Tại sao nhiều người Tin Lành Việt Nam có suy nghĩ và lời xúc phạm các tôn giáo khác?

100 năm tin lành

(TĐH: Bài này nói đến vài vấn đề nền tảng của
Tin Lành Việt Nam (đối với văn hóa Việt Nam).
Tin lành và Tin Lành Việt Nam có nhiều điều
tích cực, nhưng không thuộc phạm vi của bài
này. Cho nên các bạn đọc nên nhớ điều đó.)

Tại sao nhiều người Tin Lành Việt Nam có suy nghĩ và lời xúc phạm các tôn giáo khác?

Tại sao những cố gắng truyền giảng của Tin Lành Việt Nam có hiệu quả rất thấp so với công sức bỏ ra?

Tác giả Lê Anh Dũng

 Kính gửi  quí mục sư, quí tín hữu và những người quan tâm tới Tin Lành Việt Nam,

1/ Vì sao có thư ngỏ này:

Khi xin việc ở Loyola Marymount University, là một Catholic Universtity, vào website của trường này tôi đọc được một core value của trường như sau:

Faith and Reason.  We affirm our commitment to the faith that does justice, which is rooted in our Jesuit and Marymount traditions.  Further, we both inherit and contribute to the ever-developing Catholic intellectual tradition which views the pursuit of truth as an inherent good, emphasizes both the harmony and creative tension between Faith and Reason, and embraces ecumenical and Interfaith Dialogue
(http://academics.lmu.edu/strategicplan/strategicplan2012-2020/strategicplantableofcontents/corevalues/)

Điều này làm tôi suy nghĩ, cọng với những suy tư, trăn trở từ rất lâu, dẫn tới việc viết thư ngỏ này để nêu lên những góp ý trong tinh thần đóng góp, xây dựng.

Ở đây tôi xin nhấn mạnh là không có ý nói về sự tranh chấp giữa Công Giáo và Tin Lành; hay Ky-tô giáo nói chung (Chính Thống, TL, CG, Anh Giáo …) với những tôn giáo khác. Tôi chỉ chú trọng tới cách mà người Ky-tô hữu không phân biệt CG, TL cần lưu ý nếu muốn rao giảng lời Chúa một cách hiệu qủa trong thế kỷ 21, khi mà hạn chế không gian bị xoá nhoà, và sự hiểu biết của con người đã mở ra những cách nhìn thế giới, vũ trụ và vạn vật xung quanh rất khác xưa. Thí dụ, ngày nay chỉ cần vài giờ để băng qua quãng đường mà dân Do Thái cần 40 năm để vượt qua.

Ở đây tôi cần nói ra thật rõ những xúc phạm, những tổn thương mà người Tin Lành VN đã, và đang tiếp tục gây ra với những người khác niềm tin với mình trầm trọng như thế nào, dưới mắt một người quan sát không có tôn giáo, nhưng có quan hệ gia đình mật thiết với những người Tin Lành. Tôi nói với tư cách 1 người “giữa đường thấy việc bất bình chẳng tha”,  không nhân danh một người Công Giáo, hay Phật Giáo chống lại Tin Lành. Nói ra không phải để chỉ trích, lên án; nhưng để cởi mở những khúc mắc, để đóng góp vào sự thông cảm giữa người với người, tôn giáo với tôn giáo.

Trong tôn chỉ của trường  Loyola Marymount University, họ nhìn rõ vấn đề xung khắc về Faith and Reason, và vấn đề Interfaith Dialogue, đối thoại giữa những niềm tin khác nhau.

Faith mà không reason từ bất cứ tôn giáo nào cũng dễ dẫn tới cuồng tín, là mảnh đất mầu mỡ  cho ngu tối, tội ác phát triển.

Nếu không đặt ra vấn đề Interfaith Dialogue, khi nói chuyện với người khác niềm tin với định  kiến xấu trong lòng là họ thờ những sự tăm tối, ma quỉ; khi không sẵn sàng lắng nghe, tìm hiểu cái khác mình; khi chỉ thụ động thu nhận, rồi phát ra những điều mà cha ông truyền lại theo 1 chiều duy nhất,  thì nguời TLVN sẽ thường trực có ác cảm, nhận  định tiêu cực,  nông cạn về những người khác mình (như “người ngoại là người giả dối”, hay “người ngoại không có standard đúng sai”… ). Điều này gây sứt mẻ, đổ vỡ trong quan hệ giữa người với người, và là nguyên nhân cho bao nhiêu hậu qủa tệ hại, những chiến tranh tôn giáo tàn bạo, đẫm máu chúng ta vẫn thấy trong suốt lịch sử nhân loại

Ngay vào hôm nay, thế kỷ 21, hàng ngày tin tức thời sự vẫn loan tin về những bạo động, đổ máu liên quan tới tôn giáo; và nhiều người trong chúng ta vẫn bình thản coi như đây là chuyện của người khác, không xét lại phần mình.


2/ “Interfaith dialogue”? hay “Interfaith despise”? hay “Interfaith hate” ?  Tôi nhiều lần nghe con cái của các vị mục sư, hay những tín hữu TL bình thường nói những lời có tính cách mạt sát, miệt thị đạo khác, kể cả với đạo Công Giáo là đạo có mẫu số chung với Tin Lành là thờ Thiên Chúa 3 ngôi.  Đây là một điều thường gặp ở nhiều người Tin Lành VN dù là từ nơi chốn khác nhau, vì vậy ắt hẳn nó phải có 1 cội nguồn chung.  Tin Lành VN mới có trên 100 năm,  tìm lý do nguồn cội là chuyện có thể làm được.

Để về nguồn, tôi tìm đọc đặc biệt những cuốn hồi ký của những mục sư tiên phong có những địa vị quan trọng trong quá trình phát triển từ đầu của HTTLVN như Irving R. Stebbins (cha), Thomas H. Stebbins (con), Lê Văn Thái… và may mắn được đọc cuốn Lịch sử Hội Thánh Tin Lành VN (1911-1965) – từ đây sẽ viết tắt là LSHTTLVN – của mục sư Lê Hoàng Phu, vốn giữ những nhiệm vụ lãnh đạo cao cấp nhất, quan trọng nhất về mặt tổ chức cũng như huấn luyện của Hội Thánh TLVN. Ms Phu đã cung cấp  những thông tin giá trị, khả tín trong cuốn sách  LSHTTLVN, vốn là Luận án Tiến Sĩ của ông vào năm 1972 tại New York University, Hoa Kỳ.

Theo cuốn LSHTTLVN nêu trên thì bản điều lệ đầu tiên viết vào năm 1928 cho HTTLVN đã được diễn tả như 1 áp đặt có tính cách độc đoán, chuyên quyền, được làm một cách không đàng hoàng, khuynh đảo, trong sự vội vã của một nhóm rất nhỏ, chỉ gồm 5 mục sư Mỹ, các mục sư VN hoàn toàn bị gạt ra ngoài việc lập bản điều lệ căn bản cho HTTLVN. Đây là cách làm việc mang đậm tính thực dân tôn giáo, qua mặt và coi thường trình độ người bản địa,  có ảnh huởng quyết định và lâu dài tới nay. Xin được dẫn khá dài, và ghi đậm những câu nôỉ bật.

Điều lệ của hội thánh năm 1928.

Trong số những Điều lệ đề nghị đã từng được đệ trình, thảo luận, chấp nhận bởi các Hội đồng TLH của HTTLVN trong 60 năm lịch sử, thì bản Điều lệ của năm 1928 là dài nhất, vơí những điều khoản tỉ mỉ từng chi tiết cho hầu hết mỗi vấn đề có thể xảy ra trong HTTL ở đâu.

Dầu Hội đồng TLH năm 1927 đã chỉ định một ban các mục sư Việt Nam để làm việc chặt chẽ với uỷ ban giáo sĩ, nhưng khi làm việc, thì chỉ họp lại một lần rất ngắn với thành phần sau mà thôi: Đó là J.D. Olsen, E. F. Irwin, Wm. C. Cadman, J. I. Jeffrey, I. R. Stebbins”  (tr 149-150 LSHTTLVN).  

một Điều lệ chi tiết phải được lãnh đạo Việt Nam dùng “như họ sử dụng Kinh thánh” và họ sẽ “coi mọi sự trong đó như những luật lệ vững bền, cứng rắn”   ”(tr 150 LSHTTLVN).  

“Để tiếp xúc với vấn đề nhạy cảm đã từng đối đầu với Hội thánh đấng Christ tại Đông Á – đối với cả người Công giáo lẫn Tin Lành – liên hệ đến sự thờ cúng tổ tiên, bản Điều lệ ghi rõ rằng: Một thuộc viên HTTLVN phải: “dẹp bỏ mọi hình tượng và thờ cúng tổ tiên” và “thôi không hành nghề bất xứng đối với Tin Lành như “bán rượu, thuốc hút, hay những điều thuộc về sự thờ hình tượng (sự thờ cúng tổ tiên được các giáo sĩ coi là một hình thức khác của sự thờ hình tượng), ví như nhang đèn, tiền mã.” Trong một sự trưng dẫn kỳ lạ, ủy ban Điều lệ rõ ràng chịu ảnh hưởng của mấy giáo sĩ Mỹ có ý thức về chế độ nô lệ, cố thêm “tình trạng nô lệ” vào danh sách nghề nghiệp không xứng đáng với Tin Lành. Sự trưng dẫn này ít có ý nghĩa trong xã hội Việt Nam, nơi mà chế độ nô lệ thực tiễn không có” (tr 152 LSHTTLVN) 

Từ sự dốt nát (ignorance) về văn hoá, lịch sử, tôn giáo ở VN của những giáo sĩ  tiên phong Mỹ vào đầu thế kỷ 20; cùng sự tự tôn “Là người Mỹ, chúng tôi có mặc cảm tự tôn rất cao” (tr 47, HVC của mục sư I. R. Stebbins, xem chú thích cuối bài), tinh thần bất dung; cách làm việc không đàng hoàng, cả vú lấp miệng em các mục sư VN của 5  mục sư Mỹ, người VN đã không có một cơ hội cất lên tiếng nói về văn hóa VN, về phong tục thờ cúng tổ tiên,  nên tinh thần và lời nói miệt thị văn hoá VN để lại dấu ấn không hề phai cho người TLVN.

Trong hoàn cảnh thiếu thông tin của  năm 1928,  những dàn xếp khuynh đảo hậu trường đã không được quần chúng VN biết đến, nên bản Điều lệ năm 1928 do 5 giáo sĩ Mỹ viết cho người Việt dùng, nhưng hoàn toàn không cho người Việt đóng góp ý kiến, đã được quần chúng TLVN chấp nhận. Rồi từ thế hệ này qua thế hệ khác, quyện vào những bản điều lệ viết sau đó,  dần trở thành điều đương nhiên, thành định luật, rồi là truyền thống không thắc mắc, không tranh cãi cho các thế hệ kế tiếp; nhất là khi niềm tin chứ không phải là óc phán đoán là nét chủ đạo của tổ chức. Ở đây ta nhớ tới “Stockholm syndrome” (http://en.wikipedia.org/wiki/Stockholm_syndrome), nhằm giải thích cơ chế những người bị áp chế, để tồn tại thích nghi, phải tự thuyết phục cho hoàn cảnh phải chịu, quay ra yêu mến, biện minh cho kẻ áp chế mình. Lý lẽ của kẻ áp chế trở thành lý lẽ của kẻ bị áp chế, hơn thế còn được những kẻ bị áp chế phát triển hùng hồn, sốt sắng, chủ động và sáng tạo hơn chính tác giả nguyên thủy của nó.

Tinh thần  cực đoan của 5 giáo sĩ Mỹ, được định chế hóa một cách vững chắc trong bản Điều lệ năm 1928, có giá trị nền tảng quan trọng, chi phối mọi sinh hoạt của HTTLVN như bản Hiến Pháp của một quốc gia, đã được truyền qua các mục sư VN tiền bối vào thời Pháp thuộc, là những người ít học, thiếu hiêủ biết, gia cảnh thường là khó khăn (khi truyền đạo vào một đất nước, thường có 2 hướng tiếp cận: một là từ thượng tầng đi xuống; hai là từ những người khó khăn, cùng khổ, yếu kém, hay có vấn nạn cùng cực, có nhu cầu cần được an ủi, cần giúp đỡ đi lên; hoàn cảnh khó khăn thường đi đôi với sự thiếu hiểu biết, do đó dễ nghe, dễ tin hơn là thành phần trung lưu có hiểu biết hơn). Nói ít học, thiếu hiểu biết không phải là lời xúc phạm, vì trong  hoàn cảnh thiếu hiểu biết chung của đất nước VN do thực dân Pháp áp dụng chính sách ngu dân, nói chung ai cũng ít học  (cần nhắc là khi Pháp rời VN vào năm 1954, ai có bằng tú tài đã là thuộc vào hàng ngũ “trí thức, có học”) .Và cứ thế cái tinh thần bất dung, kỳ thị cứ truyền xuống cho các thế hệ mục sư VN  được đào tạo bởi các trường Kinh Thánh (Đà Nẵng, Nha Trang, Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Thánh Kinh học đường đoản kỳ) do Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (Christian and Missionary Alliance – CMA, hay C&MA) xây dựng, tổ chức, để huấn  luyện các mục sư VN và các thành phần nòng cốt. CMA chính là tổ chức của mục sư Irving. R. Stebbins, (1  trong 5 mục sư Mỹ viết bản Điều lệ cho HTTLVN năm 1928), và Thomas H. Stebbins (sinh tại Huế, có tên Việt Nam là Tôn Thất Bình, từng giữ chức Hội trưởng CMA trước năm 1975, hiện nay 2013 vẫn tích cực giúp các Hội thánh TL tại VN cũng như ở hải ngoại phát triển).

Tinh thần hẹp hòi, kỳ thị, nghi ngờ, qui chụp của CMA thuở ban đầu mà một trong những lãnh đạo của nó là Ms I.R. Stebbins tỏ ra không chỉ đối với Thiên Chúa Giáo La Mã, với các tôn giáo khác,  mà còn  đối với các hệ phái, tổ chức khác trong Tin Lành. CMA muốn có sự độc quyền lên HTTLVN, không ai được xen vào, dù họ cũng là Tin Lành:

Một mục sư khoảng 80 tuổi, mục sư Phan Công Văn, được đào tạo ở trường Kinh Thánh Đà Nẵng nói “tôi hoàn toàn không biết về các hệ phái khác, họ không được nhắc đến”.

Trong hồi ký  41 Năm hầu việc Chúa với Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (sẽ viết tắt là HVC), mục sư I.R. Stebbins viết:

“Vài năm qua, Hội Đồng Giáo Hội Thế giới cố len chân vào Hội Thánh Việt Nam. Họ gửi một phái đoàn từ Thụy Sĩ đến thăm và an ủi Hội Thánh Tin Lành Việt Nam trong cơn khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng… …. Đương nhiên, các nhà lãnh đạo hội thánh cảm kích về sự giúp đỡ này và đồng ý cho ông thăm viếng bất kỳ hội thánh nào tùy ý. Ông thuyết phục Hội trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam rằng các hội thánh nhận tặng phẩm không phải chịu bất cứ điều kiện gì với Hội Đồng Thế giới cả. Hội Truyền Giáo không hài lòng với cách làm việc lén lút của Hội Đồng Thế giới. Lúc đó không có chuyện gì xảy ra, nhưng không có mối thiện cảm giữa ông và Hội Truyền giáo. (tr 277-278 HVC).

 Chú thích: Hội Truyền Giáo (CMA) và Hội Thánh Việt Nam là 2 thực thể riêng biệt.

“một kế hoạch được thông qua nhằm xây dựng một ngôi trường mới Nha Trang, xa hơn về phía nam, gần vị trí trung tâm của Miền Trung và Miền Nam. Mục tiêu thực sự của quyết định này là giúp tránh xa bất cứ mối quan hệ nào với một tổ chức chỉ mang lại sự lộn xộn” (tr 280 HVC)

“Bạn có thể thấy đó là một cố gắng nguy hiểm của ma quỉ nhằm luồn lách và làm cho hội thánh bắt đầu nghi ngờ lời Đức Chúa Trời” (tr 280 HVC)

3/ Nguyên do từ đâu mà người Tin Lành Việt Nam hay miệt thị những tôn giáo khác?

Lịch sử sang trang, trình độ của miền Nam Việt Nam (dưới vĩ tuyến 17)  thay đổi ngoạn mục trong khoảng 1954-1975, hội thánh TLVN cũng có những tiến bộ nhất định, nhưng những tiến bộ này rất hạn chế, thụt lùi hẳn so với bước tiến của dân tộc.

3a/ Thử tìm hiểu  quan hệ giữa tinh thần đố kị, bất dung, những ngôn từ miệt thị, lăng mạ, xúc phạm thô bạo những tôn giáo khác của Mục sư  Irving R. Stebbins , là 1 trong 5 tác giả của bản Điều lệ 1928, và ảnh hưởng của nó lên HTTLVN hiện nay:

Trong cùng 1 câu viết của hồi ký HVC, ông Stebbins đã xếp Hội Thánh La Mã chung với quỉ Satan “chúng tôi đã quen với sự chống đối của Giáo Hội Thiên Chúa La Mã và quyền lực Satan” (tr 187, HVC), “Chúng tôi đang ở trong lãnh thổ của kẻ thù cùng với tiếng chuông liên hồi của một nhà thờ Thiên Chúa Giaó La Mã ở xa” (tr 47, HVC)”. Tinh thần thù nghịch Công Giáo La Mã này bao phủ khắp cuốn HVC. Cùng thờ Thiên Chúa 3 ngôi mà ông Steven còn xếp cộng đồng Công Giáo La Mã chung với quỉ Satan, với kẻ thù. Cùng là Tin Lành với nhau mà ông I. R. Stebbins đố kị Hội Đồng Giáo Hội Thế giới như một cố gắng nguy hiểm của ma quỉ nhằm luồn lách và làm cho hội thánh bắt đầu nghi ngờ lời Đức Chúa Trời”  thì làm sao ông có thể có lời tử tế, đẹp đẽ hơn với các tôn giáo khác được?

Do đó rất dễ  hiểu tại sao ông  viết “Phúc Âm rất khác biệt với các tôn giáo của người ngoại. Những tôn giáo đó thường kèm theo sự mê tín, thờ thần tượng, hồn ma, đốt nhang trên bàn thờ, thờ ma quỉ, tất cả dựa trên nỗi sợ hãi bị các vật mà họ thờ làm hại” (tr 47,  HVC). Thật là ghê tởm cho một sự bóp méo hồ đồ, dốt nát, gom tất cả các thứ vào làm một như vậy. Chả lẽ người VN thờ cúng cha, mẹ, tổ tiên, ông bà là vì sợ cha, mẹ, tổ tiên, ông bà mình làm hại? Tổ tiên, ông bà, cha mẹ nào có thể làm hại con, cháu? Làm sao một người có trí óc lành mạnh, bình thường có thể có lý luận, phát biểu được  như vậy? Tác động, dấu ấn của ông I. R. Stebbins, 1 trong 5 đồng tác giả (và là người nổi bật nhất) của văn kiện căn bản của HTTLVN là bản Điều lệ đầu tiên vào năm 1928 sẽ ra sao khi ông có tư duy, lý luận bất bình thường như vậy? Tín hữu TLVN ngày nay nghĩ gì về cách lý luận này của ông I.R. Stebbins, hay là nếp tư duy này đã thành quen thuộc, không còn gây suy nghĩ?

Đọc thật kỹ cuốn HVC của ông I.R. Stebbins, tôi thấy ông có cách nhìn:  Vị trí của ông là vị trí của lẽ thật, của Đức Chúa Trời; còn những gì khác ông là của ma quỉ, ngay cả Hội Đồng Giáo Hội Thế giới (Tin Lành) cũng được xem là  “một cố gắng nguy hiểm của ma quỉ nhằm luồn lách và làm cho hội thánh bắt đầu nghi ngờ lời Đức Chúa Trời”.

Quí mục sư như Irving R. Stebbins dạy các mục sư VN tiền bối, các quí vị này lại dậy lại các thế hệ sau, từ ấu thơ, nhồi đi, nhồi lại qua 2, 3 đời, nên từ đó thành nếp đố kị, ngăn cách, kỳ thị với những gì khác HTTLVN; có những lời xúc phạm, mạt sát như  người khác thờ ma quỉ, thờ sự tối tăm… Đây là những cách đánh giá, phát biểu mà người văn minh, có văn hoá ngày nay không dùng. Nhưng lại được xử dụng rất tự nhiên, thường xuyên khi làm chứng ở nhà thờ, hay trong chốn riêng tư,  khi quí tín hữu Tin Lành VN đã nhập tâm, quen thuộc, không còn thấy kỳ dị và kỳ cục nữa. Quí vị mục sư có giảng thì cũng chỉ trong chiều hướng gia cố cách nhìn này, chưa bao giờ tôi được nghe khác.

3b/ Đọc lịch sử hiến pháp Mỹ, chúng ta thấy đây là 1 tác phẩm có sự tham dự, đóng góp, bàn thảo của nhiều người qua bao thế hệ, không phải là tác phẩm áp đặt của 1 nhóm người cho cộng đồng, trong 1 thời gian ngắn. Thế nhưng  bản  điều lệ đầu tiên của HT Tin Lành VN,  có giá trị nền tảng như một “hiến pháp”, lẫn những qui định cụ thể  “tỉ mỉ từng chi tiết” có tính “hành pháp” cho Hội thánh TLVN  lại là tác phẩm hòan toàn của chỉ có 5 mục sư Mỹ, “chỉ họp lại một lần rất ngắn”, và chứa những điêù “kỳ lạ”  như Ms Lê Hoàng Phu đã nêu ra, với những hàm ý có thể hiểu là bất bình “sự thờ cúng tổ tiên được các giáo sĩ coi là một hình thức khác của sự thờ hình tượng”.  Mục sư Phu không thể phát biểu rõ hơn, vì ông đã du học với sự bảo trợ của CMA, khi ông lại là một trong những nhân vật quan trọng nhất của CMA. Dấu ấn từ bản Điều lệ đầu tiên với những cấm đoán phong tục VN như thờ cúng tổ tiên, không ăn đồ cúng… vẫn chi phối hoàn toàn cách sinh hoạt của HTTLVN hiện nay.

Hiện nay những phương tiện truyền thông đã nối kết con người từ khắp đia cầu gần nhau hơn, tức thì – “in real time”. Con người từ từ gần nhau hơn, thấy rõ những dị biệt của nhau rõ  hơn. Do kiến thức, tri thức phát triển, càng ngày càng có nhiều người cảm thấy nhu cầu bức thiết phải biết nhìn xuyên qua các dị biệt văn hóa, phải biết chấp nhận sự khác biệt về nhận thức không thể nào cào bằng của nhau, để có thể chung sống hòa bình với nhau. Đức Giáo Hoàng La Mã vừa thoái vị, vốn có tiếng bảo thủ, đã tuyên bố trong hội nghị liên tôn giáo ở  Đức quốc “Chúng ta không chỉ sống bên cạnh nhau, nhưng chúng ta sống với nhau; thế nhưng suy nghĩ, lời rao giảng của Tin Lành VN vẫn là cách phân biệt, chia rẽ; kiểu ta hoàn toàn đúng, ai khác ta là sai, là đi với ma quỉ, tối tăm.

4/Faith and Reason? hay Faith and No Reason?

Tôi nghe nhiều mục sư VN khác nhau giảng, từ mục sư quản nhiệm tới những mục sư khách mời, nhiều lần tôi bị choáng váng (shocked). Nhiều mục sư tương đối trẻ, từ 35 tới 40, ngoài bằng  cấp thần học (cao học, tiến sĩ), các mục sư này cũng có bằng cấp chuyên môn trình độ rất cao về kỹ thuật, hay quản trị hành chánh. Hấp thụ căn bản TL từ gia đình từ ấu thơ, theo học Trường Kinh Thánh tại VN,  nhưng quí vị này đã du học thêm tại Anh, Mỹ, Canada về thần học, và đạt những học vị rất cao. Phần lớn các mục sư xuất thân từ những gia đình nhiều đời mục sư, sui gia các phía cũng là mục sư.

Nhiều chuyện làm tôi sửng sốt vì thí dụ đưa ra là những thí dụ chỉ những người thuộc thời đồ đá, đồ đồng, hay thời trung cổ mới có thể chấp nhận mà không thấy kỳ cục, tức giận; vì nó phạm vào lương thức, và kiến thức phổ quát của một người trung bình trong thế kỷ 21.

          Để giảng bài học “Tận dụng thời cơ”, một mục sư lấy thí dụ anh chàng chăn bò, do biết tận dụng thời cơ, nên đã dùng 1 cái đót bò có trong tay giết được 600 quân thù. Ông còn khai triển logic toán học một cách kỳ cục như sau: 1 người giết được 600 người, thì 500 người biết tận dụng thời  cơ như vậy sẽ giết được bao nhiêu người? Cái thí dụ kỳ cục, cái logic toán-thần học này được khai triển suốt bài giảng gần 30 phút. Chuyện “tận dụng thời cơ” bị chìm nghỉm, chết ngộp trong những lời lập đi, lập lại về giết người; tinh thần Bác ái của chúa Jesus hoàn toàn biến mất trong suốt bài giảng. Mục sư này là một trong những con người dễ thương, khả ái nhất mà tôi hân hạnh được biết. Tôi rất thương yêu, kính trọng ông bà. Ông vốn là 1 kỹ sư,  tốt nghiệp thần học tại VN, và cao học thần học tại Mỹ.

 

          Để giảng bài học “Tinh thần đắc thắng”, một mục sư khách (tiến sĩ thần học tại Mỹ, và 1 bắng cấp về quản trị hành chánh cao tương đương) kể chuyện người Do Thái cử thám tử đi rình rập do thám mảnh đất màu mỡ “đầy sữa và mật”, tìm cách chiếm nó từ tay kẻ thù. Mục sư đã dùng chữ “kẻ thù” rất sáng tạo, trái với tinh thần công bình, bác ái của Chúa Jesus. Vì những “kẻ thù” này không hề làm gì sai trái, họ chỉ có may mắn sống trên mảnh đất màu mỡ, thiên nhiên ưu đãi, và do lao động tốt, họ gặt được thành quả tốt. Mục sư này đã gọi là những người này “kẻ thù” chỉ bởi vì họ lỡ sống trên mảnh đất mà người Do Thái thèm muốn, vì mảnh Đất Hứa này là  Chúa trời hứa cho người Do Thái. Ở đây, người nghe thấy chuyện tham lam của người khác, mưu đoạt chiếm của cải, đất đai người khác làm ăn lương thiện, và nhân danh lời hứa của Đức Chúa trời. Chuyện tham lam bất lương này che lấp mất “tinh thần đắc thắng” mà diễn giả cố nêu ra. Đi xa hơn mục sư tiền bối I.R. Stebbins, từ  bài giảng xuất hiện một định nghĩa mới của “kẻ thù” : “dù chúng mày không làm gì chúng tao cả, nhưng chúng mày là kẻ thù của chúng tao, chỉ vì chúng mày có cái mà chúng tao muốn”. Thử có ai tới nhòm ngó nhà cửa, đất đai của chúng ta, của mục sư diễn giả, vì họ được đấng Tối Cao của họ hứa với họ đất đai, nhà cửa này; thì chúng ta và mục sư diễn giả có thấy bình thường không? Có chấp nhận không? Hay là chúng ta lẫn mục sư diễn giả đều phải “quyết phen này sống thác mà thôi”?

 

          Chuyện đấng Jehova giết chết một anh chàng dù có thiện ý chạy tới đỡ hòm bia với lòng thành, để nó khỏi đổ xuống, nhưng anh này vẫn bị đấng Jehova vật chết; bởi vì Jehova  chỉ dành quyền này cho người Lê Vi, không dân nào khác được làm. Chuyện nhảm nhí, vì Thiên Chúa là của mọi người, trong mọi thưở, không của riêng người Lê Vi. Trong những xã hội thần quyền, ở khắp nơi trên thế giới,  giai cấp tư tế luôn có quyền và lợi hơn người, vì vậy người Lê Vi đặt ra chuyện đấng Jehova qui định chỉ có người Lê Vi mới được quyền đụng tới hòm bia cùng làm những nghi thức tư tế, rằng đấng Jehova giết người nào xâm phạm qui định này, cho dù từ thiện ý, và điều này được chép trong Thánh Kinh; Chuyện này xây dựng nỗi sợ hãi nhằm bảo vệ quyền lợi người Lê Vi có được từ việc độc quyền chăm lo việc tế tự, thờ phụng đấng Jehova. Ở đây, người nghe lại thấy cái trò nhân danh thượng đế dành tư lợi cho một nhóm người, đã được áp dụng mòn nhẵn  khắp thế giới, từ Đông sang Tây, ở nhiều thời đại.

 

          Chuyện Chúa phá việc xây tháp Baben để cản việc con người kiêu ngạo muốn xây tháp  lên trời. Trời ở đâu? chắc chắn là phải cao hơn 10 km. Thế nhưng con người chỉ cần lên tới quá 9 km là đã hết có dưỡng khí để thở, đã xanh lè hết nhúc nhích, cho nên Chúa khỏi cần phá mất công.  Ở đây, tôi thấy mục sư chỉ giảng cho bằng được, không để ý tới những logic, kiến thức tối thiểu, và suy nghĩ của 1 người sống vào thế kỷ 21 khi phải nghe lối nhận thức thế giới, lý luận ngây ngô của những người sống từ vài ngàn năm trước thể hiện qua câu chuyện, nhưng  nay được mục sư giảng với nghĩa đen, cho những người đang sống vào thế kỷ 21.

 

          Khi nghe một mục sư khách khác, hơi trọng tuổi giảng, tôi rất thích vì những lời có tình, có lý, cách diễn đạt giản dị, duyên dáng, đẹp đẽ nên đã vỗ tay. Lúc chót, ông giảng 1 câu làm tôi lưu ý và suy nghĩ, chỉ có cửa của Chúa Jesus là cửa thật, còn các cửa khác đều là phường trộm cướp.  Nếu giảng sát theo văn bản Kinh Thánh thì chắc không sai, Ms diễn giả không thể và không dám đặt ra điều này, nhưng ngày nay mà áp dụng nó trong nhận thức, hành động thì thành  giáo điều, integrist, fundamentalist (ý nghĩa của 2 chữ này rất rộng, xin độc giả dùng Google tìm hiểu, vì không có tiếng Việt tương đương). Nó là một sự thiếu ý thức và hiểu biết về thế giới hiện đại. Nó giải thích tại sao người Tin Lành VN thường có những phát biểu mang tính mạt sát người khác niềm tin của mình, vì lẽ đơn giản là khi tất cả cửa khác đều là phường trộm cướp thì làm sao các cửa khác khá, tốt? làm sao tôn trọng được?  Nhận định này nếu phát biểu vào thời Trung Cổ thì có lẽ thích hợp hơn là vào thế kỷ 21.

Những chuyện như vậy có thể được nghe, chấp nhận, tin bởi những người thô sơ, hay từ những người được nhồi sọ, lập đi lập lại từ bé thơ,  chỉ nhấn mạnh về Faith, và chỉ Faith mà thôi, nên óc phán đoán bị bào mòn; nhưng không thể nào có thể nuốt trôi, tiêu hóa được bởi 1 người đi tìm, có chút tư duy độc lập, và chịu khó động não, dù người đó cố gắng mềm lòng cách mấy đi nữa.

Trên đây chỉ là vài thí dụ chấm phá về một giáo dục thần học Faith and No Reason, mà những người xây dựng tiên phong đã hướng tới việc củng cố niềm tin bằng mọi giá, đóng kín. Di chứng hiện nay là việc không kêu gọi sự mở mang suy nghĩ, trí tuệ, bất chấp tới những đổi thay chóng mặt của thế giới và con người, bất chấp tới những nhận thức, quan niệm đúng sai mở rộng mà thế kỷ 21 đang mang tới cho con người; không hề quan tâm tới Interfaith Dialogue.

Những thí dụ nêu trên còn cho thấy thành phần mục sư mới, hậu duệ của những mục sư tiền bối, dù trẻ hơn, dù có giao tiếp với thế giới nhiều, dù có học vấn, kiến thức chuyên môn hay thần học vượt trội hơn hẳn so với cha ông, nhưng có lẽ vì quán tính do giáo dục gia đình, do guồng máy tổ chức, vẫn chưa ý thức được rằng cách họ giảng, những thí dụ họ nêu ra là “Faith with no Reason at all”, và đi ngược lại quan niệm công bằng, lẫn cách nhìn đã trở nên bao dung hơn với những cái khác biệt, với quan niệm đúng sai của người khác;  mà nhân loại hiện nay càng ngày càng chia xẻ.

5/ Có ai chống Tin Lành Việt Nam không? Nếu có, tại sao chống, và chống là chống cái gì?

5a/ Khi tôi hay những người trẻ lớn lên ở đây có dị ứng với những lời mạt sát, và đặt vấn đề; thì không phải là chúng tôi khó chịu, chống Tin Lành VN  mà là chống ngôn từ negative, chống cách suy nghĩ negative về người khác (xin coi thêm chú thích cuối bài tại sao tôi dùng tiếng Anh “negative” thay vì viết “tiêu cực”) mà từ khi còn rất nhỏ ở trường, cho tới chỗ làm việc khi trưởng thành, chúng tôi luôn được dạy là nên tránh. Điều này làm ngay cả vợ tôi cũng hiểu lầm là tôi chống Tin Lành!

Muôn vạn lần không, tôi chỉ chống cái tư tưởng bất dung với những cái khác ta, cái lối mạt sát, nhìn xấu về người khác cho dù nó tới từ bất cứ tôn giáo, hay đảng phái chính trị nào: Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo, Công Giáo, Tin Lành…, hay Xã Hội, Dân Chủ, Cộng Hoà …

Đại gia đình tôi và đại gia đình vợ tôi có tổng cộng 11 mục sư thuộc 3 thế hệ. Từ năm 13 tuổi, học trung học, rồi vào đại học, ra đời làm việc, tôi đã sống ở trọ trong trong nhiều gia đình Công Giáo VN, sau đó là chung đụng, làm việc với Ấn Độ giáo, Hồi Giáo, Công giáo, Tin Lành … là người VN hay ngoại quốc ở Âu châu, Arab, Mỹ; nhưng chưa bao giờ tôi sống trong không khí bất dung, thù nghịch, kỳ thị, miệt thị những tôn giáo khác như tôi đang thấy trong môi trường Tin Lành VN, chưa bao giờ.. Mục sư quản nhiệm của tôi hỏi hội thánh “sao chúng ta không mạnh dạn nói với người khác, là chúng ta là người Tin Lành”,  chứng tỏ Ms biết là nhiều tín đồ ngần ngại về chuyện này.

Có 2 câu trả lời:
– Ác cảm với tôn giáo khác làm ta xây 1 cái tường vô thức ngăn cách nghi ngại.
– Chúng ta biết  mình không ưa người, coi thường người khác, vì giáo điều của chúng ta mạt sát những điều người khác tôn kính; thì làm sao mình có thể  tự nhiên, thoải mái nói chuyện với người ta,  xưng mình là ai (do đó đã dấu đi như mục sư quản nhiệm tôi nhận thấy, và nêu ra).

Trong 1 thế giới đa nguyên, thông tin bùng nổ,  nếu không thấy được những hố sâu ngăn cách do chính người Tin Lành VN tự  đào ra với người ngoại, thì những cố gắng truyền đạo TL như tôi chứng kiến từ bao năm nay sẽ vấp phải khó khăn to lớn, hay chỉ là những quằn quại vô vọng. Vì nó đi ngược lại cách nhận thức và cách sống càng ngày càng phổ cập của một xã hội văn minh, đó là: ý thức và thường xuyên giáo dục ở trường học, ở chỗ làm về việc tránh nói, tránh có nhận định không tốt, kỳ thị với những điều khác với bảng giá trị của mình, và tôn trọng cái khác nhau của tha nhân. Ở  Mỹ trẻ con được dạy từ bé tí xíu, như ở lớp 2 của con tôi, ngay cửa ra vào có bảng  “think positive, talk positive”, không ai muốn nghe những lời mạt sát những cái khác mình xuống, để tôn mình lên. Và cái lối giáo dục  bằng đe doạ giờ chả doạ đuợc người lớn có hiểu biết nào (nhưng  vô cùng hiệu quả khi bị nhồi sọ từ bé xíu, để tạo ra những con người có cái nhìn rất méo mó, tiêu cực về những người khác mình), Con gái của bạn tôi, năm nay khoảng 13 tuổi,  không đi nhà thờ Tin Lành VN nũa vì nó không chịu đựng được cái lối dạy threatening (chữ này là nguyên văn của con gái bạn tôi) của VN.

Các mục sư VN ở Mỹ, dù còn trẻ, có lẽ vẫn sống ít nhiều ở ngoài giòng chính (main stream), không đi làm trong công, tư sở như những người bình thường, nên không ý thức được lối giảng của mình có khi rất lạc điệu, nhiều khi rất  quái gỡ trong xã hội đa nguyên, đa văn hóa hiện đại. Hữu xạ tự nhiên hương, không cần phải dìm người khác để mình nổi lên.   Tìm cách hiểu những quan điểm khác là chìa khoá để xây dựng hoà bình.

5b/ Cuồng tín là gì? nguyên nhân của cuồng tín:  Một cô lên làm chứng ở nhà thờ,  kể về các bà con đạo Phật của cô mà cô gọi là “đạo Phật cuồng tín”. Nghe xong tôi nhờ 1 anh trong nhà thờ định nghĩa “cuồng tín”, anh trả lời “Cuồng tín = Niềm tin + Sự dốt nát”.

Điều làm tôi lưu ý ở đa số những người Tin Lành tôi biết, tôi không thấy họ đọc bất cứ một cuốn sách nào về lịch sử, nhân chủng, văn hoá, tôn giáo nào khác.  Nhiều người có bằng cấp chuyên môn rất cao, nhưng không có thao thức tìm hiểu, kiến thức tổng quát của họ nói chung rất kémĐây là điều tôi thấy từ 10 năm nay, rất thường. Không  tìm đọc và không cần đọc,  không cần biết. Chỉ lập đi, lập lại, yên tâm với những gì mục sư và cha mẹ mình truyền cho mình, và mài cho bén hơn.

Sự liệt kháng trí thức (intellectual AIDS), giáo dục nhồi sọ nhằm tạo phản xạ Pavlov, không chịu tìm hiểu ngọn nguồn, không tìm hiểu vì không được giáo dục, khuyến khích tìm hiêủ, chỉ nghe và nói một chiều. “Nhân bất học, bất tri lý”, Chúa nói “dân ta chết vì thiếu hiểu biết“, đã đưa ra tới kết quả là những nhận xét cay nghiệt, miệt thị, thiếu hiểu biết về các tôn giáo khác như: đạo khác không có 1 standard đúng sai như đạo Tin Lành, nên người ngoại không biết đúng sai, người ngoại giả dối … Nói vậy thì khi tổ tiên của những người TL này không là TL, không có standard đúng sai như Tin Lành, nên đều là những người không biết đúng sai, là giả dối, là quân lưu manh, trộm cướp hết cả hay sao?!

Trong thời Pháp thuộc, Phật Giáo (1 tôn giáo lớn ở VN, và đã có những đóng góp nòng cốt, căn bản vào lịch sử dân tộc Việt trong 2 triều Lý, Trần, là những triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử VN) phải chịu chung với số phận lịch sử của cả khối Á Châu cùng đất nước Việt Nam, bị thua cuộc trước sự hùng mạnh của Tây Phương. Đất nước VN bị đô hộ, suy vong, văn hoá dân tộc quặt quẹo, tàn lụi. Chịu chung số phận của đất nước, Phật Giáo VN đã ở trong 1 thời kỳ đau yếu, tàn tạ, sa vào những mê tín, kém cỏi mà hậu quả vẫn tồn tại tới  hôm nay. Việc không thấy được điều này trong bức tranh lịch sử toàn dịên + tinh thần kỳ thị tôn giáo được gia cố từ đời này qua đời khác của những thế hệ Tin Lành tiên phong, còn mang nguyên vẹn  DNA của những giáo sĩ Mỹ, đã làm nhiều tín đồ Tin Lành VN phát biểu những lời xúc phạm, mạt sát Phật Giáo, những phong tục thờ cúng tổ tiên của dân tộc, như “thờ ma quỉ, thờ những sự tối tăm v.v…”

Có thể cho là mê tín về hình thức tụng kinh bằng tiếng Phạn với phiên âm Hán Việt vô nghĩa “bà ha, bà ha, yết đế, tai gia mà ha…”, nhiều tượng màu  mè (dù vẫn có giá trị nghệ thuật bình dân), nhang đèn nhức đầu, mà nhiều nguời theo Phật Giáo làm tại các chùa. Nhưng những cái đó chỉ là một phần rất nhỏ của Phật Giáo. Nếu đi vào giáo lý của Phật Giáo thì là cả 1 hệ thống lý luận chặt chẽ, có lớp lang như logic toán học, rất sát với những nguyên tắc, cách suy nghĩ khoa học hiện đại. Khoa vật lý lượng tử (quantum mechanics) là khoa vật lý tiên tiến nhất hiện nay (sau khi vật lý cổ điển Newton đã đạt toàn bích, không thể đi xa hơn) vẫn liên tục có những phát hiện tương hợp,  kiểm chứng được bằng thí nghiệm, lẫn lý thuyết về những nguyên tắc mà những tư tưởng gia Phật Giáo chỉ bằng quán tưởng lẫn trực giác đã phát hiện từ trên 2 ngàn năm trước, như:  tính tương đối (relativity), tính bất định và vô thường (Indeterminism) “sắc bất thị không, không bất thị sắc” của mọi hiện tượng vật thể; tính liên lập, trùng trùng duyên khởi (interdependence)… Danh sách này còn rất dài, xin độc giả tự tìm tòi thêm.

Nhiều người TLVN nhận định về PG, vô tình hay cố ý, bỏ qua phần lý luận (là mặt mạnh nhất của PG so với các tôn giáo lớn khác), cùng tinh thần hiền hòa lẫn những kỹ thuật nhằm hướng thiện, tu sửa chính mình … của Phật Giáo vì họ không biết, và không cần biết. Họ chỉ tập trung vào cái thô sơ nhất đã được cha, ông, mục sư của họ… dạy dỗ là cần chống thờ thần tượng, chống thắp nhang, chống thờ tất cả các thần ngoại – vì tất cả đều bị coi là tà thần – vào chung một thúng với việc chống ăn đồ cúng, chống thờ cúng tổ tiên vì là thờ ma quỉ. Họ được dạy thành phản xạ là phải tránh xa, bài xích, không cần tìm hiểu những gì họ được nhồi sọ một chiều, không ngừng nghỉ là xấu. Cả một hệ thống suy nghĩ, lập luận giàu có, của PG với những đóng góp to lớn vào kho tàng tri thức của nhân loại, lẫn một triết thuyết, một lối sống, một cách thực hành mà từ trên 2500 năm,có kết quả kiểm chứng được trong lịch sử thế giới từ trên 2500 năm nay, là chưa bao giờ gây ra 1 cuộc đổ máu đáng gọi là thánh chiến  (dù có những ngoại lệ rất, rất nhỏ chỉ mang tầm vóc bạo động như đã xảy ra ở Nhật bản vào tiền bán thế kỷ 20 bởi phong trào dân tộc cực đoan mang màu sắc Phật Giáo trộn với Thần Đạo Nhật Bản, và những bạo động gần đây ở Miến Điện). Phật Gíao, cả một tôn giáo với đủ các mặt tín ngưỡng, tâm linh, tư tưởng … to như một con voi, được nhìn nhỏ lại bằng đuôi một con chuột dơ dáy, xấu xí, qua lăng kính đố kị tôn giáo của Tin Lành Việt Nam!

Từ 1928 tới 2013 đã là 85 năm.  Thế giới đã biến chuyển theo đồ thị exponential về mọi mặt. Thế nhưng ngôn từ của TLVN với người khác vẫn là ngôn từ của trên nửa thế kỷ trước, của nước VN thời Pháp thuộc, nhiều tư duy, thế giới quan vẫn là thế giới quan thời thượng cổ, Cựu Ước, tiền Chúa giáng sinh rất thù nghịch với dân ngoại, thần ngoại (tác giả của chuyện Chúa Trời phá tháp Baben không có ý niệm gì về bầu khí quyển mỏng manh bao quanh trái đất, và mục sư diễn giả, một kỹ sư của thế kỷ 21 cũng quên bẵng điều sơ đẳng này. Faith and no Reason!)

Cần biết là khi mình nhìn mọi chuyện dưới nhãn quan tiêu cực, lẩm cẩm, nhỏ mọn, thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết, đầy qui chụp ma quỉ,  thì mình sẽ hành xử không đúng, không tốt, dù mình tin mình là tốt, là đúng, vì cái nhìn này nó tréo cẳng ngỗng với những giá trị phổ quát của thời đại mới; thì mình sẽ lấy bụng ta, suy bụng người, rằng người khác cũng tiêu cực, nhỏ mọn như trí óc hạn hẹp của ta. Khi đeo kính đen thì mọi vật sẽ đen đi.

6/ Hương sắc khác nhau của những tôn giáo khác nhau:

Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em,  hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” đây là một tuyên ngôn vô cùng mạnh mẽ. Từ 13 tuổi tới nay tôi luôn học được những giá trị của Thiên Chúa như nhẫn nhịn, tha thứ, thương yêu tha nhân… vốn được thường xuyên nhắc nhở, và tỏ ra trong cuộc sống của vô số Ky Tô Hữu tôi quen biết. Tôi thấy rất rõ những ấm áp, tình bác ái giữa người mà Ky-tô giáo mang lại cho nhân loại, những đóng góp tích cực của văn minh Thiên Chúa Giáo (nói chung tất cả các nhánh từ khi chúa Jesus giáng sinh) vào cuộc sống của nhân loại, không có chúng thì thế giới này sẽ hoang vắng, nghèo nàn biết chừng nào; nhưng cũng ghê sợ trước những chiến tranh tôn giáo. Gần như không có cuộc thánh chiến nào lại thiếu mặt những người tuyên xưng đức tin nơi chúa Ki-tô. Xung đột đẫm máu giữa Thiên Chúa Giáo với Hồi Giáo, Thiên Chúa Giáo với Tin Lành,  và ngược lại Tin Lành với TCG.

Tôi cũng học được những điêù hay, đẹp, cao thượng  của Phật Giáo như “hỉ, xả” để không ghim chặt trong lòng những điêù mà mình cho là người khác làm sai trái với mình. Từ chữ “từ, bi” của đạo Phật, không những chỉ đối với con người, tôi ý thức quí trọng sự sống của muôn loài, muôn vật dù là con dế, con sâu, cái kiến … để tránh giết hại chúng không cần thiết. Cái nhìn “từ, bi, hỉ xả” tạo cho tôi một phản xạ, 100 lần như 1, không bao giờ thù hận, ghét bỏ ai; vợ tôi, một tín đồ Tin Lành, con của 1 vị mục sư làm chứng cho điều này nơi tôi. Làm lỗi, tôi cắn rứt lương tâm chắc không thua con cái Chúa đâu.

Tôi yêu thích sự nhẹ nhàng vô vi của Lão tử, Trang tử.

Hiện nay, tôi là người không tôn giáo,  nhưng có nhu cầu tâm linh rất lớn, có lòng hướng thiện luôn tìm hiểu, mở lòng.  Tôi đã yêu mến Thiên Chúa khi được diễm phúc ở gần những người yêu mến Chúa một cách nhẹ nhàng, không giáo điều, không cực đoan, hiểu biết, biết nghe, hiểu người khác. Hơn ngàn lời nói, phong cách này êm dịu cải hoá, làm lòng người nghe mềm mại. Nhưng lòng tôi chĩu nặng, hay nhiều lần sự  phẫn hận nổi lên  trong lòng khi phải nghe những lời miệt thị của những người chỉ biết có Faith mà không biết Reason, chỉ biết có My Faith mà hoàn toàn không biết về Other’s Faith.   Là người hướng tới sự công chính, tôi không chịu và không chấp nhận những chỉ trích miệt thị thiếu hiểu biết dù là từ Phật Giáo hướng  tới Công Giáo, Tin Lành, Hồi Giáo; hay ngược lại từ Tin Lành, Công Giáo tới Hồi Giáo, Phật Giáo.

7/ Lịch sử Việt Nam trong vài thế kỷ qua, và những bài học cần học hỏi từ những vấp ngã đã xảy ra của người khác.

Đã có khoảng 100.000 người Công Giáo VN đã tử vì đạo vì trong những thế kỷ trước. Khi đọc tới con số này,  chúng ta, mọi người Việt Nam, không phân biệt chính kiến, tôn giáo cần tưởng niệm và khóc thương cho những người đã mất mạng. Chúng ta cần quán niệm, suy tưởng thật sâu, với cái nhìn không thành kiến,  tình thương và trí tuệ, rút bài học, để những sự kiện đáng ân hận vô cùng như vậy không bao giờ xảy ra nữa ở Việt Nam.

Khi đọc phần phụ lục Phép giảng 8 ngày của Alexandre de Rhodes (người được hiểu lầm là cha đẻ của chữ quốc ngữ) của bài Chữ Quốc Ngữ, tiếng Việt Nam, và Tu sĩ Alexandre de Rhodes,  tôi hiểu rõ hơn nguyên do của những  bách hại tôn giáo này (xem http://www.diendantheky.net/2013/02/mai-kim-ngoc-chu-quoc-ngu-tieng-viet.html. Chú thích: Mai Kim Ngọc là bút  hiệu của bác sĩ Vũ Đình Minh là pulmonary professor tại UCI; là university professor về y khoa ở Mỹ nên ông có cách nghiên cứu rất cẩn thận). Alexandre de Rhodes đã chỉ rõ và chửi  thậm tệ không sót một tên:  Phật, Lão, Khổng lẫn phong tục thờ cúng tổ tiên của người VN. Với Phật giáo “Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta”, với đạo Lão “Giáo này thì thờ ma quỷ mà làm những phép giả”, với Khổng tử “ông Khổng chẳng có làm sự ấy, vì vậy chẳng phải hiền, chẳng phải thánh, thật là độc dữ”, với phong tục, lễ giáo VN thì “Những điều lầm lỗi trong việc thờ cúng cha mẹ”.  Trong bối cảnh lịch sử vài trăm năm trước, kiến thức của người VN và của cả loài người nói chung về thế giới còn rất giới hạn, thì chuyện phản ứng tàn bạo với những mạt sát, tấn công trực diện vào cả Phật, Khổng, Lão, việc thờ cúng tổ tiên, vốn là nền tảng tư tưởng, văn hóa đã xây dựng nên dung mạo, đất nước của người VN là chuyện tất yếu, không thể nào tránh khỏi

Tục ngữ Việt Nam có câu “Tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa”. Hiện nay, người ta xa lánh, hay không mặn nồng với Tin Lành VN không phải vì không biết giá trị của một số điều cao quí được rao giảng bởi người TL, mà vì biết và chán ngán với những đánh giá cực đoan, tiêu cực, thiếu hiểu biết, bất dung tôn giáo, những Interfaith Despise, những bài giảng Faith and No Reason. Từ năm này qua năm nọ, làm sao mà người ngoại không biết rằng người TLVN đánh giá, nhận định về mình như thế nào,  về những tôn giáo khác như thế nào? Biết rồi làm sao không chia xẻ, không kể cho nhau nghe?

Suốt những năm 1950, những người Công giáo nghiên cứu về thần học và Kinh Thánh bắt đầu quay khỏi chủ nghĩa tân kinh viện (neo-scholasticism) và kiểu giải thích Kinh Thánh theo nghĩa đen. Sau vài năm hội họp, làm việc chung từ đề xuất của Giáo hoàng Gioan XXIII, 17 giáo phái Chính Thống giáo và Tin Lành cũng đã gửi quan sát viên theo lời mời của Công Giáo La mã, kết quả là Cộng đồng Vatican II (từ  năm 1962 tới 1965) đã ban hành 16 văn kiện chiến lược, phản ảnh những nhận thức mới của Công Giáo La mã, dưới đây là vài nét chấm phá:

          Về kích thước tư duy mới của con người “Vì dân Chúa đã và đang lớn mạnh, thoát ra khỏi cái mà ta gọi là “Não trạng duy giáo lý”    ”.

          Nhìn nhận tính chất đặc thù của những nền văn hóa bản địa, những hình thức phong tục địa phương, và cái nhìn mới giữa Công Giáo về các tôn giáo khác:

phẩm giá căn bản của loài người đòi hỏi sự tự do không bị ép buộc về vấn đề tôn giáo. Mọi người phải được tự do thờ phượng theo lương tâm của mình.

Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo Hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm khác nhau với chủ trương mà Giáo Hội duy trì,nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người. Tuy nhiên Giáo Hội rao giảng và có bổn phận phải kiên trì rao giảng Chúa Kitô, Ðấng là “đường, sự thật và sự sống” ………. Vì thế, Giáo Hội khuyến khích con cái mình nhìn nhận, duy trì và cổ động cho những thiện ích thiêng liêng cũng như luân lý và những giá trị xã hội văn hóa của các tín đồ thuộc các tôn giáo khác, bằng con đường đối thoại và hợp tác cách thận trọng và bác ái với tín đồ các tôn giáo ấy mà vẫn là chứng tá của đức tin và đời sống Kitô giáo.

          Về chính bản thân Giáo hội La Mã “không còn dám tự hào chắc chắn là mình đắc thủ toàn vẹn chân lý, nhưng khiêm nhường thú nhận trước Thiên Chúa và các thành viên của mình rằng Giáo hội chỉ là một đoàn người lữ hành, đang trên đường tiến đến sự viên mãn của chân lý”.

          Về cách trình bày giáo lý trong thời đại mới“Bản chất của các giáo lý xưa trong kho tàng đức tin là một chuyện, cách thức trình bày giáo lý ấy lại là chuyện khác

(Chú thích: tất cả những trích dẫn ở trên tới từ 2 links dưới đây:  http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C4%91%E1%BB%93ng_Vatican%C3%B4_II , và   http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/vatican2.htm)

Việc tuân thủ một cách sơ cứng Mười Điều Răn của thời Cựu Ước đã gây ra những đổ vỡ, tàn hại tới vô số sinh linh, gây hiềm khích giữa con người từ đời này sang đời khác, không chỉ ở VN mà còn ở nơi chốn khác.

Hiện nay HTTLVN vẫn hiên ngang đi vào vết xe cũ của Công Giáo VN từ 300 năm trước, thì cũng nên rút kinh nghiệm lịch sử rằng đã có 100.000 người Công Giáo VN tử đạo trong các thế kỷ trước, để suy nghĩ về tình cảm, phản ứng của “dân ngoại”, là đối tượng chinh phục của HTTLVN, khi những người ngoại này tiếp tục được nghe những mạt sát tương tự như thuở trước. Mọi hành trình đều có điểm khởi hành, lúc dừng lại, suy nghĩ, định hướng, trước khi tới đích. Ít có ai đi một lèo, không cần ngó trái, phải, trên dưới mà tới đích ngay chóc. Phải khôn ngoan khi dùng một bản đồ vẽ từ vài ngàn năm trước, với những dặn dò cặn kẽ của thời xa xưa cho những người thiên cổ, để di chuyển ngày hôm nay.

Lịch sử nhân loại cho thấy sự khôn ngoan có được từ nhiều cách: một vài khuôn mặt kiệt xuất, hay một số tổ chức, cộng đồng biết rút bài học từ những vấn đề lớn, hay đặt vấn đề để nhiều người tham gia vào quá trình suy nghĩ tìm giải pháp và định hướng cho tương lai…

8/ Qúi mục sư, xin họp lại với nhau, nhìn lại cách mình được giảng dạy, giáo dục từ thơ ấu; cách mình giảng dạy hiện nay, và tác động của nó lên tín đồ. 

Tôi đi nhà thờ TL rất đều đặn từ 5, 6 năm nay (rất sốt sắng, trừ chuyện rất bất khả kháng, luôn là người chủ động đi nhà thờ, không cần vợ nhắc). Nhiều chuyện tôi muốn tin nhưng  không tin nổi như đã kể trên, nhưng tôi vẫn sốt sắng đi vì tôi muốn hiểu và thông cảm vợ tôi, vì muốn biết con trai nhỏ của tôi học gì ở trường Chúa nhật tại nhà thờ Tin Lành Việt Nam. Chuyện gì hay thì mình học hỏi, áp dụng vào cuộc sống; chuyện gì mình thấy kì lạ,không đúng thì để đó, hay tìm hiểu, hay góp ý.

Có nhiều người nói với tôi “anh đi tới nhà thờ là vì Chúa, là để tương giao với Chúa, chứ ngó làm gì những chuyện bất toàn của người này, người kia, để mà phán đoán này nọ”.  Đúng vậy, tôi tương giao với Chúa theo cách của tôi, không theo cách “Faith and No Reason, with absence of Interfaith Dialogue”. Nhưng tôi cũng là người của thế kỷ 21,  xã  hội và thời đại tôi đang sống dạy tôi phải thường trực suy nghĩ, bày tỏ cởi mở những  suy nghĩ của mình, không cố thủ sau những thành quách tư tưởng để sự không hiểu nhau giữa con người càng ngày càng trầm trọng. Và đây không phải là bất toàn của một ông, bà A, B, C nào đó, nhưng của một tổ chức lớn, một nếp suy nghĩ hằn sâu trong một cộng đồng;  dù muốn hay không cũng có ảnh hưởng rất lớn lên môi trường chung quanh, chưa kể tác động của nó lên cuộc đời của những thành viên của tổ chức.

Thí dụ về tác động tiêu cực của  cái nhìn khép kín, tiêu cực lên chính thành viên, và tác động của nó lên chung quanh:

1/ Nhiều gia đình Tin Lành cương quyết không gả con cho dân ngoại. Cấm đoán này không sai, vì khi giáo điều, integrist, fundamentalist, nhất quyết không thỏa hiệp, không dung hòa với người phối ngẫu là dân ngoại, thì sự xung đột, va chạm không thể tránh khỏi, hôn nhân sẽ là điều bất hạnh, chi bằng ngăn chặn từ đầu. Do cộng đồng Tin Lành vẫn là một thiểu số rất nhỏ ở VN, hệ quả là nhiều thanh niên, thiếu nữ Tin Lành phải ở vậy vì không tìm được người ưng ý cùng đức tin trong 1 cộng đồng nhỏ bé. Nhưng nhu cầu tâm, sinh lý, yêu thương vốn là những nhu cầu căn bản, tự nhiên của muôn loài thì không thể nào dập tắt. Hậu quả là những cuộc sống cô đơn, sầu khổ lúc về chiều, khi sức khỏe suy xụp, sẽ cần người thân để nương tựa, đặc biệt nơi phụ nữ;  hay những khủng hoảng tâm lý, hay những nổi loạn với gia đình để tìm hạnh phúc cho mình, nhưng rồi vẫn không ra khỏi những giá trị đúng sai, nề nếp học được từ thơ ấu, chính mình sẽ là một cái khuôn mới giống như cũ; hay những cuộc hôn nhân muộn màng cố gạt bèo để bắt tép.  Vấn đề chính không phải là cấm đoán hay ngăn cản là sai; mà con đường đưa tới sự phải ngăn cản, cấm đoán, là sự giáo điều, integrist, fundamentalist, đã gây cản trở bế tắc cho nhu cầu tự nhiên, căn bản là thương yêu, truyền giống có đúng hay không?

2/ Phạm trù đúng của Tin Lành VN theo định nghĩa của các giáo sĩ Mỹ tiên phong có phần chung nhỏ với người VN  ngoại đạo. Thí dụ khi người ngoại làm 1 điều bình thường, được coi là mỹ tục của văn hóa dân tộc như thờ cúng tổ tiên thì lại rơi vào phạm trù sai của người Tin Lành, coi là thờ ma quỉ, là nguyên tắc bất khả nhượng, là điều đáng kinh sợ, ghê tởm.. Tôi nghe nói “Những linh hồn tội nhân đang chờ ngày phán xét được giữ ở một nơi, làm sao mà ăn, uống được mà cúng bái”. Những linh hồn này hiện đang ở đâu, ăn uống được hay không, thật ra không quan trọng, hoàn toàn không quan trọng! Ngày sinh nhật trong tình thương yêu có ăn uống, thì ăn uống trong ngày giỗ nhớ thương cũng là chuyện tự nhiên, bình thường, vì ăn uống là sinh hoạt tự nhiên nhất của con người. Rồi chả lẽ chúng ta ăn uống, rồi bày hình cha mẹ, ông bà ra để ngó chúng ta ăn, mà không mời lấy được một tiếng? Chả lẽ ngày xưa cha mẹ đút cho con nhỏ bé bỏng từng thìa, vừa đút vừa thổi cho nguội để con ăn, khi con lớn thêm chút lại tiếp tục nhường nhịn từng miếng ngon cho con; mà bây giờ con không ăn được đồ ăn mình bày ra mời cha mẹ?! Chỉ những người điên hoặc ngu hết thuốc chữa mới nghĩ là cha mẹ, ông bà mình có quyền phép như Thượng Đế nên phải cúng bái.  Có những giáo điều từ thời Cựu Ước là không thờ thần ngoại, ăn đồ tế các thần ngoại, rồi những điều cấm kỵ như trên được các giáo sĩ Mỹ đầu thế kỷ 20 bưng nguyên si, rồi mở rộng hơn để đặt vào Điều Lệ HTTLVN: Việc tổ tiên, cha mẹ là những con người bình thường được thờ phượng theo truyền thống dân tộc, vì con cháu tôn kính, thương yêu, biết ơn;  đã bị những điều lệ này vơ đũa cả nắm, bóp méo và đồng hóa với thần ngoại, ma quỉ rồi cấm tiệt (lý luận kiểu con bò có sừng, do đó tất cả các con có sừng đều là bò). Sự cấm đoán này được củng cố bằng tinh thần giáo điều, xơ cứng; và là những nguyên lý giả vì nó hoàn toàn không là cốt tủy của cuộc sống con người, vì có nó cũng được, mà không có nó cũng không sao.  Con người hiện nay nhìn mọi sự nhẹ nhàng đi nhiều rồi.

3/Mẹ tôi năm nay 78 tuổi, sức khỏe rất yếu sau khi bị té ngã nứt xương sống, lưng đi còng, siêu vẹo hẳn lại. Như nhiều người già khác, bà đau tim, đau thận, tiểu đường, đủ thứ bịnh… Từ khi bố tôi mất mấy năm nay, bà ở một mình trơ trọi, tinh thần suy xụp nên lại càng đau yếu hơn. Nhiều lần xuống thăm bà thì bà đang ở bịnh viện. Vợ tôi có nhã ý mời bà về ở chung, nhưng bà không về. Bà nói với tôi “từ ngày bố mất thì cúng bố mỗi bữa cơm là niềm an ủi, nâng đỡ mẹ (đây là một tâm lý trị liệu rất tốt), dù vợ con có lòng tốt, nhưng mẹ không muốn chuyện cúng bố, cúng ông bà khi ở chung làm vợ con phiền lòng, dù không nói ra, vì mẹ biết là người Tin Lành được dạy cái gì về chuyện thờ cúng”(ngoài phần bên vợ, trong đại gia đình tôi có 4 mục sư). Tôi đã thấy những phản ứng dữ dội, nghe những lời nói tổn thương trước đó từ người Tin Lành. Nên dù thương mẹ, và mỗi lần chào từ giã tôi đều nghĩ đây có thể là lần cuối, nhưng tôi đồng ý với mẹ tôi, để tránh ép lòng vợ tôi, dù có lòng tốt, nhưng ép chỗ này sẽ xì chỗ khác, cả vợ lẫn mẹ sẽ khổ. Vấn đề quan trọng đặt ra ở đây là chuyện nhỏ của gia đình tôi có thể là chuyện của bất cứ gia đình nào có người phối ngẫu hay một vài thành viên là Tin Lành, trong khi các đa số thành viên khác không là Tin Lành. Sẽ có những ông cụ, bà cụ đau yếu, cả đời thương yêu, hy sinh cho con, nhưng chấp nhận chết trong cô đơn, sầu khổ để tránh những sự bất hòa không đáng có. Sẽ có những đứa con bất lực, ân hận vì không thể tìm được giải pháp nào khác.

Suy nghĩ về những gì đã qua, nhận thấy những yếu kém, bất toàn của bất kỳ định chế nào rồi đề nghị cải cách là con đường xoắn ốc nhân loại dùng để đi lên. Từ những tha hóa của Giáo Hội La Mã (chỉ cần mở bất kỳ cuốn sách sử Tây Phương đại cương có uy tín nào, ta cũng có đủ thông tin, sự kiện) mà nhu cầu cải cách phát sinh, và Tin Lành đã ra đời. Nhiều người Công Giáo lúc đó đã chạm phải giới hạn gãy, không thể nào không thay da, đổi thịt, và họ trở thành Tin Lành.  Cuộc “cách mạng” Tin Lành đã xảy ra đúng với qui luật tự nhiên: vạn vật luôn biến chuyển để tái lập trạng thái cân bằng, dù tạm, hầu đối phó với những hoàn cảnh mới, thách thức mới.  

Khi thế giới bây giờ chỉ là một cái xóm nhỏ trong vũ trụ bao la, khi hôm nay con người thường trực nhìn lại vũ trụ, thường trực nhìn lại những định kiến của mình; thì cũng giống như Công Giáo La Mã, Phật Giáo, Hồi Giáo … Tin Lành, đặc biệt là HTTLVN, không thể nào là một biệt lệ khác biệt với tất cả những cái khác trong lịch sử nhân loại.  TLVN cũng phải đối diện những thách thức mà thời đại đưa tới cho mọi tôn giáo là Faith and Reason, Interfaith Dialogue, cũng phải xem xét lại những định kiến, nếp sinh hoạt của mình, nếu không muốn tiếp tục phát triển quặt quẹo, sản xuất ra những con người có tư duy, cách sống chi phối bởi một số điều luật sơ cứng của hàng ngàn năm trước, hay đi tới sự dần dần tiêu vong.

Cái nhìn thiếu hài hòa giữa Faith and Reason, vắng bóng hoàn toàn Interfaith Dialogue dẫn tới sự khó sống, khó hội nhập, khi óc phán đoán bị đui mù hay nghèo nàn đi, khi không thể nào hiểu những quan điểm người khác chỉ vì khăng khăng, do bị nhồi sọ  “the only right way is our way”. Chính vì  tinh thần “the only right way is our way” nên TL và CG mới xung đột dữ dội, đẫm máu từ đời này sang đời nọ; chứ không phải là do những người tham dự xung đột không biết lời Chúa, không làm theo lời Chúa. Sống chung, làm việc chung với những người có cách nhìn  “the only right way is our way” là một cuộc chiến, hay bất hòa liên tục, không bao giờ ngơi nghỉ dù là trong gia đình, hay bất cứ cộng đồng, tổ chức xã hội nào, vì cái đúng hay những điều rất bình thường, giản dị của mình có thể nằm trong phạm trù sai rất chật chội, khe khắt của người theo chủ nghĩa “the only right way is our way”.

Hiện nay bắt đầu có một số mục sư VN có học vị cao học, tiến sĩ thần học, tốt nghiệp tại Mỹ, Canada. Đây là điều đáng mừng, nhưng cần lưu ý một số điểm:

          Học vị mang tới một số kiến thức và phương pháp làm việc có bài bản,  những cách khác nhau để tiếp cận vấn đề; chỉ là điểm khởi đầu cho việc nghiên cứu, cho sự nghiệp, không phải là điểm kết thúc. Sau khi có kiến thức, phương pháp, việc biết nhìn thấy những vấn đề thiết yếu của VN, của tôn giáo mình, tôn giáo người, của con người nói chung lại là một chuyện khác. Nhìn thấy được và làm cái gì lại là một chuyện khác nữa.  

          Hãy “Vinh danh Thiên Chúa trên trời” bằng cách mang lại “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Mọi cung cách thờ phượng Thiên Chúa, những biện giải, giảng kinh dù mang bất kỳ nhãn hiệu nào: truyền thống, bảo thủ,  hay hiện đại, cấp tiến… nhưng nếu không mang tới “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” đều vô nghĩa, cần xét lại.

          Một số người TL rất nhỏ biết nhìn xuyên qua những cấm đoán của TL, biết tôn trọng những giá trị văn hóa, truyền thống dân tộc, và những tôn giáo khác; nhưng với tính chất cố hữu của người VN, lựa thái độ “dĩ hòa vi quí”, thụ động, ngại không phát biểu về lập trường của mình, giới hạn trong việc tìm giải pháp cá nhân, thay vì phát biểu với cộng đồng dù mình có điều không đồng ý với cộng đồng. Đây là điều không tốt, “cái sảy nẩy cái ung” nếu không cất tiếng nói.

Người TLVN đang đứng trước những bế tắc, khó khăn; có thể đối phó bằng giải pháp “đà điêủ chui đầu xuống cát”, hay coi như không có “chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành cứ đi”, dù đã được báo động khẩn thiết; hay nhìn ra xem những tôn giáo khác đang làm cái gì, lắng nghe nhịp thở của thời đại ra sao, hầu có thể ý thức và tìm cách giải quyết 2 vấn đề  “Faith and Reason, and embraces ecumenical and Interfaith Dialogue.

Đã đến lúc người Tin Lành Việt Nam suy nghĩ và làm việc trên những chủ đề như Faith and Reason và “Interfaith Dialogue“.

9/ Bài này được viết với thiện chí xây dựng, tinh thần tích cực, nhưng tôi đã rất e ngại, do dự  khi viết bài này. Mặt khác, tôi nghĩ rằng việc thành thật trao đổi với nhau là biểu hiện của sự kính trọng. “Biết người, biết ta”, chắc là quí mục sư, quí tín hữu TL cũng muốn biết người khác nghĩ thế nào, để việc truyền giảng lời Chúa có hiệu quả hơn. Dù viết sau một thời gian suy nghĩ, trăn trở, nghiên cứu khá lâu, nhưng do trình độ rất hạn hẹp, nhận thức chủ quan nên chắc chắn bài viết có những sai lầm, thiếu sót, có thể gây ra tổn thương, xúc phạm; đây là việc ngoài ý muốn, xin quí vị tha lỗi. Chữ dùng có chỗ mạnh, gay gắt vì dùng chữ khác thì không thể nêu lên cái tác động nhân quả và cường độ của nguyên do. Kính xin độc giả đóng góp ý kiến, chỉ bảo, tôi cúi mình chân thành lắng nghe. Tôi cũng hoan nghênh việc độc giả gửi bài này cho những người quan tâm tới vấn đề.

 

Trân trọng

Lê Anh Dũng (langnghetheky21@yahoo.com)

Xin lưu ý: 

Để tránh tạo hiểu lầm ngoài ý muốn tác giả,  xin quí vị muốn góp phần phổ biến thư mở (open letter) này vui lòng giữ nguyên văn, không sửa chữa, biên tập lại những chữ tôi dùng, dù có thiện chí làm cho nó tốt hơn. Xin cảm tạ.

Tác giả có thể sửa chữa thư ngỏ này khi có những đóng góp của độc giả, hay có điều cần thay đổi, bổ túc  v.v… Để theo dõi sự thay đổi của nguyên bản, mỗi lần thay đổi tác giả sẽ đánh số version, thí dụ: bản này là Open_letter_to_VNpastors_and_friends_V2.doc vì đã có sửa chữa.  Khi lưu hành xin giữ nguyên số version để dễ qui chiếu.

Chú thích:

1/ Hiện nay ở trong nước cũng như ngoài nước đã có thêm những hội thánh Tin Lành VN thuộc vào những hệ phái khác với những Hội Thánh phát xuất từ Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (CMA). Những hội thánh mới này có thể có tín lý, cách sống đạo khác với CMA.  Qua nghiên cứu, cũng như giao tiếp trực tiếp với tín hữu TLVN, tôi nhận thấy có lẽ do CMA là tổ chức Tin Lành lâu đời nhất ở VN, có guồng máy tổ chức và đào tạo qui mô nhất VN, do đó có ảnh hưởng  rộng, sâu nhất VN, và tuyệt đại đa số mục sư VN có gốc rễ từ những tiền bối tới từ CMA, nên tinh thần của đại đa số tín hữu TLVN vẫn có nét chủ đạo tới từ CMA.

2/ Trong bài tôi phải dùng một số chữ bằng tiếng Anh như “negative, positive …” thay vì dùng tiếng Việt. Không phải do tiếng Việt thiếu chữ tương đương, hay tôi sính tiếng nước ngoài; nhưng có những chữ phải dùng tiếng Anh mới lột hết ý nghĩa và nêu lên tác động của nó, vì con người lẫn văn hóa, nền giáo dục VN không có những trải nghiệm tương đương.

Những chữ như “negative, positive” là những chữ mà em bé 6, 7 tuổi ở Mỹ đã được học hỏi và nhắc nhở ở trường, trong khi đó ở VN quan niệm “tiêu cực, tích cực” được học ở hoàn cảnh, văn hóa khác, gây một cảm nhận khác.

Phân biệt “tiêu cực” và “negative” để chứng minh là lối nói “ “negative” sẽ gây dị ứng mạnh hơn với những người VN có quá trình sinh sống, hội nhập xã hội Tây Phương lâu hơn.  

3/ Trong phần 4/Faith and Reason? hay Faith and No Reason? không mục sư nào được nêu tên cụ thể.  Lý do là nêu lên sự kiện có thật để dẫn chứng cho biện luận, nhưng hoàn toàn không nhằm chỉ trích bất cứ cá nhân nào, do đó không nêu tên.

4/         Lịch sử Hội Thánh Tin Lành VN (1911-1965), viết tắt là LSHTTLVN, tác giả Mục sư Tiến Sĩ Lê Hoàng Phu, Nhà xuất bản tôn giáo, 2010, 53 Tràng Thi Hà Nội.

41 năm hầu việc Chúa với HTTL Việt Nam, viết tắt là HVC, tác giả Irving R. Stebbins & Thomas H. Stebbins, published by Spiritual Light Magazine, Akron, Ohio, Copyright 2004 Spiritual Light Magazine.

 

 

51 cảm nghĩ về “Tại sao nhiều người Tin Lành Việt Nam có suy nghĩ và lời xúc phạm các tôn giáo khác?”

  1. Em cảm thấy đây là một bài viết nghiêm túc, có trách nhiệm, rất có ý thức đóng góp không thành kiến.

    Em biết đến Tin Lành lần đầu qua sinh hoạt của một nhà thờ nhỏ ở một tỉnh lẻ ở Anh, và thật sự rất thích và trân trọng những giá trị và cách thức của họ. Thế rồi em nghe một chị bạn nói 1 vài câu về ấn tượng với Tin Lành Việt Nam (ở Mỹ) và khá ngạc nhiên – vì khác với điều em biết về Tin Lành ở Anh. Bài này đã cung cấp thêm cho em một số thông tin cụ thể, chi tiết từ một góc nhìn em thấy gần gũi với mình.

    Cám ơn anh đã giới thiệu. 🙂

    Like

  2. Mình rất rất đồng cảm với đoạn “Hương sắc khác nhau của những tôn giáo khác nhau” trong bài nầy.

    Mình cũng “là người không tôn giáo nhưng có nhu cầu tâm linh rất lớn” như anh Dũng.

    Mình rất đồng ý với lời của Đạt Lai Lạt Ma 14: “Mục đích của tôn giáo là khai mở tình yêu, lòng thông cảm, đức kiên nhẫn, sự bao dung, tính khiêm tốn, sự tha thứ… Nếu ta lơ là những đức tính nầy thì ta theo đạo nào cũng chẵng ích gì”.

    Like

  3. Đọc lại tựa bài, tôi giật mình vì mình để tâm vào nội dung, nhưng đặt tựa kiểu vơ đũa cả nắm, là điều sai trái rất quan trọng.

    Xin webmaster vui lòng thêm chữ “nhiều” vào tựa bài, thành “Tại sao nhiều người Tin Lành Việt Nam có suy nghĩ và lời xúc phạm các tôn giáo khác?”

    Chú thích: Chữ “nhiều” ở đây rất tương đối, xin hiểu với nghĩa là
    “đáng quan ngại”.

    Like

  4. Cách ứng xử của một số các quý vị truyền giáo Tin Lành tạo ra rất nhiều mâu thuẫn xã hội. Nói chung là các qúy vị đi đâu cũng kêu gọi và áp lực mọi ngừoi bỏ các hình tượng và các lễ nghĩa tập tục của họ, coi như đó là sai đường, là chống chúa.

     

    1. Đã có nhiều chuyện như chuyện một người sắc tộc thiểu số VN ở Mỹ về, thăm gia đình ở VN. Anh này đã trở thành Tin lành và muốn về truyền giáo luôn. Việc đầu tiên là anh yêu cầu mọi người trong gia tộc anh bỏ hết các tượng ảnh bàn thờ ông bà tổ tiến và không tham dự các cuộc lễ truyền thống như uống máu trâu… Đương nhiên là cả gia tộc và họ hàng nhà anh này nóng giận vì phong cách xấc xược đó, Và gia đình anh ta yêu cầu anh ta ra khỏi nhà, nói với chính quyền địa phương là họ không bảo lãnh cho anh ta thăm gia đình nữa.

    Anh ta về Mỹ và nói lại với các tổ chức tôn giáo và nhân quyền Mỹ là anh ta bi harassed và đàn áp vì lý do tôn giáo, vì anh ta là người Tin Lành. Vậy, vấn đề trở thành vấn đề chính trị giữa 2 nước.

    Thực sự rất nhiều người Tin Lành chống lại văn hóa bản xứ, là muốn làm cho tiêu tan văn hóa bản xứ vì yêu cầu không hình tượng này.

    Trước Công đồng Vaticano II năm 1962 Công giáo cũng cực đoan đối với văn hóa bản xứ như thế.

    Các bàn thờ tổ tiên không phải là “hình tượng” theo tinh thần Thánh kinh. Điều răn thứ 2 nói:

    “Con đừng dựng tượng theo hình thể bất kỳ vật gì trên trời hay dưới đất hay trong nước. Con đừng quỳ lạy hay thờ phụng các tượng ấy; vì ta, Chúa, Đức Chúa Trời của con, là Đức Chúa Trời cả ghen. Đối với những kẻ ghét ta, ta trừng phạt đến ba bốn đời con cháu vì tội lỗi của cha ông, nhưng đối với những người yêu ta và giữ theo các điều răn của ta, ta cũng thể hiện tình yêu đến ngàn đời.”

    Đó là lời dạy 3500 trước, khi người ta có đủ loại thần, kể cả thần bò, thần dê… Điều răn thứ nhất nói là chỉ có một Chúa. Điều răn thứ hai hai nói Chúa không có hình ảnh nào, đừng thờ đủ mọi loại thần, mọi loại Thượng đế lăng nhăng… Đây là sự khởi đầu của tôn giáo một Chúa (monotheism).

    “Thờ” Bố mẹ ông bà không phải là thờ thần, thờ Thượng đế. Hình ảnh người đã chết là kỷ niệm, lễ bái nhang đèn là tưởng nhớ. Không phải là “thờ” như thờ Chúa.

    Cho nên tấn công hình ảnh nhang đèn cho tổ tiên ông bà vừa xấc xược vừa không hiểu Thánh kinh, vừa không biết yêu người–là tinh thần Jesus Christ.

     

    2. Chúa Giêsu nói: Ta là đường đi và sự thật và đời sống. Không ai đến được với Cha, ngọai trừ qua ta. John 14:6.

    Điều này cho phép người Kitô giáo nhìn hạn hẹp là chỉ người Kitô giáo mới được cứu rỗi, người ngoại đạo thì không.

    Nhưng, Chúa Giêsu nói “…đến với cha… qua ta.” Chúa không nói “đến với cha, qua Kitô giáo” (Công giáo, hay Tin Lành).

    “Qua Giêsu” nên được hiểu là “qua tinh thần Giêsu”—Yêu thượng đế và yêu người vô điều kiện.

    Chẳng lý do gì mà Thượng đế không gửi nhiều tiên tri khác nhau đến nhiều vùng khác nhau ở những thời điểm khác nhau để giáo huấn con người.

    Các tôn giáo khác cũng có tinh thần Giêsu đó. Như Hồi giáo và Do thái giáo. Giêsu là một tiên tri của Hồi giáo, và cả người Do thái giáo cũng chấp nhận Giêsu là một tiên tri của Thượng đế.

    Và người Phật giáo, như Đạt Lai Lạt Ma, sẵn sàng xem Chúa Giêsu là một vị Phật, một vị Bồ tát. (Xin xem truyện Thiền Không xa Phật vị)

    Chúa Giêsu không nói câu nào để Tin Lành và các nhánh Kitô giáo có thể tuyên bố “chúng ta mới là người nắm chân lý, nắm con đường cứu rỗi. Còn mọi đường khác là sai”.

     

    3. Điều để truyền giáo, không phải là vào đạo Tin Lành, mà là nắm được Giêsu. Mà Giêsu có nghĩa là “Yêu Thượng đế và yêu người vô điều kiện”. Các quý vị truyền giáo có yêu người vô điều kiện để chuyển giao yêu người vô điều kiện cho người khác không?

    Truyền Giêsu, đừng truyền đạo.

    Mình đã nói chuyện với một số nhà truyền giáo Mỹ và chính họ nói công sức truyền giáo của Tin Lành trong cả hai thế kỷ ở Á Châu không mang lại kết quả nhiều gì cả, và người ta chú trọng vào truyền đạo hơn là truyền Chúa Giesu.

    Like

  5. Về việc thờ cúng tổ tiên, em có nghe nhiều từ trước và sau khi theo Tin Là nh. Quan điểm của em về ấn đề này như sau:
    – Việc thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam mang hình thức tôn giáo (nhang đèn, bái lạy) nhưng về bản chất thì khác với thờ Chúa hoặc các thần ở tôn giáo khác. Người Việt Nam mình thờ tổ tiên là để nhớ người đã khuất chứ không cầu xin sự cứu rỗi.
    – Việc tưởng nhớ người đã khuất (cha mẹ, ông bà) là một hành động bày tỏ lòng thành kính, và không đi ngược lại với đức tin trong Kinh thánh là “Honor our father and mother”(Exodus 20:12, Colossians 3:20, Ephesians 6:1-4).
    – Nếu một người thực sự tin yêu Chúa, việc tiến hành các nghi thức tôn giáo của người ngoài không ảnh huởng đến mối quan hệ (relationship) của người đó với Chúa (mối quan hệ nà có từ lúc một nười tin Chúa (John 1:12), tồn tại vĩnh iễn(1 Pêtr 1:3-4), và không bao giò thay đổi (Hebrews 13:5). Nếu iệc thực hiện/ không thực hiện/ phản đối một nghi thức nào đó làm cho người ngoài nhìn nhận sai lệch thì nên cân nhắc.
    Trong 1 Corinthians, Paul có đề cập đến sự kiện tương tự như vầy:
    “But some, through former association with idols, eat foods as really offered to idol, and their conscience, being weak, is defiled. Food will not commend us to God. We are no worse off if we do not eat, and no better off if we do. But take care that this right of yours does not somehow become a stumbling block to the weak ”
    1 Corinthians 8:7-9

    Like

  6. Rất cám ơn anh Dũng đã chia sẻ những suy nghĩ rất trung thực với những nhận định rất thẳng thắn và hoàn toàn có tính “positive” trong bài viết được anh nghiên cứu và phân tích sâu sắc. Mong rằng tiếng chuông cảnh tỉnh này là đóng góp hữu hiệu cho sự phát triển tất nhiên của “Interfaith dialogue” rất cần thiết trong xã hội hiện tại và tương lai, và đồng thời cũng có thể giúp quí vị lãnh đạo tinh thần của bất cứ tôn giáo nào chú trọng nhiều hơn nữa về điều cốt lõi “Faith and Reason” trong trách nhiệm hướng dẫn tâm linh. Trân trọng.

    Like

  7. Tình cờ đọc được bài này và rất hoan nghênh tác giả đã viết về một đề tài khá nhạy cảm, không tránh khỏi đụng chạm, nhất là khi gia đình có liên quan đến Tin Lành.
    Bản thân tôi là người không theo Đạo nào, cũng ” không may ” yêu vợ tôi là người Cơ Đốc. Thực ra lúc ban đầu tìm hiểu tôi cũng có hỏi thì cô ấy bảo : Ba không đồng ý đứng ra gả ( tổ chức đám cưới ) nếu lấy người không theo Đạo, tôi nghĩ đơn giản : cũng không sao. Nhưng sau khi yêu nhau thì là một chuỗi ngày tháng kinh hoàng trong cuộc đời tôi ! Ông nội lấy danh nghĩa là người Việt Nam theo Tin Lành tiên phong từ một nhà sư Đạo Phật, cũng từng là cán bộ Việt Minh nên gây áp lức dữ dội. Kể cũng tội, dù không phải là mục sư nhưng ông nội rất được cộng đồng Tin Lành tôn kính. Là nhà dòng dõi thế mà lại có một ông rể chen chân vào không theo Đạo thì quả là thảm họa. Ba thì đòi từ con, cậy nhờ biết bao người đến thuyết giáo tôi theo Đạo và dùng nhiều từ phải nói là rất cay nghiệt để gây sức ép. Nghĩ lại thời gian đó mà sau này tôi là người biết suy nghĩ vẫn hình thành nên chính kiến : nếu được làm lại tôi sẽ không bao giờ vướng vào người theo Tin Lành !
    Họ cho rằng phải thờ Chúa mới đúng là thờ tổ tiên, lập bàn thờ thờ cúng chỉ được 5, 7 đời là cùng, cúng kiếng chỉ là để cho ma quỷ ăn, ông bà chết rồi có ăn được đâu. Đi qua nhà chùa họ bỏ chạy, miệt thị, căm ghét và ghê tởm ! Họ ghét luôn cộng sản, cho rằng chỉ có Tin Lành mới là ” Đạo “, Đạo là duy nhất, cao nhất, còn mấy kia chỉ là tôn giáo. Tôn giáo thấp hơn Đạo, đương nhiên !
    Đi lễ Noel họ ca ngợi tôn vinh Chúa và không quên chê bai kẻ khác : trong lúc chúng ta tập trung ngợi ca tôn vinh Chúa thì ngoài kia những người con lạc loài, không hiểu biết nên đam ham chơi, ham ăn trần tục, tội nghiệp thay cho họ… Tôi giận run lên vì hầu hết thế gian này toàn người ngu, khốn nạn cả chăng, vì theo Tin Lành thì có được mấy người ?!
    Nói như vậy không phải Tin Lành toàn là điều dở, không Tin Lành rất nhiều điều tốt, rất hay, nhưng phải chi họ hiểu rằng : niềm tin và chọn lối đi thì tùy theo mỗi người, không ai giống ai và quan trọng là tôn trọng nhau. Mình cứ theo đức tin của mình, cứ mời gọi người ta theo và ủng hộ mình nhưng điều tối kỵ là không được bài bác, chê bai người về đức tin vốn mơ hồ. Được như vậy thì tôi tin mọi người tin theo Tin Lành nhiều hơn, tôi không muốn ai đó khi theo Tin Lành phải đối mặt với hiềm khích trong xã hội.
    Ps : Cũng may mọi chuyện cũng qua, chúng tôi vẫn hạnh phúc dù cô ấy phải hứng chịu quá nhiều khổ đau vì tôi cứng đầu. Tôi không theo Tin Lành, tôi không bắt cô ấy bỏ Đạo, tôi không ép cô ấy làm gì mà cô ấy không muốn. Chúng tôi quy ước không tranh luận với nhau ai đúng ai sai về niềm tin. Chúng tôi yêu nhau và nuôi dạy con cái, hiếu thuận với cha mẹ. Còn đức tin thì ai cứ tự giữ riêng mình. Tuy nhiên sau này tôi cũng day dứt nhiều vì Phật dạy : mình đúng mà mình chấp cái đúng thì thành sai. Nghĩa là mình không theo Tin Lành là quyền của mình nhưng ảnh hưởng đến nhiều người khác thì nên thuận theo đi để nhiều người bớt khổ. Nhưng như vậy là giả dối, là cơ hội, thật xấu xa nếu mình sống không trung thực. Khổ tâm lắm.
    Một lời khuyên chân thành : hãy tìm hiểu Tin Lành và nếu mình tin theo một cách tự nhiên thì hãy tìm hiểu bạn đời theo Đạo. Còn nếu không hãy cố gắng tránh xa ” nếu được ” để sau này khỏi đau khổ cho nhau.
    Cảm ơn mọi người đã đọc tâm sự rất thật này của tôi.

    Like

  8. Cảm ơn anh Ngọc Châu về câu chuyện tâm sự rất thật, và em cũng chúc mừng anh chị đã vượt qua được hết sóng gió và vẫn hạnh phúc bên nhau, tình yêu thật sự luôn dẫn đường cho dù chúng ta chọn đường dài hay ngắn.

    Em rất đồng ý với điều anh nói : “Phật dạy: mình đúng mà mình chấp cái đúng thì thành sai”, chỉ cần hiểu được và làm theo sự chỉ hướng của điều đó, còn thì “con đường nào cũng dẫn đến thành Roma”.

    Chúc anh chị mãi mãi hạnh phúc
    Em Hường

    Like

  9. Vấn đề chính của các tôn giáo Abrahamic (Moseac) – Do thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo – lầ mỗi tôn giáo này đều tự cho mình là đường duy nhất vào thiên đàng, và mọi đường khác là sai. Vì thế mà các quý vị gây chiến liên miên trong lịch sử.

    Phật giáo với tư tưởng hòa bình và dân chủ sẽ có ảnh hưởng rất lớn trên thế giới từ nay trở đi, và sẽ giúp các tôn giáo khác mở rộng tầm mắt, hiểu sâu hơn về gia tài tâm linh của họ, và biết tôn trọng lẫn nhau và sống chung hòa bình.

    Like

  10. Từ bài viết đến các nhận xét đều ” đúng” trong tầm hiểu biết của ” con người”. Chính sự giới hạn này mà con người thường ” cải nhau”. Tôn giáo “tôi” đúng hơn, tốt hơn. Theo tôi, nếu ai làm được điều mình nói thì đó là sự thật. Con người hay biện minh cho cái mình thích và thói quen. Nhưng không dám so sánh và tự nhận điều chưa phù hợp để thay đổi.
    chẳng hạn việc thờ cúng ông bà là rất tốt, đúng với đạo hiếu truyền thống, theo lịch sử việt nam những thế kỷ gần đây nhất. nhưng trước đó đã có nhiều hình thức thờ cúng khác. nhưng tóm lại đều mang ý nghĩa uống nước nhớ nguồn. Tôn giáo nào cũng có điều đó, theo tôi là như vậy. Cách thức có thể khác nhau thôi. vì cách thức do con người đặt ra rồi truyền lại theo thời gian, thói quen, tập tục…thế thôi.
    không nên đứng ở tôn giáo này, mượn danh nhân nghĩa để đã kích tôn giáo khác. Nhất là lợi dụng những “Lời” nói mang tính chất thiêng liêng để nhục mạ nhau là có hại đến tâm trí bản thân đó. Không nên như thế.

    Like

  11. chac ban chua hieu het kinh thanh mong tim cau :truoc khi muon lay cai dam o mat nguoi khac ,hay lay cai da o trong chinh mat minh .trong phong trao hoc va lam viec theo guong Ho chi Minh ban nen xem bai cua Tien si Pham huy Thong viet ngay 8/8/2012 noi ve tu tuong Ho chi Minh voi cac ton giao , Luc nay ke thu dat nuoc chung ta o moi khia canh chung tim moi so ho de chia re dan toc ta va cac ton giao va voi ca Dang va nha nuoc ,Doi song tam linh nen co cai nhin huong thuong dung nhin vao ton giao hoac giao phai va hay doc Kinh thanh mot cach to tuong ,bang khong thi ban noi tieng Anh bat nguoi Tay ban nha phai hieu .
    Chuc cho nhau tien bo

    Like

  12. Tất cả chúng tôi là con cái của Đức Chúa Trời . Hồi giáo, Do thái giáo, Công giáo, Tin Lành… . Thứ Nhất : Bạn biết đả kích tôn giáo là điều không tốt có thể gây ra tổn thương hoặc chiến tranh . Sao bạn lại viết bài này?Thứ Hai : Hãy để Đức Chúa Trời phán xét chúng tôi . Bạn là ai mà bạn tự cho mình thẩm quyền đó? Thứ ba : Chúng tôi đã có Chúa và các môn đồ của ngài dạy bảo chúng tôi .Bạn không cần dạy bảo chúng tôi .

    Like

  13. Thưa ông HaoHoang.

    Trong một thế giới liên thông như hiện nay, dù muốn hay không, thân phận của chúng ta cũng ràng buộc vào nhau bằng mọi cách, dưới mọi dạng. Sống bên nhau, sống với nhau, chúng ta không thể nói là phận ai nấy lo, cộng đồng nào lo cho cộng đồng ấy. Thí dụ:

    Khí hậu đang biến đổi rất nhanh vì sự tiêu thụ nhiên liệu của thế hệ chúng ta, các băng sơn vạn niên ở cao nguyên Tây Tạng ngoài tầm mắt, ngoài tầm quan tâm hàng ngày của chúng ta đang tan chảy, co rút hàng km mỗi năm (có chỗ hàng chục km), nước biển đang dâng cao, ảnh hưởng tất cả các quốc gia ven biển dù là đỏ, trắng, đen, vàng; dù dân họ có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Con cháu chúng ta sẽ đuợc thừa hưởng ít đất sống hơn (http://en.wikipedia.org/wiki/Effects_of_global_warming_on_oceans), quả đất ô nhiễm hơn.

    Khi dịch Ebola bùng nổ ở Phi Châu, một số người Mỹ than phiền là mắc mớ gì người Mỹ phải dính vào, phải rước bịnh vào xứ Mỹ, cần gì phải nghiên cứu nó, nhập nó vào để nó có cơ hội lây lan ra tại Mỹ v.v… Khi hàng trăm ngàn người di chuyển bằng máy bay từ chỗ này sang chỗ khác hàng ngày thì mọi nước phải quan tâm, không cứ gì Mỹ. Không chặn từ sớm, từ gốc, khi Ebola vào Mỹ, nó sẽ không phân biệt trắng đen, vàng, đỏ, Tin Lành, Công Giáo, Hồi Giáo, Phật Giáo…

    Rừng cháy ở Nam Mỹ, là lá phổi xanh của cả quả đất bị thương tổn, dù trước mắt chỉ ảnh hưởng tới những nước nghèo này.

    Nước biển dâng, dịch bệnh, hiềm khích tôn giáo, chiến tranh tôn giáo đụng chạm cuộc sống của mỗi chúng ta, mỗi ngày, mỗi người đều có quyền phán biểu theo hiểu biết của mình, để tìm cách giải quyết quan tâm của họ, hay không phát biểu. Cả hai thái độ cần được tôn trọng.

    Voltaire (1694-1778) đã nói:
    “God gave us the gift of life; it is up to us to give ourselves the gift of living well.”, theo tôi, một cuộc sống đầy giận dữ, thù hận vì thiếu phát biểu, lắng nghe, cảm thông không phải là một cuộc sống tốt đẹp.

    Ông cũng nói “I do not agree with what you have to say, but I’ll defend to the death your right to say it”.

    Đóng góp của tôi tới từ 2 vị trí: a/ một nguời cha; b/ một người Việt Nam và cũng là một công dân của trái đất:

    a/ Là cha của một cậu bé 10 tuổi, cháu vẫn đi nhà thờ TLVN hàng tuần (tôi đang tính chuyển cháu qua nhà thờ Mỹ, nhưng chưa thuận tiện vì cháu quyến luyến bạn bè, tôi cũng đã đi một số nhà thờ Mỹ và hiểu là tuỳ nhà thờ, hệ phái mà tín lý, cách hành đạo sẽ khác nhau), nên tôi viết và mong rằng cháu khi lớn lên, sẽ đọc nó (tôi sẽ dịch ra tiếng Anh cho cháu nếu cần). Tôi muốn con tôi có lòng mềm mại, bác ái, biết gìn giữ bản sắc của văn hoá Việt Nam, đồng thời cũng tôn trọng, biết học hỏi các niềm tin, những giá trị hay đẹp của tôn giáo mình, cũng như của tôn giáo người, của nhân loại. Tôi không muốn thằng con tôi đi ngang bàn thờ ông bà, là giật bắn người, lủi lủi tránh xa như thấy dịch hạch, dịch tả … hay vừa thấy người Phật Giáo, Ấn Độ Giáo hay Hồi Giáo, là sẵn sàng đố kỵ theo phản xạ, và cháu đã ít nhiều có phản xạ này rồi, khi ông mục sư quản nhiệm của tôi thoải mái, điềm nhiên khai triển bài giảng và lập đi lập lại “ai không theo Chúa là kẻ dữ” (bà mục sư là người dạy lớp Chúa Nhật cho các cháu nhỏ) dù chúng tôi đã nhiều dịp ăn cơm chung, email trong tình thân và ông đã đọc bài viết trên Dotchuoinon.com của tôi.

    b/ Người Việt Nam chúng ta là một dân tộc tinh anh, dù điều kiện thiên nhiên không được ưu đãi, nhưng thiên nhiên của VN không phải là tệ so với những nước như Hoà Lan, Thuỵ Sĩ, Nhật… Nhưng số phận chúng ta không tương xứng, đáng tủi nhục, vì chúng ta không có nhà tư tưởng, không có triết gia lớn, nên số phận dân tộc VN là dân tộc bị nô lệ bởi Tàu, đô hộ bởi Tây, rồi tàn phá bởi chiến tranh do người Việt chủ động với sự giúp đỡ tích cực của ngoại quốc (Mao Trạch Đông nói “thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ”), sau những thế kỷ đã có hàng trăm ngàn người Việt chết vì hiềm khích tôn giáo do việc những nhà truyền giáo như Alexandre de Rhodes đã tấn công trực diện, lăng mạ toàn bộ nền tảng tư tưởng, văn hoá, giá trị cốt tuỷ của Việt Nam. Đây là sự thực viết trong sử sách, và cũng là sự thực mới xảy ra “hôm qua”: khi vào năm 1963 hàng chục sư Phật Giáo VN đã tự thiêu vì cảm thấy Phật Giáo bị kỳ thị, đàn áp; và chỉ gần đây, một mục sư quen tôi, từ VN qua Mỹ du học thần học, cho tôi biết ông đang thế chỗ 1 mục sư bị giết cách đây mấy năm bởi người theo Phật Giáo Hoà Hảo, vì ông mục sư này về vùng Hoà Hảo truyền đạo mà phát biểu những lời người Hoà Hảo cho là lăng mạ họ.

    Chúng ta có biết về những cái chết kể trên hay không? Có muốn biết, có muốn được thông báo, nhắc nhở hay không? Chúng ta có thể tiếp tục sống vô tâm, không suy nghĩ như chưa từng có một cái chết nào xảy ra hay không? Khi một số lề thói, nhận định xấu về người ngoại vẫn như cũ?

    (Xin mở một ngoặc đơn ở đây, đi ra xa một chút ngoài khuôn khổ của bài này, và cũng độc lập với câu chuyện mục sư bị giết nêu lên ở trên. Đứng trên phương diện xã hội, nhân văn, theo tôi 2 tôn giáo Cao Đài, Hoà Hảo ở miền Nam là một đóng góp đặc sắc. Sự xuất hiện của 2 tôn giáo ở miền Nam này một phần phản ánh tinh thần dám nghĩ, phiêu lưu của người miền Nam trên một vùng đất mới; dù là học hỏi vay mượn, hay tổng hợp từ các tuệ giác khác; một phần là Nam Kỳ là thuộc điạ Pháp, có tự do tư tưởng, báo chí tốt hơn là Bắc, Trung VN. Bắc và Trung Việt Nam, với những quán tính văn hoá, nề nếp từ lâu đời không thích hợp để có phát triển tương tự. Nó cũng chứng tỏ người VN có khả năng suy nghĩ, sáng tạo, không hoàn toàn đi theo lối mòn, nhưng đây chưa là điều phổ cập, vì chúng ta chưa ý thức đủ, chưa nhắc nhở lẫn nhau là chúng ta hoàn toàn có khả năng suy nghĩ như những dân tộc khác).

    Người Việt Nam chúng ta vẫn quen thói suy nghĩ cù lần, bạc nhược, tiểu nông, nhai lại, không dám nghĩ khác, không quen đặt vấn đề, nhận diện vấn đề, không quen cùng nhau giải quyết vấn đề, không có thói quen giải bày ôn hoà, chúng ta dễ dàng mạt sát, chửi bới, rồi đánh giết nhau khi gặp phải bất đồng vốn là chuyện đương nhiên sẽ xảy ra khi làm việc, suy nghĩ chung với nhau. Thiếu tư tưởng, chúng ta thụ động chống đỡ biến cố hơn là chủ động giải quyết trước khi chúng xảy ra.

    Vì dân trí thấp, vì không có nhà tư tưởng tầm cỡ, người VN dễ dàng đi theo lối mòn của người khác vẽ ra, không suy nghĩ, phán đoán bằng cái đầu của mình, không thấy những vấn đề thiết thân của dân tộc mình, nên cái vòng luẩn quẩn nhược tiểu – nô lệ – nhược tiểu, bị người hiếp đáp, hay cắn xé giết lẫn nhau cứ xoay vòng tròn.

    Vì người VN nói chung không quen phán đoán, suy nghĩ ngoài lối mòn, nên tín hữu TLVN, nhiều người có trình độ, tuổi tác khả kính, không thấy chướng khi ông I.R. Stebbins, sinh năm 1894 (xem http://photos.vnbible.com/v/vnchurch/Bios/m/IRStebbins.jpg.html ), khi mới có 34 tuổi đã nói những điều ông soạn cho HTTLVN vào năm 1928, phải được HTLLVN sử dụng như Kinh thánh “một Điều lệ chi tiết phải được lãnh đạo Việt Nam dùng “như họ sử dụng Kinh thánh” và họ sẽ “coi mọi sự trong đó như những luật lệ vững bền, cứng rắn”.

    Thưa ông HaoHoang, ngày xưa, dưới bóng văn hoá Trung Hoa và “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu” (lời bài “Gia tài của mẹ”, nhạc Trịnh Công Sơn), cha ông chúng ta đã học Tứ Thư, Ngũ Kinh, kính cẩn theo lời Khổng tử “Khổng tử viết” (“viết” ở đây nghĩa là nói), thì bây giờ chúng ta cũng vậy, vẫn quen nghe lời chỉ bảo của ngoại nhân, vẫn tiếp tục đi theo đường vạch ra bởi I.R. Stebbins và 4 giáo sĩ Mỹ khác, khi Stebbins mới có 34 tuổi. Khi những giáo sĩ trẻ măng này muốn những điều lệ họ viết ra cho HTTLVN được dùng như Kinh Thánh, chúng ta không biết và không cảm thấy bị xúc phạm, không thấy họ xấc xược; dù chúng ta thừa khả năng, trí tuệ, phương tiện để xem xét lại những vấn đề nghiêm trọng, thiết thân.

    Thưa ông HaoHoang, chúng ta không thấy, hay không cần biết là chúng ta thường xuyên xúc phạm đồng bào chúng ta, trái với tình yêu thương mà chúng ta tuyên xưng và rao giảng; hay nay đã biết rõ và nói “chuyện chúng tôi, để chúng tôi lo, đừng dạy dỗ chúng tôi”? Chúng ta xem những đóng góp xây dựng của người VN về thái độ đố kỵ, miệt thị của chúng ta với người ngoại là “đả kích tôn giáo?!

    Chúng ta không thấy những đặc thù, bản sắc của văn hoá chúng ta, để mà trân trọng, nâng niu nó mà vẫn sống đúng tinh thần, tấm lòng Thiên Chúa, không phải là hình thức Thiên Chúa.

    Xung đột tôn giáo, giết nhau tàn bạo, dã man tới từ sự không hiểu nhau, sự khép kín trong thành quách tư tưởng, suy nghĩ, vẫn được tường thuật hàng ngày trên tin tức, truyền hình, báo chí.

    Muốn thoát khỏi thân phận nhược tiểu, hẩm hiu của mình, người VN phải quan tâm, học hỏi, nâng mình hội nhập, thấy và chia xẻ những điều mà nhân loại đang quan tâm. Một trong những vấn đề lớn đó là xung đột văn hoá và tôn giáo như nhiều học giả, nhà tư tưởng cận đại thấy và nêu ra từ lâu:

    “The Clash of Civilizations is a theory that people’s cultural and religious identities will be the primary source of conflict in the post-Cold War world” ( http://en.wikipedia.org/wiki/Clash_of_Civilizations ).

    Đứng trước một vấn đề chúng ta có nhận định khác nhau, đây là chuyện bình thường. Bày tỏ và truyền thông đã là những sức bật hiển nhiên đưa con nguời tới những tiến bộ hôm nay, dù có lúc thăng, lúc trầm, lúc quá đà, nhưng phát biểu là điều tối cần thiết, là điều kiện cần để có hoà bình.

    Từ lịch sử, chúng ta thấy những thể chế chuyên chế, độc tài về tôn giáo hay chính trị từ cổ chí kim, Đông sang Tây có một nét chung là không muốn con người phát biểu, bày tỏ những gì ngoài điều mà xếp xòng tư tưởng muốn. Và cũng chính từ lịch sử, chúng ta thấy con người đã tội nghiệp, khốn khổ, đi lùi lại ra sao khi đóng khung trong một hệ tư tưởng, một nếp suy nghĩ.

    Khi đề cập tới 1 vấn đề trầm trọng có thực, thì nó chạm phải ít nhất là 2 tập thể trong bất cứ tập hợp nào:
    – một tập thể có thâm tín, thói quen, quán tính, và yên tâm với những điều thủ đắc. Bất an, khó chịu, cảm thấy bị xúc phạm với những gì quen nghe, quen làm.
    – một tập thể những người ít nhiều thấy vấn đề, thấy cần làm 1 cái gì đó, nhưng chưa có nhân duyên cơ hội bày tỏ, tương thông.

    Tôi thiển nghĩ việc bày tỏ quan điểm khác nhau là cần thiết, lợi nhiều hơn hại.

    Không dám dạy dỗ bất cứ ai vì còn quá nhiều điều không biết, không hiểu thấu, mong lĩnh ý của ông HaoHoang, xin ông cho biết cho biết ông có đồng ý với những phát biểu như “người ngoại không biết đúng sai”; “người ngoại giả dối”; “chỉ có cửa của Chúa Jesus là cửa thật, còn các cửa khác đều là phường trộm cướp”; “ai không tin Chúa đều là kẻ dữ”; “người ngoại thờ sự tối tăm, thờ ma quỉ”; ở Á Đông, người ta thờ ông bà, cha mẹ tổ tiên, để không bị ông bà, cha mẹ tổ tiên làm hại mình ( I.R. Stebbins viết “Những tôn giáo đó thường kèm theo sự mê tín, thờ thần tượng, hồn ma, đốt nhang trên bàn thờ, thờ ma quỉ, tất cả dựa trên nỗi sợ hãi bị các vật mà họ thờ làm hại”).

    Bày tỏ sự phiền lòng, hay phản đối khi tín đồ của tôn giáo này có những lời không đẹp về tôn giáo khác, khi có những đánh giá kiểu labelling, vơ đũa cả nắm, là chuyện rất bình thường của những người văn minh của thế kỷ 21, để tránh sự tức giận tích luỹ và bùng nổ tàn bạo (và đã xảy ra nhiều lần) nếu không được giải bày, giải quyết từ sớm.

    Like

  14. Ông Dũng có dùng những sách vở nào khác ngoài wikipedia hay không? Trích dẫn một câu văn, một đề xuất, hay tâm tri, của một người để đề bác tất cả những người khác thì có phải là vơ đũa cả nắm hay không?

    Đây là bài học vở lòng luận văn 101, trước khi ông muốn làm “học giả,” đó là: I. R. Stebbins không là Tin lành, sự suy nghỉ của Stebbins, cũng như một vài đề xuất của ông, đúng hay sai, chỉ có thể được trích dẫn để nói về lập luận của Stebbins mà thôi. Muốn đề bác Tin lành thì tôi khuyên ông nên trích dẫn Kinh thánh, vì Kinh thánh là giá trị cốt lõi, là tiếng nói chung của của Tin lành.

    Bài học vở lòng 2, đó là: ông nên học cách trình bày nội dung của một bài tiểu luận, nghĩa là, đề xuất phải đi đôi với chuẩn cứ.

    Bài học vở lòng 3, đó là: cách hành văn, cách dùng nguồn tài liệu tham khảo, và cách trình bày dạng trích dẫn phải theo tiêu chuẩn được chấp nhận.

    Nếu chưa qua được các tiêu chuẩn luận văn vở lòng 101 nầy, thì e rằng nội dung bài viết có một giá trị bình luận hay nghiên cứu có trình độ nào đáng ghi nhận hay không? Hay chỉ là những ý kiến đề bác trẻ con không có cơ bản.

    Like

  15. Cảm ơn HBH đã chia sẻ.

    Mình thấy rằng sự thật là sự thật, chẳng liên quan gì đến cách hành văn hay trích dẫn gì cả.

    Ví dụ: Anh A nói dối với anh B điều gì đó, và anh B nói “anh A nói dối”. Thì dù anh B chẳng trích dẫn gì, nói không có âm nhạc phụ họa, lời lẽ chẳng văn hoa chút nào, thì sự thật vẫn là sự thật.

    Mình thấy, khi bàn về vấn đề nào đó, mà chúng ta bắt bẻ cách hành văn, trích dẫn… mà không nói về nội dung, thì hầu như là ta chấp nhận nội dung của người kia là đúng, không thể phản biện, nên đành phải phê bình cách hành văn, là điều chẳng ăn nhập gì đến sự thật.

    (Comment này mình chẳng nhắm vào nội dung của bài viêt bên trên của anh Dũng. Mình chỉ nói về cách bạn HBH tranh luận. Nói theo kiểu Mỹ là “You shoot yourself in the foot”).

    Like

  16. Cảm ơn ông Hoàng,
    Lập luận như ông vậy thì thơ ngây quá. “Nói trăng nghe trăng, nói cuội nghe cuội” là cách của người tri thức ghi nhận “sự thật.” Xem lại nhé cách lập luận mà ta đã học từ lớp vỡ lòng nhé.

    Like

  17. Cảm ơn bạn HBH.

    Mình tên Hoành, không phải là Hoàng.

    Bạn có thói quen không bàn về nội dung, mà thích chỉ trích cách viết, hoặc tấn công người đối diện, như là “ngây thơ quá” hay “Nói trăng nghe trăng, nói cuội nghe cuội”. Lý luận như thế trong luận lý học gọi là “argumentum ad personam”, tức là tấn công vào con người của người đối diện, thay vì phản biện lý luận của họ.

    Nói theo boxing thì đó là “đấm dưới lưng quần”. Nói theo bình thường là “chơi xấu”.

    Và tranh luận kiểu ad personam thì không được chấp nhận trên ĐCN. Vậy comment kế tiếp của bạn mà còn nói chuyện kiểu này thì bạn sẽ không thấy nó hiện ra đâu.

    Đầu năm cũng không nên tranh cãi bất lịch sự, dông cả năm. Vậy ta ngưng ở đây nhé.

    Chúc HBH vui cả năm.

    Like

  18. Cám ơn ông/bà/anh/chị HBH đã quan tâm và góp ý bài viết của tôi.

    Xin trả lời:

    1. “Ông Dũng có dùng những sách vở nào khác ngoài wikipedia hay không?” Cơ bản là tôi dùng 2 cuốn sách trong trích dẫn, dù đương nhiên là phải đọc, tham khảo rất nhiều hơn là chỉ dùng 2 cuốn này (những cuốn khác, nguồn khác chỉ để xây dựng căn bản của lập luận, và nắm tinh thần, cách suy nghĩ của những tác giả, nhưng không có ích lợi cho việc trích dẫn thêm vì rườm rà, và loãng ý), và dẫn 7 links từ Internet, trong đó có 4 links từ wikipedia.

    1.1. Cuốn đầu tiên là của ms Lê Hoàng Phu , là luận án tiến sĩ của ông tại đh New York, ms Phu là giám đốc Học vụ Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang, và là Nhà Sử học Hội thánh (xem thêm ở http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Ho%C3%A0ng_Phu ).

    Cuốn thứ nhì là của chính ông I.R. Stebbins, không phải là một ms bình thường nhưng là đồng tác giả của bản điều lệ đầu tiên của HTTLVN. Nên tôi xin bác bỏ nhận định của HBH “sự suy nghỉ của Stebbins, cũng như một vài đề xuất của ông, đúng hay sai, chỉ có thể được trích dẫn để nói về lập luận của Stebbins mà thôi”. Đây không đơn thuần là suy nghĩ hay lập luận của “anh” Stebbins, không thích thì bỏ ngoài tai (vào năm 1928, ông Stebbins chỉ 34 tuổi, gọi là “anh” để nêu ra sự trẻ và có thể còn thiếu sót, non kém trong suy nghĩ, cách làm việc; không phải là bất kính với tiền bối, nhưng để ý thức là hôm nay, 2015, có nhiều điều chúng ta, hiểu biết hơn, chính chắn hơn, có quyền và có bổn phận phải rà xét lại những nếp sinh hoạt được vạch ra từ 87 năm trước, khi nhân danh lẽ thật, yêu thương, chúng ta thường xuyên xúc phạm đồng bào của chúng ta, xúc phạm tín ngưỡng của người khác bằng những chữ như “mê tín”, “tối tăm”, “ma quỉ”, “giả dối”, “không biết đúng sai”, “là phường trộm cướp” …). Nhưng những suy nghĩ, lập luận của Stebbins được phản ánh, rồi định chế hoá trong văn kiện cơ bản, quan trọng nhất của HTTLVN, như ms Lê Hoàng Phu đã viết ở trang 150 của sách đã dẫn “những người ủng hộ thật đã cảnh cáo rằng một Điều lệ chi tiết phải được lãnh đạo Việt Nam dùng “như họ sử dụng Kinh thánh” và họ sẽ “coi mọi sự trong đó như những luật lệ vững bền, cứng rắn”. Vì được định chế hoá trong văn kiện cơ bản, quan trọng, là bản điều lệ đầu tiên của HTTLVN, tới nay là 87 năm sau (từ 1928), nếp suy nghĩ, lập luận này vẫn phản ánh trong nếp suy nghĩ, lập luận, sinh hoạt của HTTLVN, như tôi được biết. Nếu không phải như vậy, xin HBH cho vài phản thí dụ về những điều tôi than phiền, hay nêu lên trong bài của tôi.

    1.2. Trong 7 link còn lại, có 4 link là từ wikipedia. Điểm đặc biệt của wikipedia là nguồn mở “the free encyclopedia that anyone can edit”, nên tránh được tình trạng thao túng thông tin của một số người muốn khuynh đảo thông tin, và rất cập nhật. Những link từ wikipedia nói chung mang tới một số kiến thức phổ thông, khá đầy đủ và toàn diện trên những đề tài phổ quát, giúp độc giả tiết kiệm thời gìơ tìm tòi, nắm được một số điểm chính của vấn đề. Xin lưu ý là những trích dẫn của tôi từ wikipedia chỉ nhằm đóng góp, minh hoạ, làm rõ lập luận, làm bức tranh toàn diện rõ hơn, nhưng không phải là cốt lõi của lập luận của tôi. Về những trích dẫn wikipedia này, độc giả chỉ có thể phán đoán là nó sai hay đúng, có thiếu sót hay không (nếu có khả năng thì cứ edit thẳng wikipedia), nhưng những trích dẫn của tôi từ wikepedia vẫn không làm mất đi sự khả tín, chính xác của bài cuả tôi; nếu có xin chỉ bảo, tôi cám ơn.

    2. ” Muốn đề bác Tin lành thì tôi khuyên ông nên trích dẫn Kinh thánh, vì Kinh thánh là giá trị cốt lõi, là tiếng nói chung của của Tin lành.” :

    2.1. Xin đọc lại tựa bài của cũng như toàn nội dung bài viết. Tựa bài gồm 2 phần, và được khai triển trong nội dung trên 2 chủ đề “Interfaith dialogue”, “Faith and Reason” cho HTTLVN, trong bối cảnh lịch sử, văn hoá, con người Việt Nam. Không phải là “đề bác Tin lành” nói chung.

    Ra khỏi khung cảnh Việt Nam, “Interfaith dialogue”, “Faith and Reason” còn là 2 chủ đề chiến lược mà mọi tôn giáo cần ý thức, và đối diện trong một thế giới tương thông mật thiết, và khoa học, giáo dục phổ thông ở tiểu học, trung học … không ngừng nghỉ đưa tới cho chúng ta, con cháu chúng ta những kiến thức mâu thuẫn, đối nghịch với tôn giáo. Chúng ta nên chủ động đón ngọn sóng hay lặn ngụp với sóng? Chúng ta có thể nhìn những quan đ iểm đóng góp khác với thói quen suy nghĩ của chúng ta bằng đôi mắt “chúng ta”, thay vì “chúng tôi” và “các anh” hay không?

    2.2. Khi bàn bạc về khuyết điểm, bất cập của: Phật Giáo có nhất thiết chúng ta phải trích dẫn và hạn chế trong Tứ diệu đế, Bát chánh đạo? Khổng giáo là Tứ thư, Ngũ kinh? Cộng Sản là Tư Bản luận? Hay nghiên cứu về cá là phải bơi lặn như cá, về chim thì phải bay như chim? Hay là công cụ và phương tiện tư duy cần được giải phóng, và tiếp cận vấn đề từ nhiều phía, bằng những phương pháp khác nhau?

    2.3. Tôi lâu nay đi thêm một số nhà thờ TL Mỹ và thấy nhiều hệ phái khác nhau, đôi khi rất khác trong suy nghĩ, cách hành đạo, tới mức HT cũ của tôi muốn mướn chung nhà thờ với HT Mỹ, bị hỏi xét tín lý và từ chối vì tín lý không tương hợp. Nên nói chung chung “Tin Lành” rồi qui nạp rằng tôi “đề bác Tin Lành” là không chính xác. Tin Lành nào là chuẩn, khi 2 hệ phái đều nhận là TL, đều nhận là dựa trên Kinh Thánh, nhưng không cho nhau dùng chung nhà thờ vì khác tín lý? Ai có thẩm quyền làm trọng tài phân định, phán xét hệ phái TL này đúng Kinh Thánh, là Tin Lành hơn?

    3. Bài học vỡ lòng 2 “đề xuất phải đi đôi với chuẩn cứ”: Xin HBH giảng rõ hơn, nếu được cho thí dụ về “chuẩn cứ”.

    4. Bài học vỡ lòng 3: Cần phân biệt việc viết bài cho 1 tập san chuyên môn và viết cho đại chúng. Tôi được nghe nhiều ý như : bài đúng, hay, mà đọc dài quá, “đọc mệt gần chết”. Thêm phần trích dẫn kiêủ 101 sẽ bị mắng theo kiểu khác, và làm đại chúng rối rắm, khó hoặc không hiểu.

    5. Trong một cuộc trao đổi ý kiến nghiêm túc, trên những đề tài nghiêm túc, quan trọng, chúng ta phải có can đảm và chấp nhận minh danh, dù sẽ gặp khó khăn với gia đình, bè bạn, và với chính hình ảnh của mình tạo ra do ý kiến của mình.

    Lời phê bình có thể khó nuốt, khó chấp nhận cho người nghe, nhưng người góp ý phải ký tên thật, rõ ràng để chịu trách nhiệm về ý kiến của mình.

    Khi bảo vệ, vinh danh sự thực, những điều cao đẹp, chúng ta cần tự tin, can đảm xưng danh rõ ràng, minh bạch.

    Được đóng góp về những “tiêu chuẩn luận văn vở lòng 101” , nhưng tôi chưa rõ việc ký tên kiểu nặc danh là theo tiêu chuẩn nào, có cần tránh để việc trao đổi ý kiến tốt hơn hay không?

    Xin chân thành cám ơn HBH đã đóng góp. Mong rằng chúng ta sẽ có dịp trao đổi thêm. Đối thoại là một thói quen mà người Việt Nam chúng ta cần phải học tập. Năm 2004 tôi có 1 bài viết về “Đối thoại” đăng trên talawas (cùng 1 số bài khác), xin giới thiệu suy nghĩ của tôi về cách người Việt chúng ta đối thoại với nhau (bài viết năm 2004):

    http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=2904&rb=0307

    Đầu Xuân, chúng ta hãy cùng nhau thở hương Xuân và hương của bình an, của trí tuệ.

    Xin gửi quí mến và cám ơn tới các độc giả đã lưu tâm tới bài viết của tôi, dù đồng ý hay không.

    Like

  19. Anh có tin kinh thánh là lời Đức Chúa Trời không? Nền tảng để làm nên đức tin của anh là ở trên chính Chúa và lời Chúa ? Lời Chúa thì không bao giờ thay đổi.

    Like

  20. Kính chào anh Minh Phạm.

    Tôi rất vui mừng mỗi khi nhận được phản hồi cho bài đóng góp của tôi, tiếng kêu, tiếng báo động đã được nghe, đã được chuyển đi.

    Lúc đầu bài viết của tôi nhận được sự im lặng, có lúc giận dữ. Tôi gửi bài này tới 5 mục sư, 4 vị vừa có truyền thống mục sư 2, 3 đời trong gia đình, 1 mục sư thế hệ thứ I; 4 người im lặng, vị mục sư thế hệ thứ I phản ứng dữ dội nhất, lên toà giảng nêu tên tôi ra, kêu gọi Hội Thánh cầu nguyện “convict” tôi (ông dùng tiếng Anh). Sau đó tôi nhận được rất nhiều phản hồi từ tín đồ bằng email, tuyệt đại đa số là đồng tình, vui mừng là có 2 vị mục sư có phản ứng tích cực, trân trọng đóng góp của tôi (2 vị này không thuộc vào list 5 mục sư tôi gửi bài tới, nhưng họ đọc bài tôi từ một nguồn khác)

    Trong trao đổi riêng tư qua email giữa tôi và một số thân hữu TLVN, câu hỏi về Kinh Thánh đã được đặt ra với tôi (tương tự như của anh Minh Phạm). Đây là một câu hỏi quan trọng vì Kinh Thánh là tiền đề, là định đề của người Tin Lành nói chung. Do đó, dù đã suy nghĩ rất nhiều, nhưng hiện tại vì nan đề sinh kế, quĩ thời gian cực kỳ túng thiếu nên tôi xin phép khất lại câu trả lời đầy đủ hơn của tôi.

    Dẫu vậy, tôi xin anh cũng như nhiều tín hữu Tin Lành Việt Nam suy nghĩ, trao đổi, phát biểu, là cần tin, áp dụng Kinh Thánh như thế nào trong thế kỷ 21 này, để vừa là chứng nhân của Tin Lành (cái tên này rất hay, rất đẹp, rất dịu dàng), vừa không giáo điều, cực đoan; vốn là tiền đề dẫn tới giận dữ, thù hận, chém giết, và điều này đúng cho bất kỳ niềm tin, hệ tư tưởng nào trong bất kỳ bối cảnh xã hội, địa lý nào khi mình bất dung với những cái khác mình.

    Miệt thị, xúc phạm tôn giáo khác thực ra không là sản phẩm độc đáo của Tin Lành Việt Nam, mà đã là cách Công Giáo Việt Nam cư xử ở Việt Nam từ thế kỷ 16, mãi tới Công Đồng Vatican II mới bắt đầu có chuyển biến. Linh mục Laurenso Quynh trong trả lời phỏng vấn của Yves Kerihuel, nhật báo Pháp LA CROIX ngày 22.6.2009 (http://www.diendan.org/viet-nam/linh-muc-p-h-quynh-ab-phai-xay-dung-lai-tam-hon-kito-cua-giao-dan-viet-nam-bb ) đã phát biểu:

    “Từ một thế kỉ nay, tỉ số giáo dân ở Việt Nam không tăng : năm 1886 là 6,5 % (650 000 người Công giáo trên dân số 10 triệu người), năm 2000 vẫn là 6,5 % (5 triệu / 77 triệu). Bởi vì người ta vẫn tiếp tục rao giảng một thứ Ki tô giáo Tây phương. Ở đây, Giáo hội đã miệt thị đạo Phật, đạo Khổng, đạo thờ ông bà… Phải kết hợp hơn nữa niềm tin mấy trăm năm của Giáo hội với tư tưởng Việt Nam và truyền thống tổ tiên.”

    Do đà tiến hoá tiệm tiến của văn minh, sự mở rộng hiểu biết về vũ trụ, về con người, sám hối về những tang tóc, đổ vỡ khắp thế giới với những cái khác mình, mà Giáo hội Công Giáo La Mã đã nhận thức, ý thức tốt hơn, và đã hiểu Kinh Thánh không như lối người xưa viết nữa, và đã có chuyển biến rõ rệt, đáng vui mừng, xưng tụng, như bài tôi đã dẫn về Công Đồng Vatican II ở trên.

    Ở đây chúng ta không nên phân biệt Công Giáo, Tin Lành, mà nên nhìn vào cách những người có niềm tin nơi Thiên Chúa nói chung (dù vẫn có dị biệt) đã trải qua, rút kinh nghiệm, và học hỏi lẫn nhau để phụng sự cho hạnh phúc, ơn phước của con người.

    Trở lại với câu hỏi của anh, tôi xin phép trả lời ngắn gọn – có tính mời gọi cùng nhau suy nghĩ hơn là trả lời thấu đáo (dù biết là trả lời ngắn kiểu này, sẽ vô cùng thiếu sót, dẫn tới hiểu lầm vì không thể có ý kiến nghiêm túc về một tác phẩm vĩ đại bằng vài giòng chữ), là những thái độ xúc phạm, miệt thị với những tôn giáo khác, niềm tin khác của Công Giáo xưa kia, và của Tin Lành Việt Nam ngày nay không phải ngẫu nhiên, nhưng có tính hệ thống, được dẫn giải từ Kinh Thánh, về cách hiểu Kinh Thánh, tính theo thời gian từ hôm nay (năm 2015) trở về trước (năm 0).

    “Ôn cố nhi tri tân”, thế thì dẫn giải, hiểu Kinh Thánh như thế nào trong thời đại hôm nay, và cho mai sau: một, hai, ba, bốn … ngàn năm nữa, mà không gây thù hận, giết nhau (gieo cái gì thì gặt cái đó, gieo chỗ nào gặt chỗ đó) khi những ngôn từ, suy nghĩ như “cái lũ ngoại đạo” … vẫn là điều mà tôi thường trực được nghe từ người Tin Lành Việt Nam, sẽ là trách nhiệm của những người yêu mến Chúa, muốn rao giảng Tin Lành.

    Đừng tự biến mình thành kẻ thù của người khác mình khi thường xuyên miệt thị, xúc phạm họ, khi thường xuyên xây thành luỹ quanh mình. Hãy nhìn mặt trăng thay vì nhìn ngón tay chỉ mặt trăng. Hiểu, áp dụng Phúc Âm như thế nào (tôi thích chữ này hơn Kinh Thánh) để ân sủng, phúc lành đổ xuống cho những người tin và cả những kẻ không tin, mưa lành đổ xuống cho muôn loài.

    Like

  21. Đọc bài viết của chú, con thấy có nhiều điểm tương đồng với nhận thức của con. Gia đình con vốn theo đạo Công Giáo, sau này ba má con tin Chúa và hướng dẫn các anh em con theo. Thời gian đầu niềm tin con thực sự rất đơn sơ, con chỉ nghĩ đơn giản là mình nói cho người khác về tình yêu Chúa, còn bản thân sống theo lời Chúa dạy. Tuy nhiên khi ở càng lâu bên trong con lại càng cảm thấy mình lạc loài, vì con có quá nhiều suy nghĩ khác biệt với những người theo đạo Tin Lành, đặc biệt là ba con. Nhiều khi ba con cứ nói những lời gần như xem thường những người theo tôn giáo khác khiến con rất bất bình, nhưng thực sự con không có tiếng nói trong nhà, vì ba con thuộc dạng bảo thủ và cũng thuộc dạng đàn ông gia trưởng. Ngoài ra con còn rất nhiều suy nghĩ khác như việc nghỉ ngày chủ nhật, con biết Chúa yêu con người nên lập cho con người có ngày nghỉ để đảm bảo sức khỏe và có thời gian thờ phượng Chúa, nghỉ ngày chủ nhật là 1 ngày thống nhất chung chứ cũng không phải ngày đúng theo ngày của người Do Thái, nên theo con nếu đi làm ở 1 công ty được nghỉ ngày thứ 2 thay chủ nhật thì bản thân người đó cứ xem đó là ngày sabat cho mình cũng đâu có sao, quan trọng là tấm lòng thờ phượng Chúa của mình. Vậy mà con biết nhiều anh chị phải làm ngày chủ nhật thì được xem là sai.Tiếp nữa là chuyện mua vé số, con cũng chẳng biết tại sao cứ quy kết như vậy là sai trái, vì nói thật thỉnh thoảng con vẫn mua vé số vì lâu lâu hứng hay khi con muốn giúp đỡ 1 người nghèo lao động chân chính con vẫn mua như thường. Rồi con cũng bất bình trong nhiều việc mà đa số nhiều người Tin lành xem là phạm luật, ví dụ uống bia, con chưa bao giờ ham thích uống bia hay nhậu nhẹt, nhưng con nghĩ trong Kinh Thánh Chúa không muốn mình luông tuồng, say sưa rượu bia chứ không phải là ngay 1 giọt cũng không được đụng vào, vì thỉnh thoảng công việc con có uống 1 ít, nhưng chưa bao giờ con để mình lâm vào tình trạng mất kiểm soát cả, đôi khi con nghĩ nếu ai trong nhà thờ nếu thấy con thể này cũng cho con là đang phạm tội cũng nên, …Nói chung có rất nhiều điểm con đang thấy mình chông chênh quá. Thực sự con Tin Chúa, con Tin Kinh Thánh, nhưng con không sống như người Tin Lành được. Hiện giờ con đang bị rơi vào khủng hoảng trong tình cảm, với những áp lực hiện tại con thấy mình rất khó lấy chồng vì mình không thể tìm kiếm ai cùng quan điểm trong Tin Lành, và người ngoại tuy theo đuổii con rất nhiều, nhưng con vẫn muốn tìm người Tin Chúa.Vì con có niềm tin thật chứ không là niềm tin Tôn giáo. Bây giờ con chỉ sống theo 2 điều răn Chúa tóm tắt là yêu Chúa và yêu người. Con không sống như tiêu chuẩn của người Tin Lành. Càng ngày con càng thấy mình bế tắc, nói người Tin Lành không hiểu mà người ngoại lại càng không!

    Like

  22. An An ơi, comment của em rất chân thực, chia sẻ của em giúp chị cảm nhận được nhiều từ góc nhìn của em như một người có đạo và muốn tìm bạn đời cùng có đạo và có chung niềm tin giống mình – niềm tin thật chứ không là niềm tin tôn giáo.

    Theo em thì người Tin Lành và người ngoại khác nhau ở điểm nào – có phải là khác nhau chỉ ở điểm có tôn giáo không? Nếu vậy thì người ngoại cũng có thể có niềm tin thật mà không phải là niềm tin tôn giáo chứ – như chị chẳng hạn 😀 Chị yêu Chúa lắm nhưng cũng giống như em, chị cảm thấy phát bệnh với tất cả những công thức cứng nhắc của bất kỳ một tổ chức tôn giáo nào. Cho nên chị nghĩ người ngoại hay Tin Lành chỉ là một “nhãn hiệu” mà thôi, có lẽ không cần phân biệt nhiều quá. Có thể có những người không biết Chúa, không tin Chúa, nhưng họ nhân hậu, tốt bụng, biết lắng nghe, hướng đến chân thiện mỹ, chị tin là người đó cũng xứng đáng được Chúa tính là người hướng đến công chính, như những tấm gương Bồ tát trên ĐCN có rất nhiều.

    An An nói về ngày Sabat rất đúng, ngoài việc đó có thể là bất cứ ngày nào để dành cho việc thờ phượng Chúa để thanh lọc trái tim của mình, như lời răn “hãy giữ trái tim trong sạch như đền thờ Chúa”. Ngoài ra còn là việc “tình yêu vượt trên công thức luật lệ”, như câu chuyện trong Phúc Âm John 5:8-13, khi Chúa đã chữa bệnh cho người tàn tật trong ngày Sabat và đây chính là lý do dẫn đến việc sau này họ đóng đinh Chúa lên cây thập giá – vì đã cứu người trong ngày Sabat – em có thể thấy sự si mê của con người không hề thay đổi qua 2000 năm!

    (8 Ðức Chúa Jesus nói với ông, “Hãy đứng dậy, vác chõng của ngươi và bước đi.” 9 Ngay lập tức người bịnh được lành; ông đứng dậy vác chõng của ông và bước đi.
    Nhưng hôm ấy lại nhằm vào ngày Sa-bát, 10 vì thế người Do-thái nói với người được chữa lành, “Hôm nay là ngày Sa-bát, ông không được phép vác chõng của ông.”
    11 Nhưng ông trả lời họ, “Người chữa lành tôi đã bảo tôi, ‘Hãy vác chõng của ngươi và bước đi.’”
    12 Họ hỏi ông, “Ai là người đã bảo ông vác chõng của ông và bước đi?”
    13 Nhưng người được chữa lành không biết người đã chữa lành cho mình là ai, vì Ðức Chúa Jesus đã bước sang chỗ khác, và nơi đó rất đông người.)

    Nhưng việc của mình là yêu thương cả những sự cứng nhắc, bảo thủ và gia trưởng ấy, giống như Chúa đã chịu để cho người ta đóng đinh, bởi Người biết không dễ gì thay đổi được trái tim và niềm tin của người khác. Chị cảm nhận được những băn khoăn của em khi cảm thấy như không ai hiểu mình, nhưng có lẽ mình chỉ nên cầu mình hiểu người chứ không cầu người hiểu mình – công thức tâm linh một chiều của ĐCN.

    Chị hi vọng em sẽ gặp được người phù hợp với mình sớm thôi, khi đó trái tim của em sẽ tự khắc nói cho em biết – bởi trái tim có Chúa luôn biết rõ mọi điều.

    Chúc em vui và cảm thấy vững tin, không còn chông chênh nữa 🙂

    Thân mến,
    TH

    Like

  23. Em thich comment cua chi Huong, “yeu thuong ca nhung su cung nhac bao thu va gia truong ay “, nhieu luc em cung co moi bat hoa trong long voi cac vi be tren trong ton giao nhung em van nghi do la chuong trinh cua Chua nen e chon song hoa binh va yeu thuong luon nhung dieu ay.
    Hi An An, mong ban luon duoc binh an, minh thay ban rat yeu Chua va song gan voi Ngai, minh hieu nhung ban khoan cua ban khi tim nguoi ban doi. Minh cung vay, truoc day minh rat buon rau khi nguoi minh thuong men ko co cung niem tin, ma ban biet ko, Chua thuong minh den muc da xoay chuyen trai tim nguoi ay tron ven ve phia Ngai, minh chang con loi cam on nao hon! Minh nguyen cau cho ban som hieu duoc y Chua trong nhung ban khoan cua minh.
    Hop

    Like

  24. Thân gửi bác Dũng!
    Cháu đã đọc rất kỹ bài bác viết và thực sự cháu cảm ơn bác rất nhiều vì bài viết đó.
    2 tuần nay gia đình cháu thực sự khủng hoảng vì em trai cháu đi theo đạo tin lành và bác bỏ việc thờ cúng tổ tiên, nhà cháu có mình em là con trai nên bố mẹ cháu thực sự rất sốc và buồn. cháu không biết làm thế nào để khuyên bảo em cả. cháu biết là kinh thánh rất tốt, dạy cho em cháu không uống rượu, không hút thúc, cờ bạc trai gái, giúp em cháu có được niềm tin giữa xa hội Việt Nam ngày nay đầy dẫy những thông tin thật giả lẫn lộn, tai nạn, giết người, lối sống trụy lạc….khiến con người ta nếu không có đủ sự tỉnh táo và lý trí dễ bị lầm đường lạc lối.
    Cháu cũng nghĩ rằng là con người thế kỷ 21, chúng ta cần phải vươn lên, vươn xa để học hỏi những điều tốt, điều hay và tiến bộ của thế giới nhân loại. Tuy nhiên cũng cần phải dung hòa với truyền thống bản sắc dân tộc để chúng ta có hòa nhập nhưng không hòa tan. Cháu không theo tôn giáo nào nhưng việc thờ cúng tổ tiên ông bà cha mẹ là một điều thiêng liêng, là tình yêu, là sự biết ơn vô bờ bến, Nó khác với việc thờ chúa. Chúa luôn luôn tồn tại nhưng sao chúa lại khiến người theo chúa lại từ bỏ đi truyền thống tốt đẹp như vậy lại xung đột sâu sắc với những người không theo chúa đến vậy? sao chúa không giúp chúng con cũng hòa hợp với nhau sống theo gương chúa và giữ gìn truyền thống của gia đình, tổ tiên?
    Cháu Thống thiết cầu mong những mục sư HTLVLVN có thế nghiên cứu để điều chỉnh Lời Chúa cho phù hợp với lịch sửm văn hóa của từng Dân tộc. như vậy lời của chúa mới lay động tới tất cả mọi con người.
    Một lần nữa cháu cảm ơn Bác Dũng!

    Like

  25. Chào Thảo,

    Bác Dũng có lẽ sẽ có câu trả lời cho cháu sau, trong thời gian chờ đợi bác Hoành cho cháu câu trả lời. Bác Hoành giảng và nghiên cứu Thánh kinh với các mục sư cao cấp ở Mỹ và các vị sẽ làm thầy cao cấp về Thánh kinh. Và bác Hoành là tư vấn pháp lý cho Trung Tâm Dịch Thánh Kinh Thế Giới về việc phân phối Thánh kinh tại Việt Nam.

    Đây là Mười Điều Răn trong Thánh kinh:

      1. Ta là Chúa, Đức Chúa Trời của con, người đã đưa con ra khỏi Ai Cập, thoát khỏi mảnh đất nô lệ. Trước ta, con đừng công nhận bất kỳ thánh thần nào khác.

      2. Con đừng dựng tượng theo hình bất kỳ vật gì trên trời hay dưới đất hay trong nước. Con đừng quỳ lạy những hình tượng như vậy, cũng đừng thờ phụng các tượng ấy; vì ta, Chúa, Đức Chúa Trời của con, là Đức Chúa Trời cả ghen, trừng phạt đến ba bốn đời con cháu vì tội lỗi của cha ông đối với những kẻ ghét ta, nhưng cũng thể hiện tình yêu đến ngàn đời đối với những người yêu ta và giữ theo các điều răn của ta.

      3. Con đừng dùng tên Chúa, Đức Chúa Trời của con sai mục đích; vì Chúa sẽ không bỏ qua cho người nào dùng tên của Ngài sai mục đích.

      4. Hãy nhớ ngày Sabbath bằng cách xem đó là ngày thánh. Trong sáu ngày con sẽ lao động và làm mọi việc của mình, nhưng ngày thứ bảy là ngày Sabbath để thờ phụng Chúa, Đức Chúa Trời của con. Vào ngày này, con đừng làm bất kỳ việc gì, con, con trai, con gái của con, đầy tớ trai và gái của con, súc vật của con, cũng như người lạ nào đó đang ở trong nhà con đều sẽ không làm việc. Vì trong sáu ngày, Chúa đã tạo nên thiên đường, mặt đất, biển và mọi thứ trên và trong đó, nhưng Ngài đã nghỉ ngày thứ bảy. Do đó Chúa đã ban phúc cho ngày Sabbath và giữ ngày này làm ngày thánh.

      5. Hãy hiếu kính cha mẹ con để con có thể được sống lâu trên mảnh đất mà Chúa, Đức Chúa Trời của con đang dành cho con.

      6. Con đừng giết người.

      7. Con đừng phạm tội tà dâm.

      8. Con đừng trộm cướp.

      9. Con đừng làm chứng sai gây hại cho người xung quanh mình.

      10. Con đừng ham muốn nhà của người xung quanh mình. Con đừng ham muốn vợ của người xung quanh mình, đầy tớ trai hay gái, bò hay lừa, hay bất kỳ vật gì thuộc về người xung quanh mình.”

      (Ngô Quỳnh Linh dịch)

       

      The Ten Commandments

      And God spoke all these words:

      “I am the Lord your God, who brought you out of Egypt, out of the land of slavery. You shall have no other gods before me.

      You shall not make for yourself an idol in the form of anything that is in heaven above or on the earth beneath or in the water below. You shall not bow down to them or worship them; for I, the Lord your God, am a jealous God, punishing the children for the sin of the fathers to the third and the fourth generation of those who hate me, but showing love to a thousand generations of those who love me and keep my commandments.

      You shall not misuse of the name of the Lord your God, for the Lord will not hold anyone guiltless who misuses his name.

      Remember the Sabbath day by keeping it holy. Six days you shall labour and do all your work, but the seventh day is a Sabbath to the Lord your God. On it you shall not do any work, neither you, nor your son or your daughter, nor your manservant or maidservant, nor your animals, nor the alien within your gates. For in six days the Lord made the heaven and the earth, the sea, and all that is in them, but rested the seventh day. Therefore the Lord blessed the Sabbath day and made it holy.

      Honour your father and your mother, so that you might live long in the land the Lord your God is giving you.

      You shall not murder.

      You shall not commit adultery.

      You shall not steal.

      You shall not bear false testimony against your neighbour.

      You shall not covet your neighbour’s house. You shall not covet your neighbour’s wife, or manservant or maidservant, his ox or donkey, or anything that belongs to your neighbour.”

      (Trích từ Holy Bible, New International Version do International Bible Society xuất bản năm 1984)

    Bốn điều răn đầu tiên, kể cả điều răn thứ hai chống tôn thờ hình tượng, là nói về Đức Chúa Trời.

    Sở dĩ có điều răn thứ hai – Con đừng dựng tượng theo hình bất kỳ vật gì trên trời hay dưới đất hay trong nước. Con đừng quỳ lạy những hình tượng như vậy, cũng đừng thờ phụng các tượng ấy – vì thời Cựu ước thiên hạ thờ đủ loại hình tượng NHƯ LÀ CHÚA TRỜi, kể cả tượng bò vàng.

    Điều răn thứ hai cấm thờ các hình tượng như là Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời không thể gom vào hình tượng nào cả. Cũng như về tên gọi thì không thể gọi Đức Chúa Trời là tên gì cả nên phải gọi tên Chúa là “Ta là Ta” hay “Ta là Đấng tự hữu hằng hữu”:

      Môi-se thưa với Đức Chúa Trời: “Giả thử con đến nói với dân Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời của tổ tiên chúng ta sai tôi đến với anh chị em và họ hỏi con: “Ngài tên chi?” thì con phải trả lời thế nào?” 14 Đức Chúa Trời đáp: “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Đây là điều con phải nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Đấng Tự Hữu Hằng Hữu sai tôi đến với anh chị em. (Exodus 3:13-14).

    Tiếng Anh câu trả lời cho câu hỏi “Ngài tên chi” là “I Am Who I Am” (Ta là Ta); bản dịch tiếng Việt dịch là “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” là đâ dịch kiểu bình giải rồi chứ không dịch sát nghĩa.

    Tóm lại, điều răn thứ hai “cấm thờ phụng các hình tượng” là nói về thờ phụng các hình tượng làm Đức Chúa Trời, chẳng ăn nhập gì đến thờ phụng bố mẹ ông bà.

    Hình ảnh ông bà tổ tiên trên bàn thờ người VN chỉ có nghĩa tưởng nhớ, kỷ niệm và tôn kính. Và từ “thờ phụng” ông bà, trong văn hóa VN, chỉ có nghĩa là tưởng nhớ, kỷ niệm và tôn kính.

    Người VN không xem việc “Thờ phụng” ông bà cha mẹ theo nghĩa “Thờ phụng Đức Chúa Trời” như là tạo hóa, tạo ra vũ trụ và con người.

    Cho nên các mục sư Tin lành đòi xóa bỏ bàn thờ ông bà tổ tiên, xóa bỏ tập tục văn hóa hiếu thảo ngàn năm, là không hiểu Thánh kinh, đồng thời không hiểu văn hóa VN về thờ cúng ông bà, mà lại kiêu căng. Việc thờ cúng ông bà hoàn toàn chẳng liên quan về đến điều răn thứ hai. Các mục sư như vậy vừa dốt vừa phá hoại văn hóa VN.

    Mục sư nước ngoài không hiểu văn hóa Vn đã đành, mục sư VN mà dốt văn hóa nước mình là có tội với tổ tiên, và cả có tội với Chúa.

    Cháu thấy mục sư nào dạy như thế, thì cho mục sư ấy đoạn phản hồi này của bác Hoành và cho họ luôn email của bác Hoành, và mời họ nói chuyện trực tiếp với bác Hoành tại tdhoanh@gmail.com.

    Chúa Giêsu dạy yêu người và nhẫn nhịn (“Nhưng ta bảo các con, đừng chống lại một kẻ dữ, nếu ai tát con má bên phải hãy đưa cho họ má kia nữa” – “But I say to you, do not resist an evil person; but whoever slaps you on your right cheek, turn the other to him also.” Matthew 5:39).

    Chúa không ngồi yên đế thấy lời Chúa bị biến thành khí cụ chia rẻ và chiến tranh, đó là chống Chúa (anti-Christ). God is love (1 John 4:8). Chúa là tình yêu.

    Mục sư VN có nhiệm vụ giáo dục mục sư nước ngoài về văn hóa VN, không thể nhắm mắt nghe lời họ vì họ không biết gì về văn hóa VN. Các mục sư VN lại mù hơn mục sư nước ngoài trong vân hóa VN sao? Rất tiếc đó là sự thật, vì rất ít mục sư VN thành tâm xin được thánh linh Chúa khai mở, vì họ không trông cậy vào thánh linh Chúa bao giờ, và chỉ biết nhắm mắt nghe theo mục sư nước ngoài mà không biết họ có nhiệm vụ dạy các mục sư nước ngoài về văn hóa VN.

    Xin chúa Giêsu Christ đến với mọi người dân VN. Xin Chúa khai mở đầu óc các mục sư VN để thực sự hiểu được lời Chúa và họ biết dạy các mục sư nước ngoài về lời Chúa và về văn hóa VN, chấm dứt chia rẻ mù quáng, xây dựng hòa bình cho Việt Nam, và vinh danh Chúa trong thế gian.

    Chúc gia đình Thảo được bình an và đứa em Thảo sẽ biết học đúng thầy.

    Bác Hoành

    Like

  26. Ghi chú riêng kính gửi anh Hoành: Xin anh vui lòng gửi 1 email cho An An là người có góp ý cho bài của tôi (Tháng Năm 26, 2015 vào lúc 12:23 chiều) là tôi có trả lời cho An An chung với Thảo trong thơ này. Cám ơn anh Hoành rất nhiều.

    Hai bạn An An và Thảo thân mến.

    Bác Hoành góp ý với các bạn ở phương diện tôn giáo, tôi góp ý từ vị trí một “trí thức” có cái nhìn từ nhiều mặt chính trị, thời sự, văn hoá …

    Vì quá bận (tôi đang tìm việc, phải chuẩn bị interview liên tục cho công việc mới), nên xin phép chỉ trả lời chấm phá, mang tính cùng nhau gợi ý suy nghĩ. Vì nghĩ vội nên xin bỏ qua những điểm không chính chắn, không đúng (vì tôi viết theo ít nhiều theo kiểu brain storming, https://en.wikipedia.org/wiki/Brainstorming). Dẫu vậy tôi cũng “lan man” đi xa, để vừa tương đối hoá mọi vấn đề, vừa tìm ra những tương đồng của những vấn đê thuộc những lãnh vực khác, và thấy chúng có thể có chung một phương hướng giải quyết.

    Muốn nhìn một vấn đề thấu đáo chúng ta phải đi ra khỏi vấn đề để nhìn nó. Có nhiều công cụ để quan sát một vấn đề, một công cụ là lịch sử. Nhìn 1 thiên hà cách ta 4 tỉ năm ánh sáng có thể coi như đang thấy hình ảnh của chính thiên hà chúng ta vào 4 tỉ năm xưa. Nên nhìn ngày xưa, để tìm hiểu tại sao nó là ngày nay như thế này trước mắt chúng ta.

    Vấn đề chống tất cả các thứ khác mình (Phật, Lão, Khổng, thờ cúng tổ tiên) như tôi đã nêu trong bài về giáo sĩ Đắc Lộ Alexandre de Rhodes, cũng là 1 tinh thần phổ biến trong giới truyền giáo Thiên Chúa ở VN vào trước Cộng Đồng Vatican II, nó thành nếp sống cho giáo dân VN, và đã gây ra đổ máu kinh hoàng, khoảng 100000 tử đạo tại VN. Ngay vào năm 1963 tức là gần đây thôi, nhiều nhà sư Phật Giáo đã tự thiêu vì kỳ thị tôn giáo. Không thấy, hay thấy mà làm lơ, lịch sử sẽ lập lại, dưới dạng này hay dạng khác, vì khi những biến số cơ bản của phương trình giống nhau sẽ cho những kết quả tựa tựa như nhau. Kỳ thị, bài xích, có cái nhìn tiêu cực xấu xa về nhau chắc chắn sẽ gây hận thù, xung đột dù nó mang mỹ từ nào, cứu cánh tốt đẹp nơi một thiên đường xa vời nào.

    Không có phép lạ nào nếu chúng ta không dùng cái đầu của mình, để bình tĩnh nhìn, phân tích và cùng nhau tìm giải pháp.

    Lịch sử cho thấy Giáo hội Công Giáo đã thấy vấn đề, đã có cách giải quyết cái nhìn về tôn giáo khác, văn hoá bản địa, theo thiển ý là đi đúng hướng. Chúng ta hãy cùng nhau suy luận, nhìn lại quãng đường Giáo Hội Công Giáo La mã đi qua từ 1950 tới nay để soi vấn đề chúng ta đang bàn luận:

    Từ việc xét phong thánh cho Mẹ Theresa, người đã được giải Nobel Hoà Bình để ghi nhận, tri ân những gì bà đã làm cho nhân loại thông qua việc phục vụ cho những người trong cùng cực của sự khổ ờ Ấn Độ, toà thánh Vatican trong quá trình cẩn thận điều tra cuộc đời của bà, khám phá rằng bên cạnh những lời tuyên bố trước công chúng rất hùng hồn về đức tin của mình, Mẹ Therasa đã có những cơn khủng khoảng kéo dài hàng chục năm, nghi ngờ, hoang mang là nếu Thiên Chúa có thật thì sao ngài lại bất công để có những người quá sức khổ, như bà hằng thấy và chăm sóc trong cả cuộc đời bà. Những khoảng thời gian khủng hoảng cả chục năm này được ghi lại trung thực trong hồ sơ phong thánh cho Mẹ Theresa.

    Qua chuyện Mẹ Theresa, ta hiểu là Toà thánh Vatican có một guồng máy khá khách quan để tìm hiểu sự việc, những gì xảy ra trên thế giới, dù chúng có thể làm không hài lòng những người chỉ quen nghe một thứ, một màu hồng. Và tôi nghĩ là guồng máy tìm hiểu này đã làm cho Vatican thấy cách nhận thức Kinh Thánh theo kiểu cũ từ ngàn xưa để lại, đã gây ra những tang tóc đổ vỡ khi sự hiểu, áp dụng Kinh Thánh một cách từ chương, sơ cứng, giáo điều làm lấn áp thông điệp cơ bản: Kính Chúa, Yêu Người, Ơn Cứu độ, gây ra kết quả thấy rất rõ là chết chóc, hận thù, là những hồ sơ Thánh Tử Đạo mà Vatican phải xem xét trước khi phong thánh.

    Giáo Hoàng Gioan XXIII khi đề xướng Cộng Đồng Vatican chỉ làm một công việc mà không sớm thì muộn cũng có người khác làm, khi vấn nạn đã rõ, đã thấy bởi nhiều người; khi ngoài những giáo phẩm, giáo dân Thiên Chúa, cả nhân loại chung quanh không ngừng xét lại mọi định kiến , mọi “chân lý”. Không còn ai độc quyền diễn dịch chân lý nữa, nhất là diễn dịch theo kiểu Thượng Cổ kiểu những con người theo văn minh bộ lạc, bầy đàn, kỳ thị những cái khác mình, co cụm tự vệ trong những ghetto; thay vì từ cái nhìn nhân bản ở tầm vóc nhân loại, nhìn những đại đồng thay vì tiểu dị, tích cực của nhau thay vì tiêu cực.

    Nay ta xét sang một mặt khác là cách giải quyết vấn đề khi đã thấy vấn đề của Giáo Hội Công Giáo La Mã.

    Những giáo hoàng đâu tiên là những người tử đạo. Với thời gian và bản tính con người, như mọi tổ chức khác của con người, sự tha hoá, suy đồi xảy ra, nhiều giáo hoàng biến chất, tồi tệ, phạm tội ác. Nhưng do tổ chức, Giáo hội vẫn là 1 định chế rất vững bền. Có giáo hoàng chế ra những điều quái gỡ, sai trái như giáo hoàng có ơn vô ngộ (không thể sai lầm), điều này làm dấy lên bao nỗi bất bình. Nhưng trong cái rủi có cái may, những giáo hoàng về sau không thể nào phán bảo tuỳ tiện nếu không muốn thấy những làn sóng đập ngược lại. Chính vì thế, mà giáo hoàng Gioan XXIII khi tổ chức Công Đồng Vatican II, đã dùng sự suy nghĩ tập thể, có mời quan sát từ Chính Thống Giáo, Tin Lành, dựa trên dữ liệu thu thập từ trước, đưa tới những Văn Kiện đúc kết của Công Đồng Vatican II. Cách làm việc tập thể, thảo luận, cầu nguyện trong một thời gian dài làm Công Đồng Vatican II có một sức thuyết phục mạnh mẽ, ảnh hưởng tốt lành tới nhân loại, khác với một phán quyết của một Đức Giáo Hoàng “vô ngộ”, một hội đồng Hồng Y thu hẹp. Không phải Giáo hoàng tài giỏi gì, mà vì con người đã tiến bộ, đã học bài học lịch sử.

    Nhờ đặc tính tổ chức của Giáo hội Công Giáo La Mã, trên bảo dưới nghe, “đức vâng lời” nên Công Giáo đã giải quyết được khá ổn thoả chuyện thờ cúng tổ tiên ở VN và những nơi có văn hoá tương tự. Tinh thần Kính Chúa, Yêu Người, sự Cứu Rỗi…. vẫn sống chung hài hoà với phong tục thờ cúng tổ tiên của VN. Tương tự, mình yêu mẹ mình cách khác, yêu vợ hay người yêu khác, yêu con gái ruột mình khác; không phải yêu mẹ rồi cấm tiệt thứ yêu thương khác. Dù hiển nhiên như vậy, nhưng nêu không có Công Đồng Vatican II thì ngày nay Công Giáo VN vẫn chống thờ cúng ông bà; may phước, thời đại đã giúp Vatican đi tới một công trình dài hơn, có sự tán đồng toàn cầu, cởi cái nút giáo điều này cho giáo dân Thiên Chúa VN.

    Trở lại Tin Lành : sau những bất bình với nhà thờ Tin Lành VN, tôi đi nhiều nhà thờ Tin Lành Mỹ, và thấy là họ rất khác nhau dù bề ngoài giống nhau. Nói chuyện với cô Carole Milky, nguời Mỹ Tin Lành, đồng nghiệp, cô cười và trả lời “chính tôi khi ở tiểu bang nhỏ cũng thấy nhiều điều vô ly’, khi ở nhiều tiểu bang khác nhau, có nhiều lúc tôi rất loạng choạng, khủng hoảng, hụt hẫng vì nhà thờ A quá phóng túng, trong khi nhà nhờ B lại quá bảo thủ, chống mọi thứ, co cụm thành ghetto…”, nhà thờ nào cũng nói là mình theo đúng Kinh Thánh nhất, mà lại rất khác nhau về cách hành đạo, có nhà thờ ngăn cái này triệt để, khuyến khích cái kia. Bài học tôi rút ra, là đừng tuyệt đối răm rắp nghe theo mục sư của hệ phái A, B, C , họ nói vậy như đinh đóng cột vì họ là từ nhánh A, cha mẹ cũng là A, họ chỉ thấy có A là đúng; nhưng nhiều điều nhánh A làm lại bị chê bai, coi thường bởi nhánh B hay C, thậm chí B còn coi A là tà đạo.

    Đuờng hướng vạch ra bởi mục sư Irving R Stebbin và vài mục sư Mỹ khác cho Hội Thánh Tin Lành VN không khác trong việc chống thờ cúng tổ tiên, các mục sư này chỉ là một nhánh A, B hay C , và họ hiểu Kinh Thánh, diễn dịch theo kiểu A, B hay C của họ. Các mục sư VN hôm nay có quyền nhìn lại vấn đề, có bổn phận nhìn lại vấn đề, để lời Chúa hằng sống, sinh động tớí VN thay vì ôm tư tưởng Stebbins của nhánh A, B, C nào đó gây ra những hận thù hiềm khích không nên có.

    Nhiều hệ phái Tin Lành không có một tổng hành dinh chung như Vatican, nên sẽ không có chuyện có chính sách chung ban ra như Vatican II về văn hoá bản địa, thờ cúng tổ tiên, mà dựa trên suy nghĩ của từng tổ chức nhỏ hơn, trong những tổ chức nhỏ hơn, lịch sử va chạm khi truyền giáo cũng mỏng hơn, trình độ nhận thức, hiểu biết của mục sư cũng ít hơn, nên ít có người thấy vấn để là quan trọng phải động não, giải quyết.

    Riêng với những nhà thờ Tin Lành Việt Nam mà tôi biết, đã dự lễ, tôi dám đoán 95% không mục sư nào dám đụng tới giáo điều chống thờ cúng tổ tiên mà mục sư Irving R Stebbins đặt ra cho hội thánh TLVN khi ông mới 34 tuổi, mà nay nó đã thành nếp cho Tin Lành VN.

    Đề nghị: Thay vì sáng chế lại bánh xe, chúng ta hãy dùng công trình tim óc trí tuệ của những văn kiện của công đồng Vatican II, học hỏi, áp dụng những gì có thể dùng. Đừng nhìn khác biệt Công Giáo, Tin Lành, mà hãy xem cách những người cũng tin Chúa (đã tôn xưng niềm tin của mình mãnh liệt bằng cách lựa chọn cuộc sống độc thân để đối tượng yêu thương chỉ còn là Chúa và Người), cách những học giả, cách những người cũng không ngừng cầu nguyện Thiên Chúa soi sáng, đã xem xét vấn đề văn hoá bản địa, thờ cúng tổ tiên ra sao, để mà khiêm tốn học hỏi lẫn nhau hầu giải quyết những chuyện sẽ xảy ra vì nó đã xảy ra.

    Khoảng 10 năm trở lại, Internet, cellular phone, text … đã thay đổi diện mạo, cách thế giới thấy và tương tác với vấn đ ề. Lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ, khả năng gây quĩ tranh cử tổng thống rất tốn kém, thường được tài trợ bởi các nhà tài phiệt, công ty lớn bị đánh bại bởi 1 mạng lưới dày đặc, sâu rộng cùng khắp của các cảm tình viên của Barak Obama qua text, Internet, tweeter… hàng chục triệu người, kẻ vài đô, kẻ mấy chục hay hơn đã đưa Obama, một chàng da đen trẻ tuổi làm tổng thống Mỹ. Mùa xuân Ả Rập mang làn sóng dân chủ quét qua những thành trì kiên cố của văn minh bộ tộc, tôn giáo Ả Rập cũng bằng Internet. Cách mạng dù ở HồngKông mới đây, nơi mà văn minh Khổng giáo trọng thứ tự trưởng thượng, tuổi tác, tôn ti trật tự, đã có Joshua Wong một “oắt con” nhờ Internet huy động một phong trào dân chủ làm rúng động chính quyền Hồng K ông, Bắc Kinh.

    Khi đặt vấn đề với quí mục sư, cũng cần nhìn tới khối tín hữu vững chắc từ nhiều đời, là thông gia qua lại với nhau, có cùng một ứng xử, cách nhìn khá giống nhau về thờ cúng tổ tiên, cái nhìn xấu về những cái khác mình vì được giáo dục củng cố như vậy từ mục sư, từ cha mẹ, bà con.

    Nên một mục sư nào mà lên toà giảng nói tốt về thờ cúng tổ tiên, tốt về những cái khác, thì hoặc là mục sư phải ra đi, hoặc khoảng 2/3 nhà thờ sẽ đi nhóm chỗ khác (như nhà thờ cũ tôi đi khoảng trên 30 người thì 3/4 là gia đình của những mục sư khác, học từ nhỏ một kiểu nhìn Stebbins).

    Nên không thể trông cậy vào sự suy nghĩ, tiên phong của quí mục sư, hay của khối tín hữu, không thể xin họ nghĩ, giải quyết cho mình những vấn đề này.

    Chính những tín đồ thấy vấn đề, những người trẻ tuổi khi thấy những vô lý, bất cập, thái quá nên trao đổi với nhau, lưu hành những suy nghĩ , nhận xét, đề nghị dùng những phương tiện như email, blog, forum … trên Internet để phổ biến những đóng góp chân thành, xây dựng cũng như chỉ trích trong tinh thần tích cực, một thái độ ôn hoà, để thấy nhiều mặt của vấn đề.

    Tới một lúc nào đó, dư luận quần chúng đủ mạnh, đủ lớn, trao đổi nhiều thì ý tưởng tốt, hay có cơ hội phát triển, sẽ thúc đầy quí mục sư, quí tín hữu bảo thủ nhìn lại vấn đề, nhưng không thể xin họ giải quyết suy nghĩ dùm mình ngay từ đầu. Qua trao đổi với một số mục sư về thơ ngỏ của tôi, trong đó 2 vị là tiến sĩ thần học, 1 vị cao học thần học tại Mỹ, tôi thấy đa số ít lắng nghe, chỉ lập lại những thủ đắc từ nhỏ, có người thấy tôi thì tránh nhìn thẳng vô mắt, hoặc lên toà giảng convict tôi là tôi xúc phạm Chúa. Những phản ứng trên là chuyện bình thường, vì niềm tin tôn giáo là một cái gì vững chắc, khó phá vỡ như nhân một nguyên tử, cái cứng ngắc này cũng có những hệ luỵ tương ứng. Nhưng kinh nghiệm của tôi là xin, góp ý với quí mục sư hiệu quả rất ít, phải tìm đường khác.

    Không chỉ ở nhà thờ VN: khi tới nhà thờ Mỹ còn sửng sốt hơn, tôi dự một lớp học giáo lý chung với thằng bé 10 tuổi của tôi, cô giáo giảng “we must obey God, even he is mean, we can only pray so he is kind to us, we obey him because he is our maker”, qua bài giáo lý này, con người thành 1 cục bột mà thượng đế muốn làm gì thì làm, thượng đế có xấu thì cũng chỉ biết năn nỉ cho tốt. Thằng bé con tôi nói “sao bố muốn con đi nhà thờ Mỹ, họ nói sai bố thấy không?” Do đó đừng có nhắm mắt nghe hay xin mục sư Việt hay Mỹ giải quyết vấn đề cho mình. Thành thật mà nói, nhiều mục sư rất kém, dù là Việt hay Mỹ, không phải mục sư Mỹ là giỏi hay đúng hơn mục sư Việt.

    Vì bài này là “brainstorming” nên cũng xin bỏ qua những sai sót chắc chắn có. Hẹn các bạn kỳ sau.

    Like

  27. Chú cho con hỏi, có phải Hội Thánh Đức Chúa Trời là từ Tin Lành mà ra? Con mới làm lễ rửa tội bên Công Giáo, nghe thử họ truyền đạo được 2 tháng thì họ nói thờ phụng ông bà qua hình ảnh là thờ ma quỷ , sao giống TIn lành quá nên con đang rối lắm, không biết tin vào đâu nữa!

    Like

  28. Xin kính nhờ anh Trần Đình Hoành cũng như các bạn Công Giáo, Tin Lành đóng góp thêm cho câu trả lời cho bạn M.N.

    1/ Sau gần 7 năm đi một nhà thờ TLVN do một mục sư trẻ tuổi, có bằng kỹ sư toán tin ở VN, học thần học tại VN và có thêm cao học thần học tại Mỹ, 3 đời là ms (ông nội, cha, bản thân), tôi nhiều lần đóng góp với ông về những điêù đã nêu ra trong bài viết của tôi bằng email, nói chuyện khi ăn cơm chung, và ông là một trong 4 mục sư đầu tiên mà tôi gửi bài “Tại sao nhiều người TL ….” này tới. Trên 1 năm ruỡi sau khi đọc bài của tôi, nói chuyện nhiều lần với tôi, ông vẫn giảng gần 40 phút “ai không tin Chúa là kẻ dữ”, lời của ông vẫn là lời miệt thị, xúc phạm những người không cùng niềm tin với ông.

    Trong các bài giảng về 10 điêù răn của ông, ông vẫn phủ định và loại trừ tất cả những điều khác (không phải Chúa là số 1, các thứ khác là 2, 3, 4 mà chỉ có số 1 mà thôi). Có lẽ vì ông không đi làm như những người bình thường, ông ăn lương của nhà thờ từ tiền đóng góp của tín đồ, không phải dính dáng tới những phức hợp của đời sống, nên ông không được học những điều căn bản mà một người làm việc ở Mỹ phải biết là không được xét người kiểu “Labeling”. Cách đánh giá tha nhân thể hiện qua bài giảng của ông có tính Labeling, miệt thị, loại trừ những cái khác mình (https://en.wikipedia.org/wiki/Labeling_theory).

    Tín đồ của ông, những lần đầu có thể bỡ ngỡ, sau trở thành quen thuộc với ngôn từ, suy nghĩ này và nhắc lại y chang.

    Đây là một cái nhìn rất nguy hiểm, là tiền đề gián tiếp, hay trực tiếp cho các xung đột, giết nhau. Khi bị xúc phạm, từ vị trí cá nhân người ta lý luận, cố tự chủ, nhưng khi một đám đông cảm thấy bị xúc phạm thì tâm lý tập thể sẽ cuốn hàng trăm, hàng ngàn người, những người vốn dĩ rụt rè, hiền hoà thành một đám điên cuồng, giết nhau không gớm tay khi có dịp. Việc này đã xảy ra rất nhiều lần trong lịch sử, thí dụ:

    Người Ấn Độ Giáo và Hồi Giáo đã giết nhau thê thảm trước khi Ấn Độ lập quốc vào năm 1947.

    Phong trào Bình Tây Sát Tả (https://vi.wikisource.org/wiki/B%C3%ACnh_T%C3%A2y_s%C3%A1t_t%E1%BA%A3, http://lichsuvn.net/forum/showthread.php?t=9442) không phải tới từ triều đình Huế mà từ nhóm Văn Thân, từ dân chúng bị miệt thị xúc phạm bởi những giáo sĩ Tây Phương truyền qua cho giáo dân.

    Trong gần 7 năm, chưa 1 lần tôi được nghe ông mục sư giảng lời Chúa mà dù là “người ngoại” tôi đã biết từ thưỏ nhỏ, đã dùng nó như kim chỉ nam, và luôn áp dụng trong đời mình “Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Thầy bảo các con đang nghe Thầy đây: Các con hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình. Ai vả má con bên này, thì đưa cả má bên kia; ai lột áo ngoài của con, thì con cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì con hãy cho và ai lấy gì của con, thì đừng đòi lại. Các con muốn người ta làm điều gì cho các con, thì hãy làm cho người ta như vậy”

    Nhưng mỗi sáng Chúa Nhật, trước khi giảng thì ông chiếu slide dưới đây ít nhất là 5 phút để Hội Thánh nhập tâm: “Các ngươi hãy đem hết thảy phần mười vào kho, hầu cho có lương thực trong nhà ta; và từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta, Ðức Giê-hô-va vạn quân phán, xem ta có mở các cửa sổ trên trời cho các ngươi, đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng!” MA-LA-CHI 3:7-12. Trong 3 Chúa Nhật liên tiếp ông giảng đi, giảng lại trong 3 bài giảng về việc dâng phần muời.

    Vừa chán ngán, vừa thắc mắc muốn biết các nhà thờ Mỹ giảng cái gì, muốn tín đồ đóng góp tiền bạc ra sao, tôi đi nhóm ở 3 nhà thờ TL Mỹ khác nhau và khám phá là họ rất khác nhau, dù cùng dựa trên Kinh Thánh:

    – Bible Bridge Fellowship (http://thebridgebiblefellowship.com/): Không thấy nhắc nhở gì về việc dâng 1/10 income cho “Chúa” như sách Ma-la-chi (1/ cả Kinh Thánh chỉ có sách này là nêu rõ ràng số hoa lợi phải dân cho “Chúa”. Khi thẩm định tính chân thực của văn bản, người ta thường dùng luật “consistency”, xem chi tiết hay đoạn văn đó có thực không khi nó “một mình một ngựa” chỏi lại, tách riêng ra khỏi liên văn bản như trường hợp Thánh Kinh – Cựu và Tân Ước gồm nhiều sách 2/ Ms Tôn Thất Bình Tom Stebbins còn nói 1/10 là tối thiểu, nhưng phải dâng “những phần mười, tức là 2/10, 3/10…, Stebbins giảng: không làm vây là “ăn cắp của Chúa”).

    – Shepherd of the Hill Church (https://en.wikipedia.org/wiki/Shepherd_of_the_Hills_Church, ): một loại Megachurch kiểu Mỹ, đầy tính hiện đại, nhạc điện tử mở hết cỡ, mục sư mặc áo bóng rổ thể thao, cổ mang thánh giá to như các rockstar. Mục sư luôn diễu và nói “I will tell ya a stupid joke”. Nhóm xong người mệt nhoài vì tiếng động, vì những joke của mục sư.

    – Grace Community Church (https://www.gracechurch.org/): Có vẻ bảo thủ, rất nghiêm túc.

    2/ Kinh nghiệm từ 5 nhà thờ TL (2 VN, 3 Mỹ) cho tôi thấy cách hiểu và giảng đạo của những nhà thờ TL, dù trên nguyên tắc là tất cả đều dựa trên Kinh Thánh, nhưng thực tế khá khác nhau, nhà thờ này thì nhấn mạnh tới dâng 1/10 trong khi nhà thờ khác chả bao giờ đá động tới. Nhà thờ Bible Bridge Fellowship không cho nhà thờ TLVN của ông mục sư trẻ tuổi kể trên mướn một nhà thở nhỏ trong khuôn viên của họ vì khác tín lý. Có nghĩa là họ khác nhau tới mức không chấp nhận, dung nạp được nhau, dù mỗi nhóm làm lễ riêng.

    3/ Nên lời khuyên của tôi tới M.N. là hãy cân bằng Đức Tin và Lý Trí, khi nghe bất cứ ai, nhân danh điều cao đẹp nào, dù là linh mục, mục sư, hoà thượng … cũng nên phán đoán bằng chính cái đầu của mình xem nó có hợp lý hay không? Công Đồng Vatican 2 đã mở ra cái nhìn mới về mỹ tục thờ cúng tổ tiên nhưng mức độ thẩm thấu tới giáo phẩm, giáo dân chưa hẳn như nhau. Đừng nghĩ là Tin Lành là giống nhau, Tin Lành do cấu trúc tổ chức của nó, ở Mỹ có hàng trăm denomination (hệ phái) khác nhau và họ khác nhau thật sự, và ai cũng nghĩ là mình đúng hơn. Chính vì vậy không cần tuyệt đối nghe ai.

    Người VN mình có tính vâng lời, ít thắc mắc, nên cứ xem lời các cha, các thầy, các mục sư … như vàng ngọc, không dám bàn cãi phê bình, trong khi đó thời đại mới, con người ta đã quen với việc thắc mắc, phê bình. Một tín đồ Mỹ viết ” “For the sake of honesty- Pastor Phil is an idiot…..or should I say “I FEEL like Pastor Phil is an idiot”, (xem http://www.yelp.com/biz/shepherd-church-porter-ranch-4 có những đánh giá tốt lẫn xấu về nhà thờ Shepherd of the Hill Church).

    4/ Về “Con mới làm lễ rửa tội bên Công Giáo, nghe thử họ truyền đạo được 2 tháng thì họ nói thờ phụng ông bà qua hình ảnh là thờ ma quỷ”, có lẽ M.N. nên đọc lại trích dẫn của tôi tơí từ văn kiện chính thức của Vatican đã được dịch ra tiếng Việt bởi Giáo Hoàng Học Viện Piô X là nơi đào tạo các tu sĩ
    ( xem http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_%C4%91%E1%BB%93ng_Vatican%C3%B4_II , và http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vatican2/vatican2.htm)

    Cha mẹ mình sẵn sàng chết vì mình, mình cũng sẵn sàng chết cho con mình về sau, đó có phải là tình yêu hay không? Từ tình yêu vô điều kiện này, khi mình chết mình có thành ma quỉ để con mình phải tránh xa hay không?

    Một lần nữa, văn bản là văn bản, Kinh Thánh còn được diễn dịch khác nhau, nên văn kiện Vatican có thể cũng được hiểu và diễn dịch khác nhau.

    Tôi không tin ma quỉ, nhưng giả sử có ma quỉ tôi vẫn cư xử với họ tử tế, đàng hoàng, trong tình thương, sự hiểu biết, kính trọng như với con người. Con người có người tốt, người xấu. Ma quỉ nếu có, cũng có ma quỉ tốt, lẫn xấu. Không lý do gì một người tốt, chết đi lại trở thành một con ma xấu, phải miệt thị hay tránh xa. Huống chi “con ma” đó là cha mình, là mẹ mình, là anh, em hay con mình, là những người hết lòng thương yêu mình, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc, cuộc đời cho mình. Mẹ tôi mà thành một con ma thì tôi chắc chắn con ma này là một con ma nhân hậu như tôi đã thấy bà sống, giúp đỡ, hy sinh cho người khác từ hồi tôi có trí khôn. Và tôi sẽ vô cùng sung sướng được thờ phụng con ma dễ thương này, tôi cũng chắc chắn là Chúa thật sẽ không nhỏ mọn mà ganh tị với con ma mẹ tôi.

    Chuyện “ma quỉ” giản dị như vậy mà bao nhiêu thế hệ Công Giáo, Tin Lành VN không nghĩ ra?!!! Cứ chết là thành “ma quỉ”, là vơ đũa cả nắm cả bọn ma quỉ là xấu xa . Cứ nghe dạy từ những giáo sĩ Tây Phương là những người có kiến thức, lý luận từ những thế kỷ trước, rồi dạy lại nhau mà không phán đoán, suy nghĩ. Vatican 2 cũng là tác phẩm của Công Giáo thế giới nhìn ra được vấn đề, trong đó cộng đồng Công Giáo VN chỉ đóng phần thụ động, hưởng phước!

    5/ Tôi nghĩ tin gì thì tin, nhưng dấu chỉ của đức tin tốt đẹp chiếu sáng trên mặt ta, làm mặt ta hiền hoà; chưa chắc đã khôn hơn nhưng có phần minh triết hơn; không chấp nhất những cái lẩm cẩm, nhỏ mọn, bé xé ra to và xây thành cái núi; biết nhìn qua những khác biệt để con người có thể sống an bình bên cạnh nhau, sống với nhau. Điều này chỉ có thể đạt được khi Đức Tin và Trí Tuệ cân bằng, chứ không phải chỉ bằng Mầu Nhiệm Đức Tin đơn thuần.

    Mọi nhân danh tốt đẹp, cao quí nếu không đưa con người tới được điều này, cần được xem xét lại từng thành tố của nó, trong liên đới của nó với tổng thể, nếu cần thì loại bỏ nó. Cũng cần nhắc nhau là tính truyền thống, bảo thủ cũng có giá trị của nó, mọi sự việc dù chuyển hoá không ngừng nhưng cũng có tính liên tục, kế thừa, nên cần cẩn thận cân nhắc trước những tư tưởng cách tân khi xem xét những tính bảo thủ, truyền thống.

    Like

  29. Kính chào anh Lê Anh Dũng!

    Là người không có tôn giáo, nhưng tôi rất đồng ý và cảm phục những lời tâm huyết của anh – nhất là trong chia sẻ trên đây.

    Ước gì một ngày nào đó, mong muốn của anh và nhiều tín hửu Tin Lành được trở thành hiện thực. Tôi tin là khi ấy tín đồ Tin Lành tại Việt Nam sẽ đông hơn!

    Kính chúc anh luôn khỏe, vui!

    Like

  30. M.N.

    Các người trong nhà thờ thường chẳng hiểu gì về kinh thánh và Chúa Giêsu. Nói bậy bạ lăng nhăng, và thường chia rẽ với người ngoài đạo. M.N. cứ tự nghiên cứu một mình và cầu nguyện với Chúa Giêsu “cho con hiểu được đời sống và tình yêu của Chúa”.

    TỰ đọc Tin Mừng cùa thánh Matthew (Mát-thêu, Ma-thiơ) và thánh John (Gio-an Giăng), TỰ tìm hiểu một mình, đừng hỏi ai trong nhà thờ (vì theo MN kể thì trong nhà thờ không có ai đáng để hỏi).

    Đọc các bài anh Lê Anh Dũng cho links rồi em sẽ hiểu từ từ.

    A. Hoành

    Like

  31. Dạ, con cảm ơn các chú đã giải thích cho con biết, giờ con chỉ sống sao cho đúng đạo lý làm người thôi, và hằng ngày đều cầu nguyện xin Người cho con sự sáng suốt để nhận biết đâu là sự thật ạ!

    Like

  32. Thân gởi M.N

    Nhân lời khuyên của anh Trần Đình Hoành tới M.N, tôi dùng chính bất đồng của tôi trên lời khuyên này để làm thí dụ cho cách tôi khuyên M.N học hỏi, tiếp cận Thiên Chúa Giáo.

    Tôi coi anh Hoành là người đi trước, đầu tư và hiểu biết hơn tôi nhiều về những vấn đề tôn giáo, tâm linh, nên tôi xin anh cùng các bạn CG, TL đóng góp ý kiến để chúng ta có cái nhìn đa diện, phong phú hơn. Nhưng không hẳn ý kiến của họ là đúng hoàn toàn, không hẳn là mình cần nghe lời khuyên của họ hoàn toàn. Vì hành trang và quá khứ của chúng ta không giống nhau, nên trước quan điểm, giảng dạy của bất cứ ai, chúng ta cần có suy nghĩ, chiêm nghiệm riêng của mình để hướng dẫn cho đường mình đi.

    Tự học hỏi, chiêm nghiệm Kinh Thánh như anh Hoành khuyên M.N không dễ đâu, nhất là khi ta còn trẻ như M.N. Tôi tự học nhiều thứ, và biết rằng mình sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời giờ khi có thầy, hay người hướng dẫn, với điều kiện là có thầy giỏi, có người hướng dẫn hiểu biết.

    Có 2 vấn đề:

    – Tự học, không thầy: Mất nhiều thời giờ hơn rất nhiều, mò mẫm không hướng dẫn rất dễ lạc, làm chán nản, khó đi xa, đi bền, tới đích xa, trừ trường hợp xuất sắc, may mắn.

    – Học với thầy: mau hơn, thầy đi trước nên biết đường đi nước bước, lớp lang. Điều nguy hiểm là không phải thầy nào cũng giỏi, hiểu biết, cũng là minh sư. Nhiều thầy bà tào lao, dốt nát, tầm bậy, thậm chí lưu manh, nói cứ như thánh nói, núp bóng Chúa, Phật, mượn ngôn từ kinh sách mà nói ý mình, trong hiểu biết quặt quẹo, tật nguyền của mình; hay chỉ lập lại những điều tiền bối, cha ông dạy mình, mà làm lơ trước thực tế tươi sống trước mắt mình.

    Nên tôi nghĩ, đặc biệt là khi tìm “thầy”, người hướng dẫn về tôn giáo, phải đặt ra tiêu chuẩn để lựa thầy tốt, hay có thể dùng tiêu chuẩn này để sàng lọc những điều thầy giảng; vì chúng ta đôi khi phải chấp nhận những gì đang có trong tay, và tìm cách tối ưu hoá cái ta có, thay vì chạy đi tìm thầy “xịn” hoài, khi thầy “xịn” hiếm như lá mùa thu.

    =>

    Tiêu chuẩn thứ 1: tôi học được từ core value Loyola Marymount University, là “inherit and contribute to the ever-developing Catholic intellectual tradition which views the pursuit of truth as an inherent good, emphasizes both the harmony and creative tension between Faith and Reason, and embraces ecumenical and Interfaith Dialogue” (xin qúi bạn giúp dịch giùm cho tốt hơn, tôi muốn nhưng dich không được, dù hiểu ý; cuối câu cũng không sáng sủa lắm, trong khả năng và sự hiểu của mình tôi ráng dịch thoát ý, thêm chữ vào cho rõ hơn), “kế thừa và đóng góp vào truyền thống trí thức Công Giáo vốn là sự tìm kiếm theo đuổi chân lý như là một điều tốt đẹp tự thân, lưu tâm và nhấn mạnh cả hai thành tố, là hài hoà và căng thẳng sáng tạo gây ra giữa Đức Tin và Trí Tuệ, chấp nhận nhiệt tình đối thoại giữa dân Chúa với nhau, và với các tôn giáo khác”

    Tiêu chuẩn thứ 2: Đừng mất thời giờ với các thượng toạ, linh mục, mục sư … giảng như mê sảng, như say rượu, chỉ có đạo mình là nhất, nói xấu, vơ đũa cả nắm những gì khác mình, kiểu “ai không tin Chúa là kẻ dữ”, “chỉ có cửa của Chúa Jesus là cửa thật, còn các cửa khác đều là phường trộm cướp” (tôi không thiên vị, nhưng chưa nghe Phật giao nói xấu dân Chúa để nêu ra làm thí dụ, ai biết xin đóng góp để tránh) . Cần ý thức và chỉ rõ sự nguy hiểm của cái nhìn hẹp hòi, xấu xa này. Biết tha thứ đúng lúc, biết giận dữ, tố cáo đúng lúc. Hãy đổi thầy.

    Tiêu chuẩn thứ 3: Đừng đánh giá qua nhãn hiệu (labeling): Phật Giáo thế này, Tin Lành thế kia, Công Giáo thế nọ. Mở trí tuệ ra để thu nhận, học hỏi những điều hay bất kể nó tới từ đâu. Nhiều điều hay Thiên Chúa giáo có, Phật Giáo không có, và ngược lại. Nên loại trừ kiểu mục sư cũ của tôi giảng say sưa “chỉ có Chúa là số 1, ngoài ra không có số 2, 3, 4 gì cả” là một cái nhìn hẹp hòi, tự nhốt mình vào hẹp hòi để sống chung với sự loại trừ.

    Đức Đạt Lai Lạt Ma nói ông học hỏi được rất nhiều từ thái độ tích cực, dấn thân cụ thể của anh em Thiên Chúa Giáo. Thầy Thích Nhất Hạnh từ kinh nghiệm học tập ở Mỹ, Pháp, cọng với những suy nghĩ, trăn trở từ những năm 1950 về sự lạc hậu, kém cỏi của Phật Giáo VN, đã viết nhiều sách để làm mới, tươi mát Phật Giáo VN (dù có những đề nghị của ông tôi nghĩ là quá đáng, chơi dao dễ đứt tay như “thiền ôm” – ôm và quán niệm sự hiện hữu, quí báu của đối tượng. Là đàn ông, thú thật là tôi dễ rạo rực, ham muốn khi ôm một phụ nữ dù là để “thiền”, của lạ bao giờ cũng gây tò mò, hấp dẫn, Tây Phương có câu “cỏ nhà bên xanh hơn nhà mình”, nên tôi nghĩ “thiền ôm” là một đề nghị, một thực hành nhảm nhí, tầm bậy dù nó mang mỹ danh “pháp môn”; cái ham muốn nhục dục từ bản năng động vật dễ làm tiền đề cho những điều cà chớn khác tới sau. Chuyện quá rõ ràng khi ta thấy sư, tăng ăn chay để tránh sát sinh, và để diệt dục, Phật Tử tránh dùng rượu vì là rượu là chất xúc tác, là tiền đề cho mất lý trí, thế mà lại tạo môi trường, điều kiện đánh thức bản năng đực, cái của mọi động vật qua pháp môn “thiền ôm”). Tôi học hỏi được rất nhiều điều hay, kiến thức từ thầy Thích Nhất Hạnh, ông xoá đi nhiều thành kiến sai lầm, thậm chí là ác cảm của tôi với Phật Giáo qua một số điều không tốt tôi thấy khi còn nhỏ. Hiện nay tôi thích và hiểu đạo Phật do công ơn phần lớn từ sách vở của thầy TNH, nhưng tôi viết đoạn trong ngoặc có phần gay gắt để M.N thấy là không phải thầy giỏi là luôn đúng, phải dùng cái đầu riêng của mình mà phán xét.

    Ở trên là thí dụ về cách người Phật Giáo đã nhận xét và học hỏi từ Thiên Chúa Giáo, người Thiên Chúa Giáo cũng cần học hỏi từ Phật Giáo.

    Như tôi trích dẫn trong bài viết ““Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo Hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm khác nhau với chủ trương mà Giáo Hội duy trì,nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người.”

    Công Giáo đã làm một tiến bộ ngoạn mục qua tuyên ngôn trên, nhưng vẫn chưa đủ. Dân Chúa ở VN nói chung, đặc biệt là Tin Lành Việt Nam, cần nhìn xuyên qua những hình thức phản cảm, nhố nhăng, mê tín của Phật Giáo để đáp ứng nhu cầu cần được an ủi ru ngủ của con người, nên học hỏi cái logic, phương pháp luận của Phật Giáo, cụ thể và áp dụng được trong đời sống hàng ngày như Bát Chánh Đạo. (http://www.thuvien-thichnhathanh.org/index.php/tac-ph-m/68-o-pht-ap-dng-vao-i-sng-hang-ngay/473-p-chng-01-o-pht-va-s-sng?showall=&start=4). Bát Chánh Đạo là phương pháp Phật Giáo để dạy Phật tử , nhưng ông Phật hoàn toàn vắng bóng trong Bát Chánh Đạo, ta chỉ thấy suy nghĩ, lý luận. Nếu thấy đúng, áp dụng làm đời mình tốt hơn thì dùng, khi dùng cũng không cần cầu tới ông Phật làm gì.

    Tôi thấy Thiên Chúa Giáo yếu về phương pháp luận, lý luận, nhưng mặt mạnh là những bài học như ” “Thầy bảo các con đang nghe Thầy đây: Các con hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình. Ai vả má con bên này, thì đưa cả má bên kia; ai lột áo ngoài của con, thì con cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì con hãy cho và ai lấy gì của con, thì đừng đòi lại. Các con muốn người ta làm điều gì cho các con, thì hãy làm cho người ta như vậy”, bài học có vẻ không tưởng (utopic) nhưng logic,là bài học hay về cái đích mà mình nên vươn tới, vì nó xoá đi ranh giới cái “ngã” của mình, mà cái “ngã” là cái nôi của đau khổ.

    Tôi cũng ngạc nhiên và muốn bày tỏ cùng M.N lòng sung sướng của tôi khi trên 2 năm sau khi tôi viết bài, vẫn có nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ quan tâm, trao đổi với tôi về ý kiến của tôi. Tôi hiện rất bận, nên chỉ trao đổi trong chừng mực mà quĩ thời gian của tôi cho phép. Tuy nhiên, tôi sẽ tiếp tục trao đổi với độc giả trong trên thread này như là một kho dữ liệu (database) về những đóng góp với Tin Lành Việt Nam và một số bạn Công Giáo, để những giá trị Thiên Chúa hài hoà cùng dân tộc.Những thương tổn gây ra từ cách hiểu hẹp hòi của những thế kỷ trước của Thiên Chúa Giáo đã gây ra những vết thương còn mới nguyên, rỉ máu, và ngày nay vẫn bị kích động, khơi lên qua những phản hồi từ các bạn liên quan tới Tin Lành, Công Giáo như M.N bày tỏ, qua những lời giảng từ những mục sư mà chính tai tôi vẫn nghe, dù họ đã nghe thật rõ ý kiến tôi trình bày, đóng góp trực tiếp tới họ…

    Dùng những phương tiện truyền thông phổ cập như internet để đánh thức, để xoá đi cái nhìn xấu về tôn giáo, niềm tin khác.

    Nhờ M.N và quí độc giả chia xẻ quan điểm của tôi giới thiệu thread này tới những người khác.

    Like

  33. Dạ, con từ nhỏ là đạo ông bà, chỉ bắt đầu biết đến Công giáo khi lấy chồng thôi.
    Rồi người đồng nghiệp của con ngày xưa là Tin lành, nhưng nay đã chuyển sang Hội Thánh ĐCT, bạn ấy truyền đạo và lúc nào cũng có 1 cuốn sách kinh thánh bên mình để dẫn chứng. Bạn ấy nói Chúa đã đến lần thứ 2, bên Hàn Quốc với tên là Anxehong, luôn thúc con tới trụ sở gọi là Sion, mỗi tuần 3 lần đều có 2 người trong đó tới tận nhà con để giải thích từng ý nghĩa trong Kinh thánh, con nghe cũng có lý, nhưng tới giai đoạn nói rằng “thờ hình ảnh Chúa, ông bà là quỷ, rồi không được ăn đồ cúng” là con chạy rồi! Nên con vẫn đang thắc mắc Hội Thánh ĐCT này có chính thống không?

    Hội Thánh ĐCT nói rằng ngày t7 mới là ngày gặp Chúa, còn chủ nhật là thờ Thần mặt trời. Nói con không được đi nhà thờ ngày chủ nhật, nên đi lễ t7 ở Sion vì kinh thánh có ghi ngày thứ 7 trong tuần là ngày nghỉ ngơi ( tính từ ngày cn).
    Có thật sự Chúa đã đến lần 2 như trong lời tiên tri không? ( HT DCT)

    Like

  34. Quan điểm riêng của cá nhân tôi, một người có người thân theo đạo Tin Lành.
    Tất cả các Tôn giáo đều được gọi là Đạo, không ai phủ nhận điều này. Từ ngàn xưa cho đến nay, trên thế giới này có rất nhiều Đạo : Đạo Do Thái giáo, Đạo Thiên Chúa, Đạo Phật, Đạo Khổng, Đạo Hồi, Đạo Cao Đài, Đạo Bà-la-môn… Vậy Đạo là gì ? Theo tôi nghĩ Đạo chính là con đường đi, là kim chỉ nam của tôn giáo đó !
    Câu chuyện gần đây, trong buổi mời dự truyền giảng Giáng Sinh, một vị Mục sư Phó hội trưởng thứ nhất khẳng định “Tin Lành không phải là một tôn giáo” ??? Tôi thử hỏi nếu vị Mục sư ấy khai trong bản khai lí lịch của mình, ông có dám để nơi mục khai Tôn giáo là chữ “không có” không ? Chắc chắn 100% ông không bao giờ làm như vậy, ông sẽ khai là Tôn giáo : Tin Lành !
    Con người ta sống trên thế gian này nảy sinh ra nhiều tội lỗi, mỗi Đạo đều đưa ra theo cách riêng của mình. Với Tin lành thì bản chất của con người là tội lỗi :“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” (Rômà 3:23); theo Đạo Phật cuộc đời con người sống trên thế gian này là “Bể khổ trầm luân”, “con người là sự kết hợp giữa sắc và danh (vật chất và tinh thần)”; còn Đạo Khổng thì Mạnh Tử nói: “Quy tính chất của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán xấu, xa rời cái tốt đẹp”… Vì vậy, theo tôi các Đạo này đã có cùng một mục đích là dạy dỗ và hướng thiện cho con người để cho cuộc sống này được tốt đẹp hơn.
    Về Tin Lành, khi đã đọc qua cuốn Kinh Thánh, chắc chắn mỗi người có một suy cảm đúng sai rõ ràng cho riêng mình .Nhưng từ cuốn sách Kinh Thánh, biết bao diễn giả Tin Lành khai thác từng chữ, từng câu để rồi giảng giải cho tín hữu của mình, không ít lời nói hay làm cho con người học hỏi, cũng không ít lời nói “quá” làm cho người nghe xong phải suy gẫm đúng sai ? Điểm chung đáng chú ý ở đây, các diễn giả, nhà truyền đạo và các mục sư thì cứ giảng và những người ngồi dưới tòa giảng chỉ có một việc duy nhất là phải nghe, không một lời ý kiến, thảo luận, cho dù điều đó như thế nào ?
    Trong Sáng Thế Ký 1:1 “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất”, khi tôi có hỏi một thầy truyền đạo : “Ngay từ đầu, Đức Chúa Trời có dựng nên ma quỷ đâu, vậy mà mọi việc lúc đó (A-Đam và E-Va nghe theo lời con rắn) đều đổ thừa cho ma quỷ ?”, nhận được câu trả lời giải thích : “Ma quỷ là một số các Thiên sứ muốn ngang bằng và chống lại Đức Chúa Trời, dụ dỗ con người làm điều ác”. Cách giải thích trên tôi chưa ghi nhận, bởi có nhiều lý do :
    – Từ đầu Sáng thế ký, 7 ngày đầu tiên Đức Chúa Trời tạo dựng nên trời đất cùng con người, cho đến khi loài người sinh sôi nảy nở không hề nói đến chữ “thiên sứ” hoặc “ma quỷ”, đến đoạn 16 mới thấy xuất hiện từ thiên sứ : “…Nhưng thiên sứ của Đức Giê-hô-va thấy nàng ở trong đồng vắng gần bên suối nước, nơi mé đường đi về Su-rơ”. (Sáng thế ký 16:7).
    – Vậy Thiên Sứ do ai tạo ra, chắc chắn là Đức Chúa Trời.
    – Thiên sứ được Đức Chúa Trời tạo ra trước hay loài người có trước ?
    – Sao Đức Chúa Trời tạo dựng nên con người tốt đẹp như vậy lại còn tạo ra một con rắn quỷ quyệt để làm chi ? “Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết. …” (Sáng thế ký 3:1) .
    Những thắc mắc ấy và những câu trả lời không logic cứ lớn dần trong tôi.
    Cuộc sống trên đất này họ nói chỉ là tạm bợ, không nên lo lắng điều chi tới ngày mai, cứ để mọi việc Chúa lo ? Có một lần ông Mục sư quản nhiệm giảng giải và đưa ra một ví dụ : “Người bà con tôi dự định ngày mai đi thành phố Hồ Chí Minh, nhưng đi đến nửa đường thì bị tai nạn giao thông rồi chết mất. Vì vậy chúng ta đừng toan tính dự định gì cả, mọi việc Chúa đã sắp đặt hết cả rồi.” Thử hỏi ông dạy như vậy có chí phải hay không ? Không lẽ cái chết của người nhà mà ông kể trong ví dụ trên là do Chúa sắp đặt ? Không lẽ sống trên đời này không có quyền lo cho tương lai của chúng ta ? Bắt con người ta phải thụ động trong cuộc đời mình, phó thác hết thảy cho Chúa ?
    Một lần thầy truyền đạo giảng Kinh Thánh, ông không tiếc lời châm biếm, chỉ trích, chê bai bài thơ mà người ta ca ngợi sức lao động của con người :
    “Bàn tay ta làm ra tất cả
    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.” (Hoàng Trung Thông)
    Theo tôi, ở đây bài thơ ca ngợi lao động, sức sáng tạo kì diệu của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt. Nhà thơ đã hoán dụ hình ảnh bàn tay ta – lấy đó chỉ cho con người. Còn cơm – tác giả đã ẩn dụ hạt gạo đó là cái ăn, cái lương thực chính để nuôi sống chúng ta và đó chính là thành quả sức lao động của con người. Không ai có thể phủ nhận những thành quả của lao động trí tuệ, những phát minh sáng chế và sự cần mẫn của con người. Bằng chứng là những thành tựu của con người đạt được trong khoa học kỹ thuật, trong y tế, giáo dục, trong lao động sản xuất… mà mọi người sống trên mặt đất này đang hưởng thụ đó sao ? Tất cả đó có phải là do bàn tay con người làm ra không ? Nếu có ai phủ nhận điều đó, tôi xin mời họ vứt bỏ hết những vật chất họ đang thừa hưởng từ công sức con người đi: nhà đẹp, xe cộ, máy móc, phương tiện đi lại, những đồ điện hiện đại mà vợ con họ đang dùng; trở về với cái cuốc, cái cày, con trâu với cái hang, mái nhà lá mà sống đi.
    Không hiểu sao, ông truyền đạo không đọc hết ý nghĩa sâu xa đó hay thầy không hiểu cách hành văn của nhà thơ ? Theo thầy, chỉ có Chúa mới làm ra tất cả mà thôi. “Không, con người không thể tự làm ra được gì cả, đừng lớn tiếng mà kiêu ngạo, đừng ỷ vào sự thông sáng của mình, nếu Chúa nổi giận thì sẽ bị lũ lụt mất trắng hết tất !”
    Cũng chính sự suy diễn không có kiến thức, những truyền đạo lại cho rằng biểu tượng của Hội chữ thập đỏ quốc tế được lấy từ biểu tượng của cây thập tự giá ? Hoặc biểu tượng của ngành dược cũng vậy ?
    Xin tham khảo thêm, ý tưởng thành lập Phong trào Chữ thập đỏ là do Henry Dunant (1828-1910), một nhà kinh doanh và nhà hoạt động xã hội người Thụy Sĩ khởi xướng (Hiện nay, Ngày Chữ thập đỏ Thế giới được kỷ niệm hàng năm vào ngày sinh 8 tháng 5 của ông). Vào ngày 24 tháng 6 năm 1859, ông tới thành phố Lombardy, miền bắc nước Ý để liên kết làm ăn. Vào thời gian đó, thành phố này là nơi xảy ra trận chiến Solferino giữa Pháp và Áo. Cuộc chiến khốc liệt với biết bao cảnh chết chóc, hàng ngàn đàn ông và phụ nữ bị thương trong chiến tranh. Nhiều người trong bọn họ cần sự cấp cứu, giúp đỡ. Cảnh tượng thương tâm này đã tác động mạnh đến ông. Ông đã quên công việc riêng của mình và tổ chức kêu gọi một nhóm dân địa phương chăm sóc những người bị thương của cả hai phía trong trận chiến.
    Những nổ lực của ông đã cứu được nhiều mạng người. Đến năm 1862, Dunant viết một quyển sách có tựa là”Hồi ức về trận Solferino”, trong đó ông ta kêu gọi con người trên thế giới hãy thành lập các hội cứu trợ đặc biệt. Bởi vì những binh lính bị thương trong chiến tranh là những người không được giúp đỡ hoặc không thể tự lo liệu được, và vì là đồng loại, giúp đỡ họ là nhiệm vụ của mỗi người. Lời kêu gọi này đã có tác động rất mạnh ; và trong buổi hội thảo quốc tế được tổ chức vào năm 1864 tại Geneva, mười sáu quốc gia đã chấp thuận thành lập Hội chữ thập đỏ. Để tưởng nhớ ông, một người con của đất nước Thụy Sĩ nên lá cờ của Hội lấy từ lá cờ của Thụy Sĩ được hoán đổi màu nền và màu chữ thập. (Lá cờ của Thụy Sĩ nền đỏ, chữ thập trắng).
    Trong lịch sử của Công giáo, sai lầm lớn nhất của họ chính vì những sự không hiểu biết và độc đoán, mà đại diện ở đây là những Giáo Hoàng thời trước đã giết chết một nhà khoa học lừng danh, có công sức khai thiên cho nền khoa học của nhân loại.
    Galileo Galilei qua đời ngày 8 tháng 1 năm 1642. Ông vừa là nhà thiên văn học, vật lý học, toán học và triết học người Ý, là người đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học. Galileo đã được gọi là “cha đẻ của việc quan sát thiên văn học hiện đại”, “cha đẻ của vật lý hiện đại”, và “cha đẻ của khoa học hiện đại.” Stephen Hawking đã nói “Có lẽ hơn bất kỳ một người riêng biệt nào, Galileo chịu trách nhiệm về sự khai sinh khoa học hiện đại.”
    Vào năm 1609 Galileo khám phá trái đất xoay quanh mặt trời và phát minh ra kính thiên văn để khám phá bầu trời và các vì sao, ông đã vấp phải sự đối đầu của Giáo hội trong lúc đó không tin vào khám phá của ông. Vì muốn bênh vực sự thật ông đã phải trả một giá là suốt 9 năm bị Giáo hội Công giáo quản thúc trong căn nhà và sau 24 ngày ngồi tù ông phải có một quyết định, hoặc là chối bỏ những gì đã tuyên bố, hoặc là chọn cái chết. Ông đã chọn lẽ phải.
    Sự việc ấy của Công giáo đã để lại tiếng xấu cho muôn đời sau, chúng ta phải lấy đó làm bài học cho từng tôn giáo, đừng vì những con người có chức sắc, thiếu kiến thức xã hội, cứ máy móc suy diễn để rồi những lời của họ nói ra trước quần chúng, tín hữu, làm ảnh hưởng đến uy tín của cả một tôn giáo.
    Rồi ông truyền đạo kể nhiều ví dụ trong gia đình nhà ông, “Khi con tôi bị đau, cảm ơn Chúa, tôi nghe qua điện thoại người nhà báo tin, tôi liền lập tức đứng yên, dành hết tâm trí để cầu nguyện với Chúa chứ chưa đi về nhà ngay để đưa con tôi đi cấp cứu. Sau đó Chúa đã chọn cho con tôi một bác sĩ giỏi và qua bác sĩ đó, Chúa đã cứu chữa con tôi khỏi bệnh” ?
    Tất cả những gì thầy lập luận đều khó nghe, hết sức khó nghe đối với tôi. Khi người ta đau, tất cả cầu nguyện Chúa; nếu chạy chữa bớt bệnh thì họ cho “đó là do chính Chúa giúp, phải cảm tạ Chúa”; nếu không bớt, bệnh tình kéo dài thì biện hộ “đó là do Chúa thử thách chúng ta”, còn nếu bệnh nặng quá không qua khỏi mà chết đi thì họ nói là “Chúa đã dẫn linh hồn người đó về với nước Ngài” ?
    Trong buổi truyền giảng, có vị Mục sư lại cho mình có quyền ban phước cho thiên hạ : “Tối nay tín hữu nào dẫn theo thân hữu đến nhà thờ nghe tôi giảng thì sẽ được hưởng đầy phước” ? Sao ông ta lại có thể phát biểu như vậy, nếu không nói là ông ta ngông cuồng ? Hoặc “Nào, các thân hữu hãy tỏ ra mình là người khôn ngoan, hãy nhanh chân bước lên đây mà tin nhận Chúa”. Vô lẽ những người đến dự truyền giảng mà không lên tin nhận Chúa là những người không khôn ngoan (hay là ngu dốt) hết hay sao ?
    Trong những buổi tryền giảng, các diễn giả luôn mở đầu bằng “chúng ta là những tội nhân”, và kết thúc cứ lặp đi lặp lại một việc ai tin nhận Chúa sẽ được phước, sẽ được cứu rỗi và được lên Thiên Đàng. Vậy ông bà tổ tiên người Việt Nam của chúng ta trước năm 1911 là ma quỷ hết sao ? họ sống ở dưới hỏa ngục hết sao ?
    Những bài giảng, những câu nói, những lời mời phải cho tận tường, phải tỏ ra hiểu biết thì người nghe mới thuyết phục được. Chúng ta đứng trước đám đông, nói hay 1.000 câu nhưng nói không đúng chỉ 01 câu cũng đủ làm người nghe thất vọng, hơn nữa lại là những nhà diễn giả có chức sắc trong Hội Thánh.
    Về nguồn gốc của Tin Lành, tôi có đọc kỹ và tìm hiểu như sau :
    “Vào đầu Công nguyên, ở vùng Trung Cận Đông thuộc vùng đất của đế quốc La Mã xuất hiện một tôn giáo mới thờ Đấng Cứu thế – ngôi hai Thiên Chúa, tiếng Hy Lạp là Jésus Christ. Danh xưng Jésus Christ dịch qua tiếng Việt là Giê-su Ki-ri-xi-tô, gọi tắt là Giêsu Kitô. Từ tôn giáo địa phương thế kỷ IV đạo Kitô trở thành tôn giáo của đế quốc La Mã rộng lớn và thường được gọi là Catholic.
    Đến thế kỷ XI, cụ thể là năm 1054 Ki-tô giáo diễn ra cuộc đại phân liệt lần thứ nhất, một bên theo văn hoá Hy Lạp, một bên theo văn hoá La tinh, gọi là phân liệt Đông – Tây, hình thành tôn giáo mới ở phương Đông: Chính thống giáo (Orthodoxism). Tên gọi này biểu lộ quan điểm (Dox) thẳng thắn và đúng đắn (Ortho) của một “giáo thuyết về niềm tin chân thật”. Đôi khi người ta gọi Chính thống giáo là Kitô giáo phương Đông. Thậm chí trong một số văn cảnh, người ta dùng các từ Đông phương, Hy Lạp, Constantinople để chỉ Chính thống giáo, các từ: Tây phương, La tinh, Rôma để chỉ Công giáo.
    Thế kỷ XVI, cuộc đại phân liệt lần thứ hai diễn ra trong Công giáo, hình thành một tôn giáo mới – đạo Tin Lành. Giáo hội Công giáo và phong kiến châu Âu gọi là đạo chống đối – Protestantism, khi sang Trung Quốc, Protestantism dịch qua tiếng Hán gọi là “đạo Thệ phản”. Danh xưng Tin Lành được dùng để chỉ một cộng đồng các giáo hội khởi phát từ cuộc cải cách tôn giáo bắt đầu vào thế kỷ 16 bởi Martin Luther. Là tu sĩ Dòng Augustine, mục tiêu ban đầu của Luther là kêu gọi cải cách từ bên trong Giáo hội Công giáo Rôma, về sau ông tách rời khỏi Giáo hội Công giáo và thành lập Giáo hội Luther. Phong trào cải cách tôn giáo nổ ra đầu tiên ở Đức vào tháng 11 năm 1517 bằng việc Martin Luther công bố 95 luận đề chống lại chức vụ giáo hoàng, giáo quyền Rôma và việc bán “bùa xá tội”. Từ nước Đức, phong trào lan sang các nước Pháp, Thụy Sĩ, Anh, Scốtlen, Ai-rơ-len, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy…
    Đạo Tin lành truyền vào Việt Nam đầu thế kỷ XX. Năm 1911 được kể là năm đánh dấu Kháng Cách đến Việt Nam. Hội thánh Tin Lành Việt Nam (The Evangelical Church of Vietnam) cho đến nay vẫn là giáo hội Kháng Cách lâu đời nhất và có số tín hữu đông nhất tại Việt Nam. Có lẽ vì lý do này cũng như bởi vì bản thân thuật từ Tin Lành (Evangelical) thường được dùng như một từ đồng nghĩa với Kháng Cách (Protestant), mà tại Việt Nam, danh xưng Tin Lành thường được dùng để thay thế cho Kháng Cách. Tin Lành hay Phúc Âm có nghĩa là tin tức tốt lành theo cách gọi của các nhà truyền giáo đầu tiên của Kháng Cách tại Việt Nam. Đầu những năm 20, 30 của thế kỷ XX giáo sĩ Cadman người Canada thuộc Hội Truyền giáo Cơ đốc – CMA, cùng với văn sĩ Phan Khôi dịch Kinh Thánh ra tiếng Việt Nam, hai ông không dịch Phúc âm (Evangelical) là “Tin mừng” như đạo Công giáo, mà dịch là “Tin lành”. Cách gọi Phúc âm là Tin lành của những người theo đạo Cải cách (Thệ phản) dần dần thành thói quen và nhất là nó phân biệt được với đạo Công giáo nên người ta gọi luôn đạo Cải cách là đạo Tin Lành cho đến ngày nay.”
    Về nguồn cội, theo Kinh Thánh Cựu Ước thì Đức Chúa Trời tạo dựng nên con người một cách hoàn hảo, theo hình tượng của Ngài : “Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất.” (Sáng thế ký 1:26). Đức Chúa Trời đã tạo ra loài người giống như Ngài, bản chất của họ hiền lành, và Ngài đã tâm đắc điều mình làm: “Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu.” (Sáng thế ký 1:31)
    Có những điều khi đọc kỹ thì chắc chắn mọi người sẽ có câu hỏi giống như tôi. Câu chuyện kể không logic : từ ngày thú sáu của thưở ban đầu, Đức Chúa Trời đã dựng nên loài người, trong đó có người nam và người nữ xong hết cả rồi : “27 Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. 28 Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất.” (Sáng thế ký 1: 27-28)
    Đến ngày thứ bảy, Ngài nghỉ làm việc : “2 Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. 3 Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi.”.
    Tiếp theo sách ghi chép cũng trong ngày thứ bảy ấy : “7 Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.” (Sáng thế ký 2:7).
    Chiếu theo ghi chép của cuốn sách, vậy tôi xin hỏi : Đức Chúa Trời tạo dựng loài người chính xác là vào ngày nào ? Thứ sáu hay thứ bảy vậy ?
    Câu chuyện kể tiếp đến những ngày sau của lịch trình Đức Chúa Trời làm việc, khi Ngài đưa con người vào sống trong vườn địa đàng : “21 Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm cho A-đam ngủ mê, bèn lấy một xương sườn, rồi lấp thịt thế vào. 22 Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam. 23 A-đam nói rằng: Người nầy là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người nầy sẽ được gọi là người nữ, vì nó do nơi người nam mà có.”
    Chắc hẳn đến đây chúng ta sẽ thấy rõ sự mâu thuẩn mà lâu nay chắc có nhiều người đọc xong nhưng vì không phát hiện hoặc cả nể rằng Kinh thánh là khải định lời Đức Chúa Trời nên không dám nói lên sự thật. Loài người (cả nam và nữ) đã xuất hiện trong sách Sáng thế ký ở ngày thứ sáu rồi, sau đó người viết sách lại khẳng định người nữ bởi người nam mà có vào những ngày sau nữa ? Sao lại nhập nhằng khó chịu như vậy ?
    Nói theo Kinh Thánh, con người tốt đẹp là như vậy (vì họ được tạo dựng bởi hình tượng Đức Chúa Trời và Ngài cũng hài lòng về điều này), họ bị phạm tội là do cám dỗ. Con rắn trong Kinh Thánh là đại diện cho sự xấu xa đó. Vậy tại sao Đức Chúa Trời cứ luôn hủy diệt loài người mà không hủy diệt được loài rắn, loài ma quỷ kia ? Họ là con cái của Đức Chúa Trời tạo ra, vậy mà sao lại hủy diệt họ bằng chết chóc, giận dữ, trái ngược với hai chữ “yêu thương” loài người mà tôi thường hay nghe họ rao giảng ? Một người mẹ sinh ra đàn con, nhưng có bà mẹ nào lại đi giết hết con mình không ? Chỉ vì các con mình bị “ma quỷ” lôi kéo, làm không vừa lòng mình ? Theo tôi, ở thời Cựu Ước trong Kinh Thánh ghi chép, Đức Chúa Trời chỉ giết chóc loài người mà thôi !
    “21 Các xác thịt hành động trên mặt đất đều chết ngột, nào chim, nào súc vật, nào thú rừng, nào côn trùng, và mọi người. 22 Các vật có sanh khí trong lỗ mũi, các vật ở trên đất liền đều chết hết. 23 Mọi loài ở trên mặt đất đều bị hủy diệt, từ loài người cho đến loài thú, loài côn trùng, cùng loài chim trời…” (Sáng thế ký 7: 21-23)
    Ngay từ đầu sách Cựu Ước, tôi thấy toàn sự chết chóc thảm thiết, sự hủy diệt …, Đức Chúa Trời là toàn năng sao Ngài không làm gì được ma quỷ mà chỉ toàn đày đọa loài người ?
    24 Đoạn, Đức Giê-hô-va giáng mưa diêm sanh và lửa từ nơi Ngài trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ, 25 hủy diệt hai thành nầy, cả đồng bằng, hết thảy dân sự cùng các cây cỏ ở nơi đất đó.(Sáng thế ký 19: 24-25)
    Tiếp theo bao nhiêu tai vạ sẵn sàng giáng xuống đầu loài người thể hiện qua Xuất Ê-díp-tô-ký, chỉ vì Đức Chúa Trời muốn bảo vệ cho dân Y-sơ-ra-ên. Đọc đến đây, tôi ngẫm nghĩ mình có phải là tuyển dân của Đức Chúa Trời không ? Nếu không phải thì tất cả các dân xứ khác cũng sẽ bị trừng phạt như vậy thôi.
    – Tai vạ thứ nhứt: Nước sông bị hôi thối – Xuất Ê-díp-tô-ký 7:14-25.
    17 Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Vì việc nầy, ngươi sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va: Nầy ta lấy gậy trong tay ta mà đập nước ở dưới sông, nước sẽ trở nên huyết.(w) 18 Cá dưới sông sẽ chết, và sông sẽ hôi thối đi; người Ê-díp-tô uống nước sông lấy làm ghê gớm.
    – Tai vạ thứ nhì: Loài ếch nhái – Xuất ê-díp-tô-ký 8: 1-15.
    1 Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đi ra mắt Pha-ra-ôn,và tâu cùng người rằng: Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Hãy tha cho dân ta đi,để chúng nó hầu việc ta. 2 Nếu ngươi không tha cho đi, nầy ta sẽ giáng tai nạn ếch nhái khắp bờ cõi ngươi. 3 Sông sẽ sanh đông đúc ếch nhái, bò lên vào cung điện, phòng ngủ, và trên giường ngươi, vào nhà đầy tớ và dân sự ngươi, trong lò bếp, cùng nơi nhồi bột làm bánh của ngươi.4 Ếch nhái sẽ bò lên mình ngươi, lên mình dân sự và mọi đầy tớ ngươi.
    – Tai vạ thứ ba: Muỗi – Xuất Ê-díp-tô-ký 8: 16-19.
    16 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho A-rôn rằng: Hãy giơ gậy anh ra, đập bụi trên đất: bụi sẽ hóa muỗi khắp cả xứ Ê-díp-tô, 17 Hai người làm y như vậy. A-rôn cầm gậy giơ tay ra, đập bụi trên đất,bụi liền hóa thành muỗi, bu người và súc vật; hết thảy bụi đều hóa thành muỗi trong xứ Ê-díp-tô.
    – Tai vạ thứ tư: Ruồi mòng – Xuất Ê-díp-tô-ký 8: 20-24.
    20 Kế đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Nầy Pha-ra-ôn sẽ ngự ra mé sông, ngươi hãy dậy sớm, đi ra mắt người, mà tâu rằng: Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Hãy tha cho dân ta đi, để chúng nó hầu việc ta. 21 Vì nếu ngươi không cho đi, nầy, ta sẽ sai ruồi mòng bu nơi ngươi,quần thần, dân sự và cung điện ngươi; nhà của người Ê-díp-tô đều sẽ bị ruồi mòng bu đầy, và khắp trên đất nữa.
    – Tai vạ thứ năm: Súc vật bị dịch lệ – Xuất Ê-díp-tô-ký 9: 1-7.
    1 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy đi ra mắt Pha-ra-ôn mà tâu rằng: Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, có phán như vầy: Hãy tha dân ta đi, đặng chúng nó hầu việc ta; 2 vì nếu ngươi từ chối không tha đi, còn cầm lại nữa, 3 nầy, tay của Đức Giê-hô-va sẽ tra vào các súc vật của ngươi ngoài đồng, vào ngựa, lừa, lạc đà, bò, và chiên: sẽ có dịch lệ rất lớn.
    – Tai vạ thứ sáu: Ghẻ chốc – Xuất Ê-díp-tô-ký 9: 8-12.
    8 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: Hãy hốt tro trong lò đầy tay các ngươi, rồi tại trước mặt Pha-ra-ôn, Môi-se sẽ vải tro đó lên trời. 9 Tro sẽ hóa thành bụi khắp cả xứ Ê-díp-tô, và sanh nhiều ghẻ chốc cương mủ trên mình người và súc vật trong khắp cả xứ Ê-díp-tô. 10 Vậy, hai người hốt tro trong lò, đứng trước mặt Pha-ra-ôn, rồi Môi-se vải tro lên trời, thì sanh ra ghẻ chốc cương mủ trên mình người ta và súc vật.
    – Tai vạ thứ bảy: Mưa đá – Xuất Ê-díp-tô-ký 9: 13-26.
    22 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi lên trời,làm mưa đá rớt xuống trên cả xứ Ê-díp-tô, trên mình người, súc vật, và khắp rau cỏ ngoài đồng. 23 Môi-se bèn giơ gậy mình lên trời, Đức Giê-hô-va làm cho sấm động, mưa đá sa, lửa chạy trên mặt đất. Vậy, Đức Giê-hô-va khiến mưa đá sa trên xứ Ê-díp-tô. 24 Vả, có mưa đá sa xuống và lửa cháy rất mạnh pha lộn với, đến đỗi từ khi xứ Ê-díp-tô lập quốc đến giờ, chẳng có giống như vậy.(a) 25 Thế thì, trong cả xứ Ê-díp-tô,mưa đá làm hại mọi vật ở ngoài đồng, nào người ta, nào súc vật, nào rau cỏ, và làm gãy cây cối nữa.
    – Tai vạ thứ tám: Cào cào – Xuất Ê-díp-tô-ký 10: 12-20.
    12 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi ra trên xứ Ê-díp-tô, đặng khiến cào cào tràn lên xứ đó, cắn xả rau cỏ và mọi vật chi trên đất mưa đá còn chừa lại. 13 Vậy, Môi-se bèn giơ gậy mình ra trên xứ Ê-díp-tô, thì Đức Giê-hô-va dẫn ngọn gió đông thổi trên xứ suốt ngày và đêm đó; qua sáng mai gió đông đã dẫn cào cào đến. 14 Cào cào tràn lên khắp cả xứ Ê-díp-tô, và sa xuống trong địa hạt xứ ấy nhiều vô số. Trước kia chẳng bao giờ có bằng số đó, sau nầy cũng chẳng hề sẽ có bằng như vậy.(b) 15 Cào cào bao phủ khắp mặt đất của cả xứ, và xứ thành ra tối tăm, cắn xả các rau cỏ ngoài đồng cùng trái cây mà mưa đá còn chừa lại; trong khắp xứ Ê-díp-tô chẳng còn chút xanh tươi chi cho cây cối hay là cho cỏ rau ở ngoài đồng ruộng nữa.
    – Tai vạ thứ chín: Sự tối tăm. – Xuất Ê-díp-tô-ký 10:21-29.
    21 Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi lên trời,hầu cho trên xứ Ê-díp-tô có sự tối tăm dày đến đỗi người ta rờ đụng đến được. 22 Vậy, Môi-se giơ tay mình lên trời, bèn có sự tối tăm rất dày trong ba ngày tại xứ Ê-díp-tô;(c) 23 trong ba ngày đó người ta không thấy nhau được, không ai nhớm khỏi chỗ mình được. Nhưng trong chốn dân Y-sơ-ra-ên ở thì có ánh sáng cho họ.
    – Tai vạ thứ mười: Các con đầu lòng bị giết chết. Xuất Ê-díp-tô-ký 12:29-31.
    29 Vả, khi giữa đêm, Đức Giê-hô-va hành hại mọi con đầu lòng tại xứ Ê-díp-tô, từ thái tử của Pha-ra-ôn ngồi trên ngai mình, cho đến con cả người bị tù, và hết thảy con đầu lòng của súc vật.(h) 30 Đương lúc ban đêm, Pha-ra-ôn, quần thần cùng hết thảy người Ê-díp-tô đều chờ dậy; có tiếng kêu la inh ỏi trong xứ Ê-díp-tô, vì chẳng một nhà nào là không có người chết.
    Tiếp theo sự trừng phạt giết chóc, Đức Chúa Trời đưa ra những luật lệ, lễ nghi, của lễ để răn dạy loài người. Tôi cứ thắc mắc trong lòng, sao Đức Chúa Trời lại thích những của lễ và đặt ra những lễ nghi làm chi, nếu Ngài đã là tể trị và tạo ra được muôn loài thì Ngài thiếu thốn gì đâu ? Tôi tự hỏi “Phải chăng đây là do con người muốn mượn danh Đức Giê-hô-va để tạo ra những luật lệ này ?”
    Luật về của lễ thiêu : “ 3 Nếu lễ vật của người là của lễ thiêu bằng bò, thì phải dùng con đực không tì vít, dâng lên tại cửa hội mạc, trước mặt Đức Giê-hô-va, để được Ngài đẹp lòng nhậm lấy. 4 Người sẽ nhận tay mình trên đầu con sinh, nó sẽ được nhậm thế cho, hầu chuộc tội cho người.”(Lê-vi-ký 1:2), “10 Nếu lễ vật người là của lễ thiêu bằng súc vật nhỏ, hoặc chiên hay dê,thì phải dâng một con đực không tì vít, 11 giết nó nơi hướng bắc của bàn thờ, trước mặt Đức Giê-hô-va.”(Lê-vi-ký 1:10-11).
    “14 Nếu lễ vật người dâng cho Đức Giê-hô-va là một của lễ thiêu bằng chim, thì phải dùng cu đất hay là bồ câu con. 15 Thầy tế lễ sẽ đem nó đến bàn thờ, vặn rứt đầu ra, rồi xông trên bàn thờ; vắt huyết chảy nơi cạnh bàn thờ. 16 Người sẽ gỡ lấy cái diều và nhổ lông, liệng gần bàn thờ, về hướng đông, là chỗ đổ tro; 17 đoạn xé nó ra tại nơi hai cánh,nhưng không cho rời, rồi thầy tế lễ sẽ đem xông trên bàn thờ, tại trên củi đã chụm lửa; ấy là của lễ thiêu, tức một của lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.” (Lê-vi-ký 1:14-16).
    Rồi luật của lễ chay, của lễ thù ân, của lễ chuộc vì phạm tội lầm lỡ, của lễ chuộc sự mắc lỗi : “Khi nào ai lầm lỡ mà phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va, và làm điều chẳng nên làm; 3 nếu là thầy tế lễ chịu xức dầu rồi mà phạm tội, và vì cớ đó gây cho dân sự phải mắc tội, thì vì tội mình đã phạm, người phải dâng cho Đức Giê-hô-va một con bò tơ không tì vít chi, đặng làm của lễ chuộc tội.”(Lê-vi-ký 4:2-3)
    “17 Khi nào ai phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va mà không tự biết, và làm điều không nên làm, thì ai đó sẽ mắc lỗi và mang lấy tội mình. 18 Người vì sự lỗi mình phải dẫn đến thầy tế lễ một con chiên đực, không tì vít chi bắt trong bầy, tùy theo ý ngươi đánh giá; rồi thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc lỗi cho người đã lầm lỡ phạm tội và không tự biết, thì lỗi người sẽ được tha. 19 Ấy là của lễ chuộc sự mắc lỗi: người hẳn phải mắc lỗi cùng Đức Giê-hô-va vậy.” (Lê-vi-ký 5:17-19)
    Tất cả nâng cao vai trò của thầy tế lễ, qua ông ta mọi việc sẽ được giải bày và hóa giải ? Tất cả các lễ vật họ dâng lên Đức Chúa Trời là những con sinh linh, rồi giết đi lấy máu rưới trong nghi lễ .
    Ngày ấy, những người viết sách còn để lại cho nhân loại lời chỉ dạy những loài vật sạch và không sạch để rồi được phép ăn và không được phép ăn :
    “Trong các loài vật trên mặt đất, nầy là những con các ngươi được phép ăn: 3 Hễ loài vật nào có móng rẽ ra, chân chia hai và nhơi, thì các ngươi được phép ăn. 4 Nhưng chẳng nên ăn con nào chỉ nhơi không, hay là chỉ có móng rẽ không: con lạc đà, nó nhơi, nhưng không có móng rẽ; nên hãy cầm nó là loài vật không sạch; 5 con chuột đồng, nó nhơi, nhưng không có móng rẽ,nên hãy cầm nó là loài vật không sạch; 6 con thỏ rừng, nó nhơi nhưng không móng rẽ; nên hãy cầm nó là loài vật không sạch; 7 con heo, nó có móng rẽ, chân chia hai, nhưng không nhơi; nên hãy cầm nó là loài vật không sạch. 8 Các ngươi không nên ăn thịt và cũng không nên đụng đến thây các thú đó; phải cầm là vật không sạch.
    9 Những loài vật ở dưới nước mà các ngươi được phép ăn, là loài vật nào, hoặc ở dưới biển, hoặc ở dưới sông, có vây và có vảy. 10 Phàm vật nào hoặc dưới biển, hoặc dưới sông, tức các loài sanh sản trong nước, mà không có vây và chẳng có vảy, thì các ngươi không nên ăn, phải lấy làm gớm ghiếc cho các ngươi. 11 Những loài nầy, khá lấy làm gớm ghiếc cho mình, chớ nên ăn thịt nó, và hãy cầm thây nó là điều gớm ghiếc. 12 Các loài vật nào ở trong nước không có vây và chẳng có vảy, thì phải lấy làm gớm ghiếc cho các ngươi” .(Lê-vy ký : 11 )
    Ngày nay mọi người trên trái đất này đang dùng thịt heo, thịt thỏ, ăn các loài lươn lịch, cá da trơn, mực… thì không biết có thanh sạch không ? Theo tôi được biết, người dân Hàn Quốc là một rong những quốc gia thích ăn thịt heo nhất, và họ đều là người Tin Lành.
    Rồi luật về đàn bà sanh đẻ, luật về bệnh phung (bệnh phong cùi) :
    “ 2 Khi một người nào da trên mình nổi sưng, mụt lở, hoặc một đốm trắng,dường sẽ trở thành trên da mình một vít phung, thì người ta phải dẫn người đó đến thầy tế lễ A-rôn, hay là đến một trong các con trai người là những thầy tế lễ. 3 Thầy tế lễ sẽ khám vít ở trên da thân người; nếu lông vít đó đã trở thành trắng, và nếu vít lõm xuống sâu hơn da thân mình, ấy là một vít phung: thầy tế lễ khám rồi sẽ định người nầy là ô uế.
    4 Còn nếu có một đốm trắng trên da thân người, đốm không lõm xuống sâu hơn da, và nếu lông không trở thành trắng, thì thầy tế lễ phải giam người đó trong bảy ngày. 5 Qua ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám người, nếu vít đó ngừng lại, không ăn lan trên da, thì phải giam người một lần thứ nhì bảy ngày nữa.” (Lê-vi ký 13 : 2-5)
    May mắn cho những bệnh nhân phong trong nhân loại, đến hôm nay đã có người nghiên cứu và đã có thuốc chữa trị, không phải để các thầy cúng tế lễ khám bệnh và giam cầm họ nữa.
    Đến luật lệ mà tôi thấy lộ rõ đây là những lời lẽ của con người đặt ra chứ chẳng phải Đức Chúa Trời nào cả, xuất hiện ở Lê-vi-ký đoạn 27 “Những lời khấn nguyện và các vật biệt riêng ra thánh” , các thầy cúng tế lễ sẽ định ra giá cả để khấn nguyện và người dân tin theo Chúa phải đóng thuế 1/10 thổ sản (ngày nay là 1/10 tiền thu nhập) mà họ phải bỏ công sức lẫn mồ hôi của mình để làm ra :
    “Khi nào có ai dùng loài người mà khấn nguyện, thì ngươi hãy định giá cho; giá đó thuộc về Đức Giê-hô-va. 3 Nếu ngươi định giá về một người nam từ hai mươi đến sáu mươi tuổi,thì hãy định cho năm chục siếc-lơ bạc, tùy theo siếc-lơ nơi thánh. 4 Nếu là một người nữ, hãy định giá ba chục siếc-lơ bạc. 5 Nếu là một đứa con trẻ từ năm đến hai mươi tuổi, thì hãy định giá hai chục siếc-lơ cho một đứa trai, và mười siếc-lơ cho một đứa gái. 6 Ví bằng một đứa trẻ từ một tháng đến năm tuổi, thì hãy định giá năm siếc-lơ bạc cho một đứa trai, và ba siếc-lơ bạc cho một đứa gái. 7 Nếu một người già cả từ sáu mươi tuổi trở lên,ngươi hãy định giá mười lăm siếc-lơ bạc cho một người nam, và mười siếc-lơ bạc cho một người nữ. 8 Bằng người khấn nguyện rất nghèo khổ, không nộp được giá tiền ngươi định, thì hãy đem đến trước mặt thầy tế lễ cho người định cho. Thầy tế lễ sẽ tùy theo phương thế người khấn nguyện mà định giá vậy.”(Lê-vi-ký 27 : 2-8)
    “30 Phàm thuế một phần mười thổ sản, bất kỳ vật gieo hay là hoa quả của cây, đều thuộc về Đức Giê-hô-va; ấy là một vật thánh, biệt riêng ra cho Đức Giê-hô-va. 31 Nếu ai muốn chuộc lại vật chi về một phần mười của mình, thì phải phụ thêm một phần năm. 32 Còn về một phần mười của bầy bò hay là chiên, tức là mọi vật chi đi ngang dưới gậy, con thứ mười sẽ là thánh, biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. 33 Họ không nên phân biệt con tốt hay là con xấu, và cũng không nên đổi. Nếu đổi, thì con thú bị đổi, và con đổi, cả hai đều biệt riêng ra thánh: không phép chuộc nó lại.”(Lê-vi-ký 27 : 30-33)
    Nếu Đức Chúa Trời là toàn năng, là quyền phép vô biên, là Đấng tạo dựng nên tất cả vũ trụ này sao Ngài lại cần sử dụng tiền để làm gì ??? Chỉ có con người mới sử dụng đồng tiền để làm phương tiện mua bán, trao đổi vật chất mà thôi, tôi xin khẳng định lại một lần nữa quan điểm của mình.
    Và đến sách Dân số ký đoạn 18, tôi thấy hiện rõ nguyên hình sự mượn danh Đức Chúa Trời để thu lợi của các thầy tế lễ. Họ cho phép mình có quyền sử dụng các của lễ và tiền dâng 1/10 để cùng gia đình vợ con hưởng lợi :
    “Chức tế lễ của các ngươi là một việc ta phong cho như một của ban: người ngoại nào đến gần sẽ bị xử tử.
    8 Đức Giê-hô-va lại phán cùng A-rôn rằng: Nầy ta cử ngươi coi sóc các lễ vật của ta thâu lấy về mọi vật mà dân Y-sơ-ra-ên đã biệt riêng ra thánh; cứ một lệ định đời đời ta ban những lễ vật nầy cho ngươi và cho các con trai ngươi như một phần riêng mà phép xức dầu truyền cho. 9 Trong các vật rất thánh không có thiêu hóa mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho ta, nầy là phần sẽ thuộc về ngươi: Hết thảy lễ vật của họ, nào của lễ chay, nào của lễ chuộc tội,nào của lễ chuộc sự mắc lỗi; những vật rất thánh nầy đều sẽ thuộc về ngươi và các con trai ngươi. 10 Ngươi phải ăn nó trong nơi rất thánh; mọi người nam, phải ăn lấy, ấy sẽ làm một vật thánh cho ngươi.
    11 Vật nầy cũng sẽ thuộc về ngươi: Phàm lễ vật nào mà dân Y-sơ-ra-ên dâng giơ lên và đưa qua đưa lại, thì ta cứ một lệ định đời đời mà ban cho ngươi và các con trai con gái ngươi. Ai trong nhà ngươi tinh sạch sẽ được ăn các món đó. 12 Ta cũng đã ban cho ngươi những vật đầu mùa mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ dâng cho Đức Giê-hô-va, hết thảy phần dầu, rượu ngọt và lúa miến nhứt hạng.
    13 Mọi hoa quả đầu mùa của đất sanh sản mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Đức Giê-hô-va, đều sẽ thuộc về ngươi; ai trong nhà ngươi tinh sạch sẽ được ăn lấy. 14 Phàm vật chi mà dân Y-sơ-ra-ên phú dâng sẽ thuộc về ngươi” (Dân số ký 18: 7-14)
    “26 Ngươi cũng phải truyền cho người Lê-vi rằng: Khi nào các ngươi đã lãnh của dân Y-sơ-ra-ên thuế một phần mười mà ta đã ban về phần dân đó đặng làm cơ nghiệp của các ngươi, thì hãy lấy một phần mười của vật thuế một phần mười, mà làm của lễ dâng giơ lên cho Đức Giê-hô-va.” (Dân số ký 18: 26).
    Ngày nay các Hội thánh chiếu theo đó mà kêu gọi các tín hữu mình hàng tháng phải dâng 1/10 tiền thu nhập của mình từ công sức lao động, từ mồ hôi nước mắt của họ có đúng hay không ? Đồng tiền đó Chúa có sử dụng không ???
    Mỗi người chúng ta đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, đó là điều mà cả thế giới công nhận và luật pháp cho phép. Chúng ta sống trên hành tinh này cần phải có niềm tin để làm hành trang cho mình trên đường đời, và sống cho tốt đẹp trên đời sống thực tại mới là cái cốt lõi của sự sống. Không nên tự cho mình là con cái, là đệ tử của một đấng thần linh khuất mặt nào cả.
    Nhiều người vì mê tín dị đoan, vì tin tưởng thái quá vào một đấng nào đó mà trở nên cuồng tín trong đức tin, lắm lúc đã từng tuyên bố với người thân rằng : “Sẵn sàng bỏ cha, bỏ mẹ chứ không bỏ Chúa (hoặc bỏ Phật)”… rồi trở thành những nạn nhân của sự lừa đảo, lợi dụng đức tin. Những kẻ lợi dụng một danh nghĩa nào đó, tự xưng mình là “Sư phụ” giỏi, miệng thì nói kinh kệ mà ý nghĩ và hành động thì cực kỳ bỉ ổi, xấu xa, dâm đãng; để rồi rót những lời đường mật vào tai những người nhẹ dạ và cuồng tín. Chính sự cuồng tín của con người vào tôn giáo mà họ đã chọn đang làm xáo trộn cả thế giới này đó sao, nào khủng bố chết chóc (IS họ sẵn sàng tử vì đạo để được lên thiên đàng, hưởng vinh hoa phú quý ở đó ?), nào lừa lọc niềm tin (việc lợi dụng niềm tin, lừa đảo tìm hài cốt liệt sỹ ở Việt Nam), nào cúng tế, bói toán, chữa bệnh bằng bùa ngãi… không ít nhà Sư bị bắt, không ít Linh Mục ngồi tù, không ít Mục sư và người nhà mình phạm pháp, giết người, không ít nhà ngoại cảm bị lên án, người đời nguyền rủa… Kết cuộc, tất cả họ chỉ là con người, chỉ là con người bằng xương bằng thịt mà thôi.
    Ngày nay cũng không ít người quá mê muội, câu chuyện gần đây chính tai tôi nghe từng chữ, từng lời của anh truyền đạo tên Bích : “Gần nơi tôi ở có khu rừng người ta tự trồng, một bữa nọ vào mùa nắng khô, khu rừng bị cháy ngùn ngụt, tôi liền cầu nguyện Đức Chúa Trời và Ngài đã cho đổ mưa xuống dập tắt đám cháy ngay lập tức ?”, hay là câu chuyện thầy truyền đạo kể trên tòa giảng : “Tôi đã từng cầu nguyện Chúa, và cảm ơn Ngài, kì lạ thay thật nhiệm mầu, người trong Hội thánh của tôi đã bớt khỏi bệnh ung thư ?”. Nếu quả vậy thì có lẽ thế giới này cũng dẹp bỏ các bệnh viện đi, các lực lượng chữa cháy cũng nên nghỉ việc hết đi, và thay thế vào đó là những con người quyền năng như các vị nói trên.
    Tôi không dám ngăn cản đức tin của bất cứ một ai, bất cứ một tôn giáo nào; nhưng tôi mong muốn chúng ta tin theo chiều hướng tích cực và phải cộng thêm sự hiểu biết, đừng nên nói quá sự thật, phải biết tôn trọng người ngồi đối diện đang lắng nghe mình nói. Chúng ta nên học qua bài đọc hay, lời dạy tốt của tôn giáo mình để áp dụng vào cuộc sống thực này, cuộc sống mà hàng ngày thức dậy với biết bao lo toan, cơm, áo, gạo, tiền; đừng làm gì để lý trí mình bị mê muội, đừng nói bỏ mẹ, bỏ cha, đừng ảo tưởng viễn vông vào những điều không thể.
    Còn về đạo Tin lành, các dịch giả đừng dịch và truyền bá cuốn Cựu ước thì những sự giết chóc, rủa sả (sự hủy diệt, tàn sát các sinh linh của Đức Chúa Trời, trừng phạt con cái mình là Sam-sôn bị móc mắt, sự chém giết trong anh em…), loạn luân (hai con gái của Lót chuốc rượu cho cha mình say rồi chung chạ với cha mình để mang bầu duy trì nòi giống), những ông vua tà dâm, sát nhân vô đạo nhưng lại được ca ngợi (Vua Đa-vít trong sách 2 Sa-mu-ên: 11), những lừa lọc trong anh em nhưng lại được phước lành (Gia-cốp trong sách Sáng thế ký: 25), sự tranh giành quyền lực qua các thời ấy và những nghi thức tế lễ lạc hậu, những lệ luật cổ xúy đã gieo rắc trong tôi suy nghĩ, hình ảnh không đẹp.
    Những lời tôi nói chắc chắn sẽ gây khó chịu hoặc làm tổn thương tức thời ai đó hoặc có thể cho tôi là càn quấy, nhưng tôi luôn mong muốn người Tin Lành đọc những tâm tình của tôi hãy suy gẫm và phân tích đúng sai; nhận biết lời lẽ nào của đấng mình suy tôn, nhận biết lời lẽ nào của con người thế gian lồng ghép để mà tôn thờ, học hỏi và hành động một cách minh mẫn và sáng suốt.

    Like

  35. Xin chao cac ban. Toi tinh co di qua trang web nay. Toi dat mat khong it thoi gian doc article viet boi Anh Dung. Toi dong mot phan va khong dong y mot phan. Chinh Anh Dung da noi la mot nguoi khong co ton giao nen khong hieu Tin Lanh la gi. Khong phai ai biet Kinh Thanh la nguoi tin Chua dau. Noi cho ngan neu nguoi bi benh phai di tiem bac si chua benh, cung mot le ay neu cac ban muon biet su that phai di toi nha Tho Tin Lanh tiem hieu la ngon tin dang tin cay.
    Cam on.

    Xin goi den ban M.N.,
    Minh hieu cau hoi cua ban. Ban hoi ve Hoi Thanh DCT cung duoc goi la World Mission Society Church Of God. Do la mot phong trao ton giao moi xuat phat tu Nam Han. Ho tin la Ahn Sang Hong la Jesus den lan thu hai va Me Gierusalem la Jang Gil-ja. Thanh lap chua bao lau lam. Nhom nay bat ngon tu Co Doc phuc lam. Neu ban thanh that muon tim hieu Chua thi Kinh Thanh chinh la ngon duy nhat. Minh mong la no giup it cho ban mot phan nao.
    Cam on.

    Like

  36. Chân thành cám ơn các đóng góp qúi báu của qúi vị:

    Với ý kiến của Tin “muon biet su that phai di toi nha Tho Tin Lanh tiem hieu la ngon tin dang tin cay”, hiện nay việc tôi chọn một nhà thờ Tin Lành, Công Giáo, chùa, đền thờ Ấn Độ (tôi đã đi theo một đồng nghiệp Ấn Độ vào tịnh tâm một buổi, để học hỏi, khi thấy anh bạn này rất bình an, hiền hoà, tốt bụng)… dựa trên 4 tiêu chuẩn, nhận định dưới đây, và tôi sẽ nói về nhà thờ TL ở đây:

    1/ “Sự hài hoà và căng thẳng giữa Đức Tin và Lý Trí” (tạm dịch vụng và thiếu từ “harmony and creative tension between Faith and Reason” ):

    Như đã dẫn chứng nhiều lần, ở những nhà thờ TLVN và ngay cả 3 nhà thờ TL Mỹ tôi đã dự lễ, tôi vẫn thấy sự thiếu vắng, yếu kém, hoặc không nhắc tới Lý Trí, chỉ lập đi lập lại về Đức Tin. Nghe nhiều khi rất mê tín. Dùng sự Sợ Hãi (rằng con người là bất lực) và Ru Ngủ để dạy tín đồ hơn là dạy tự chủ, đương đầu. Sợ hãi và ru ngủ sẽ có một số tín đồ nhất định, Nhưng đây là một vấn nạn lớn của cách hành đạo dựa trên Đức Tin, Sợ Hãi, Ru Ngủ. Sớm hay muộn, hoặc bị đào thải, hoặc có những khủng hoảng gây ra bởi những niềm tin không Lý Trí, hay thiếu Lý Trí.

    Những điều tốt cũng được giảng dạy, nhưng tôi thấy là hời hợt, nhiều khi gán ghép khiên cưỡng, méo mó, và ” tốt không phải là một tiêu chuẩn để Chúa cứu”.

    Một nhà thờ TL Đại Hàn giảng mới lạ và hợp lý hơn “Chúa quyết định đời ta 100%, và ta cũng quyết định đời ta 100%”.

    2/ Đối thoại liên tôn giáo (“Interfaith dialog”), tôn trọng các tôn giáo khác, tôn trọng người khác ta: hoàn toàn vắng bóng 100% ở các nhà thờ TL Việt Nam mà tôi đã dự lễ. Thay vào đó là sự nhục mạ, miệt thị (“kẻ dữ, giả dối, trộm cướp, không biết phải trái, thờ ma quỉ, bọn đồng tình luyến ái….”) bền bỉ, hoàn toàn có ý thức; hoặc đã nghe, biết rất rõ lời than phiền mà giả lơ, vẫn tiếp tục nhục mạ: Tôi đã gửi bài viết tới một số website như Hoithanh.com… tới 7 mục sư VN ở Mỹ, tuổi từ 35 tới khoảng 70 mà tôi đã nhiều lần gặp, nói chuyện trước đó. Sau bài viết, tôi lại nhiều lần gặp gỡ một số mục sư trong số này, tất cả đều giả lơ, bã lã nói chuyện vô thưởng, vô phạt, không ai nhắc tới ý kiến, và lời mời trân trọng của tôi muốn gặp gỡ để trao đổi thêm. Đặc biệt là mục sư quản nhiệm, là người đầu tiên tôi gửi bài viết tới, gần 2 năm sau vẫn lên toà giảng lập đi, lập lại trong bài giảng của ông là “ai không tin Chúa là kẻ dữ” (cũng có 2 mục sư , 1 ở Đức, 1 ở Cali, đọc ý kiến của tôi tỏ ý hoan nghênh, chia xẻ).

    3/ Theo Tin Lành có làm ta tốt đẹp hơn hay không: Theo nhận định của tôi hiện nay: Không.

    Không những ở nhà thờ TLVN, mà ngay ở nhà thờ Mỹ, tín đồ Mỹ cũng nói rõ không phải là tu nhân, tích đức, làm điều tốt (“do good deeds”), là được Chúa cứu. Vì tu sửa bản thân, làm ích, giúp đỡ kẻ khác không phải là một ưu tiên của tín đồ Tin Lành. Làm lành, tốt mà không tin Chúa thì cũng bị đày hoả ngục. Hãy so sánh sự tốt của tín đồ TL với tín đồ đạo XYZ nào đó được dạy là nhân quả, làm tốt thì được tốt cho đời sau, và đó là một điểm dạy chính của họ, và tự rút ra kết luận là ai sẽ tốt hơn (tập làm việc tốt giống như tập đánh đàn: 1 người tập đánh đàn đều, 1 người cầu nguyện xin đánh đàn giỏi, ai sẽ đàn hay hơn?)

    4/Mục sư là người như thế nào để hướng dẫn, dạy dỗ người khác? Ngoài phần lương mục sư trích từ tiền kêu gọi tín đồ “dâng Chúa 1/10” (là ít nhất, càng nhiều, phước Chúa đổ càng nhiều “không có chỗ chứa”), mục sư quản nhiệm mà tôi biết, được hưởng gói Medical – bảo hiểu y tế, trị giá ít nhất là $1600/tháng cho toàn bộ gia đình. Đây là tiền thuế của những người tin Chúa và những kẻ “ai không tín Chúa là kẻ dữ”. Nếu có ý thức, và tự trọng thì việc điềm nhiên hưởng phúc lợi từ “kẻ dữ” và lời mạt sát “kẻ dữ” của mục sư không đi với nhau..

    Từ 4 tiêu chuẩn, nhận định trên, những nhà thờ TLVN mà tôi biết đều đạt điểm kém, hoặc rất kém, nên sau 7 năm bền bỉ dự lễ hàng tuần, sau nhiều trao đổi với các mục sư, tôi quyết định chấm dứt đi nhà thờ TLVN. Hơn thế, tôi không muốn con trai nhỏ của tôi tới đó nữa, để tránh những lời dạy dỗ, đánh giá xấu xa về các tôn giáo, các niềm tin, về các người khác mình (“bọn đồng tình luyến ái”, “bọn Hồi Giáo”, “kẻ dữ” …) từ từ thấm vào con trai tôi, nhập tâm từ nhỏ như mục sư quản nhiệm , để con tôi sau này dù có nghe rất rõ lời than phiền, vẫn điềm nhiên tiếp tục nhục mạ kẻ khác mình. Thế nhưng, bác sĩ tâm lý của t ôi nói “hai vợ chồng đồng thuận với nhau trên một vấn đề dù không hẳn đúng, vẫn tốt cho trẻ hơn là mỗi cha, mẹ dành phần đúng về mình để đứa bé lớn lên trong không khí xung đột”. Nhiều người nói với tôi, xã hội này có sức mạnh và cơ chế khá tốt để xây dựng tư duy cho con người, nên chuyện con trai nhỏ của tôi hạ hồi phân giải.

    Không sa đà vào việc phân định đúng sai giữa các tôn giáo, quan tâm lớn nhất của tôi là xung đột, giết nhau vì lý do tôn giáo vẫn hàng ngày xảy ra, đập vào mắt, vào tai qua tin tức. Con người có thể tự chủ, chế ngự sự tức giận ở bình diện cá nhân, nhưng với đám đông, những lời miệt thị “kẻ dữ, giả dối, trộm cướp, không biết phải trái, thờ ma quỉ” được nhồi sọ từ năm này qua năm khác, in sâu vào tiềm thức, thì khi một tia lửa nhỏ phát ra, chạm phải sự tức giận bị kiềm chế của đám đông vốn bị nhục mạ và biết rõ điều đó, thì cơn cuồng loạn do tâm lý tập thể sẽ đè bẹp mọi ý thức, tự chủ cá nhân để cơn bạo động, chém giết từ 2 đám đông bùng lên, giống những xung đột tôn giáo ta vẫn thấy.

    Khi gặp mục sư quản nhiệm, tôi luôn phải kềm chế tức giận khi biết rất rõ cách ông đánh giá, khi nghe ông nhiều lần dạy tín đồ miệt thị kẻ khác, và đã thấy một số tín đồ luôn miệt thị kẻ khác trong nhiều năm thì làm sao tôi tiếp tục tới nhà thờ Tin Lành VN?! Câu trả lời nằm ở quí vị mục sư, tín hữu Tin Lành VN.

    Like

  37. Ôi thật sự mà nói con đã cố gắn đọc hết tất cả bình luận và bài viết trên. các bình luận rất dài
    con là một tân tín hữu của đạo tin lành ạ, theo con thì cái sai ko phải do đạo hay tôn giáo mà là do con người theo đạo hoặc tôn giáo. ví như những điều bác nói ở trên về đạo tin lành thì những tính cách đó có trong con người của tất cả mọi người không riêng gì Công giáo hay Tin lành. vì đó là tội lỗi gây nên bởi loài người mọi người không nên cho là gây nên bởi đạo tin lành, vì thực sự kinh thánh của người Tin lành không hề dạy con cái Chúa đi theo con đường tội lỗi. con xin nêu ra như sau:
    Vì người Tin lành chúng con luôn nỗ lực thưc hiện đại mạng lệnh trước khi Chúa JESUS lên thiên đàng là rao giảng về Đức Chúa Trời.
    vì thế các anh em luôn nỗ lực làm điều này và một số người làm bằng cách nói xấu đạo khác. nhưng những người này không nhiều ạ. như một bác nói ở trên thì có vẻ tin lành miền bắc hơi cực đoan hơn miền nam do bản tính con người mỗi vùng miền khách nhau. chứ mục sư của con thì ông giảng về lòng hiếu kính của con cái đối với cha mẹ, chúng con phải hiếu kính cha mẹ khi các cụ còn sống, tức là khi các cụ biết đau biết đói biết cô đơn, hội thánh con không cổ vũ việc chúng ta làm đám giỗ linh đình , cho là người chết sẽ về ăn uống. vì người đã chết sẽ về một thế giới khác, và không còn liên hệ gì đến thế giới chúng ta nữa nên không có việc người chết về ăn giỗ, có chăng là người sống đến ăn uống đôi khi say sỉn gây gỗ không hay, cha mẹ đã chết nếu biết được chắc cũng không thích, chúng con vẫn có một bữa tiệc nhỏ để kỉ niệm ngày cha mẹ mất, lúc đó anh chị em tụ họp lại, không quên cầu nguyện với Chúa cho cha mẹ được về với Ngài. ngoài ra chúng con vẫn giữ tranh ảnh các đồ vật của Cha mẹ nhưng không thắp hương bái lạy. trong xóm con có nhiều con cái, khi cha mẹ già yếu thì không đoái hoài người nọ đùn đẩy người kia, vậy mà khi cha mẹ mất lại lập bàn thờ cúng van váy và hằng năm đều làm đám giỗ rất to, mời rất nhiều người bạn bè tới ăn uống sung sướng. hoặc có gia đình rẩ nghèo nhưng hằng năm phải làm hai ba cái đám giỗ, mà phải làm thật to nếu không bị cho là không có hiếu, như vậy là không đúng. cha mẹ cũng không muốn chúng ta làm điều này.
    Con xin nói lại một lần nữa là con là tân tín hữu, vì con cảm nhận được ân điển và chương trình kỳ diệu Chúa dành cho con. nên việc giữ Chúa cho riêng mình con là iasch kỷ, bản thân con đang cố gắn hằng ngày rao truyền lời Chúa cho ba mẹ và những người thân yêu xung quanh biết đến ân điển kỳ diệu của Ngài. và con cũng là người làm việc với nhiều người nước ngoài, nhiều người là cơ đốc nhân và có cơ hội nghe về đời sống tín ngưỡng của họ ở nước ngoài. không phải phiến diện nhưng em nghĩ những đất nước đông người tin Chúa thì đất nước và an sinh xã hội rất good nhé.
    Những điều chú nói trên đây không good ở chỗ chú đã vơ đũa cả nắm.
    vì thái độ miệt thị xa lánh dân ngoại con thấy rất ít người ạ. thường thì những người đó đã sống không đẹp lòng Chúa rồi hoặc là những thế hệ tin lanh trước chứ thế hệ bọn con rất hoà đồng nhé. sinh viên bọn con cũng không ủng hộ việc người việt mình lập ra các miếu đền khắp nơi nhưng lại sợ những miếu đền đó không giám tới vào giờ thiêng như 12 giờ hay ban đêm, vậy vô hình chung những đền thờ đó là không lành. đồng ý là chúng ta giữ gìn bản sắc của dân tộc nhưng các nào không phù hợp tự nhiên, không có ích cho bản thân cũng như người khác thì cũng không nên giữ. hoà nhập chứ không hoà tan vẫn là câu khẩu hiệu của chúng con. Chắc chú cũng cảm nhận được Chúa qua cách sống của vợ mình, con thấy cô good vì cô muốn đón mẹ già về phụng dưỡng, chú nói chú khổ tâm là vì chú chưa hiểu hết tấm lòng của vợ mình, chú có thể nói cho mẹ chú hiểu bà vẫn có thể giữ ảnh của chồng và hằng năm có một bữa tiệc nhỏ tưởng nhớ, không ai nỡ cấm việc làm nhân văn ấy đâu ạ, con tin vợ chú cũng thế.
    Vì Satan là một thiên thần sa ngã của Chúa, nó hiện hữu trên mọi nơi ở thế gian này. thờ một bức ảnh không có nghĩa chúng ta đang thờ người thân chúng ta, vì người thân đã mất thì về một thế giới khác và không liên hệ với thế giớ chúng ta nữa, tất cả những điều như báo mộng hay thấy người thân về qua thầy bói chỉ là satan giả hình, thờ một bức ảnh nhưng linh hồn trong bức ảnh là satan ạ. chúng ta giũ ảnh người thân như một kỉ niệm nhưng khi chúng ta thắp hương thờ thì nó lại là một khái niệm khác. nhiều người không giải thích theo đúng ý này mà thoái mạ xa lánh bàn thờ ông bà tổ tiên là sai. nên con xin giả thích lại như trên.
    trên đây là ý kiến của thế hệ tin lành trẻ bọn con. mong mọi người tiếp nhận. về bài viết của chú, cháu sẽ in ra rồi về nghiên cứu những chỗ hay để nói với anh em trong hội thánh, để anh em có thể nhìn nhận lại mình và sống đẹp lòng Chúa, vinh hiển danh Ngài trên đất này.

    Like

  38. Bài viết rất hay nhưng có phần dài. Những dòng comment ở dưới của mọi người và của tác giả rất cô đọng và dễ đọc.

    Tác giả cũng có những lời phản biện rất rõ ràng, đi vào vấn đề. Tôi cảm thấy ông rất có tâm huyết với cuộc sống, và với (việc tìm kiếm) đức tin nữa.

    Like

  39. Xin cám ơn lời góp ý xác đáng. Bài dài thật!

    Thật ra, tôi có cân nhắc khi viết dài, tới giờ tôi cũng chưa biết rõ rõ sự dài dòng sau khi cân nhắc kỹ là đúng hay sai:

    1/ Vì tôn giáo là một vấn đề vô cùng nhạy cảm, nên tôi viết dài, rào trước đón sau, bọc một lớp dày cho liều thuốc khó nuốt.

    2/ Dẫu vậy, bài này sau khi đăng, đã vấp phải nhiều va chạm dữ dội, tàn bạo trong gia đình, phản ứng thâm hiểm, kín đáo hơn từ người ngoài!

    Rào trước đón sau có lẽ thừa, khi người đọc hoàn toàn lọc ra những gì không được lập trình, mà chỉ xốc óc, cảm thấy bị va chạm khi nghe tới chữ “Tin Lành Việt Nam”. Bản thân tôi cũng “trao tận tay” (bằng email, nhưng sau có nhiều dịp gặp lại) tới khoảng 7, 8 mục sư, tuyệt đại đa số sống tại Mỹ (mà 3 mục sư được tôi nhắc tới ẩn danh trong bài), 2 mục sư có phản hồi hoan nghênh, khích lệ; số còn lại là “không nghe, không thấy, không biết”. Ông mục sư trẻ, quản nhiệm nhà thờ cũ của tôi, là người đầu tiên tôi gửi bài tới, kỹ sư toán tin ở VN, có ông nội, cha là mục sư, học thần học tại VN và tại Mỹ, trả lời nhát gừng, miễn cưỡng khi tôi hỏi ý kiến về bài viết. Gần 2 năm sau, vào Chúa Nhật ông vẫn lên toà giảng, giảng nguyên một bài xúc phạm, mạt sát kẻ khác niềm tin “ai không tin Chúa là kẻ dữ”…

    Tôi suy nghĩ, tìm nguyên nhân tại sao người thân trong gia đình (có 3 bằng đại học, 1 ở VN, 2 ở nước ngoài), ông mục sư ở trên, và nhiều người khác của thế kỷ 21 lại không nghe, không thấy những lời phiền trách, dù từ những người có thiện chí. Tôi có những lý giải như sau (tôi lý luận kiểu brainstorming, sẽ thiếu sót, mong được bổ túc hay phản biện), từ xa tới gần. Xin “dài dòng” lần nữa:

    – Thiên Chúa Giáo là một tôn giáo căn bản dựa trên Đức Tin, Kinh Thánh vừa là huyền sử vừa là lịch sử Do Thái; nhìn từ một góc khác là tập hợp những tín sự. Từ khởi thuỷ, tinh thần Thiên Chúa Giáo không mời gọi suy nghĩ, phản biện; tin được nâng lên thành Đức Tin “phúc cho ai không thấy mà tin” (Chúa Jesus). Chỉ từ Vatican II, chúng ta mới thấy một “tuyên ngôn” từ một cộng đồng Thiên Chúa Giáo đặt vấn đề có cọ sát giữa niềm tin và lý trí, đối thoại với các tôn giáo khác, nhìn nhận giá trị của “cái khác”. Vì từ khởi thuỷ không có tinh thần mời gọi suy nghĩ, phản biện , nên rất khó nói chuyện với những tín đồ thuần thành, loạng quạng là vấp phải giận dữ, chụp mũ, đe doạ, “không tin Chúa là kẻ dữ”, huống chi dám đặt vấn đề “khiêu khích” . Trong khi đó Phật Giáo có cái nhìn phù hợp với tinh thần khoa học hiện đại về “tin” (xem http://www.phapdangthientue.com/loi-phat-day-10-dieu-cho-voi-tin.html ).

    – Tại sao nhiều người có bằng cấp không chỉ ở VN mà còn ở Âu Mỹ lại chấp nhận, thực hành những điều dạy dỗ mà không, hoặc ít thắc mắc, đặt vấn đề? Tôi làm nghề điện toán, chuyên về Web, thấy có sự tương đồng giữa kỹ thuật filter trong Web với hiện tượng trên: Khi máy server nhận được một yêu cầu (request) từ ngừơi dùng, một hay nhiều filter sẽ lọc ra những dữ liệu trong request trước khi xử lý tiếp, request khi tới bộ xử lý đã bị lọc qua nhiều tầng, nên bộ xử lý không “thấy” được yêu cầu (request) nguyên thuỷ. Những giáo dục, những nhồi sọ nhận được không ngừng nghỉ từ bé thơ hoạt động tương tự những “filter”, chúng tức thì lọc ra những gì không được lập trình sẵn. Do đó, một ông/bà có học vấn chuyên môn rất cao, Ph. D. chẳng hạn, nhưng do giáo dục tôn giáo căn bản từ bao đời, từ bé thơ đã lắp sẵn nhiều filters sẽ không suy nghĩ, lắng nghe; chưa kể đây chỉ là bằng cấp chuyên môn, không dính dáng gì tới kiến thức, suy nghĩ tổng quát.

    – Tác động của môi trường xã hội xung quanh:
    Tôi đã ở Pháp 17 năm, nay ở Mỹ được 18 năm. Khi ở Pháp tôi có thể đọc sách, tìm tòi ít nhất là 3 lần nhiều hơn khi ở Mỹ, vì có thời giờ đọc trong khi đợi metro ở Paris, khi đi metro; ở Mỹ chỉ leo lên xe và chăm chú lái xe. Do đó gần như tất cả những người Việt tôi gặp ở Mỹ rất ít đọc sách, ít có thời gian lắng đọng để suy nghĩ, chiêm nghiệm về những điều đọc; thường là lên mạng lướt sóng, click trang này, trang kia, coi Facebook, nghe nhạc …. cái gì cũng có thể biết, có thể bàn ít nhiều nhưng hời hợt.

    Ở Việt Nam: như đã tôi phân tích: Tin Lành vẫn là một đạo mới ở VN, đi tới trước tiên với những người khổ sở, thiếu kém, thiếu hiểu biết, có thể là đáp số đúng cho những người cần nâng đỡ, an ủi, cần ban nghị lực, cần chỉ rõ hướng đi. Bản thân đa số những mục sư Việt Nam tiên phuông cũng xuất thân từ cộng đồng khổ sở, thiếu kém này; do có hướng đi, được tiếp cận với hình thức văn minh, trang nhã, có tổ chức, âm nhạc vượt trội của những nhà thờ Tin Lành (hơn hẳn những chùa chiền màu mè loè loẹt, hương khói nhức đầu, đôi khi là chỗ trốn lính trong chiến tranh Việt Nam, cùng di sản xuống cấp của Phật Giáo nhiều thế kỷ) đã có cuộc sống hơn xưa, con cái cũng tiến bộ hơn. Nhưng do căn bản thiếu kém cọng với sự đố kị tôn giáo, khinh miệt văn hoá bản địa của những mục sư – cũng là tiên sư (thầy đầu tiên) như I. R. Stebbins dạy cho các mục sư Việt Nam, hiện nay Tin Lành Việt Nam vẫn chưa ý thức được 2 điểm quan yếu mà một xã hội văn minh, nhân bản đòi hỏi là:

    – Hài hòa giữa đức tin và lý trí.
    – Đối thoại tương kính giữa các niềm tin khác nhau.

    Gieo gió thì gặt bão, gieo cái gì thì gặt cái đó. Tiếc thay điều tôi thấy hôm nay vẫn là sự sỉ nhục, xúc phạm của Tin Lành Việt Nam với những người khác mình.

    Liked by 1 person

  40. Thưa anh Minh Phạm cùng quí độc giả, nhân dịp anh nhắc tới những trao đổi của tôi với quí độc giả, tôi đọc lại xem mình viết cái gì.

    Có nhiều ý mới, dẫn giải, sự kiện được khai triển tuỳ theo chất vấn hay trao đổi với độc giả, nhưng nói chung là sự kiện được nhắc tới nhất quán; khuyết điểm là vì không đọc lại những phản hồi trước của mình (quá bận nghề nghiệp), nên trong những phản hồi, tôi nhắc đi nhắc lại lời giảng “Ai không tin Chúa là kẻ dữ” của mục sư quản nhiệm nhà thờ mà tôi đi trong 7 năm (nhắc đi nhắc lại hoá nhàm), trước khi tuyệt vọng và ngao ngán chấm dứt tới nhà thờ này (vợ tôi đàn cho nhà thờ này nên vẫn tới đó cùng con trai nhỏ của tôi nửa ngày Chúa Nhật, dù do bận bịu nên gia đình chúng tôi có rất ít thời giờ cùng nhau).

    Like

  41. Theo tôi nghĩ đạo giáo như một món trang sức mà nhân loại thường mặc trên người từ đời này đến đời khác.
    Tự món trang sức đó không làm hại ai cả, thiếu điều nó còn làm cho toàn thế giới có nhiều màu sắc rực rỡ đẹp đẽ.
    Chỉ có chủ nhân của nó mới làm hại người khác bằng nhiều cách dù vô tình hay cố ý.
    Còn những người tuyên bố không theo đạo nào hết thì cũng đã là theo đạo vô thần với trang sức không hình không dáng.
    Nói tóm lại đạo ai nấy giữ, ăn hiền ở lành, tu nhân tích đức, đừng làm hại ai khác, nên giúp đỡ người nghèo khó bệnh tật.
    Tôi không nghĩ Chúa hay Phật hay một đấng tối cao nào đó sẽ trừng phạt chúng ta chỉ vì chúng ta theo đạo làm người tốt.

    Like

  42. TĐH: mình tháy TEDtalk này liên hệ đến bài này, nên post vào đây.

    Megan Phelps:-Roper Tôi lớn lên trong nhà thờ Baptist ở Westboro. Tại sao tôi từ bỏ nhà thờ.

    Megan Phelps-Roper được nuôi dưỡng trong Nhà thờ Baptist Westboro, ở Topeka, tiểu bang Kansas, Mỹ, nhà thờ nổi tiếng thế giới vì các biểu tình hằng ngày chống cộng đồng LGBT [Cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và Hoán tính hay còn gọi là Người chuyển giới (Transgender)], người Do Thái. Quân đội và đủ mọi loại người khác. Lúc còn bé xíu, lúc tuổi teen và lúc hơn 20, Magan tham gia biểu tình hầu như hàng ngày và là người tiền phong về sử dụng truyền thông xã hội (social media) trong nhà thờ.

    Nhưng những cuộc thảo luận với “các kẻ thù” trực tuyến đã làm cô hết cực đoan và cô rời bỏ nhà thờ hoàn toàn vào tháng 11 năm 2012. Từ đó cô trở thành người biện hộ cho những người và những tư tưởng mà cô đã được dạy để khinh bỉ trước đây – đặc biệt là biện hộ cho giá trị của đồng cảm trong thảo luận với những người phía bên kia đường chia ý thức hệ. Cô diễn thuyết thường xuyên tại các trường, các đại học, các nhóm tin hữu các tôn giáo, và các hội thảo chống cực đoan do các tổ chức chấp hành luật pháp tổ chức.

    Like

  43. Chúng ta đang bàn về một vấn đề rất nhậy cảm, trước khi tiếp tục hãy chấp nhận một thái độ lắng nghe không thành kiến, khác với những điều ta thủ đắc từ lâu, để có một cuộc trao đổi có chất lượng, không mất thời giờ vô ích.

    1/Nguyên nhân cội rễ của những xung đột giữa Ki-tô giáo với Hồi Giáo, giữa 2 khối này với phần còn lại của thế giới :

    Nhận thức rằng những gì khác với Ki-tô giáo hay Hồi Giáo là sai, là một thực tế tồn tại từ thuở ban đầu của Ki-tô giáo, Hồi Giáo (có những thời Hồi Giáo khoan dung hơn Ki-tô giáo, chỉ muốn người khác thần phục, chứ không bắt cải đạo).

    Vào thập niên 1990, một học giả Mỹ, Samuel P. Huntington có viết một cuốn sách gây đuợc chú ý của cả thế giới tên là “The clashes of civilization” – Va chạm giữa các nền văn minh (lúc ở Pháp tôi đọc bài điểm sách này ở báo Le Monde, là một nhật báo giá trị hàng đầu của Pháp), hiện nay có nhiều ý kiến thuận cũng như nghịch về những luận điểm của sách này, nhưng nói chung là một cuốn sách có giá trị, đáng và cần đọc khi muốn bàn về xung đột tôn giáo, văn minh … (sách này có dịch ra tiếng Việt, mua đuợc ở VN, đọc hơi khó).

    Dưới đây, tôi xin dịch chấm phá vài điểm trực tiếp liên quan tới cuốn sách này từ nguồn https://en.wikipedia.org/wiki/Clash_of_Civilizations:

    Lời dịch:
    “Huntington cũng lập luận rằng những xung đột văn minh là “đặc biệt phổ biến giữa người Hồi giáo và phi Hồi giáo”, xác định các “biên giới đẫm máu” giữa các nền văn minh Hồi giáo và phi Hồi giáo. … Huntington cũng tin rằng một số trong những yếu tố góp phần vào cuộc xung đột này là cả Kitô giáo (đã ảnh hưởng sâu sắc văn minh phương Tây) và Hồi giáo là:

    – Là các tôn giáo truyền giáo, tìm kiếm sự chuyển đạo người khác.

    – Universal, “tất cả hoặc không” tôn giáo, cả hai bên đều tin chỉ có đức tin của họ là đúng.

    – Tôn giáo cứu cánh, nghiã là, các giá trị và niềm tin của họ đại diện cho các mục tiêu của sự tồn tại và mục đích trong sự tồn tại của con người.

    – Tôn giáo cảm nhận rằng người không tôn giáo nào đẩy mạnh mục tiêu vô nghĩa của mình, là vi phạm những nguyên tắc cơ bản của các tôn giáo, dẫn đến tương tác dữ dội (đoạn này tác gỉa của wikipedia viết không rõ, không thoát, nên tôi dịch cũng lủng củng, ý chính tôi hiểu là “những tôn giáo này có tuơng tác dữ dội với những nguời không tôn giáo vi phạm nguyên tắc cơ bản của mình”, có nghiã là xung đột xảy ra không những giữa tôn giáo với tôn giáo, mà còn giữa tôn giáo với không tôn giáo, xin ý kiến đóng góp của qúi cao nhân dịch đoạn này cho đúng hơn)”

    trích dịch từ https://en.wikipedia.org/wiki/Clash_of_Civilizations:

    (Huntington also argues that civilizational conflicts are “particularly prevalent between Muslims and non-Muslims”, identifying the “bloody borders” between Islamic and non-Islamic civilizations. ….. Huntington also believes that some of the factors contributing to this conflict are that both Christianity (which has deeply influenced Western civilization) and Islam are:

    – Missionary religions, seeking conversion of others

    – Universal, “all-or-nothing” religions, in the sense that it is believed by both sides that only their faith is the correct one

    – Teleological religions, that is, that their values and beliefs represent the goals of existence and purpose in human existence.

    – Religions that perceive irreligious people who violate the base principles of those religions to be furthering their own pointless aims, which leads to violent interactions.)

    2/Những biến chuyển quan trọng về nhận thức của khối Thiên Chúa Giáo La Mã: Như đã chứng minh trong bài của tôi, từ Cộng Đồng Vatican 2, Thiên Chúa Giáo La Mã đã nhìn nhận giá trị của các tôn giáo khác:

    “Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó. Với lòng kính trọng chân thành, Giáo Hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống, những huấn giới và giáo thuyết kia, tuy rằng có nhiều điểm khác nhau với chủ trương mà Giáo Hội duy trì,nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của Chân Lý, Chân Lý chiếu soi cho hết mọi người. Tuy nhiên Giáo Hội rao giảng và có bổn phận phải kiên trì rao giảng Chúa Kitô, Ðấng là “đường, sự thật và sự sống” ………. Vì thế, Giáo Hội khuyến khích con cái mình nhìn nhận, duy trì và cổ động cho những thiện ích thiêng liêng cũng như luân lý và những giá trị xã hội văn hóa của các tín đồ thuộc các tôn giáo khác, bằng con đường đối thoại và hợp tác cách thận trọng và bác ái với tín đồ các tôn giáo ấy mà vẫn là chứng tá của đức tin và đời sống Kitô giáo”.

    Gần đây, với những thay đổi lớn lao, chóng mặt của thông tin qua tiến bộ của Internet, nhận thức của con người nói chung trong mọi lãnh vực cũng dần thay đổi, Đức Giáo Hoàng Joseph dù rất cao tuổi đưa ra nhiều nhận định mới về những vấn đề của con người như đồng tình luyến ái, phá thai v.v… đây là những vấn đề rất quan trọng, căn bản, chúng ta không khinh xuất đánh giá đúng hay sai, nhưng rõ ràng là giáo hội đã nghe, và đang tìm cách đối diện với vấn đề; khi khoa học, biến chuyển xã hội, biến chuyển của nhận thức con người bằng những thực tế sinh động phản bác những giáo điều, định kiến.

    Tạm rời việc bàn luận về thay đổi của Thiên Chúa Giáo La Mã để trở lại với một nhánh quan trọng của Ki-tô giáo là những anh em Tin Lành (Protestants). Khối Thiên Chúa Giáo La Mã có khoảng 1.2 tỷ người so với 900 triệu tín hữu Tin Lành, đây là một khối lớn với quán tính rất lớn, vừa là khuyết điểm lẫn ưu điểm: chuyển dịch rất chậm, nhưng khi tổ chức thấy vấn đề thì những vấn đề đưa ra đã được quan sát (có thể là nghiên cứu) khá kỹ càng. Khối Tin Lành không có một tổ chức lớn, nhưng là vô số hệ phái dựa trên Thánh Kinh, với những diễn dịch ít nhiều khác nhau, ở Mỹ đã có những hệ phái tổ chức hôn phối cho người đồng tình luyến ái, và những hệ phái toàn nguyên, cực đoan hơn. Ở VN không có một tổ chức mẹ như Thiên Chúa Giáo La Mã mà là nhiều hệ phái, hệ phái quan trọng nhất ở VN là CMA lại được vạch đường thù nghịch với văn hoá Việt Nam bởi một chàng mục sư Mỹ Irving R. Stebbins trẻ tuổi (34 tuổi, chỉ đáng tuổi con tôi). Hiện nay mục sư nào lên tiếng khác nếp chung từ thời Irving R. Stebbins có thể bị chính tín đồ lẫn các mục sư khác tẩy chay.

    Tin Lành Việt Nam như tôi nhận xét, chưa nhận thấy nhu cầu đánh giá bảng giá trị, nhìn nhận lại mình, lại người, chấp nhận một cách nô lệ thay vì suy nghĩ, trăn trở với thực tế sinh động, nhìn nhận những vấn đề thiết thực của con người hiện tại như Công Giáo La Mã đã bắt đầu chuyển mình từ 50 năm. Một anh bạn Tin Lành người VN của tôi, hiện đang làm việc tại VN cho một tổ chức chuyên xuất bản và phân phối Kinh Thánh cho cộng đồng tín hữu nói tiếng Việt trên toàn thế giới; từ vị trí này, anh có tiếp xúc với tất cả các hệ phái Tin Lành tại Việt Nam, kể cả với giáo hội Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam, anh nói với tôi: Ngày xưa Công Giáo La Mã có vấn đề, dẫn tới chuyển biến và khai sinh ra Tin Lành; nay tới lúc Tin Lành cũng gặp một số vấn đề. Nhưng cũng giống như quan hệ Thiên Chúa Giáo và Tin Lành ngày xưa, không thể chuyển biến, chỉ có thể tách ra, sinh ra cái mới, đây là vấn đề thời gian (phản thí dụ: Công Giáo đã chuyển biến, nhưng đây là quá trình của hàng ngàn năm, tăng tốc nhanh hơn vì thời đại). Làm việc cho một tổ chức quốc tế, anh có nhiều dịp tham quan nhiều nước trên thế giới Âu, Á, Mỹ, anh không còn hoàn toàn bị cách ly hay thiếu thông tin như những thế hệ trước.

    Thế nhưng anh bạn nói chuyện với tôi với một thái độ không thiết tha, anh nói vì tôi đặt vấn đề trực tiếp với anh (chúng tôi biết nhau đã trên 40 năm, anh là con một mục sư nổi tiếng), anh là người đa tài, thông minh, tháo vát, nói chung khi thấy bất kỳ vấn đề gì nan giải thì anh luôn xoay sở tìm hiểu để giải quyết; nhưng ngược lại khi tôi gửi cho anh bài viết, anh im lặng; gặp nhau anh góp ý qua loa cho có, dù anh đồng ý là tôi đặt vấn đề đúng về Tin Lành Việt Nam. Từ thái độ của anh và nhiều người Tin Lành (mục sư, tín hữu) khác, tôi nghĩ sẽ còn lâu quan hệ giữa Tin Lành Việt Nam và Việt Nam mới ra khỏi sự thù nghịch ác cảm do khác nhận thức, vốn là nét chung của Ki-tô giáo với kẻ khác, để trở nên tốt đẹp hơn. Đây là việc mà Thiên Chúa Giáo La Mã đã đi những bước đầu, đáng truyền bá, ngợi khen.

    Kết luận: Hai vấn đề cấp bách, thiết yếu cho thế kỷ 21 mà Tin Lành Việt Nam hiện nay, hay một hệ phái Tin Lành mới tại Việt Nam sẽ được sinh ra vì không đồng ý với thái độ của những hệ phái Tin Lành VN khác đối với văn hoá VN như thờ cúng tổ tiên… cần đối diện và giải quyết, là:

    – Đức tin và Lý trí.
    – Đối thoại với những người khác niềm tin thay vì tiếp tục xúc phạm, mạt sát họ.

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s