William Tell Overture

Chào các bạn,

Bản nhạc mở màn vở nhạc kịch William Tell, gọi là William Tell Overture, là một bản nhạc cổ điển của Gioachino Rosini rất phổ thông, nhất là đọan cuối.

Gioachino Antonio Rossini
Gioachino Antonio Rossini

Gioachino Antonio Rossini (February 29, 1792 – November 13, 1868) người Ý, là một trong những soạn giả rất phong phú và sống động. Ông soạn nhạc cho 30 vở nhạc kịch, cùng một loạt thánh ca và nhạc thính phòng. Nhạc của Rossini thường mang âm hưởng “bài hát”, lên xuống trầm bỗng thường xuyên, (khác với các bản nhạc cho khí cụ, hoặc có thể không lên xuống nhiều, hoặc lên xuống quá tầm giọng hát). Vì đặc tính này mà Rossini được gọi là Mozart của nước Ý. Vào thời ông, Rossini được xem là nhà soạn nhạc kịch lớn nhất trong lịch sử âm nhạc.

Các tác phẩm nỗi tiếng nhất của Rossini gồm Il barbiere di Siviglia (The Barber of Seville), La Cenerentola, La gazza ladra (The Thieving Magpie) and Guillaume Tell (William Tell).

Overture là một đoạn nhạc mở đầu một nhạc kịch. William Tell Overture có tất cả 4 đoạn:

— Prelude (mở đầu): Nhạc chậm và thấp, thường dùng cello (trung hồ cầm) và bass (đại hồ cầm)
— Storm (bão): Rất sống động, toàn dàn hòa tấu.
— Ranz des Vaches (gọi bò sữa): dùng English horn (còi Anh)
— Finale: Đoạn cuối, rất mạnh mẽ như đoàn kỵ binh tấn công trên chiến mã, nên thường gọi là đoạn galloping (ngựa phi), kèn trumpet đi đầu và toàn dàn hòa tấu theo sau.

Đoạn Galloping này được dùng rất nhiều trong văn hóa phổ thông: Nó là nhạc nền chính của series Lone Ranger, rất nỗi tiếng, gồm một radio series kéo dài từ 1933 đến 1954 (21 năm), một TV series từ 1949 đến 1957, và một loạt các phim lẻ. Trong rất nhiều phim ảnh, nhạc kịch, đoạn Galloping được dùng như chính nó, hay là nhái lại hài hước, hầu như không thể kể hết được.

Năm 1838, nhạc sĩ Franz Liszt biên soạn William Tell Overture cho piano. Và ngày nay người ta chơi William Tell Overture với mọi khí cụ, đủ kiểu.

Sau đây chúng ta sẽ nếm một tí mùi vị phong phú của William Tell Overture qua các video sau đây:

(1) Dàn đại hòa tấu quốc tế Berliner Philharmoniker với nhạc trưởng khét tiếng Herbert Von Karajan.
(2) Hảo thủ số một thế giới về mandolin, Even Marshall, độc tấu
(3) Hai anh em Johnathan và Tom Scott song tấu trên một piano.
(4) Hảo thủ trống với một dàn trống rock vĩ đại.
(5) Gerry Phillips chơi William Tell Overture với chỉ hai bàn tay !!
(6) Lời mẹ nói, nhái William Tell Overture với giọng opera nữ (có phụ đề lời Anh ngữ).

Mời các bạn thưởng thức.

.

Đại Hòa Tấu: Gioachino Rossini (1792-1868) WILLIAM TELL OVERTURE (1829) Berliner Philharmoniker HERBERT VON KARAJAN (1908-1989) New Year’s Eve Concert, Berliner Philharmonie Dec 31, 1983

.

Mandolin: Mandolinist Evan Marshall performing the William Tell Overture

.

Piano: Scott Brothers Duo (Jonathan & Tom Scott) perform the Gallop from The William Tell Overture arranged for piano duet by Gottschalk.

.

Trống: Vadrum Meets William Tell (Drum Video)

.

Hai bàn tay: My name is Gerry (Jerry) Phillips and I have been playing songs on my hands for 38 years!

.

Lời Mẹ Nói: The Mom Song Sung to William Tell Overture

Nguyễn Thị Tiến: Tìm về những linh hồn đồng đội

Chào các bạn,

Vào dịp giỗ tổ Hùng Vương năm 2008 tại Đại Sứ Quán Việt Nam ở Washington DC, qua sự giới thiệu của chi Lê Phượng của Thông Tấn Xã Việt Nam, mình gặp chị Tiến.  Hình ảnh đầu tiên đến với mình  là một người phụ nữ rất vui vẻ bình thường, nhưng một lúc sau, biết được là chị đã có quân hàm trung tá và đang theo đuổi công việc tìm hài cốt các chiến sĩ đã hy sinh trong chiến tranh để mang họ trở về nguyên quán, thì mình rất đỗi ngạc nhiên và xúc động–ngạc nhiên vì đó là công việc rất bất thường, tiêu thụ rất nhiều năng lượng của con tim và chắc chắn là đôi khi rất nhiều stress, trong một phụ nữ nói chuyện thật là vui; xúc động vì việc thì nặng cảm xúc đến thế mà nói chuyện thì thanh thản đến thế, là người mình rất phục.
trungtanguyenthitien2
Dịp đó chị Tiến sang Mỹ để liên hệ với các tổ chức cựu chiến binh Mỹ, để mong tìm thêm được các kỷ vật các chiến binh Mỹ thu lượm được trong thời chiến, hầu có thể giúp thêm chị trong việc tìm và xác định hài cốt đồng đội.

Hôm nay mình giới thiệu chị Tiến và công việc của chị đến các bạn.  Mong là bài này giúp chị một tí niềm vui sau nhiều năm tháng đối diện với bao nhiêu xúc cảm nặng nề.   Mình cũng mong các bạn hỗ trợ chị Tiến trong những cách thức có thể, như là báo cho bạn bè Mỹ của mình biết về công việc của chị và nhu cầu thu lượm tin tức cùng kỷ vật, hoặc các bạn có nhu cầu tìm thân nhân đã mất trong thời chiến tranh.

Mình đang đợi chị Tiến viết một vài bài về công việc của chị cho ĐCN.  Lúc đó chúng ta có thể có thêm thông tin về chị.

Dưới đây là ba bài báo về công việc của chị:   (1) “Liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm trở về đất mẹ”, 7/2008, trên baovietnam.vn, về chuyến đi Mỹ của chị năm 2008.  Bài này cũng có câu chuyện rất cảm động về kỷ vật và thông tin của một cựu binh Mỹ, và công sức của anh và thân nhân trong việc bay về tận bãi chiến trường cũ tại Việt Nam, để giúp tìm ra hài cốt của liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm và mang anh trở về quê.

(2) “Người tìm về những linh hồn đồng đội” trên vietbao.vnngày 25.7.2007

(3)  “60 năm ngày thương binh liệt sĩ–Những câu chuyện tìm lại tên anh” ngày 27.7.2007 trên báo Tuổi Trẻ.

Chúc chị Tiến luôn có được niềm vui trong công việc.  Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành

.

TP- Khi gặp lại Tiến tại quê nhà, câu chuyện như kéo dài thêm về những ngày ở Washington lẫn Maryland của Tiến.

Homer đi đầu (bên phải) khiêng quan tài LS Hoàng Ngọc Đảm trong buổi lễ truy điệu ngày 19/5/2008 tại xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình (ảnh của trung tá Nguyễn Thị  Tiến)

Vị cựu binh thủy quân Lục chiến, Wayne nay là GS sử học Đại học Maryland đã mời Tiến nói chuyện với sinh viên đại học Maryland. Người dịch cho Tiến và vị GS nọ là Sedgwick D. Tourison, Jr. nguyên là Sĩ quan Quân báo Lục quân.

Ông đã có nhiều năm tham chiến trên chiến trường Việt Nam và rất giỏi tiếng Việt. (được phép của Tiến, có lẽ một dịp thích hợp toàn bộ bức email khá xúc động mà ông mới vừa gửi cho Tiến sẽ được công bố. Sau đây là trích một đoạn:

Ngày 27/7 là ngày đặc biệt của toàn dân Việt Nam đặc biệt là quân nhân và gia đình của liệt sĩ Việt Nam đã nằm xuống vì Tổ Quốc. Hàng vạn hài cốt liệt sĩ vẫn chưa mang về…

Mỗi ngày tôi như nghe thấy tiếng gọi của liệt sĩ Việt Nam nói nho nhỏ, cho tôi về nhà đi… Cho tôi về nhà đi… Nếu trong khả năng của tôi thì tôi sẽ hết sức cố gắng thi hành nhiệm vụ của một con người giúp họ về càng sớm càng tốt…

Trở lại với buổi nói chuyện của Tiến ở ĐH Maryland. Hơn một giờ đồng hồ, Tiến đã nói về nỗi đau dằng dặc hàng bao năm của những bà mẹ Việt Nam có con đi chiến đấu ở chiến trường xa. Rồi sau chiến tranh, có hàng trăm ngàn bà mẹ người thân của họ lại gánh thêm nỗi đau không tìm thấy hài cốt của con em mình.

Tiến kể về công việc khiêm tốn của mình trong nhiều năm qua đã góp sức cùng nhiều người và nhiều cơ quan khác có trách nhiệm ở Việt Nam như một sự chung tay làm dịu đi nỗi đau ấy.

GS Wayne rất xúc động và gần như có cuộc phát động ngay sau đó rằng các cựu binh Hoa Kỳ có mặt ở đây và các sinh viên có mối quan hệ với các cựu binh nên thông tin cho họ rằng nếu tìm thấy hoặc đang cất giữ những kỷ vật của bộ đội Việt Nam thì hãy trao trả cho Việt Nam hoặc trực tiếp liên lạc với  bà Nguyễn Thị Tiến có địa chỉ ở Việt Nam và email đây!

Xin trở lại với lời dặn dò nhắc nhở của bà mẹ Homer rằng phải tìm cách trả lại cuốn sổ cùng địa chỉ vị trí nơi chôn cất liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm.  Xúc động lẫn trăn trở về những tâm sự của người bạn thân Homer, năm 2005, GS Wayne đã tìm được cơ hội.

Trong một chuyến công tác sang Việt Nam, cũng là dịp trở lại chiến trường xưa, ông đã liên hệ với nhiều cơ quan có trách nhiệm và đáng nói nhất là đã liên lạc được với gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm.

Trở về Mỹ, vị GS nọ luôn ám ảnh bởi buổi được chứng kiến khung cảnh cực kỳ cảm động khi gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm cùng địa phương đã tổ chức đón cuốn sổ nhật ký của Hoàng Ngọc Đảm như thế nào.
nghiatranglietsi1
Được tận mắt chứng kiến nỗi khát khao của gia đình nếu như tìm thấy hài cốt của liệt sỹ qua vị trí chôn cất mà Homer có hướng dẫn tỷ mỉ trong thư. Và điều GS kể lại cho ông bạn thân Homer khiến bạn sửng sốt rằng, dẫu biết mười mươi người đã giết con mình là bạn thân của ông người Mỹ đang có mặt tại nhà họ, nhưng âm hưởng chủ đạo của cuộc gặp lẫn buổi đón nhận cuốn nhật ký lại là không khí cảm động chứ những người thân của liệt sỹ Đảm tuyệt nhiên không có ai nhắc tới hận thù này khác!

Đó là một trong những duyên do khiến bà mẹ Homer hối giục con mình nên mau mau một lần trở lại chiến trường cũ!

Có một việc Homer và ngay cả GS Wayne cũng không thể ngờ được rằng, theo hướng dẫn của Homer trong thư, gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đã vào tận đèo Măng Giang, Kon Tum…

Cứ như vị trí mà Homer khẳng định, thì trước đó từ lâu, địa phương đã phát hiện ra ngôi mộ liệt sĩ ở vị trí của Homer từng xác định sau này và đã làm cái việc cất bốc, quy tập mộ Liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm về nghĩa trang liệt sỹ của địa phương.

Tất nhiên phần hài cốt của liệt sỹ Đảm ấy khi vào nghĩa trang cũng là vô danh như phần nhiều ngôi mộ liệt sỹ khác. Thật may mắn là trong những lần quy tập ấy, người ta đã kịp đánh số vẽ sơ đồ cho mộ liệt sỹ.

Sau chuyến đi Mỹ trở về, đầu tháng 5/2008, Nguyễn Thị Tiến được GS Wayne báo tin sẽ cùng với ông bạn thân Homer sang Việt Nam. Và họ sẽ có chuyến vào Măng Giang, Kon Tum đến tận nơi Hoàng Ngọc Đảm đã nằm xuống.

Nhưng phải cuối tháng 5, hai cựu binh Thủy quân lục chiến ấy mới có mặt tại Việt Nam. Được phép của cơ quan có trách nhiệm cũng như gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm, một chuyến đi vào Kom Tum đã được thực hiện.

Chuyến đi đó ngoài hai người cựu binh Thủy quân lục chiến còn có mấy người anh em ruột của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm là Hoàng Đình Lượng, Hoàng Đình Cát, Hoàng thị Tươi.

Nhà văn nhà báo Minh Chuyên, một người cũng có nhiều duyên nợ âm phần, từng thực hiện nhiều bộ phim về đề tài này cùng kíp làm phim 3 người của Đài Truyền hình Việt Nam.

Đặc biệt tham gia chuyến đi còn có một người cháu gái của cựu binh Homer. Và còn có một nhà ngoại cảm đi theo theo yêu cầu của gia đình liệt sỹ. Một trận cảm bất ngờ đã khiến trung tá Nguyễn Thị Tiến không có mặt trong đoàn.

Trong thời gian không lâu nữa, có thể trong dịp 27/7 sắp tới, bộ phim do nhà văn Minh Chuyên đạo diễn và kíp làm phim thực hiện về cuộc đi hy hữu này sẽ được trình chiếu nhưng những gì người viết bài này được kể lại một phần trong chuyến đi đó vẫn khá ấn tượng.

Quá nửa ngày, cựu binh Homer đã quày quả đi đi lại lại, săm soi chỉ một khúc đèo ngắn của Măng Giang. Gần 40 năm qua mọi vật cảnh quan có lẽ đã đổi thay nhiều.
nghiatranglietsi
Cây cối xứ nhiệt đới đã nhổng nhao nhanh chóng ở những khoảng ngày xưa là đồi trọc. Và vô khối khoảnh rừng già đã biến mất. Nhưng cuối cùng, trường đoạn của cảnh quay cũng đã kết thúc khi Homer qua quá trình khoanh vùng đã loại bỏ dần và xác định được tọa độ.

Địa điểm mà liệt sỹ Hoàng Đình Đảm nằm xuống mà Homer khẳng định cũng trùng với khu vực mà trước đây nhiều năm đội quy tập liệt sỹ đã cất bốc mộ của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đưa vào nghĩa trang địa phương.

Trời trưa Tây Nguyên bốc nắng dữ dội, nhìn vị cựu binh Thủy quân lục chiến cao gầy, tóc bạc râu bạc ở cái tuổi 62, nén hương trong tay run rẩy, người như đổ sụp xuống ngôi mộ Hoàng Ngọc Đảm và cất tiếng khóc ồ ồ thảm thiết khiến những người có mặt không khỏi bùi ngùi.

Chao ôi nếu như không có động thái xiết cò khẩu AR15  máy móc bản năng và vô thức ấy của người lính Thủy quân lục chiến Homer bắn vào anh chiến sĩ y tá trong đội phẫu thuật tỉnh đội Gia Lai (trong cuốn nhật ký mà Homer giữ hàng chục năm nay, bây giờ những người thân của anh Đảm mới được coi những tấm hình anh vẽ về bộ phận cơ thể người.

Y tá Hoàng Ngọc Đảm, theo như trung tá Nguyễn Thị Tiến kể lại khi Tiến được tiếp xúc với cuốn nhật ký đó, thì những hình vẽ của anh Đảm rất đẹp, cứ như là chuyên nghiệp.

Nếu không mệnh hệ gì, lành lặn trở về, thì biết đâu bây giờ anh Đảm đã là một họa sĩ tên tuổi)  vào mùa xuân năm 1969 thì làm gì hôm nay bao người đã phải nhọc nhằn? Mà đâu chỉ riêng cuộc đi này, hành trình của dân tộc mình trong lộ trình nâng niu trân trọng quá khứ, trả lại tên cho các liệt sỹ vô danh sẽ còn vô khối những chặng như cuộc đi như thế này nữa…

Phần mộ của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đã được cất bốc để đưa về quê anh ở xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình. Đó là ngày 24/5/2008. Sinh ngày 1/4/1944 (nhờ trí nhớ của Homer mà gia đình anh Đảm từ nay cúng đúng giỗ theo lịch âm tức ngày Mồng Một tháng hai Âm lịch) đã 39 năm anh Đảm nằm lại đất Kon Tum.

Homer kém anh Đảm 2 tuổi. Một thuở một thời khác chiến tuyến. Nhưng hôm nay, cùng một lứa bên trời lận đận? Người nằm trong chiếc tiểu sành kia với kẻ lênh khênh, đầu tóc xác xơ, bờm xờm, toã tượi từng đã dằn vặt sám hối bao năm đến nỗi vướng phải thể trạng tâm thần nhẹ, chẳng biết ai thanh thản hơn ai?

Tiến kể lại rằng (chắc cũng trùng với những thước phim của Minh Chuyên cũng có những đoạn những “xen” tương tự)  trời hôm đó nắng nóng khác thường cựu binh thủy quân lục chiến Homer mồ hôi ướt sũng quần áo, cũng dáng thiểu não toã tượi như thế đã đứng vái lạy trước di cốt cũng như tự nguyện đứng hàng đầu để khênh chiếc tiểu sành đựng hài cốt anh Hoàng Ngọc Đảm trong lễ truy điệu. Chỉ có tiếng khóc tiếc thương đủ mọi cung bậc của người thân. Nhưng tuyệt nhiên không một lời oán thán này khác.

Homer và người cháu gái lẫn GS Wayne đều không biết tiếng Việt nhưng họ hiểu thứ ngôn ngữ ấy, thông điệp ấy qua cái nhìn, ánh mắt của những người thân anh Đảm và những người dự lễ truy điệu cũng như  khi đưa anh Đảm vào lòng đất Mẹ ở nghĩa trang liệt sỹ xã nhà Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình!

Chặng đưa hài cốt anh Đảm ra Bắc đến thành phố Vinh thì trung tá Nguyễn Thị Tiến mới nhập cuộc được. Trận cảm bất ngờ chưa dứt nhưng Tiến đã quyết nhập chặng hành trình từ Vinh đưa tiếp anh Đảm về Thái Bình. Và Tiến cũng đã kịp bày biện ra một bất ngờ khác.

Xin bạn đọc trở lại những thứ mà Homer móc trong túi LS Hoàng Ngọc Đảm và cất giữ mấy chục năm nay, ngoài cuốn nhật ký của anh Đảm còn có một tấm bằng lái xe loại trung xa  mang tên Nguyễn Văn Hai cấp ngày 28/7/1964 do trung tá Nguyễn Văn Đôn, Cục Quản Lý Xe máy, Tổng Cục Kỹ thuật ký.

Mãi trong chuyến đi Mỹ vừa rồi, khi nghe GS Wayne kể lại, Tiến giật mình bởi cô thường xuyên nhận được những tin nhắn về kỷ vật liệt sỹ, cuối tháng 12 năm ngoái cũng có tin đến cô cái bằng lái xe nào đó của Nguyễn Văn Hai. Vừa về nước, cô phát tiếp tin nhắn tìm trên một số phương tiện thông tin đại chúng.

Liệt sĩ chưa rõ tên
Liệt sĩ chưa rõ tên

Một ngày cũng mới đây thôi, có một ông lão gầy gò tìm đến nhà Tiến và xưng là… Nguyễn Văn Hai! Sau khi kiểm tra kỹ càng CMT và nghe ông lão tên Hai kể chuyện, Tiến vui mừng nhận ra ông Nguyễn Văn Hai may mắn còn sống sót và ông chính là chủ nhân của cái bằng lái xe nọ.

Quê ông lại cách thành phố Vinh cũng chả xa mấy. Đó là xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Để đợi đoàn rước mộ anh Đảm, ông Hai đã ở hai ngày trong nhà gia đình Tiến để đợi Homer.

Nhân chuyến đi của Homer và gia đình anh Hoàng Ngọc Đảm vào Kon Tum đưa mộ liệt sỹ Đảm về Thái Bình, Tiến đã liên lạc gấp với ông Nguyễn Văn Hai về Vinh để gặp lại người từng giữ chiếc bằng lái xe của ông mấy chục năm trời.

Và trước khi đưa anh Hoàng Ngọc Đảm về lại Thái Bình, tại thành phố Vinh đã có một cuộc kỳ ngộ thú vị giữa cựu chiến binh Nguyễn Văn Hai và cựu binh thủy quân lục chiến Homer cùng các thành viên trong đoàn.

Còn tại sao cái bằng lái xe trung xa của ông Nguyễn Văn Hai lại ở trong túi của anh y tá Hoàng Ngọc Đảm rồi lọt vào tay Homer là cả một câu chuyện dài xin khất bạn đọc vào một dịp khác.

Người viết xin được khép lại ghi chép nhiều kỳ “Lại kể tiếp chuyện đi Mỹ” này bằng dòng tin nhắn theo yêu cầu của trung tá Nguyễn Thị Tiến.

Ông Phạm Thanh Siếu bây giờ đang ở đâu? Ai là thân nhân của Phạm Thanh Siếu? Thông tin cụ thể hơn xin gặp gia đình ông Hoàng Đình Lượng (em trai liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm) xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình. Hiện nay cuốn sổ tay của ông Phạm Thanh Siếu, ông Lượng vẫn chịu trách nhiệm bảo quản tại nhà riêng.

(Trong những kỷ vật mà Homer trao lại ngoài cuốn nhật ký của anh Đảm, bằng lái xe của ông Hai còn có một cuốn sổ cá nhân mang tên Phạm Thanh Siếu. Nhưng tiếc rằng, có thể vì lý do để giữ bí mật chăng mà anh Phạm Thanh Siếu đã không ghi tên địa chỉ quê quán, đơn vị trong cuốn sổ?)

Tháng 7 năm 2008
X.B

.

Người tìm về những linh hồn đồng đội

.

Nguoi tim ve nhung linh hon dong doi
Trung tá Nguyễn Thị Tiến – Phó Giám đốc Bảo tàng Quân khu IV. Ảnh: Trọng Hiếu

Chiến tranh đã lùi xa, trong số hàng triệu người con ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc còn hàng vạn người phải nằm lại nơi lưng đèo, cuối dốc. Ngày trở về quê hương, hành trang của họ thật đơn giản, chị Tiến đã lưu lại những di vật tưởng chừng như vô tri vô giác chôn cùng những liệt sĩ để rồi âm thầm xác minh danh tính.

Đi tìm những “khoảng không nhức nhối”

Thành Vinh một chiều mưa rả rích, buồn đến nao lòng. Trung tá Nguyễn Thị Tiến (Phó Giám đốc Bảo tàng Quân khu IV) cứ tẩn mẩn cầm từng di vật của liệt sĩ là chiếc bút, chiếc kính gãy gọng, chiếc khăn tay khẽ khàng nói với tôi: “Rồi thời gian vụt qua đi, những di vật này ngày lại lặng im nằm đó, cũng như biết bao di vật đang âm thầm cô đơn nơi hoang vắng. Để rồi bao nấm mộ mãi mãi bị đè nặng bởi tấm bia đá lạnh lùng trong tên gọi: Vô danh!”. Tôi thấy đôi mắt chị long lanh một cách lạ kỳ, chứa trong đó bao tình cảm về những đồng đội…

Nhìn những di vật được xếp trang trọng trong bảo tàng, mấy ai cầm được nước mắt. Hòn đá núi khắc tên, hòn đá cuội khắc tên, mảnh cây khắc tên, cây bút khắc tên và đương nhiên cả tấm bia nữa… đó là những hàng chữ, những cái tên ấm áp nhưng cũng lạnh lùng một cách tàn nhẫn: Đ-H-Lượng; Trần Văn Lợi; Nguyễn Văn Sông… Nhưng họ quê ở đâu? thuộc đơn vị nào? Không ai biết. Thấy những cái tên, ai cũng thèm khát, nhưng ai dám chắc đó là con, em mình. Tấm bia, cái tên kia bỗng trở thành khoảng không nhức nhối.

Chị Tiến nghẹn ngào: “Tôi còn nợ liệt sĩ Bùi Ngọc Thuần một lời hứa trước khi chuyển hòn đá có khắc tên anh về bảo tàng. Một dòng tên khắc vào hòn đá núi: TK.B4. Bùi Ngọc Thuần. 12/12/66, phần mộ của anh đã được đưa về nghĩa trang đường 9, mộ số 300. Nhưng quê anh ở đâu? Ai là thân nhân? TK.B4 là đơn vị nào? Bốn năm rồi tôi hỏi khắp nơi mà chưa thấy có hồi âm”. Chị bảo: “Tôi ước chi tìm được mẹ cho anh để đưa anh về với mẹ”.

Những cuộc hành trình đầy nghĩa tình

Chuyến đi tìm di vật đầu tiên của chị là ngày 13/1/2000, khi ấy, nhận được tin đoàn quy tập Bộ chỉ huy Quân sự Quảng Bình chuyển hài cốt quân tình nguyện Việt Nam từ Khăm Muộn (Lào) về nghĩa trang Ba Dốc. Chị lập tức xin nghỉ bắt xe theo.

Chị cho tôi xem tấm ảnh được thấy trong hài cốt chỉ có tên là Hương, đó là một chiếc gương soi cỡ 5×8, mặt sau gương là một tấm kính cả hai ép vào nhau, ở giữa có một chiếc ảnh đen trắng cỡ 3×4 chụp một bà mẹ già khoảng 50 tuổi, đầu chít khăn vấn tròn. Không nhìn rõ mặt vì vết máu khô loang lổ.

Chị Tiến nhớ lại: Khi thấy tấm ảnh trong hài cốt, tất cả đều đoán người trong ảnh là mẹ liệt sĩ. Biết tôi có ý muốn giữ lại, một anh lính trẻ thủ thỉ: “Cô ơi, hành trang của anh ấy chỉ có thế thôi. Mẹ đã theo anh khắp chiến trường thì cứ để mẹ nằm với anh trong mộ, cô đừng lấy đi kẻo tôi anh ấy lắm!. Tôi phải thuyết phục mãi, rằng biết đâu tấm ảnh này sẽ đưa anh về với mẹ”.

Sau khi tấm ảnh được đăng trên một số báo thì phải đến 10 tháng sau, nhận được tin của người nhà liệt sĩ Hương rằng mẹ Diệp, người trong ảnh là mẫu thân liệt sĩ Hương (về sau xác định là Bùi Danh Hương) vẫn còn sống tại xã Thanh Long, Hưng Yên.

Chuyến đưa hài cốt liệt sĩ Hương về với mẹ là một kỷ niệm suốt đời tôi không bao giờ quên. Mẹ Diệp đã 94 tuổi, tai điếc nhưng linh cảm về đứa con trai bé bỏng thì còn vẫn còn nguyên. Mẹ cứ ôm bức ảnh của mình lấm lem cùng máu khô của con trai mà khắc khoải: “Nó đâu rồi, nó đâu rồi!” Khiến mọi người trong đoàn không ai cầm được nước mắt.

Ảnh minh họa


Chị Tiến với di vật của các liệt sỹ. ảnh Trọng Hiếu

Chị Tiến nói như lạc giọng: “Có những lần tìm được nhiều mộ quá. Tôi hoang mang đi trên mảnh đất quê mình mà thấy đau… Tôi không dám bước mạnh chân, còn biết bao đồng đội đang nằm cô lạnh trong lòng đất”.

Tôi không muốn ly kỳ hoá công việc tìm kiếm hài cốt, trả lại tên cho các liệt sĩ nhưng trong quá trình đi tìm của chị cũng có những sự ngẫu nhiên đến lạ lùng. Đôi mắt chị chợt xa xăm. Và dường như bên cạnh chị còn có chính các… liệt sĩ.

Chị kể: “Từ ngày 14/1 đến 26/1/2000 tôi phải đi sáu tỉnh, sang cả nước bạn Lào để theo từng đội quy tập đưa hài cốt liệt sĩ về. Khi trở về nhà trời đã gần sáng, tôi lăn ra ngủ để chuẩn bị đi tiếp vào Hà Tĩnh đón đoàn qui tập từ BuLiKhămXây (Lào) về. Định bụng chợp mắt một lúc cho lại sức nhưng quá mệt nên thiếp đi. Chính trong lúc thiếp đi đó, tôi thấy một anh bộ đội về trong giấc mơ, anh bảo “này O, O mà ngủ bây giờ là ốm đấy. O vào đón em về đi. Lần này nhiều di vật lắm”. Tôi giật mình tỉnh giấc và nhớ rằng còn phải đi Hà Tĩnh, thế là lại lên đường. Và trong 42 bộ hài cốt lần đó, tôi tìm được một lọ đựng mảnh giấy đã mờ, sau khi dùng kính lúp thì luận ra được tên anh: Trương Xuân Đình, E271, quê ở Bản Ngọc, Quỳ Hợp, Nghệ An. Tôi tin đó chính là anh bộ đội đã gặp trong giấc chiêm bao”.

Chị bảo, đến giờ chị vẫn nhớ như in khuôn mặt của anh bộ đội với chiếc răng khểnh trông rất duyên đó, chị ước giá mà đến được quê anh, có được tấm hình để xem có giống người trong mơ hay không.

Về sau này, bà giám đốc bỗng trở thành khách mời thường xuyên của chương trình “Người đương thời”. Tranh thủ những cơ hội “hiếm có” như vậy chị đưa lên những di vật mà mình đã sưu tầm. Và không ít trong số đó đã có người thân đến nhận.

Chị bảo: “Mệt lắm, nhưng cứ chứng kiến có bà con ở tận vùng cao, mãi 30 năm mới gom góp đủ tiền đi tìm mộ con, mà vẫn không thấy. Nhìn ông bố, bà mẹ, người vợ vẫn đỏ mắt trông chờ tin con mà se sắt lòng…”. Chị nổi tiếng đến nỗi 1080 của Hà Nội đã hỏi số điện thoại của chị để cung cấp cho thân nhân liệt sĩ.

Giọng chị chợt buồn: “Vậy mà cũng có người phao tin là thân nhân liệt sĩ trả tiền cho tôi nhiều, “trúng” lắm. Tôi buồn quá”. Thôi thì thiên hạ cũng lắm kẻ này, người nọ, họ bàn ra tán vào thế nào là tuỳ, mình làm việc tâm đức hơi đâu mà để ý. Tôi chắc là anh cũng nghĩ thế!”

****

Chiều, tôi vẫn lang thang giữa dòng bia mộ trắng xoá, khói hương bảng lảng, gió chiều vi vu. Chợt nhận ra còn quá nhiều nấm mồ không có tên. Lại vu vơ một niềm hy vọng, bởi trong vô vàn số không tên đó thể nào cũng có người được về với người thân bởi công việc thầm lặng của chị Tiến.

Người đi tìm tên đồng đội

Trung tá Nguyễn Thị Tiến – sinh năm 1955 trên mảnh đất nắng gió miền Trung (Nghi Lộc – Nghệ An). Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, chị về giảng dạy tại Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt, Đồng Tháp. Năm 1984, chị chuyển về làm cán bộ thuyết minh của Bảo tàng Quân khu IV.

Đồng cảm trước nỗi đau của thân nhân những liệt sĩ chưa tìm được hài cốt của con em mình, chị Tiến xin phép cơ quan đi theo các đội quy tập hài cốt liệt sĩ, sưu tập những di vật, vừa để giáo dục truyền thống, vừa hy vọng qua các di vật còn lại của liệt sĩ có thể tìm lại tên tuổi, quê hương của họ. Chị lặn lội khắp các chiến trường xưa. Mỗi lần như vậy, tranh thủ lúc anh em trong đội nghỉ giải lao, chị lụi cụi thắp hương, lần tìm và xin cất giữ các di vật, để đem về xác minh.

Chị đã tìm thấy hàng trăm di vật, từ cái cối giã trầu bằng vỏ đạn, chiếc lược nhôm, cặp tóc, vòng tay đến những tấm ảnh, bút mực Hồng Hà… Những di vật, những linh hồn tưởng như đã vĩnh viễn chôn chặt dưới lòng đất cùng phần mộ liệt sĩ vô danh, nay được chị Tiến nâng niu, cất giữ. Đối với chị, mỗi di vật là một câu chuyện cảm động, một nỗi đau riêng. Tất cả được chị tập trung nghiên cứu trong đề tài khoa học mang tên “Góp phần xác định liệt sĩ chưa biết tên và công tác bảo tồn trưng bày di vật”, được giải A cấp quân khu. Cho đến nay, chị đã góp phần trả lại tên cho hàng trăm liệt sĩ

.

Thứ Năm, 26/07/2007, 04:14 (GMT+7)

60 Năm ngày thương binh liệt sĩ

Những câu chuyện tìm lại tên anh

Trung tá Nguyễn Thị Tiến và những di vật tìm được từ mộ các liệt sĩ. Từ đây, chị tìm manh mối để đưa các anh về với gia đình – Ảnh: M.L.

TT – Đó là những câu chuyện về con tìm cha, em tìm anh, núm ruột tìm kiếm núm ruột. 32 năm sau cuộc chiến, những cuộc tìm kiếm vẫn chưa ngưng nghỉ. Làm việc ở Bảo tàng Quân khu 4, trung tá Nguyễn Thị Tiến chứng kiến những câu chuyện xúc động.

Nghe đọc nội dung toàn bài:

“…Con sẽ ôm ba mãi mãi”

Một buổi sáng, người thanh niên tên Trần Văn Sơn đến tìm trung tá Nguyễn Thị Tiến, phó giám đốc Bảo tàng Quân khu 4 (Vinh, Nghệ An). Đó là con trai liệt sĩ Trần Văn Bàn (thị trấn Sông Cầu, Phú Yên). Vừa đặt bó huệ lên đài tưởng niệm (phòng trưng bày di vật liệt sĩ), Sơn quì sụp, đập đầu rất mạnh xuống nền đá. Và khóc. Lần đầu tiên chị Tiến thấy một người con trai khóc như thế!

Cha Sơn tập kết ra Bắc và cưới mẹ. Ở với nhau được một năm thì cha vào Nam chiến đấu. Rồi hi sinh. Mẹ cũng về với cha khi Sơn mới một tuổi… Đứa con côi cút lớn lên với hình ảnh cha và mẹ qua lời kể của dì… Trái tim của người con khiến không thể giữ nổi đôi chân. Sơn quyết tâm đi tìm mộ cha. Khắp miền Nam, ở đâu có nghĩa trang liệt sĩ, ở đó có dấu chân Sơn. Bạn đồng hành của Sơn khắp nẻo đường gian nan là quyển sổ sinh hoạt Đảng đã ố vàng của cha – di vật duy nhất để lại.

Nhưng sổ ghi rất hạn chế. Gần thất vọng, chị Tiến lần giở trang cuối cùng, ở góc trên trang giấy bị nếp gấp, vuốt ra cho thẳng thì nhìn thấy ba chữ số viết bằng mực màu xanh lá cây: 812. Đó có thể là trung đoàn 812 của sư đoàn 324 thuộc Quân khu 4. Nếu đúng như thế thì có thể tìm ra manh mối rồi!

Sơn xúc động: “Nếu chuyến đi này con tìm được ba, con sẽ cởi chiếc áo đang mặc, đang có mùi mồ hôi của con, trải rộng ra, con xếp xương cốt ba vào, lấy hai cánh tay áo quàng ôm chặt ba con lại, coi như con ôm ba mãi mãi…”. Chứng kiến cảnh đó, vị nữ trung tá xúc động.

Chị liên lạc ngay với thiếu tướng Nguyễn Minh Long ở TP.HCM (nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 812). Biết ông đang thăm đồng đội tại Hà Nội, kế hoạch đi Hà Nội được vạch ra ngay.

Trong đêm đó, khi Sơn đang trên tàu thì ở Hà Nội, các cựu chiến binh trung đoàn 812 đã gọi nhau đến. Họ lần về quá khứ, hồi tưởng những trận đánh, bàn bạc để khoanh vùng khu vực hi sinh của liệt sĩ Trần Văn Bàn. Những thông tin được khớp nối… chắp ghép… Cuối cùng, một địa danh được khẳng định: huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị!

3g sáng. Tàu đến Hà Nội. Nhưng Sơn không dám đánh thức chủ nhà. Sớm mai. Vừa mở cửa, ông Long đã thấy một thanh niên đang bó gối, thiếp đi. Khuôn mặt nó sao mà giống Bàn quá! Người tướng già ôm lấy đứa con của đồng đội. Một già một trẻ nhìn nhau nghẹn ngào… Chỉ còn những giọt nước mắt.

Sơn lập tức trở vào Quảng Trị. Hơn 15 năm ròng rã, người con có tấm lòng hiếm có ấy mới tìm được cha, dù chỉ là hình hài trong nấm mộ…

“Hay là cho tôi một nửa…”

Trung tá Nguyễn Thị Tiến là người bảo vệ thành công đề tài khoa học “Xác minh lý lịch liệt sĩ chưa biết tên qua di vật nằm cùng phần mộ”. Bằng phương pháp đối chiếu, so sánh tổng hợp, điều tra, xác minh, tìm nhân chứng, giải mã ký hiệu đơn vị, thời gian hoạt động, địa bàn và thông qua hệ thống thông tin đại chúng (có trường hợp phải sử dụng công nghệ giám định gen), lý lịch của hơn 100 liệt sĩ chưa biết tên, quê quán có di vật nằm cùng đã được xác minh.

Chị Tiến bảo trường hợp một hài cốt liệt sĩ nhưng có nhiều thân nhân đến nhận không phải ít. Nhưng câu chuyện về liệt sĩ Ngô Khổng Minh (hi sinh tại bản Bua La Pha, Khăm Muộn, Lào) là một kỷ niệm đầy xúc cảm. Mấu chốt của câu chuyện bắt nguồn từ chữ viết trên di vật liệt sĩ là Hzo.K Muhx, viết theo phiên âm tiếng Nga, dịch ra tiếng Việt là Ngô K.Minh.

Khi mới công bố, một cựu chiến binh tên Ngô Văn Thưởng (Diễn Hoa, Diễn Châu, Nghệ An) đến xin nhận. Ông là cháu ruột của liệt sĩ Ngô Khắc Minh. Nhưng ông Thưởng chỉ giữ được có mỗi chiếc Huân chương chống Mỹ nên không có căn cứ để tìm đơn vị. Cùng lúc đó, một gia đình ở Thanh Chương (Nghệ An) tìm liệt sĩ Ngô Khổng Minh. Họ có đầy đủ giấy tờ liên quan. Nhất là giấy báo tử có tên đơn vị: sư đoàn 968. Chị Tiến vào ngay sư đoàn 968 (Quảng Trị) để xác minh. Đúng là có liệt sĩ Ngô Khổng Minh, hi sinh tại bản Bua La Pha!

Vậy là bí mật của chữ K. đã được giải mã.

Trong lúc mọi người chưa biết xử lý như thế nào thì ông Thưởng quệt nước mắt, miệng méo xệch, muốn nói mà môi cứ dính lại. Mãi ông mới thổn thức từng tiếng một: “Hay là các ông các bà cho tôi một nửa…”. Người lính già nấc nghẹn, hai tay ôm lấy mặt. Ông nơm nớp sợ nghe một lời từ chối. Trái tim ông sẽ vỡ vụn mất thôi!

Không ai cầm lòng được trước lời đề nghị quá đột ngột, bất ngờ này. “Tim tôi bị bóp nghẹt! Tôi khóc như một đứa trẻ có lỗi. Trời ơi, giá mà tôi tìm thấy cả hai liệt sĩ… Tôi hiểu ông Thưởng muốn xin một nửa, không phải là chia một nửa hài cốt mang về quê hương. Mà ông muốn trên bia mộ chỉ khắc chữ “Liệt sĩ Ngô K.Minh”. Để đến ngày giỗ liệt sĩ Ngô Khắc Minh thì ông ra mộ này thắp hương. Đến ngày giỗ liệt sĩ Ngô Khổng Minh thì gia đình ở Thanh Chương ra mộ này thăm viếng”, chị Tiến kể lại trong xúc động.

Gia đình liệt sĩ Ngô Khổng Minh hội ý. Và bất ngờ, cứ ngỡ là giấc mơ: họ đồng ý với đề nghị của ông Thưởng.

Từ đó, ngôi mộ ở nghĩa trang Ba Dốc (Quảng Bình) vẫn để nguyên chữ khắc trên bia: Ngô K.Minh.

MY LĂNG

Tần Thủy Hoàng–Vị Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc

Trước Công Nguyên năm 770 Tần mới được phong làm một trong những Hầu Quốc phía Tây của Trung Quốc, lãnh thổ nhỏ, quốc lực không mạnh, luôn luôn bị Hầu Quốc Trung Nguyên khinh thường.

Tần Thủy Hoàng
Tần Thủy Hoàng
Nhưng từ khi Tần tiến hành biện pháp Thương ưởng biến thì quốc lực ngày càng mạnh lên và rất nhanh đã trở thành cường quốc mạnh nhất trong 7 nước chiến quốc, sau khi Tần Vương Doanh Chính lên ngôi, đã phát động chiến tranh với quy mô lớn. Bắt đầu từ trước Công Nguyên năm 230, trải qua 10 năm lần lượt tiêu diệt Hàn (là một nước nhà Chu), Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, đến trước Công Nguyên năm 221 đã thống nhất 6 nước.

Doanh Chính luôn mơ tưởng Tần sẽ vĩnh viễn là nước thống trị, bởi vậy ông đã tự coi mình là “始皇帝” tức vị Hoàng Đế đầu tiên, và con cháu của mình sẽ là thế hệ thứ 2, thứ 3…Do đó, trong lịch sử đã coi ông là vị Hoàng Đế đầu tiên (trước Công Nguyên 259- trước Công Nguyên năm 210).

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 nước đã áp dụng một loạt các biện pháp để củng cố nước Tần. Ví dụ như trong bộ máy chính quyền ông thiết lập Thừa Tướng, đại phu Ngự Sử, Thái Úy…Thừa Tướng giúp Hoàng Đế xử lý các việc triều chính, đại phu Ngự Sử giúp vua giám sát các quan trong triều đình, Thái Úy quản lý quân binh, đều do Hoàng Đế miễn nhiệm.

Tượng binh tướng trong mộ Tần Thủy Hoàng
Tượng binh tướng trong mộ Tần Thụy Hoàng

Tại các địa phương , bãi bỏ các chế độ phong kiến còn lưu lại từ thời nhà Thương (vua Thang thay Hạ lên làm vua gọi là nhà Thương, cách nay chừng 3650 năm) và nhà Chu. Thi hành chế độ phân nước thành nhiều quận huyện khác nhau, toàn quốc phân thành 36 quận (về sau tăng lên thành 40 quận), dưới quận thiết lập huyện. Trưởng quan gọi là quận thủ và huyện lệnh, đều do Tần Thủy Hoàng trực tiếp bổ nhiệm, phụ trách quản lý nhân dân.

Như vậy Tần Thủy Hoàng có thể thống trị cả nước Tần to lớn và nắm giữ quyền lực trong bàn tay mình. Sau khi thống nhất ông đã lập tức dùng những pháp luật, pháp lệnh sẵn có của Tần quốc để áp dụng đến từng vùng trong toàn quốc, làm cho pháp chế trong toàn quốc được thống nhất vào pháp chế của Tần quốc .

Tượng binh tướng trong mộ Tần Thủy Hoàng
Tượng binh tướng trong mộ Tần Thủy Hoàng

Thời kì chiến quốc, các đơn vị đo của từng nước không giống nhau, Tần Thủy Hoàng đã quyết định thống nhất đơn vị đo chiều dài, dung lượng, trọng lượng… từ đó thúc đẩy mạnh sự phát triển về kinh tế. Triều Tần còn thống nhất tiền tệ. Chính phủ Tần quy định, dùng đồng xu của Tần quốc (hình tròn có lỗ ở giữa) làm tiền tệ lưu thông trong toàn quốc. Việc này đã thúc đẩy việc giao lưu kinh tế giữa các dân tộc các khu vực khác nhau, và càng ngày càng chiếm vai trò quan trọng. Về sau, các triều đại kế tiếp đều mô phỏng theo tiền đồng xu của Tần Quốc để sản xuất.

Không những thế Tần Thủy Hoàng còn cho ra lệnh thống nhất chữ viết, ông quyết định dùng chữ triện làm chữ chuẩn và sử dụng thông dụng trong toàn quốc. Về sau, lại xuất hiện loại chữ viết đơn giản hơn thể chữ triện là thể chữ lệ. Hiện tại, đang sử dụng thể chữ khải, là từ chữ lệ biến hóa thành. Chữ viết được thống nhất đã thúc đẩy giao lưu về văn hóa giữa các vùng.

Trước Công Nguyên năm 213, Thừa Tướng Lý Tư cho rằng, nếu mọi người biết đọc thơ, sách… các loại cổ thư, sẽ biết cách vận dụng những quan điểm để phê phán các chính sách cai quản của triều đình và như vậy sẽ rất bất lợi cho Tần Thủy Hoàng. tanthuyhoang-great_wallTheo ý kiến của ông thì ngoài những loại sách như sách y dược, trồng trọt và một vài sách nữa ra thì không nên lưu lại, đặc biệt là các sách lịch sử hay thư tịch của các nước đều cần phải đem đốt hết. Tần Thủy Hoàng đã nghe theo ý kiến của Lý Tư. Đến năm thứ 2, xuất hiện một vài phần tử trí thức dị nghị và bàn tán sau lưng Tần Thủy Hoàng là ngang ngược, ỷ quyền thế mà quyết đoán bừa bãi, lạm dụng hình phạt… Lời bàn tán đến tai Tần Thủy Hoàng, ông quyết định truy xét đến cùng, và cuối cùng đã chôn sống hơn 460 người, hai sự việc này được sử sách lưu lại với tên “Thiêu Thư Khang Nho”.

Tướng Mông Điềm đánh bại quân Hung Nô, Tần Thủy Hoàng vì đề phòng quân Hung Nô sẽ xâm chiếm lãnh thổ lần nữa nên đã ra lệnh xây sửa Vạn Lý Trường Thành. Tại phía Nam, lo qui phục Việt tộc, mở rộng sự giao lưu giữa các dân tộc.

Tần Thủy Hoàng đã hoàn thành thống nhất đại nghiệp, kết thúc trường kì chia cắt của các Hầu quốc, thiết lập một nhà nước nhiều dân tộc thống nhất đầu tiên của Trung Quốc (Lãnh thổ của triều Tần, đông đến giáp biển lớn, tây đến bờ tây, bắc đến dải trường thành, nam đến Nam hải, nhân khẩu khoảng 2000 vạn người).

Kiều Tố Uyên
DHS, Hồ Nam, Trung Quốc

Daily English Discussion–Thursday, 7/16/09–Amo Ergo Sum

englishchallenge

Hi everyone,

Today brother Hiển translated a beautiful poem by Kathleen Raine, Amo Ergo Sum–I love, therefore I exist. I love this title, and I love Descartes’ famous quote “Cogito ergo sum”–I think, therefore I exist.

What do you say about “Amo Ergo Sum”?

Have a great day!

Hoanh

.

Amo Ergo Sum

Because I love
The sun pours out its rays of living gold
Pours out its gold and silver on the sea.

Because I love
The earth upon her astral spindle winds
Her ecstasy-producing dance.

Because I love
Clouds travel on the winds through wide skies,
Skies wide and beautiful, blue and deep.

Because I love
Wind blows white sails,
The wind blows over flowers, the sweet wind blows.

Because I love
The ferns grow green, and green the grass, and green
The transparent sunlit trees.

Because I love
Larks rise up from the grass
And all the leaves are full of singing birds.

Because I love
The summer air quivers with a thousand wings,
Myriads of jewelled eyes burn in the light.

Because I love
The iridescent shells upon the sand
Takes forms as fine and intricate as thought.

Because I love
There is an invisible way across the sky,
Birds travel by that way, the sun and moon
And all the stars travel that path by night.

Because I love
There is a river flowing all night long.

Because I love
All night the river flows into my sleep,
Ten thousand living things are sleeping in my arms,
And sleeping wake, and flowing are at rest.

— Kathleen Raine (1908-2003)

Tài sản

hearts

Tài sản bình thường có thể bị đánh cắp, nhưng tài sản thật sự thì không. Trong tâm hồn bạn là những điều quý giá vô ngần không ai có thể lấy đi được.

Phạm Kiêm Yến dịch

.

Ordinary riches can be stolen; real riches cannot. In your soul are infinitely precious things that cannot be taken from you.

Oscar Wilde

Khi ấy, một người đàn ông sẽ ra đời

Phải làm gì đây khi bị cô bạn gái mình đang để ý ngang nhiên “phán” rằng em là chàng trai “đã thành niên mà chưa trưởng thành”, trong khi cô ấy chào đời sau em tới…mười ba tháng?. Đau quá!

Ừ, tôi hiểu em. Đau lắm!

Đối với nam giới, được công nhận là “đã trưởng thành” chính là thành công đầu tiên cần phải đạt được, trước tất cả những thành công khác. Nghĩa là anh phải trở thành “một người đàn ông chân chính” trước khi trở thành bất cứ thứ gì khác trong đời.
riteofpassage
Hoạ sĩ Nguyễn Đình Đăng, cũng là một nhà khoa học Việt sống tại Nhật đã viết về ngày trưởng thành của con trai mình như thế này:

Trong ngày trưởng thành, các bạn Nhật của con đeo cà vạt, vận kimono, tập trung tại toà thị chính,

nghe ông thị trưởng giảng đạo đức.

Sau đó chúng kéo nhau đi Shibuya và Harajuku

hát karaoke, rồi uống rượu say khướt.

Trong ngày trưởng thành, ký túc xá của con chìm trong đêm rét buốt,

tuyết dày một mét phủ ngoài sân.

Con ngồi trong phòng, trước laptop, thiết kế một toà nhà

dựng trên sa mạc Sahara.

Đối với người này, sự trưởng thành nghĩa là được phép uống rượu say khướt, còn với người khác nó nghĩa là bắt đầu hiện thực hoá một ước mơ.

Với em thì trưởng thành nghĩa là gì?

Thật tiếc là chúng ta không có một lễ trưởng thành như Nhật Bản và Hàn Quốc. Mười bốn tuổi, chúng ta có quyền làm chứng minh thư. Mười tám tuổi, được đi bầu cử và có đầy đủ quyền công dân. Mặc dù vậy, không có ai nghiễm nhiên được công nhận là đã trưởng thành vào tuổi mười tám. Cũng không ai làm lễ cho ngày nhận chứng minh thư hay lần đầu tiên đi bầu cả. Có phải vì không có dấu mốc rõ rệt nên chúng ta không có sự khao khát trưởng thành cũng như khao khát khẳng định sự trưởng thành của mình. Và vì thế mà có không ít thanh niên đến kỳ thi đại học vẫn không biết mình muốn học ngành gì. Tốt nghiệp xong vẫn không biết mình có ưa thích nghề này không. Bị công an giao thông phạt thì thưa rằng em không biết luật quy định như vậy. Và rất nhiều người khác dù đã vượt xa cái tuổi 18 mà vẫn hành xử như con trẻ.

Để chứng tỏ sự trưởng thành, em có thể học cách hành xử giống như những người trưởng thành. Tuy nhiên, sự trưởng thành không phải là để chứng tỏ. Thật ra, trưởng thành không phải là một thành tích có thể đạt được qua một đêm, mà là một quá trình diễn ra suốt cuộc đời. Chúng ta đạt đến sự trưởng thành ở từng khía cạnh khác nhau vào mỗi thời điểm khác nhau trong đời sống. Có thể em trưởng thành trong tiêu xài ở tuổi lên mười, khi đã biết trân trọng từng đồng bạc mẹ cho. Em có thể trưởng thành trong ứng xử ở tuổi mười lăm, khi biết bày tỏ thái độ tôn trọng người đối diện. Nhưng có thể đến năm ba mươi tuổi em vẫn chưa trưởng thành về tình cảm, nếu em còn tin rằng tình yêu không thể chỉ được cảm nhận mà luôn cần phải được chứng minh…
riteofpassage1
Dù sao thì việc bị gán cho cái mác “thành niên mà chưa trưởng thành” là thất bại đáng buồn đối với bất cứ ai. Tôi không biết vì sao cô bạn em khẳng định là em chưa trưởng thành và về phương diện nào. Nhưng nhìn từ một góc nào đó thì tôi cho rằng cô ấy đã nhận xét đúng. Có nhớ hôm kia em kể với tôi rằng từ miền Trung vào em “phải tự đi xe đò vào Sài Gòn, tự tìm nhà trọ, tự mua bản đồ và hỏi tìm đường đến điểm thi, không có ai đi theo cả”. Em kể với sự buồn bực không hề che giấu. Em trách cha mẹ mình đã không như hàng triệu người cha người mẹ khác, lặn lội đường xa để đưa con mình từ quê nhà ra thành phố dự kỳ thi đại học, theo xe ôm đưa con đến phòng thi, rồi ngồi vạ vật đợi con đến tận trưa ngoài cổng. Tôi lấy làm lạ. Đáng lẽ đó là điều em phải tự hào mới đúng, sao lại tủi thân? Mười tám tuổi và vẫn chưa muốn (hay chưa được phép?) tự đi thi một mình, lẽ nào em cũng là một trong những người trẻ đang tìm cách trì hoãn sự trưởng thành của mình?

Em có biết, cũng như tuổi già, trưởng thành là một quá trình không thể ngăn cản, trước hay sau, nhanh hay chậm chúng ta cũng buộc phải trưởng thành. Sự trưởng thành là kết quả của những biến cố, những vấp ngã, những va chạm, những kiến thức và những cảm nghiệm mà ta thu nhặt được trên đường đời. Nhưng cũng vì vậy mà sự trưởng thành có thể bị trì hoãn, cũng như có thể được thúc đẩy…một cách khách quan hay chủ quan.

Có người nói với tôi rằng con người chúng ta cũng như những cái cây, và có những người giống như cây bonsai vậy. Cây bonsai không phát triển về tầm vóc, nhưng nó vẫn trưởng thành.

Ở Mỹ, những trẻ vị thành niên trên 14 tuổi có thể trình Thỉnh nguyện thư lên Thẩm phán để xin hưởng Quyền trưởng thành. Người hưởng Quyền trưởng thành được hưởng một số quyền pháp lý của người lớn như ký hợp đồng, tự chọn nơi sinh sống, định đoạt tài sản riêng và tự ghi danh đi học…Tuy nhiên, người đó sẽ phải tự lo liệu tài chính cho bản thân, tự mua bảo hiểm y tế, nha khoa, xe cộ, tự trả các hóa đơn của mình.

Một người bạn của tôi tâm sự rằng, khi cha anh mất vào năm anh 13 tuổi, một phần con người anh đã chết theo ông, và phần còn lại trưởng thành gần như ngay lập tức, khi anh phải đối diện và xử lý tất cả những việc còn lại của gia đình, thay cha chăm sóc mẹ và hai cô em gái nhỏ. Không còn chọn lựa, vào năm 13 tuổi, anh buộc phải trưởng thành.

Em hỏi rằng làm sao để biết mình đã trưởng thành hay chưa ư? Tôi sẽ nói em nghe điều tôi nghĩ: em trưởng thành khi em đủ mạnh mẽ để trở thành một điểm tựa, dù là điểm tựa của bất cứ ai, kể cả chính bản thân mình.

Khi ấy, một người đàn ông sẽ ra đời.

Phạm Lữ Ân

Tôi yêu, do đó tôi hiện hữu

Kathleen Raine
Kathleen Raine

Chào các bạn,

“Amo Ergo Sum” nghĩa là “tôi yêu, do đó tôi hiện hữu.” Đây là một câu nói có lẽ phát sinh từ câu nói bất hủ của Descartes, 31.3.1596 – 11.2.1650), cha đẻ của triết học tây phương hiện đại: “Cogito ergo sum” — tôi suy tư, do đó tôi hiện hữu.

“Amo Ergo Sum” nằm trong tập thơ “The Year One 1952” của Kathleen Jessie Raine (14.6.1908-6.7.2003), nữ thi sĩ Anh quốc, người được phong hàm danh dự “Commander of the British Empire” (một người chỉ huy của vương quốc Anh) năm 2000.

Chúc các bạn một ngày yêu nhiều !!

Hiển 🙂

.
Green Field
Tôi yêu, do đó tôi hiện hữu

Bởi tôi yêu
Mặt trời rót tia nắng vàng sống động
Rót vàng và bạc xuống biển.

Bởi tôi yêu
Trái đất trên trục sao
Nhảy múa ngất ngây

Bởi tôi yêu
Mây đi trên gió suốt những bầu trời rộng
Những bầu trời rộng đẹp, xanh sâu

Bởi tôi yêu
Gió thổi những cánh buồm trắng
Gió thổi qua những cánh hoa, gió thổi ngọt ngào

Bởi tôi yêu
Dương xỉ thành xanh, làm xanh cỏ, và xanh
Hàng cây trong suốt ánh mặt trời

Bởi tôi yêu
Chiền chiện vút cao từ đồng cỏ
Và tán lá tràn đầy tiếng chim ca

Bởi tôi yêu
Không khí mùa hè chập chùng với muôn ngàn cánh
Ngàn đôi mắt châu rực cháy trong ánh sáng

Bởi tôi yêu
Những vỏ sò muôn sắc trên cát
Mang hình hài đẹp và phức tạp như tư tưởng

Bởi tôi yêu
Có một lối đi vô hình ngang qua tầng trời
Chim bay lối đó, mặt trời và mặt trăng
Và tất cả các vì sao đi lối đó ban đêm

Bởi tôi yêu
Có con sông chảy suốt đêm trường

Bởi tôi yêu
Suốt đêm dòng sông chảy vào giấc ngủ tôi
Hàng vạn sinh linh ngủ trong vòng tay tôi
Và ngủ gật, và trôi chảy được nghỉ ngơi.

(Nguyễn Minh Hiển dịch)

.
Autumn Fields
Amo Ergo Sum

Because I love
The sun pours out its rays of living gold
Pours out its gold and silver on the sea.

Because I love
The earth upon her astral spindle winds
Her ecstasy-producing dance.

Because I love
Clouds travel on the winds through wide skies,
Skies wide and beautiful, blue and deep.

Because I love
Wind blows white sails,
The wind blows over flowers, the sweet wind blows.

Because I love
The ferns grow green, and green the grass, and green
The transparent sunlit trees.

Because I love
Larks rise up from the grass
And all the leaves are full of singing birds.

Because I love
The summer air quivers with a thousand wings,
Myriads of jewelled eyes burn in the light.

Because I love
The iridescent shells upon the sand
Takes forms as fine and intricate as thought.

Because I love
There is an invisible way across the sky,
Birds travel by that way, the sun and moon
And all the stars travel that path by night.

Because I love
There is a river flowing all night long.

Because I love
All night the river flows into my sleep,
Ten thousand living things are sleeping in my arms,
And sleeping wake, and flowing are at rest.

Kathleen Raine:
“Amo Ergo Sum”
The Year One (1952)

Trong đấu trường

Chào các bạn,

“Trong đấu trường” là câu quote rất nỗi tiếng của Theodore D. Roosevelt, (October 27, 1858 – January 6, 1919), tổng thống thứ 26 và, cho đến nay 2009, là tổng thống trẻ tuổi nhất của nước Mỹ–nhậm chức tổng thống lúc 42 tuổi. Theodore, hay Teddy, Roosevelt là một chiến binh, sử gia, người khai phá thiên nhiên, thích săn bắn. Ông có một cá tính rất mạnh mẽ và nóng bỏng, và một hình ảnh rất cao bồi. Từ tên ông, ngày nay chúng ta có búp bê gấu Teddy Bear.
theodore-roosevelt
Ông và tổng thống Franklin Roosevelt, (1882 – 1945), tổng thống thứ 32 của Mỹ, là họ hàng đời thứ 5. Teddy gả cháu gái là Eleanor cho Franklin năm 1905.

Bài quote “Trong Đấu Trường” là bài quote được những người phải chiến đấu ngày đêm rất ưa thích. Đầu thập niên 1980’s, lúc còn trong trường luật, mình làm việc cho một luật sư hình luật nổi tiếng. Trong phòng anh ấy có treo quote này. Mình thích quá, chép lại, và treo nó trong văn phòng mình rất nhiều năm.

Ngày nay không thích đánh nhau nữa, dù là vẫn không ngại chiến đấu khi cần. Tuy nhiên, cho các bạn, nhất là các bạn trẻ phải chiến đấu ngày đêm trong hào rãnh, đây là một câu quote rất tốt. Mình dịch ra tiếng Việt ở đây cho các bạn.

Một thời để chiến đấu, một thời cho hòa bình. Có lẽ ta sẽ không hiểu được hòa bình nếu ta đã không trưởng thành trong chiến trận.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

.

Trong đấu trường,

Kẻ phê bình không đáng kể,
Cũng không đáng kể kẻ chỉ ra anh hùng đã vấp ngã thế nào,
hay người hành động lẽ ra đã nên làm thế nào.
Bao công lao đều thuộc về người trong đấu trường,
Người mặt mũi lem luốc mồ hôi, máu me và bụi đất,
Người chiến đấu anh dũng,
Người làm lỗi và khiếm khuyết hoài hoài,
Người biết nhiệt tâm nóng bỏng, hiến dâng trọn vẹn,
Và sử dụng đời mình cho chính nghĩa,
Người, trên đỉnh cao, cuối cùng biết được vinh quang của thành tựu cao cả
Và, dưới đáy thấp, nếu thất bại, tối thiểu là thất bại với can trường đởm lược,
Để chốn của Người không phải là nơi của những linh hồn
lạnh lẽo và nhu nhược không hề biết đến chiến thắng cũng như chiến bại.

(Trần Đình Hoành dịch)
.

In The Arena

“It is not the critic who counts, not the man
who points out how the strong man
stumbled, or where the doer of deeds
could have done better. The credit belongs
to the man who is actually in the arena;
whose face is marred by the dust and sweat
and blood; who strives valiantly; who errs
and comes short again and again; who knows
the great enthusiasms, the great devotions
and spends himself in a worthy course; who
at the best, knows in the end the triumph of
high achievement, and who, at worst, if he
fails, at least fails while daring greatly; so
that his place shall never be with those cold and timid souls who
know neither victory or defeat.”

Theodore Roosevelt

Thứ tư, 15 tháng 7 năm 2009

Bài hôm nay:

Vũ điệu Zorba the Greek , Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Trần Đình Hoành giới thiệu và nối link.

Daily English Discussion, anh Trần Đình Hoành.

Mục đích đời sống , Danh Ngôn, song ngữ, chị Đặng Nguyễn Đông Vy dịch.

Tưởng tượng , Danh Ngôn, song ngữ, chị Phạm Kiêm Yến dịch.

Một sớm xuân… tôi “phải lòng” thành phố, Văn, chị Đặng Nguyễn Đông Vy.

Để Hạnh Phúc: Buông Xả và Tha Thứ , Trà Đàm, chị Huỳnh Huệ

Van Gogh và Sáng tạo nghệ thuật, Trà Đàm, anh Nguyễn Minh Hiển.

Hiểu và phát triển văn hóa dân tộc , Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin sáng quốc tế, anh Trần Đình Hoành tóm tắt và nối links.

Lỗ hổng trên thân máy bay của Soụthwest Airlines – Lỗ hổng này khoảng 9 dm2 (30cm X 30cm) xuất hiện khi đang bay là chiếc Boeing 737 trên đường từ Nashville đến Baltimore phải đáp khẩn cấp hôm thứ hai. Southwest Airlines đang ra soát lại cả 200 chiếc máy bay của hãng.

Chính phủ Kenya khám phá 300kg ngà voi và sừng tê giác phi pháp dấu trong các chiếm hòm (giả là chứa xác chết người) – trên đựờng từ Mozambique sang Lào. Nhà chức trách cho rằng các ngà và sừng này trị giá 1 triệu đô la và có thể phát xuất Tanzania hay Nam Phi.

Trung Quốc đòi Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ rút lại lời nói – là Trung Quốc đang diệt chủng dân tộc Uighurs ở Tân Cương.

Em bé 3 tuổi ngồi trên xe truck đồ chơi, trôi 12km trên sông – Ở British Columbia. Cả nhà đang làm sinh nhật cho bé và không biết là bé đã trôi mất, cho đến khi khám phá là bé mất tích, đổ xô đi tìm. Tìm được em cách đó 12km. Em chẳng hề hấn gì.
.

Tin sáng quốc nội, chị Thùy Dương tóm tắt và nối links.

Tháng rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã ký gửi Bằng Khen đến chị Caroline Kiều Linh Valverde, anh Phan Anh Tài và anh Vũ Đức Vượng do đã “có thành tích xuất sắc trong công cuộc xây dựng đất nước” – Cả ba người đều đang ở Mỹ.

Chị Kiều Linh hiện là giáo sư về Asian American Studies tại University of Califormia-Davis. Chị tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại Học Berkeley với luận án về liên hệ giữa người Việt nước ngoài và quê hương. Chị sáng lập vnwomenforum và đã tổ chức nhiều hoạt động xã hội liên hệ đến người Việt nước ngoài, và nghiều hoạt động văn hóa liên hệ đến văn hóa và nghệ thuật Việt. Hiên thời chị ở trong nhóm thành lập và quản trị diễn đàn ourvoice (tiếng nói cuả chúng ta) cho người Việt tại Mỹ. Chị đang viết một quyển sách mới về liên hệ giữa người Việt nước ngoài và quê hương Việt Nam.

Anh Phan Anh Tài là chuyên gia về giáo dục tại Bộ Giáo Dục ở Washington DC đã hơn 20 năm. Anh là một trong những quản lý chính của 2 diễn đàn quốc tế về các vấn đề Việt Nam, liên tục từ 1993 đến nay: VNForum và VNBiz. Trong vòng 10 năm nay, anh Tài thường xuyên tổ chức các buổi họp mặt với các bạn từ Việt Nam sang Washington DC, tại tư gia anh.

Anh Vũ Đức Vượng bắt đầu hoạt động tổ chức cộng đồng người Việt từ năm 1975 đến 1997, qua nhiều diễn tiến từ những dịch vụ xã hội tới các tổ chức thương mãi cũng như cổ động người Việt vào quốc tịch Mỹ, đi bầu cho đông, và kêu gọi chính phủ Mỹ bỏ cấm vận, tái lập bang giao với Việt Nam trong những năm đầu thập niên 90’s. Anh Vượng hiện dạy Chính trị học và xã hội học tại hai trường De Anza và San Jose City College, ở California, và hàng năm anh tổ chức khóa học mùa hè cho sinh viên Mỹ và Mỹ gốc Việt, về Việt Nam để tìm hiểu về đất nước và con người Việt.

Năm 2008, Bộ Trưởng Ngoại Giao cũng trao một Bằng Khen tương tự cho anh Trần Đình Hoành.

Các Bằng Khen cho thấy chính phủ Việt Nam thường quan tâm đến những sinh hoạt nhằm xây dựng đất nước của người Việt ở nước ngoài.

Chủ tịch WFDY: mong VN đăng cai Festival thanh niên và sinh viên thế giới lần 17 – Liên đoàn TN dân chủ thế giới đang tiến hành công tác vận động đăng cai tổ chức Festival TN và SV thế giới lần thứ 17, đồng thời chuẩn bị triển khai các hoạt động tình nguyện đoàn kết, các hội thảo và tổ chức các đoàn công tác tới một vài nước trên thế giới…

Nỗi day dứt của 3 người cha nghèo có con được đi thi quốc tế – Việc 3 nữ sinh được đại diện cho Việt Nam sang Thụy Điển tham dự vòng chung kết cuộc thi quốc tế “Giải thưởng Stockholm về nước dành cho lứa tuổi học sinh (SJWP)” không chỉ là niềm tự hào của gia đình, nhà trường mà còn là sự vẻ vang của cả đất nước. Mong các nhà hảo tâm hết sức cố gắng giúp đỡ các em.

Phát hiện địa đạo mới ở Phú Yên – Một số người dân ở xã Xuân Quang 2, H.Đồng Xuân (tỉnh Phú Yên) tình cờ phát hiện một địa đạo dài gần 100m tại núi Hòn Trung (xã Xuân Quang 2) trong lúc rà phế liệu.

Những đám cưới “made in” Mùa hè xanh – Mùa hè xanh phương Nam đã qua 15 năm, từ đó thắp sáng lửa tình nguyện cho sinh viên cả nước. Những ngày tháng đó, có không ít cặp uyên ương thành vợ chồng từ những Mùa hè xanh tình nguyện.

500 DN lớn nhất Việt Nam: Sóng cả không ngã tay chèo – “Cơn bão” khủng hoảng đã “khuấy động” kinh tế thế giới cả năm nay. Trong khi nhiều doanh nghiệp bị trôi theo dòng xoáy thì các “đại gia” trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam vẫn vững tay chèo. Bí quyết được nhiều Giám đốc điều hành (CEO) và Giám đốc tài chính (CFO) chia sẻ chính là “coi khủng hoảng là cơ hội thay đổi có tính chiến lược để đi lên”.

Quảng bá văn học VN ra nước ngoài – Cần một kế hoạch tầm quốc gia.

Nhật giúp VN hệ thống kiểm định tay nghề y tá, điều dưỡng – Nhật Bản hứa sẽ cung cấp vốn ODA đầu tư xây dựng hệ thống kiểm định tay nghề y tá, điều dưỡng viên giúp VN. Đây là chương trình hợp tác về xuất khẩu lao động giữa hai bên nhằm giúp đỡ doanh nghiệp VN tháo gỡ vướng mắc trong việc chuẩn hóa bằng nghề để đưa y tá, điều dưỡng viên qua làm việc tại Nhật.

Cuộc thi “Nhật ký hè tình nguyện 2009” – Thành đoàn TP.HCM tổ chức cuộc thi “Nhật ký hè tình nguyện 2009” với ba hình thức thi: bài viết, ảnh đẹp, video clip, không hạn chế đối tượng tham gia.
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

🙂 🙂 🙂 🙂 🙂

Đọt Chuối Non

Vũ điệu Zorba the Greek

Zorba the Greek là truyện dài của văn sĩ Hy Lạp Nikos Kazantzakis, xuất bản lần đầu năm 1946. Đó là câu chuyện của một trí thức trẻ phiêu lưu để chạy trốn cuộc sống mọt sách, gặp một người đứng tuổi, sống động, ham vui là Alexis Zorbas. Năm 1964 quyển truyện được làm thành phim do Anthony Quinn đóng vai Zorba, và năm 1968 thành ca vũ nhạc Broadway với tên Broad Zorba.

Nhạc nền trong phim Zorba the Greek do Mikis Theodorakis, nhà sọan nhạc nổi tiếng của Hy Lạp. Vũ điệu trong phim Zorba gọi là Sirtaki, được sáng tạo đặc biệt cho phim Zorba. Đây không phải là một vũ điệu Hy Lạp truyền thống mà là phối hợp của bước chậm và nhanh của bước vũ truyền thống Hy Lạp, hasapiko. Vũ Sỉtaki còn gọi là vũ Zorba, và ngày nay Zorba dance đã lan truyền khắp thế giới.

Sau đây mời các bạn thưởng thức hai videos. Video đầu tiên lấy ra từ phim Zorba the Greek; đây là khởi đầu của Zorba dance trên thế giới. Video thứ hai là một Zorba dance với một vũ đoàn 24 người, dùng nhạc nền Zorba của Mikis Theodorakis, biểu diễn tại sân khấu Arena di Veronia, tháng 8 năm 1990.

1964 phim Zorba the Greek


.

1990 sân khấu Arena di Veronica

Daily English Discussion–Wednesday, July 15, 2009

englishchallenge
Hi everyone,

Currently we have three on-going discussions

One on What do you think about v. How do you think about. A lot of fun. Good for sharpening your English logic a little.

One on Internet discussion, at the same location as the above.

And one on Mr. Phạm Minh Hạc’s proposal let each school handle each own high-school graduation exam.

I am not adding another one. But let’s work on these interesting issues a little more, sisters and brothers.

A side note: Anh Phạm Minh Hạc was the first official at the Ministry of Education and Training that I met. I think that was 1992 and I was president of the Vietnamese American Education Foundation. World Vision sponsored anh Hac’s trip to the US. And World Vision president, I can’t remember the name, arranged the meeting between me, anh Hạc and his lieutenant, Nguyễn Ngọc Kính (?) at World Vision’s headquarters in Washington DC. (I am not sure about anh Kính’s full name but I am sure the first name is Kính).

At that time anh Hạc had just changed from Minister of Higher Education to Deputy-Minister of Education and Training. And that meeting helped me greatly in understanding Vietnam’s education.

Have a great day, everyone.

Hoành

Một sớm xuân… tôi “phải lòng” thành phố

Tôi gặp Sài Gòn lần đầu ở bến xe Miền Đông, lúc bốn giờ sáng, sau một đêm ngủ dật dờ trên chuyến xe ngược rộng thênh thang.
saigon
Ngày giáp Tết, các chuyến xe từ miền Trung chủ yếu chạy xe trống vào Sài Gòn để đón lũ lượt khách kéo về quê ăn Tết, đâu có mấy người đi ngược vào thành phố như gia đình tôi. Chiếc xe năm mươi chỗ chúng tôi đón được trống hoác, chỉ có mươi người khách và chục cành mai rừng chất đầy dãy ghế phía sau. Nó khác hẳn những chiếc chạy ngược chiều, chen chúc lố nhố người đứng ngồi, trên mui xếp cao ngất những chiếc xe máy, xe đạp và những giỏ cần xé đựng đủ thứ từ trái cây đến đám heo con…

Tôi chạm mặt cái Tết Sài Gòn cũng ở bến xe Miền Đông, lúc bốn giờ sáng. Đó là khi những cành mai rừng từ miền Trung chở vào đang được dỡ xuống, chất thành đống trước mũi xe. Dưới ánh điện nghèo nàn vàng vọt từ dãy văn phòng bến xe dọi tới, những búp mai to vẫn ánh lên một màu xanh bóng, rỡ ràng và kiêu hãnh ưỡn mình báo hiệu: “Tết đây nè”. Cộng vào đó là tiếng nhạc xuân đang phát ra từ chiếc máy cát xét nhỏ ở một quán cà phê cóc gần đó, âm thanh vừa đủ để làm dịu đi sự bừa bộn cục cằn của những tiếng nói cười, đùa giỡn, kêu réo, than thở, rủa xả…đặc trưng của một bến xe.

Hăm Tám tháng Chạp. Sài Gòn đón lấy tôi ngay lập tức bằng một hỗn hợp phong phú của mùi vị và âm thanh. Mùi xăng dầu quấn quýt khắp cơ thể suốt đêm chẳng mấy chốc bị xua tan bởi mùi bánh mì phết bơ trộn mùi bánh bao nóng, và trong khi lếch thếch theo ba mẹ đi xa khỏi nơi xe đậu, tôi bắt đầu nghe thoảng mùi cà phê thơm từ dãy quán nước gần cổng bến.

Sai-gon
Cô chủ quán đón khách với nụ cười tỉnh khô lúc bốn giờ sáng. Mấy mẹ con háo hức thưởng thức ly sữa ông Thọ nóng hổi, ngọt lịm, thơm phức. Ba thong thả nhấm nháp một ly cà phê đen nóng trong khi nhìn quanh với cảm giác quen thuộc. Những người lái xe ôm, xích lô hỏi chuyện ba thân thiện như người nhà.

***

Mẹ thường chọn những ông xích lô già, với một tâm trạng đầy mâu thuẫn, luôn luôn. Hài lòng vì giúp được ông một cuốc xe, và day dứt khi người trẻ phải leo lên làm khách để người già còng lưng đạp.

Mới đạp được một đoạn ngắn, ông xích lô già đã không giấu được nhịp thở hổn hển dù đang chạy đường bằng. Chiếc xích lô chở ba và hai đứa em tôi đã rẽ qua ngã tư phía trước. Mẹ bảo thôi xuống đi bộ….cho đỡ tê chân. Ông già đạp xe không bên cạnh. Mẹ hỏi chuyện mới biết ông là thầy giáo về hưu, bệnh phổi nhưng con đông, nhà nghèo…Chiếc xe này là của anh con trai cả vừa bị tai nạn nằm một chỗ, ông mới chạy thay con hơn tuần nay để kiếm ít tiền ăn Tết.

Gió thốc. Ông ho sù sụ, nhưng vẫn áy náy nài hai mẹ con lên cho ông chở. Mẹ lặng người nắm chặt tay tôi. Ai đành lòng ngồi lên xe cho được. Mẹ dúi vào tay ông tiền cuốc xe, rồi thêm mấy bao lì xì: “Mừng Tết các cháu ở nhà”. Ông nghẹn ngào. Mẹ cũng chảy nước mắt… “Con cũng làm nghề giáo, thưa thầy! Vì vậy xin thầy đừng từ chối”… Chúng tôi cứ đi bộ như thế, một quãng xa, cho đến khi gặp một chiếc xích lô khác.

Tôi luôn ưa thích cái cảm giác phơi phới khi ngồi ngất ngưởng trên chiếc xích lô, chạy từ bến xe miền Đông về nhà ông bà Nội ở Phú Nhuận giữa khi trời đang hửng sáng. Những đôi quang gánh hàng rong mới bắt đầu xuất hiện. Cậu bé đánh giày thức sớm đang dọn dẹp chỗ ngủ đêm qua dưới mái hiên của một ngôi nhà.

Gió sớm mai trong trẻo pha hơi lạnh ngày cuối năm thổi về dào dạt những âm thanh và mùi vị thường ngày của thành phố. Phảng phất đâu đó mùi nước phở thơm khi ai mở nắp nồi. Mùi nhang thơm bàn thiên nhà ai thắp sớm. Vẳng đâu đó tiếng cửa sắt kéo. Tiếng đập đá từ những quán cà phê lề đường. Tiếng thở nhịp nhàng của một anh chàng chạy bộ buổi sáng trong bộ quần áo thể thao trắng tinh đột nhiên xuất hiện sau ngã rẽ…

Sài Gòn thập niên 1970's
Sài Gòn thập niên 1970's

Và thỉnh thoảng, lại xuất hiện một “kẻ quấy rối” phá vỡ sự yên tĩnh dễ chịu, đó là những chiếc ba gác máy chở rau xanh từ Bà Chiểu về Tân Bình, chúng nhanh chóng mất hút sau khi ồn ã để lại một dòng khói dài. Thỉnh thoảng lại xuất hiện những xe tải nhỏ chở đầy những chậu mai vàng từ Gò Vấp chạy về hướng quận Nhứt.

Là Tết đó. Là Sài Gòn đó.

Ngay bên đường là những hàng mai, cúc vàng, mãn đình hồng, thược dược đỏ rực rỡ còn ngậm sương bên người chủ úp nón nằm ngủ. Những đống dưa hấu đen bóng im lìm dọc lề đường, dưới những tấm bạt che tạm. Dưa hấu quê tôi nhỏ, trái tròn xoe chứ không to nặng và hơi nghiêng về hình oval, da xanh chứ không ngả đen bóng như vậy. Cái ngồn ngộn của những hàng “cầu dừa đủ xài”, bưởi, chuối, thơm bên cạnh những chồng nhang và hoa cúng chất cao xếp dài như bất tận gây ấn tượng mạnh mẽ đối với một đứa trẻ đến từ vùng quê nghèo như tôi. Một cách lặng lẽ nhưng không hề giấu giếm, những sản vật mùa Xuân của đất phương Nam trù phú đua nhau phô trương sự giàu có, phồn thịnh của chốn đô thành. Chúng hứa hẹn một cách chắc chắn cảnh đường phố mua bán rộn rịp xô bồ của ngày cận Tết một khi mặt trời đã rạng.

Nhưng hình ảnh đáng nhớ nhất đối với tôi trên đường xích lô thiên lý buổi ban mai hôm ấy, chính là một cái thùng tôn nấu bánh Tét đang bốc khói, đặt trên cái bếp xếp bằng mấy cục gạch dưới gốc cây to cạnh cột đèn đường. Một bà cụ già tóc bạc lui cui trở bánh. Bên cạnh là ông cụ ngồi bình thản rót trà từ chiếc ấm nhỏ đặt trên cái ghế đẩu trước cửa nhà. Trong ánh sáng mờ mờ buổi sớm, hình hài một cái Tết Sài Gòn chợt hiện lên rõ rệt, thân quen và ấm áp lạ lùng. Vẻ đẹp đó ập vào tim tôi, làm thành mối tình đầu không tài nào quên được với thành phố này.

***
saigon_cyclo

Chiếc xích lô dừng lại trước quán phở Tàu Bay, đối diện nhà thờ Ba Chuông. Và ngày Tết đầu tiên ở Sài Gòn trong trí nhớ của tôi bắt đầu từ xe bánh mì đầu hẻm Sơn mài Lam Sơn, cạnh cây trứng cá cổ thụ, với nửa ổ bánh mì to được xẻ một nhát dọc đầy phóng khoáng, phết một lớp bơ vàng ươm và một lớp patê mỡ màng, thêm mấy miếng chả và dưa leo thái mỏng, tiếp ngay sau đó là một ly nước dừa cạnh chiếc xe đẩy lề đường, một miếng kem chuối trong cái thùng kem ở đường Đặng Văn Ngữ, rồi sà vào ki ốt cho thuê truyện đọc ké mấy trang truyện Kim Dung, mua một quả bóng bay tung tăng xách về…chờ những người lớn sửa soạn đưa đi chơi Tao Đàn và chợ hoa Nguyễn Huệ…

Sài Gòn với tôi là vậy đó. Bình thường vậy mà sao nhớ mãi. Tôi cám ơn Sài Gòn vì đã không cho tôi gặp “ngọn xanh ngọn đỏ” ngay từ buổi ban đầu, không làm một “người nhà quê” như tôi bị khớp trước vẻ hào nhoáng của buổi đêm đầy đèn, hay những con đường chen chúc xe cộ. Bao nhiêu năm qua, buổi sáng chạm mặt Thành phố phồn hoa này vẫn vẹn nguyên trong tôi như cũ. Đôi khi, nhờ ký ức đó mà tôi thấy chốn này không hề xa lạ, dù nhiều khi nó cũng khiến tôi mệt mỏi. Bởi tôi biết rõ Sài Gòn vẫn (từng) có một khuôn mặt khác, chất phác, bình yên, gần gụi và trong trẻo…

Nhiều lần đi công tác xa, tôi trở về Sài Gòn cũng trên chuyến xe đêm, chỉ để tìm lại ký ức thân thương đó – buổi mà tôi đã phải lòng thành phố, ngày mà tôi đã cảm nhận trọn vẹn một cái Tết Sài Gòn từ rất sớm, rất gần …bằng một cuốc xích lô từ bến xe miền Đông về Phú Nhuận.

Đặng Nguyễn Đông Vy

Tư duy tích cực mỗi ngày