Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.
II. Cốt lõi của trí tuệ Bát Nhã (hai câu đầu)
Hai câu đầu là cốt lõi của Bát Nhã. Tất cả những câu sau đó là triển khai rộng hơn từ phần cốt lõi này. Đây là hai câu đầu:
Hán việt
Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Tiếng Việt
Khi Bồ tát Quán tự tại thực hành Bát-nhã Ba-la-mật-đa sâu xa, soi thấy năm uẩn đều không, liền vượt qua mọi khổ ách.
Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.
English
When Avalokiteshvara Bodhisattva was practicing the profound prajna paramita, he illuminated the five skandhas and saw that they are all empty, and he crossed beyond all suffering and difficulty.
Shariputra, form does not differ from emptiness; emptiness does not differ from form. Form itself is emptiness; emptiness itself is form. So, too, are feeling, cognition, formation, and consciousness.
Bồ tát là viết tắt của “bồ đề tát đỏa”, được phiên âm từ chữ Phạn “Bodhisattva.” Đó là một từ trong Phật giáo Đại thừa. Bồ đề (bodhi) có nghĩa là giác ngộ (enlightened). Bodhisattva có nghĩa là “người giác ngộ” (enlightened being). Trong truyền thống Đại thừa, bồ tát là một người đã đạt giác ngộ nhưng tự nguyện gác lại thành tựu quả vị Phật trọn vẹn cuối cùng để giúp đỡ các chúng sinh khác đạt giác ngộ. Có thể nói, Bồ tát là một bậc thấp hơn quả vị Phật toàn giác.
Tu bồ-tát thừa (training in the bodhisattva way) là con đường Đại thừa dẫn đến giác ngộ. Con đường này được gọi là lục độ ba-la-mật (six paths to cross to the other shore). Đó là: bố thí (giving), trì giới (keeping rules and precepts), nhẫn nhục (patient and humble), tinh tấn (advancing in the practice), thiền định (meditation) and trí huệ (wisdom). Khởi đầu con đường tu Bồ tát đạo này, điều trước tiên người hành giả phải làm là phát tâm bồ đề (start bodhicitta, start bodhisattva’s heart)— một tâm nguyện đạt đến giác ngộ nhằm cứu giúp các chúng sinh khác cùng đạt giác ngộ, thực là một lời thệ nguyện đầy lòng vị tha.
(Xem thêm về Bồ tát đạo: http://www.buddhismtoday.com/viet/phatphap/lucdobalamat.htm )
Trong Đại thừa (Mahayana), Bồ tát (Boddhisattva) là một người giác ngộ.
Trong Phật giáo nguyên thủy (Theravada), có hai dạng người giác ngộ: (1) Bích Chi Phật (pratyekabuddha) là người đạt giác ngộ bằng tu tập Thập Nhị Nhân Duyên (the twelve links of cause and effect). Cách tu tập này được gọi là Duyên Giác (giác ngộ qua quán chiếu luật nhân quả). (2) A-la-hán (arhat) là người đạt giác ngộ bằng tu tập Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo (The Four Noble Truths and The Noble Eightfold Path). Cách tu tập này được gọi là Thanh Văn (âm thanh và văn tự của Phật). Chúng ta sẽ tìm hiểu những cách thức tu tập này sau.
Bậc giác ngộ hoàn toàn là Phật. Có nhiều vị Phật toàn giác trong kinh sách, nhưng chỉ có một Đức Phật toàn giác trong lịch sử thế giới – đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (hiền nhân của dòng họ Thích Ca), người đã sáng lập nên Phật giáo.
Vì vậy, chúng ta có bốn dạng người giác ngộ, xếp từ cao xuống thấp: Phật, bồ tát, bích chi phật, a-la-hán (buddha, bodhisattva, pratyekabuddha, arhat).
Quán Tự Tại là tên của vị Bồ tát trong Bát Nhã Tâm Kinh. Trong hầu hết các kinh Phật, tên của một vị Bồ tát vừa là một danh từ riêng (tên của chính vị ấy) và vừa là một danh từ chung (từ chỉ chung, mang một ý nghĩa nào đó). Quán Tự Tại có nghĩa là quán sát chính bản thân thực tại, quan sát thực tại như nó là, được dịch từ tên Avalokiteshvara của tiếng Phạn. Trong những bộ kinh khác, Avalokiteshvara được dịch là Quán Thế Âm—quán sát/ lắng nghe âm thanh của thế giới. Một tên Phạn với hai cách dịch nghĩa hơi khác nhau: khi chúng ta nói đến triết lý, đó là Quán Tự Tại; khi chúng ta nói đến lòng từ bi, đó là Quán Thế Âm, lắng nghe tiếng kêu cứu khổ của chúng sinh trong thế giới.
Bồ tát Quán Tự Tại, bên cạnh là một tên riêng, cũng được dùng để chỉ bất cứ ai trong chúng ta đã đạt giác ngộ đủ để có thể quán sát thực tại (bản thân chúng ta và thế giới xung quanh ta) như chính nó là, không méo mó, mơ hồ và vô minh.
o0o
Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (3)
Series A Brief Exposition on the Heart Sutra:
(1),(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.
II. The Essence of Wisdom (The first 2 verses)
The first 2 verses are the essence of prajna. All other following verses are further expansion of this essence. These are the first 2 verses:
When Avalokiteshvara Bodhisattva was practicing the profound prajna paramita, he illuminated the five skandhas and saw that they are all empty, and he crossed beyond all suffering and difficulty.
Shariputra, form does not differ from emptiness; emptiness does not differ from form. Form itself is emptiness; emptiness itself is form. So, too, are feeling, cognition, formation, and consciousness.
Bodhisattva is a Sanskrist term. It is a word in Mahayana Buddhism. Bodhi means enlightened. Sattva means a sentient being, a being with feelings. In the Mahayana tradition, Bodhisattva is a person who has reached enlightenment but postpones final attainment of full Buddhahood in order to help other people reach enlightenment. Bodhisattva is one step lower than a full Buddha, so to speak.
The Bodhisattva Path is the Mahayana way to reach enlightenment. This way is called “six paths to cross to the other shore” (or “six virtues of enlightenment”). They are giving, keeping rules and precepts, patient and humble, devotion (or effort), meditation, and wisdom. At the start of the training, the first thing a trainee of must do is “to start bodhicitta” (to develop the Bodhisattva heart)—a commitment to achieve enlightenment in order to help other beings achieve enlightenment too. This is a very selfless vow.
Mahayana Buddhism has Boddhisattva as an enlightened person.
Theravada Buddhism has two types of enlightened persons:
(1) Pratyekabuddha is a person who reaches enlightenment through learning and practicing the Twelve Links of Cause and Effect (the twelve nidanas). This way of training is called the Pratyebuddha Vehicle.
(2) Arhat is a person who reaches enlightenment from practicing the Four Noble Truths and the Noble Eightfold Path. This training way is called Sravaka Vehicle. We will explore these different training ways later.
The fullest level of enlightenment is Buddha. There are many Buddhas in the sutras, but there is only one historical Buddha in the history of the world–that is Buddha Sakyamuni (the sage of the Sakyas family), the founder of Buddhism.
Thus, we have four types of enlightened persons, ranked from top down: Buddha, Bodhisattva, Pratyekabuddha, Arhat.
Avalokiteshvara is the name of the Bodhisattva in the Heart Sutra. In most Buddhist sutras, a Bodhisattva’s name is both a proper noun (his own name) and a common noun (a generic term standing for something). In Sanskrist, Avalokiteshvara means “lord who looks down” or “lord who perceives sounds.” Avalosteshvara is a very prominent Bodhisattva in Mahayana Buddhism. Avaloteshvara looks down upon the world and listens to the cries for help of all sentient beings.
Avalokiteshvara, in addition to being a proper name, also indicates any of us who is enlightened enough to be able to look at existence (our self and the world around us) as it is, without distortion, confusion, or ignorance.
o0o
© copyright 2025
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
http://www.dotchuoinon.com