Hôm trước chúng ta đã có chương Givingcủa The Prophet của Kahlil Gibran. Hôm nay chúng ta sẽ đọc chương về Tình Yêu. Phần tiếng Anh nguyên thủy theo sau phần tiếng Việt. Cuối cùng là link đến video, với nhạc Angeli (thiên thần) của Guy Farley.
Tất cả những ai giảng dạy về tư duy tích cực đều đồng ý về một định đề căn bản—Nền tảng của tư duy tích cực là yêu người. Từ “yêu láng giềng như yêu chính mình” cho đến “trái tim bồ đề giải thoát chúng sinh,” các truyền thống tư duy khác nhau xây dựng những kiến trúc tư duy khác nhau trên cùng một nền tảng “yêu người.” “Yêu người” là nền tảng cần thiết cho một tâm thức hướng thượng và tích cực. Càng ít yêu người, ta càng ít tích cực, và không yêu người tức là tiêu cực hoàn toàn. Định đề này về tư duy tích cực tạo ra một vài thắc mắc cho một số người, ít ra là trên phượng diện lý luận. Trong bài này chúng ta sẽ xét đến các thắc mắc đó.
• Thắc mắc đầu tiên là tại sao tư duy tích cực lại liên hệ đến yêu người (mặc dù là cô hàng xóm của tôi thật là rất đáng yêu! 🙂 ) ? Tôi cứ tích cực kiếm tiền để cho sướng thân tôi và cóc cần đến thiên hạ, thế thì tại sao lại không tích cực được?
Lý luận này nghe ra có vẻ hợp luận lý. Nhưng nếu bạn cóc cần đến thiên hạ, thì bạn tiêu cực với cả thiên hạ, và chỉ tích cực với chỉ mình bạn. Trong liên hệ con người hoặc là ta tiêu cực hoặc là tích cực, không có trung lập hay trung tính (neutral). Nếu bạn đi trên đường phố, thấy một người bị thương, nhưng bạn cứ phớt lờ, bước qua mà xem như không thấy gì, vì bạn “trung lập” với người ấy. Nhưng “trung lập” kiểu ấy là ông nội của tiêu cực, phải không ạ 😦 Cho nên, nếu ta cóc cần đến thiên hạ, có nghĩa là ta tiêu cực với thiên hạ. Nếu tính toán theo toán học, ta tiêu cực với gần 7 tỉ người trên trái đất và tích cực với chỉ 1 người—Đức Ngài “Tôi”–thì thực ra ta tiêu cực hay tích cực?
Trên thực tế, khi ta tiêu cực với người nào, luôn luôn có một lực đẩy đẩy ta và người đó xa nhau, không thích gần nhau, không thích nói chuyện, không thích tâm sự, đó là chưa nói đến có thể cãi nhau, đánh nhau. Vậy, nếu ta tiêu cực với cả thế giới, thì dù ta có tích cực với chính ta cách mấy, ta cũng chỉ lụn bại mà thôi.
Sự thực là, khi ta tích cực với mọi người, ta sẽ tích cực với chính ta; và ngược lại, khi ta tiêu cực với mọi người, ta sẽ tiêu cực với chính ta. Nói chung, tâm thức của con người thật ra không phân biệt “ta và người” như chúng ta lầm tưởng—đối với tâm thức, ta và người đều là “con người” cả. Ngay cả trên bình diện ý thức (chưa nói đến tiềm thức), rất nhiều khi chúng ta nghe những câu tương tự như thế này: “Con người chỉ là những sinh vật ích kỷ và tội lỗi, kể cả tôi” hay “Nhân chi sơ tánh bản thiện” (Từ thuở bắt đầu, bản tánh con người là thiện). Khi nói đến con người là người nói tự động nói luôn về “tôi” trong đó, không có “ngoại trừ.” Vì vậy, lý luận rằng ta có thể tích cực cho chính ta nhưng cóc cần đến mọi người là một hiểu lầm rất lớn về tâm thức con người. Chuyện đó không có trong thực tế.
Cho nên, tư duy tích cực là tích cực với “con người”—với chính ta và với tất cả mọi người. Thực sự ta không thể chia ra ta và người như ta lầm tưởng. Vì vậy, các truyền thống triết lý và đạo học quan tâm đến tâm thức con người luôn luôn gộp “ta và người”vào chung một nhóm.
• Nhưng, “thiên hạ dối trá xảo quyệt nhiều quá, tôi tích cực với họ sao được? Hơn nữa tôi phải lo phòng thân chớ, nếu không bị lường gạt cả đời sao?”
Đây là một lý luận rất xác thực, và chính vì nó xác thực cho nên nó thường đủ sức thuyết phục người ta không nên tích cực 😦 . Ở đây ta có mâu thuẫn giữa tình yêu và lòng tin–Tôi được dạy là yêu người, nhưng tôi cóc tin người được!
Chúng ta có thể nhìn vấn đề một cách giản dị thế này: Nếu ta có đứa em hút sách, dối trá, trộm cắp, nhất định là ta bực bội đến điên đầu và chẳng tin được câu nói nào của hắn ta, nhưng tận trong tâm tưởng ta vẫn thương em vô cùng, phải không? Không tin, nhưng vẫn thương. Có gì lạ đâu? Quả tim nào của con người cũng làm việc như thế. Cho nên nói rằng phải tin mới thương là một lý luận không hiện thực.
Trong truyền thống của dân tộc ta, chúng ta luôn luôn được dạy là phải tôn trọng người chiến sĩ, dù đó là chiến sĩ của bên thù địch, bởi vì người chiến sĩ chỉ làm đúng phận sự là phục vụ cho tổ quốc họ, dù họ đứng phía nào. Ta được dạy không đánh người ngã ngựa, dù đó là kẻ thù. Đời nhà Lý, sư Thảo Đường người Trung quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành, được vua Lý Thánh Tông mời dạy Phật pháp cho nhân dân và cho mở đạo tại chùa Khai Quốc vào năm 1069, tạo nên dòng thiền Thảo Đường. Đây cũng chỉ là yêu người, dù người là ai, và người thế nào.
Biết người có khiếm khuyết thì ta cố đừng cho người có thêm cơ hội để lầm lỗi. Ví dụ, đừng đi mà không đóng cửa nhà, để khỏi khơi lòng tham của người. Biết người không tin được, thì đừng cho mượn tiền để khỏi khuyến khích người tiếp tục lừa đảo.
Nhưng thông thường ta vẫn có dịp để giúp người ta không tin, như trường hợp khẩn cấp về sức khỏe chẳng hạn. Nếu ta cho người hoạn nạn (nhưng không đáng tin) mượn tiền lúc đó, cứ xem như là cho luôn, để mai mốt khỏi phải nghĩ ngợi về việc trả, và nếu được trả thì xem như là đó là lộc của trời. Đó là giúp người khi hoạn nạn, mà không cần biết người đó tốt hay xấu, vì trời ban mưa phát nắng cho cả người tốt lẫn người xấu, và trời cho mà không cần trả. Hoặc, đôi khi anh chị trong nhà bằng lòng để cho đứa em lừa đảo mình, để mình có cơ hội giáo dục nó bằng tình yêu.
Bạn có thể nghĩ rằng những bàn luận này hơi thừa thãi và lý thuyết; nhưng thực ra đây là điểm căn bản nhất trong thực hành tư duy tích cực: Ta không thể tích cực được nếu ta không tích cực về người khác, và muốn tích cực về người người khác ta không thể dựa tích cực của ta trên lòng tốt hay đức hạnh của họ, vì con người luôn luôn có lỗi lầm–họ, cũng như ta, đã đang và sẽ có lầm lỗi. Ta không thể tin vào sự toàn thiện của họ (cũng như sự toàn thiện của ta). Nhưng ta có thể tin vào quyết tâm của ta là sẽ yêu và tốt với mọi người đến mức tối đa ta có thể làm—đây là nền tảng của tư duy tích cực.
Tư duy tích cực không phải là đổi chác—phải có cái nầy mới đổi được cái kia, anh phải tích cực với tôi, tôi mới tích cực lại. Đó chỉ là đổi chác, hay phản ứng, hay phản động. Và đổi chác như vậy thì năng lực tích cực của ta rất yếu, vì ta cứ nằm ì mãi trong mức đổi chác trung bình, là mức đại đa số người trên thế giới đang đứng. Nhưng ta muốn vượt hẳn lên trên mức trung bình đó. Đối với ta, tư duy tích cực là con đường một chiều. Ta dùng sức mạnh tích cực mạnh mẽ từ rất sâu trong tâm thức để làm cho chính mình và mọi người cùng mọi sự quanh mình thành tích cực thêm. Và khi ta tạo được vài nguồn tích cực, vài người tích cực, ở gần nhau, chúng/họ sẽ tạo nên năng lượng cộng hưởng lớn hơn hẳn tổng số của các năng lượng cá nhân, tương tự hiệu ứng âm thanh nổi (stereo) của âm thanh đến từ vài loa đặt tại nhiều vị trí khác nhau trong thính phòng.
• Và ta cũng đừng nên hiểu lầm “tình yêu và tích cực” với “muốn gì được nấy.” Nếu bố mẹ thực sự thương con, bố mẹ không thể để con muốn gì được nấy, nhưng sẽ làm những gì mà, theo kiến thức và hiểu biết của bố mẹ, là những điều tốt nhất cho con của mình. Đó vừa là tình yêu vừa là bổn phận của bố mẹ. Khi quan tòa quyết định xử tù một tội nhân, đó có thể vừa là muốn cho tội nhân có cơ hội cải thiện sau này, và vừa là lo lắng cho an nguy của bao nhiêu người khác trong xã hội. Cho nên, yêu người và tích cực với người không có nghĩa là ta như đui như mù, hay ta không quan tâm đến phải trái hoặc an nguy cho chính mình và cho những người chung quanh. Tình yêu và tích cực có nghĩa là những gì ta phải làm vì nhiệm vụ và vì công ích ta vẫn phải làm, nhưng làm với tình yêu và tư duy tích cực—người có lòng nhân ái phải chiến đấu vói kẻ cướp để giúp người vẫn khác hơn với người có máu thích giết người chiến đấu với kẻ cướp phải không các bạn?
Hầu như mọi người trên thế giới đều nghe biết đến tư duy tích cực. Tuy nhiên trong thực hành, chỉ có một thiểu số thực sự có năng lượng tích cực hạng thầy, phần còn lại thì đa số là chỉ nằm ở mức trung bình như nhau. Và sự khác biệt đó sinh ra chỉ từ một điểm duy nhất—đại đa số người hành động tích cực theo lối đổi chác, khi có khi không, tùy theo hoàn cảnh và đối tượng. Bậc thầy, thì tích cực một chiều, luôn luôn, mọi nơi, mọi lúc, với bất cứ ai.
Bạn muốn thế giới tốt đẹp hơn?
Để tôi nói điều bạn nên làm.
Hãy để ý hành vi của mình,
Giữ nó luôn ngay thẳng và chân thật.
Giải thoát tâm khỏi những động cơ ích kỷ,
Giữ tư tưởng trong sáng và cao thượng.
Bạn có thể tạo một thiên đường bé nhỏ
Trong không gian bạn đang sống.
Bạn muốn thế giới khôn ngoan hơn?
Thế thì, hãy thử bắt đầu nhé,
Bằng tích lũy sự khôn ngoan
Trong sổ lưu niệm của con tim;
Đừng lãng phí trang nào cho dại dột;
Sống để học, và học để sống.
Nếu muốn tặng mọi người kiến thức
Bạn phải có kiến thức trước khi tặng.
Bạn có muốn thế giới hạnh phúc hơn?
Thì hãy nhớ rằng ngày qua ngày
Chỉ cần gieo những hạt giống ân cần
Trên đường bạn đi qua,
Bởi vì niềm hân hoan của nhiều người
Thường bắt nguồn từ một người.
Như bàn tay gieo một hạt dẻ
Che nắng được cho bao đoàn quân.
Loan Subaru dịch
.
Wishing
Do you wish the world were better?
Let me tell you what to do.
Set a watch upon your actions,
Keep them always straight and true.
Rid your mind of selfish motives,
Let your thoughts be clean and high.
You can make a little Eden
Of the sphere you occupy.
Do you wish the world were wiser?
Well, suppose you make a start,
By accumulating wisdom
In the scrapbook of your heart;
Do not waste one page on folly;
Live to learn, and learn to live.
If you want to give men knowledge
You must get it, ere you give.
Do you wish the world were happy?
Then remember day by day
Just to scatter seeds of kindness
As you pass along the way,
For the pleasures of the many
May be ofttimes traced to one.
As the hand that plants an acorn
Shelters armies from the sun.
Vào mùa thu, khi bạn thấy bầy ngỗng trời bay về phương Nam để tránh đông theo hình chữ V, bạn có tự hỏi những lý lẽ khoa học nào có thể rút ra từ đó.
Mỗi khi một con ngỗng vỗ đôi cánh của mình, nó tạo ra một lực đẩy cho con ngỗng bay ngay sau nó. Bằng cách bay theo hình chữ V, đàn ngỗng tiết kiệm được 71 % sức lực so với khi chúng bay từng con một.
Khi là thành viên của một nhóm, người ta cùng chia sẻ những mục tiêu chung, người ta sẽ đi đến nơi họ muốn nhanh hơn và dễ dàng hơn bởi vì họ đang đi dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau.
Mỗi khi một con ngỗng bay lạc khỏi hình chữ V của đàn, nó nhanh chóng cảm thấy sức trì kéo và những khó khăn của việc bay một mình. Nó sẽ nhanh chóng trở lại đàn bay theo hình chữ V như cũ, và được hưởng những ưu thế của sức mạnh từ bầy.
Nếu chúng ta cũng có sự cảm nhận tinh tế của loài ngỗng trời, chúng ta sẽ chia sẻ thông tin với những người cũng đang hướng đến cùng một mục tiêu như chúng ta.
Khi con ngỗng đầu đàn mỏi mệt, nó sẽ chuyển sang vị trí bên cánh và một con khác sẽ dẫn đầu.
Chia sẻ vị trí lãnh đạo sẽ đem lại lợi ích cho tất cả, và những công việc khó khăn nên được thay phiên nhau đảm nhận.
Tiếng kêu của bầy ngỗng từ đằng sau sẽ động viên những con đi đầu giữ được tốc độ của chúng.
Những lời động viên sẽ tạo nên sức mạnh cho những người đang “đứng mũi chịu sào”, giúp họ giữ vững tốc độ, thay vì để họ phải chịu đựng áp lực công việc và mệt mỏi triền miên.
Cuối cùng, khi một con ngỗng bị bệnh hay bị thương rơi xuống, hai con ngỗng khác sẽ rời khỏi bầy để xuống cùng con ngỗng bị thay và bảo vệ nó. Chúng sẽ ở lại cho đến chừng nào con bị thương lại có thể bay hoặc chết, và khi đó, chúng sẽ nhập vào một đàn khác để tiếp tục bay về phương Nam.
Nếu chúng ta có tinh thần của loài ngỗng trời, chúng ta sẽ sát cánh bên nhau khi khó khăn.
Lần sau có cơ hội thấy một đàn ngỗng bay, bạn hãy nhớ…
Bạn đang hưởng một đặc ân khi là thành viên của nhóm.
52 chương trình là 52 tấm gương thầy cô giáo đang gặp khó khăn trong cuộc sống nhưng với lòng yêu nghề mến trẻ, bằng nghị lực, họ đã vượt qua khó khăn, đem tri thức đến với các em học sinh. Không chỉ là một chương trình truyền hình nhân đạo, Tiếp sức người thầy còn đem đến thông điệp về lòng yêu nghề và nghị lực, về sự hy sinh lặng thầm của những người được xã hội tôn vinh là “người gieo trồng con chữ” và còn là lời cám ơn, sự ghi nhận của xã hội với những cống hiến của các thầy cô. Chương trình Tiếp sức người thầy sẽ phát sóng phần đầu tiên vào 21 giờ 40 ngày 7.4.2009.
Đây là một số hình ảnh lịch sử về triều đình và quan chức Việt Nam, chụp dưới thời Pháp thuộc, khoảng cuối thế kỷ 19. Anh Trần Đình Hoành và chị Trần Lê Túy-Phượng soạn thành PPS file, ghi chú do anh Hoành dịch từ các ghi chú Pháp ngữ trên các ảnh (chỗ nào còn đọc được), nhạc: Liên khúc các điệu lý Huế.
Click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.
Cần file dùng cho Power Point 97-2003, click ảnh dưới đây.
Hôm nay, mùng 10 tháng 3 âm lịch là Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, mặc dù nghiều nơi đã mừng Giỗ tổ vài ngày trước đây. Nhiểu nơi trong nước và trên thế giới (tại những thành phố đông người Việt) tổ chức Giỗ tổ, tuy nhiên nơi chính vẫn là Đền Hùng ở Phú Thọ, vì vậy ngày này còn gọi là Lễ hội Đền Hùng.
Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích – xã Hy Cương – huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm thành phố Việt Trì 7 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90 km. Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng – thuộc đất Phong Châu – vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Toàn bộ Khu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ hội tụ. Chúng ta có thể đọc thêm chi tiết về Đền Hùng tại đây.
Lễ hội Đền Hùng là lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam, và có một đặc thù riêng là: Phần lễ nặng hơn phần hội. Tâm tưởng người về dự hội là hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc (Ẩm hà tư nguyên – Uống nước nhớ nguồn). 41 làng xã thuộc tỉnh Vĩnh Phú tham gia rước kiệu lễ dâng Tổ. Từ ngàn xưa, trên các cổ kiệu có bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm tấu nhạc, cờ quạt, bát bửu, lọng che cùng chiêng trống. Những làng ở xa thường phải rước 2-3 ngày mới tới” . “Xưa kia, việc cúng Tổ (cử hành) vào ngày 12 tháng 3 (âm lịch) hằng năm. Thường khi con cháu ở xa về làm giỗ trước một ngày, vào ngày 11 tháng 3 (âm lịch)… Đến thời nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10 của các thập kỷ), có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và người chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch). Do đó ngày giỗ Tổ sau này mới là ngày 10 tháng 3 (âm lịch ) hàng năm”.
Những năm hội chính thì phần lễ gồm: Tế lễ của triều đình sau đó là phần lễ của dân. Có 41 làng được rước kiệu từ đình làng mình tới Đền Hùng. Đó là những cuộc hành lễ thể hiện tính tâm linh và nhân văn sâu sắc. Các kiệu đều sơn son thếp vàng, chạm trổ tinh vi, được rước đi trong không khí vừa trang nghiêm vừa vui vẻ với sự tham gia của các thành phần chức sắc và dân chúng trong tiếng chiêng, trống, nhạc bát âm rộn rã một vùng. Phần hội gồm các trò chơi dân gian như đánh vật, đu tiên, ném còn, cờ người, bắn cung nỏ… và đặc biệt là các đêm hát xoan, hát ghẹo – hai làn điệu dân ca độc đáo của vùng đất Châu Phong. Bàn thờ tổ, Đại sứ quán VN, Washington DC
Tại Đại sứ quán Việt Nam tại Washington DC, USA, có một bàn thờ tổ do sứ quán đặt đặc biệt tại Phú Thọ, do các nghệ nhân chuyên làmcác thiết bị thờ tự trong Đền Hùng. Chở qua Washington DC và ráp lại. Toàn thể bàn thờ rất lớn không dùng một chiếc đinh nào. Kiến trúc và lắp ráp hoàn toàn theo công thức cổ truyền. Sứ quán thường xuyên tổ chức Giỗ tổ, liên hoan Tết cũng như các lễ hội khác thường xuyên trong phòng lớn có bàn thờ tổ.
Một dân tộc phá hủy đất đai phá hủy chính mình. Rừng xanh là phổi của quê hương, lọc sạch không khí, và ban sức mạnh tươi mới cho con người.
Nguyễn Minh Hiển dịch
.
A nation that destroys its soils destroys itself. Forests are the lungs of our land, purifying the air and giving fresh strength to our people.
Theodore Roosevelt, US president
Ngày giỗ tổ Hùng Vương là ngày lễ thiêng liêng nhất cho dân Việt. Mọi ngày lễ khác của dân tộc đều từ ngày này mà ra. Và đối với sử sách thì các vua Hùng và thời Hồng Bàng là một huyền thoại, một cái gì u linh, vừa bí ẩn vừa linh thiêng. Đó là cách con người thời cổ đại nói về mình, về nguồn gốc của mình, và về nguồn gốc vũ trụ. Đó là một suy tư mà trong đó cảm xúc và trực giác đóng vai trò quan trọng hơn lý luận, và thời gian không đi đường thẳng—quá khứ, hiện tại, tương lai—mà đi theo hình tròn–quá khứ của mình cũng chính là tương lai của mình, gốc rễ của mình cũng là cành lá của mình, điểm khởi hành của tổ tiên cũng là điểm đến của con cháu trong mai hậu.
Vì vậy, đối với một dân tộc, huyền sử của dân tộc không phải chỉ là chuyện thần tiên cho trẻ em, mà là nền tảng tinh thần xuyên thời gian, ở trên đó dân tộc hiểu được tổ tiên mình nghĩ gì và cảm xúc gì, và hiện tại mình muốn gì và đang đi đâu.
Hôm nay, nhân ngày quốc tổ, chúng ta sẽ dành một ít thời gian, thăm viếng lại những huyền thoại u linh đó, để gợi ý cho mọi người suy tư. Mỗi huyền thoại nói đến một số vấn đề, và nếu vào kỹ một tí, chúng ta phải cần một bài rất dài cho mỗi huyền thoại. Hôm nay chúng ta chỉ lướt rất nhanh qua một số huyền thoại trong phạm vi chỉ một bài để gợi ý cho các bạn về đọc lại các huyền thoại kỹ lưỡng và suy gẫm sâu xa hơn.
1. Âu cơ và Lạc Long Quân, tiên rồng. Tại sao ta không nói rồng tiên, mà lại nói tiên rồng? Phải chăng đây là một bằng chứng của chế độ mẫu hệ xưa kia,biểu hiện trong sự kiện các vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam (khác với huyền thoại tiền sử) là Hai Bà Trưng và Bà Triệu. Theo quyển Concise History of the World của National Geographic (USA), thì Hai Bà Trưng là hai vị lãnh đạo phụ nữ đầu tiên trong lịch sử thế giới. Ngày nay, một số bộ lạc dân tộc tại Việt Nam vẫn còn theo chế độ mẫu hệ. Phải chăng một số các bộ lạc này chính là vài nhánh tổ tiên ta còn sót lại?
Tiên và rồng tương khắc nhưng tương hợp. Đây rất rõ là phản ánh của triết lý âm dương có tự ngàn xưa–âm dương tương khắc, nhưng cũng tương sinh—tiên rồng, non nước, cao thấp. Ngoài ra, trên phương diện lịch sử, có thể đây là cuộc gặp gở giữa hai nhóm dân—một từ phương Bắc (miền nam sông Dương Tử) đi xuống và một nhóm có sẳn ở phương Nam?
Và 100 đứa con.Người Mường cũng có truyền thuyết trăm con. 100 đương nhiên là chỉ số nhiều, nói đến phát triển và sinh sôi nẩy nở–đến 80 triệu ngày nay! Và 100 cũng là tổng số của các số trong Lạc Thư của dịch học, ám chỉ toàn thể.
Nhưng tại sao sinh ra trứng mà không sinh con ngay? Theo các hình khắc trên trống đồng Đông Sơn thì vật tổ ta là chim, mà chim thì đẻ trứng. Âu Cơ là tiên, tiên cũng là chim, dịu dàng bay bỗng. Đặc biệt, rồng cũng là linh vật có thể bay. Như vậy rõ ràng , chim, rồng và bay, rất linh thiêng đối với tổ tiên ta. Chim không cần manh mẽ như voi, dũng mãnh như hổ, nhưng chim yêu tự do, chim muốn có cả bầu trời. Chim là tự do, là sáng tạo, là khai phá.
Và dĩ nhiên là 100 con còn nói rất rõ ý niệm anh chị em và bình đẳng. Vợ chồng thì ly dị được, nhưng anh chị em thì không ly dị được. Sống hay chết, thích hay không thích, thì cũng vẫn là anh chị em. Đây là ý nguyện đoàn kết và bình đẳng rất rõ. Cho nên nếu anh chị em , vì bất kỳ lý do gì mà gọi nhau là kẻ thù, thì đó là cái tội cực kỳ nặng nề đối với tổ tiên và dân tộc.
2. Mười tám đời vua hùng vương. Con số 18 này rất đặc biệt. Các trống đồng Đông Sơn có 18 vành khắc và mỗi vành có 18 con chim. Đời vua Hùng Vương thứ 6 không truyền ngôi cho con trưởng mà cho Lang Liêu, con thứ 18, người tìm ra bánh dày bánh chưng. Vòng trong của thành Cổ Loa có 18 cái u hỏa hồi. Tục rước nõn nường cùa dân gian xưa ở miền trung du và đồng bằng Bắc bộ, rước 18 cái nõn và 18 cái nường (tượng trưng cho thịnh vượng).
Truyền thuyết Mường, cũng nói 100 con chia ra 50 người con về miền đồng bằng trở thành tổ tiên người kinh; 47 người đi lên miền núi, họ là tổ tiên của các dân tộc miền núi, còn lại 3 người sinh ra từ những trứng đầu tiên: Tá Cài, Tá Cần, và Dạ Kịt. Sau khi anh cả là Tá Cài bị rắn cắn chết, các mường mời Tá Cần lên ngôi vua. Tá Cần lấy bà Chu Bà Chương sinh được 18 con: 9 con trai và 9 con gái. Họ trở thành lang (thủ lĩnh) và chia nhau đi coi giữ các bản Mường.
Con số 18 rất rõ là 2 lần 9. Số 9 là số lớn nhất trong Hà Đồ của dịch học. Và là số mạnh nhất, vì đó là số thái dương. Cho nên 9 là lớn và mạnh. Và hai lần chín là tăng lên đến mức đa số của 9. Số 9 của văn hóa ta, xem ra giống như số 7 trong nền văn minh Do thái cổ, với 7 ngày tạo nên thế giới và tuần 7 ngày ta có ngày nay.
3. Tăng thưởng theo công sức. Điểm quan trọng rất đáng chú ý là khái niệm về tăng thưởng tùy theo công sức (meritology) đã nằm sâu trong tâm thức người Việt, cho nên người con nào tài giỏi thì được nối ngôi vua, chứ không nhất thiết là con trưởng. Vì vậy Lang Liêu là con thứ 18 vẫn được nối ngôi cha. “Tăng thưởng tùy theo công sức” là nền tảng của ý niệm dân chủ ngày nay.
4. Bánh dày bánh chưng: là biểu tượng cha mẹ, trời đất, trời tròn đất vuông, trời dương đất âm. Đây lại cũng là khái niệm âm dương rất căn bản trong dịch học. Đồng tiền xu của người Việt khi xưa gọi là đồng âm dương vì nó tròn và có lỗ vuông chính giữa.
Điều rất quan trọng mà nhiều người không nắm được là âm dương là triết lý bình đẳng, không phải là dương thì tốt âm thì xấu, đàn ông (dương) thì tốt, đàn bà (âm) thì xấu như các quí vị không hiểu nguyên lý âm dương nói bậy bạ. Nếu các bạn nhìn vòng thái cực (mà các võ sinh Thái Cực Đạo mang trên áo, hay trên lá cờ Hàn quốc) thì âm dương (xanh và đỏ) hòa quyện với nhau như lượn sóng di động rất bình đẳng, nữa vòng là âm nữa vòng là dương. Hai điều khác nhau, như âm dương, như nam nữ, hòa hợp bình đẳng với nhau và cùng chuyển dịch thì tạo ra vũ trụ. Cho nên nếu nói âm dương, là trời đất, là cha mẹ, thì đó là khái niệm hòa hợp bình đẳng.
Và dĩ nhiên nói đến cha mẹ là nói đến hiếu thảo. Hơn nữa, lá chuối và gạo nếp để làm bánh là biểu tượng rất sâu đậm của đời sống nông nghiệp, tức là sức sống chính của nước ta nghìn xưa. Người biết được hiếu thảo và nước non sâu đến như vậy đương nhiên là có cái nhìn của người có thể gánh vác nước nhà.
5. Dưa hấu: Chuyện Mai An Tiêm có lẽ là câu chuyện đầu tiên mang tinh thần Phật học. An tiêm là người nước khác, được vua nhận làm con nuôi, và An Tiêm tin vào tiền kiếp và nhân quả. Như vậy An Tiêm có thể là biểu tượng cho văn minh Phật giáo du nhập vào Việt Nam.
An Tiêm sau này bị đày ra hoang đảo và được đàn chim từ phương Tây bay ngang nhả hột dưa xuống đảo. Phương Tây là phương Ấn độ và Nepal, tức là phương Phật, là phương mà Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh trong Tây Du Ký. Phương Tây cũng là Tây phương Cực lạc, thế giới tịnh độ của Phật A-di-đà.
Và quả dưa hấu thì rất rõ là biểu tượng của lòng khiêm tốn và sức mạnh bên trong. Dựa hấu xanh vỏ đỏ lòng. Bên ngoài chẳng có gì hấp dẫn cả–sống hay chín thì vỏ vẫn xanh, vẫn chẳng tí mùi vị gì cả. Chỉ khi bổ ra, người ta mới thấy bên trong đỏ, rất đẹp, rất ngọt, và rất mát.
Và dĩ nhiên, khi nói đến lấy cái tâm bên trong làm chính, thì đó là cốt tủy của Phật giáo.
6. Truyện trầu cau có vẻ gì như là sự luyến tiếc về chế độ mẫu hệ và tục lệ nào đó tương tự như tục “nối dây” vẫn còn tồn tại trong một số bộ lạc miền cao ở Việt Nam, trong đó người phụ nữ có quyền lấy em chồng hoặc anh chồng khi chồng chết.
7. Truyện Trọng Thủy Mỵ Châu là truyện nói lên tình cảm mạnh mẽ và hơi lạ lùng của người Việt ta. “Phe ta” là Mỵ Châu và An Dương Vương. Trọng Thủy và Triệu Đà là “phe địch.” Trọng Thủy là gián điệp cho địch, dối vợ, hại cha vợ, hại cả quốc gia nhà vợ. Nhưng dân ta lại rất yêu Trọng Thủy, trong văn hóa và nghệ thuật. Lại còn gọi chàng ta với một cái tên rất đáng yêu , rất đáng kính—Trọng Thủy, người quí trọng thủy chung. Và Mỵ Châu, người phụ nữ bị chồng lường gạt, thì bị xử chết. Tại sao có sự bất công lạ thường này?
Tượng Mỵ Châu (cụt đầu) tại am thờ
Rõ ràng là nhiệm vụ bảo vệ quốc gia được đặt lên hàng đầu trong truyện này—trung thành và bảo vệ quốc gia đến mức tuyệt đối. Trọng Thủy làm đủ mọi thứ tội chỉ vì trung thành với quốc gia của chàng. Trung thành với quốc gia là nhiệm vụ tối cao. Vì nhiệm vụ đó mà mang các tội khác, thì các tội khác có thể được cảm thông.
Dĩ nhiên tội dối vợ, phản vợ , phản cha vợ và tổ quốc của vợ, dù là có lý do chính đáng vẫn là một tội, và tự tìm cái chết để rửa tội thì cũng có thể sạch tội và vẫn được hậu thế ca tụng .
Mỵ châu dù chỉ là nạn nhân của lường gạt, nhưng đã không làm tròn bổn phận đối với quốc gia–bảo vệ bí mật quốc phòng (về nỏ thần) tuyệt đối. Cho nên đã phải tội chém. Dù vậy ai cũng nhận ra được là Mỵ Châu chỉ là nạn nhân của những trò chơi chính trị, vì vậy nàng rất được yêu kính trong nền văn hóa Việt. Nhưng thực sự thì Mỵ Châu chẳng có một công đức gì trong truyện cả. Nàng được yêu và được thờ tự (đến tận ngày nay; am thờ Mỵ Châu nằm trong đền thờ An Dương Vương tại ở Cổ Loa), chỉ vì nàng là nạn nhân.
Yêu mến là một chuyện, nhưng thờ tự? Phải chăng đó là vì người ta quá yêu mến tính thành thật của nàng, dù là thành thật đến mức khờ khạo? Như vậy phải chăng dó là hệ quả của một hệ thống luân lý đặt giá trị rất lớn vào thành thật–thành thật là tính thánh, dù có bị gạt thì vẫn là thánh nhân?
Đằng nào đi nữa thì truyện Trọng Thủy Mỵ Châu nói lên lòng bao dung rất bao la của người Việt. Triệu Đà ban đầu là phe địch, đã giết vua ta. Sau lên cai trị ta, và lại được ta xem như là vua tốt của ta, vì gia đình họ Triệu chống lại nhà Hán ở Trung quốc. Chống lại kẻ ức hiếp ta là anh em, là gia đình ta.
8. Có lẽ huyền thoại hấp dẫn nhất của ta là truyện Thánh Gióng, Phù Đổng Thiên Vương. Lúc quốc biến, vua cho đi tìm nhân tài trong thiên hạ, tức là vua trông cậy, hỏi nhờ đến dân. Cậu bé 3 tuổi mà không biết nói có nghĩa là dân thì ngày thường xem ra yếu ớt ngu dốt. Tuy nhiên, khi quốc biến, nếu vua (cho sứ giả) đến gặp dân trực tiếp, nghe dân nói, và tin vào lời dân, dù là nói nghe rất điên, như con nít lên ba nói làm ngựa sắt và roi sắt, nhưng cứ làm theo dân, thì dân sẽ biến từ đứa bé câm ba tuổi thành đại dũng sĩ giết giặc. Đó là cái dũng của dân, khởi động được nhờ đức khiêm tốn và lòng tin của vua.
Và xong việc rồi thì dân biến mất, mạnh ai về nhà nấy, như Thánh Gióng về trời, chẳng ai ngồi đó để đòi vua trả công. Tức là, để khởi động sức mạnh của dân thì dùng đức khiêm tốn và lòng tin, chứ không cần phải mị dân bằng lợi lộc.
Các huyền thoại của một dân tộc là những giấc mơ, những ước muốn, những cảm xúc, những khôn ngoan, những suy tư của dân tộc đó. Huyền thoại là một phần chính của cái mà ta có thể gọi là tiềm thức dân tộc. Chúng ta không thể hiểu dân tộc và văn hóa dân tộc nếu ta không suy tư sâu xa một tí về các huyền thoại dân tộc. Trong tương lai, chúng ta sẽ đi sâu vào mỗi huyền thoại trên Đọt Chuối Non. Tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi, các bạn nên đọc thêm và suy tư thêm một tí, và có thể chia sẻ suy tư của các bạn trên trang web này.
Khi một người bạn của tôi đang đi qua chỗ những con voi, bạn ấy chợt dừng lại, với vẻ bối rối vì những con vật khổng lồ ấy đang bị một sợi dây buộc vào chân chúng. Hiển nhiên là những chú voi to lớn này, bất cứ lúc nào, cũng có thể phá đứt sợi dây buộc chúng, nhưng vì sao đó chúng lại không làm thế. Người bạn của tôi thấy một người quản tượng gần bên, bèn hỏi tại sao những con vật đẹp đẽ, hoành tráng như thế chỉ đứng yên mà không gắng bỏ chạy.
Người quản tượng đáp : « À, khi chúng còn rất nhỏ, chúng tôi dùng chính sợi dây với kích cỡ như thế này buộc vào chân chúng, và khi những con voi còn bé, dây như thế đã đủ để giữ chúng. Khi voi lớn, chúng đã quen bị câu thúc bởi sợi dây rồi và tin rằng không thể bứt phá để trốn thoát. »
Bạn tôi sững sờ. Những con voi này có thể phá đứt xích xiềng và tự do bất cứ lúc nào, nhưng vì đã quen « tin » rằng chúng không thể thoát được, chúng bị trói ở nguyên vị trí cũ. Con vật to lớn khổng lồ ấy đã tự giới hạn sức mạnh lớn lao hiện tại của nó chỉ vì sự trói buộc của quá khứ.
Giống hệt những con voi, có bao nhiêu người trong chúng ta luôn bám chặt vào niềm tin rằng mình không thể làm được một việc gì đó, chỉ vì một lần thất bại trước đây?
Có bao nhiêu người trong chúng ta không chịu thử một cái mới và gắng làm một việcgì mang tính thử thách bởi vì cái kiểu tư duy ấy của chúng ta?
Nỗ lực của chúng ta có thể không thành công, nhưng xin đừng bao giờ không cố thử ….
HÃY CHỌN LỰA KIỂU TƯ DUY ĐỂ TA KHÔNG CHẤP NHẬN NHỮNG RANH GIỚI VÀ HẠN CHẾ ĐÃ ĐẶT RA TRONG QUÁ KHỨ.
Các bạn thân mến,
Các bạn chẳng bao giờ muốn mình giống bác voi khổng lồ “bé nhỏ” tội nghiệp kia ?
Chắc chắn 100% câu trả lời của các bạn cho câu hỏi này đều có tính tường minh cao.
Vậy chúng ta nên làm gì?
Thiết nghĩ trước hết chúng ta phải là những người xóa bỏ rào cản, hay phá vỡ những bức tường chắn mất tầm nhìn, và từ bỏ những khuôn mòn của kiểu tư duy chúng ta đã tạo ra và quen thuộc trong quá khứ. Ngày hôm qua đã trôi đi theo dòng chảy bất tận của cuộc sống vốn không ngừng biến đổi này. Luôn có những ngày mới, những cơ hội mới, mở ra cho chúng ta biết bao điều mới mẻ! Thế thì tại sao chúng ta cứ mãi trói buộc và tự câu thúc chúng ta với tư duy kiểu cũ của quá khứ? Như thế quả không logic?
Cái tôi hôm qua có thể non nớt, bé nhỏ, yếu ớt, dại khờ, sai lầm, kém cỏi… nhưng tôi của hôm nay đã lớn mạnh, đã trưởng thành, chín chắn hơn, khôn ngoan, hiểu biết hơn, đã biết học hỏi, rút kinh nghiệm từ sai lầm và thất bại của hôm qua.
Như thế với tư duy mới, sáng tạo hơn, tại sao không thử thách năng lực của mình một cách tích cực hơn: ở một lĩnh vực mới, hay một công việc đòi hỏi cao hơn, có tính thách đố hơn, và nhiều trách nhiệm hơn? Nếu không phải là việc gì to lớn hơn, chí ít ta cũng có thể thử làm lại cái mà ta đã từng thất bại? Và luôn nhớ câu ngạn ngữ ” Thất bại là mẹ thành công” . Rồi bạn sẽ thành công sau một hay vài lần thử thách.
Hãy bắt đầu từ mỗi chúng ta, và nếu các bạn đang làm việc trong lĩnh vực truyền thông, giáo dục, xin hãy gửi thông điệp này đến những người bạn gặp gỡ, tiếp xúc, “phá bỏ lối mòn tư duy trói buộc sức mạnh của chính chúng ta, những người không bé nhỏ và không sợ thất bại”.
Như thế là bạn đang tư duy và hành động theo hướng tích cực.
9 đội tuyển thuộc 5 trường ĐH trên địa bàn TP.HCM đã mang đến nhiều kinh nghiệm lý thú qua vòng chung kết cuộc thi “Phương pháp học ĐH hiệu quả” vừa diễn ra tại Nhà văn hóa Sinh viên TP.HCM. Ngoài việc trình bày những phương pháp học tập, các đội phải trả lời những câu hỏi khá hóc búa của ban giám khảo và của sinh viên dự khán.
Một thông tin tốt lành cho hàng triệu học sinh phổ thông, đó là Bộ GDĐT sẽ kiến nghị sửa Luật Giáo dục để cho các cá nhân, tổ chức được biên soạn sách giáo khoa. Bởi vì việc quy định chỉ có một bộ sách giáo khoa theo quy định hiện hành của Luật Giáo dục là không thực tế.
Saul Griffith là guru và nhà đầu tư trong các dự án thương mại có tính cách cách mạng về năng lượng. Làm thế nào để có năng lượng sạch (để giảm sự tặng nhiệt của quả đất)? Video này thuần túy bằng tiếng Anh. Tuy nhiên bạn có thể hiểu được khái niệm dùng diều để thu năng lượng của gió–hiệu năng cao hơn chong chóng rất nhiều, vì gió trên cao mạnh hơn gió ngay trên mặt đất. Nhờ các bạn giới thiệu video này đến các chuyên gia năng lượng.
Speech is the mirror of the soul; as a man speaks, so he is. –Publilius Syrus
(Lời nói là tấm gương phản chiếu tâm hồn, bạn nói thế nào, bạn là người thế ấy.)
Kind words are short and easy to speak, but their echoes are truly endless– ( Mother Theresa)
(Những lời nhân ái ngắn và dễ nói, nhưng âm vang của những lời ấy vô tận.)
CẢI THIỆN QUAN HỆ
Hôm nay ngày 1/ 4 , Ngày Cá Tháng Tư, Ngày Nói Dối vui nhộn. Mặc dù là một người thích đùa, nhưng tôi không nghĩ ra được trò đùa nào cho hôm nay. Thay vào đó, tôi tin rằng thật thà là tốt nhất (“Honesty is the best policy “).
Những lời nói thực sau đây trong từng trường hợp cụ thể có thể đem đến niềm vui cho chúng ta trong các mối quan hệ với bạn hữu, gia đình …
BA TỪ NGỮ GIÚP CẢI THIỆN CÁC QUAN HỆ
Có nhiều cách ta có thể làm để cải thiện các mối quan hệ của chúng ta. Trong thời buổi cơ chế thị trường, giá trị vật chất lên ngôi, nhiều người thường chọn những món quà đắt tiền như một cách bày tỏ tình cảm, để tạo nên các mối quan hệ. Thực ra quà tặng không thể thay cho những hành động tiếp theo sau những lời giản dị chân thành sau đây. Khi ta nói một cách chân thành, ba từ sau trong từng hoàn cảnh có thể tạo nên những tình bạn mới, làm cho các tình bạn đã có thêm sâu sắc, và hàn gắn ngay cả những mối quan hệ đã rạn nứt.
Ba từ ngữ sau có thể là công cụ giúp phát triển và cải thiện các mối quan hệ của chúng ta
1. Để tôi/ mình…giúp
Bạn tốt thấy bạn mình (và người khác) cần giúp đỡ luôn cố gắng giúp. Khi họ thấy nỗi đau, họ làm hết sức để giúp hàn gắn. Họ tự nguyện giúp đỡ mà không cần ai nhờ cậy.
2. Tôi (Anh/ Chị / Em..) hiểu bạn( …..)
Người ta sẽ gắn bó và vui vẻ hơn khi được chấp nhận và hiểu biết. Hãy để cho người yêu, người bạn đời, hay những người bạn của bạn biết- bằng nhiều cách đơn giản và những việc nho nhỏ – rằng bạn hiểu họ.
Tôn trọng là một trong nhiều cách biểu lộ yêu thương. Tôn trọng người ta yêu thương chứng tỏ rằng người ấy bình đẳng với ta. Nếu ta nói với các con như nói với người lớn, ta sẽ tạo được sự gắn bó và tin cậy như với những người bạn thân thiết . Điều này áp dụng cho mọi mối quan hệ cá nhân
4. Anh /(Em) nhớ em ( anh)
Có lẽ, và có thể cứu vãn được hay cũng cố thêm những cuộc hôn nhân nếu các cặp vợ chồng nói với nhau lời này một cách chân thành. Lời khẳng định này khiến người bạn đời biết họ được yêu thương và người chồng / vợ cần có mình. Thử nghĩ xem giữa ngày làm việc tại cơ quan, hay khi về đến nhà vào cuối buổi, bạn nghe một lời “Anh nhớ em/ Em nhớ anh“, bạn cảm thấy thế nào?
5. Chắc bạn đúng
Ba từ này rất hiệu quả trong các cuộc thảo luận. Ngụ ý của lời này là sự khiêm tốn, thừa nhận “ chắc tôi sai, hay có lẽ tôi sai”. Ta hãy đối mặt với điều này. Khi bạn tranh cãi với ai, những gì bạn nên làm là chớ quyết liệt phản bác quan điểm của người kia. Cả hai đều không muốn thay đổi quan điểm và bạn có thể làm sứt mẻ mối quan hệ giữa hai người. Khi nói “ Có lẽ bạn đúng” , câu này có thể mở rộng cánh cửa đi sâu hơn vào vấn đề. Sau đó bạn tìm cơ hội bày tỏ quan điểm của mình với người đó theo cách nào đó dễ hiểu và có thể chấp nhận.
6. Xin thứ lỗi
Nhiều mối quan hệ đã rạn nứt có thể được cứu vãn và hàn gắn nếu người trong cuộc biết nhận sai lầm và xin thứ lỗi. Tất cả chúng ta đều có điểm yếu, dễ mắc sai lầm, và có thể thất bại. Một người không nên xấu hổ khi thú thực mình có những hạn chế và sai lầm ấy.Và tìm cách khắc phục. Điều này đúng trong mọi mối quan hệ, kể cả khi cha mẹ sai lầm với con cái. Nói cách khác, hôm nay người nói ” xin thứ lỗi ” sẽ hiểu biết và khôn ngoan hơn ngày hôm qua.
7. Cám ơn bạn ( anh/ chị / em)
Lòng biết ơn là một phong cách lịch sự tuyệt vời . Những người vui sống với những tình bạn thân thiết tốt đẹp không coi nhẹ phong cách lịch sự tối thiểu. Họ sẵn sàng nói những câu nói cám ơn những cử chỉ ân cần , những việc nhỏ bạn làm cho mình. Ngược lại, những người rất ít bạn thường cũng ít bày tỏ sự biết ơn. Trong nền văn hóa Á Đông, một số người thấy không quen với những câu nói cám ơn khi có người mời mình ngồi hay nói một câu khen ngợi mình. Và thậm chí có người còn cho lời cám ơn là khách sáo khi nhận một món quà của người thân trao tặng . Điều đó không đúng
8. Tin ở tôi
Một người bạn là người bước vào và ở lại bên ta khi những người khác bỏ đi. Trung thành, thủy chung là một yếu tố quan trọng đối với những tình bạn chân thực. Đó là sợi dây tình cảm gắn bó bạn hữu. Những người có nhiều bạn tốt thường cũng là những người bạn chân tình và thủy chung. Khi gặp khó khăn, bạn tốt là người nói ”Bạn có thể tin cậy ở tôi”
9. Tôi sẽ đến
Nếu bạn đã từng phải gọi một người bạn đến vào lúc nửa đêm, để giúp đưa một đứa con hay người nhà, hoặc chính bạn đến bệnh viện, hay khi xe của bạn chết máy cách nhà vài cây số, bạn sẽ hiểu giá trị của câu nói đơn giản “ Mình sẽ đến”. Sự có mặt là tặng phẩm lớn nhất ta có thể trao cho nhau. Khi chúng ta thực sự có mặt cho những người khác ( gia đình, bạn bè và cả những ai cần đến ta) những sự thay đổi quan trọng diễn ra trong lòng ta và những người đó. Chúng ta được tắm mình, tươi mới hơn trong tình yêu và tình bạn. Chúng ta được bồi đắp về tình cảm và nâng đỡ về tinh thần . Sự có mặt chính là cốt lõi của phong cách lịch sự.
10. Theo đuổi nó.
Tất cả chúng ta đều là những cá thể độc đáo với những tính cách riêng. Đừng cố gắng buộc người khác tuân theo các khuôn mẫu lý tưởng của mình. Hãy ủng hộ bạn mình theo đuổi những hứng thú, sở thích của họ, dù cho những sở thích ấy rất khác với của mình. Ai cũng có những ước mơ của riêng mình. Hãy ủng hộ và khuyến khích bạn và người thân của mình theo đuổi những ước mơ đẹp ấy.
11. Anh(em) yêu em(anh) / Tôi yêu bạn
Có lẽ đây là những từ quan trọng nhất bạn có thể nói ra. Nói rằng bạn thực sự yêu thương một người là bạn đã thỏa mãn nhu cầu tình cảm lớn nhất của người đó: nhu cầu được thuộc về, được thừa nhận và trân trọng, yêu thương. Người bạn đời, người yêu, bạn, con cái, … tất cả dều cần được nghe 3 từ giản dị nhưng chân thành: “Anh yêu em / Tôi yêu bạn”Tình yêu là một chọn lựa. Bạn có thể yêu ngay khi cảm giác này tưởng như không còn nữa.
(Viết theo Pravs)
Nghe có vẻ giản đơn. Xin nhớ rằng sự chân thành và hành động tiếp theo sau của người nói rất quan trọng. Về bản thân tôi, tôi thực sự tin vào tác dụng của ngôn từ và thấy được hiệu quả của những lời này trong những mối quan hệ của tôi.
Ngày hôm nay, mồng 7 tháng 3 âm lịch là ngày chính hội của lễ chùa Thầy, diễn ra hàng năm từ ngày 5 tới ngày 7 tháng 3 âm lịch tại xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.
Lịch sử lễ hội
Chùa Thầy, còn gọi là Chùa Láng, là nơi thờ và lưu dấu ấn tu hành của nhà sư nổi tiếng Từ Đạo Hạnh (1072-1127) vào thời Lý. Theo tích kể, thiền sư có oan gia, ông sang Ấn độ đi tu rồi trở về giảng đạo, chữa bệnh cứu người, sáng tạo và tổ chức trò chơi dân gian múa rối nước cho dân chúng. Nhà sư hóa Phật tại nơi đây. Trong Lĩnh Nam Chích Quái có một truyện thần thoại về Từ Đạo Hạnh.
Nhân dân lấy ngày Từ Đạo Hạnh hóa Phật (7 tháng 3 âm lịch) để mở hội chùa Thầy. Cứ đến ngày mồng 5 tới ngày mồng 7 âm lịch hàng năm, nhân dân thập phương tứ xứ lại về trảy hội ở núi Thầy, xã Thầy.
Nhớ ngày mồng bảy tháng Ba
Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy.
Từ Đạo Hạnh
Văn hóa lễ hội
Lễ hội chùa Thầy có nét văn hóa rất đặc sắc. Trong ngày hội, các tăng ni phật tử từ các nơi cùng về dự lễ trong những bộ cà sa sang trọng, tay cầm gậy hoa, miệng tụng kinh trong tiếng mõ trầm đều. Lễ gồm hai lễ chính. Lễ tắm tượng và lễ cúng Phật và chạy đàn rất trang nghiêm với phối hợp của nhiều nhạc cụ dân tộc.
Ở hội có trò múa rối nước mang đậm sắc thái dân gian mà ngày nay có tiếng vang ở nhiều nước.
Trai thanh gái lịch gần xa tìm đến hội chùa Thầy còn để thỏa mãn tính mạo hiểm khi leo núi và khao khát bày tỏ tình yêu trong cảnh non nước Sài Sơn hữu tình.
Rủ nhau lên núi Sài Sơn
Ai làm đá ướt đường trơn hỡi mình?
Hỏi non, non những làm thinh
Phải rằng non đã vô tình với ai?
Nước non ví chẳng chiều đời
Mắt xanh đâu lẽ phụ người tình chung?
Yêu nhau ta dắt nhau cùng
Non bao nhiêu đá nặng lòng bấy nhiêu.