- Mất cân bằng giới tính tại Việt Nam ngày càng nghiêm trọng
- Bình đẳng giới để kiểm soát chênh lệch giới tính khi sinh
- Cần lộ trình dài hạn để cải thiện tỷ số giới tính khi sinh
***
VNE – Thứ ba, 6/5/2025, 09:05 (GMT+7)
Mất cân bằng giới tính tại Việt Nam ngày càng nghiêm trọng
Tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta ngày càng nghiêm trọng, trong đó Bắc Ninh là địa phương có mức chênh lệch cao nhất, đạt 119,6 bé trai trên 100 bé gái.
Số liệu được công bố trong Báo cáo quốc gia đầu tiên về đăng ký và thống kê hộ tịch giai đoạn 2021-2024, vào cuối tháng 4. Báo cáo do Cục Thống kê xây dựng trên cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc, với sự hỗ trợ của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) và Tổ chức Y tế công cộng (VS).
Tỷ số giới tính khi sinh, vốn phản ánh sự cân bằng tự nhiên giữa trẻ trai và trẻ gái khi ra đời, theo chuẩn mực sinh học ở mức 104-106 bé trai/100 bé gái. Khi tỷ số này vượt quá 106, cho thấy có sự khác biệt với mức sinh học bình thường và phản ánh những can thiệp có chủ ý trên khía cạnh về giới.
“Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến sự mất cân bằng tự nhiên, đe dọa sự ổn định dân số của quốc gia và toàn cầu”, Cục Thống kê ghi nhận.
Trên thực tế, vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam đã được phát hiện qua các cuộc điều tra biến động dân số hằng năm. Chính phủ đã triển khai nhiều chính sách và giải pháp để kiểm soát nhưng tình trạng chưa được khắc phục. Từ năm 2021 đến 2024, tỷ số này lần lượt là 109,5; 109,7 và 110,7 bé trai trên 100 bé gái, liên tục vượt xa mức tự nhiên.
“Rõ ràng, bất chấp những nỗ lực của Chính phủ trong việc giảm thiểu tình trạng can thiệp để lựa chọn giới tính khi mang thai ở Việt Nam, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn chưa được cải thiện, thậm chí còn có xu hướng nghiêm trọng hơn trong hai năm gần đây”, Cục Thống kê nhìn nhận.
Báo cáo cũng chỉ ra tình trạng mất cân bằng chủ yếu tập trung tại các tỉnh phía Bắc, đặc biệt vùng Đồng bằng sông Hồng với 10/11 tỉnh có tỷ lệ trên 110, nổi bật là Bắc Ninh, tiếp theo là Vĩnh Phúc (118,5), Hà Nội (118,1) và Hưng Yên (116,7). Một số tỉnh miền Trung du, miền núi phía Bắc cũng ghi nhận tỷ lệ cao như Bắc Giang (116,3), Sơn La (115), Lạng Sơn (114,5), Phú Thọ (113,6). Trong khi đó, các địa phương phía Nam có tỷ số giới tính khi sinh tiệm cận mức cân bằng tự nhiên hoặc chỉ chênh lệch nhẹ, dao động từ 105 đến 108.
“Như vậy, một trong những giải pháp để cải thiện tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh là nghiên cứu thực hiện các chính sách tập trung nhiều hơn ở khu vực phía Bắc, thay vì đầu tư diện rộng trên khắp cả nước”, Cục thống kê khuyến cáo.

Bác sĩ Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Truyền thông – Giáo dục, Tổng Cục Dân số, nay là Cục Dân số (Bộ Y tế), cho hay nhiều người Việt vẫn mang tâm lý chuộng con trai trong bối cảnh mức sinh giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,91 con/phụ nữ trong khi con số lý tưởng là 2,1. Nhiều gia đình, khi chỉ sinh một con, đã tìm mọi cách để lựa chọn giới tính thai nhi.
Ngoài ra, văn hóa Nho giáo với quan niệm cần con trai để nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên, cùng sự đánh giá thấp vai trò của nữ giới trong gia đình, xã hội, càng làm gia tăng chênh lệch giới tính. Việc tiếp cận dễ dàng các dịch vụ y tế để chẩn đoán hoặc lựa chọn giới tính thai nhi cũng dẫn đến tình trạng nạo phá thai vì lý do giới tính.
Thứ trưởng Y tế Trần Văn Thuấn, tại lễ phát động Tháng hành động Quốc gia về Dân số năm 2024, cảnh báo Việt Nam đang đối mặt với tình trạng “giảm sinh, thừa nam thiếu nữ”. Nếu mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục ở mức cao, đến năm 2034, Việt Nam sẽ thừa 1,5 triệu nam giới trong độ tuổi 15-49, con số này sẽ tăng lên 1,8 triệu vào năm 2059.
Để giải quyết vấn đề này, Việt Nam đặt mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, dưới 109 bé trai/100 bé gái vào năm 2030. Các chuyên gia nhấn mạnh cần thay đổi nhận thức và hành vi của người dân, khuyến khích sinh con theo quy luật tự nhiên. Đồng thời, cần xây dựng chính sách hỗ trợ nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình, cộng đồng, xã hội.
Bên cạnh đó, cần thực thi nghiêm các quy định pháp luật về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh, đồng thời khuyến khích sinh hai con, đặc biệt là bé gái, để cân bằng tỷ lệ giới tính.
Lê Nga
***
Bình đẳng giới để kiểm soát chênh lệch giới tính khi sinh
Chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam hiện là 111,7 bé trai/100 bé gái. Dự báo đến năm 2034, Việt Nam sẽ “thừa” khoảng 1,5 triệu nam giới lứa tuổi từ 15-49 và đến năm 2059, con số này sẽ tăng lên 2,5 triệu (bằng 9,5% dân số nam) nếu tỷ số giới tính khi sinh không giảm. Theo các chuyên gia, bình đẳng giới vẫn sẽ là giải pháp hiệu quả nhất cho vấn đề kiểm soát chênh lệch giới tính khi sinh.
ND – Chủ Nhật, ngày 27/03/2022 – 06:33

Tiểu phẩm tuyên truyền về bình đẳng giới của sinh viên Hà Nội. (Ảnh THU CÚC)
Theo báo cáo thực trạng dân số thế giới năm 2020 của Quỹ Dân số Liên hợp quốc, Việt Nam là một trong ba quốc gia đang có tỷ số giới tính khi sinh cao nhất châu Á. Có những nơi tỷ số giới tính khi sinh rất cao, lên đến hơn 120 bé trai/100 bé gái. Cá biệt, có những vùng số bé trai sinh ra gấp hai lần so với số bé gái. Ðặc biệt, mất cân bằng giới tính xảy ra ở cả thành thị và nông thôn và đã xuất hiện ở năm trong sáu vùng kinh tế-xã hội trên cả nước. Thực trạng này xảy ra ngay ở lần sinh thứ nhất và đặc biệt cao vào lần sinh thứ ba trở lên. Mức độ mất cân bằng giới tính khi sinh cao hơn ở nhiều cặp vợ chồng có trình độ học vấn cao và tình hình kinh tế khá giả tại các khu vực kinh tế phát triển. Nếu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam kéo dài và không được kiểm soát có thể dẫn đến những hệ lụy khó lường về mặt xã hội-kinh tế, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước.
Theo các chuyên gia dân số, nguyên nhân chính dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn là bất bình đẳng giới, trọng nam, khinh nữ. Cũng theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc, tình trạng bất bình đẳng giới hiện vẫn diễn ra từ gia đình đến xã hội, nhất là tại các quốc gia đang phát triển như khu vực châu Á. TS Khuất Thu Hồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội cho rằng: Bất bình đẳng giới chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới mất cân bằng giới tính khi sinh. Nhiều gia đình vẫn quan niệm: “Chỉ có con trai mới là người được thờ cúng tổ tiên, nối dõi tông đường”; “Phải có con trai mới thành đạt”; “Con gái là con người ta”… Tại các vùng nông thôn, các gia đình có con trai đi ăn cỗ làng mới được ngồi mâm trên; trong làng, xã góp quỹ, có con trai mới được đóng góp, tính công xây dựng, phát triển dòng họ, làng, xã… Từ đó, tại các gia đình thôi thúc việc cố đẻ bằng được con trai. Cùng với đó, luật pháp, chính sách an sinh xã hội của nước ta vẫn còn dựa rất nhiều trên những thực hành truyền thống như bố mẹ già phải sống với con trai cả và thực tế nhiều người già vẫn còn phải sống phụ thuộc con, nhất là con trai. Bên cạnh đó, chế tài xử phạt cá nhân, đơn vị tiết lộ giới tính thai nhi vẫn rất nhẹ và nan giải. Cơ quan chức năng khó có thể kiểm tra, xử phạt khi có rất nhiều cách lách luật để các cá nhân, cơ sở này thông báo cho người dân về giới tính thai nhi khi họ đến các cơ sở y tế khám thai. TS Khuất Thu Hồng cũng cho biết thêm, Quỹ Dân số Liên hợp quốc coi việc lựa chọn giới tính thai nhi khi sinh là một trong những dạng bạo lực giới rất nghiêm trọng. Thực tế vẫn còn rất nhiều cặp vợ chồng tìm đủ mọi cách sinh được con trai và tình trạng nạo phá thai để lựa chọn giới tính thai nhi vẫn diễn ra hằng ngày. Ước tính tại Việt Nam mỗi năm có khoảng 40.800 bé gái không có cơ hội chào đời do việc lựa chọn giới tính thai nhi.
Theo Tổng cục trưởng Dân số-Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế) Nguyễn Doãn Tú, để kiểm soát tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh cần có nhiều giải pháp. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, một trong những giải pháp quan trọng và hiệu quả là nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội. Tăng cường tuyên truyền, vận động người dân thay đổi tư duy, nhận thức và hành động trong vấn đề chênh lệch giới tính khi sinh. Truyền thông giáo dục bằng nhiều nội dung, hình thức phù hợp để tạo dư luận xã hội ủng hộ và xóa dần sự phân biệt giữa con trai và con gái trong quan niệm của nhiều người dân; nâng cao vị thế, vai trò phụ nữ, bảo đảm sự bình đẳng giới nam và nữ. Ðịnh hướng xây dựng nhiều chương trình cộng đồng cho giới nữ cũng như đẩy mạnh hình ảnh nữ quyền trong các hoạt động dành cho nữ giới. Mặt khác, tổ chức các cuộc truyền thông tư vấn, nói chuyện chuyên đề về thực trạng, nguyên nhân, hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh cho các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, người đứng đầu dòng họ… Các chương trình truyền thông cần đa dạng hình thức, trong đó đẩy mạnh truyền thông kỹ thuật số, truyền thông trên các nền tảng mạng xã hội… với những nội dung tập trung vào vấn đề định kiến giới, tâm lý ưa thích con trai hơn con gái.
Ngoài ra, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, phổ biến Luật Bình đẳng giới, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong việc thực hiện bình đẳng giới của toàn xã hội, từng bước xóa bỏ bất bình đẳng giới. Bên cạnh đó, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào các hoạt động của xã hội nhiều hơn, để các gia đình thấy được đẻ con gái cũng vẻ vang, tuyệt vời như đẻ con trai. Phối hợp nhiều cơ quan, đoàn thể để lồng ghép nội dung về mất cân bằng giới tính khi sinh và bình đẳng giới đến đông đảo mọi tầng lớp người dân nhằm nâng cao nhận thức ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức. Chỉ khi phụ nữ được bình đẳng với nam giới, mọi người nhận thức được “con nào cũng là con” thì tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh mới được giải quyết ■
Thanh Mai
***
Cần lộ trình dài hạn để cải thiện tỷ số giới tính khi sinh
ĐBND – Thảo Mộc• 28/12/2024 11:40
Theo các chuyên gia, mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam hiện nay không chỉ là vấn đề về dân số mà còn là thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững của xã hội và kinh tế. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực từ Chính phủ và các tổ chức quốc tế nhưng để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi một chiến lược đồng bộ và quyết tâm lớn từ các cơ quan chức năng cũng như mỗi cá nhân trong xã hội.
Chưa đạt mục tiêu về mức cân bằng tự nhiên
Theo thống kê của Cục Dân số (Bộ Y tế), tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam hiện nay đã ở mức 111,8 bé trai/100 bé gái. Mặc dù con số này có sự cải thiện nhẹ so với năm 2016 (112,2), nhưng vẫn vượt quá mức cân bằng tự nhiên, nơi tỷ lệ bé trai/bé gái lý tưởng là 103 – 107 bé trai/100 bé gái. Đáng chú ý là từ năm 2006, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam luôn duy trì ở mức trên 110, một con số báo động đối với cấu trúc dân số của đất nước. Mặc dù có sự giảm nhẹ trong giai đoạn 2016 – 2023, nhưng tốc độ giảm vẫn rất chậm và không đủ nhanh để đạt được mục tiêu đưa tỷ số này về mức cân bằng tự nhiên vào năm 2030.

Chương trình truyền thông “Hưởng ứng Ngày Quốc tế trẻ em gái 11.10”
Các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng, nơi tỷ lệ giới tính khi sinh cao nhất, như Quảng Ninh (124,4), Hưng Yên (119,5) và Hải Dương (118,3) cũng cho thấy tình trạng mất cân bằng giới tính đặc biệt nghiêm trọng. Nếu không có các biện pháp kiên quyết và đồng bộ, dự báo đến năm 2034, Việt Nam sẽ dư thừa khoảng 1,5 triệu nam giới và con số này có thể tăng lên 2,5 triệu vào năm 2059. Điều này sẽ dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng không chỉ về mặt xã hội mà còn về an ninh, kinh tế.
Mất cân bằng giới tính khi sinh đang tạo ra một loạt các vấn đề xã hội và kinh tế sâu rộng. Một trong những hậu quả rõ rệt nhất là tình trạng “thừa nam thiếu nữ”, khi số lượng nam giới vượt quá số phụ nữ, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trong việc tìm kiếm bạn đời. Tình trạng này có thể thúc đẩy kết hôn sớm, tạo ra nhu cầu gia tăng đối với dịch vụ tình dục và kéo theo các vấn đề bạo lực tình dục đối với phụ nữ. Chưa kể, tình trạng thiếu phụ nữ sẽ tạo ra những bất ổn trong xã hội, khi mà phụ nữ trở thành “hàng hóa” trong những tệ nạn xã hội như buôn bán phụ nữ và trẻ em gái.
Hệ lụy của việc mất cân bằng giới tính không chỉ giới hạn trong vấn đề gia đình hay xã hội mà còn tác động mạnh mẽ đến sự ổn định của đất nước. Việc dư thừa nam giới có thể tạo ra một lực lượng lao động không thể giải quyết, khiến các mối quan hệ xã hội trở nên căng thẳng và dễ dẫn đến bạo loạn hoặc xung đột xã hội. Các chuyên gia cho rằng, điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh chính trị, khi một bộ phận lớn trong xã hội không có khả năng hòa nhập hoặc giải quyết nhu cầu cơ bản của bản thân.
Mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam có nhiều nguyên nhân sâu xa. Theo bà Hoàng Thị Thơm, Phó Cục trưởng Cục Dân số, một trong những yếu tố quan trọng là tâm lý ưa chuộng con trai, đặc biệt là trong các gia đình truyền thống, nơi mà con trai thường được xem là người nối dõi tông đường, chăm sóc cha mẹ khi về già. Những giá trị văn hóa này, mặc dù đang dần thay đổi, nhưng vẫn ảnh hưởng sâu rộng trong tâm thức nhiều thế hệ.
Bên cạnh đó, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, việc sử dụng siêu âm để lựa chọn giới tính thai nhi đã trở thành một yếu tố nguy cơ lớn. Mặc dù pháp luật đã nghiêm cấm việc lựa chọn giới tính thai nhi, nhưng nhiều gia đình vẫn tìm cách sử dụng các dịch vụ y tế tư nhân để thực hiện hành vi này. Việc lạm dụng công nghệ trong việc xác định giới tính thai nhi không chỉ làm trầm trọng thêm tình trạng mất cân bằng mà còn tạo ra những vấn đề đạo đức và pháp lý đáng lo ngại.
Thay đổi từ chính sách tới nhận thức
Với những hậu quả nghiêm trọng của mất cân bằng giới tính khi sinh, Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp để giải quyết vấn đề này. Một trong những giải pháp quan trọng là việc thực hiện Quyết định 468/QĐ-TTg (2016 – 2025), nhằm đưa tỷ số giới tính khi sinh trở về mức cân bằng tự nhiên vào năm 2025. Tuy nhiên, kết quả thực hiện trong giai đoạn 2016 – 2023 chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Tỷ lệ giới tính khi sinh chỉ giảm nhẹ với mức trung bình chỉ 0,03% mỗi năm, cho thấy cần có thêm những chính sách quyết liệt hơn để đạt được mục tiêu đề ra.
Một trong những biện pháp quan trọng được triển khai trong thời gian qua là tăng cường tuyên truyền và giáo dục cộng đồng về bình đẳng giới và tác hại của mất cân bằng giới tính. Chính phủ với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc đã tổ chức các chiến dịch truyền thông sâu rộng để thay đổi nhận thức xã hội về giá trị của con gái và khuyến khích các gia đình không phân biệt giới tính khi sinh con.

Chương trình truyền thông “Hưởng ứng Ngày Quốc tế trẻ em gái 11.10”
Đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam cho rằng, một trong những yếu tố quan trọng để giải quyết tình trạng này là nâng cao nhận thức của cộng đồng về bình đẳng giới và đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông. Các chiến dịch này cần thay đổi tư duy xã hội về vai trò của con trai và con gái, khuyến khích các gia đình nhận thức rằng, cả con trai và con gái đều có giá trị như nhau trong xã hội.
Theo các chuyên gia, mất cân bằng giới tính không chỉ là một vấn đề dân số mà còn là vấn đề văn hóa và nhân đạo. Vì vậy, cần thay đổi sâu rộng trong nhận thức của mỗi gia đình và cộng đồng về giá trị của phụ nữ và con gái trong xã hội. Bên cạnh đó, cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn trong việc quản lý công nghệ lựa chọn giới tính thai nhi và tăng cường các chế tài xử phạt đối với những cơ sở y tế vi phạm. Việc nâng cao vị thế của phụ nữ trong mọi lĩnh vực, từ giáo dục đến lao động cũng là “chìa khóa” quan trọng để giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính.
Cục Dân số đã đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm cải thiện tình trạng này trong thời gian tới. Theo đó, sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về bình đẳng giới, quyền lợi của trẻ em gái và tầm quan trọng của việc duy trì tỷ lệ giới tính khi sinh trong phạm vi tự nhiên. Các chương trình giáo dục, truyền thông sẽ tập trung vào việc thay đổi nhận thức của các bậc phụ huynh, đặc biệt là những gia đình ở vùng nông thôn về việc không phân biệt đối xử giữa con trai và con gái.
Ngoài ra, Cục Dân số sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng để kiểm soát chặt chẽ việc siêu âm và lựa chọn giới tính thai nhi. Các cơ sở y tế, đặc biệt là các phòng khám tư nhân, sẽ được yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ và thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hành vi chọn lựa giới tính trái phép. Cục Dân số cũng đề xuất, tăng cường chế tài xử lý đối với những cơ sở vi phạm quy định này, bao gồm việc thu hồi giấy phép hành nghề, xử phạt nặng hoặc thậm chí khởi tố hình sự nếu cần thiết.