DV – LTS: Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp lớn, trong đó ngành chăn nuôi giữ vai trò quan trọng thứ 2 sau trồng trọt. Tuy nhiên, nhìn lại thực trạng ngành chăn nuôi Việt Nam hiện nay, có thể thấy chúng ta đang lệ thuộc rất nhiều từ bên ngoài, từ con giống, thức ăn chăn nuôi (TACN), công nghệ, kỹ thuật đến thiết bị máy móc phục vụ… Không tái cơ cấu và có giải pháp khắc phục, ngành chăn nuôi Việt sẽ thua trắng trên sân nhà.
Bài 1: Tràn ngập giống ngoại trên đất Việt
Thực tế cho thấy, hiện các giống vật nuôi trong nước như lợn, gà, bò, vịt… đều có nguồn gốc “ngoại nhập” và đây cũng là những giống chiếm tỷ lệ cao trong các trại chăn nuôi tập trung công nghiệp, còn các giống bản địa phần lớn tồn tại dưới dạng “đặc sản”.

Nguồn giống cung cấp cho trại nuôi chủ yếu là nhập khẩu.
Giống nội… kém chất lượng
PGS-TS Nguyễn Đăng Vang- Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam, trong một hội nghị chăn nuôi ở TP.HCM từng lắc đầu ngao ngán: “Ngành chăn nuôi chúng ta đang phải nhập khẩu con giống và phụ thuộc hoàn toàn nước ngoài về công nghệ, chuồng trại”. Cụ thể, theo dẫn chứng của ông Vang, hiện hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 1.000 con giống heo, 7.000 – 8.000 con giống bò sữa và 1,2 triệu con giống gia cầm. Đấy là chưa kể một lượng giống nhập khổng lồ từ Trung Quốc đổ vào nước ta qua con đường tiểu ngạch không kiểm soát được. “Không tính giống bò sữa, mỗi năm nước ta tốn khoảng 6 triệu USD nhập giống gia súc, gia cầm. Trong đó khoảng 2 triệu USD nhập giống heo và 4 triệu USD giống gia cầm” – ông Vang cho biết.
Trao đổi với NTNN, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi chia sẻ, sở dĩ họ phải nhập heo giống về do các loại giống heo trong nước chất lượng kém, năng suất thấp, nhiều mỡ và khả năng chống chịu bệnh tật kém. Nguồn heo giống Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ Mỹ, Canada, Anh, Hà Lan, Đan Mạch…với giá từ 2.500 – 5.000 USD/con, tùy giống. “Giá mắc hơn trong nước gấp mấy lần nhưng chúng tôi vẫn phải chấp nhận nhập vì năng suất giống ngoại cao hơn gấp 1,5 lần giống nội. Chưa kể, thịt, cơ bắp chắc hơn, lại tiêu tốn thức ăn ít hơn, thoái hóa lâu hơn và khả năng chịu bệnh tật tốt hơn” – một doanh nghiệp chăn nuôi trong nước giải thích.
Mặc dù nhập heo giống chất lượng về, nhưng kỹ thuật, công nghệ nuôi của Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế nên vẫn không nhân được một đàn giống hậu bị tốt. Ông Nguyễn Trí Công- Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai phân tích: “Trên thế giới người ta áp dụng công nghệ khai thác giống bắt đầu từ đời cụ kỵ – ông bà đến đời cha mẹ rồi mới cho ra heo thương phẩm nên chất lượng, năng suất, khả năng chống chịu bệnh tật tốt. Còn ở Việt Nam lại bỏ mất 2 đời đầu, các công ty giống chỉ bắt đầu từ giống cha mẹ sản xuất ra con thương phẩm. Ngay cả con heo giống cụ kỵ nhập khẩu về làm theo kiểu đó cũng chỉ khai thác được 3 – 4 năm là thoái hóa giống. Năng suất, chất lượng mấy năm sau giảm nên rốt cuộc năm nào cũng phải nhập giống”.
Nước ngoài chiếm lĩnh thị phần
Tương tự như vậy là giống gia cầm. Theo Hiệp hội Chăn nuôi VN, trong 10 tháng đầu năm 2014, cả nước nhập khoảng 1,2 triệu con giống gia cầm với giá nhập khẩu bình quân gần 4 USD/con giống. Giống nhập từ New Zealand và Mỹ đều tăng mạnh.
Còn ở thị trường trong nước, ông Lê Bá Lịch- Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi VN, cho biết hiện nay 100% giống gà lông trắng đều do các công ty chăn nuôi nước ngoài như CP, Japfa, Emivest… chiếm giữ. Các DN này cũng nắm luôn nguồn cung gà giống dùng nuôi để đẻ trứng trong nước. Thị phần của các đơn vị này chiếm hơn 90% cả nước. Mỗi tháng 3 đơn vị này cung cấp ra thị trường khoảng 6,5 triệu con giống gà các loại.
“Đến con vịt là lợi thế của mình mà giờ cũng bị Công ty Grimaud của Pháp chiếm gần hết thị phần ở khu vực phía Nam. Thị trường gà lông màu vốn thuộc các DN VN thì giờ các DN nước ngoài cũng đã nhào vô nuôi giành thị phần” – ông Nguyễn Văn Trọng- Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NNPTNT) lo lắng nói.
Còn ông Châu Nhựt Trung- Giám đốc Công ty Huỳnh Gia Huynh Đệ thừa nhận, năm nào công ty ông cũng mua giống vịt của một DN nước ngoài tại VN là do giống ngoại ổn định, chất lượng đồng đều, tăng trọng nhanh và có nhiều chính sách chăm sóc hỗ trợ tốt. Theo tìm hiểu của NTNN, chính sự lệ thuộc vào con giống nước ngoài khiến các DN lo ngại ngành chăn nuôi trong nước sẽ bị các DN nước ngoài thao túng giá cả và thị trường vì độc quyền. Bởi cung cấp con giống luôn đi kèm với thức ăn, thuốc thú y, kỹ thuật nuôi, công nghệ chuồng trại…
Anh Hoàng Mạnh Hà, ở Trảng Bom (Đồng Nai) chia sẻ: “Đợt 3 năm trước, nhà tôi nuôi gà bị dịch bệnh chết hết, mọi người nói do con giống kém chất lượng. Có người mách mua con giống của 1 công ty nước ngoài, tôi nghe theo. Rồi họ (công ty nước ngoài đó – PV) xuống tư vấn để con giống khỏe phải chích thuốc này, dùng thức ăn kia, kỹ thuật nuôi nọ, kêu đâu phải xây dựng trại lạnh cả tỷ đồng để nuôi gà. Tôi đâu có vốn, thế là lần hồi, tôi chuyển qua nuôi gia công phứt cho họ cho khỏe”.
*****
Bài 2:
Chăn nuôi nhập từ con giống đến… cái máng lợn: Đành lòng quay lưng với hàng nội
DV – Không chỉ nhập khẩu con giống, ngành chăn nuôi Việt Nam còn lệ thuộc nước ngoài khâu thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, máy móc nông nghiệp và bây giờ là cả công nghệ chuồng trại, quản lý và kỹ thuật nuôi.
Thiết bị trong nước chưa dùng đã… hỏng
Chúng tôi về Tam Dương, Vĩnh Tường, nơi được coi là thủ phủ chăn nuôi của Vĩnh Phúc, được người dân nơi đây cho biết, họ cũng đã từng dùng các thiết bị nội như giàn sưởi, làm mát, sàn lót nền chuồng… ưu điểm là giá rẻ, nhưng lại rất nhanh hỏng. Ông Đào Xuân Hải (xã Kim Long, Tam Dương, Vĩnh Phúc) đang nuôi tới 60.000 con gà đẻ trứng và khoảng 20.000 gà hậu bị giống Ai Cập cho hay: “Tôi là người rất đồng tình và hưởng ứng phong trào “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” nên đã đầu tư toàn bộ hệ thống tấm tản nhiệt, máy sưởi… nội. Nhưng chỉ mới dùng được vài năm, chưa đủ khấu hao thì đã hỏng, nên vừa rồi tôi phải đổi sang dùng hàng nhập từ Thái Lan”.

Từ tấm lót sàn chuồng lợn nái đến bóng đèn sưởi … cũng phải nhập ngoại. Ảnh: L.H.T
Anh Trần Văn Toàn- một hộ chăn nuôi ở xã Nhật Tân (Kim Bảng, Hà Nam) cho rằng, những người chăn nuôi như chúng tôi phải bất đắc dĩ dùng các thiết bị ngoại trong chăn nuôi do trong nước chưa sản xuất được hoặc có sản xuất nhưng chất lượng còn nhiều hạn chế khi áp dụng thực tế. “Đơn cử như tấm sàn nhựa lát cho lợn nái, hàng nội rẻ hơn, nhưng độ bền kém, nhanh hỏng, nên tính ra vẫn đắt hơn hàng ngoại” – anh Toàn nói.
Cũng theo tìm hiểu của NTNN, thời gian gần đây các công ty nước ngoài còn xuất khẩu vào VN cả hệ thống dây chuyền công nghệ. Anh Trần Văn Thanh (ở quận Tân Phú, TP.HCM) sau khi nghiên cứu kỹ về thời cơ làm ăn sắp tới khi VN ký các hiệp định thương mại EU, TPP đã quyết định thuê đất đầu tư một trang trại nuôi heo lớn 1.000 con nái ở Bình Dương. Và công nghệ nuôi anh chọn là từ một công ty của Mỹ. “Họ qua tư vấn lo cho mình hết từ A đến Z, từ công nghệ xây dựng chuồng trại, con giống, kỹ thuật nuôi đến cả quy trình quản lý. Không tính tiền đất, chỉ riêng tiền xây dựng chuồng trại, cơ sở hạ tầng trên diện tích 7ha mà tôi đang làm là đã hết 24 tỷ đồng, trên 1 triệu USD. Họ kêu làm vậy họ mới làm, không thì thôi” – anh Thanh cho biết. Tương tự, bà Nguyễn Như Cường- Chủ nhiệm HTX An Hạ (Bình Chánh, TP.HCM) cũng đang có kế hoạch xây dựng trang trại chăn nuôi bò sữa rộng 40ha ở Đồng Nai. “Tôi chọn công nghệ của Israel. Họ bán công nghệ là cả một gói từ xây dựng chuồng trại (trên diện tích 10ha), đồng cỏ chăn thả (30ha), con giống, kỹ thuật nuôi đến công nghệ quản lý… Tổng cộng chi phí là 2 triệu USD. Mà họ theo mình tới 5 năm, hỗ trợ hết mình trong tất cả các khâu, kể cả hỗ trợ tiền lãi suất không lấy trong 5 năm đầu” – bà Cường cho biết.
Theo tìm hiểu của PV, không chỉ các trang trại nuôi gia công cho các công ty nước ngoài như CP, Japfa phải sử dụng hầu hết các thiết bị, dụng cụ, thuốc men ngoại, mà hầu hết các trang trại, đặc biệt là các trang trại lớn đều phải sử dụng hàng ngoại. Ông Trần Mạnh Thắng, chủ trang trại ở thôn 8, xã An Ninh (Bình Lục, Hà Nam) cho biết, về nguyên tắc khi tham gia nuôi gia công cho CP, người nuôi có thể chủ động mua các loại thiết bị như tấm tản nhiệt làm mát, sưởi ấm, sàn chuồng cho lợn nái, hay hệ thống máng ăn, uống… chỉ có vaccine là bắt buộc phải sử dụng 100% vaccine ngoại.
Song theo ông Thắng, để đồng bộ, ông vẫn phải nhập các thiết bị từ nước ngoài của CP. “Hiện chúng ta cũng đã sản xuất được các loại máng ăn, uống tự động, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, dùng nhanh hỏng, nên bắt buộc phải dùng hàng nhập của CP” – ông Thắng cho hay.
Bỏ ra hàng trăm tỷ để nhập vaccine mỗi năm
Theo thống kê của Cục Thú y (Bộ NNPTNT), mỗi năm Việt Nam phải chi ra hàng trăm tỷ đồng để nhập khẩu vaccine phục vụ phòng chống dịch bệnh cho ngành chăn nuôi. Tính đến hết tháng 8.2014, con số nhập khẩu vaccine của nước ta vẫn còn rất cao, dù năm nay được coi là năm ít dịch bệnh xảy ra trong ngành chăn nuôi. Cụ thể, nhập hơn 12,5 triệu liều vaccine lở mồm long móng, trị giá 5,9 triệu USD; hơn 5,4 triệu liều vaccine, trị giá hơn 7,9 triệu USD; hơn 151,8 triệu liều vaccine cúm gia cầm, trị giá hơn 2,6 triệu USD.
Ông Phùng Quốc Chướng – Viện trưởng Viện Thú y cho biết, để nghiên cứu ra được một vaccine phòng bệnh rất tốn kém nhưng từ nghiên cứu tới ứng dụng lại là một vấn đề khác. Hiện Bộ NNPTNT “đặt hàng” hai đề tài nghiên cứu là cúm gia cầm gần 5 tỷ đồng và tai xanh gần 8 tỷ đồng. Trong đó, đề tài nghiên cứu cúm gia cầm H5N1 đã hoàn thành nhưng để đưa vào sản xuất lại vướng nhiều vấn đề nên chưa thể triển khai được.
Cùng chung nhận định trên, ông Nguyễn Văn Phú (Công ty TNHH Dược Hanvet) cho biết, ở Việt Nam hiện nay chỉ có 3 đơn vị cung ứng vaccine nhưng cũng chỉ chiếm chưa đầy 10%, còn lại là nhập khẩu ở nước ngoài. “Thị trường vaccine ở Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ, chủ yếu vẫn phụ thuộc vào nước ngoài”- ông Phú cho biết.
Theo đánh giá của Cục Thú y, qua tìm hiểu tình hình sử dụng vaccine cho thấy, phần lớn các trang trại chăn nuôi quy mô lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường lựa chọn vaccine nhập khẩu để sử dụng, trong khi đó vaccine do các doanh nghiệp trong nước sản xuất thường chỉ được các hộ gia đình, trang trại chăn nuôi quy mô nhỏ sử dụng.
TS Mai Huy Tân – Chủ tịch HĐQT Công ty CP Thực phẩm Đức Việt khi ra nhập TPP, chúng ta có rất nhiều điểm yếu, hiện tuyệt đại đa số là chăn nuôi nhỏ lẻ, các hộ chăn nuôi nhỏ thì khả năng tài chính của nông dân không có để đầu tư nên rất khó cạnh tranh về giá cả đối với các trang trại lớn ở trong nước. Trong khi chăn nuôi của chúng ta lại phụ thuộc lớn vào nước ngoài, phải nhập khẩu từ nguyên liệu TACN, máy móc thiết bị, thuốc và vaccine nên nếu chúng ta không chủ động giảm nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm sẽ thua ngay trên sân nhà.
Cũng theo Cục Thú y, nguyên nhân chính của tình trạng này là do phần lớn vaccine sản xuất trong nước đều dùng công nghệ cũ như sản xuất trên môi trường trứng hoặc trên môi trường động vật, trong khi đó các nước tiên tiến đã và đang sản xuất vaccine trên môi trường tế bào, vaccine công nghệ mới như vaccine tái tổ hợp, vaccine tiểu phần… điều này khiến cho vaccine nhập ngoại thường có chất lượng cao và ổn định hơn so với vaccine sản xuất trong nước.
Đây là một trở ngại lớn cho các doanh nghiệp trong nước khi phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu vì thông thường đầu tư cho sản xuất vaccine thường khá cao, tỷ lệ thu hồi vốn chậm nên hiệu quả đầu tư chưa cao.
Điều này khiến cho các doanh nghiệp trong nước khá e ngại trong quyết định đầu tư dây chuyền sản xuất vaccine cũng như cho đầu tư nhân lực có chuyên môn cao.
