim của cả nước” đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về ô nhiễm không khí.
Luật Bảo vệ môi trường 2020 được ban hành với nhiều điểm mới mang tính cách mạng, nhưng để những quy định này đi vào thực tế đòi hỏi sự nỗ lực lớn từ các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và toàn xã hội.
Theo luật sư Tú, các nguồn thải gây ô nhiễm không khí tại Hà Nội đã được báo Tuổi Trẻ chỉ ra một cách rõ ràng, bao gồm bụi đường, công trình xây dựng, khói từ các làng nghề – cụm công nghiệp, đốt rác – đốt rơm rạ tự phát và phương tiện giao thông chạy bằng nhiên liệu hóa thạch… Nhưng việc kiểm soát có thể chưa hiệu quả và có dấu hiệu thiếu quyết liệt trong thực thi pháp luật.
“Luật quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong việc giảm thiểu phát thải và xử lý ô nhiễm, yêu cầu các cơ sở sản xuất – làng nghề phải áp dụng công nghệ xử lý khí thải, đặt ra các tiêu chuẩn về khí thải đối với phương tiện giao thông. Tuy nhiên thực tế cho thấy việc kiểm tra, giám sát, xử phạt chưa nhanh chóng, hiệu quả, đồng bộ để tạo sức răn đe”, luật sư Tú nhấn mạnh.
Chính phủ sẽ xây dựng đề án khắc phục ô nhiễm không khí ở các đô thị
Tại hội nghị tổng kết công tác năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025 của Chính phủ với chính quyền địa phương (ngày 8-1-2025), Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Hòa Bình cho biết năm 2025 Chính phủ sẽ xây dựng, triển khai đề ắn khắc phục ô nhiễm không khí ở các đô thị.
Trong khi đó, cuối năm 2024, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đỗ Đức Duy cho hay tình trạng ô nhiễm không khí đã gia tăng ở mức đáng lo ngại trong khoảng 10 năm trở lại đây ở một số đô thị như Hà Nội, TP.HCM.
Không rõ nguồn ô nhiễm, giải pháp sẽ ‘mịt mù’
Chất lượng không khí của Hà Nội thời gian gần đây có ngày ở ngưỡng kém, xấu – ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Trong khi đó lộ trình chuyển đổi xe máy xăng sang xe máy điện sao cho hiệu quả đang nhận được nhiều sự quan tâm hơn.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, đại biểu Quốc hội NGUYỄN QUANG HUÂN (ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội) cho rằng cần nhanh chóng có biểu đồ phát thải thì mới đưa ra các giải pháp.
Quan trắc khí thải bị “ngó lơ”
* Dù chưa bước vào “mùa” ô nhiễm nhưng chất lượng không khí của Hà Nội thời gian gần đây có ngày ở ngưỡng xấu, theo ông, đâu là nguyên nhân?
– Tôi nghĩ rằng gọi “mùa” ô nhiễm cũng chỉ là tương đối thôi vì còn cảm tính, chưa đủ cơ sở khoa học. Có thể cơ quan này cơ quan kia có số liệu trong một vài năm rồi nói rằng “mùa” ô nhiễm không khí diễn ra từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau do mùa đông, do hoạt động xây dựng.
Tôi nghĩ hai yếu tố này chỉ làm gia tăng ô nhiễm chứ không phải tác nhân chính gây ra ô nhiễm không khí. Nếu muốn biết chính xác phải cân đong đo đếm theo thời gian thực, tìm ra nguyên nhân các nguồn gây ô nhiễm không khí, cụ thể bao nhiêu phần trăm thuộc về xây dựng, giao thông, sản xuất công nghiệp và năng lượng, bao nhiêu phần trăm do đốt rác và rơm rạ tự phát…
Tôi tìm hiểu và được biết Ngân hàng Thế giới (World Bank) cùng một số tổ chức quốc tế đã xây dựng giúp chúng ta một vài kịch bản tăng trưởng kinh tế gắn với phát thải khí nhà kính, quy ra khí carbon tương đương.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần sớm xây dựng được các kịch bản miêu tả qua biểu đồ như vậy để xác định chính xác nguyên nhân gây ô nhiễm không khí. Sau khi đã có số liệu khoa học mới đưa ra biện pháp cắt giảm các nguồn thải gây ô nhiễm không khí chính xác, hiệu quả.
* Hà Nội đã thành công trong việc cấm đun nấu bằng bếp than tổ ong nhưng khí thải từ làng nghề, cụm công nghiệp, khu công nghiệp hay đốt rơm rạ và rác tự phát… vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ?
– Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã quy định đối với những nơi như làng nghề, cụm, khu công nghiệp phát sinh khí thải đến 2.000 tấn CO2/năm thì phải quan trắc thường xuyên, nhưng công việc này đến nay đã được bộ và các địa phương thực hiện đầy đủ chưa?
Vừa rồi Quốc hội đi giám sát về lĩnh vực môi trường thì phát hiện nhiều khu công nghiệp còn chưa quan trắc khí thải theo thời gian thực, chỉ mới quan trắc số liệu phục vụ đoàn kiểm tra thanh tra. Họ giải thích với rất nhiều lý do, có cả chuyện trạm quan trắc bị hỏng không phát được 24/24h.
Thực tế cho thấy do quá trình thực hiện thiếu trách nhiệm, giám sát chứ không phải do thể chế hay chính sách. Vậy nên vai trò của chính quyền cấp xã thời gian tới cũng rất quan trọng trong việc giảm phát thải.
Khí thải từ làng nghề và các cụm, khu công nghiệp nếu không được quản lý tốt thì vừa gây nên hiệu ứng khí nhà kính, ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu vừa sinh ra bụi mịn PM2.5 làm ô nhiễm không khí, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
Cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, trang bị thêm công nghệ trong quá trình phục vụ xử lý vi phạm. Bên cạnh đó cán bộ cũng cần thay đổi tư duy từ quản lý sang quản trị, xem vấn đề mà người dân gặp phải như chuyện nhà mình để xử lý công việc như Tổng Bí thư Tô Lâm từng nói.
* Ông nghĩ gì về ý kiến cho rằng nguồn thải từ các công trình xây dựng như nhà chung cư cao tầng, khu đô thị, đại đô thị… đang bị bỏ quên, chưa ngăn chặn triệt để?
– Không chỉ riêng gì Luật Bảo vệ môi trường 2020 mà trong các luật chuyên ngành khác về xây dựng cũng đã quy định khi thi công phải có biện pháp an toàn, bảo hộ, che chắn ngăn bụi phát tán ra môi trường nhưng chúng ta hiện nay không thực hiện được.
Hay như xe cộ chở đất cát tung hoành ngoài đường phố vẫn còn rất phổ biến. Các cơ quan chức năng của Nhà nước phải thực thi theo nhiệm vụ được giao thì mới xử lý dứt điểm.
Nhanh chóng bắt tay xây dựng biểu đồ phát thải
* Có ý kiến cho rằng để sớm có những giải pháp phòng chống ô nhiễm không khí một cách hiệu quả thì phải đẩy nhanh quá trình kiểm kê khí thải nói chung, trong đó có khí thải nhà kính?
– Mới đây tại một hội thảo khoa học ở TP Cần Thơ, tôi đã đặt câu hỏi đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường đưa ra các số liệu kiểm kê khí nhà kính và tiến tới lập mô hình phát thải toàn quốc để biết được thời điểm nào là phát thải đỉnh nhưng vẫn chưa nhận được câu trả lời.
Vì sao tôi đặt câu hỏi này, bởi vì từ năm 2022, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 888/QĐ-TTg thực hiện kế hoạch COP26 với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Theo quyết định này, từng ngành nghề phải giảm phát thải theo lộ trình, nhưng để thực hiện được thì trước hết Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần lập mô hình theo dạng biểu đồ để rõ lộ trình thực hiện.
Trong các quyết định còn cho thấy đến năm 2035 chúng ta sẽ phát thải đỉnh (phát thải nhiều nhất) và đến 2050 sẽ phát thải bằng 0 có nghĩa là phát thải bao nhiêu thì hấp thụ bấy nhiêu.
Nếu bây giờ không có biện pháp thay đổi các nhà máy nhiệt điện bằng nhiên liệu sạch như năng lượng tái tạo hay hydrogen thì nó vẫn phát thải cao. Vậy giải pháp đưa ra phải khả thi để tập trung đầu tư năng lượng tái tạo, năng lượng sạch hay năng lượng nguyên tử.
* Như vậy việc phải có biểu đồ phát thải là việc cần thiết và bắt buộc?
– Đúng vậy. Theo tôi, toàn bộ nền kinh tế phải có biểu đồ phát thải với các kịch bản khác nhau, trong đó ngành năng lượng chiếm tới gần 70% lượng khí thải toàn quốc cần có một biểu đồ riêng.
Hiện nay ngành năng lượng đang phát thải khoảng 500 triệu tấn carbon tương đương/năm, đến năm 2035 sẽ tăng lên khoảng 800 triệu tấn. Nếu không có biện pháp giảm thải, vì tốc độ tăng trưởng càng cao thì càng cần nhiều điện hơn cho công nghiệp, xây dựng, giao thông, nông nghiệp…
Sau đó cần loại bỏ dần nhiệt điện, đưa điện hạt nhân, năng lượng tái tạo vào thay thế và đến năm 2050 phát thải toàn quốc chỉ còn đâu đó 180 triệu tấn carbon/năm, sẽ trồng rừng bổ sung để hấp thụ về lại bằng 0. Vậy nên phải đưa ra kế hoạch, lộ trình thể hiện bằng biểu đồ để triển khai từng bước.
* Nhìn vào kinh nghiệm của một số quốc gia như Singapore hay đô thị như Bắc Kinh (Trung Quốc) đã thành công cải thiện chất lượng không khí, theo ông, cần bắt tay ngay vào những công việc gì?
– Số liệu từ Ngân hàng Thế giới năm 2022 cho thấy Việt Nam chỉ phát thải 0,8% lượng phát thải toàn cầu, Mỹ chiếm 12%, Trung Quốc gần 24%, các quốc gia thành viên OECD được biết đến với nền kinh tế thịnh vượng cũng đang phát thải chiếm hơn 29%.
Tuy nhiên nếu tính trên mỗi USD của GDP thì Mỹ chỉ khoảng 0,28 kilogam carbon/USD; các nước thành viên OECD chỉ có 0,27; Trung Quốc và Thái Lan khoảng 0,84 – 0,85; còn Việt Nam là 1,48 kilogam carbon/USD. Có nghĩa là Việt Nam làm được 1 USD thì thải ra gần 1,5 kilogam carbon tương đương, tỉ lệ rất lớn, làm cho nền kinh tế đậm đặc carbon.
Theo kịch bản thông thường (BAU), năm 2050 Việt Nam sẽ thải ra gần 1,5 tỉ tấn carbon tương đương, gần gấp ba lượng khí thải hiện nay.
Các nước họ đã lập ra các mô hình dưới dạng biểu đồ để nhìn thấy rõ thực trạng, việc phải triển khai và đưa các biện pháp công nghệ đảm bảo lộ trình giảm phát thải khí nhà kính. Họ phân ra sáu nguồn thải khí nhà kính gồm năng lượng và quá trình công nghiệp, giao thông, xây dựng, chất thải, nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất.
Khi có biểu đồ, có kế hoạch mới đưa ra các giải pháp, vừa đỡ tốn kém. Nếu chúng ta cứ nói chung chung, không đo đếm mà chỉ nhìn hiện tượng bằng cảm tính và không dựa vào số liệu nghiên cứu khoa học sẽ rất khó thực hiện, không tạo ra đồng thuận và người dân sẽ bị ảnh hưởng.
Phải công khai, minh bạch số liệu quan trắc
* Thông qua báo chí cho thấy số liệu về nguồn thải dẫn đến ô nhiễm không khí còn vênh nhau, theo ông, các cơ quan chức năng cần minh bạch và khắc phục việc này ra sao?
– Khi công bố số liệu phải bao quát nội hàm đầy đủ, ví dụ bụi mịn PM2.5 – thủ phạm gây ra ô nhiễm không khí khác với khí thải nói chung. Nếu không cẩn trọng sẽ làm nhiễu loạn thông tin, đánh tráo khái niệm, gây hoang mang, ảnh hưởng đến cái chung, không tìm ra giải pháp để xử lý triệt để vấn đề.
Luật Bảo vệ môi trường 2020 quy định số liệu quan trắc phải công khai cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp được biết, vậy nên Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng phải công bố thường xuyên. Số liệu phải quan trắc theo thời gian thực và minh bạch hóa số liệu.
Chuyển đổi giao thông còn nhiều câu hỏi
Theo đại biểu Nguyễn Quang Huân, chuyển từ xe xăng sang xe điện là xu thế tất yếu nhưng cần trả lời nguồn điện để sạc có sạch hay không? Nguồn thải từ giao thông là bao nhiêu phần trăm? Nếu triệt tiêu nguồn thải này thì giảm được bao nhiêu phần trăm ô nhiễm? Người dân không dùng xe xăng thì phương tiện nào thay thế?…
Các nước như Nhật, Trung Quốc cải thiện chất lượng không khí bằng tăng hạ tầng giao thông công cộng. Người dân có rất nhiều lựa chọn như đi tàu điện ngầm, xe buýt công cộng, xe đạp…
Vậy nên cái gốc vẫn là các dữ liệu khoa học. Các quyết định cần dựa trên cơ sở khoa học để đưa ra lập luận logic rồi dẫn tới một giải pháp phù hợp, từ đó có quyết định khoa học mang tính khả thi cao.
Báo Tuổi Trẻ tổ chức hội thảo “Giải pháp giảm ô nhiễm không khí đô thị”
Trong bối cảnh đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng, ô nhiễm không khí đã trở thành một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất tại Việt Nam, đặc biệt là tại các đô thị lớn. Thực hiện Kết luận 153/KL-TTg của phó thủ tướng, các địa phương cần kiểm kê nguồn phát thải và xây dựng cơ sở dữ liệu kết nối với Bộ Tài nguyên và Môi trường, đặc biệt là UBND TP Hà Nội, UBND TP.HCM khẩn trương khắc phục tình trạng ô nhiễm để trong 5 năm tới đạt mục tiêu chỉ số ô nhiễm không khí ở ngưỡng an toàn đối với sức khỏe con người.
Hội thảo “Giải pháp giảm ô nhiễm không khí đô thị” do báo Tuổi Trẻ phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM thực hiện, nhằm chia sẻ kinh nghiệm, các bài học điển hình và giải pháp giảm ô nhiễm hiệu quả từ các cơ quan, tổ chức và chuyên gia.
Đồng thời, hội thảo cũng tạo diễn đàn kết nối đa bên nhằm xây dựng mạng lưới kết nối chặt chẽ trong việc cải thiện chất lượng không khí, hướng đến các đô thị xanh – không khí sạch – sức khỏe bền vững thông qua tăng cường sự phối hợp giữa các bộ ngành, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng trong kiểm soát ô nhiễm không khí.
Hội thảo “Giải pháp giảm ô nhiễm không khí đô thị” thuộc chuỗi hoạt động của dự án Việt Nam Xanh 2025. Chương trình diễn ra từ 8h30 – 11h30, ngày 15-8-2025, tại khách sạn Tân Sơn Nhất, số 202 Hoàng Văn Thụ, phường Đức Nhuận, TP.HCM.
Quý bạn đọc quan tâm sự kiện vui lòng đăng ký tại link đăng ký sau: https://forms.gle/AKsDbj1TVBNphTQSA
Chủ Nhật 25/05/2025 , 08:20 (GMT+7)
Khương Trung
NNMT – Nhà báo – 08:20 – 25/05/2025
Minh bạch thông tin trong cuộc chiến chống ô nhiễm không khí
Bài học từ Bắc Kinh, Ấn Độ và Mỹ cho thấy minh bạch thông tin không khí là bước khởi đầu không thể thiếu trong mọi chiến lược chống ô nhiễm.
Dữ liệu không cứu được ai, nhưng sự giấu giếm dữ liệu có thể giết chết cả một thế hệ.
Đó không phải là câu nói cường điệu, mà là thực tế từng xảy ra ở Bắc Kinh cách đây hơn một thập kỷ, khi người dân ra đường với khẩu trang N95, trong khi bản tin thời tiết vẫn báo “trời nhiều mây”. Thủ đô của Trung Quốc lúc ấy ngột ngạt không chỉ vì khói bụi, mà còn vì bức màn dối trá phủ lên những con số.
Cho đến khi một Đại sứ quán nước ngoài, cụ thể là Mỹ cho lắp trạm quan trắc độc lập và công bố chỉ số PM2.5 theo giờ, tình thế mới bắt đầu đổi chiều. Việc đó không chỉ làm dậy sóng dư luận, mà còn trở thành liều thuốc thử phơi bày năng lực và thiện chí của chính quyền trong đối phó ô nhiễm không khí.
Và Bắc Kinh, sau nhiều lần phủ nhận, cuối cùng phải chọn minh bạch thông tin, như cách một bệnh nhân buộc phải soi chiếu tổn thương để bắt đầu điều trị.
Việc minh bạch thông tin tưởng như là một động thái kỹ thuật, công bố chỉ số AQI, bảng điện tử ngoài trời, vài ứng dụng cập nhật thời gian thực… Nhưng thực chất, nó là một giải pháp chính trị sâu sắc.
Bởi ngay khi các con số được mở ra cho toàn dân, quyền được biết trở thành quyền được yêu cầu hành động.
Người dân không còn thụ động với những thông tin từ chính quyền, mà đòi hỏi các chính sách hạn chế phương tiện cá nhân, đóng cửa nhà máy gây ô nhiễm, cải tạo lưới điện than, tăng cường cây xanh, kiểm soát chất lượng xăng dầu…
Ở Bắc Kinh, chỉ sau ba năm công bố dữ liệu PM2.5 công khai, mức ô nhiễm trung bình giảm hơn 30%. Trong một hệ thống vốn không nổi tiếng về sự cởi mở, minh bạch thông tin lại trở thành cú hích tạo ra sức ép từ dưới lên, buộc chính quyền địa phương phải đối mặt với sự thật và hành động vì lòng tin xã hội.
Ấn Độ cũng từng chọn cách này, trong bối cảnh New Delhi nhiều năm liên tiếp dẫn đầu thế giới về mức độ ô nhiễm không khí. Ứng dụng “Sameer” của chính phủ được thiết kế để người dân cập nhật chất lượng không khí theo thời gian thực, với từng khu vực cụ thể.
Nhờ đó, báo chí, xã hội dân sự và cả tòa án tối cao Ấn Độ có cơ sở dữ liệu để chất vấn, buộc các địa phương phải ra lệnh cấm đốt rơm rạ, kiểm soát xe diesel, và lập quỹ bảo vệ không khí.
Tại Mỹ, minh bạch thông tin là điều hiển nhiên. Hệ thống AirNow.gov của Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) công khai mọi chỉ số ô nhiễm. Khi mức AQI vượt ngưỡng, không cần có ai ra lệnh: toàn bộ hệ thống trường học, bệnh viện, giao thông, thể thao đều tự động kích hoạt cảnh báo.
Tại đây, người dân tin vào dữ liệu, và dữ liệu vận hành chính sách, đó là vòng tròn tin cậy mà bất cứ quốc gia văn minh nào cũng hướng đến.
Trong khi đó, vấn đề của nhiều thành phố châu Á, trong đó có không ít đô thị Việt Nam thì không nằm ở năng lực công nghệ, mà nằm ở tâm thế quản lý. Đó là sự sợ hãi sự minh bạch thông tin, sợ bị phản ứng… và đã chọn cách an toàn với những số liệu.
Tuy nhiên, che giấu không làm không khí trong lành hơn. Nó chỉ làm tăng khoảng cách giữa sự thật và sự tin tưởng, vốn là gốc rễ của mọi khủng hoảng xã hội.
Khi người dân không thể biết mức độ ô nhiễm không khí đang ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe của mình, họ không thể điều chỉnh hành vi.
Khi doanh nghiệp không biết thành phố đang đặt chỉ tiêu gì về chất lượng không khí, họ không có động lực đổi mới công nghệ.
Và khi nhà báo không tiếp cận được dữ liệu, họ không thể phản ánh đúng mối nguy mà cả xã hội đang đối mặt.
Việt Nam, đã đến lúc phải lựa chọn?!
Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng… đều đang có hệ thống quan trắc không khí. Nhưng nếu hỏi người dân ở Quận 12, quận Hoàng Mai, hay Cẩm Lệ hôm nay PM2.5 là bao nhiêu, nguy cơ là gì, thì phần lớn đều lắc đầu. Có nghĩa là: dữ liệu đang tồn tại, nhưng không có công dụng trong quản trị công…
Minh bạch thông tin không phải là vũ khí mạnh nhất để dẹp ô nhiễm, nhưng là điều kiện tiên quyết để những vũ khí khác phát huy hiệu quả.
Không thể có cảnh báo y tế nếu không có số liệu. Không thể có chính sách ưu tiên xe điện nếu không biết nguồn gây ô nhiễm lớn nhất đến từ đâu. Không thể có trách nhiệm giải trình nếu dữ liệu chỉ nằm trong tay một vài cán bộ kỹ thuật.
Minh bạch là điểm khởi đầu của sự cải cách, và cũng là thuốc thử cho cam kết của chính quyền. Chính phủ muốn dân tin vào các chỉ số tăng trưởng, vào số liệu ngân sách, vào quy hoạch… thì không thể tiếp tục giấu con số về thứ người dân hít thở mỗi ngày.
Thông tin về nó phải được xem là tài sản công, được công bố công khai như ngân sách, quy hoạch hay tình hình dịch bệnh. Điều này không chỉ để bảo vệ sức khỏe, mà còn là cơ sở để hình thành một nền văn hóa chính sách minh bạch và có trách nhiệm.
Bắc Kinh đã đi trước một bước, không phải vì họ dân chủ hơn, mà vì họ hiểu rằng điều tệ hại nhất không phải là ô nhiễm, mà là mất lòng tin. Một khi dữ liệu bị nghi ngờ, mọi cam kết sẽ trở nên vô nghĩa.
Và một khi người dân mất niềm tin vào những gì họ hít thở mỗi ngày, thì chính quyền sẽ khó giữ được sự tín nhiệm cho những chính sách dài hạn hơn.
Bạn đang đọc bài viết Minh bạch thông tin trong cuộc chiến chống ô nhiễm không khí tại chuyên mục Lăng kính của Báo Nông nghiệp và Môi trường. Mọi thông tin góp ý và chia sẻ, xin vui lòng gửi về hòm thư baonnmt@gmail.com hoặc số điện thoại, Zalo, Viber: 0369024447.
***
Cải thiện không khí, tìm lại bầu trời xanh: Việt Nam nên học gì từ quốc tế?
Từ thực tế ô nhiễm ở Hà Nội và kinh nghiệm từ quốc tế, yêu cầu cấp bách đặt ra với Việt Nam là cần phải hành động quyết liệt và thực chất hơn, bởi nếu chậm, bầu trời xanh vẫn sẽ chỉ là mơ ước!

Nhức nhối ô nhiễm không khí tại Hà Nội. (Ảnh: TTXVN)
Nhiều năm nay, cứ vào mùa ô nhiễm (từ tháng Chín năm trước đến tháng Tư năm sau), người dân Hà Nội lại thức dậy với bầu trời xám xịt. Đó không phải sương mù, cũng chẳng phải khói bếp, mà là lớp bụi mịn đặc quánh trong không khí. Nhiều thời điểm, Hà Nội còn đứng đầu danh sách các thành phố ô nhiễm nhất thế giới với chỉ số ô nhiễm “rất không tốt cho sức khỏe.”
Nhìn ra thế giới, Bắc Kinh (Trung Quốc) mất hơn 20 năm để giảm thiểu ô nhiễm không khí và họ đã đem bầu trời xanh trở lại. Tại New Delhi (Ấn Độ) hay Los Angeles (Mỹ), cũng từng đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí, tuy nhiên nhờ quyết liệt từ thể chế chính sách tới công cụ giám sát, ngăn chặn nguồn thải, môi trường không khí đã “trong” và “xanh” trở lại.
Từ thực tế ô nhiễm ở Hà Nội và kinh nghiệm từ quốc tế, rõ ràng yêu cầu cấp bách đặt ra với Việt Nam là cần phải hành động quyết liệt, với các giải pháp “sát” thực tế hơn – bởi nếu chậm, bầu trời xanh vẫn sẽ chỉ là mơ ước!
Không quyết liệt sẽ không thể thay đổi
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ô nhiễm không khí đang là một trong những thách thức môi trường nghiêm trọng tại Việt Nam, đặc biệt tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Thực tế năm 2024 cho thấy mức độ ô nhiễm không khí đã tăng trung bình 10% so với năm trước đó.
Khói bụi từ giao thông, công nghiệp, xây dựng cùng điều kiện thời tiết bất lợi, là nguyên nhân khiến bầu không khí tại các đô thị lớn ngày càng ngột ngạt. Trong đó, giao thông được xác định là nguồn phát thải chính, cùng với các hoạt động công nghiệp đã làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm.
Điều đáng nói là, gần đây, dù Việt Nam đã có Luật Bảo vệ môi trường 2020, nhưng công tác thực thi vẫn gặp phải không ít khó khăn, thậm chí thẳng thắn mà nói thì chính sách của luật vẫn chưa vào cuộc sống!
“Chúng ta đã có luật, nhưng nếu không có hành động cụ thể và quyết liệt thì tình hình sẽ không thể thay đổi. Đặc biệt, khi các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đang bị ô nhiễm không khí nghiêm trọng, thì trách nhiệm của các cơ quan chức năng, các lãnh đạo địa phương, phải được xác định rõ ràng và hành động kịp thời,” Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà nhấn mạnh tại cuộc họp toàn quốc bàn về các giải pháp toàn diện và cấp bách để xử lý ô nhiễm không khí tại các địa phương, ngày 27/3/2025.
Đến thời điểm những ngày đầu tháng 5/2025, tình trạng ô nhiễm không khí vẫn tiếp tục là nỗi ám ảnh thường trực với người dân ở Thủ đô.
Trong khi Việt Nam nói chung, các đô thị lớn nói riêng, đặc biệt là Hà Nội, vẫn loay hoay với các giải pháp mang tính tình thế, thì Bắc Kinh đã có những bước tiến dài trong kiểm soát ô nhiễm. Một loạt các biện pháp mạnh mẽ như hạn chế phương tiện cá nhân, nâng cấp hạ tầng giao thông công cộng, kiểm soát chặt chẽ công nghiệp và sử dụng năng lượng sạch,… đã giúp thành phố này cải thiện đáng kể chất lượng không khí chỉ sau một thập kỷ.
Minh chứng là kể từ khi bắt đầu chiến dịch “tuyên chiến” với bụi mịn PM2.5 vào năm 2013, các chỉ số ô nhiễm chính tại Bắc Kinh đều giảm mạnh: PM2.5 giảm 65,9%, PM10 giảm 50%, NO2 giảm 57,1%, và SO2 giảm tới 88,7%. Điều này không chỉ cho thấy thành công của “Cuộc chiến giành lại bầu trời xanh,” mà còn là niềm hy vọng cho người dân Bắc Kinh về tương lai không khói bụi.
Để chống ô nhiễm, cải thiện môi trường sống cho đất nước, Ấn Độ cũng đã triển khai một số giải pháp sáng tạo trong việc khắc phục ô nhiễm không khí như Chương trình Odd-Even (chia số chẵn – lẻ). Đây là một biện pháp đặc biệt được thực hiện tại New Delhi, yêu cầu các xe ôtô chỉ lưu thông vào những ngày có số đăng ký chẵn hoặc lẻ, tùy thuộc vào ngày trong tuần. Ngoài ra, hệ thống ứng phó GRAP cũng cho phép New Delhi đưa ra các biện pháp ứng phó cụ thể theo từng cấp độ AQI (chỉ số ô nhiễm không khí).
Tại châu Mỹ, từ năm 1970, nước Mỹ đã ban hành Luật Không khí sạch. Sau khi luật được ban hành thì lượng phát thải của sáu chất ô nhiễm phổ biến tại quốc gia này đã được giám sát và giảm trung bình 69%.
Ngoài ra, Mỹ còn có chính sách giảm khí thải từ phương tiện giao thông; tiến hành một loạt các biện pháp khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo, cải thiện giao thông công cộng, giảm ô nhiễm từ các nguồn nông nghiệp và đốt rừng, cùng với đẩy mạnh các hoạt động giáo dục cộng đồng.

Tại Singapore – họ cũng quyết liệt trong việc sử dụng công nghệ tiên tiến để giảm ô nhiễm không khí. Họ áp dụng hệ thống kiểm tra khí thải xe cộ rất nghiêm ngặt, khuyến khích việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng.
Cần dữ liệu minh bạch và công nghệ sạch
Kinh nghiệm từ các nước trên cho thấy ứng phó với ô nhiễm không khí đòi hỏi sự đầu tư, hành động quyết liệt, nhất là củng cố vững chắc nền tảng dữ liệu minh bạch – bằng chứng khoa học, để làm cơ sở giải quyết các nguồn gây ô nhiễm chủ yếu.
“Dữ liệu kém chất lượng còn tệ hơn là không có dữ liệu,” bà Khalidi – Trưởng Đại diện Thường trú của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, dẫn lời của một nhà khoa học và nhấn mạnh đó cũng là lý do UNDP cam kết sẽ đồng hành với Việt Nam xây dựng mạng lưới quan trắc, kiểm kê phát thải và ứng dụng AI, IoT vào dự báo ô nhiễm.
Việc đầu tư xây dựng mạng lưới quan trắc, kiểm kê phát thải trên tại Việt Nam, hướng tới mục tiêu cải thiện hệ thống giám sát, tăng cường khả năng dự báo và cảnh báo sớm, đặc biệt trong bối cảnh dữ liệu chất lượng thấp hoặc thiếu minh bạch đang là rào cản cho hoạch định chính sách hiệu quả.
Ngoài ra, Việt Nam cũng cần có công nghệ sạch và cách tiếp cận đa phương, đa ngành, cùng với sự chỉ đạo của Chính phủ cũng như sự phối hợp hiệu quả giữa cấp trung ương, địa phương, và với các ngành, doanh nghiệp, trường đại học, cơ quan truyền thông và các đối tác cộng đồng chủ chốt.
Phó Giám đốc Điều hành Clean Air Asia Atty Glynda, cũng cho rằng khi thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng không khí, các quốc gia sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là vấn đề nguồn tài chính. Vì vậy, để giải quyết thách thức này, Chính phủ cần hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp, tổ chức và các bên liên quan nhằm phân tích chi phí một cách hiệu quả.
“Cụ thể, Chính phủ cần phải chi tiết hóa các khoản chi phí, xác định rõ nguồn lực, trang thiết bị cần thiết, cũng như các khoản chi phí bảo trì trong quá trình triển khai các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm,” bà Atty Glynda chia sẻ.
Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh,” Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương cũng cho rằng cần ưu tiên việc chủ động phòng ngừa, bảo vệ môi trường không khí thay vì phải chạy theo khắc phục, xử lý môi trường khi đã bị ô nhiễm. Vì vậy, bà Hương lưu ý rằng mặc dù Việt Nam đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong giai đoạn tới, song cũng sẽ không đánh đổi bằng môi trường sống và sức khỏe người dân.
“Chúng ta không phát triển trên một bầu trời còn khói bụi. Chúng ta không xây dựng tương lai trên một nền chất lượng không khí còn ô nhiễm. Muốn phát triển bền vững, cần phải làm chủ việc cải thiện chất lượng không khí và chủ động bảo vệ, nâng cao sức khỏe toàn dân,” bà Hương nhấn mạnh.
Với quyết tâm cải thiện môi trường, đưa bầu trời xanh trở lại, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường – ông Lê Công Thành cũng kêu gọi các đối tác, tổ chức quốc tế tiếp tục đồng hành, hỗ trợ Việt Nam về công nghệ, tri thức và nguồn lực để thực hiện hiệu quả công tác quản lý chất lượng không khí.
Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng hy vọng các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân sẽ tích cực tham gia vào các chương trình hành động, từ việc gìn giữ môi trường sạch sẽ xung quanh; gia tăng sử dụng phương tiện công cộng, giảm phát thải cá nhân đến triển khai, áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến trong sản xuất và xử lý khí thải, chất thải./.






