Rào cản giáo dục vĩ đại – 3 bài

  • Trần Đình Hoành – Phổ cập giáo dục – Universal education
  • Hoàng Ngọc Vinh (TTCT) – Cần định nghĩa lại phân luồng trong thời đại AI
  • Vĩnh Hà (TTCT) – Phân luồng sau cấp II: học sinh bị ép uổng?

***

Phổ cập giáo dục – Universal education

Trần Đình Hoành – 13-6-2025

Chào anh chị em,

Con người là vốn liếng phát triển đất nước lớn nhất. Mọi lãnh đạo lớn nhỏ đều nói đến đều đó. Nhưng trên thực tế hệ thống giáo dục VN có hàng loạt rào cản để hủy hoại nhân tài. Sao lại ngớ ngẩn đến vậy?

Mình chỉ quote một bài này trên VNExpress để các bạn thấy sự thật, nhưng sự thật thì tràn ngập ai cũng biết rồi. Cái mà các lãnh đạo giáo dục chưa biết hay chưa muốn làm là phổ cập giáo dục đại học cho tất cả mọi người.

Mình nhắc lại “phổ cập giáo dục đại học”, không phải là phổ cập giáo dục tiểu học. Bây giờ là 2025, cả thế giới đều có phổ cập giáo dục đại học.

Chúng ta đang ở mức nào?

Ngày xưa Pháp đô hộ ta, có chính sách tạo ra nhiều rào cản giáo dục từng cấp độ, tiểu học gạt bỏ một số học sinh, cấp hai gạt bỏ một số học sinh, cấp ba gạt bỏ một số học sinh, đại học gạt bỏ một số học sinh, để số nhân tài lên cao được chỉ là con số rất nhỏ, để phục vụ người Pháp cai trị Việt Nam. Đại đa số còn lại là ngu dân để dễ cai trị.

Ngày nay ta nói là đã được “độc lập”, nhưng rào cản giáo dục thì y như, hay có thể tệ hơn, thời Pháp thuộc. Có vẻ như ta chẳng độc lập chút nào, mà có vẻ như còn vẫn đi theo đường mẫu quốc (nước mẹ) ngày xưa. Dân nô lệ nào cũng bị vấn đề đó – có được độc lập chính trị thì vẫn giữ lối tư duy như nô lệ thời bị mẫu quốc cai trị.

Đọc bài này tượng trưng cho vấn đề: Đồng hành cùng con vượt cú sốc thi trượt lớp 10.

Hết lớp 9 là một rào cản vĩ đại. Không vô lớp 10 được là một đại họa vì chỉ có ba lựa chọn cho các em: “(1) Học trung tâm giáo dục thường xuyên, (2) học nghề hoặc năm sau ôn thi lại, (3) trường tư thì quá sức tài chính của gia đình.”

Giáo dục thường xuyên thì các bạn hiểu rồi. Đó là giáo dục không chính quy, thường dành cho người lớn tuổi, và giá trị của nó được được đa số người trong nước xem thường. Các em mà theo hệ giáo dục không chính quy đó thì chẳng có một tương lai đại học nào.

Học trường nghề thì cũng tốt để có nghề. Nhưng học nghề thì không thể học đại học sau này. Có bằng cao đẳng nghề, nhiều khi lại phải học lại lớp 10 chính quy trở lên mới có thể học đại học chính quy. Tại sao học trường nghề xong, không thể học thêm hai năm ngay để có cử nhân đại học chính quy thì mình chịu thua, không hiểu được. Mình chẳng hiểu tại sao, ngoại trừ nghĩ đến tâm lý nô lệ thời Pháp thuộc, còn tồn tại đến ngày nay trong đất nước này. Thật là đau lòng.

Đó chỉ là nói đến lớp 10. Chưa nói đến sau cấp ba thi vô đại học lại là một rào cản lớn.

Vốn liếng lớn nhất là đầu óc con người. Giáo dục phổ cập ngày nay là mọi người đều có thể học đại học dễ dàng, để mọi đầu óc đều có cơ hội phát triển cho đất nước. Tại sao Việt Nam không làm được, và các em có nhiều rào cản đến thế?

Đừng nói thiếu tiền. Ở Việt Nam cứ có vấn đề nào thì cũng la lên “Thiếu tiền.” Thiếu trí tuệ thì có.

Các bạn, vận dụng cái đầu để làm việc. Không phải là tiền, mà là cái đầu của bạn. Come on!

Người Pháp cai trị thì tìm cách ngu dân, không cho dân ta được học hành dễ dàng để tiến lên. Sao ngày nay độc lập rồi mà ta ứng xử với ta như Pháp cai trị là sao?

Chúa ơi!

Với yêu thương,

Hoành

o0o

Phổ cập giáo dục – Universal education

Dear Brother and Sisters,

Human is the greatest capital for the development of the country. All leaders, big and small, talk about it. But in reality, the Vietnamese education system has a series of barriers to destroy human talent. Why is it so silly?

I am just quoting this one article on VNExpress to show you the truth, but the truth is overwhelming and everyone knows it. What education leaders do not know or do not want to do is to provide universal university education for everyone.

I repeat “universal university education”, not universal primary education. Now it is 2025, the whole world has universal university education.

What level are we at?

In the past, when the French colonized us, they had a policy of creating many educational barriers at each level – primary school excluding some students, secondary school excluding some students, high school excluding some students, university excluding some students, so that only a very small number of talented people could advance to serve the French to rule Vietnam. The vast majority of the remaining of the population were ignorant, to make it easier to govern.

Today, we loudly hat we have achieved “independence”, but the educational barriers are the same as, or maybe worse than, the French colonial period. It seems that we are not independent at all, but still follow the path of the mother country in the past. All slaves have the same problem – having political independence, they still maintain the same mindset as slaves during the time of being ruled by the mother country.

Read this article presenting the problem: Accompanying your child to overcome the shock of failing the 10th grade exam.

Finishing 9th grade is a huge obstacle. Not being able to enter 10th grade is a disaster because there are only three options left for children: “(1) Studying at a continuing education center, (2) learning a trade or retaking the exam next year. (3) Private school is beyond the family’s financial capacity.”

You understand continuing education center. It is non-formal education, a program for the elderly, and its value is not respected by the majority of people in the country. Children who follow that non-formal education system have no future.

Studying at a vocational school is good for having a skillful job. But if you learning in a vocational, you cannot go to university later. With a vocational college degree, you may have to retake the regular 10th grade and higher to be able to go to a regular university. Why after finishing a vocational school, you can’t study for two more years to get a regular university bachelor’s degree, I don’t understand. I don’t understand why, except to think of the slave mentality during the French colonial period that still exists in this country today. It’s really heartbreaking.

That is just talking about grade 10. Not to mention that after high school, taking the university entrance exam is another huge barrier.

The biggest capital is the human mind. Universal education today means that everyone can easily go to university, so that every mind has the opportunity to develop, for the country. Why can’t Vietnam do it, and why we have so many barriers?

Don’t say lack of money. In Vietnam, whenever there is a problem, they shout “Lack of money.” Really, the shortage is the lack of intellgence.

Guys, use your head to work. It’s not money, but your head. Come on!

The French rulers tried to keep the people ignorant, not allowing our people to study easily to advance. Why, now that we are independent, do we still treat ourselves like the French rulers did?

Oh my God!

With compassion,

Hoành

o0o

© copyright 2025
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
http://www.dotchuoinon.com

***

Cần định nghĩa lại phân luồng trong thời đại AI

TS HOÀNG NGỌC VINH – 09/07/2025 14:59 GMT+7

TTCTNếu giáo dục hiện đại không hỏi “Có bao nhiêu phần trăm học sinh học nghề?” mà phải đặt vấn đề: người học có đủ kỹ năng, có việc làm và có thể học tiếp không?

Học viên Trường cao đẳng Cơ điện Hà Nội chuẩn bị cho bài thi tay nghề quốc tế với các thao tác chuyên nghiệp. Ảnh: VĨNH HÀ

Thừa nhận của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn, rằng: “Quy định 40% học sinh sau THCS đi học nghề, 60% vào THPT là một sự phân chia cứng nhắc, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn” có thể coi là sự đánh dấu một bước chuyển nhận thức quan trọng sau hơn hai thập kỷ theo đuổi chính sách phân luồng hành chính.

Chuyển tư duy

Thất bại của “phân luồng cứng” không chỉ do không đạt tỉ lệ kỳ vọng, mà còn phản ánh tư duy kế hoạch, xem giáo dục như dòng chảy tuyến tính, tách biệt học nghề với học thuật, không phản ánh hành trình học tập đa dạng, phi tuyến trong đời sống thực.

Trong kỷ nguyên AI và thị trường lao động biến động, việc cố duy trì tư duy chia luồng bằng tỉ lệ là cách làm duy ý chí, xa rời thực tế. Chúng ta rất khó dự báo nhu cầu kỹ năng, việc làm tương lai trong kỷ nguyên số.

Chủ trương phân luồng 40-60 từng được kỳ vọng giúp giảm lãng phí nguồn lực và tăng lao động kỹ thuật. Nhưng tại nhiều địa phương, tỉ lệ học sinh chọn học nghề sau THCS chỉ dao động 10-15%, phần lớn vẫn vào THPT.

Nguyên nhân không chỉ ở tâm lý sính bằng cấp, mà còn ở cấu trúc hệ thống: học nghề đồng nghĩa với rời khỏi phổ thông, học trong cơ sở yếu kém, ít cơ hội học tiếp, chất lượng đào tạo chưa đảm bảo. Xã hội vẫn xem học nghề là lựa chọn hạng hai.

Trong khi đó, công nghệ số và AI đòi hỏi người lao động – dù học nghề – vẫn cần có nền tảng học thuật vững chắc: kỹ thuật viên, công nhân nhà máy thông minh hay nhân viên logistics đều phải đọc hiểu tài liệu, sử dụng thiết bị số, học qua nền tảng công nghệ. Nếu vẫn áp đặt phân luồng theo kiểu cơ học, xem học nghề là tách khỏi học thuật thì đó là sai lầm nghiêm trọng cả về giáo dục lẫn phát triển nhân lực.

Phân luồng cần được hiểu lại như một quá trình hỗ trợ người học lựa chọn và chuyển đổi linh hoạt giữa các lộ trình học tập – nghề nghiệp trong suốt vòng đời. Dù học ở đâu, khi nào, bằng cách nào – miễn có kỹ năng, việc làm và thu nhập bền vững – thì đó là phân luồng thành công.

Phân luồng không chỉ bó hẹp trong hệ chính quy mà bao gồm cả người đi làm quay lại học nghề, học trong doanh nghiệp, học qua nền tảng số, hay tích lũy kỹ năng không chính quy. Những người bỏ học 5-7 năm rồi quay lại học nghề cũng nên được coi là một phần của phân luồng. Vì vậy, nếu chỉ đo phân luồng bằng tỉ lệ ngay sau THCS là bỏ sót phần lớn hiện thực xã hội học tập.

Hầu hết các quốc gia phát triển không đặt ra chỉ tiêu cứng. Tại Đức, Áo, Thụy Sĩ – những nước có hệ thống đào tạo nghề hàng đầu – nhà nước không ấn định tỉ lệ, mà thiết kế hệ thống đào tạo kép hấp dẫn, linh hoạt, gắn với doanh nghiệp.

Phần Lan cho học sinh chọn trung học nghề hoặc học thuật, đều có cơ hội vào đại học, không phân biệt thứ hạng. Singapore có mô hình phân tầng rõ, có tỉ lệ quy hoạch nhưng không áp buộc, mà tạo ra “siêu xa lộ kỹ năng” và đáp ứng nhu cầu theo kiểu “just in time” với cam kết việc làm và học tập suốt đời.

Các nước này tạo ra hệ sinh thái học tập mở – nơi người học đi đâu cũng có giá trị và cơ hội phát triển.

Học tập linh hoạt, suốt đời

Khi chuyển từ tư duy “chia tỉ lệ” sang tư duy mở, Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo hệ sinh thái học tập linh hoạt. Trước hết, cần sửa đổi Luật Giáo dục và Luật Giáo dục nghề nghiệp, công nhận phân luồng là quá trình học tập linh hoạt suốt đời, không phân chia cấp bậc học, không gắn với thời điểm cố định.

Phát triển mô hình trung học nghề (THN) tích hợp, giúp học sinh vừa học nghề vừa đảm bảo kiến thức phổ thông cốt lõi như toán, ngoại ngữ, kỹ năng số, đảm bảo sự bình đẳng về cơ hội liên thông, việc làm và phát triển sự nghiệp của học sinh trung học phổ thông và học sinh THN.

Nhà nước cần xây dựng hệ thống công nhận học tập đa dạng: công nhận học tập trước (RPL – Recognition of Prior Learning), cấp tín chỉ mô đun, học trong doanh nghiệp và học trực tuyến. Mỗi cá nhân nên có một hồ sơ học tập suốt đời tích hợp kết quả học tập chính quy, phi chính quy và kinh nghiệm nghề nghiệp.

Các doanh nghiệp phải trở thành chủ thể đồng hành đào tạo: tham gia thiết kế chương trình, giảng dạy, đánh giá kỹ năng và phân hướng. Kinh nghiệm Hoa Kỳ cho thấy 87% đào tạo nghề diễn ra tại doanh nghiệp, chính thức hoặc phi chính thức.

Một nền giáo dục hiện đại không hỏi: “Bao nhiêu phần trăm học sinh đi học nghề?” mà hỏi: “Người học có đủ kỹ năng, có việc làm và có thể học tiếp không?”. Không cần ai ép ai vào đâu, vả lại chúng ta cũng không thể lo việc làm cho người học trong thế giới biến động rất cần linh hoạt mà cần hệ thống đủ mở để mỗi người học tìm được con đường phù hợp.

Khi đó, phân luồng không còn là sự áp đặt, mà là hành trình trưởng thành, là cơ hội học tập trọn đời.

***

Phân luồng sau cấp II: học sinh bị ép uổng?

VĨNH HÀ – 10/07/2025 05:05 GMT+7

TTCTSau 7 năm theo đuổi tỉ lệ phân luồng cứng, với nhiều hệ lụy tiêu cực, lãnh đạo Bộ GD-ĐT đã thừa nhận sai lầm của cách phân luồng này.

“Tư lệnh” ngành giáo dục thừa nhận đặt tỉ lệ phân luồng học sinh sau THCS là một sai lầm. Ảnh: NHƯ HÙNG

Ý chí của nhà nước

Vấn đề phân luồng ở Việt Nam được triển khai ở hai mốc: sau THCS và sau THPT và được đề cập đến từ sớm. Trong khoảng 1 thập kỷ qua, hành lang pháp lý cho việc này đã thiết lập cơ sở cho các chính sách thúc đẩy phân luồng.

Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 là cơ sở pháp lý đầu tiên về việc đào tạo nghề sau THCS và sau THPT. Quyết định số 1981 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khung cơ cấu trình độ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Theo đó học sinh tốt nghiệp THCS có thể học tiếp theo 4 nhánh: THPT, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp, giáo dục nghề nghiệp trình độ trung cấp, THPT theo hệ giáo dục thường xuyên – giáo dục nghề nghiệp.

Năm 2018, Bộ GD-ĐT ban hành thông tư số 32 quy định 2 giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1-9) và giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10-12). Quyết định số 522 năm 2018 của Thủ tướng phê duyệt đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 – 2025” xác định đến năm 2020 có ít nhất 30% học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục học tập tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp, trung cấp (các địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 25%).

Đến năm 2025, hai tỉ lệ trên tương ứng là 40% và 30%. Tương tự năm 2020 có 40% học sinh tốt nghiệp THPT tiếp tục học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (địa phương khó khăn là 30%). Năm 2025 có 45 % học sinh tốt nghiệp THPT tiếp tục học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (địa phương khó khăn là 35%)…

Ý chí định hướng ấy, được hỗ trợ bởi một hành lang pháp lý đầy đủ, lại không thành công. Trước hết từ việc quản lý hệ thống trường trung cấp chuyên nghiệp, trường nghề bị phân tán, không ổn định.

Trước năm 2017, Bộ GD-ĐT quản lý các trường trung cấp chuyên nghiệp và Bộ LĐ,TB&XH quản lý các trường đào tạo nghề. Năm 2017, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được giao về Bộ LĐ,TB&XH, đến năm 2025, các cơ sở này giao trở lại cho Bộ GD-ĐT quản lý.

Năm 2017, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (trừ cơ sở đào tạo giáo viên mầm non) được chuyển từ Bộ GD-ĐT về Bộ LĐ,TB&XH. Và năm 2025, việc quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp lại một lần nữa chuyển về cho Bộ GD-ĐT.

Việc chia cắt và “đổi chủ quản” nhiều lần khiến hệ thống đào tạo nghề khó phát triển. Mà đây lại chính là một hệ thống cơ sở quan trọng để tác động đến việc phân luồng sau THCS và THPT.

Ý chí của học sinh

Ở thời điểm này, hệ thống giáo dục nghề nghiệp có gần 2.000 cơ sở đào tạo, trong đó có khoảng 400 trường cao đẳng nghề, hơn 400 trường trung cấp nghề và hơn 1.000 trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên. Đa số các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đủ nhân sự đạt chuẩn, ngành nghề đào tạo có tăng lên, các trường được doanh nghiệp uy tín đặt hàng, nâng cao chất lượng… để thu hút người học.

Thực tế lại cho thấy các trường nghề vẫn “đói” nguồn tuyển sinh với rất nhiều lý do. Tâm lý phổ biến của phụ huynh, học sinh là phải học xong THPT và vào được đại học, có bằng đại học, thạc sĩ, tiến sĩ… mới là con đường đúng đắn, thành công. Cổ xúy cho tâm lý này là các quy định của nhà tuyển dụng lao động đặt nặng bằng cấp hơn là trình độ, tay nghề thực tế đáp ứng các vị trí công việc khác nhau.

Chính sách tiền lương, các cơ sở để tính mức lương, thù lao cho người lao động ở nhiều lĩnh vực cũng có sự phân biệt giữa người có bằng cấp cao và người chỉ qua đào tạo nghề. Người có bằng đại học dù không xin được việc làm đúng nghề đào tạo vẫn có cơ hội nhảy việc hơn người không có bằng, dù thực tế họ có thể cùng đáp ứng một công việc cụ thể như nhau.

Lý do thứ hai từ phía cơ sở đào tạo. Dù có những nỗ lực thay đổi nhưng nhiều cơ sở đào tạo thiếu quy trình quản lý chất lượng chặt chẽ. Nhiều cơ sở dễ dãi trong tuyển sinh, đào tạo, không có trách nhiệm với sản phẩm đào tạo khi ra thị trường lao động.

Mô hình “Đào tạo 9+” tại các trường cao đẳng nghề là một hướng đào tạo mới (giống như Nhật Bản), từng hy vọng hút học sinh tốt nghiệp THCS khá, giỏi. Tuy nhiên, học sinh ở những trường này muốn có bằng THPT thì phải học các môn văn hóa tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên nên cường độ học cao, học sinh khó hoàn thành song song việc học văn hóa và học nghề nên bỏ học giữa chừng.

Trong khi đó, nhiều địa phương đặt mục tiêu phân luồng như là chỉ tiêu thi đua cho các trường. Trường học tiếp tục gây áp lực lên phụ huynh, học sinh như thuyết phục học sinh “dưới trung bình” không nộp đơn thi tuyển sinh lớp 10, không thi đại học. Các trường nghề cũng quảng bá quá lố và cả thông tin không đúng sự thật (để tuyển sinh) gây mất niềm tin cho cả phụ huynh và học sinh.

Áp lực phân luồng làm cho kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 căng thẳng, các địa phương không mở rộng mạng lưới trường lớp THPT công lập, không bổ sung đội ngũ nhà giáo dẫn tới việc quá tải trường lớp.

Để học sinh tự chọn “ngã rẽ”

Khi Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn nhìn nhận việc phân luồng theo tỉ lệ quy định tại quyết định 522 năm 2018 của Thủ tướng là một cách phân chia “rất cứng nhắc, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn”, ông cũng nhìn nhận phải thay đổi để hướng nghiệp thực chất, tự nguyện, nhất là việc đảm bảo cho các học sinh có nguyện vọng đều được học bậc THPT, Nhà nước đảm bảo 100% chỗ học.

TS Nguyễn Tùng Lâm, phó chủ tịch Hội Tâm lý giáo dục Việt Nam, cho rằng việc phân luồng chỉ đạt hiệu quả thực sự nếu việc tư vấn hướng nghiệp được làm tốt để phụ huynh và học sinh thấy rõ quyền lợi của mình và tự nguyện lựa chọn. Muốn tạo nên nhiều “ngã rẽ” để người học tự nguyện lựa chọn thì cần có mạng lưới cơ sở đầy đủ và tin cậy.

“Mỗi học sinh đều có những điểm mạnh, yếu khác nhau chứ không phải học sinh đi học nghề là “người bị loại”. Chọn học nghề phù hợp vẫn có nhiều cơ hội thành công và hạnh phúc với nghề nghiệp mình được đào tạo và làm việc”, ông Tùng Lâm nói.

Ông Lâm cho biết ở một số nước giáo dục nghề nghiệp hòa nhập với giáo dục phổ thông và đại học, có trường THPT công nghệ (cho học sinh học lên ĐH) và THPT nghề (cho học sinh sẽ theo đuổi một nghề cụ thể). Vậy nên giáo dục nghề nghiệp không tồn tại như một loại hình đẳng cấp thấp mà đơn thuần là một lựa chọn trong nhiều lựa chọn của người học.

TS Nguyễn Thị Thu Anh, thành viên Hội đồng quốc gia giáo dục và phát triển nhân lực Việt Nam, cho rằng công tác giáo dục hướng nghiệp, định hướng phân luồng phải bắt đầu từ nhu cầu của học sinh. Trước hết, giáo viên phải có nhận thức đầy đủ về công tác này và chú trọng tới hướng nghiệp sớm. Học sinh được trải nghiệm, tiếp cận các nguồn thông tin tin cậy, lồng ghép việc hướng nghiệp trong môn học, hoạt động trải nghiệm, dự án học tập, dự án khởi nghiệp, nghiên cứu khoa học, trong giáo dục STEM…

TS Đồng Văn Ngọc, hiệu trưởng Trường cao đẳng Cơ điện Hà Nội, người đầu tiên dám cam kết “hoàn trả học phí cho người học nếu họ tốt nghiệp xong không xin được việc làm đúng nghề”, cho rằng: nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, làm tốt “đầu ra” để phụ huynh, học sinh hiểu học nghề là một con đường tốt chứ không phải yếu kém, không biết học gì mới đi học nghề.■

Càng thực hiện càng “bí”

Khi nhìn vào số liệu của những địa phương triển khai mạnh mẽ nhất việc phân luồng trong hơn một thập kỷ qua (công bố tháng 12-2024 của Bộ GD-ĐT), ta thấy tỉ lệ phân luồng học sinh sau THCS bình quân cả nước là 17,8%, ở Hà Nội, Hải Phòng đạt dưới 12%, cả nước chỉ có 6 tỉnh đạt mức phân luồng 30% (đạt mục tiêu đề ra tại quyết định số 522 của Thủ tướng).

Tỉnh hiếm hoi quyết liệt trong việc phân luồng là Vĩnh Phúc. Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào học tiếp cấp THPT của tỉnh giảm dần, năm 2019 có khoảng 70%, đến năm 2025 thì còn trên 60%.

Tại TP.HCM, học sinh tốt nghiệp THCS học tiếp THPT năm 2019 là gần 77% năm 2024 là 65%, năm 2025 thì tăng thành 79%. Hà Nội có năm giảm xuống dưới 60%, tới năm nay tăng lên 64%.

Năm 2020-2021, TP Hà Nội chỉ có 15.000 học sinh chọn học nghề. Năm tiếp theo có hơn 17.000 em. Năm 2023-2024 cũng chỉ có hơn 17.000 học sinh (chiếm tỉ lệ 13,4% tổng số học sinh tốt nghiệp THCS) vào các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Phân luồng sau THPT trên cả nước theo số liệu năm 2023 cũng chỉ đạt gần 30%, nhưng có khác biệt khá lớn giữa các địa phương. So với con số 8-10% phân luồng sau THCS và THPT vào trước năm 2014 thì những gì đạt được hiện tại gấp hơn 2 lần, song vẫn còn xa so với mục tiêu đặt ra. Hơn nữa, con số chỉ thể hiện số lượng học sinh tốt nghiệp THCS không học lên THPT hoặc số học sinh tốt nghiệp THPT không tiếp tục học lên đại học. Không phải 100% trong số này chọn học nghề (bao gồm cả cao đẳng, trung cấp, đào tạo ngắn hạn).

Ông Nguyễn Văn Mạnh, phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Phúc, đưa ra con số mỗi năm có khoảng 15% học sinh tốt nghiệp THCS bỏ học tiếp, không có việc làm ổn định. Chất lượng đào tạo nghề với nhóm này rất thấp, tỉ lệ có việc làm không cao.

One thought on “Rào cản giáo dục vĩ đại – 3 bài”

  1. “Thừa nhận của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn, rằng: ‘Quy định 40% học sinh sau THCS đi học nghề, 60% vào THPT là một sự phân chia cứng nhắc, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn’ có thể coi là sự đánh dấu một bước chuyển nhận thức quan trọng sau hơn hai thập kỷ theo đuổi chính sách phân luồng hành chính.”

    Vấn đề giáo dục nổi cộm anh Hoành nhắc tới đã được chính phủ nhanh chóng quan tâm và phản hồi.

    Em Hương

    Like

Leave a comment