Sản xuất ximăng phá vỡ môi trường sống của người dân và mọi loài vật

  • Bài 1: Nỗi đau “rừng vàng, biển bạc”: Hệ sinh thái suy giảm, “báu vật toàn cầu” bị đe dọa
  • Bài 2: Nhức nhối phát triển “nâu”: Phá vỡ sinh cảnh, “bóp nghẹt” khu dân cư
  • Bài 3: Lựa chọn phát triển giữa ximăng với sinh cảnh: Cốt ở tư duy của người đứng đầu!

***

bai-1.png
bai-21.6-pv-tit-phu.png

VN+ – Nằm cách Thủ đô Hà Nội – “trái tim của cả nước” khoảng 60km, Kim Bảng, Hà Nam (sau khi sáp nhập tỉnh, thành vào 1/7/2025 là Ninh Bình) được biết đến là khu vực khai thác đá “sôi động” nhất nhì khu vực phía Bắc, khi có tới gần 30 mỏ đá hoạt động. Đây cũng là khu vực có diện tích rừng tự nhiên lớn với hệ sinh thái núi đá vôi, đa dạng sinh học phong phú, trong đó có nhiều loài động, thực vật đặc hữu, quý hiếm. Đặc biệt, nơi đây có loài Voọc mông trắng (Voọc quần đùi trắng), nằm trong số 25 loài nguy cấp nhất trên thế giới cần được bảo vệ.

Tuy nhiên, trước “dòng chảy” phát triển – nhiều núi đá ở Kim Bảng đã bị tàn phá bởi hoạt động khai thác đá sản xuất ximăng, vật liệu xây dựng, một diện tích lớn núi rừng, không gian sinh tồn của nhiều loài đặc hữu, quý hiếm đã bị thu hẹp.

dji_20250523084212_0253_d.jpg
Cận cảnh hoạt động khoan nổ mìn, phá núi. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)
dji_20250519152707_0116_d.jpg
dji_20250519152452_0108_d.jpg

Trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus (thời điểm tháng 5/2025), ông Đỗ Mạnh Hùng – Nguyên Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Kim Bảng, cho biết Hà Nam là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng. Mặc dù rừng tự nhiên tại Kim Bảng chủ yếu là rừng nghèo trên núi đá vôi, song nơi đây được đánh giá là nơi có hệ động, thực vật phong phú, trong đó có nhiều loài đặc hữu. Tiếc rằng theo thời gian, một phần lớn diện tích rừng, núi đá vôi đã bị thu hẹp.

Nêu con số dẫn chứng, người đàn ông từng gắn bó gần 40 năm với nghề bảo vệ rừng cho hay năm 1997, thời điểm mới chia tách tỉnh Nam Hà (thành Hà Nam và Nam Định), Hà Nam có hơn 11.000 ha rừng. Với một tỉnh mà diện tích tự nhiên chỉ có hơn 86.000 ha, thì phần rừng trên được xem là “lá phổi xanh” rất lớn. Vậy nhưng, tới nay, tổng diện tích rừng và đất rừng chỉ còn lại khoảng hơn 6.427 ha.

Tại Quyết định số 380/QĐ-UBND ngày 28/2/2025 về Công bố hiện trạng rừng năm 2024 ở trên địa bàn, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam cũng cập nhật số liệu cho thấy tỉnh này chỉ còn hơn 5.333 ha đất có rừng, hơn 1.000 ha đất chưa có rừng. Trong số đó, riêng tại Kim Bảng có hơn 4.229 ha có rừng.

Đáng chú ý, trong số hơn 4.229 ha có rừng tại Kim Bảng, thống kê cho thấy hiện có tới hơn 1.139 ha được sử dụng vào mục đích khác (bao gồm cả khai thác đá, sản xuất ximăng, vật liệu xây dựng), tập trung chính ở khu vực xã Liên Sơn và các phường lân cận như Tân Sơn, Tượng Lĩnh, Ba Sao.

Nhìn rộng ra cả nước, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị cũng thừa nhận bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đang chịu sức ép lớn từ phát triển kinh tế, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, suy thoái rừng.

bai-1-2-(1).png

Ở dưới biển, các hệ sinh thái rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, cũng đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng. Theo Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Đức Toàn, một trong những nguyên nhân chính gây suy thoái các khu vực sinh thái trên là do ô nhiễm môi trường, đặc biệt là rác thải nhựa và chất thải từ nuôi trồng thủy sản. Ước tính, mỗi năm, ngành nuôi tôm thải ra gần 3 triệu tấn chất thải rắn và hàng triệu m3 nước thải.

Chỉ riêng hệ sinh thái cỏ biển, theo nghiên cứu của các chuyên gia Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, hệ sinh thái này đang đứng trước mức độ suy thoái rất đáng báo động. Trong đó, các đảo ven bờ Bắc Trung Bộ đang bị suy thoái nặng với tốc độ trung bình 6-7%/năm, điển hình như Lý Sơn, vịnh Nha Trang…

bai-ran-san-ho-thuoc-khu-bao-ton-bien-vuon-quoc-gia-nui-chua.-anh-ttxvn-phat.jpg
Bãi rạn san hô thuộc Khu bảo tồn biển Vườn quốc gia Núi Chúa. (Ảnh: TTXVN)

Số liệu thống kê được công bố gần đây cũng cho thấy con số báo động khi Việt Nam chỉ còn khoảng gần 160.000 ha rừng ngập mặn, chiếm khoảng 1,5% diện tích rừng. So với năm 1945, diện tích rừng này đã giảm hơn 140.000 ha, khoảng 40%. Trong đó, diện tích rừng ngập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long đã giảm tới 80% trong vòng 50 năm qua. Một trong những nguyên nhân khiến rừng ngập mặn bị suy giảm là bởi hoạt động lấn biển, nuôi trồng thủy sản không bền vững…

rung-ngap-man.-anh-huu-chi-ttxvn.jpg
Rừng ngập mặn cũng chịu ảnh hưởng mạnh từ hoạt động của con người. (Ảnh: Hữu Chí/TTXVN)
rung-ngap-man-tai-huyen-hau-loc-thanh-hoa.-anh-nguyen-nam-ttxvn.jpg
Rừng ngập mặn tại huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa. (Ảnh Nguyễn Nam/TTXVN)
rung-ngap-man-can-gio-tro-thanh-khu-du-tru-sinh-quyen-dau-tien-cua-viet-nam-duoc-unesco-cong-nhan-vao-nam-2000.-anh-hong-dat-ttxvn.jpg
Rừng ngập mặn tại huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa. (Ảnh Nguyễn Nam/TTXVN)

Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Lê Trần Nguyên Hùng cũng nhấn mạnh rừng ngập mặn và các hệ sinh thái biển của Việt Nam đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi nhiều nguyên nhân. Trong đó, do một bộ phận người dân khai thác quá mức và phát triển các ngành kinh tế biển cũng tạo áp lực rất lớn đến các hệ sinh thái biển.

credit-ryan-deboodt_fauna-flora-2-.jpg
bai-21.6-pv-tit-phu-1-.png

Điều đáng lo lắng hơn là việc rừng phải lùi bước trước sức tàn phá bởi các hoạt động phát triển, tác động tiêu cực từ con người, đang khiến đa dạng sinh học suy giảm, nhiều loài đặc hữu quý, hiếm – “báu vật toàn cầu” gần hơn bờ vực tuyệt chủng. Đây cũng là vấn đề, giới chuyên gia, các cơ quan bảo tồn đặc biệt quan tâm.

Đơn cử như tại Hà Nam, trước thực trạng rừng suy giảm, các loài hoang dã bị đe dọa bởi hoạt động nổ mìn phá núi, từ năm 2016, hàng chục văn bản từ Tổ chức Bảo tồn Động thực vật Quốc tế Fauna & Flora International (FFI) và các bộ, ngành, địa phương đã liên tiếp gửi đến chính quyền Hà Nam, đề nghị thành lập khu bảo tồn để bảo vệ quần thể linh trưởng đặc hữu, quý hiếm lớn thứ 2 trên thế giới (chỉ sau Khu bảo tồn ngập nước Vân Long, tỉnh Ninh Bình). Nhưng, cho đến nay vẫn chưa thiết lập được vùng bảo vệ riêng cho “báu vật toàn cầu” ở Kim Bảng.

credit-ryan-deboodt_fauna-flora-3-.jpg
Vọoc mông trắng – “báu vật toàn cầu” gần hơn bờ vực tuyệt chủng. (Ảnh: Ryan Deboodt/Fauna & Flora)

Theo tìm hiểu của phóng viên, từ thông tin báo cáo của Tổ chức FFI, ngày 5/10/2016, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã ban hành Văn bản số 1624/TCLN-BTTN gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nam đề nghị tăng cường bảo vệ quần thể Voọc và báo cáo ủy ban nhân dân tỉnh xem xét thành lập khu bảo tồn. Đến ngày 27/4/2017, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nam gửi Tờ trình 63/TTr-SNN-KL về việc xin chủ trương xây dựng Đề án thành lập Khu bảo tồn Voọc mông trắng tại Kim Bảng.

Trong diễn biến liên quan đến bảo tồn, ngày 10/5/2017, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 628/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn các loài linh trưởng ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030.

Sau đó, ngày 18/5/2017, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam ban hành văn bản đồng ý chủ trương cho phép Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nam xây dựng Đề án thành lập Khu bảo tồn Voọc mông trắng tại Kim Bảng, nguồn kinh phí từ ngân sách tỉnh và các nguồn tài trợ khác. Khu vực đề xuất thành lập khu bảo tồn có tổng diện tích 2.488,3 ha thuộc địa bàn Ba Sao và các xã Thanh Sơn, Liên Sơn.

Thế nhưng, trong suốt 2 năm tiếp theo, việc thành lập khu bảo tồn trên vẫn chỉ dừng lại ở những bước bàn thảo sơ sài trên giấy. Đến ngày 19/6/2020, Tổng cục Lâm nghiệp tiếp tục ban hành Văn bản 823/TCLN-ĐDPH gửi Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam về việc hướng dẫn một số thủ tục thành lập khu bảo tồn trên.

namr0343.jpg
namr0346.jpg
namr0353.jpg

Sau gần 4 năm mỏi mòn thúc đẩy, song gần như không rõ kết quả, ngày 10/7/2020, Tổ chức FFI lại tiếp tục gửi thư tới Thủ tướng Chính phủ, kiến nghị về việc bảo tồn khẩn cấp loài Voọc mông trắng tại rừng Kim Bảng.

Tiếp đó, ngày 23/7/2020, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam đã ban hành Quyết định số 1476/QĐ-UBND phê duyệt Đề cương về Kinh phí xây dựng Dự án thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mông trắng, với diện tích dự kiến 3.500 ha, thuộc xã Thanh Sơn, Liên Sơn, Tân Sơn, Khả Phong và thị trấn Ba Sao. Thời gian thực hiện 2020-2021 với tổng kinh phí hơn 476,5 triệu đồng.

Đến ngày 24/7/2020, Văn phòng Chính phủ gửi Công văn 6026/VPCP-KGVX đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng về bảo tồn Voọc mông trắng; có biện pháp cấp bách bảo vệ quần thể Voọc mông trắng và rà soát, đánh giá việc chấp hành quy định pháp luật trong hoạt động khai thác đá trên địa bàn, bảo đảm không gây ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của loài Voọc mông trắng trong tự nhiên; giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hướng dẫn ủy ban nhân dân tỉnh này chỉ đạo nghiên cứu, đề xuất lập khu bảo tồn Voọc…

Trong các năm tiếp theo, Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục có các văn bản đốc thúc, thể hiện quan điểm tích cực trong việc ủng hộ thành lập Khu bảo tồn Voọc mông trắng Kim Bảng. Về phía địa phương, khi có các văn bản chỉ đạo từ trung ương, các sở, ngành của tỉnh Hà Nam cũng đều thực hiện quy trình, thủ tục xin thành lập khu bảo tồn.

220bd229543ae264bb2b(1).jpg

Vậy nhưng, sau nhiều năm nỗ lực, bàn thảo, đến nay, dự án thiết lập khu bảo tồn trên vẫn chưa có quyết định rõ ràng từ phía lãnh đạo chính quyền địa phương.

Chia sẻ với phóng viên về nội dung trên, ông Phạm Quang Tùng, Quản lý Dự án Kim Bảng, Tổ chức FFI, thở dài nói: “Chúng tôi thực sự buồn, chán nản. Trong suốt gần 10 năm qua, chúng tôi đã đầu tư rất nhiều kinh phí để hỗ trợ kỹ thuật, nỗ lực giúp chính quyền địa phương thiết lập ‘ngôi nhà xanh’ – không gian sinh tồn cho Voọc mông trắng. Vậy mà đến nay, loài đặc hữu, ‘báu vật toàn cầu’ ở Kim Bảng vẫn đang phải sống chung với các mối đe dọa, thu hẹp không gian sống.”

Hay như tại vịnh Nha Trang, nghiên cứu mới được công bố của Trung tâm Nhiệt đới Việt -Nga, cho thấy 20 năm qua, khu vực này đã mất khoảng 191 ha rạn san hô, tương đương 12% diện tích khảo sát. Đây là tín hiệu báo động cho hệ sinh thái biển Nam Trung Bộ và sức hấp dẫn du lịch của một trong những vịnh đẹp nhất thế giới.

bai-21.6-pv-tit-phu-2-.png

Trong câu câu chuyện với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, một chuyên gia bảo tồn cho rằng câu chuyện rừng, núi đá vôi bị suy giảm khiến các loài hoang dã đặc hữu quý, hiếm ở Kim Bảng bị đe dọa kể trên là thực tế rất rõ nét cho thấy vấn đề bảo tồn đang bị xem nhẹ trước những toan tính phát triển trong thời gian qua.

Và khi bảo tồn thiên nhiên “chỉ còn là lời kêu cứu muộn màng” thì việc nhiều loài động vật hoang dã quý, hiếm đứng trước nguy cơ tuyệt chủng là điều tất yếu.

a-hung-vo-t7-2025-cover-16-.png

Kết quả nghiên cứu được các nhà khoa học tại Đại học Cologne hợp tác với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Vườn thú Cologne và một số tổ chức quốc tế, công bố gần đây cũng đã gióng hồi chuông lớn khi cập nhật danh sách cho thấy 112/329 loài động vật có vú xuất hiện tại Việt Nam, đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Điều đáng suy ngẫm hơn là trong số đó có tới 36 loài hoang dã đặc hữu (không tồn tại ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới) và 9 loài được phân loại là siêu đặc hữu, chỉ xuất hiện ở những khu vực rất nhỏ hẹp ở trên lãnh thổ Việt Nam.

Thực tế tại nhiều địa phương (như Bắc Kạn, Đắk Lắk, Quảng Nam, Hà Giang, Quảng Bình, Nghệ An) trong những năm qua cũng cho thấy việc “ngôi nhà tự nhiên” bị suy giảm diện tích, bị tàn phá đã khiến các quần thể động vật hoang đã suy giảm mạnh (nhiều loài động vật quý, hiếm đã bị tuyệt chủng), thậm chí đẩy thiên nhiên đa dạng sinh học vào tình trạng “rơi tự do,” rất khó để cân bằng lại.

Đơn cử như hổ, theo Danh lục Đỏ Việt Nam và Sách Đỏ Việt Nam phiên bản 2024 do Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật chủ trì thực hiện và công bố mới đây, cách đây hơn 26 năm, tại Vườn Quốc gia Pù Mát (tỉnh Nghệ An), các nhà bảo tồn đã chụp được một bức ảnh hiếm hoi và quý giá về loài hổ ngoài tự nhiên. Thế nhưng, kể từ năm 1998 đến nay, chưa có một bức ảnh nào được ghi lại mà thấy hổ.

Một loài hoang dã khác cũng biến mất ở Việt Nam hơn 40 năm qua là mèo ri. Lần cuối loài này được nhìn thấy là vào năm 1978 tại K’Bang (tỉnh Gia Lai).

ho-1-.jpg
Hổ – loài vật dũng mãnh và quý hiếm – đã 26 năm vắng bóng trong môi trường tự nhiên ở Việt Nam. (Ảnh: Hùng Võ/Vietnam+)

Chia sẻ ở góc độ quốc tế, ông Patrick Haverman – Phó Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP tại Việt Nam), bày tỏ sự lo lắng khi nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam đang chịu áp lực ngày càng tăng. Ông cũng đặc biệt nhấn mạnh rằng con số hơn một phần ba số loài động vật có vú của Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng không chỉ là mối quan tâm của quốc gia, mà nó còn phản ánh một cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Chỉ riêng linh trưởng, Việt Nam là “ngôi nhà” của 25 loài linh trưởng, trong đó một số loài linh trưởng đặc hữu chỉ tìm thấy ở nước ta (tập trung ở Kim Bảng và Vân Long, tỉnh Ninh Bình) như Voọc mông trắng. Thế nhưng, hiện có tới 90% số loài đang bị đe dọa, trong số đó có tới 5 loài nằm trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới, tức chiếm 20% số loài đang bên bờ tuyệt chủng.

“Đó là thực tế rất đáng lo, đòi hỏi cần phải sớm có hành động kịp thời. Bởi mất đa dạng sinh học sẽ đe dọa đến các yếu tố nền tảng quan trọng của nền kinh tế, an ninh lương thực và sức khỏe của chúng ta,” ông Patrick Haverman nói./.

credit-ryan-deboodt_fauna-flora-7-(1).jpg
tac-gia(1).png

***

a-hung-vo-t7-2025-cover-8-.png

bai-1-5-(1).png
bai-21.6-pv-tit-phu-3-.png

VN+ – Suốt hơn 10 năm nay, gia đình ông Phạm Văn Thuận ở thôn Hồng Sơn, xã Thanh Sơn, tỉnh Hà Nam (nay là Ninh Bình), luôn phải sống trong tình cảnh đóng kín cửa, bất lực trước ô nhiễm. Mỗi khi có việc cần phải đi ra ngoài, hay mở cửa để hưởng ánh sáng tự nhiên, gia đình ông Thuận lại phải đối mặt với bầu không khí xám xịt, trắng xóa. Đó không phải là sương mù, cũng chẳng phải dấu hiệu trời sắp nổi bão giông, càng không phải là khói bếp, mà là lớp bụi mịn đặc quánh trong không khí.

Cũng như hàng trăm hộ gia đình khác, nhà ông Thuận nằm ngay cạnh đường dẫn thẳng vào khu vực một số mỏ đá và Nhà máy ximăng Bút Sơn. Ông phản ánh hàng ngày, trên tuyến đường này có hàng trăm lượt xe tải trọng lớn ra vào nhà máy và các mỏ đá “ăn, xả” hàng. Mỗi khi xe chạy qua, khu dân cư lại “chìm” trong bão bụi.
https://www.youtube.com/embed/zLbNal6ZbsQ

“Tôi có 2 căn nhà thì một căn đang bỏ hoang vì bụi khủng khiếp quá. Căn nhà bỏ hoang đó sát đường, hàng ngày xe tải ra vào khu vực mỏ đá của Nhà máy ximăng Long Thành và một số mỏ đá khác. Ngày trước tôi cho công nhân họ thuê ở, nhưng được một thời gian họ cũng thôi. Căn nhà mà vợ chồng tôi đang ở, nằm sát đường hướng vào Nhà máy ximăng Bút Sơn, quanh năm cũng phải đóng kín cửa. Cứ mở ra vài tiếng là bàn ghế phủ đầy bụi. Khổ lắm,” ông Thuận mắt đỏ hoe chia sẻ.

namr7798.jpg
Bụi trắng phủ bạc nhà dân. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Nói có sách mách có chứng, khi biết chúng tôi là nhà báo đang tìm hiểu về vấn đề ô nhiễm ở thôn quê mình, ông Thuận mời khách vào nhà rồi lập tức đưa bàn tay dính kín bụi vừa quẹt từ mặt bàn, kệ tivi lên và bảo: “Thế này có phải là nơi để sống không? Trong nhà còn bẩn thế này, thì bên ngoài – các chú biết chúng tôi phải khổ sở thế nào với bão bụi, ô nhiễm trong suốt hơn 10 năm qua rồi đấy!”

Ông Thuận nói thêm: “Khốn khổ nhất là những lúc Nhà máy xi măng Bút Sơn họ đốt giẻ để vận hành nhà máy rồi phát thải khói bụi đen xì ra môi trường. Mùi khét phát tán khắp nơi, khó thở vô cùng. Trong hơn 10 năm qua, chúng tôi cũng đã nhiều lần gửi đơn thư cầu cứu lên các cấp chính quyền, thậm chí tập trung cả trăm người dân lên tận Nhà máy ximăng Bút Sơn phản đối. Chính quyền và cả phía nhà máy cũng đã ngồi lại với chúng tôi, hứa hẹn này nọ. Nhưng rồi mọi sự vẫn không thay đổi. Chỉ có chúng tôi là phải sống mòn với ô nhiễm.”

bai-1-1-.png

Không khỏi bức xúc khi nhắc đến thực trạng trên, bà Nguyễn Thị Minh H., cùng thôn Hồng Sơn, cho hay: “Chúng tôi sống ở đây, đến giờ nói thẳng là bất lực trước ô nhiễm. Hơn 10 năm nay, mưa thì ô nhiễm bởi nước ngấm bụi đá, ximăng. Nắng thì khói bụi bủa vây tứ phía, từ Nhà máy ximăng Bút Sơn, từ các khu công nghiệp, máy nghiền đá, xe tải nườm nượp ra vào. Dân kêu mãi rồi nhưng không ai thấu.”

Thậm chí, theo bà Hằng, vài năm gần đây, để “đánh tráo” sự thật về ô nhiễm khói bụi, phía doanh nghiệp có bố trí xe xịt nước rửa đường khi trời nắng. Nhưng tần suất rửa đường rất hạn chế, trong khi lượng xe tải chở đá, ximăng… quá nhiều.

bai-1-7-.png

Ghi nhận của phóng viên vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm 2025, cũng cho thấy tại các ngả đường vào khu vực Nhà máy ximăng Bút Sơn, Nhà máy ximăng Long Thành và các mỏ đá ở trên địa bàn xã Thanh Sơn, hàng ngày, hàng trăm xe tải trọng chạy điên đảo rồi chìm trong bão bụi. Hai bên đường, nhà cửa, cây cối bị bụi phủ dày, như không còn sự sống. Thi thoảng, chúng tôi lại bắt gặp hình ảnh người dân đi xe máy, rồi những đứa trẻ rong chơi ven đường bị “bão bụi” che mờ…

Ngay trước cổng VICEM Bút Sơn với tấm biển xanh in đậm dòng chữ “VICEM Bút Sơn chung tay bảo vệ môi trường,” những cơn “bão bụi” vẫn liên tiếp xuất hiện mỗi khi xe tải trọng chạy qua, ra-vào nhà máy, cũng như các mỏ đá. Cắm máy ghi hình, thi thoảng, chúng tôi lại bắt gặp cảnh người dân khoác lên mình những bộ đồ bẩn thỉu vì dính bụi, đạp xe với những bước đạp đứt quãng vì mệt mỏi.

dji_20250519151827_0093_d.jpg
dji_20250519151746_0091_d.jpg

Điều đáng nói là, khu vực dân cư thôn Hồng Sơn nằm cách VICEM Bút Sơn chỉ khoảng 1km. Ngoài ra, khu dân cư này còn bị “bao vây” bởi khoảng hơn 10 mỏ đá đang khai thác. Hàng ngày, tiếng mìn nổ từ các mỏ đá rầm vang, bụi bay mịt mù.

Từ trên cao nhìn xuống khu dân cư ở thôn Hồng Sơn, qua flycam – hàng nghìn mái nhà từng là ngói đỏ, ngói xanh, nay phủ kín một màu trắng đục bởi khói bụi. Có những chỗ, bụi trên mái nhà phủ dày như đổ bê tông. Theo lời người dân, do bụi bám hàng ngày từ năm này qua năm khác nên mưa xuống cũng không thể rửa trôi.

Thực tế trên nói lên rằng những lớp bụi trên mặt bàn, nền nhà, kệ tivi của từng hộ dân có thể được lau dọn hàng ngày; những lớp bụi trên mặt đường có thể được rửa trôi để “đánh tráo” sự thật về mức độ ô nhiễm. Nhưng những lớp bụi phủ dày trên mái nhà của hàng nghìn hộ dân theo năm tháng thì không thể xóa mờ.

namr0831.jpg
namr0820.jpg
namr0506.jpg
bai-21.6-pv-tit-phu-4-.png

Suốt nhiều ngày tìm hiểu, ghi nhận thực tế (vào thời điểm tháng Năm và tháng 6/2025) tại 2 khu vực “đại công xưởng” về khai thác đá và sản xuất ximăng ở Kim Bảng và Thanh Liêm (Hà Nam, nay là Ninh Bình), chúng tôi tiếp tục ghi nhận rất nhiều hình ảnh đau xót khi di sản thiên nhiên bị “đổ nát.” Hàng loạt núi đá vôi tan hoang. Nhiều núi chỉ còn phần mỏm đá trơ trọi. Khu dân cư, màu xanh của cây rừng bị che mờ, nhỏ bé trước không gian xám xịt, trắng đục bởi ô nhiễm.

dji_20250519152707_0116_d.jpg

“Không hiểu ai cấp cho người ta phá một cách tàn nhẫn như vậy. Dân chúng tôi ở đây, rất đau xót. Những ngọn núi đá vôi, sinh cảnh ở đây là kiệt tác thiên nhiên ban tặng cho nhân loại. Vậy mà người ta phá một cách tàn khốc, không chỉ làm mất tài nguyên thiên nhiên của đất nước, mà còn phá hoại môi trường một cách khủng khiếp,” bà Nguyễn Thị Minh H., người dân ở thôn Hồng Sơn bức xúc nói.

ba-hang-2.jpg
Bà Nguyễn Thị Minh Hằng – một trong những nạn nhân của khói bụi và khai thác đá tại thôn Hồng Sơn. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Người phụ nữ ngoài 60 tuổi trên cũng bày tỏ sự lo lắng, trăn trở rằng: “Chúng tôi không biết kinh tế, lợi nhuận các doanh nghiệp đóng vào ngân sách Nhà nước được bao nhiêu, nhưng môi trường ô nhiễm thì chúng tôi phải lĩnh hưởng. Tôi nay đã ngoài 60, vì ô nhiễm mà phải rời cõi tạm lúc nào cũng đành chịu, nhưng còn bao nhiêu thế hệ sau này, thì sao? Các cháu không đáng phải chết vì ô nhiễm, vì phát triển kinh tế theo kiểu đánh đổi môi trường. Nó thực sự là cái giá quá đắt.”

Để làm rõ hơn về thực trạng trên, ngày 30/5/2025, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus đã liên hệ, đến “gõ cửa” cơ quan quản lý của tỉnh Hà Nam để nắm bắt thông tin. Trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus ngay tại phòng làm việc, ông Trương Văn Hà – Trưởng Phòng khoáng sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nam, cho biết trên toàn tỉnh có khoảng 100 mỏ khoáng sản, trong đó các mỏ đá vôi, vật liệu xây dựng (hơn 70 mỏ) tập trung ở khu vực Kim Bảng và Thanh Liêm. Riêng Kim Bảng có 30 mỏ, trong đó 26 mỏ đang hoạt động.

Vậy theo ông hoạt động khai thác đá có ảnh hưởng đến môi trường, hay gây trở ngại cho quá trình thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mông trắng Kim Bảng – khi mà từ năm 2016 đến nay, hàng chục văn bản từ các Bộ, ngành, tổ chức quốc tế liên tiếp gửi đến chính quyền Hà Nam, đề nghị thành lập khu bảo tồn này, nhưng đến nay vẫn đang bế tắc, chưa đi tới quyết định chính thức? Tôi hỏi.

Ông Hà suy nghĩ một lúc rồi bảo: “Câu hỏi này hơi rộng. Tôi xin phép không trả lời được.” Sau đó ông nêu lý do quy hoạch vật liệu xây dựng nói chung, ximăng nói riêng, đã có từ lâu nên để nói có ảnh hưởng đến khu vực bảo tồn hay không thì phải nhiều sở, ngành, thậm chí cả các cơ quan Trung ương mới trả lời được.

dji_20250523085647_0271_d.jpg
dji_20250523084212_0253_d.jpg
namr0639.jpg
Bầu trời thường xuyên trong trạng thái mờ đục vì hoạt động khai thác đá. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Tuy nhiên, sau gần 30 phút trao đổi với nhiều thông tin từ thực tế phóng viên ghi nhận được đưa ra làm căn cứ, qua vài ba chén trà rót đầy rồi vơi, ông Hà thừa nhận hoạt động khai thác đá, đặc biệt là tại các mỏ đá ở xã Thanh Sơn có ảnh hưởng tới môi trường. “Đúng ra gìn giữ được rừng là tốt nhất. Nói thật có những dãy núi xanh rì, sau cấp phép cho doanh nghiệp khai thác đá, bây giờ vào nhìn cũng thấy tang thương. Thế nên, chắc chắn vấn đề đánh đổi, không thể nói là không có. Phát triển kinh tế thì sẽ đi kèm với mặt trái là ô nhiễm môi trường. Ví dụ như nổ mìn hay chở xe đá đi dọc đường. Thôi thì vì lúc tỉnh đang nghèo, bắt buộc phát triển, cũng phải tận dụng nguồn tài nguyên do thiên nhiên ban tặng,” ông Hà giãi bày.

Ngay trong cuốn tài liệu Dự án thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mông trắng Kim Bảng (năm 2021), do Chi cục Trồng trọt, Bảo vệ thực vật và Kiểm lâm tỉnh Hà Nam chủ trì xây dựng, cũng đã chỉ ra một loạt thách thức đối với công tác bảo vệ tài nguyên rừng. Trong đó, dự án đề cập: Khai thác khoáng sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái do hoạt động khai thác đá. Hoạt động khai thác mỏ đá dọc theo biên giới phía Đông, Nam và một ít khu vực phía Bắc khu đề xuất thành lập khu bảo tồn đã và đang tác động rất lớn đến cấu trúc cảnh quan thiên nhiên, thu hẹp sinh cảnh sống của Voọc và giảm nguồn dự trữ thức ăn.

credit-ryan-deboodt_fauna-flora-6-.jpg

Để lấy được đá làm nguyên liệu cho nhà máy ximăng, vật liệu xây dựng, các công ty dùng mìn để nổ phá đá. Việc này gây ra tiếng ồn làm nhiễu động đến quần thể Voọc đang sinh sống và tạo ra rất nhiều bụi từ khai thác cũng như vận tải.

Đáng chú ý, theo nội dung đề cập trong cuốn tài liệu dự án dày tới hơn 130 trang trên, thì trên địa bàn Hà Nam (năm 2021) có hơn 60 đơn vị đăng ký xin cấp phép theo hoạt động khai thác chế biến tài nguyên khoáng sản, ximăng. Trong đó, có tới 27 đơn vị có trụ sở đóng ngoài địa bàn, không có đại diện ở địa phương nên rất khó quản lý; hồ sơ các đơn vị lưu ở cấp xã, huyện còn thiếu và không đồng bộ. Một số đơn vị đã được tỉnh cấp giấy phép khai thác nhưng chưa hoạt động, hoặc có giấy phép đã hết hạn nhưng vẫn không chịu xin gia hạn hoặc đã được cấp giấy phép nhưng chưa làm thủ tục thuê đất khu vực khai thác, gây thất thoát nguồn thu ngân sách.

Bên cạnh đó, cũng theo nội dung cập nhật trong dự án trên thì nhiều đơn vị khai thác quá chiều sâu cho phép và không hoàn trả mặt bằng sau khi khai thác. Đặc biệt nhiều đơn vị chưa đăng ký đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, không chấp hành đúng giờ giấc nổ mìn nên lượng khói bụi và tiếng ồn trong khu vực sản xuất rất cao.

bai-21.6-pv-tit-phu-5-.png

Tiếp tục tìm hiểu, phóng viên được một tổ chức bảo tồn cung cấp hồ sơ, thông tin cho thấy thời điểm tháng 12/2020, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nam đã khảo sát các công trường tại Kim Bảng. Kết quả có 20 công trường khai thác đá ở hai xã Liên Sơn và Thanh Sơn; 4 dự án đã được cấp phép thăm dò khai thác với tổng diện tích hàng trăm ha. Trong đó, hai khu mỏ thăm dò được các thành viên trong tổ bảo vệ rừng ghi nhận sự xuất hiện của Voọc mông trắng.

Đến ngày 19/1/2021, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Văn bản 262/BTNMT-TCMT đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam kiểm soát các tác động bất lợi tới môi trường và đa dạng sinh học của các hoạt động phát triển kinh tế, đặc biệt là tác động của các dự án thăm dò, khai thác đá vôi; nghiên cứu đề xuất dự án thành lập Khu bảo tồn loài – sinh cảnh; xem xét đưa khu vực bảo vệ, bảo tồn loài Voọc mông trắng tại Kim Bảng vào Quy hoạch tỉnh Hà Nam giai đoạn 2021-2030…

Vậy nhưng, đến nay, khu bảo tồn trên không những chưa được thành lập, mà không gian sinh tồn, hệ sinh thái đa dạng sinh học và hàng nghìn hộ dân địa phương vẫn đang tiếp tục bị ảnh hưởng bởi công cuộc phát triển nhờ vào vốn có từ tự nhiên.

namr0343.jpg
namr0355.jpg
dji_20250523084616_0256_d1.jpg
Một góc núi bị cắt xẻ không thương tiếc giữa cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Thực trạng trên còn đáng lo hơn bởi theo nghiên cứu của Trung tâm Con người và Thiên nhiên, thì hầu hết các doanh nghiệp khai thác đá đều không chú trọng tới việc đánh giá tác động đến đa dạng sinh học, vùng sinh cảnh tại rừng phòng hộ Kim Bảng khi thực hiện các thủ tục xin cấp phép (điển hình như báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường, phương án bảo vệ môi trường). Các văn bản mà các doanh nghiệp đề cập, cũng chỉ thông tin sơ lược về một số tác động môi trường (ô nhiễm khói bụi, tiếng ồn) và giải pháp tương ứng cũng rất sơ sài.

Rộng ra cả nước, theo tìm hiểu của phóng viên, trong khoảng 10 năm gần đây, các hệ sinh thái tự nhiên, nhất là tại các khu vực di sản thiên nhiên quốc gia, thậm chí di sản thiên nhiên thế giới cũng bị xâm lấn, tác động xấu. Khó quên nhất là vi phạm ở Tràng An, tỉnh Ninh Bình; vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; Phong Nha-Kẻ Bàng; hay khu vực Mã Pì Lèng, tỉnh Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang).

Đơn cử như tại Hà Giang (thời điểm đầu tháng 11/2019), khi “sức nóng” dư luận vừa lắng xuống bởi công trình sai phạm trên đèo Mã Pì Lèng (Mèo Vạc), thì những hình ảnh phá núi xây dựng khu du lịch sinh thái văn hóa tâm linh ở gần nơi được coi là địa đầu Tổ quốc – khu di tích quốc gia Cột cờ Lũng Cú, lại “dậy sóng.” Những ngọn núi bị đánh phá, san phẳng đỏ au, hiện rõ một cách nhức nhối.

trong-anh-nha-nghi-nha-hang-panorama-ma-pi-leng.-anh-nguyen-chien-ttxvn.jpg
Công trình sai phạm trên đèo Mã Pì Lèng tai tiếng suốt một thời. (Ảnh: Nguyễn Chiến/TTXVN)
ngay-187-cong-trinh-nha-nghi-nha-hang-panorama-tren-deo-ma-pi-leng-huyen-meo-vac-ha-giang-bat-dau-duoc-thao-do-de-cai-tao-theo-thiet-ke-moi.-anh-ttxvn.jpg
Ngày 187, công trình nhà nghỉ, nhà hàng Panorama trên đèo Mã Pì Lèng, huyện Mèo Vạc (Hà Giang) bắt đầu được tháo dỡ để cải tạo theo thiết kế mới. (Ảnh: TTXVN)

Trước đó, vào năm 2016, Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới, danh thắng Tràng An được UNESCO công nhận. Nhưng chỉ một năm sau đó, khi mà bản cam kết về chương trình hành động để bảo vệ di sản này còn chưa ráo mực thì một công trình đường dẫn với hàng trăm bậc thang lên núi Cái Hạ lại như nấm mốc “mọc lên” ngay khu vực vùng lõi của di sản này. Dù rằng công trình xâm lấn danh thắng Tràng An, sau đó đã bị cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu tháo dỡ, khắc phục, nhưng việc công trình đồ sộ, được thi công trong thời gian dài mà cơ quan quản lý địa phương chỉ biết khi được báo chí phản ánh, cũng khiến dư luận băn khoăn!

Ba năm sau, năm 2019, cũng tại Tràng An, Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình tiếp tục có thông tin trên website của Sở khuyến cáo du khách không sử dụng dịch vụ tại 20 cơ sở lưu trú homestay (loại hình lưu trú tại nhà dân bản địa) trái phép trên địa bàn tỉnh. Đó là các cơ sở đang hoạt động trái phép trong vùng lõi của quần thể Tràng An, vi phạm Quyết định số 230/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Quần thể danh thắng Tràng An, tỉnh Ninh Bình.

ninh-binh-khuyen-cao-du-khach-khong-su-dung-cac-homestay-trai-phep.-anh-ninh-duc-phuong.-ttxvn.jpg
Ninh Bình khuyến cáo du khách không sử dụng các homestay trái phép. (Ảnh: Ninh Đức Phương/TTXVN)

Cũng trong năm 2019, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phải lên tiếng về tình trạng bê tông hóa tại khu vực Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long. Tại đây, nhiều công trình trái phép xây dựng trong vùng lõi di sản. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã có văn bản cầu xử lý nghiêm sai phạm tại vịnh Hạ Long do một số dự án chưa được cơ quan chức năng phê duyệt về đánh giá tác động môi trường…

Và, những vụ việc trên có thể chỉ là “phần nổi của thực trạng,” song cũng là bài học đắt giá, gióng hồi chuông cảnh tỉnh, để các địa phương nhìn nhận lại công tác bảo vệ di sản thiên nhiên. Nếu không hành động từ bây giờ, giá trị thiên nhiên sẽ mất đi; di sản để lại cho thế hệ mai sau – có thể chỉ là những lời trách oán./.

namr0959.jpg

Theo giới chuyên gia bảo tồn, các sự việc trên dẫu đã được xử lý, nhưng một khi di sản thiên nhiên bị xâm hại, thì dù tháo dỡ công trình cũng phải hàng chục năm, thậm chí trăm năm, cây cối, hệ sinh thái ở đó mới có thể phục hồi. Các di tích bị xâm hại, yếu tố gốc có thể vĩnh viễn mất đi, không cách nào lấy lại được.

tac-gia(1).png

***

a-hung-vo-t7-2025-cover-9-.png
bai-1-5-.png

VN+ – Vậy nhưng, thực tiễn phát triển giữa các tỉnh có cùng lợi thế về “nguồn vốn” thiên nhiên – thời điểm trước khi sáp nhập tỉnh (ví như Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Bình, Hải Phòng, Cao Bằng hay Đồng Tháp) trong khoảng 10 năm trở lại đây cho thấy: Việc lựa chọn mô hình phát triển theo hướng “nâu” hay “xanh” của từng địa phương, còn phụ thuộc lớn vào tư duy, quyết định của người đứng đầu.

bai-21.6-pv-tit-phu-7-.png

Câu chuyện “ưu tiên” phát triển ximăng và bảo tồn di sản thiên nhiên giữa tỉnh Hà Nam và tỉnh Ninh Bình (thời điểm trước khi hợp nhất tỉnh) là minh chứng rõ thấy nhất. Đây cũng là hai địa phương cùng được Mẹ Thiên nhiên ban tặng “kho báu” – nguồn vốn di sản thiên nhiên vô cùng quý giá (đặc biệt là hàng trăm núi đá vôi và các loại động vật đặc hữu, quý hiếm; nhất là loài Voọc mông trắng chỉ duy nhất có ở Việt Nam), nhưng thực tế mỗi tỉnh lại có hướng phát triển khác nhau.

Một thực tế dường như ai cũng dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa hai địa phương trên là thông qua hình ảnh lưu lại từ vệ tinh hay flycam. Nếu như Ninh Bình bao trùm với vô vàn gam màu xanh của núi rừng xanh tươi; thì Hà Nam, đặc biệt là tại khu vực Kim Bảng và Duy Tiên lại phản ánh rõ nét gam màu chủ đạo là “trắng xám” bởi hàng loạt ngọn núi đá vôi đã và đang bị khai thác đến đau xót.

Thực tế trên càng rõ ràng hơn khi suốt hơn 10 năm nay, hàng nghìn hộ dân sinh sống quanh các vùng mỏ tại Kim Bảng (khu vực có diện tích rừng và đất rừng lớn nhất Hà Nam) lại đang phải “sống mòn” với ô nhiễm bởi khói bụi do hoạt động nổ mìn, khai thác đá, sản xuất ximăng, vật liệu xây dựng ở trên địa bàn.

Cũng gần một thập kỷ qua, hàng chục văn bản từ các Bộ, ngành, tổ chức quốc tế liên tiếp gửi đến chính quyền Hà Nam, đề nghị thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mông trắng để bảo tồn, bảo vệ quần thể linh trưởng đặc hữu quý, hiếm lớn thứ 2 trên thế giới khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng. Thế nhưng, đến nay, dự án thành lập khu bảo tồn trên vẫn đang bị tắc nghẽn, chưa có quyết định chính thức.

“Hơn 20 năm trước, tôi vào đây sinh sống, nhìn rừng thích lắm. Không khí mát mẻ, ngắm động vật hoang dã đẹp vô cùng. Nhưng từ khi các mỏ đá, công xưởng, nhà máy công nghiệp, đặc biệt là Nhà máy ximăng Bút Sơn, Nhà máy ximăng Long Thành, đi vào hoạt động, núi rừng ngày một thu hẹp. Môi trường thì bị tàn phá tàn khốc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân. Tôi từng nghe lãnh đạo các cấp nói rằng không thể đánh đổi môi trường lấy sức khỏe con người, nhưng thực sự ở thôn, xã tôi đây là người ta đánh đổi. Tất cả chỉ vì tiền. Chúng tôi kêu gọi nhiều lắm rồi, đơn từ đi khắp nơi rồi, khổ lắm rồi, nhưng không thay đổi gì. Xin đừng tàn phá môi trường khủng khiếp như hiện nay nữa,” bà N.T.M.H (hơn 60 tuổi) ở thôn Hồng Sơn, xã Thanh Sơn không khỏi xót xa, chia sẻ.

a-hung-vo-t7-2025-cover-8-.png

Trong khi đó, tại Gia Viễn (tỉnh Ninh Bình) – địa phương nổi tiếng với Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, trong suốt hơn 20 năm nay, để bảo tồn thiên nhiên và giá trị đa dạng sinh học, đặc biệt là quần thể Voọc mông trắng lớn nhất thế giới, các cấp, ngành và người dân đã tích cực bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường sống của các loài động, thực vật, giữ lại những nét hoang sơ vốn có của Vân Long.

Nhờ lựa chọn bảo tồn, hướng phát triển bền vững, các loài động thực vật ở Vân Long đã được bảo vệ và sống an toàn trong “ngôi nhà xanh” của mình. Từ một vùng đầm lầy, ngập nước quanh năm không ai đến, đầm Vân Long đã được Ủy ban Danh lục xanh toàn cầu (IUCN) phê duyệt và chứng nhận Danh lục xanh đầu tiên ở Đông Nam Á và trở thành khu du lịch xanh nổi tiếng bậc nhất tại Ninh Bình và cả nước.

namr0983.jpg

Nhận thức được giá trị của việc bảo tồn, người dân sinh sống ở quanh khu vực Vân Long cũng ứng xử trách nhiệm với thiên nhiên, trở thành những “đại sứ” du lịch, nhờ đó mà có thêm thu nhập bền vững, hạnh phúc bên di sản thiên nhiên.

Phấn khởi giới thiệu với phóng viên, ông Tô Văn Ninh (thôn Vườn Thị, xã Gia Hòa, tỉnh Ninh Bình), cho biết xung quanh khu vực thôn Vườn Thị hiện có 7 đàn Voọc mông trắng, mỗi đàn có 9-20 cá thể. Hơn 20 năm nay, nhờ bảo vệ tốt sinh cảnh, nên khách về chiêm ngưỡng rất đông. Cũng vì không bị tác động xấu, môi trường trong lành, không bị khói bụi nên các loài động vật từ trên rừng lẫn dưới nước, đặc biệt là các quần thể Voọc rất thân thiện, gần gũi với con người.

a-ninh-van-long-15-.jpg
Ông Tô Văn Ninh, người dân thôn Vườn Thị.

“Với chúng tôi, đây cũng là niềm tự hào khi có cơ hội được quảng bá hình ảnh của quê hương; có thêm thu nhập nhờ mô hình du lịch cộng đồng, du lịch xanh, thông qua các hoạt động như dẫn khách tham quan khu bảo tồn, ngắm Voọc,” ông Ninh tự hào và tiết lộ nhờ hoạt động này, mà mỗi ngày, ông cũng có thêm được 500.000 đến 2 triệu đồng, tùy thời điểm, nhiều nhất là vào các tháng mùa Đông.

Nhìn từ góc độ cơ quan quản lý, ông Tăng Xuân Hòa – Phó Chi cục trưởng Chi cục Nông nghiệp và Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nam (thời điểm tháng 5/2025) cũng thẳng thắn cho rằng thời gian qua, một số nơi trên địa bàn tỉnh (như Kim Bảng, Thanh Liêm) chú trọng về khai thác khoáng sản, có ảnh hưởng đến môi trường. Còn đối với Ninh Bình thì họ rất kiên trì đi theo hướng phát triển xanh.

“Trong một lần đến Ninh Bình, khi qua khu du lịch, tôi thấy nhà cửa người dân dựng lên rất sơ sài, không khác gì quê mình, thế mà vẫn có khách Tây đến, vẫn thu được tiền. Điều đó cho thấy cách làm rất quan trọng,” ông Hòa nói.

a-hung-vo-t7-2025-cover-15-.png
1920x1080-1.png
dji_20250518124636_0060_d.jpg
bai-21.6-pv-tit-phu-6-.png

Qua thực tế phát triển ở Hà Nam (trước khi sáp nhập tỉnh), kinh nghiệm phát triển bền vững ở Ninh Bình, Phó Chi cục trưởng Chi cục Nông nghiệp và Kiểm lâm Hà Nam Tăng Xuân Hòa cho rằng để có hướng đi đúng và phát triển bền vững thì mấu chốt, quan trọng nhất vẫn phải là tư duy của người đứng đầu. Ông cũng nhấn mạnh rằng quan tâm tới bảo tồn, nông nghiệp, an sinh xã hội mới là gốc rễ của cuộc sống.

Ông Hòa cũng đồng ý với quan điểm rằng nếu không cải thiện thì mục tiêu Net Zero vào năm 2050 sẽ rất khó đạt được. Đặc biệt, ông nhấn mạnh nếu chỉ tập trung vào việc phát triển, không quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường thì chắc chắn rằng khoảng 20 năm sau, Việt Nam sẽ phải trả giá rất đắt. Trong khi đó, nếu rừng được quản lý, hệ sinh thái được bảo tồn sẽ mang lại nhiều giá trị bền vững, không chỉ về môi trường, mà còn thu hút du lịch khám phá, trải nghiệm.

du-khach-nuoc-ngoai-thuong-xuyen-di-bo-len-nhung-ngon-nui-cao-xa-pa-vi-ngam-toan-canh-nhung-ngon-nui-trung-diep.-anh-duc-tho-ttxvn.jpg
Du khách nước ngoài thường xuyên đi bộ lên những ngọn núi cao xã Pả Vi ngắm toàn cảnh những ngọn núi trùng điệp. (Ảnh: Đức Thọ/TTXVN)

Vị cán bộ của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nam (nay là tỉnh Ninh Bình) cũng nêu quan điểm, giai đoạn đầu, Ninh Bình có thể chậm phát triển, cũng phải chịu áp lực, nhưng nhờ kiên trì, quyết liệt của lãnh đạo địa phương cũng như huy động các nguồn lực, cách làm có lợi cho môi trường, cho không gian sống, di sản thiên nhiên, nên khoảng hơn 5 năm gần đây, Ninh Bình đã thu được giá trị kinh tế rất lớn.

Là chuyên gia người Đức, năm nay đã 85 tuổi, nhưng có tới hơn 30 năm “tận hiến” cho công tác bảo tồn ở Việt Nam – Tiến sỹ Tilo Nadler (người được mệnh danh là “hiệp sỹ của rừng già Việt Nam” hay “linh trưởng chúa”), cho hay hệ sinh thái, sinh cảnh, trong đó có loài Voọc đặc hữu quý, hiếm ở khu vực Kim Bảng đang chịu áp lực rất lớn từ hoạt động khai thác đá. Loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng này đang cầu cứu con người, đòi hỏi con người cần phải hành động trách nhiệm.

tilo-1.jpg
Tiến sỹ Tilo Nadler. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Theo Tiến sỹ Tilo Nadler, Voọc mông trắng chỉ xuất hiện ở Việt Nam trong một số khu vực rất nhỏ, đặc biệt là tại Vân Long, Kim Bảng. Vì là đặc hữu nên đây không chỉ là “báu vật” của riêng đất nước Việt Nam, mà còn là “báu vật” của toàn cầu.

“Do vậy, thế giới không thể chấp nhận để loài linh trưởng quý này biến mất. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải bảo vệ không gian sinh tồn cho Voọc và sinh cảnh ở Kim Bảng. Nếu chúng ta không cứu được môi trường sống và quần thể Voọc mông trắng, Việt Nam sẽ để lại tiếng xấu trước thế giới,” ông Tilo Nadler trăn trở.

Vị chuyên gia người Đức cũng đặc biệt lưu ý rằng người dân ở Kim Bảng đã phải chịu một cuộc sống rất ngột ngạt bởi ô nhiễm bên cạnh những mỏ đá, nhà máy ximăng. Họ đã khổ lắm rồi. Trong khi đó, một khi đá vôi hết, hoạt động phát triển từ sản xuất ximăng cũng kết thúc. Ngược lại, nếu lựa chọn bảo tồn, phát triển du lịch xanh, thì đây là nguồn thu nhập bền vững cho đất nước, cho người dân.

“Kim Bảng rất gần Hà Nội, đó là lợi thế rất lớn để địa phương phát triển, thu hút đầu tư. Nhưng tôi tin người dân sẽ thích thú tận hưởng thiên nhiên chứ không thích tận hưởng ô nhiễm từ ximăng, từ phá núi,” Tiến sỹ Tilo Nadler chia sẻ thêm.

Ngược vào Đồng bằng sông Cửu Long, kinh nghiệm của tỉnh Đồng Tháp cũng cho thấy bảo tồn, phát triển xanh là hướng đi đúng đắn khi “ý Đảng quyện lòng dân.”

viec-san-xuat-lua-sinh-thai-duoc-ky-vong-tao-moi-truong-song-thuan-loi-thu-hut-seu-dau-do-ve-tru-ngu-vuon-quoc-gia-tram-chim.-anh-ttxvn-phat.jpg
Việc sản xuất lúa sinh thái được kỳ vọng tạo môi trường sống thuận lợi, thu hút sếu đầu đỏ về trú ngụ Vườn quốc gia Tràm Chim. (Ảnh: TTXVN phát)

Trong những năm qua, Đồng Tháp đặc biệt quan tâm, tập trung đầu tư nguồn lực phục vụ các kế hoạch bảo tồn và giám sát đa dạng sinh học. Ngoài ra, địa phương này còn có các chương trình, dự án thu hút được các tổ chức trong và ngoài nước đồng hành cùng tỉnh trong việc bảo tồn hệ sinh thái đặc trưng (đặc biệt là Sếu đầu đỏ và hàng trăm loài chim) tại Vườn Quốc gia Tràm Chim – đây là hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên cuối cùng còn sót lại của vùng Đồng Tháp Mười xưa.

Chia sẻ với phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus, tại thời điểm giữa tháng 5/2025, ông Đoàn Văn Nhanh, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn và Hợp tác Quốc tế, Vườn Quốc gia Tràm Chim (tỉnh Đồng Tháp) cho biết trong ký ức của người dân Đồng Tháp Mười, hình ảnh Sếu đầu đỏ thanh tao với những vũ điệu uyển chuyển giữa bạt ngàn cỏ năng xanh mướt, đã in sâu vào tâm khảm, gắn liền với khung cảnh thanh bình của vùng đất. Thế nhưng, theo thời gian, bóng dáng ấy dần khuất xa. Lần cuối cùng Sếu về Vườn Quốc gia Tràm Chim là năm 2021, để lại bao nỗi niềm trăn trở với những người nặng tình với “báu vật” của quê hương.

Trước sự mất mát trên, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã ban hành Đề án “Bảo tồn và phát triển Sếu đầu đỏ tại Vườn Quốc gia Tràm Chim giai đoạn 2022-2032.” Sau thời gian nỗ lực “đưa đàn Sếu đầu đỏ trở về” của chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Tháp, cùng với sự hỗ trợ của những người bạn đến từ Vương quốc Thái Lan, giữa tháng 4/2025, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã long trọng tổ chức chương trình tiếp nhận 6 cá thể sếu đầu đỏ đầu tiên từ Thái Lan về Việt Nam.

Theo ông Nhanh, sự kiện trên không chỉ là bước đi quan trọng trong định hướng phát triển bền vững của tỉnh Đồng Tháp, mà còn là biểu tượng sống động của tình hữu nghị quốc tế, tinh thần chung tay bảo vệ thiên nhiên không biên giới.

pho-chu-tich-quoc-hoi-le-minh-hoan-phat-bieu-trong-chuong-trinh-tiep-nhan-seu-dau-do-tai-vuon-quoc-gia-tram-chim.-anh-nhut-an-ttxvn.jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan. (Ảnh: TTXVN)

Là người đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp xanh, yêu thiên nhiên, tại buổi lễ tiếp nhận 6 cá thể Sếu đầu đỏ, Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan (nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cũng bày tỏ niềm hạnh phúc khi loài chim quý trở về về vùng đất quê hương.

Theo ông Hoan, đây là hành động cao đẹp, thể hiện triết lý phát triển hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Ông cũng nhấn mạnh: “Thiên nhiên có thể tồn tại vắng bóng con người, nhưng sự sống của con người luôn gắn liền và phụ thuộc vào thiên nhiên. Vì vậy, muốn thay đổi tương lai, chúng ta phải thay đổi cách nghĩ hôm nay – như cách người nông dân Tràm Chim đang chuyển mình từng ngày.”

Ngay tại Hà Nội, mới đây, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội cũng yêu cầu các sở, ban, ngành hữu quan tích cực triển khai Đề án “Tăng cường liên kết vùng trong bảo tồn, khai thác, sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên vùng Đồng bằng sông Hồng.” Trong đó, nội dung trọng tâm là tổ chức các hoạt động duy trì hệ sinh thái tại khu bảo tồn thiên nhiên Hương Sơn, nhằm bảo tồn Voọc mông trắng, loài động vật quý hiếm; triển khai các biện pháp bảo tồn chim hoang dã, chim di cư tại khu vực bãi giữa Văn Lang từ năm 2026-2030.

Bên cạnh đó, Hà Nội cũng yêu cầu Sở Du lịch xây dựng mô hình liên kết du lịch sinh thái giữa các khu bảo tồn trong vùng Đồng bằng Sông Hồng, phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia Ba Vì, du lịch cộng đồng gắn với nông nghiệp và nông thôn tại quần thể di tích Hương Sơn; yêu cầu các sở, ban, ngành liên quan, các xã chủ động phối hợp triển khai hiệu quả các nhiệm vụ theo chức năng, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên vùng Đồng bằng sông Hồng.

a-hung-vo-t7-2025-cover-7-.png
bai-21.6-pv-tit-phu-8-.png

Được ví như “Thủ đô bảo tồn,” trong nhiều năm qua, Vườn Quốc gia Cúc Phương (tại tỉnh Ninh Bình) – Vườn quốc gia đầu của Việt Nam, cũng luôn được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cũng như Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình đặc biệt quan tâm. Thông qua việc triển khai nhiều mô hình bảo tồn, phát triển du lịch bền vững, vườn không chỉ là “hình mẫu” về bảo tồn, mà còn là “trường học lớn” giữa đại ngàn, tạo hiệu ứng lan tỏa sâu rộng.

nguyen-cao-son-pct-nb-2-.jpg
Ông Nguyễn Cao Sơn – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Ông Nguyễn Cao Sơn – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình, cho hay tỉnh là một trong những địa phương được đánh giá có tính đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái đa dạng và phong phú, phân thành 5 hệ đặc trưng. Nhận thức được tầm quan trọng của đa dạng sinh học trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, trong nhiều năm qua, tỉnh đã tích cực tham gia và thực hiện các Công ước quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học, Luật Đa dạng sinh học và Luật Bảo vệ môi trường.

Đặc biệt, tỉnh Ninh Bình đã có nhiều hành động để đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát triển kinh tế-xã hội địa phương đã có sự gắn kết với nội dung bảo tồn đa dạng sinh học, thể hiện trong Nghị quyết số 21-NQ/TU về xây dựng tỉnh Ninh Bình là thành phố trực thuộc Trung ương với đặc trưng đô thị di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo, Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050…

Nhờ đó, độ che phủ rừng của tỉnh Ninh Bình ngày càng gia tăng và tới năm 2025, độ che phủ của rừng tăng lên 19,3%; công tác chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ, triển khai các dự án và hợp tác quốc tế trong bảo tồn đa dạng sinh học được chú trọng; nhiều mô hình phát triển du lịch kết hợp với dịch vụ sinh thái được phát triển tạo ra những sản phẩm du lịch đặc thù riêng của Ninh Bình.

du-khach-tham-quan-khu-du-lich-tam-coc-bich-dong.-anh-thuy-dung-ttxvn.jpg
Du khách tham quan Khu du lịch Tam Cốc-Bích Động. (Ảnh: Thùy Dung/TTXVN)

Đối với Vườn quốc gia đầu tiên Việt Nam, ông Lê Phương Triều – Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Cúc Phương cho biết nơi đây có hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi đá vôi với tính đa dạng sinh học rất cao, trong đó còn lưu giữ nhiều loài động, thực vật đặc hữu và quí hiếm. Vì vậy, nhiệm vụ của vườn là bảo vệ nguyên vẹn tài nguyên thiên nhiên hiện có; tổ chức nghiên cứu khoa học về các giá trị tài nguyên thiên nhiên, văn hóa lịch sử, khảo cổ; tổ chức giáo dục môi trường và dịch vụ.

Với phương châm “Bảo vệ rừng tận gốc,” ông Triều cho biết hiện nay kiểm lâm vườn đang áp dụng phần mềm SMART để quản lý tài nguyên rừng và giám sát đa dạng sinh học. Vườn cũng đã thành lập Trung tâm cứu hộ, bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm, nhằm: Cứu hộ, bảo tồn các loài động vật nguy cấp, quý hiếm do săn bắt, buôn bán bất hợp pháp; nghiên cứu sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt và bán hoang dã; phục hồi sức khỏe, tái thả và theo dõi ngoài môi trường tự nhiên.

Ngoài ra, Vườn Quốc gia Cúc Phương còn sưu tập, trồng bảo tồn nguồn gen trên 800 loài thực vật quý; xây dựng các quy trình kỹ thuật, chuyển giao kết quả nguồn gen cho nhân dân vùng đệm và các đơn vị khác để nhân rộng; thu thập, trưng bày và lưu trữ bộ xương và 50 mẫu vật công cụ của người tiền sử̉, 12.000 mẫu thực vật, 182 mẫu thú và chim, 280 mẫu lưỡng cư – bò sát…

Từ “kho báu” quan trọng trên, Vườn Quốc gia Cúc Phương đã sáng tạo xây dựng các tour, tuyến du lịch như: Động Người xưa, các cây cổ thụ, xem chim, xem thú đêm, chinh phục “Nóc nhà Cúc Phương”; hành trình xuyên rừng ngủ bản, thăm các chương trình cứu hộ; “Về nhà” (du khách được tham gia tái thả động vật sau cứu hộ); hành trình hồi sinh, tham gia các hoạt động cứu hộ, chăm sóc động vật hoang dã; Chương trình Giáo dục trải nghiệm thiên nhiên dành cho học sinh phổ thông các cấp; tổ chức chương trình trồng cây thêm xanh cho cánh rừng già…

tha-ga-loi-trang-1-.jpg
Hoạt động thả gà lôi trắng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương.
tha-ga-loi-trang-2-.jpg

Giám đốc Vườn Quốc gia Cúc Phương Nguyễn Văn Chính tự hào cho hay nhờ các sáng kiến, mô hình trên, Cúc Phương đã xây dựng nên “Trường học lớn” ở giữa đại ngàn, qua đó thu hút được đông đảo khách du lịch, đặc biệt là các học sinh, sinh viên tới tham quan, tìm hiểu; qua đó góp phần nâng cao nhận thức cũng như lan tỏa giá trị của công tác bảo tồn, bảo vệ các loài động, thực vật, đa dạng sinh học.

Thống kê của Vườn Quốc gia Cúc Phương cho thấy trong năm 2024, vườn đã tiếp đón 141.553 vị khách tới tham quan. Trong số này có tới 31.540 học sinh; 8.728 sinh viên; 101.285 người lớn (gồm 15.624 khách nước ngoài; 85.661 người khách trong nước). Riêng trong gần 5 tháng đầu năm 2025, Vườn đã tiếp đón 88.734 vị khách tới tham quan. Trong số đó có 17.471 học sinh; 10.468 sinh viên; 60.795 người lớn (bao gồm 11.445 khách nước ngoài; 49.350 khách trong nước).

Ngược lên vùng cao nguyên rộng lớn ở khu vực Đông Bắc Việt Nam, Cao Bằng cũng là tỉnh thu hút được đông đảo du khách tới tham quan nhờ định hướng nhất quán về bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt là bảo vệ “kho báu” địa chất tự nhiên. Nhờ đó, Công viên địa chất Non nước Cao Bằng đã được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu (thành viên thứ hai của Việt Nam, sau Cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang). Nơi đây ghi dấu những trang sử địa chất kéo dài hơn 500 triệu năm với nhiều di sản độc đáo từ các dạng địa hình karst cổ, hóa thạch sinh vật biển, trầm tích núi lửa cho đến hệ thống hang động, thác nước, hồ núi đá vôi.

thac-ban-gioc-la-mot-thang-canh-noi-tieng-the-gioi-diem-den-quan-trong-nhat-cua-tuyen-du-lich-cong-vien-dia-chat-toan-cau-unesco-non-nuoc-cao-bang.-anh-ttxvn-phat.jpeg

Điều đặc biệt khiến Non nước Cao Bằng trở nên sống động và hấp dẫn chính là sự hòa quyện giữa địa chất, văn hóa và con người. Trên nền móng địa tầng cổ xưa, hàng trăm nghìn cư dân (thuộc các dân tộc như Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Lô Lô,…) đang gìn giữ bản sắc, ngôn ngữ, tri thức bản địa, nếp sống dựa vào thiên nhiên.

Kể từ khi được UNESCO công nhận là Công viên địa chất toàn cầu, vào năm 2018, tỉnh Cao Bằng đã triển khai hàng loạt chương trình hành động nhằm hiện thực hóa các khuyến nghị của tổ chức này. Tỉnh này xác định công tác bảo tồn di sản địa chất gắn liền với phát triển kinh tế du lịch bền vững; các tuyến trải nghiệm như “Khám phá Phia Oắc – Vùng núi của những đổi thay,” “Trở về nguồn cội,” “Trải nghiệm văn hóa bản địa ở xứ sở thần tiên,” “Một thời hoa lửa” được hoàn thiện, đưa khách du lịch tiếp cận các điểm di sản theo hướng thân thiện với môi trường.

doan-chuyen-gia-to-chuc-thuc-dia-tai-tham-dinh-danh-hieu-cong-vien-dia-chat-toan-cau-toan-cau-unesco-non-nuoc-cao-bang.-anh-ttxvn-phat..jpg
Đoàn chuyên gia tổ chức thực địa tái thẩm định danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu toàn cầu UNESCO non nước Cao Bằng. (Ảnh: TTXVN phát)

Cùng với đó, các chương trình giáo dục cộng đồng về Công viên địa chất Non nước Cao Bằng cũng được triển khai đến các trường học. Đặc biệt, tiếng Tày-Nùng được đưa trở lại giảng dạy như một phần của công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể.

Đặc biệt, nhờ quan tâm tới phát triển bền vững thông qua việc phát huy vai trò của cộng đồng địa phương trong bảo tồn di sản, không ít người dân ở các làng Tày, Nùng,… đã trở thành hướng dẫn viên du lịch bản địa, chủ homestay sinh thái, hay tình nguyện viên gìn giữ các điểm di sản khỏi nạn xâm hại, phá hoại./.

tac-gia(1).png

Leave a comment