Bùng nổ tội phạm crypto ở VN

  1. Nhận diện các thủ đoạn lừa đảo tiền ảo, tài sản mã hoá và tội phạm crypto

2. Tội phạm crypto tại Việt Nam liên hệ với các loại tội phạm khác 

Nạn mua bán người ở Việt Nam: Từ tuyến đường truyền thống đến lừa đảo số

3. Tham khảo thêm về điểm nóng tội phạm crypto tại Đông Nam Á và toàn cầu 

***

  1. Nhận diện các thủ đoạn lừa đảo tiền ảo, tài sản mã hoá và tội phạm crypto
     

Lừa đảo ngày càng tinh vi trên thị trường tài sản mã hóa

CVD

Việt Nam đứng thứ 3 thế giới về giao dịch tiền ảo

tapchitaichinh.vn Thanh Hằng 17:35 25/05/2025

Thị trường tài sản mã hóa mang đến cơ hội, nhưng cũng đầy rẫy cạm bẫy. Trong bối cảnh các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, các nhà đầu tư cần học cách nhận diện, phòng tránh các mô hình lừa đảo để tự bảo vệ mình.

Trong những năm gần đây, thị trường tài sản mã hóa (crypto) đã bùng nổ tại Việt Nam, thu hút một lượng lớn nhà đầu tư, đặc biệt là giới trẻ. Với tiềm năng lợi nhuận cao và tốc độ tăng trưởng ấn tượng của các đồng tiền như Bitcoin, Ethereum, hay các mô hình tài chính phi tập trung (DeFi), không ít người đã kỳ vọng đây sẽ là cơ hội đổi đời.

Cạm bẫy lừa đảo ngày càng tinh vi trên thị trường tài sản mã hóa.
Cạm bẫy lừa đảo ngày càng tinh vi trên thị trường tài sản mã hóa.

Theo số liệu từ Triple-A, năm 2024 có hơn 17 triệu người Việt Nam đang sở hữu tài sản mã hóa, chiếm gần 17% dân số. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng này cũng đi kèm một lỗ hổng lớn: phần lớn nhà đầu tư là người mới, tiếp cận thị trường thông qua mạng xã hội hoặc lời rỉ tai, không có nền tảng về công nghệ blockchain, pháp lý tài sản số hay các phương thức lừa đảo phổ biến hiện nay.

Mới đây, thông tin về “Madam Ngo” bị Interpol truy nã vì tội lừa đảo đầu tư tiền điện tử và ngoại hối, lừa đảo hơn 2.000 nạn nhân người Việt Nam số tiền khoảng 300 triệu USD đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về những rủi ro tiềm ẩn trong thị trường này.

Trao đổi với báo chí về vụ việc này, bà Nguyễn Vân Hiền – Phó Chủ tịch Hiệp hội Blockchain Việt Nam nhận định, trên thị trường tài sản mã hóa đang xuất hiện nhiều hình thức lừa đảo tinh vi, kết hợp giữa yếu tố công nghệ và tâm lý, khiến không ít nhà đầu tư dù cẩn trọng vẫn dễ dàng rơi vào bẫy. 

Các nạn nhân của Madam Ngo đã bị lừa tham gia mô hình Ponzi/kim tự tháp, đánh trúng tâm lý “muốn lãi nhanh, an toàn tuyệt đối”. Những dự án dạng này thường hứa hẹn mức sinh lời cao đến phi lý, dùng tiền của người tham gia sau để trả cho người trước. Khi dòng tiền đứt đoạn, không còn người mới thì đánh sập luôn hệ thống, khiến người tham gia mất trắng.

Đây chỉ là một trong 7 hình thức lừa đảo phổ biến, được phân hai loại: thuần công nghệ hoặc kết hợp công nghệ và tâm lý.

Trong khi đó, ông Trần Huyền Dinh – Chủ nhiệm Ủy ban Ứng dụng Fintech Hiệp hội Blockchain Việt Nam chỉ ra một trong những chiêu được ưa thích là tạo ra các token giả mạo với tên gọi, logo gần giống với các tài sản mã hóa uy tín khiến không ít nhà đầu tư sơ suất mua nhầm. Một hình thức khác là “bẫy mật ngọt” (honey pot), trong đó nhà đầu tư mua vào token nhưng bị khóa tính năng bán, dẫn đến bị “kẹt vốn” ngay sau khi xuống tiền.

Một thủ đoạn khác mang tính kỹ thuật cao là rút thảm (rug pull). Các dự án thường được quảng bá rầm rộ để thu hút người dùng mua token, sau đó đội ngũ phát triển bất ngờ rút toàn bộ tiền thanh khoản khỏi sàn phi tập trung. Kết quả là giá trị token sụp đổ chỉ sau một đêm, nhà đầu tư không kịp trở tay.

Ngoài ra, còn có hình thức airdrop lừa đảo khi token miễn phí bất ngờ xuất hiện trong ví của người dùng. Nếu tương tác, đưa ra yêu cầu hoặc truy cập các liên kết do bên phát hành cung cấp, người dùng có thể vô tình cấp quyền truy cập ví cho kẻ gian và mất toàn bộ tài sản.

Đối với hình thức lừa đảo kết hợp tâm lý và công nghệ, có thể kể đến giả mạo thông tin (phishing). Trong đó, kẻ gian dựng website, email, tin nhắn có giao diện giống hệt các sàn giao dịch, ví điện tử uy tín để lừa người dùng nhập khóa riêng tư/khóa bí mật, cụm từ khôi phục ví hoặc mã OTP. Một khi thông tin bị đánh cắp, ví sẽ bị rút sạch mà chủ sở hữu không kịp phản ứng.

Ngoài ra, còn có hình thức mạo danh người nổi tiếng hoặc các dự án lớn. Các đối tượng lừa đảo thường lập tài khoản mạng xã hội trông giống như những nhân vật có ảnh hưởng trong ngành để quảng bá “cơ hội đầu tư nội bộ”, “token tặng thưởng”, từ đó dẫn dụ người dùng gửi tiền hoặc cung cấp thông tin cá nhân.

Cuối cùng là chiêu bơm thổi giá (pump and dump): một nhóm nhà đầu cơ sẽ bí mật mua một token ít tên tuổi, sau đó tạo hiệu ứng lan truyền, đánh vào tâm lý FOMO (sợ bỏ lỡ cơ hội). Khi giá bị đẩy lên cao, nhóm này âm thầm bán ra, khiến giá sụt mạnh và để lại toàn bộ rủi ro cho những nhà đầu tư nhỏ lẻ lao vào sau.

Theo các chuyên gia, có nhiều nguyên nhân khiến nhà đầu tư Việt trở thành “miếng mồi béo bở” cho các chiêu trò lừa đảo crypto như: Thiếu kiến thức cơ bản về blockchain, tài sản mã hóa, phân tích dự án…; tâm lý làm giàu nhanh và chạy theo đám đông, dễ bị FOMO; thiếu cảnh giác với những lời mời gọi lợi nhuận cao phi lý; pháp lý chưa rõ ràng, khiến việc xử lý các vụ lừa đảo còn khó khăn…

Trước thực tế hàng nghìn người đã rơi vào bẫy đầu tư tài sản mã hóa, các chuyên gia khuyến nghị nhà đầu tư học cách nhận diện, phòng tránh các mô hình lừa đảo để tự bảo vệ trước các cạm bẫy ngày càng tinh vi trên thị trường tài sản mã hóa tại.

Các chiêu trò lừa đảo đầu tư tiền ảo

nhandan.vn

Trong bối cảnh công nghệ blockchain và tiền số phát triển, các đối tượng lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân về lĩnh vực này để hoạt động với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi. Tội phạm đã tạo ra tiền ảo không có giá trị thực, đánh vào tâm lý muốn nhận lợi nhuận cao, khiến nhiều nhà đầu tư mất trắng số vốn bỏ ra.

Thứ Tư, ngày 05/03/2025 – 07:15

Các đối tượng trong đường dây dụ dỗ, lôi kéo đầu tư vào đồng tiền năng lượng MPX. (Ảnh Bích Ngọc)
Các đối tượng trong đường dây dụ dỗ, lôi kéo đầu tư vào đồng tiền năng lượng MPX. (Ảnh Bích Ngọc)

Trước thực trạng nêu trên, công an nhiều địa phương trên cả nước đã chủ động nhận diện, đấu tranh quyết liệt với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức kêu gọi đầu tư tiền ảo, tiền điện tử Bitcoin, sàn giao dịch ngoại hối, chứng khoán…

Qua công tác nắm bắt tình hình, Phòng An ninh kinh tế Công an thành phố Hà Nội phát hiện dấu hiệu chiếm đoạt tài sản qua giao dịch mua bán tiền ảo của Công ty cổ phần Triệu Nụ Cười, trụ sở tại xã An Khánh, huyện Hoài Đức do đối tượng Hồ Quốc Thân làm Tổng Giám đốc kiêm đại diện pháp luật. Nhờ vào những lời hứa hẹn hấp dẫn, đã có khoảng 100 doanh nghiệp và gần 400 cá nhân mua đồng tiền lượng tử QFS vốn không có thật, càng không được pháp luật Việt Nam công nhận, tổng giá trị hàng chục tỷ đồng.

Thượng tá Trần Văn Dũng, Phó Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội cho biết: Qua quá trình điều tra ban đầu, chúng tôi phát hiện lãnh đạo Công ty Triệu Nụ Cười xây dựng hình ảnh của một tập đoàn an sinh, hứa hẹn mang lại lợi ích cho người dân. Điều kiện tham gia vào hệ sinh thái của Triệu Nụ Cười là các cá nhân, doanh nghiệp phải bỏ tiền “trợ duyên” để sở hữu đồng tiền QFS với mức giá từ 4-5 triệu đồng/1 QFS cho cá nhân và 39 triệu đồng/1 QFS cho doanh nghiệp. Đây là đồng tiền cá nhân do 1 đối tượng tự nghĩ ra và phát hành, không lên sàn bất kỳ nền tảng nào liên quan đến đồng tiền điện tử. Để bán được nhiều thẻ an sinh, đối tượng Thân tổ chức rất nhiều buổi livestream trên các nền tảng mạng xã hội, kết hợp với họp online trên Zoom, với nội dung đề cập đến đạo lý, nhân văn.

Thời gian qua, lực lượng công an và phương tiện truyền thông liên tục lên tiếng cảnh báo và vạch trần thủ đoạn của đối tượng này, tuy nhiên vẫn có khá nhiều người sập bẫy chiêu trò lừa đảo tiền ảo. Các chuyên gia an ninh mạng lý giải nguyên nhân là do thiếu hiểu biết và bị hấp dẫn bởi những lời hứa lợi nhuận cao.

Tương tự, một đường dây tội phạm lừa đảo xuyên quốc gia vừa bị Phòng Cảnh sát hình sự, Công an thành phố Hà Nội đấu tranh bóc gỡ. Các đối tượng đã nhắm vào những người có tiền và người cao tuổi để dụ dỗ, lôi kéo đầu tư vào đồng tiền năng lượng MPX. Năm 2023, Đỗ Huy Hoàng và Hoàng Văn Quyết đã bàn bạc, thống nhất và liên hệ với đối tượng người nước ngoài mang quốc tịch Uzbekistan để phân phối bán đồng tiền kỹ thuật số MPX. Đây là đồng tiền do các đối tượng tự tạo lập và không có giá trị tại Việt Nam…

Để tạo niềm tin với các nhà đầu tư, các đối tượng đưa ra thông tin, đồng tiền MPX có khả năng đào ra đồng tiền XFI, là loại tiền kỹ thuật số đã được niêm yết trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, các đối tượng còn tổ chức các chuyến đi du lịch tại Dubai, tham gia hội thảo tại các địa điểm sang trọng, quảng cáo về loại thẻ visa tích hợp đồng tiền kỹ thuật số XFI… Với chiêu thức này, đã có hai nghìn nhà đầu tư sập bẫy với số tiền hơn hai nghìn tỷ đồng. Đến nay, Cơ quan điều tra đã bắt giữ tám đối tượng, thu giữ nhiều xe sang, nhà và các tài sản khác có được do phạm tội với tổng trị giá khoảng 500 tỷ đồng, nạn nhân bị lừa nhiều nhất lên tới 13 tỷ đồng.

Không chỉ ở Hà Nội, trên cả nước, lực lượng công an đã triệt phá hàng loạt sàn giao dịch tiền ảo lừa đảo, bắt giữ các đối tượng cầm đầu và thu giữ tài sản lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng. Điển hình là, Bộ Công an phối hợp các đơn vị chức năng triệt phá đường dây lừa đảo tinh vi núp bóng “đầu tư Bitcoin” thông qua ứng dụng UNISAT và “nhiệm vụ trên TikTok”, bắt giữ 56 đối tượng. Đây là đường dây lừa đảo dưới hình thức đầu tư tiền điện tử Bitcoin trên ứng dụng UNISAT và lừa đảo làm nhiệm vụ TikTok, hoạt động tinh vi, xuyên quốc gia, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho nhiều nạn nhân.

Kết quả điều tra cho thấy, từ cuối năm 2023 đến đầu năm 2024, nhiều công dân Việt Nam đã sang Philippines làm việc cho tổ chức lừa đảo do người nước ngoài cầm đầu. Nhóm này tổ chức các văn phòng lừa đảo chuyên nghiệp, phân chia thành nhiều bộ phận với quản lý, tổ trưởng, nhân viên và đội kỹ thuật hậu thuẫn. Các đối tượng liên tục thay đổi nơi làm việc và chỗ ở để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng.

Để thực hiện hành vi lừa đảo, nhóm này lập các tài khoản Facebook ảo, giả danh doanh nhân thành đạt, khoe hình ảnh về sự giàu có để tạo lòng tin với nạn nhân. Sau khi làm quen, các đối tượng dụ dỗ bị hại tải ứng dụng “UNISAT”, tham gia đầu tư đồng tiền điện tử Bitcoin với mức tối thiểu tám triệu đồng để hưởng lợi nhuận cao trong thời gian ngắn.

Còn tại Đồng Nai, Trần Minh Quang cùng đồng bọn lập trang web “Bitminer”, phát hành đồng tiền ảo “Bincoin”. Để tạo sự tin cậy, Quang đăng ký tên miền ở Singapore, định vị công ty trên Google Maps tại Dubai để đánh lừa người đầu tư. Kết quả, hơn 200 nạn nhân đã sập bẫy, mất số tiền lên đến hàng tỷ đồng. Để tạo lòng tin, các đối tượng phân nhóm quản trị, nhóm phát triển thị trường và chia sẻ lợi nhuận “khủng” để tuyển chọn cộng tác viên kêu gọi người chơi nạp tiền. Tạo các nhóm kín “đào kim cương”, tài liệu bitminer”, “tiêu dùng thông minh”; chia sẻ các tài liệu và cài đặt tài khoản giả lập cho cộng tác viên để lừa người chơi. Bước đầu, cơ quan công an xác định, các đối tượng đã chiếm đoạt gần bốn tỷ đồng của hơn 200 nạn nhân.

Mặc dù Việt Nam chưa có một khung pháp lý cụ thể cho lĩnh vực tiền mã hóa, nhưng theo báo cáo của Chainalysis-công ty phân tích dữ liệu blockchain có uy tín toàn cầu-trong giai đoạn 2021-2022, nước ta vẫn xếp thứ ba trên thế giới về khối lượng giao dịch tiền số. Trong số này có một bộ phận không nhỏ những người tham gia theo phong trào, thiếu kiến thức chuyên sâu về thị trường. Đây chính là nhóm đối tượng mà các sàn giao dịch lừa đảo thường nhắm đến để trục lợi.

Thời gian qua, lực lượng công an và phương tiện truyền thông liên tục lên tiếng cảnh báo và vạch trần thủ đoạn của đối tượng này, tuy nhiên vẫn có khá nhiều người sập bẫy chiêu trò lừa đảo tiền ảo.

Các chuyên gia an ninh mạng lý giải nguyên nhân là do thiếu hiểu biết và bị hấp dẫn bởi những lời hứa lợi nhuận cao. Các nhóm lừa đảo liên tục bày ra đủ cách thức, từ gọi điện, nhắn tin qua Zalo, Telegram, thậm chí giả danh chuyên gia tài chính để dụ dỗ nạn nhân đầu tư vào những sàn giao dịch tiền số, tiền mã hoá do chúng tự lập ra. Ban đầu, các đối tượng trả cho người đầu tư một ít lợi nhuận để tạo lòng tin, nhưng khi gom được số tiền lớn từ nhà đầu tư, các sàn ảo này lập tức biến mất, khiến nhiều người mất trắng.

Mặc dù Việt Nam chưa có một khung pháp lý cụ thể cho lĩnh vực tiền mã hóa, nhưng theo báo cáo của Chainalysis-công ty phân tích dữ liệu blockchain có uy tín toàn cầu-trong giai đoạn 2021-2022, nước ta vẫn xếp thứ ba trên thế giới về khối lượng giao dịch tiền số. Trong số này có một bộ phận không nhỏ những người tham gia theo phong trào, thiếu kiến thức chuyên sâu về thị trường. Đây chính là nhóm đối tượng mà các sàn giao dịch lừa đảo thường nhắm đến để trục lợi.

Trước tình hình nêu trên, cơ quan chức năng liên tục đưa cảnh báo, đồng thời khẳng định: Hiện nay tại Việt Nam chưa có bất cứ đơn vị nào là đại lý chứng khoán quốc tế, cũng như chưa công nhận tiền ảo là phương tiện thanh toán; do đó, mọi giao dịch tiền ảo trên internet đều bất hợp pháp và có nguy cơ bị lừa đảo rất cao. Ngay cả tiền số-loại tiền được một số nước trên thế giới công nhận như: Bitcoin, Pi, Ethereum và các loại coin, dù được giao dịch trên các sàn được coi là uy tín vẫn tiềm ẩn đầy rủi ro, bởi pháp luật Việt Nam không công nhận đó là tiền.

Cảnh giác không tham gia đầu tư mua bán trên các sàn giao dịch tiền ảo, tiền kỹ thuật số, website, ứng dụng đầu tư tiền ảo, đặc biệt là các sàn quảng cáo, hứa hẹn lợi nhuận cao hoặc cơ hội đầu tư hấp dẫn. Nếu phát hiện trường hợp lừa đảo, người dân cần báo ngay cho cơ quan công an để nhanh chóng xác minh, ngăn chặn và xử lý theo quy định của pháp luật.

***

Nhận diện các thủ đoạn rửa tiền thông qua tiền mã hóa trên thế giới hiện nay và kinh nghiệm đối với Việt Nam trong công tác phòng, chống

19:10 07/04/2025

(Pháp lý). Bài viết nghiên cứu về thực trạng lợi dụng các đồng tiền mã hóa để phục vụ các hoạt động phạm tội nói chung và tội phạm rửa tiền nói riêng tại Việt Nam và trên thế giới. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp mà các lực lượng chức năng nghiên cứu áp dụng để chủ động phòng, chống tội phạm rửa tiền thông qua các giao dịch tiền mã hóa.

image001-1729504752.png
 

1. Tiền mã hóa – công cụ mới được “ưa chuộng” của tội phạm và rửa tiền 

Trong những năm gần đây, các đồng tiền mã hóa (CryptoCurrency) đã và đang phát triển mạnh mẽ, với hàng loạt các đồng tiền mới được ra đời, dựa trên các công nghệ tiên tiến, và độ phổ biến không ngừng được mở rộng với số lượng người sử dụng và tổng giá trị giao dịch ngày một tăng. 

Về mặt kỹ thuật có thể hiểu tiền mã hóa là những đồng tiền điện tử được tạo ra bằng các thuật toán mã hóa sử dụng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) để xác thực giao dịch. Đây là các đồng tiền phi tập trung, được giao dịch thông qua công nghệ xác thực ngang hàng (peer-to-peer) và không chịu sự quản lý, can thiệp của bất cứ cơ quan, tổ chức thứ ba nào (ví dụ như ngân hàng, cơ quan nhà nước…). Một số đồng tiền mã hóa điển hình, phổ biến hiện nay như Bitcoin (BTC), Ethereum (ETH), Litecoin (LTC)… 

Tuy nhiên, ngay từ khi đồng tiền mã hóa đầu tiên là Bitcoin ra đời vào năm 2008, các cơ quan thực thi pháp luật tại các quốc gia và các tổ chức quốc tế đã đưa ra các cảnh báo về khả năng các đồng tiền này bị lợi dụng để thực hiện các loại tội phạm về tài chính, trong đó đặc biệt là hành vi rửa tiền. Nguyên nhân chủ yếu là bởi các đồng tiền này nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ cũng như yếu tố ẩn danh vượt trội mà chúng đem lại cho người sử dụng. 

Cụ thể, các giao dịch bằng tiền mã hóa không cần sự xác thực và phê duyệt của một bên thứ ba như ngân hàng, cơ quan có thẩm quyền nhà nước hay các tổ chức phi chính phủ. Khi sở hữu và thực hiện các giao dịch, người dùng không phải cung cấp các thông tin xác thực cá nhân, không cần cung cấp vị trí người dùng, và có thể sử dụng nhiều tài khoản tiền mã hóa khác nhau để thực hiện các giao dịch cùng một lúc. Từ đó, gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc phát hiện và truy vết các hoạt động phạm tội cũng như xác định đối tượng phạm tội [1]. 

Bên cạnh đó, các công nghệ được sử dụng để phát triển các đồng tiền mã hóa luôn thay đổi nhanh hơn so với tốc độ xây dựng các quy định pháp luật. Điều này có nghĩa, việc soạn thảo, ban hành các quy pháp pháp luật điều chỉnh các đồng tiền mã hóa không chỉ đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, mà còn phải đối mặt với nguy cơ trở nên lỗi thời ngay sau khi có hiệu lực [2].   

Theo báo cáo của công ty phân tích blockchain Chainalysis, tổng số tiền được rửa qua các đồng tiền điện tử trong hai năm 2022 và 2023 lần lượt là 31,5 tỷ và 22,2 tỷ USD, và kể từ năm 2019 đến nay, gần 100 tỷ USD bất hợp pháp đã được “rửa” thông qua tiền điện tử trên toàn cầu [3]. 

Trong số các đồng tiền mã hóa phổ biến, Bitcoin là đồng tiền bị các đối tượng lợi dụng nhiều nhất. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hơn một phần tư (26%) người sử dụng và gần một nửa (46%) các giao dịch tiền mã hóa Bitcoin có liên quan đến các hoạt động vi phạm pháp luật. Điển hình như, tại thời điểm tháng 4/2017, có khoảng 27 triệu người dùng sử dụng Bitcoin để phục vụ các hành vi vi phạm pháp luật, và trong một năm, ước tính các tài khoản đó đã thực hiện các giao dịch với tổng giá trị lên đến 76 triệu đô-la. Con số này tương đương với quy mô của thị trường ma túy của nước Mỹ và Châu Âu cộng lại [4].

Tại Việt Nam, theo ước tính của Hiệp hội Blockchain thì nước ta đứng thứ 15 thế giới về khối lượng giao dịch thực tế và là một trong những nước đứng đầu thế giới về mức độ chấp nhận tiền mã hóa. Theo số liệu từ Chainalysis, trong giai đoạn từ tháng 7/2022 đến tháng 7/2023, tổng giá trị tiền mã hoá mà Việt Nam nhận về đạt mức 120 tỷ USD, và gấp 5 lần dòng vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (FDI)[5]. Tuy nhiên, trong số đó, có một lượng tiền nhất định liên quan đến các hoạt động bất hợp pháp. Ví dụ, 956 triệu USD trong tổng số 90,8 tỷ USD tiền điện tử Việt Nam nhận về trong giai đoạn 2021-2022 có liên quan đến hoạt động rửa tiền [6]. Do vậy, phòng chống rửa tiền lợi dụng tiền mã hóa đã và đang trở thành mối bận tâm lớn, là một vấn đề được ưu tiên của tất cả các quốc gia trên thế giới hiện nay, trong đó có Việt Nam.

image002-1729504752.jpg
Ảnh minh họa

2. Nhận diện thủ đoạn rửa tiền thông qua tiền mã hóa

Với những đặc tính riêng có của các đồng tiền mã hóa (bao gồm các đặc tính về công nghệ, tính ẩn danh, tính phi tập trung), sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ mà đặc biệt là các công nghệ liên quan đến thuật toán mã hóa, cùng với sự nở rộ của các “dịch vụ tội phạm mạng” (cybercrime-as-a-service) trên các trang mạng ẩn Darkweb và Deepweb, các đối tượng phạm tội đã và đang triệt để sử dụng đa dạng nhiều phương pháp khác nhau để “rửa” những số tiền bất hợp pháp được thu lợi từ các hành vi phạm tội và vi phạm pháp luật khác. Những phương thức, thủ đoạn phổ biến bao gồm:

a. Thông qua các sàn giao dịch tiền mã hóa tập trung (Centralised exchanges). 

Các sàn giao dịch tập trung (điển hình như: Coinbase, Binance, Bithumb, FTX…) là kênh chủ yếu bị các đối tượng phạm tội lợi dụng để rửa tiền. Theo số liệu thống kê, có tới hơn 60% lượng tiền mã hóa liên quan đến các hoạt động bất hợp pháp được rửa thông qua các sàn này giai đoạn 2019-2023 [7], và đây là nơi các đối tượng rút từ tiền điện tử thành tiền pháp định. 

Trên thực tế, phần lớn các sàn giao dịch lớn trên thế giới (ví dụ như: Coinbase, Kraken, itBit, Gemini, Bitstamp, OKEx, bitFlyer, OKCoin…) đều khẳng định tuân thủ các quy định của pháp luật trong việc phòng, chống rửa tiền, trong đó có các cơ chế về việc định danh khách hàng (KYC – Know Your Customer) và cơ chế phát hiện các giao dịch nghi vấn và cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng khi cần thiết. Một số sàn giao dịch (ví dụ như: Binance, BitMax, KuCoin, BiFinex và StormGain) cho phép các giao dịch giữa tiền mã hóa với tiền mã hóa được duy trì ẩn danh, nhưng nếu chuyển tiền mã hóa thành tiền pháp định, tức tiến hành hoạt động rút tiền, thì các quy định của pháp luật về phòng chống rửa tiền, trong đó có việc xác thực danh tính người dùng, sẽ được thực hiện. 

Tuy nhiên, vẫn có một số sàn giao dịch cho phép chủ tài khoản ví điện tử ẩn danh ở một mức độ nhất định hoặc thậm chí hoàn toàn khi rút tiền. Ví dụ: sàn Poloniex cho phép chủ tài khoản ví điện tử thực hiện lệnh rút tiền tối đa 10.000 USD trong một ngày mà không cần thực hiện bước xác định danh tính. Thậm chí, sàn KYCNOT.ME hoàn toàn không thực hiện các yêu cầu của pháp luật về phòng, chống rửa tiền khi không thực hiện bất cứ hoạt động nào xác thực danh tính chủ tài khoản ví điện tử khi các tài khoản này thực hiện lệnh rút tiền pháp định. [8]. Thực tế này phản ánh một thực trạng rằng, mặc dù các sàn vẫn tuân thủ hoặc tuân thủ một phần các quy định hiện hành, nhưng hệ thống pháp luật quốc tế và của từng quốc gia vẫn còn thiếu và tồn tại nhiều lỗ hổng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để các hoạt động rửa tiền lợi dụng các sàn giao dịch tập trung vẫn có thể diễn ra trên quy mô lớn. 

Một điểm đáng chú ý là việc rửa tiền trên các sàn này có độ tập trung rất cao, được thực hiện bởi một số ít tài khoản nhất định. Điển hình như: trong năm 2023, các cơ quan, tổ chức xác định được có 109 tài khoản trên các sàn nhận về hơn 10 triệu USD tiền mã hóa trên một tài khoản, và các tài khoản này nhận về tổng cộng 3,4 tỷ USD tiền mã hóa liên quan đến các hoạt động bất hợp pháp; có 1425 tài khoản nhận về trên 1 triệu USD tiền mã hóa trên một tài khoản, và tổng cộng nhận về 6,7 tỷ USD tiền mã hóa liên quan đến các hoạt động bất hợp pháp, chiếm tới 46% tổng số tiền mã hóa được rửa trong năm đó. Tuy nhiên, độ tập trung của hoạt động rửa tiền thông qua các tài khoản đang có xu hướng giảm dần khi mà số lượng các tài khoản được lợi dụng đang ngày một tăng, nhằm tránh việc bị các cơ quan chức năng truy vết và thu giữ các khoản tiền bất hợp pháp từ các tài khoản này. 

b. Thông qua hệ thống tài chính phi tập trung (Decentralised Finance – DeFi)

Xu hướng đầu tư tài chính phi tập trung (Defi)  để rửa tiền được bắt đầu từ năm 2020 và phát triển mạnh mẽ trong bốn năm trở lại đây. Tổng số tiền mã hóa được rửa qua các giao thức DeFi tăng mạnh trong giai đoạn năm năm trở lại đây, từ dưới 1% tổng số lượng tiền được rửa trong năm 2019 lên khoảng hơn 16% trong năm 2022 và giảm về khoảng 12% trong năm 2023[3]. Tuy nhiên, những con số này mới chỉ bao gồm số tiền được tạo ra từ tội phạm liên quan trực tiếp đến tiền mã hóa, như tấn công mã độc tống tiền (ransomware), bán sản phẩm trên các trang mạng ẩn (darknet), lừa đảo trực tuyến, truyền bá các tài liệu liên quan đến lạm dụng trẻ em… Con số thực tế, nếu tính cả tiền từ các hoạt động phi pháp ngoài đời như buôn ma túy đã được chuyển thành tiền điện tử, có thể cao hơn nhiều [7].

Một điểm cần lưu ý đó là, mặc dù tỷ lệ tiền được rửa qua các hệ thống tài chính phi tập trung tăng mạnh trong giai đoạn 2019-2023, sự tăng trưởng đó một phần xuất phát từ nguyên nhân khách quan là sự phát triển mạnh mẽ của các hệ thống này trong những năm gần đây. Thực tế, các hệ thống tài chính phi tập trung có tính minh bạch cao, việc rửa tiền qua các hệ thống này có thể dễ dàng bị truy vết dòng tiền, do đó, không phải là sự lựa chọn được ưa chuộng của các đối tượng phạm tội[3]. 

Nghiên cứu cho thấy các hoạt động rửa tiền thông qua tài chính phi tập trung chủ yếu được thực hiện bởi các đối tượng tấn công mạng (hacker), chiếm 57,0% lượng tiền được rửa thông qua hình thức này. Nguyên nhân là bởi, các hoạt động tài chính phi tập trung rất dễ bị tấn công bởi các hacker, và khi cuộc tấn công thành công, loại tiền mã hóa mà các đối tượng chiếm đoạt được thường là các đồng tiền chưa được niêm yết (được gọi là Token), và do đó, chỉ có thể giao dịch trên các sàn giao dịch phi tập trung (Decentrialised exchanges – viết tắt là DEXes) để chuyển thành các đồng tiền điện tử có giá trị (đặc biệt là đồng Etherium) trước khi có thể giao dịch và rửa tiền trên các sàn tập trung [7].

c. Thông qua Máy trộn tiền mã hóa (Mixers hoặc Tumblers) và Cầu nối chuỗi (cross-chain bridge)

Phần lớn các hoạt động rửa tiền thông qua tiền mã hóa diễn ra ở mức độ đơn giản, theo đó, các đối tượng chuyển các đồng tiền mã hóa đến các sàn giao dịch tập trung để rửa tiền. Tuy nhiên, một bộ phận nhất định các đối tượng sử dụng các thủ đoạn tinh vi, phức tạp hơn để rửa tiền, bao gồm việc rửa tiền thông qua các Dịch vụ trộn tiền mã hóa (Mixers) và Cầu nối chuỗi (Cross-chain bridges). 

“Trộn tiền mã hóa” là một trong số những dịch vụ điển hình và phổ biến hiện nay được các đối tượng phạm tội sử dụng để rửa tiền từ tiền mã hóa sang tiền pháp định, trong đó, tập trung chủ yếu vào việc giao dịch các đồng tiền mã hóa lớn như Bitcoin, Litecoin và Etherium. Các máy trộn tiền mã hóa (Mixers hoặc Tumblers) này được cung cấp trên cả các trang web công khai (ví dụ như: Smartmixer, Bitcoin Mixer, JoinMarket, Wasabi Wallet…) và các trang web ẩn thông qua trình duyệt Tor (ví dụ như: Alphabay, Sinbad, ChipMixer ). Về bản chất, các máy trộn tiền này là hợp pháp, dùng để phục vụ các mục đích đảm bảo quyền riêng tư về lịch sử giao dịch, và phần lớn lượng tiền được gửi đến các máy trộn tiền là từ các nguồn hợp pháp. Tuy nhiên, các công cụ hợp pháp này ngày càng được các đối tượng rửa tiền lợi dụng, và lượng tiền bất hợp pháp chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong tổng số tiền được gửi đến máy trộn. Trong giai đoạn 2019-2023, có hơn 3,06 tỷ USD đã được chuyển qua các dịch vụ trộn tiền mã hóa, trong đó, chỉ tính riêng trong năm 2022, con số này là 1,01 tỷ USD [7]. 

Về phương thức hoạt động, các máy trộn này nhận tiền từ các đối tượng muốn rửa tiền, trộn các đồng tiền mã hóa có nguồn gốc bất hợp pháp với các đồng tiền mã hóa có nguồn gốc hợp pháp, sau đó các khoản tiền nhỏ được gửi đi đến nhiều ví điện tử khác nhau vào các khoản thời gian khác nhau. Các khoản tiền này đi qua nhiều ví điện tử trung gian khác và dần dần quay trở lại một ví điện tử do các đối tượng rửa tiền quản lý. Các máy trộn tiền thường tính phí dịch vụ từ 1-3% tổng giá trị giao dịch [2]. Những đồng tiền sau khi đi qua máy trộn tiền đã thay đổi về mặt bản chất và rất khó xác định được nguồn gốc của chúng. Những đồng tiền đã được “rửa” có thể được chuyển thành tiền thật (tiền pháp định) thông qua các cổng trung gian như Paypal hoặc Western Union [8]. Theo một Giám đốc nghiên cứu tại công ty phân tích blockchain Chainalysis, mỗi ngày các máy trộn tiền mã hóa này có thể “trộn” khoảng 30 triệu USD . 

Điển hình trong thời gian gần đây, dịch vụ trộn tiền ảo ChipMixer đã bị Cơ quan Hợp tác thực thi pháp luật – Liên minh châu Âu (Europol) và Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI) đánh sập vào tháng 3/2023. Europol mô tả ChipMixer là một trong những máy trộn Tiền mã hóa lớn nhất hiện nay và bị cho là đã giúp tội phạm mạng rửa số tiền số trị giá hơn 3 tỷ USD [9]. Đáng chú ý, theo thông tin từ FBI, dịch vụ trộn tiền ảo này do Nguyễn Minh Quốc, 49 tuổi, quốc tịch Việt Nam, tạo dựng và trực tiếp điều hành . 

Mặc dù đã có một số website trộn Tiền mã hóa phục vụ các hoạt động rửa tiền đã bị lực lượng chức năng các quốc gia trên thế giới triệt phá, song ngay lập tức các dịch vụ trộn tiền khác xuất hiện, thay thế (ví dụ như: sàn Sinbad xuất hiện thay thế cho sàn Tornado Cash và hiện bị thay thế bởi sàn YoMix). Cùng với đó, hệ thống pháp luật quốc tế cũng như của các quốc gia vẫn chưa có những thay đổi kịp thời để kiểm soát, điều chỉnh và quản lý lĩnh vực này [8]. Đây là nguyên nhân khiến cho việc rửa tiền thông quan lợi dụng các dịch vụ trộn tiền mã hóa chứng kiến sự tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây [3]. 

Bên cạnh các máy trộn tiền, Cầu nối chuỗi (Cross-chain bridges) là các dịch vụ cho phép người dùng chuyển đổi từ loại tiền mã hóa này sang loại tiền mã hóa khác. Các đối tượng thường thực hiện việc chuyển đổi các loại tiền mã hóa nhiều lần, nhằm che giấu nhân thân và đường đi của dòng tiền. Năm 2023 chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ trong lượng tiền mã hóa được rửa qua các cầu nối chuỗi, lên tới 743,8 triệu USD, tăng gấp hơn hai lần so với năm 2022 ở mức 312,2 triệu USD, và chủ yếu được thực hiện do các đối tượng hacker tấn công lấy cắp tiền điện tử từ các tài khoản hợp pháp. 

d. Thông qua thị trường mua bán trao tay OTC (Over the counter market)

Thị trường mua bán trao tay (OTC) là nơi các giao dịch mua hoặc bán tiền mã hóa được thực hiện trực tiếp giữa người mua và người bán với số lượng lớn, không cần thông qua các sàn giao dịch và không ảnh hưởng đến giá trị trên thị trường của đồng tiền được giao dịch. Trong các giao dịch OTC, người mua và người bán có thể thực hiện các giao dịch rất lớn, tự thỏa thuận với nhau về giá, không có sổ lệnh trên các sàn ghi lại lịch sử giao dịch, cũng như không cần tuân thủ các bước giao dịch theo quy định về phòng, chống rửa tiền. Đây là thị trường được rất nhiều người quan tâm, trong đó có nhiều đối tượng tham gia với mục đích rửa tiền. 

Một số ước tính cho thấy lượng tiền mã hóa được giao dịch trên thị trường mua bán trao tay (OTC) lớn gấp hai đến ba lần so với lượng tiền được mua bán, chuyển đổi thông qua các sàn giao dịch [10]. Việc giao dịch giữa người mua và người bán trên các thị trường mua bán trao tay này có thể thực hiện thông qua hai cách: giao dịch thông qua một bên trung gian, mối giới (ví dụ như: nền tảng Kraken, Bitstocks, Genesis Trading…) hoặc giao dịch trực tiếp giữa người mua và người bán, trong đó, hình thức giao dịch qua một nền tảng trung gian là phổ biến nhất, do quy mô, tốc độ và khả năng thanh khoản cao của các dịch vụ trung gian này. Theo đó, hoạt động mua bán tiền mã hóa (tức chuyển đổi từ tiền mã hóa sang tiền pháp định) thường được thực hiện thông qua các cuộc gặp mặt trực tiếp giữa các bên dưới sự sắp xếp của bên trung gian, môi giới và nền tảng này thường tính phí từ 3-8% tổng giá trị giao dịch. Các đối tượng có ý định rửa tiền thông qua các đồng tiền mã hóa hoàn toàn có thể lợi dụng thị trường mua bán trao tay (OTC) để rửa một lượng tiền lớn và trong khoảng thời gian ngắn [8]. 

e. Thông qua tiền mã hóa ẩn danh (Privacy coins)

Tiền mã hóa ẩn danh (gọi tắt là tiền ẩn danh) là những đồng tiền mã hóa được tạo ra nhằm mục đích ẩn danh hoàn toàn cho người dùng và nguồn gốc của các giao dịch của họ. Những đồng tiền ẩn danh này sử dụng các sổ cái (ledger) ẩn, các thuật toán mã hóa phức tạp và trộn tiền, khiến cho việc truy vết các giao dịch trở nên khó khăn hơn nhiều so với các loại tiền mã hóa công khai khác như Bitcoin, từ đó cho phép người dùng che giấu nguồn gốc, lượng tiền và tài khoản nhận trong các giao dịch được thực hiện. Từ năm 2014 trở đi, hàng loạt các đồng tiền ẩn danh được ra đời, điển hình như: Monero (XMR), Dash (DASH), Zcash (ZEC), Verge (XVG), Beam (BEAM), Navcoin (NAV)… Các cơ quan thực thi pháp luật và cơ quan quản lý đã bày tỏ lo ngại về các đối tượng phạm tội tích cực lợi dụng các đồng tiền ẩn danh để rửa tiền, trốn thuế và thực hiện các hoạt động bất hợp pháp khác. Ví dụ như: theo một nghiên cứu được thực hiện năm 2018 cho thấy, có khoảng 25% các giao dịch liên quan đến đồng tiền Monero (XMR) là có liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật [11]. 

f. Thông qua các sàn đánh bạc trực tuyến

Các báo cáo năm 2024 của Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc về (UNODC) và của công ty Chainalysis đều chỉ ra một xu hướng mới nổi lên trong hoạt động rửa tiền của các tội phạm, đặc biệt là các tội phạm có tổ chức, trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á là sử dụng tiền điện tử để đánh bạc trực tuyến [3, 12]. Theo đó, các đối tượng đang lợi dụng các đồng tiền Tether và USDT trên mạng TRON để rửa các khoản tiền thu được từ các hoạt động phạm tội như lừa đảo trực tuyến – một vấn đề nóng ở khu vực Đông Nam Á hiện nay, và phát tán mã độc mã hóa dữ liệu tống tiền (Ransomware). Sau khi các khoản tiền điện tử được sử dụng để đánh bạc hoặc được chuyển từ tài khoản đánh bạc ở quốc gia này sang tài khoản đánh bạc ở quốc gia khác, chúng sẽ được rút ra thành tiền pháp định và rất khó xác định nguồn gốc liên quan đến tội phạm của các khoản tiền này. 

g. Sử dụng tiền mã hóa mua bất động sản, tác phẩm nghệ thuật và hàng hóa bán lẻ

Trong những năm gần đây, việc mua bán bất động sản, các tác phẩm nghệ thuật, và các loại hàng hóa có giá trị bằng các đồng tiền mã hóa, đặc biệt là đồng Bitcoin, đang trở nên phổ biến và dần trở thành trào lưu mới. Thực tế cho thấy, hoạt động mua bán bất động sản bằng tiền mã hóa đã và đang diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ , Bồ Đào Nha, Mexico, Colobia … bất chấp việc thiếu hành lang pháp lý đối với tiền mã hóa, cũng như những nguy cơ liên quan đến trốn thuế và rửa tiền. Điển hình như tại Dubai, một dự án căn hộ trị giá 325 triệu USD đã được mở bán năm 2017 và chấp nhận thanh toán trực tiếp bằng Bitcoin . Cùng với đó, hàng loạt website trên không gian mạng được ra đời, cho phép người dùng thực hiện các giao dịch mua bán các loại hàng hóa có giá trị cao thông qua việc sử dụng các đồng tiền mã hóa. Điển hình như: website Vaultoro.com cho phép mua bán vàng, bạc bằng Bitcoin, Dash và hàng loạt các đồng tiền mã hóa phổ biến khác với mức phí giao dịch thấp; website Bitcars.eu trở thành nền tảng để thực hiện các thương vụ mua bán siêu xe ô tô bằng Bitcoin… 

Việc mua bán kim cương , các tác phẩm nghệ thuật, NFTs… bằng tiền mã hóa thông qua các website hay qua các nhà đấu giá cũng dần trở nên phổ biến ở một số quốc gia trên thế giới. Như vậy, việc các đồng tiền mã hóa dần được chấp nhận phổ biến trong các giao dịch mua bán bất động sản và hàng hóa có giá trị cao, trong khi các quy định của pháp luật đối với hoạt động này còn thiếu và chưa bắt kịp thực tại, các đối tượng phạm tội và vi phạm pháp luật hoàn toàn có thể lợi dụng để phục vụ cho các mục đích rửa tiền. 

4. Phương hướng phòng, chống rửa tiền mã hóa trong thời gian tới. 

Hiện nay, Việt Nam đứng thứ hai trong danh sách quốc gia có tỷ lệ người dân sở hữu tiền mã hóa cao nhất thế giới, với 21,2% dân số  và dự kiến số lượng người dùng tiền mã hóa vào năm 2027 sẽ tăng thêm 12,37 triệu người . Với sự gia tăng nhanh chóng này, trong bối cảnh các khung quy định pháp lý đối với tiền tiền mã hóa còn thiếu và tồn tại nhiều hạn chế, hoạt động rửa tiền mã hóa tại Việt Nam được dự đoán sẽ có xu hướng tăng cao trong thời gian tới. Đặc biệt là gần đây Việt Nam đã bị Lực lượng đặc nhiệm hành động tài chính liên Chính phủ (FATF) đưa vào danh sách xám các nước cần tăng cường phòng chống rửa tiền, trong đó có tiền mã hóa. 

Để chủ động phòng, chống các hành vi rửa tiền lợi dụng tiền mã hóa trong thời gian tới, các lực lượng chức năng cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, nghiên cứu, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hoặc các hướng dẫn, quy trình về phòng, chống rửa tiền lợi dụng tiền mã hóa. 

Tính đến thời điểm hiện tại, hệ thống pháp luật trên thế giới điều chỉnh phòng, chống rửa tiền lợi dụng tiền điện tử mới đang trong giai đoạn bước đầu được xây dựng. Trong đó, Liên minh châu Âu (EU) đã tiên phong đi đầu khi ban hành đạo luật Thị trường Tài sản mã hóa (MiCA) và sẽ có hiệu lực từ năm 2024. Các quốc gia khác như Mỹ, Hàn Quốc, Hongkong (Trung Quốc), Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất cũng đang triển khai xây dựng và ban hành nhiều quy định để tăng cường tính minh bạch, đảm bảo tuân thủ pháp lý và an toàn cho người dùng, đồng thời thực hiện nghĩa vụ chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố đối với các sàn giao dịch và các dịch vụ liên quan đến tiền mã hóa trên không gian mạng. Lực lượng đặc nhiệm hành động tài chính liên Chính phủ (FATF) cũng đã ban hành bảy văn bản, tài liệu hướng dẫn về “tài sản ảo” để các quốc gia, tổ chức trên thế giới có thể nghiên cứu, tham khảo và áp dụng vào thực tế nước mình  . 

Tại Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền 2022 đã có hiệu lực từ 1/3/2023 nhưng các tổ chức tín dụng, các cơ quan nhà nước vẫn còn lúng túng trong việc xử lý các hành vi có liên quan đến tiền mã hóa. Do đó, trong thời gian tới, các lực lượng chức năng trong nước cần tiếp tục nghiên cứu hệ thống pháp luật và các tài liệu hướng dẫn của các tổ chức quốc tế, các quốc gia đi đầu trên thế giới để kịp thời xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật, hướng dẫn trong nước, đáp ứng kịp thời các yêu cầu thực tế đặt ra trong công tác phòng, chống rửa tiền lợi dụng tiền mã hóa. Cụ thể: Bổ sung quy phạm pháp luật trong Luật Thương mại, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng cấm hoặc hạn chế sử dụng tiền mã hóa trong các giao dịch hàng hóa, dịch vụ; Bổ sung quy phạm pháp luật trong Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư hoặc các văn bản hướng dẫn khi trong các quy phạm pháp luật của hai luật này theo hướng cấm hoặc hạn chế đầu tư, góp vốn, kinh doanh… tiền mã hóa. Bổ sung quy phạm pháp luật trong Bộ luật Hình sự, Luật Phòng, chống rửa tiền, Luật Giao dịch điện tử, Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam… về tiến hành điều tra khi có dấu hiệu chuyển tiền lớn nghi có dấu hiệu liên quan đến chuyển tiền pháp định thành tiền mã hóa hoặc ngược lại.

Thứ hai, chủ động xây dựng chương trình phòng, chống tội phạm rửa tiền lợi dụng tiền mã hóa 

Hiện tại, Việt Nam đã ký cam kết cấp Chính phủ với Lực lượng đặc nhiệm hành động tài chính liên Chính phủ (FATF) về việc thực hiện Kế hoạch hành động gồm 17 hành động do FATF đưa ra cho Việt Nam trong khoảng thời gian nhất định (hoàn thành trước tháng 5/2025). Đây là khung chương trình hành động cơ bản, định hướng các biện pháp, chương trình mà các cơ quan thực thi pháp luật, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp cần thực hiện trong thời gian tới để tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền, trong đó có rửa tiền lợi dụng tiền điện tử. 

Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan thực thi pháp luật, cần tăng cường phối hợp với các cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tiền mã hóa, phòng chống lừa đảo trên không gian mạng… xây dựng các sáng kiến, giải pháp về công nghệ để giám sát chặt chẽ các giao dịch, chủ động phát hiện các giao dịch có dấu hiệu nghi vấn, thu thập thông tin và truy vết khi có dấu hiệu liên quan đến tội phạm và rửa tiền lợi dụng tiền điện tử. Một ví dụ điển hình là việc Hiệp hội Blockchain Việt Nam công bố dự án chống lừa đảo với tên gọi là ChainTracer vào đầu năm 2023, với nhiệm vụ cung cấp giải pháp theo dõi dữ liệu blockchain onchain và offchain, phát hiện những dấu hiệu gian lận trong tài sản kỹ thuật số. Mục đích chính của dự án là góp phần thúc đẩy tính minh bạch và công khai của các dự án tại Việt Nam và quốc tế, góp phần phòng, chống các tội phạm quan đến hoạt động blockchain, trong đó có rửa tiền.

Thứ ba, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với lực lượng Công an nhân dân, đặc biệt là lực lượng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao để tiến hành rà soát trên mạng Internet, kịp thời phát hiện và nắm tình hình, kiểm soát hoạt động của các dịch vụ, hội nhóm trên không gian mạng liên quan đến hoạt động rửa tiền bằng tiền mã hóa thông qua các dịch vụ máy trộn tiền, tiền ẩn danh, thị trường tài chính phi tập trung… và kịp thời tiến hành đấu tranh với các hành vi đã cấu thành tội phạm. 

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế với các cơ quan, tổ chức quốc tế trong việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm trong phòng, chống tội phạm rửa tiền lợi dụng tiền mã hóa; tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho các cán bộ thực thi pháp luật trong nước trên các phương diện kinh tế, công nghệ và pháp luật để có thể áp dụng các quy trình, giải pháp phòng, chống tội phạm rửa tiền lợi dụng tiền mã hóa hiệu quả. 

Ths. Lộc Minh Đạt,
( Học viện Cảnh sát nhân dân ).


Tài liệu tham khảo:

1.    Dyntu, V. and O. Dykyi, Cryptocurrency in the system of money laundering. Baltic Journal of Economic Studies, 2019. 4(75).
2.    Teichmann, F.M.J. and M.-C. Falker, Cryptocurrencies and financial crime: solutions from Liechtenstein. Journal of Money Laundering Control, 2021. 21(4): p. 775-788.
3.    Chainalysis, The 2024 Crypto Crime Report. 2024.
4.    Foley, S., J.R. Karlsen, and T.J. Putniņš, Sex, Drugs, and Bitcoin: How Much Illegal Activity Is Financed through Cryptocurrencies? The Review of Financial Studies, 2019. 32(5): p. 1798-1853.
5.    Đức Thiện, Tiền mã hóa vào Việt Nam đến 120 tỉ USD?, in Tuổi trẻ online. 2024: https://tuoitre.vn/tien-ma-hoa-vao-viet-nam-den-120-ti-usd-20240605170408513.htm.
6.    Minh Phương, Củng cố hành lang pháp lý chống rửa tiền trong giao dịch tiền mã hóa, in Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. 2023: https://dangcongsan.vn/kinh-te/cung-co-hanh-lang-phap-ly-chong-rua-tien-trong-giao-dich-tien-ma-hoa-647293.html.
7.    Chainalysis, The 2023 Crypto Crime Report. 2023.
8.    Dupuis, D. and K. Gleason, Money laundering with cryptocurrency: open doors and the regulatory dialectic. Journal of Financial Crime, 2020. 28(1): p. 60-74.
9.    Khương Nha, Một người Việt bị FBI truy nã vì rửa 3 tỷ USD tiền số, in VnEpress. 2023: https://vnexpress.net/mot-nguoi-viet-bi-fbi-truy-na-vi-rua-3-ty-usd-tien-so-4582009.html.
10.    Han, R. and X. Wang. Research on the relationship between Cryptocurrency and OTC market based on VAR model. in 2022 4th International Conference on Economic Management and Cultural Industry (ICEMCI 2022). 2022. Atlantis Press.
11.    Möser, M., et al. An empirical analysis of traceability in the monero blockchain. in Proceedings on Privacy Enhancing Technologies. 2018.
12.    UNODC, Casinos, Money Laundering, Underground Banking, and Transnational Organized Crime in East and Southeast Asia: A Hidden, Accelerating Threat. 2024. 

***

2. Tội phạm crypto tại Việt Nam liên hệ với các loại tội phạm khác 

Nạn mua bán người ở Việt Nam: Từ tuyến đường truyền thống đến lừa đảo số

1. Giới thiệu

Nạn mua bán người là một trong những hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền con người, đồng thời là mối đe dọa thường trực đối với an ninh toàn cầu, ổn định xã hội và sự phát triển kinh tế. Trên toàn thế giới, mỗi năm có hàng triệu người bị cưỡng ép, lừa gạt hoặc bị buộc rơi vào các tình huống bị bóc lột. Theo Báo cáo của Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC), trong giai đoạn đại dịch COVID-19, số nạn nhân bị mua bán có xu hướng giảm nhẹ, tuy nhiên đến năm 2022 con số này đã tăng vọt 25% so với thời điểm trước đại dịch, trong đó phụ nữ và trẻ em chiếm đa số.1 Sự gia tăng này là hệ quả của nhiều yếu tố đan xen, bao gồm khó khăn kinh tế, xung đột kéo dài, biến đổi khí hậu, và sự phát triển nhanh chóng của các tổ chức tội phạm có tổ chức.

Với vị trí địa lý chiến lược và sự hội nhập sâu rộng vào dòng di cư trong khu vực, Việt Nam vừa là quốc gia xuất phát của các nạn nhân và là điểm trung chuyển trong các hoạt động mua bán người. Loại hình tội phạm này đã chuyển biến từ hình thức buôn lậu xuyên biên giới truyền thống sang các mạng lưới số tinh vi, lợi dụng những lỗ hổng về kinh tế và vị trí địa lý của đất nước. Đối tượng bị nhắm đến chủ yếu là những nhóm dễ bị tổn thương nhất, bao gồm phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, lao động nghèo, và gần đây là cả nam giới và các thành viên của cộng đồng LGBTQI+. Công dân Việt Nam bị mua bán sang các quốc gia như Trung Quốc, Campuchia, Lào, Myanmar và nhiều nước khác để bị khai thác bóc lột. Mặc dù Chính phủ và các tổ chức quốc tế đã có nhiều nỗ lực nhằm phòng, chống tội phạm này, tình trạng mua bán người vẫn tiếp diễn và ngày càng trở nên tinh vi hơn dưới tác động của công nghệ mới và bối cảnh toàn cầu thay đổi.

2. Định nghĩa 

Mua bán người được UNODC định nghĩa là “hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, che giấu hoặc tiếp nhận con người thông qua các hình thức lừa dối hoặc cưỡng ép khác nhau”.2 Các thủ đoạn thường gặp bao gồm: sử dụng vũ lực, đe dọa, cưỡng ép, lừa đảo, lạm dụng quyền lực hay lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, dễ tổn thương của nạn nhân – tất cả đều nhằm mục đích bóc lột.3 Các hình thức bóc lột có thể là cưỡng bức lao động, mại dâm, hôn nhân ép buộc, buôn bán nội tạng, nô lệ tình dục hoặc các hình thức lao động trái phép khác. Đây là loại tội phạm có thể xảy ra với bất kỳ ai – dù là nam giới, phụ nữ hay trẻ em – không phân biệt tuổi tác hay hoàn cảnh, và hiện diện ở hầu hết mọi khu vực trên thế giới.4

3. Bức tranh toàn cầu

Dòng chảy nạn nhân. Hoạt động mua bán người trên thế giới diễn ra theo những quy luật tương đối rõ ràng, có thể dự đoán được. Theo UNODC, một xu hướng nổi bật là nạn nhân thường bị đưa đi từ những khu vực kinh tế kém phát triển đến các quốc gia giàu có hơn. Các nước thu nhập thấp thường là nơi xuất pháp của các nạn nhân, trong khi các quốc gia phát triển lại là điểm đến – nơi họ bị bóc lột trong các ngành nghề khác nhau, từ nông nghiệp đến mại dâm.

Hình 1: Luồng di chuyển mua bán người xuyên khu vực chính trên thế giới

Nguồn: UNODC. Báo cáo Toàn cầu về Nạn Mua bán Người năm 2024.

Gia tăng về số lượng và thay đổi về đối tượng nạn nhân. Trên phạm vi toàn cầu, nạn mua bán người đang không ngừng gia tăng cả về quy mô lẫn mức độ tinh vi. Sau thời gian giảm nhẹ trong đại dịch, số nạn nhân được phát hiện đã tăng trở lại một cách rõ rệt. Năm 2022, phụ nữ và trẻ em gái chiếm tới 61% tổng số nạn nhân bị phát hiện, trong đó đáng báo động là số lượng trẻ em gái bị mua bán đã tăng 38% chỉ trong vòng ba năm. Trẻ em đang chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong tổng số nạn nhân, đặc biệt ở các khu vực chịu ảnh hưởng bởi xung đột và di dời dân cư.5

Hình 2: Tình hình mua bán người trên thế giới theo số liệu thống kê

Nguồn: UNODC. Báo cáo Toàn cầu về Nạn Mua bán Người năm 2024.

Các hình thức bóc lột: Bóc lột tình dục vẫn là hình thức phổ biến, tuy nhiên trong những năm gần đây, lao động cưỡng bức đã vượt lên, trở thành hình thức chủ yếu trên phạm vi toàn cầu. Theo Báo cáo Toàn cầu 2024 của UNODC, trong giai đoạn 2020–2023, có 42% số nạn nhân bị mua bán để cưỡng bức lao động , trong khi 36% là để khai thác tình dục. Bên cạnh đó, các hình thức bóc lột mới cũng đang nổi lên, như ép buộc nạn nhân tham gia vào các hoạt động phạm pháp – chẳng hạn như lừa đảo trực tuyến và các tội phạm công nghệ cao khác.

Sự tham gia của các tổ chức tội phạm có tổ chức. Ngày càng có nhiều vụ mua bán người do các đường dây tội phạm có tổ chức thực hiện. Những mạng lưới này hoạt động xuyên quốc gia, tận dụng công nghệ và khai thác các kẽ hở pháp luật để tránh bị phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự. Năm 2022, có tới 74% các đối tượng phạm tội mua bán người hoạt động trong các nhóm tội phạm có cấu trúc chặt chẽ như doanh nghiệp hoặc tổ chức quyền lực, chỉ có 26% là các cá nhân hành động đơn lẻ hoặc hoạt động rời rạc, không có tổ chức rõ ràng. 

Hình 3: Cơ cấu tổ chức của các đối tượng phạm tội, theo số lượng bị kết án

Nguồn: UNDOC. Báo cáo Toàn cầu về Nạn Mua bán Người năm 2024.

4. Đông Á và Thái Bình Dương: khu vực điểm nóng 

Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương6 chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng số các vụ mua bán người trên toàn cầu. Khác với nhiều khu vực khác – nơi mà phụ nữ trưởng thành chiếm phần lớn nạn nhân được phát hiện – tại khu vực này, cơ cấu nạn nhân đa dạng hơn, với tỷ lệ nam giới và trẻ em bị mua bán cũng ở mức đáng kể.

Sự phát triển kinh tế nhanh chóng tại khu vực này vừa mở ra nhiều cơ hội, vừa đi kèm với những rủi ro. Dù tăng trưởng kinh tế đã giúp hàng triệu người thoát nghèo, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nhu cầu về lao động giá rẻ và nới rộng khoảng cách bất bình đẳng – những yếu tố mà các đối tượng buôn người triệt để lợi dụng. Tình trạng di cư lao động xuyên biên giới, phần lớn diễn ra không chính thức, tạo điều kiện cho các hoạt động mua bán người ẩn mình và tồn tại dưới vỏ bọc di cư lao động.

Hình 4: Tỷ lệ nạn nhân bị mua bán tại Đông Á và Thái Bình Dương theo nhóm tuổi và giới tính, 2022 hoặc số liệu gần nhấtHình 5: Tỷ lệ nạn nhân bị mua bán tại Đông Á và Thái Bình Dương theo hình thức bóc lột, 2022 hoặc số liệu gần nhất
Nguồn: UNODC. Báo cáo Toàn cầu về Nạn Mua bán Người năm 2024. 

Hình 6: Dòng chảy mua bán người từ Đông Á và Thái Bình Dương sang các khu vực khác, 2022 hoặc số liệu gần nhất

Nguồn: UNODC. Báo cáo Toàn cầu về Nạn Mua bán Người năm 2024.

Nguồn: UNODC. Báo cáo Toàn cầu về Nạn Mua bán Người năm 2024.

5. Tình hình mua bán người ở Việt Nam: Xu hướng và Thực trạng 

Bức tranh về mua bán người tại Việt Nam phản ánh xu thế chung của khu vực, đồng thời mang những nét đặc thù riêng, được định hình bởi yếu tố địa lý, điều kiện kinh tế – xã hội và bối cảnh lịch sử gần đây. Trong hơn một thập kỷ qua, các mô hình mua bán người tại Việt Nam đã có nhiều biến đổi đáng kể, đặc biệt kể từ sau đại dịch COVID-19 – vốn là chất xúc tác cho nhiều thay đổi sâu rộng.

Tác động của COVID-19 và các cú sốc kinh tếDù Việt Nam đã ứng phó hiệu quả với đại dịch COVID-19, song nền kinh tế cũng phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Năm 2020, tốc độ tăng trưởng giảm mạnh, với hơn 32 triệu người bị mất việc làm hoặc sụt giảm thu nhập. Các hộ gia đình dân tộc thiểu số bị ảnh hưởng nặng nề nhất, với tỷ lệ mất việc và khó khăn tài chính cao hơn đáng kể so với các nhóm dân cư đa số.

Hệ quả là nhiều người đã buộc phải di cư trong nước hoặc vượt biên để tìm việc làm, từ đó làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của nạn mua bán người. Mặc dù nền kinh tế bắt đầu phục hồi vào năm 2022, nhưng các cộng đồng khu vực nông thôn và biên giới vẫn tiếp tục gặp nhiều trở ngại.7 Việc hoàn tất hàng rào dây thép gai dọc biên giới Trung Quốc – Việt Nam vào năm 2021 càng khiến các tuyến di cư và giao thương truyền thống bị gián đoạn, buộc những nhóm dễ bị tổn thương phải tìm kiếm các tuyến đường mới – nguy hiểm hơn và nhiều rủi ro hơn.8

Hàng rào biên giới quy mô lớn của Trung Quốc, kéo dài hơn 1.000 km dọc biên giới với Việt Nam, Lào và Myanmar, trong ảnh chụp tại Hà Giang. Ảnh: Tổ chức Blue Dragon

Thay đổi trong xu hướng mua bán người: Điểm đến đa dạng, rủi ro gia tăng

Trong hơn một thập kỷ qua, quy mô và tính chất của nạn mua bán người tại Việt Nam đã có nhiều thay đổi đáng kể. Theo số liệu của Bộ Công an, giai đoạn 2010 – 2021 ghi nhận gần 7.500 nạn nhân bị mua bán trong khoảng 3.500 vụ việc, trong đó khoảng 75% nạn nhân bị đưa sang Trung Quốc, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em gái.9

Tuy nhiên, kể từ sau đại dịch và hàng rào biên giới của Trung Quốc hoàn thành, các tuyến đường và điểm đến trong hoạt động mua bán người đã trở nên đa dạng hơn.

  • Trung Quốc vẫn là điểm đến chính, nhưng số lượng nạn nhân bị đưa sang nước này đã giảm đáng kể kể từ năm 2021. Năm 2022, chỉ 44% nạn nhân được Tổ chức Blue Dragon Children’s Foundation hỗ trợ là bị mua bán sang Trung Quốc – giảm mạnh so với mức 95% trong giai đoạn trước đại dịch
  • Campuchia và Myanmar đã trở thành các điểm nóng mới, đặc biệt đối với các vụ bóc lột lao động và ép buộc tham gia vào hoạt động lừa đảo trực tuyến. Năm 2022, 26% nạn nhân được Blue Dragon hỗ trợ từng bị mua bán sang Campuchia và 19% sang Myanmar.10
  • Tình trạng mua bán người trong nội địa cũng đang gia tăng, với các nhóm như trẻ em lang thang và lao động di cư từ nông thôn trở thành mục tiêu có nguy cơ cao bị bóc lột sức lao động hoặc xâm hại tình dục tại các đô thị lớn.

https://flo.uri.sh/visualisation/24466604/embed

Các hình thức bóc lột: cũ và mới

Hoạt động mua bán người tại Việt Nam hiện nay bao gồm nhiều hình thức bóc lột đa dạng, kết hợp giữa các hình thức truyền thống và các phương thức mới phát sinh trong bối cảnh hiện đại:

  • Bóc lột tình dục và hôn nhân cưỡng ép: Phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam tiếp tục bị các đường dây buôn người đưa ra nước ngoài để ép kết hôn hoặc bóc lột tình dục, chủ yếu do tình trạng mất cân bằng giới tính và những chuẩn mực văn hóa thiên lệch tại một số quốc gia láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc.11
  • Bóc lột lao động và ép buộc tham gia hoạt động phạm pháp: Nam giới và trẻ em trai ngày càng trở thành mục tiêu bị buôn bán để lao động cưỡng bức, đặc biệt tại các khu tổ hợp lừa đảo ở Campuchia và Myanmar. Tại đây, nạn nhân bị ép buộc tham gia vào các hoạt động gian lận trực tuyến, dưới sự đe dọa bạo lực hoặc gánh nặng nợ nần. Các khu vực này thường bị cô lập, hoạt động xuyên biên giới, khiến việc giải cứu trở nên cực kỳ khó khăn.12
  • Mua bán người nội địa: Tình trạng mua bán người ngay trong lãnh thổ Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng. Trẻ em sống lang thang và người di cư từ nông thôn đến thành phố là những nhóm có nguy cơ cao bị bóc lột sức lao động hoặc tình dục tại các đô thị lớn.13
  • Các hình thức mới nổi:  
    • Lao động cưỡng bức trên tàu cá: Nhiều nam giới bị lừa với lời hứa về công việc hợp pháp trong lĩnh vực hàng hải, nhưng sau đó bị ép làm việc trong điều kiện khắc nghiệt trên tàu cá, gần như không được trả công. Do bị cô lập ngoài khơi, khả năng trốn thoát gần như bằng không.14
    • Mua bán phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh: Các đường dây tội phạm lợi dụng tình trạng dễ tổn thương của phụ nữ mang thai – hoặc đưa họ ra nước ngoài để sinh con rồi bán trẻ sơ sinh15 hoặc chiếm đoạt trẻ sơ sinh bằng cách giả danh các tổ chức từ thiện16. Đây là một trong những diễn biến đáng lo ngại và gây phẫn nộ nhất trong các hình thức mua bán người hiện nay.
    • Lừa đảo trực tuyến: Sự phát triển nhanh chóng của các nền tảng trực tuyến đã tạo ra những cơ hội mới cho cả việc tuyển mộ lẫn bóc lột nạn nhân. Nhiều người bị dụ dỗ qua trên mạng xã hội thông qua các lời mời làm việc giả mạo, kết bạn hoặc quan hệ tình cảm, và sau đó bị ép buộc tham gia vào các hoạt động lừa đảo qua mạng. 17

Video nâng cao nhận thức do Hagar Việt Nam phát hành 

Tập trung theo vùng địa lý và yếu tố biên giới

Hoạt động mua bán người từ Việt Nam tập trung nhiều tại các khu vực biên giới trọng điểm – đặc biệt là các tỉnh phía Bắc giáp Trung Quốc và Khu Kinh tế Đặc biệt Tam Giác Vàng, nằm trên phần lãnh thổ tiếp giáp giữa Lào, Thái Lan và Myanmar.18 Khu vực “Tam Giác Vàng” được biết đến là điểm nóng của nhiều hoạt động phi pháp xuyên biên giới như mua bán người, lừa đảo trực tuyến và buôn bán ma túy. Tại đây, nạn nhân thường bị cưỡng ép lao động, bóc lột tình dục, hoặc bị ép buộc tham gia vào các hoạt động phi pháp như lừa đảo trực tuyến, vận chuyển ma tuý trong các sòng bạc, khu trò chơi và doanh nghiệp trực tuyến.19

Tuyển mộ số: thay đổi cách mạng 

Sự phát triển của mạng xã hội và các nền tảng số đã làm thay đổi hoàn toàn cách các đường dây buôn người tuyển mộ nạn nhân. Chỉ cần một thao tác tìm kiếm đơn giản với cụm từ “việc làm tại Campuchia” trên Facebook có thể cho ra hàng loạt nhóm đăng tuyển dụng, quảng cáo mức lương trên 20 triệu đồng/tháng (tương đương 800 USD) – gần gấp ba lần mức lương trung bình của người lao động Việt Nam (khoảng 7,5 triệu đồng/tháng).20

Ảnh: Văn phòng Quốc hội

Những quảng cáo việc làm này cố tình nhắm đến những người đang trong tình trạng túng quẫn về kinh tế, đưa ra các lời mời gọi như “việc nhẹ lương cao” với yêu cầu tối thiểu, làm việc ở nước ngoài hoặc tại các địa phương khác trong nước. Những lời hứa đó nghe có vẻ quá hấp dẫn để là thật – và thực tế đúng là như vậy – nhưng áp lực tài chính khiến nhiều người dễ trở thành nạn nhân.

Người trẻ, đặc biệt là những người sống ở vùng nông thôn và không có nhiều hiểu biết về cạm bẫy trên internet, là nhóm dễ bị tổn thương nhất. Họ có thể không nhận ra các dấu hiệu cảnh báo trong quá trình tuyển dụng có liên quan đến mua bán người, như mô tả công việc mơ hồ, yêu cầu giao nộp hộ chiếu, hoặc bị thúc ép phải đi ngay lập tức.

Tuy nhiên, những công việc như vậy thường dẫn đến việc nạn nhân bị mua bán vào các ngành dịch vụ nhạy cảm hoặc môi trường lao động nặng nhọc như nhà máy, hầm mỏ và tàu đánh cá – nơi họ bị bóc lột sức lao động và nhận mức lương rất thấp.21

Campuchia hiện đã trở thành một điểm đến chính của công dân Việt Nam bị cưỡng ép tham gia vào các hoạt động lừa đảo trực tuyến. Các khu kinh tế đặc biệt của nước này, đặc biệt là ở khu vực giáp biên giới Thái Lan, có nhiều khu tổ hợp khép kín, nơi nạn nhân bị ép làm việc tại các tổng đài, điều hành các trò lừa đảo tình cảm, gian lận tiền điện tử và các loại tội phạm mạng khác. Các nạn nhân cho biết họ bị giam giữ trong các khu có bảo vệ canh gác nghiêm ngặt, bị đánh đập nếu không đạt chỉ tiêu, và buộc phải trả các khoản “nợ giả” để được thả. Tính chất xuyên quốc gia của các hoạt động này, kết hợp với việc thực thi pháp luật yếu ở một số khu vực, khiến việc giải cứu trở nên vô cùng khó khăn.22

Các nhóm dễ bị tổn thương

Trong giai đoạn từ 2011 đến 2020, có 7.356 nạn nhân của nạn mua bán người được các cơ quan chức năng giải cứu, trong đó 90% là phụ nữ và trẻ em. Phần lớn nạn nhân này đến từ những vùng nông thôn khó khăn, vùng sâu vùng xa, và hơn 80% là người dân tộc thiểu số với trình độ học vấn hạn chế.23 Những năm gần đây, tuy phụ nữ và trẻ em vẫn chiếm đa số trong số các nạn nhân bị mua bán, số lượng nạn nhân nam giới đã tăng lên đáng kể. Riêng trong năm 2022, hơn 50 nạn nhân nam – bao gồm cả người lớn và trẻ em – đã được giải cứu khỏi các hình thức bóc lột tại Campuchia, và 92 người khác bị bóc lột trên đường phố Hà Nội đã được Tổ chức trẻ em Rồng Xanh hỗ trợ.

Ngoài ra, các thành viên trong cộng đồng LGBTQI+ tại Việt Nam cũng ngày càng dễ trở thành nạn nhân của nạn mua bán người, thường bị bóc lột do phải đối mặt với kỳ thị xã hội.24

https://flo.uri.sh/visualisation/24466648/embed

Trẻ em lang thang cũng là một nhóm đặc biệt dễ bị tổn thương. Trong chín tháng đầu năm 2023, Tổ chức Blue Dragon đã tiếp cận 137 trẻ em và người lớn đang sinh sống trên đường phố Hà Nội, trong đó 37% có dấu hiệu từng liên quan đến mua bán người.25 Con số này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa tình trạng vô gia cư, nghèo đói và nguy cơ bị mua bán người ở môi trường đô thị.

6. Nguyên nhân gốc rễ: Vì sao Việt Nam vẫn dễ bị tổn thương 

Việc Việt Nam được xếp hạng “Nhóm 2” trong Báo cáo về tình hình mua bán người năm 2024 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ26 cho thấy có sự cải thiện so với năm 2023. Điều này phản ánh những nỗ lực đáng kể của Việt Nam trong việc phòng, chống nạn mua bán người, dù vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu theo Đạo luật Bảo vệ Nạn nhân Mua bán người của Hoa Kỳ. Nhiều yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau tiếp tục khiến Việt Nam rơi vào tình trạng dễ bị tổn thương trước vấn nạn này.

Ghi chú: Báo cáo về tình hình mua bán người của Hoa Kỳ phân loại các quốc gia thành 4 nhóm dựa trên mức độ nỗ lực phòng, chống mua bán người: Nhóm 1: Đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu. Nhóm 2: Có nỗ lực đáng kể nhưng chưa đạt yêu cầu. Danh sách theo dõi Nhóm 2: Cảnh báo thêm về những yếu tố đáng quan ngại. Nhóm 3: Không có nỗ lực đáng kể và có nguy cơ bị trừng phạt. Trên phạm vi toàn cầu, chỉ khoảng một phần tư quốc gia đạt Nhóm 1, còn lại chủ yếu thuộc Nhóm 2 hoặc danh sách theo dõi. Điều này cho thấy phần lớn các nước vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu trong phòng, chống mua bán người.

Các yếu tố kinh tế

Nghèo và thiếu cơ hội việc làm: Mặc dù kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong những năm qua, khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn kém phát triển hơn so với thành thị. Điều này đồng nghĩa với việc một bộ phận lớn dân số vẫn phải sống trong điều kiện kinh tế khó khăn, rất ít cơ hội việc làm ổn định. Chính sự thiếu thốn này khiến họ dễ trở thành hành nạn nhân của mua bán người khi họ cố gắng tìm mọi cách để cải thiện cuộc sống. Hiện có tới 55% lực lượng lao động làm việc trong khu vực phi chính thức – nơi môi trường làm việc bấp bênh, dễ bị các đối tượng buôn người lợi dụng.27 Chênh lệch thu nhập giữa Việt Nam và các nước điểm đến cũng ra tạo động lực lớn cho làn sóng di cư. Khi không có cơ hội kiếm sống ổn định, chính đáng tại địa phương, nhiều người sẵn sàng đánh đổi bằng cách chấp nhận những lời mời gọi hấp dẫn, dù rủi ro cao và không rõ ràng với hi vọng thu nhập cao ở nước ngoài.

Nhạy cảm địa lý: Việt Nam có đường biên giới dài với Trung Quốc, Lào và Campuchia, cùng với hàng loạt lối mòn, đường tắt và tuyến vượt biên không chính thức. Những điều kiện này tạo thuận lợi cho các hoạt động mua bán người. Địa hình đồi núi hiểm trở và sự cách biệt của các khu vực biên giới cũng góp phần che giấu hoạt động của các đường dây tội phạm.28

Yếu tố văn hoá và xã hội 

Bất bình đẳng giới: Phụ nữ và trẻ em gái là nhóm đặc biệt dễ bị mua bán do tình trạng bất bình đẳng giới ăn sâu trong xã hội và sự yếu thế trong cộng đồng.29 Theo Báo cáo năm 2023 của Chính phủ về kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, 82,3% nạn nhân của bạo lực gia đình ở Việt Nam là phụ nữ.30 Nhiều phụ nữ tìm cách rời khỏi môi trường bạo lực nên đã rời khỏi gia đình để thay đổi cuộc sống. Tuy nhiên, chính mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh đó lại khiến họ dễ rơi vào bẫy của các đường dây mua bán người, những kẻ lợi dụng sự tuyệt vọng của họ để trục lợi.

Thiếu kiến thức và thông tin: Nhiều người không nhận ra được những nguy cơ liên quan đến nạn mua bán người do trình độ học vấn thấp và thiếu hiểu biết về các thủ đoạn lừa đảo. Điều này khiến họ dễ bị dụ dỗ và tiếp tục bị bóc lột.31 Vấn đề này phổ biến ở các cộng đồng dân tộc thiểu số – nơi việc tiếp cận thông tin còn hạn chế và có thể gặp rào cản ngôn ngữ. Bên cạnh đó, trẻ em và thanh thiếu niên cũng là nhóm rất dễ bị tổn thương vì ngây thơ và cả tin.

Tập tục văn hóa: Một số phong tục như kết hôn sớm, hôn nhân không chính thức, hay gánh nặng nghĩa vụ với gia đình cũng góp phần làm tăng nguy cơ bị bóc lột và mua bán đối với phụ nữ và trẻ em.32

Nhu cầu về lao động giá rẻ và mại dâm: Nhu cầu lớn về lao động giá rẻ và dịch vụ mại dâm ở các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc, là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng tình trạng mua bán người. Các đường dây tội phạm lợi dụng công nghệ số để tiếp cận nạn nhân, thường sử dụng những lời hứa về thu nhập cao để thu hút. Thông qua các đối tượng môi giới, chúng nhắm vào những người đang muốn đi làm ăn xa, quảng cáo việc nhẹ, lương cao, thủ tục đơn giản, chi phí thấp. Khi sang đến nơi, nhiều người bị bán vào các cơ sở lao động cưỡng bức, phải làm việc trong điều kiện tàn nhẫn.33

Thách thức trong pháp lý và quy định  

Khoảng trống trong thực thi: Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chương trình và chính sách nhằm phòng, chống mua bán người, vẫn còn tồn tại những khoảng trống đáng kể cần được khắc phục. Hệ thống pháp luật còn thiếu thống nhất và đồng bộ; sự thiếu thống nhất và nhất quán về mặt pháp lý và mâu thuẫn giữa các văn bản liên quan gây khó khăn trong quá trình triển khai và thực thi. Dù số lượng nạn nhân nhận được hỗ trợ từ phía Nhà nước có xu hướng tăng, việc xác định nạn nhân vẫn còn nhiều hạn chế – đặc biệt trong bối cảnh các hình thức lừa đảo trực tuyến đang gia tăng nhanh chóng. Các nỗ lực phòng ngừa tội phạm cũng chưa đạt hiệu quả cao do thiếu số liệu thống kê chi tiết về các vụ việc liên quan đến mua bán người, cùng với sự thiếu rõ ràng trong hướng dẫn pháp lý dành cho việc thực thi.34

Thiếu các quy định về sốSự phát triển nhanh chóng của các mạng lưới tuyển dụng trực tuyến đã vượt xa khả năng ứng phó của hệ thống quản lý. Các nền tảng mạng xã hội hoạt động với mức độ giám sát rất thấp, tạo điều kiện cho các quảng cáo việc làm lừa đảo tràn lan. Nhiều nền tảng kỹ thuật số mang tính chất xuyên biên giới, gây khó khăn cho việc xác định thẩm quyền và xử lý pháp lý – một điểm yếu mà các đối tượng mua bán người lợi dụng để trốn tránh trách nhiệm.

7. Tác động đa chiều vượt ngoài nỗi đau cá nhân 

Nạn mua bán người tại Việt Nam gây ra những hệ lụy sâu rộng và đa chiều, không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của nạn nhân, mà còn tác động nghiêm trọng đến an ninh xã hội, trật tự công cộng và sự ổn định kinh tế lâu dài của quốc gia.

Tác động cá nhân: Nạn nhân của mua bán người thường chịu đựng những sang chấn thể chất và tâm lý kéo dài, ngay cả sau khi được giải cứu. Tình trạng suy kiệt về thể chất và những tổn thương lâu dài có thể do lao động cưỡng bức, bóc lột tình dục, bạo lực thể xác, giam giữ trái phép hoặc điều kiện làm việc khắc nghiệt gây ra. Bên cạnh tổn thương về thể chất, nhiều nạn nhân còn chịu ảnh hưởng nặng nề về tâm lý như căng thẳng, lo âu, trầm cảm và rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD). Những trải nghiệm này để lại hậu quả nặng nề về mặt cảm xúc: mất niềm tin, luôn sống trong sợ hãi và gặp nhiều khó khăn khi tái hòa nhập cộng đồng sau giải cứu.35

Tác động xã hội: Mua bán người gây ra sự xáo trộn lớn đối với sự ổn định xã hội, gây hoang mang và lo lắng trong cộng đồng, đặc biệt là ở các khu vực biên giới. Đây là hành vi tội phạm do các đối tượng nguy hiểm và các nhóm tội phạm có tổ chức điều hành. Để tồn tại, những hoạt động này thường được tiếp tay bởi những người môi giới hoặc trung gian ở địa phương, đóng vai trò tuyển mộ – họ là những người được cộng đồng tin tưởng hoặc thậm chí là người thân, họ hàng của nạn nhân. Các đối tượng này không chỉ gây bất ổn xã hội mà còn làm tan vỡ nhiều gia đình, đẩy nạn nhân và người thân vào tình trạng dễ bị tổn thương và bấp bênh. Tình trạng này làm xói mòn niềm tin trong cộng đồng và gia tăng khó khăn trong việc xây dựng sự gắn kết xã hội.36

Tác động kinh tế: Nạn mua bán người làm suy giảm nguồn lao động tại địa phương và làm giảm sự đa dạng chung của lực lượng lao động, từ đó cản trở năng suất lao động và hạn chế cơ hội phát triển kinh tế.37 Nếu vụ việc có liên quan đến hối lộ hoặc ràng buộc kiểu giao kèo, các cá nhân và gia đình sẽ phải gánh nợ để đưa người thân trở về, càng làm gia tăng bất ổn kinh tế. Các chi phí liên quan đến công tác phòng ngừa, điều tra, giải cứu và hỗ trợ sau giải cứu cho nạn nhân đòi hỏi sự phân bổ ngân sách lớn từ phía nhà nước, trong khi nguồn lực hiện tại vẫn chưa đáp ứng đủ. Bên cạnh đó, sang chấn mà các nạn nhân phải trải qua khiến họ khó có thể tái hòa nhập cộng đồng, làm suy giảm khả năng đóng góp lâu dài vào lực lượng lao động và nền kinh tế.

8. Các nỗ lực ứng phó hiện tại 

Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp nhằm phòng, chống mua bán người, với kết quả khác nhau tùy theo từng lĩnh vực can thiệp.

Các sáng kiến của Chính phủ

Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý: Việt Nam đã ban hành Luật Phòng, chống mua bán người (năm 2011), cùng với một số văn bản hướng dẫn thi hành nhằm hỗ trợ thực thi.38 Năm 2024, Bộ Công an đã đề xuất sửa đổi luật để khắc phục những khoảng trống hiện có và bổ sung các quy định mới nhằm tăng tính thống nhất và hiệu quả của hệ thống pháp luật. Từ năm 2021 đến nay, Chính phủ tiếp tục triển khai Chương trình quốc gia về phòng, chống mua bán người, tập trung vào các hoạt động như phòng ngừa tội phạm, thực thi pháp luật, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân.39

Tăng cường phối hợp quốc tế và khu vực: Việt Nam tích cực tham gia các thỏa thuận song phương và đa phương với các nước láng giềng như Lào, Campuchia và Trung Quốc.40 Bên cạnh đó, Việt Nam cũng hợp tác với ASEAN và các tổ chức quốc tế nhằm chia sẻ thông tin, tổ chức đào tạo cho lực lượng thực thi pháp luật và hỗ trợ công tác giải cứu, hồi hương nạn nhân bị mua bán.41

Nâng cao năng lực thực thi pháp luật: Chính phủ Việt Nam cam kết tăng cường năng lực cho các cơ quan thực thi pháp luật. Điều này bao gồm cải thiện chương trình đào tạo và trang bị kỹ năng cho lực lượng công an, bộ đội biên phòng, hải quan và các cán bộ liên quan nhằm nâng cao khả năng nhận diện và xử lý các vụ việc mua bán người. Song song đó, các hoạt động truyền thông cộng đồng và chiến dịch nâng cao nhận thức cho người dân cũng đang được đẩy mạnh.42

Đóng góp của các Tổ chức phi chính phủ

Hỗ trợ tái hòa nhập và phục hồi cho nạn nhân: Các tổ chức như Quỹ Trẻ em Rồng Xanh (Blue Dragon Children’s Foundation), Quỹ Pacific Links và Hagar International đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ các nạn nhân bị mua bán người xây dựng lại cuộc sống. Các tổ chức này cung cấp các dịch vụ hỗ trợ toàn diện như tư vấn tâm lý, chăm sóc y tế, hỗ trợ pháp lý, đào tạo nghề và tạo cơ hội sinh kế dài hạn – tất cả đều hướng đến mục tiêu giúp nạn nhân tái hòa nhập cộng đồng một cách bền vững.

Một ví dụ về hoạt động của tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam

Nâng cao nhận thức cộng đồng: Các tổ chức phi chính phủ thường xuyên tổ chức các chiến dịch truyền thông, hội thảo và chương trình giáo dục tại trường học và cộng đồng địa phương nhằm nâng cao nhận thức về hiểm họa của nạn mua bán người. Những hoạt động này giúp người dân nhận diện các thủ đoạn của tội phạm mua bán người, từ đó giảm nguy cơ bị lừa gạt và trở thành nạn nhân.

Hỗ trợ quá trình xây dựng chính sách: Các tổ chức phi chính phủ cũng đóng góp vào việc cải thiện chính sách và pháp luật liên quan đến mua bán người thông qua nghiên cứu, cung cấp dữ liệu giá trị và tư vấn chuyên môn. Bằng việc đề xuất các chiến lược can thiệp hiệu quả hơn, các tổ chức này góp phần tăng cường năng lực ứng phó với nạn mua bán người ở cả cấp quốc gia và quốc tế.43,44,45

9. Định hướng tương lai và Khuyến nghị

Giải quyết vấn đề mua bán người tại Việt Nam đòi hỏi phải đối mặt với nhiều thách thức kéo dài, đồng thời phát huy các thế mạnh hiện có và xây dựng các cách tiếp cận mới.

  • Hoàn thiện khung pháp lý và cập nhật thường xuyên để phù hợp với bối cảnh mua bán người đang thay đổi và sự biến hóa ngày càng tinh vi của tội phạm.
  • Tăng cường hiệu quả phối hợp liên ngành và liên vùng, thông qua việc thúc đẩy mối liên kết chặt chẽ giữa các cơ quan chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương.46
  • Phối hợp xuyên biên giới: Các hoạt động mua bán người diễn ra ở nhiều quốc gia, đòi hỏi phải tăng cường hợp tác quốc tế. Các cơ chế hiện tại thường chưa đủ hiệu quả để đối phó với các mạng lưới tội phạm hoạt động nhanh và linh hoạt.
  • Ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo: Thúc đẩy việc sử dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo để giám sát, phân tích dữ liệu và phát hiện sớm các nền tảng trực tuyến được sử dụng để tuyển mộ nạn nhân.
  • Đầu tư vào giáo dục, đặc biệt cho các nhóm dễ bị tổn thương như người dân tộc thiểu số, phụ nữ và trẻ em. Giáo dục và nâng cao trình độ dân trí sẽ giúp người dân có thêm kiến thức, hiểu biết pháp luật, kỹ năng sống và kỹ năng số – từ đó nâng cao khả năng tự bảo vệ trước các hành vi gian lận và mở rộng cơ hội kinh tế.
  •  Áp dụng cách tiếp cận dựa trên quyền lợi của nạn nhân: Trong nhiều trường hợp, nạn nhân mua bán người vẫn bị đối xử như tội phạm thay vì được nhìn nhận là người sống sót cần được hỗ trợ. Khung pháp lý cần phân biệt rõ ràng giữa người phạm tội và nạn nhân. Các dịch vụ hỗ trợ toàn diện đáp ứng nhu cầu dài hạn của nạn nhân – bao gồm tư vấn tâm lý, chăm sóc y tế, hỗ trợ pháp lý và tái hòa nhập kinh tế – là yếu tố thiết yếu để phục hồi hiệu quả và ngăn ngừa việc bị mua bán trở lại.

10. Kết luận  

Nạn mua bán người tại Việt Nam là một thách thức phức tạp và đa chiều, đòi hỏi một chiến lược toàn diện và linh hoạt. Mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể về xây dựng khuôn khổ pháp lý và hợp tác quốc tế, nhưng tình trạng này vẫn tiếp tục phát triển nhanh hơn khả năng ứng phó của các thiết chế hiện hành. Việc chuyển từ các hình thức mua bán người truyền thống qua biên giới sang các hoạt động tinh vi trên không gian mạng cho thấy mức độ thích ứng cao của các mạng lưới tội phạm. Do đó, các nỗ lực phòng, chống mua bán người cũng cần nhanh nhạy hơn, tận dụng công nghệ để phục vụ công tác phòng ngừa và phát hiện, đồng thời tiếp tục đặt nạn nhân vào vị trí trung tâm trong mọi hoạt động hỗ trợ và bảo vệ.

Để đối phó hiệu quả với nạn mua bán người, cần có sự phối hợp đồng bộ ở nhiều cấp và giữa nhiều lĩnh vực. Cơ quan nhà nước, tổ chức phi chính phủ, cộng đồng và các cơ quan truyền thông cần cùng nhau hành động – không chỉ để xử lý các vụ việc trước mắt mà còn để giải quyết những yếu tố dễ gây tổn thương mang tính hệ thống. Chỉ với cách tiếp cận phối hợp như vậy, Việt Nam mới có thể hy vọng đẩy lùi nạn mua bán người một cách hiệu quả, tiến tới xây dựng một xã hội an toàn, công bằng hơn, nơi quyền con người được tôn trọng và bảo vệ cho tất cả công dân.

References

***

3. Tham khảo thêm về điểm nóng tội phạm crypto tại Đông Nam Á và toàn cầu 

Leave a comment