Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (1)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

 

Nguyên tác Anh ngữ: Trần Đình Hoành

Việt dịch: Diệu Tâm & Trần Đình Hoành

Chào anh chị em,

Hôm nay mình giới thiệu đến các anh chị Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh mình viết bằng tiếng Anh năm 2008, rồi chị Diệu Tâm và mình cùng dịch sang tiếng Việt.

Đây là một cuốn sách nhỏ nên mình sẽ chia ra và đăng liên tục nhiều lần.

Với yêu thương,

Hoành

o0o

Bát Nhã Tâm Kinh là tinh hoa của tư tưởng Phật giáo Đại thừa (Mahayana).  Phật giáo được phát triển từ Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) hay Tiểu thừa đến Đại thừa. Phật giáo ở Thái Lan, Miến Điện, Sri Lanka, Campuchia và Lào chủ yếu theo Tiểu thừa.  Phật giáo tại Việt Nam, Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Tây Tạng và Mông Cổ chủ yếu theo Đại thừa. Tuy nhiên, Tiểu thừa cũng đã từng xuất hiện ở Việt Nam sớm như Đại thừa.  

Trong quá trình phát triển dài của Phật giáo, quan niệm chính yếu về Không (emptiness, void, Sũnya trong tiếng Phạn) đã theo đó phát triển. Cuộc đời là vô thường (non-permanent) bởi vì mọi thứ đến và đi, tùy thuộc vào nhân duyên (the law of causation). Cuộc đời vì thế là ảo ảnh, không thực. Nói cách khác, đời là Không. 

“Không” thường dễ bị hiểu nhầm theo hướng tiêu cực là triệt tiêu. Phật giáo Đại thừa đưa ta thoát khỏi quan niệm Không cực đoan này để trở về với trung đạo (the middle way). Con đường trung đạo vẫn mang ý tưởng rằng “đời là Không”, tuy nhiên Không ở đây chẳng khác với “có” (existence), “không mà là có, có mà là không” (emptiness is existence, existence is emptiness). Con đường trung đạo này hoàn toàn không có một tí tư tưởng triệt tiêu tiêu cực nào cả.   Trung đạo là cái nhìn thực tế và tích cực về cuộc đời.

Bát Nhã Tâm Kinh thể hiện con đường trung đạo, trong khi trình bày nhanh chóng tất cả những giáo lý Phật giáo truyền thống, từ Tiểu thừa đến Đại thừa.  Học Bát Nhã Tâm Kinh chính thực là học toàn bộ Phật pháp. 

Bát Nhã Tâm Kinh là cốt lõi của Phật giáo đại thừa đến nỗi nó được các tăng ni tụng hàng ngày (kinh nhật tụng). Ở Việt Nam, Bát Nhã Tâm Kinh được tụng bằng tiếng Hán Việt. Bản Hán Việt có cái hay là mang âm hưởng và nhịp điệu đẹp như thơ và rất ngắn gọn, vì thế nó dễ thuộc, dễ nhớ. Vấn đề ở chỗ nó vẫn là ngoại ngữ đối với đa số người Việt. Tuy nhiên, vì phần lớn thuật ngữ Phật giáo là Hán Việt nên làm quen với một số thuật ngữ Hán Việt sẽ hữu ích cho những người học Phật. Vì những lý do trên, trong bài luận này, chúng ta sẽ dùng bản Hán Việt như là bản chính, cùng với bản dịch tiếng Việt để giúp ta hiểu dễ hơn. 

Bát Nhã Tâm Kinh

Prajñāpāramitā Hdaya Sūtra

Heart Sutra, Heart of Perfect Wisdom Sutra, Essence of Wisdom Sutra

Hán Việt 

http://www.quangduc.com/kinhdien/kinhbatnha.html

Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. 

Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. 

Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh, diệc vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

 Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố vô hữu khủng-bố; viễn ly điên-đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết: Yết-đế Yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề. Tát bà ha. 


Dịch Nghĩa Tiếng Việt (bản dịch của Trần Đình Hoành, tham khảo từ nhiều bản dịch trước đây)

Khi Bồ tát Quán Tự Tại thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa, soi thấy năm uẩn đều không, liền vượt qua mọi khổ ách.

Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy.

Xá Lợi Tử! Mọi sự đều là không, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên, trong không chẳng có sắc, chẳng có thọ, tưởng, hành, thức; chẳng có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; chẳng có màu sắc, âm thanh, hương thơm, vị nếm, xúc cảm, và các pháp; chẳng có nơi để nhìn, cho đến chẳng có có nơi để ý thức; chẳng có vô minh, cũng chẳng có chấm dứt vô minh; cho đến chẳng có già chết, cũng chẳng có chấm dứt già chết; chẳng có khổ, nguyên nhân khổ, sự diệt khổ, và con đường diệt khổ; chẳng có trí tuệ, cũng chẳng có đạt.

Bởi chẳng có gì để đạt, Bồ tát nương tựa Bát-nhã ba-la-mật-đa, nên tâm không vướng mắc; vì không vướng mắc nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo niết bàn. Chư Phật ba đời nương tựa Bát-nhã ba-la-mật-đa nên đạt được vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Nên biết Bát-nhã ba-la-mật-đa là thần chú lớn, là minh chú lớn, là chú tối cao, là chú không gì sánh bằng, trừ hết mọi khổ ách, chắc thật, không dối.

Nên nói chú Bát-nhã ba-la-mật-đa, tức là nói chú rằng: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha. (Qua rồi, qua rồi, qua bờ rồi, qua bờ hết rồi, giác ngộ rồi, vậy đó!).

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (1)

Series A Brief Exposition on the heart Sutra:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Original English: Tran Dinh Hoanh

Vietnamese translation: Dieu Tam & Tran Dinh Hoanh

Dear Brothers and Sisters,

Today I would like to introduce to you the Essay on the Heart Sutra that I wrote in English in 2008, and then Dieu Tam and I translated it into Vietnamese.

This is a small book so I will divide it and post it continuously many times.

With compassion,

Hoành

o0o

The Heart Sutra is the apex of the Mahayana Buddhism thought.  Buddhism developed from Theravada to Mahayana.  Thailand, Myanmar, Sri Lanka, Cambodia and Laos are essentially Theravada.  Vietnam, China, Japan, Korea, Hongkong, Singapore, Taiwan, Tibet and Mongolia are essentially Mahayana.  However, Theravada also appeared in Vietnam as early as Mahayana.

In this long development of Buddhism, the key concept of emptiness or void (Sũnya in Sanskrist) developed along.  Life is non-permanent because everything comes and goes, depending on the law of causation.  Life is therefore illusory, not real.  In other words, life is emptiness.  

This concept of emptiness may easily lead to the negative thought of nihilism.  Mahayana Buddhism takes us back out of this extremist concept of emptiness to the middle way.  This middle way still commits to the idea that “life is emptiness”; however emptiness here is not different from existence–emptiness is existence, existence is emptiness.  This middle way definitely takes away any inkling of nihilist negativism.  It is realistic and positive about life.

The Heart Sutra presents this middle way while going swiftly through all teachings of the Buddhist tradition, from Theravada to Mahayana.  This sutra is so central to Mahayana Buddhism that it is recited daily by monks and nuns.  Studying the Heart Sutra is really the studying of the whole Buddhism.

The Heart Sutra

Prajñāpāramitā Hdaya Sūtra

The Heart Sutra is also called the Heart of Perfect Wisdom Sutra, the Essence of Wisdom Sutra, The Heart of Prajna Paramita Sutra.  

http://www.cttbusa.org/heartsutra/heartsutra.htm

The Heart of Prajna Paramita Sutra 

       (Translated by Tang Dharma Master of the Tripitaka Hsüan-Tsang on imperial command). 

When Avalokiteshvara Bodhisattva was practicing the profound prajna paramita, he illuminated the five skandhas and saw that they are all empty, and he crossed beyond all suffering and difficulty.      

Shariputra, form does not differ from emptiness; emptiness does not differ from form. Form itself is emptiness; emptiness itself is form. So, too, are feeling, cognition, formation, and consciousness.
  
Shariputra, all dharmas are empty of characteristics.  They are not produced. Not destroyed, not defiled, not pure, and they neither increase nor diminish. Therefore, in emptiness there is no form, feeling, cognition, formation, or consciousness; no eyes, ears, nose, tongue, body, or mind; no sights, sounds, smells, tastes, objects of touch, or dharmas; no field of the eyes, up to and  including no field of mind-consciousness; and no  ignorance or ending of ignorance, up to and including no  old age and death or ending of old age and death. There is no suffering, no accumulating, no extinction, no way, and no understanding and no attaining.    

Because nothing is attained, the Bodhisattva, through reliance on prajna paramita, is unimpeded in his mind.  Because there is no impediment, he is not afraid, and he leaves distorted dream-thinking far behind. Ultimately Nirvana! 

All Buddhas of the three periods of time attain Anuttarasamyaksambodhi through reliance on prajna paramita. Therefore, know that prajna paramita is a great spiritual mantra, a great bright mantra, a supreme mantra, an unequalled mantra. It can remove all suffering; it is genuine and not false. That is why the mantra of prajna paramita was spoken. Recite it like this:  

Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha!

________

Leave a comment