Danh mục lưu trữ: Nhạc Xanh

Neil Diamond- Chàng Nghệ Sĩ Soft Rock Trẻ Mãi Không Già

Một trong những câu nói về âm nhạc trở thành danh ngôn được ưa thích là “ Tôi luôn nghĩ về âm nhạc như một cái gì đó chắp cánh cho ngôn từ bay bổng và âm nhạc thường đến trước mặc dù đôi khi tôi có ý niệm, một ý tưởng về tựạ đề bài hát, một ý tưởng về ca từ muốn viết, nhưng âm nhạc vẫn thường và sẽ đến trước. “
neildiamond2
Tác giả của câu nói này chính là Neil Diamond mà Nhạc Xanh xin giới thiệu với các bạn như một ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Mỹ 68 tuổi có sự nghiệp thành công dài lâu nhất thế giới, người vừa được tôn vinh là Nhân Vật của Năm 2009 bởi những hoạt động nhân đạo của ông.

Neil Diamond được vinh danh quốc tế như ca-nhạc sĩ tài năng thể loại Folk Pop, và Soft Rock của thập niên 60-70- 80. Trong buổi khai mạc lễ trao giải Grammy và tôn vinh ông bởi MusiCares vào tháng 2- 2009, người nghệ sĩ lớn 68 tuổi này đã cám ơn mẹ về cây đàn guitar thùng giá 10 đô la được tặng vào sinh nhật 16 tuổi, mà theo ông là một sự đầu tư tuyệt vời để tạo dựng cuộc đời cho ông vì cha mẹ ông chỉ có thể trả 1 đô la mỗi tuần. Cây đàn ấy đã thay đổi cuộc đời ông vì từ đó trở đi ông chuyên tâm tập nhạc rồi sau này bắt tay sáng tác.
neil-diamondyoung

Neil Leslie Diamond sinh ngày 24/1/1941 tại Brooklyn, New York trong một gia đình gốc Nga-Ba Lan-Do Thái. Khi nh ỏ ông theo gia đình chuy ển nh à s ống ở nhiều nơi, theo học trường Esramus Hall và Abraham High Schools. Tại Esramus Hall, ông hát trong ban nhạc trường cùng với Babra Streisand ( sắp tới Nhạc Xanh sẽ giới thiệu). Nhận được học bổng vào đại học New York nhờ môn đánh kiếm nhưng đến năm thứ ba, ông thôi học vì một hợp đồng viết nhạc ki ếm mỗi tuần 50 đô Sự nghiệp của Neil Diamond khởi đầu như một nhạc sĩ thànhdanh vào thập niên 60, nhưng những bản nhạc đầu tiên của ông phát hành năm 1962 không mấy thành công. Thành công đầu tiên của ông đến với ca khúc Sunday and Me ông viết vào cuối năm 1965, được xếp vào top 20 trên
bảng xếp hạng Billboard, và sau đó một loạt những bài hát khác như I’m A Believer, A Little Bit Me, A Little Bit You, Look Out, Love To Love, và đặc biệt Sweet Caroline (1969). diamond72

Mùa thu 1969, Neil Diamond dã trình bày ca khúc “Sweet Caroline” trên một số chương trình truyền hình. Bài này được vua nhạc pop Elvis Presley thu âm rất sớm vào năm 1970, và năm 1971 bài hát rất được yêu thích này xếp hạng 8 trên Billboard rồi leo lên hạng 4 với 1 triệu đĩa đơn được bán trở thành đĩa bạch kim. Có đến 3 bản phối cho bản nhạc này. Bản phối thứ nhất là bản phối đơn có một dàn nhạc giao hưởng lớn với đàn glockenspiel, một loại nhạc cụ thuộc bộ gõ. Bản phối thứ hai có âm thanh nổi được trình bày trong Brother Love’s Travelling Salvation Show. Bản phối thứ ba nằm trong một đĩa CD của Neil Diamond với tên gọi “His 12 Greatest Hits”. Trong đó bản phối với dàn nhạc giao hưởng là đáng chú ý nhất.

Đầu năm 1978, Neil được mời sáng tác ca khúc chủ đề cho một chương trình hài kịch truyền hình. Khi show diễn bị mạng lưới truyền hình loại bỏ, ông quyết định giữ lại ca khúc cho album tiếp theo. Một kỹ thuật viên đài phát thanh đã lắp ghép ca khúc “You Don’t Bring Me Flowers” trong album phóng tác của Neil với bài hát cải biên Barbra Streisand. Kết quả thật tuyệt vời, ca khúc thường xuyên được phát sóng. Neil quyết định tái thu âm ca khúc với chính Streisand và trong thời gian vài tuần sau khi trình làng, đĩa đơn đã chiếm ngay vị trí số 1 tại Mỹ.

“I’m Glad You’re Here With Me Tonight”, và “September Morn”, hai thu âm tiếp theo được RIAA chứng nhận là những album bạch kim, tiếp tục thời kỳ hoàng kim của Neil.

Năm 1980, Diamond không chỉ tham gia bộ phim kinh điển tái bản “The Jazz Singer” mà ông còn sáng tác và biểu diễn album nhạc phim đa bạch kim của bộ phim này bao gồm các hit “Love on The Rocks”, “America” và “Hello Again”. Tên ca khúc trong album năm 1982 của ông “Heartlight” là một top hit khác. Năm 1986 ông tiếp tục album đôi live thành công bất ngờ của mình, “Hot August Night” và “Hot August Night II”.

Thập kỷ 90 là thời kỳ mà Diamond tiến xa hơn trở thành một trong những nghệ sĩ biểu diễn hàng đầu thế hệ anh. Một album Christmas mang tên “Neil Diamond’s Christmas Special” ra đời. Anh là nghệ sĩ hoà nhạc có sức quyến rũ hàng đầu tại Mỹ năm 1992 ( Amusement Business) Năm 1994, Diamond phát hành “Live In America”, thu âm cung cấp tư liệu cho tour lưu diễn thế giới phá kỷ lục hai năm mang tên “Love In The Round”. “The Tennessee Moon”. The Tennessee Moon trở thành hit trên các bảng xếp hạng country, giành đỉnh cao ở vị trí thứ ba và đạt đĩa vàng trong vòng 6 tháng sau khi ra mắt.

Hợp tuyển 70 ca khúc đặc biệt “In My Lifetime” bao gồm 37 single đạt top hit, 16 ca khúc demo chưa từng được phát hành, nhiều phóng tác đan xen của những tác phẩm kinh điển nổi tiếng, nhạc phẩm mới được sáng tác và đã thu âm ra mắt người hâm mộ vào năm 1996 khiến tên tuổi Diamond càng toả sáng
Trong thiên niên kỷ 21, Neil Diamond, ca sĩ của nghệ thuật trình diễn đỉnh cao đã trở lại với những bộ phim như “The Movie Album — As Time Goes By”.
neildiamond_memor
Đặc biệt ca sĩ kiêm nhạc sĩ tài hoa này ở độ tuổi lục tuần vẫn chưa thôi ôm đàn lưu diễn, và vẫn tiếp tục chinh phục th êm nhiều fan hâm mộ trên khắp thế giới.
Trên sân khấu, Diamond vẫn chẳng hề thay đổi, vẫn thể hiện các ca khúc bằng chất giọng nam trung đầy mãnh lực và khuấy động không khí với phong cách trình diễn độc đáo của mình
Tour diễn cuối cùng của Diamond năm 2005 đã thu về gần 80 triệu đôla từ 86 show diễn thu hút 1,2 triệu người xem ( theo Billboard Boxscore).
.homebeforedark2008
Tháng 5/ 2008, ông lần đầu tiên chiếm vị trí quán quân trong bảng xếp hạng Billboard với album Home Before Dark. Các buổi hòa nhạc trong chuyến lưu diễn thế giới vừa công bố của ông cho năm 2008 gần như đã bán hết vé

Năm ngoái ở tuổi 67 kiếm được 168 triệu đô la, Neil Diamond đã phát biểu:
“Tôi chưa bao giờ kỳ vọng rằng mình sẽ hoạt động lâu như vậy trong sự nghiệp. Đã hơn 40 năm trôi qua kể từ khi những ca khúc ăn khách đầu tiên của tôi ra đời, nhưng tôi chưa nghĩ đến việc dừng lại”.

Và ông cũng chia sẻ một tư tưởng rất tích cực :
“Tôi không hề cảm thấy mình già. Tôi cảm thấy mình còn rất trẻ. Thật thú vị khi vẫn có suy nghĩ như vậy trong thị trường tràn ngập người trẻ, hay nói một cách khác là nhắm vào giới trẻ…” Neil_Diamond_1

Nhạc Xanh xin mời các bạn thưởng thức bản nhạc Sweet Caroline, cả ca từ và giai điệu của nó vui tươi. Neil Diamond trong một cuộc phỏng vấn năm 2007 đã cho biết cảm hứng sáng tác bài này đến từ cô Caroline Kennedy năm 11 tuổi ( con gái Tổng thống Mỹ John Kennedy). Ông cũng đã hát bài này tại buổi kỷ niệm sinh nhật 50 tuổi của bà Caroline Kennedy.
Bài thứ hai là bài Song Sung Blue, ( 1972) bài hát thứ nhì của Diamond được xếp hạng 1 trên Billboard 100 của Mỹ và 2 đề cử cho giải Grammy 1973
Bài thứ ba : You Don’t Bring Me Flowers, top hit Billboard 100 năm 1978 hát chung với Babra Streisand.

1. SWEET CAROLINE
Where it began
I can’t begin to knowing
But then I know it’s growing strong

Was in the spring
And spring became the summer
Who’d have believed you’d come along

Hands, touching hands
Reaching out
Touching me
Touching you

Sweet Caroline
Good times never seemed so good
I’ve been inclined
To believe they never would


But now I
Look at the night
And it don’t seem so lonely
We fill it up with only two
And when I hurt
Hurting runs off my shoulders
How can I hurt when I’m with you

Warm, touching warm
Reaching out
Touching me
Touching me

Sweet Caroline
Good times never seemed so good
I’ve been inclined
To believe they never would
Oh, no, no

Sweet Caroline
Good times never seemed so good
I’ve been inclined
I believed they never could
Sweet Caroline

2. SONG SUNG BLUE

Song sung blue
Everybody knows one
Song sung blue
Every garden grows one

Me and you are subject to the blues now and then
But when you take the blues and make a song
You sing them out again
Sing them out again

Song sung blue
Weeping like a willow
Song sung blue
Sleeping on my pillow

Funny thing, but you can sing it with a cry in your voice
And before you know it, start to feeling good
You simply got no choice

Song sung blue
Everybody knows one
Song sung blue
Every garden grows one

3. YOU DON’T BRING ME FLOWERS ( With Barbra Streisand)
You don’t bring me flowers
You don’t sing me love songs
You hardly talk to me anymore
When you come thru the door
At the end of the day

I remember when you couldn’t wait to love me
Used to hate to leave me
Now after lovin’ me late at night
When it’s good for you, babe
And you’re feelin’ alright
Well you just roll over and turn out the light
And you don’t bring me flowers anymore

It used to be so natural to talk about forever
But “used to be’s” don’t count anymore
They just lay on the floor
‘Till we sweep them away

Baby, I remember
All the things you taught me
I learned how to laugh
And I learned how to cry
Well, I learned how to love
And I learned how to lie
So you’d think I could learn
How to tell you goodbye
You don’t bring me flowers anymore

Well, you’d think I’d could learn
How to say tell you goodbye
You don’t say you need me
You don’t sing me love songs
You don’t bring me flowers anymore

Thân ái chúc các bạn một ngày vui tươi với giai đi ệu xanh của chàng nghệ sĩ trẻ mãi không già Neil Diamond

“California Dreamin'” – The Mamas and The Papas

Trong dịp Tết Kỷ Sửu vừa rồi, một trong những trải nghiệm thú vị nhất trong chuyến đi du lịch Malaysia – Singapore của mình và mẹ mình là được đi xe xich lô Singapore (gọi là Trishaw) dạo vòng quanh khu Bugis, Phố Ấn Độ, Phố Tàu ở Singapore. Thú vị hơn nữa là vừa ngồi lên xe, anh chàng lái xe bật ngay một bản nhạc rock đồng quê mà mình rất thích. Chưa bao giờ mình cảm thấy hạnh phúc, thanh thản như hôm đó. Ngày hôm đó trời rất đẹp, ít nắng và nhiều gió. Vừa ngồi trên xe nghỉ ngơi, vừa ngắm cảnh đường phố Singapore, vừa được nghe bản nhạc mình yêu thích thì thật là tuyệt vời, phải không các bạn?

The Mamas and The PapasVà để thay đổi không khí, hôm nay mình xin được giới thiệu với các bạn bản nhạc rock đồng quê đó, có tên gọi là “California Dreamin’” của ban nhạc The Mamas and The Papas.

Ban nhạc The Mamas and The Papas là ban nhạc gồm các thành viên như: John Phillips (nhạc sĩ sáng tác, qua đời năm 2005), Denny Doherty (qua đời năm 2007), Michelle Phililips (vợ của John), Cass Elliot, Scott McKenzie, Jill Gibson. Ban nhạc này nổi lên vào năm 1966 với thành công vang dội của “California Dreamin” khi nó lọt vào top 10. Ca khúc này được phát hành lần đầu tiên vào tháng 11, năm 1965 và được xếp hạng thứ 89 trong 500 ca khúc vĩ đại nhất của mọi thời đại.

 Qua tiếng hát của The Mamas and The Papas của thập niên 60, ca khúc kinh Mamas--Papas-California-Dreamiđiển “California Dreamin” đã trở thành nhạc phẩm thịnh hành được nhiều người yêu chuộng. Vào giữa thập niên 90, nhạc phẩm “California Dreamin” lần nữa được dùng làm ca khúc chính trong phim “Chungking Express”, một trong 100 cuốn phim được tuần báo Time của Mỹ chấm là hay nhất. Trong phim này, đạo diễn Wong Kar Wai đã mượn nhạc phẩm này để nói lên ước mơ về vùng trời xa xăm của cô bồi bàn trong một tiệm ăn nhỏ ở Hong Kong.

Sau đây là 2 video clip: 1) Video clip do ban nhạc The Mamas and the Papas biểu diễn, và 2) Video clip do nhóm River City People  cover lại. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!

Loan Subaru

California Dreamin’

Elaine Paige- Memory

Các bạn hẳn còn nhớ tên một nữ ca sĩ người Anh đã được Susan Boyle, trong cuộc thi Tài Năng Anh quốc tháng 3- 2009, nhắc đến như một thần tượng của mình?
Hôm nay Nhạc Xanh sẽ giới thiệu nữ danh ca ấy: Elaine Paige, một nữ ca sĩ thanh nhạc người Anh, được vinh danh là nghệ sĩ hàng đầu thế giới về ca nhạc kịch paige3

Elaine Paige OBE, nhũ danh Elaine Bickerstaff, sinh ngày 5 tháng 3 năm 1948 tại Barnet, Bắc Luân Đôn, là một ca sĩ kiêm diễn viên người Anh, lừng danh ở thể loại nhạc kịch.
Paige lớn lên trong một gia đình được hun đúc bởi tình yêu âm nhạc. Cha cô là nhân viên địa ốc, và là tay trống nghiệp dư; mẹ khi còn trẻ là ca sĩ. Paige có vóc người thấp nhỏ chỉ 1, 5m, như cô đã nói đó là lý do khiến cô không nhận được nhiều vai chính. Ban đầu Paige nuôi ước vọng trở thành môt tay vợt tennis chuyên nghiệp. Sau này thể thao vẫn là một đam mê của cô.

Năm 14 tuổi, Paige nghe nhạc phim West Side Story; và chính bản nhạc phim này đã khơi dậy ước mơ trở thành nghệ sĩ nhạc kịch của cô. Cô được cô giáo dạy nhạc Anne Hill ở trường học khuyến khích. Vai diễn đầu tiên trên sân khấu học đường của cô rất khó nhưng cô bé Paige đã diễn rất đạt, là vai Susanna trong một tác phẩm của Mozart: The Marriage of Figaro, trong đó có phần solo Messiah của Handel. Thế là cha cô quyết định cho cô đi học trường kịch nghệ Aida Foster. Sau khi học xong, năm 16 tuổi cô có vai diễn chuyên nghiệp đầu tiên trong vai của một cô bé bụi đời lang thang người Trung Hoa (1964). Bốn năm sau cô đặt chân lên sân khấu nhà hát West End với vai Member of the Tribe trong tác phẩm Hair năm 20 tuổi (1968).

Sau các vai diễn nhỏ, Paige được chọn vào vai Eva Perón trong Evita năm 1978, với bài hát chủ đề Don’t Cry For Me Argentina, của tác giả nhạc kịch Andrew Lloyd Webbe. Vở diễn hết sức thành công này mang đến danh tiếng, nhiều giải thưởng cho cô và vai diễn chính suốt 20 tháng. Năm 1981, cô đã khởi đầu vai Grizabella trong tác phẩm Cats, và được xếp vào Top 10 hit với bài Memory, một bài hát trong vở diễn này. paige1
Sau đó Paige đã tham gia diễn trong vở Chess vào năm 1986, và cô đã phát hành I Know Him So Well cùng với Barbara Dickson. Đây là bản ghi âm bán chạy nhất của một cặp song ca nữ.

Paige đã diễn xuất lần đầu trên sân khấu Broadway trong vở Sunset Boulevard vào năm 1996, trong vai chính Norma Desmond. Cô đã diễn trong vở The King and I từ năm 2000 đến 2001, và sáu năm sau cô đã quay trở lại sân khấu West End trong vở The Drowsy Chaperone, và cũng được đề cử giải Diễn viên Phụ Xuất Sắc Nhất

Ngoài việc được 5 đề cử cho 5 giải thưởng Laurence Olivier, cô đã đoạt nhiều giải thưởng vì đóng góp của cô trong các vai diễn. Trong số này có thể kể Giải thưởng Nhạc Kịch West End cho vở Evita 1978, giải ca nhạc năm 1986, Giải Nghệ sĩ Của Năm 1987, Huy chương vàng Bvasca 1994, Giải thưởng Thành Tựu Trọn Đời HMV ( His Master’s Voice) 1996, và Giải Thành Tựu Trọn Đời Quốc Gia về Opera và Kịch nghệ Cô đã hát trong nhiều buổi hoà nhạc khắp nơi trên thế giới. paige 4
Page được tôn vinh là Đệ Nhất Nữ Tài Tử của Nhạc Kịch Anh ( tờ Spectator). Cô cũng đã phát hành 20 album solo và đã đạt được 8 album vàng và 4 album platinum. Những album giữa thập niên 1980 đã đưa Paige đến đỉnh cao danh vọng. Những album tiêu biểu là Collection, Love Songs, Romance and The Stage. Năm 1998, trong kỷ niệm sinh nhật thứ 50 của nhà soạn nhạc kịch nổi tiếng Andrew Lloyd Webber, tác giả của nhiều vở nhạc kịch lừng danh thế giới, Elaine Paige đã hát 2 bài hát top của cô là Memory và Don’t Cry For Me Argentina, mà cô từng hát trong các vở diễn của ông. Từ năm 2002 đến hiện nay, cô dẫn chương trình của mình trên sóng phát thanh Radio BBC 2 có tên là Elaine Page Chủ Nhật.

Chính vì cô là đỉnh cao tài năng âm nhạc, nên trong cuộc thi Tài Năng Anh quốc 2009, Susan Boyle đã nêu tên Elaine Paige như thần tượng âm nhạc của mình, và Elaine Paige cũng bày tỏ mong muốn song ca cùng Boyle ( đã được giới thiệu trong bài Ngụ Ngôn Từ Một Giấc Mơ ngày 22/4/2009) .

Là một nghệ sĩ nổi tiếng, Paige sống độc thân, không con cái, là một tấm lòng vàng- hoạt động và bảo trợ cho nhiều tổ chức từ thiện, trong đó có Tổ Chức Chăm Sóc Giúp Đỡ Bệnh Nhân Ung Thư Vú, và Hổ Trợ bệnh Lupus Ban Đỏ, với Chilldren’s Trust, EveryChild, Và Chữ Thập Đỏ.

Nhạc Xanh mời các bạn thưởng thức 5 bài hát tiêu biểu của Elaine Page:

Bài Don’t Cry For Me Argentina nhạc phim Evita, về cuộc đời cao đẹp của Eva Perón , vợ thứ hai của tổng Thống Argentina Juan Perón. ( 1998 )
Bài Memory trong vở Cats (1998)
You Must Love Me
I Know Him So Well ( hát đôi với Barbara Dickson)
Và bài thứ năm, Miss You Nights, hát đôi cùng Cliff Richard (nam danh ca người Anh của ban nhạc Shadow )
Thân ái chúc các bạn một ngày tràn đầy niềm vui và tình yêu trong đó có một góc cho âm nhạc.

1. MEMORY

Midnight not a sound from the pavement
Has the moon lost her memory?
She is smiling alone
In the lamplight, the withered leaves collect at my feet
And the wind begins to moan

Memory, All alone in the moonlight
I can dream of the old days
I was beautiful then
I remember the time I knew what happiness was
Let the memory live again

Every streetlamp seems to beat
A fatalistic warning
Someone mutters and the street lamp gutters
And soon
It will be morning

Daylight
I must wait for the sunrise
I must think of a new life
And I mustn’t give in.
When the dawn comes
Tonight will be a memory too
And a new day will begin

(Music interlude)

Burnt out ends of smoky days
The stale cold smell of morning
A streetlamp dies; another night is over
Another day is dawning…

Touch me!
It’s so easy to leave me
All alone with the memory
Of my days in the sun…
If you touch me, you’ll understand what happiness is
Look, a new day has begun.

2. DON’T CRY FOR ME ARGENTINA (London 1998)

It won’t be easy
You’ll think it strange
When I try to explain how I feel
That I still need your love
After all that I’ve done
You won’t believe me
All you will see is a girl you once knew
Although she’s dressed up to the nines
At sixes and sevens with you

I had to let it happen
I had to change
Couldn’t stay all my life down at heel
Looking out of the window
Staying out of the sun
So I chose freedom
Running around trying everything new
But nothing impressed me at all
I never expected it to

Don’t cry for me Argentina
The truth is I never left you
All through my wild days
My mad existence
I kept my promise
Don’t keep your distance

And as for fortune and as for fame
I never invited them in
Though it seemed to the world they were all I desired
They are illusions
They’re not the solutions they promised to be
The answer was here all the time
I love you and hope you love me

Don’t cry for me Argentina

Don’t cry for me Argentina
The truth is I never left you
All through my wild days
My mad existence
I kept my promise
Don’t keep your distance

Have I said too much?
There’s nothing more I can think of
To say to you
But all you have to do is look at me to know
That every word is true

Don’t cry for me Argentina

3. YOU MUST LOVE ME

Where do we go from here?
This isn’t where we intended to be
We had it all, you believed in me
I believed in you

Certainties disappear
What do we do for our dream to survive?
How do we keep all our passions alive,
As we used to do?

Deep in my heart I’m concealing
Things that I’m longing to say
Scared to confess what I’m feeling
Frightened you’ll slip away

You must love me
You must love me

Why are you at my side?
How can I be any use to you now?
Give me a chance and I’ll let you see how
Nothing has changed

You must love me

4. I KNOW HIM SO WELL ( with Barbara Dickson)

Nothing is so good it lasts eternally
Perfect situations must go wrong
But this has never yet prevented me
From wanting far too much for far too long
Looking back, I could have played it differently
Won a few more moments, who can tell
But it took time to understand the man
Now at least I know, I know him well

Wasn’t it good (Oh so good)
Wasn’t he fine (Oh so fine)
Isn’t it madness he can’t be mine
But in the end, he needs a little more than me
More security (He needs his fantasy and freedom)
I know him so well

No one in your life is with you constantly
No one is completely on your side
And though I move my world to be with him
Still the gap between us is too wide
Looking back, I could have played it differently
Learned about the man before I fell
But I was ever so much younger then
Now at least I know, I know him well

Wasn’t it good (Oh so good)
Wasn’t he fine (Oh so fine)
Isn’t it madness he won’t be mine
Didn’t I know how it would go
If I knew from the start
Why am I falling apart

Wasn’t it good
Wasn’t he fine
Isn’t it madness he won’t be mine
But in the end, he needs a little more than me
More security (He needs his fantasy and freedom)
I know him so well
It took time to understand him
I know him so well

5. MISS YOU NIGHTS ( with Cliff Richard )

I’ve had many times
I can tell you
Times when innocence I’d trade for company
And children saw me crying
I thought I’d had my share of that
But these miss you nights
are the longest

Midnight diamonds
stud my heaven
Southward burning
Lie the jewels that eye my place
And the warm winds
That embrace me
Just as surely kissed your face
Yeah these miss you nights
are the longest

How I miss you
I’m not likely to tell
I’m a man and cold day light
buys the pride I’d rather sell
All my secrets
are wasted affair
You know them well

Thinking of my going
How to cut the thread
And leave it all behind
Looking windward for my compass
I take each day as it arrives
But these miss you nights
are the longest

Lay down all thought of your surrender
It’s only me who’s killing time
Lay down all dreams and themes once remembered
It’s just the same
This miss you game
Yeah these miss you nights
are the longest

Vui nhộn “Vũ khúc Hungari số 5”

JohannesBrahmsChào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu với các bạn một giai điệu rất quen thuộc. Mình tin chắc rằng các bạn đã nghe nhạc phẩm này đâu đó rất nhiều lần nhưng không để ý. Ngoài ra, bản nhạc này cũng được sử dụng cho bộ phim hài “The Great dictator” với sự diễn xuất hết sức vui nhộn của danh hài Charlie Chaplin. Đó là nhạc phẩm “Vũ khúc Hungari số 5” của nhà soạn nhạc người Đức Johannes Brahms.

 * Tiểu sử (theo Wikipedia): Johannes Brahms (7/5/1833 – 3/4/1897) là một nhà soạn nhạc, chơi đàn piano và chỉ huy dàn nhạc người Đức. Các tác phẩm của ông được xếp vào chủ nghĩa lãng mạn. Trên bầu trời nghệ thuật thế giới nửa sau thế kỷ 19, âm nhạc của Johannes Brahms, với vẻ đẹp hình thức hoàn hảo và sự dung di sâu sắc của tâm hồn, như một chòm sao rực ráng. Ông là người tiếp nối các truyền thống hiện thực cổ điển và “làm giàu” chúng bằng những thành tựu của chủ nghĩa lãng mạn Đức. Âm nhạc của Johannes Brahms vừa đầy chất triết học trữ tình đặc trưng của Bach vừa mang những hình tượng âm nhạc hoành tráng và bạo liệt theo tinh thần Beethoven, nhưng cũng đậm nỗi lo âu về số phận của con người hiện đại.

Hungarian dance No5Brahms sinh ngày 7/5/1833 tại thành phố cảng Hamburg, miền Bắc nước Đức, là con thứ trong gia đình một nhạc sĩ nghèo, dòng dõi thị dân, thổi flute, kèn cor, chơi contrebasse trong các nhà hàng hạng hai và hộp đêm của Hamburg. Năm 1862, đau lòng vì không tìm được một mái nhà nghệ thuật vững chắc cho riêng mình ở thành phố quê hương Hamburg, Brahms rời bỏ Tổ quốc sang sống ở Vienna (khi ấy được coi là thủ đô âm nhạc của thế giới).

10 năm ở Vienna là thời kỳ sáng tạo của Brahms đạt tới đỉnh cao huy hoàng. Trừ opera và âm nhạc theo chương trình, ông đã viết đến 380 tác phẩm thanh nhạc, 3 sonata, 5 biến tấu, 5 ballad, 3 rhapsody … cho piano, 3 sonata cho violin, 2 sonata cho cello và nhiều tác phẩm Tam tấu, Tứ tấu, Ngũ tấu … trong đó có nhiều tuyệt tác như Biến tấu theo chủ đề của Paganini (A-moll), Quintet cho piano (F-moll), Sonata số 3 cho violin, Concerto số 2 cho piano (B-dur) – một “giao hưởng” 4 chương độc đáo có phần solo của piano. Đặc biệt với các tác phẩm giao hưởng, Brahms trở thành một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của lịch sử âm nhạc thế giới thế kỷ 19. Vinh quang dồn dập đến với Brahms. Ông được tặng huân chương Leopold của hoàng đế nước Áo, viện sĩ Viện hàn lâm Nghệ thuật Berlin, học vị tiến sĩ của Đại học Cambridge, Đại học Breslau, công dân danh dự của thành phố Hamburg … Ông cũng đã yêu vài người đàn bà, kể cả Clara Schumann, nhưng chưa bao giờ lấy vợ. Cuối đời Brahms sống cô độc, tránh xa đám đông. Chuyện rằng, chủ nhân một cuộc tiếp khách trọng thể muốn lấy lòng ông, đưa trước Brahms danh sách khách mời và đề nghị ông gạch tên bất cứ ai ông không thích, Brahms đã lấy bút gạch … tên mình ! Brahms mất ngày 3/4/1897 tại Vienna vì ung thư gan.

* Vũ khúc Hungari số 5:

Brahms viết tổng cộng đến 22 bản Vũ Khúc Hungari cho piano và violon. Đây là những biến tấu dựa trên các làn điệu dân gian Hungari. Trong 22 bản trên, bản vũ khúc số 5 nổi tiếng nhất và được xem như một kiệt tác. Vũ khúc số 5 được người nghe yêu thích nhất vì tiêt tấu của nó nổi trội hơn hẳn những bản còn lại, và nó thường được chơi trong những buổi hội hè, khi những người bạn, người thân trong gia đình tụ tập vui chơi với nhau.

Sau đây là 3 video clip: 1) Video clip do dàn nhạc giao hưởng Yorba Linda biểu diễn, 2) Video clip trong phim “The Great dictator” và 3) Video clip do ban nhạc nữ Bond biểu diễn. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!

Loan Subaru

Cavatina – Nhạc chủ đề phim “The Deer Hunter”

Cavatina1Chào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc Xanh hôm nay, để thay đổi không khí, mình xin được giới thiệu với các bạn một giai điệu tuyệt đẹp, có tên gọi là “Cavatina” – nhạc chủ đề cho bộ phim “The Deer Hunter” (The Deer Hunter” là một bộ phim tâm lý, chiến tranh, lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết năm 1937 của Đức, “Three Comrades”. Tác giả của cuốn sách là một cựu quân nhân đã tham gia vào Thế chiến thứ II). 

Tác phẩm guitar cổ điển này được soạn vào năm 1970, bởi nhà làm phim người Anh Stanley Myers. Tác phẩm này ban đầu được viết cho piano, nhưng sau đó, theo yêu cầu của nghệ sĩ guitar cổ điển John Williams, Myers đã viết lại cho guitar cổ điển.

Cavatina2Cavatina lần đầu tiên được sử dụng cho bộ phim “The Walking Stick” (1970), nhưng sau đó, đến năm 1978, nó được sử dụng làm nhạc chủ đề cho bộ phim “The Deer Hunter” (1978) của đạo diễn Michael Cimono, và Myers cũng đã giành được giải thưởng Ivor Novello cho tác phẩm âm nhạc này. Ngoài ra, còn có version khác có lời dựa trên giai điệu này, gọi là “He was Beautiful” của Cleo Laine và Iris Williams. Điều này làm cho giai điệu “Cavatina” càng trở nên nổi tiếng và được yêu thích. Năm 2007, người chiến thắng trong cuộc thi “Britain’s Got Talent” – Paul Potts cũng đã thu âm bài này trong album đầu tiên của anh – có tên gọi là “Once Chance”.

Sau đây là 3 video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ guitar cổ điển Per-Olov Kindgren biểu diễn, 2) Video clip bài hát “He was beautiful” do nữ ca sĩ Lesley Garrett biểu diễn và 3) Video clip do Paul Potts người chiến thắng trong cuộc thi “Britain’s Got Talent 2007” biểu diễn.

Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, trữ tình của Cavatina và chúc các bạn một ngày làm việc hiệu quả!

Loan Subaru

 


.

Click vào đây để xem trực tiếp nếu video không xem được


.

Bản giao hưởng “Định mệnh” – Beethoven

Beethoven1Chào các bạn,

Rất vui được gặp lại các bạn trong chuyên mục Nhạc Xanh sau một thời gian mình “ở ẩn”! 🙂 Hôm nay, mình xin được giới thiệu với các bạn đôi nét về nhà soạn nhạc người Đức Beethoven và một trong hai bản giao hưởng nổi tiếng nhất của ông: bản giao hưởng số 5 hay còn được gọi là bản giao hưởng “Định Mệnh”.

* Tiểu sử của Beethoven (theo wikipedia): Ludwig van Beethoven (17/12/1770 – 26/3/1827) là một nhà soạn cổ điển người Đức. Ông có thể được coi là người dọn đường cho thời kỳ âm nhạc lãng mạn, được khắp nơi công nhận là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại và ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sĩ, và khán giả về sau.

Beethoven sinh ra trong một gia đình nhạc sĩ. Cha của ông vốn rất ngưỡng mộ Mozart (người chỉ mới 6 tuổi đã là một nhà soạn nhạc). Thấy Beethoven còn nhỏ thích bấm lên phím piano của ông nội để lại, cha ông muốn ông trở thành một thiên tài âm nhạc như Mozart để gia đình sung sướng và danh giá nên ông được tập đàn clavio lúc ba tuổi, tiếp đó là những bài luyện đàn violon, piano, organ… Tuy nhiên, kỷ luật nghiêm ngặt của ông bố lại làm ngăn trở sự phát triển của cậu con trai. Ông bị cha mình bắt đánh đàn suốt ngày đến nỗi ngón tay bị tê dại, sưng lên. Cha ông cũng không bằng lòng và thường xuyên mắng chửi ông, có khi còn đánh đập tàn nhẫn. Cha ông thường dựng Beethoven dậy vào lúc nửa đêm để tập chơi dương cầm. Vì thế, Beethoven thường rất mệt mỏi và không tập trung được khi đến trường. Khi Beethoven được 11 tuổi, theo quyết định của cha, Beethoven phải nghỉ học để tập trung vào âm nhạc.

Cuộc sống của Beethoven cũng có rất nhiều khó khăn. Cha ông là một người nghiện rượu và thô lỗ, mẹ ông lại hay đau ốm. Vào khoảng 5 tuổi ông bị chứng viêm tai giữa nhưng bố mẹ ông không biết. Vì thế, ông đã không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách. Có lẽ đây là nguyên nhân làm ông bị điếc về sau này.

Trong cuộc đời của mình, Beethoven đã phải chịu đựng sự hành hạ đau đớn về mặt thể xác. Vào khoảng 30 tuổi, Beethoven bắt đầu biểu lộ những triệu chứng đầu tiên của bệnh xơ hóa thính giác và triệu chứng này ngày càng tồi tệ hơn, không có cách gì cứu vãn. Đến 1818, Beethoben điếc hẳn cả hai tai.

Vào lúc 6 giờ tối ngày 20/3/1827, nhạc sĩ danh tiếng nhất thế kỉ 19 trút hơi thở cuối cùng. Đám tang của ông có hàng ngàn người đưa tiễn và ngày sau đó toàn bộ tài sản Beethoven để lại, kể cả bản thảo, đều bị đem bán đấu giá.

Beethoven-Symphony 5Trong số những tác phẩm lớn của ông phải kể đến các bản giao hưởng như Giao hưởng Anh hùng ca, Giao hưởng định mệnh, Giao hưởng Số 9, Giao hưởng đồng quê, các tác phẩm cho dương cầm như như Fur Elise, các sonata như Pathétique, Moonlight…

 * Bản giao hưởng số 5:

Beethoven sáng tác bản Giao hưởng số 5 vào năm 1808 khi ông 37 tuổi khi cuộc sống riêng tư bị rắc rối bởi chứng điếc ngày càng tăng. Bản giao hưởng số 5 mang âm hưởng chủ đạo là ngợi ca tình yêu cuộc sống, cuộc chiến của con người chống lại định mệnh đang gõ cửa. Bản giao hưởng gồm bốn chương (chương 1: Allegro, chương 2: Andante, chương 3: Scherzo. Allegro và chương 4: Allegro), trong đó chương 1 được xem là hay nhất và quen thuộc nhất. Toàn bộ bản giao hưởng sẽ đưa chúng ta qua 4 giai đoạn: sợ hãi, tuyệt vọng, sau cùng, thắng lợi, ngợi ca tình yêu cuộc sống.

Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!

Loan Subaru 

 

Céline Dion- Nghệ Sĩ của Tình Yêu

Chắc chắn câu trả lời của các bạn khi được hỏi tên của 3 nữ ca sĩ hát nhạc Pop yêu thích nhất sẽ giống như của mình vì không thể thiếu tên của một nữ ca sĩ được gọi là Diva tuy không hát opera. Người ca sĩ này đã bước lên tột đỉnh vinh quang, đứng trên nấc thang cao nhất của danh vọng vì tài năng ca hát “trên cả tuyệt vời” với 5 Giải Grammy, 2 giải Oscar cho bài hát xuất sắc nhất trong phim, 11 giải World Music, 7 giải American Music, 7 giải Billboard Music, 21 giải Juno…

Hôm nay Nhạc Xanh giới thiệu với các bạn giọng ca của Céline Dion không chỉ vì những giải thưởng quốc tế lớn về âm nhạc của cô, mà chính vì cô được tôn vinh là ca sĩ của tình yêu với những bài hát bất hủ về tình yêu, khi cô trả lời phỏng vấn “tôi hát bằng trái tim tôi” chứ không bằng các bộ phận phát âm như họng, thanh quản …

Dion_Celine_
Céline Marie Claudette Dion (sinh ngày 30 tháng 3 năm 1968) tại Charlemagne, Québec, Canada, là nữ ca sĩ, nhạc sĩ dòng nhạc pop người Pháp-Canada.

Từ khởi đầu rất khiêm tốn ở Charlemagne, Céline Dion đã nhanh chóng nổi lên trở thành một trong những ngôi sao quốc tế lớn nhất thành công nhất mọi thời đại trong lịch sử nhạc pop với hơn 200 triệu album được bán ra khắp thế giới.

Là con út trong một gia đình gồm 14 anh chị em, Dion lớn lên trong một môi trường đầy biến động và cả nhà phải vật lộn với những khó khăn thiếu thốn về vật chất. Tuy nhiên gia đình Dion lại đầy ắp tình yêu dành cho trẻ thơ và âm nhạc. Cha mẹ, anh chị là những người có ảnh hưởng quan trọng trong bước đầu sự nghiệp ca hát của Dion. Mới lên 5 tuổi, cô bé Dion đã hát trong quán bar nhỏ có chơi đàn piano của bố mẹ.

Năm 12 tuổi, cô đã hát một trong những bài hát đầu của mình: “”Ce N’etait Qu’un Rêve” (“It Was Only a Dream”). Bài hát này cô đã thu âm với sự giúp đỡ của mẹ và anh trai, và gửi băng ghi âm đến giám đốc Rene Angelil. Sau nhiều tuần chờ đợi, anh trai cô đã gọi điện đến Angelil và Dion có được cuộc gặp gỡ với người mà sau khi nghe cô bé 12 tuổi hát thử đã quyết tâm biến cô thành ngôi sao ca nhạc quốc tế. Celine lúc đó rất gầy, răng thì xấu, nhút nhát, không biết nói chuyện và xã giao với mọi người nhưng bù lại cô lại có giọng ca thiên phú. Angelil đã cầm cố ngôi nhà của mình để lấy tiền cho hai album thu âm đầu tiên và một đĩa đơn của cô.

Thôi học sau khi xong lớp 6, cô bắt đầu sự nghiệp ca hát. Cô trở thành ca sĩ trẻ người Canada đoạt một đĩa vàng ở Pháp và một giải thưởng lớn – huy chương vàng ở Yamaha World Popular Song Festival tại Nhật vào năm 1982.Tiếng tăm của cô đã bắt đầu vang dội trên thế giới, nhưng cô vẫn chưa với tới ngôi sao danh vọng ở Mỹ. Thành công nối tiếp thành công, hạnh phúc nối tiếp hạnh phúc sau đó nhanh chóng đến với Dion.
celine_dion_8

Năm 18 tuổi, khi thấy Michael Jackson biểu diễn trên TV, cô bảo với người quản lý (sau này là chồng của cô) rằng cô muốn trở thành ngôi sao như thế. Dion trải qua 18 tháng chỉnh trang, và thẩm mỹ tạo mới hình ảnh của mình, và nhất là khổ công học tiếng Anh cấp tốc tại môt trường học bên Anh.

Nỗ lực của cô đã được đền đáp. Thành công đến ngay sau đó; cô tiếp tục chinh phục thêm rất nhiều fan ở châu Âu với giải thưởng lớn tại Eurovision Song Contest năm 1988. Hai năm sau (1990) Album Unison được Epic Record phát hành bắt đầu cho sự chinh phục mới. Từ đó trở đi Dion đã chinh phục hàng triêu con tim của những người yêu nhạc với hàng triệu bản ghi âm bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp được bán ra trên toàn thế giới với giọng hát thiên bẩm. Những bài hát thành công nhất của cô: Where the My Heart Beat Now, Beauty and the Beast (1990), Power of Love, The Color of My love (1994), Because You Loved Me, All By Myself, Falling Into You (1996), Tell Him (1997), The Reason, My Heart Will Go On, I’m Your Angel (1998), I Want You To Need Me (2000).

Có thể nói thành công vang dội nhất của Dion giai đoạn này bắt đầu với bài hát chủ đề Beauty and the Beast của bộ phim Disney song ca với Peabo Bryson, thành top hit hạng 1, đoạt giải Grammy và Oscar.Album Falling Into You cũng dành được 2 giải Grammy cho Album của Năm và Album nhạc Pop Hay Nhất, và liên tục ở hạng top 10 trên Billboard 100 trong suốt 59 tuần, và bán được 32 triệu bản.

Dion vinh dự đươc mời biểu diễn tại lễ khai mạc Thế Vận Hội Olympic Atlanta 1996. Và đỉnh cao danh vọng tột cùng của cô đến cùng với bài hát “My Heart Will Go On”ca ngợi tình yêu làm người nghe khắp thế giới say đắm ngất ngây và bao trái tim yêu thổn thức với bài hát chủ đề này trong bộ phim bom tấn Titanic của James Cameron. Bài hát này trở thành bất tử cả trên sóng radio và thành top hạng 1 ở nhiều nước. Album Let’s Talk About Love 1997 của cô qui tụ nhiều giọng ca nổi tiếng như Babra Streisand, Luciano Pavaroti… có bài hát này cũng trở thành album bán chạy nhất với số lượng 31 triệu bản. My Heart Will Go On được trao 1 giải Oscar “Nhạc phim hay nhất” ( Academy Award for Best Original song ), và 4 giải Grammy ( for Record of the Year, Song of the Year, Best Female Pop Vocal Performance and Best Song Written for a Motion Picture, Television or Other Visual Media).

Dion đã tham gia nhiều các tổ chức nhân đạo như Quỹ Céline Dion, Quỹ Canada Chống Lại Căn Bệnh U Nang trong đó cô là người bảo trợ hay như Quỹ Tưởng Nhớ Công Nương Diana.
tiensidanhdu

Ngoài Bắc Đẩu Bội Tinh được nước Cộng Hòa Pháp trao tặng, người ca sĩ này còn được ĐH Laval ở Québec trao tặng học vị tiến sĩ danh dự bởi tài năng nghệ thuật cũng như những giá trị nhân văn sâu sắc của cô. Giáo sư Hiệu trưởng Brière đề cao giá trị của Céline Dion, người phụ nữ luôn biết quan tâm đến người nghèo với một trái tim chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. “Cô ấy trở thành một mẫu hình về sự chuyên nghiệp và lòng nhân ái, cũng như một nguồn cảm hứng cho tất cả chúng ta”. Mới đây, cô còn vinh dự được Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy phong tước hiệp sĩ vì đã có những cống hiến cho sự phát triển của âm nhạc và văn hóa Pháp. Cô cùng chồng là Rene Angelil, 66 tuổi, vừa được dựng tượng trong Bảo tàng Grevin ở Paris (Pháp).

Hơn bao giờ hết, nữ ca sỹ giàu nhất hành tinh hiểu rằng tiền bạc không làm nên hạnh phúc. Cô có một con trai 8 tuổi. Và giờ đây khi ở bên cạnh chồng suốt ngày đêm, Dion tin rằng bằng sức mạnh tình yêu của mình có thể kéo Rene thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo ung thư.

Như thế câu kết của bài giới thiệu này về Celine Dion, không phải như một siêu sao – Diva – tài năng âm nhạc, mà như một nghệ sĩ ngợi ca tình yêu, một tấm lòng nhân ái, một người phụ nữ đẹp, đầy nghị lực và chung thủy, luôn tin tưởng vào sức mạnh của tình yêu.

Sau đây mời các bạn thưởng thức 4 bài hát đặc sắc thành công nhất của Céline Dion đã được nhắc đến ở trên :

1. Beauty and the Beast – (LIVE in Memphis)

Tale as old as time
True as it can be
Barely even friends
Than somebody bends
Unexpectedly

Just a little change
Small, to say the least
Both a little scared
Neither one prepared
Beauty and the Beast

Ever just the same
Ever a surprise
Ever as before
Ever just as sure
As the sun will arise

Tale as old as time
Tune as old as song
Bittersweet and strange
Finding you can change
Learning you were wrong

Certain as the sun
Rising in the east
Tale as old as time
Song as old as rhyme
Beauty and the beast

2. Titanic – My Heart Will Go On (LIVE)


(Love Theme From “Titanic”)

Every night in my dreams
I see you. I feel you.
That is how I know you go on.

Far across the distance
And spaces between us
You have come to show you go on.

Near, far, wherever you are
I believe that the heart does go on
Once more you open the door
And you’re here in my heart
And my heart will go on and on

Love can touch us one time
And last for a lifetime
And never go till we’re one

Love was when I loved you
One true time I hold to
In my life we’ll always go on

Near, far, wherever you are
I believe that the heart does go on
Once more you open the door
And you’re here in my heart
And my heart will go on and on

There is some love that will not go away
You’re here, there’s nothing I fear,
And I know that my heart will go on
We’ll stay forever this way
You are safe in my heart
And my heart will go on and on

3. The Power of Love – BEST LIVE performance in Japan (1994)

The whispers in the morning
Of lovers sleeping tight
Are rolling like thunder now
As I look in your eyes

I hold on to your body
And feel each move you make
Your voice is warm and tender
A love that I could not forsake

(first chorus)
‘Cause I am your lady
And you are my man
Whenever you reach for me
I’ll do all that I can

Lost is how I’m feeling lying in your arms
When the world outside’s too
Much to take
That all ends when I’m with you

Even though there may be times
It seems I’m far away
Never wonder where I am
‘Cause I am always by your side

(repeat first chorus)

(second chorus)
We’re heading for something
Somewhere I’ve never been
Sometimes I am frightened
But I’m ready to learn
Of the power of love

The sound of your heart beating
Made it clear
Suddenly the feeling that I can’t go on
Is light years away

(repeat first chorus)
(repeat second chorus)
4. The Power of Dream – Live Atlanta Olympics (1996)


Deep within each heart
There lies a magic spark
That lights the fire of our imagination
And since the dawn of man
The strength of just “I can”
Has brought together people of all nations

There’s nothing ordinary
In the living of each day
There’s a special part
Every one of us will play

Feel the flame forever burn
Teaching lessons we must learn
To bring us closer to the power of the dream
As the world gives us its best
To stand apart from all the rest
It is the power of the dream that brings us here

Your mind will take you far
The rest is just pure heart
You’ll find your fate is all your own creation
Every boy and girl
As they come into this world
They bring the gift of hope and inspiration

Feel the flame forever burn
Teaching lessons we must learn
To bring us closer to the power of the dream
The world unites in hope and peace
We pray that it will always be
It is the power of the dream that brings us here

There’s so much strength in all of us
Every woman child and man
It’s the moment that you think you can’t
You’ll discover that you can

Feel the flame forever burn
Teaching lessons we must learn
To bring us closer to the power of the dream
The world unites in hope and peace
We pray that it will always be
It is the power of the dream that brings us here

Feel the flame forever burn
Teaching lessons we must learn
To bring us closer to the power of the dream
The world unites in hope and peace
We pray that it will always be
It is the power of the dream that brings us

The power of the dream
The faith in things unseen
The courage to embrace your fear
No matter where you are
To reach for your own star
To realize the power of the dream
To realize the power of the dream

Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng rộn ràng những khúc nhạc xanh và tràn ngập tình yêu, yêu người, yêu cuộc sống …

Celine_Dion_with_family. jpg

Bản nhạc chủ đề của WCAG 2.0

blindperson
Chào các bạn,

Trong chương trình Nhạc Xanh hôm nay, chúng ta có bản nhạc hiphop chủ đề của WCAG 2.0 rất hay. Nhưng ý nghĩa của nó thì còn hay hơn nhiều, vì bản nhạc này nhằm truyền bá Tiêu Chuẩn Tiếp Cận Nội Dung Mạng Toàn Cầu, là tiêu chuẩn đặc biệt cho computers và các loại máy có thể dùng trên Mạng (ví dụ, điện thoại di động), để những người khuyết tật có thể sử dụng. Hôm nay chúng ta hãy nghe bản nhạc này để cùng vui với các bạn khuyết tật.

Hãy dùng một phút để biết WCAG 2.0 là gì. Truớc hết ta có W3C. Đây là tên viết tắt của World Wide Web Consortium, là một tổ chức bất vụ lợi nhằm thiết lập tiêu chuẩn cho mạng Internet trên thế giới. W3C thành lập năm 1994 tại phòng thí nghiệm khoa vi tính của Đại Học MIT (Mỹ), với sự hỗ trợ của Ủy Ban Âu Châu (tiền thân của Liên Minh Âu Châu) và Dự Án Nghiên Cứu Quốc Phòng Cao Cấp (Defense Advanced Research Project Agency) của Mỹ, tổ chức cha đẻ của Internet ngày nay.

W3c có một cánh tay gọi là Web Accessibility Initiative, chuyên nghiên cứu và ban hành tiêu chuẩn máy móc để người khuyết tật có thể sử dụng Internet.
blindpersonatcomputer
Web Accessibility Initiative ban hành bộ tiêu chuẩn Web Content Accessibility Guidelines, viết tắt là WCAG. Cho đến nay đã có hai bộ. Bộ đầu tiên năm 2002 gọi là WCAG 1.0. Bộ mới năm 2005, thay thế bộ cũ, gọi là WCAG 2.0.

Bài nhạc hiphop ta có ở đây là bài nhạc chủ đề (theme song) của WCAG 2.0, nhằm phát động chiến dịch đưa WCAG 2.0 đến các nhà sản xuất máy móc. Trong video của bản nhạc này ta sẽ thấy computers và các máy móc người khuyết tật dùng, và nghe tiếng giọng nói computer, là giọng mà các ngưởi khiếm thị nghe khi dùng phần mềm cho người khiếm thị.

Cám ơn anh Trần Bá Thiện đã giới thiệu bản nhạc và link. Mình mong là tất cả chúng ta trên Đọt Chuối Non sẽ quan tâm hơn đến đời sống của các bạn khuyết tật. Mình cũng mong có sự đóng góp và hướng dẫn thường xuyên của các bạn khuyết tật, vì mình thì hơi sáng trong một số chuyện, nhưng thật là tù mù về các vấn đề liên hệ đến các bạn khuyết tật. Mình rất muốn được biết thêm về cảm xúc, nhu cầu, ước muốn, công việc, thử thách, và những giấc mơ của các bạn. Và mình nghĩ rằng đa số các bạn Đọt Chuối Non cũng suy nghĩ như mình. Cám ơn các bạn nhiều lắm.

Toàn văn, kể cả lời nhạc, có dưới video link. Các bạn có thể dịch như là một English Challenge hôm nay.

Chúc mọi người một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

.

(The New) WCAG 2.0 Theme Song
“We want to show you the WCAG”
By David MacDonald

Intro by “Sharky” the ScreenReader: [Spoken]

Sharky: “W-C-A-G, WCAG, I’m a cool DJ, SHARKY, SH-SH-SH-SHARKY, Hey I’m going crazy with this cool beat, I have much better rythym since you installed that new quantizing program. Do you want to dance?

David: No Sharky, we’ve got to get going on this song, you can dance while I sing but don’t pull yourself out of the wall socket again.

[Singing]

we’re gonna to write a new specification
it’s gonna work with the tool of verification
gonna be accessible
gonna make it testable
WCAG, WCAG

gonna make the web understandable
make it perceivable write it tangible
when its interoperable
the web will be unstoppable
WCAG, WCAG

We’re gonna show you the WCAG
We’re going to show you what this world can be
We’re going to show you the WCAG
It’s not a heavy load
to open up your code
and write the WCAG, WCAG

[Spoken]

Sharky: Hey David, I heard a guy on TV say that he’s the fastest rapper in the world, but I blow him away, watch this…[Sharky raps at 250 words a minute, then back to normal speed]…I’m a cool DJ, Sharky, WCAG…How’s that David, am I a cool rapper now?

David: Sharky, I couldn’t understand a word you said.

Sharky: Most of my blind friends understand everything I speak at that speed, would … you… like… me…to…speak…really…slow…for…you…David?

David: Very funny, c’mon let’s do this verse.

[Singing]

We’re gonna make the web a better place
For every ability and every race
Even if you’re surfing from outer space
you’ve got the WCAG, WCAG

Repeat Chorus

David Raps (uhh sort of):
So let me tell you what the WCAG is and what the WCAG’s not
The WCAG is a set of tools
Comes with a set of rules
Helps your web site
Come to life
For people with other abilities
And sensabilities
So when they hit you online
They can have a good time
Don’t matter if they’re blind
Or if they have to sign
Or if their hands start to shake
With every move they make
They can easily figure out
What you are talking about
When you follow the principles that we’re gonna lay out

Sharky:
Principle 1: Content must be Perceivable
Principle 2: Content and controls must be Understandable
Principle 3: Interface elements in the content must by Operable
Principle 4: Content must be Robust, enough to work with current and future technologies

[spoken]

Sharky:Hey your music is much more funky since you moved out of the suburbs and started hanging out downtown on street corners. I like the other theme song but it sounded a bit too unplugged and I’ve never been crazy about an unplugged sound, I like techno geek music where computers do everything and humans don’t play any instruments. Ithink it is a lot more organic when music is played buy genuine computers. When humans play it sounds so unemotionable and fake.

David: We’ll that’s just because you’re a bunch of ones and zeros there big guy.

Sharky: David, that was very mean of you to say that, you know I’ve always been very sensitive out my binary genetic coding, it’s always been a source of great emotional insecurity for me.

David: Oh, c’mon Sharky, you know I love you man, and besides, you are an awesome rapper, man you should go into American Idol.

Sharky: I’m going to be a star, I can see the headlines now, Sharky wins American Idol for people with disabilities.

Phil Collins và Against All Odds

Hôm nay Nhạc Xanh giới thiệu với các bạn một tài năng âm nhạc người Anh, lừng danh quôc tế như một ca sĩ, nhạc sĩ, tay trống, tay chơi keyboard, và diễn viên. Người ta nói rằng Phil Collins sinh ra để chơi trống, và hát solo bởi nhịp gõ, tiết điệu, và tài sáng tạo riêng của ông đã tạo ra một phong cách vô cùng độc đáo phù hợp với các thể loại âm nhạc mà ông chọn biểu diễn và được thừa nhận bởi những khán giả tinh tế và yêu cầu cao.
Phil_Collins_Wierd
Philip David Charles, “Phil” Collins sinh ngày 30 tháng 1 năm 1951 tại Chiswick, London. Sự nghiệp âm nhạc của Collins bắt đầu như một tay trống, ban đầu với ban nhạc không mấy tên tuổi là Flamming Youth, về sau nổi tiếng với ban nhạc Rock Genesis. Vừa chơi trống, vừa hát solo rất thành công, Collins được Atlantic Records xếp vào nhóm ca sĩ solo đã bán được 150 triệu đĩa vào năm 2002.

Lên 5 tuổi, cậu bé Collins nhận được món quà Giáng sinh là một bộ trống đồ chơi. Về sau, ông cậu Mark Wade đã làm cho cậu một bộ gõ thực sự, qua đó nó đã giúp cậu luyện tập nâng cao khả năng của mình. Collins luyện tập nhạc không theo một giáo trình nào cả, ngay cả cách đọc và viết nốt nhạc ông cũng không được học qua, chủ yếu là tự học theo cách chơi học được trên tivi, và trên đài với hệ thống nốt nhạc tự chế. Đến năm 14 tuổi ông mới được đào tạo về kịch nghệ khi ông vào trường Trung học Sân Khấu Barbara Speake và đóng vai Artful Dodger trong vở nhạc kịch Oliver ( Dickens). Trong phim của Beatles- A Hard Day’s Night ông đóng một vai phụ và ngoài ra tham gia lồng tiếng cho vai diễn Romeo trong phim Romeo và Juliet (1968).

Mặc dù khởi đầu khá thuận lợi với nghề diễn viên, nhưng ông vẫn luôn tập trung vào ca nhạc. Trong thời gian ở trường Chiswick Community School Collins thành lập ban nhạc The Real Thing và sau đó gia nhập ban The Freehold với ca khúc đầu tay Lying Crying Dying. Năm 1969 anh cùng ban nhạc Flamming Youth nhận đươc hợp đồng sản xuất đĩa đầu tiên và phát hành Album Arc 2, tuy Album này không bán được nhiều. Do không mấy thành công ban nhạc sớm tan rã.

Trong vòng 6 năm, từ 1984 đến 1989 Collins đã 7 lần đoạt được vị trí số 1 trong bình chọn Billboard Hot 100 của Mỹ; ngoài lần xếp thứ nhất với album Invisible Touch ghi âm với ban nhạc Genesis.

Phong cách đa dạng mà độc đáo của Collins được thể hiện rõ nét trong các ca khúc của ông. Có những bài mang phong cách trống làm chủ như In the Air Tonight, đến những bài mang nhịp điệu Pop Sussudio hay mang đậm sắc thái chính trị, xã hội của Another Day in Paradise. Ca khúc này đến nay được cho là thành công nhất của Collins. Không chỉ có vậy, những ca khúc về tình yêu và nỗi sầu đau do dư vị ngậm ngùi của những cuộc hôn nhân không bền lâu của Collins cũng là những chủ đề sáng tác quen thuộc. rainbow_concepts_

Sự nổi tiếng của ông trên thế giới đã ảnh hưởng khá nhiều đến thành công của Genesis. Ban nhạc này đã nhận được đề cử Video Của Năm 1987 của MTV cho đĩa đơn Land of Confusion.

Nhiều album khác của Collins được xếp trong số Top 30 ở Anh, Mỹ và các nước khác như Secret Policeman’s Other Ball – The Music 1982, và Something’s Going On ( của Frida, ABBA), và I Know There’s Something Going On”, trong đó Collins chơi trống và hát đôi với Frida trở thành top hit quốc tế.

Đặc biệt bài hát ballad Against All Odds (Take a Look at Me Now) là bài hát chủ đề cho bộ phim Against All Odds (1984) nhanh chóng nhảy lên hạng 1 ở Mỹ, hạng 2 ở Anh, tạo thêm danh tiếng cho người nghệ sĩ đa tài. Đây là một bài hát trữ tình, như tiếng lòng của người nghệ sĩ đã được viết ra và hát bằng tất cả cảm xúc.

Album thành công nhất của Collins là No Jacket Required có 3 bài hát top số 1 ở Mỹ được trao giải Grammy và là Album của năm.

Phil Collins cũng là nghệ sĩ tích cực tham gia cùng Bob Geldof tại chương trình âm nhạc từ thiện Live Aid và là người duy nhất trình diễn ở 2 nơi: Sân vận động Wembley ở Anh, và sân vân động JFK tại Mỹ.

Mời các bạn thưởng thức bài Against All Odds ( nhạc chủ đề phim cùng tên; được trình diễn tại chương trình từ thiện Live Aid)
another day

Tiếp theo là bài Another Day in Paradise về những kẻ không nhà xếp hạng 1 trên Billboard cuối năm 1989 và đã đem về cho ông một giải Grammy cho ca khúc của Năm (1990).

Và bài thứ ba là True Colors mà ca từ rất đẹp bởi giàu chất nhân bản: an ủi, động viên, và yêu thương những mảnh đời khốn khó, bất hạnh đi vào lòng người nghe:

Em với đôi mắt buồn . Xin em chớ nản l òng. Vẫn biết không dễ gì can đảm trong một thế giới quá đông người mà em có thể không nhìn thấy chi. Và bóng tối trong em có thể làm em thấy nhỏ nhoi.
.

1 AGAINST ALL ODDS


.

How can I just let you walk away, just let you leave without a trace
When I stand here taking every breath with you, ooh
You’re the only one who really knew me at all

How can you just walk away from me,
When all I can do is watch you leave
Cos we’ve shared the laughter and the pain and even shared the tears
You’re the only one who really knew me at all

So take a look at me now, oh there’s just an empty space
And there’s nothing left here to remind me,
Just the memory of your face
Ooh take a look at me now, well there’s just an empty space
And you coming back to me is against all odds and that’s what I’ve got to face

I wish I could just make you turn around,
Turn around and see me cry
There’s so much I need to say to you,
So many reasons why
You’re the only one who really knew me at all
So take a look at me now, well there’s just an empty space
And there’s nothing left here to remind me, just the memory of your face
Now take a look at me now, cos there’s just an empty space
But to wait for you, is all I can do and that’s what I ‘ve got to face
Take a good look at me now, cos I’ll still be standing here
And you coming back to me is against all odds
It’s the chance I’ve gotta take
.

2/ ANOTHER DAY IN PARADISE


.

She calls out to the man on the street
sir, can you help me?
It’s cold and I’ve nowhere to sleep,
Is there somewhere you can tell me?

He walks on, doesn’t look back
He pretends he can’t hear her
Starts to whistle as he crosses the street
Seems embarrassed to be there

Oh think twice, it’s another day for
You and me in paradise
Oh think twice, it’s just another day for you,
You and me in paradise

She calls out to the man on the street
He can see she’s been crying
She’s got blisters on the soles of her feet
Can’t walk but she’s trying

Oh think twice…

Oh Lord, is there nothing more anybody can do?
Oh Lord, there must be something you can say

You can tell from the lines on her face
You can see that she’s been there
Probably been moved on from every place
cos she didn’t fit in there

Oh think twice…
.

3. TRUE COLORS


.

You with the sad eyes
Don’t be discouraged
Oh I realize
It’s hard to take courage
In a world full of people
You can lose sight of it all
And the darkness, inside you
Can make you feel so small

But I see your true colors
Shining through
I see your true colors
And that’s why I love you
So don’t be afraid to let them show
Your true colors
True colors are beautiful,
Like a rainbow

Show me a smile then,
Don’t be unhappy, cant remember
When I last saw you laughing
If this world makes you crazy
And you’ve taken all you can bear
You call me up
Because you know I’ll be there

And I’ll see your true colors
Shining through
I see your true colors
And that’s why I love you
So don’t be afraid to let them show
Your true colors
True colors are beautiful,
Like a rainbow

[intru part]

So sad eyes
Discouraged now
Realize

When this world makes you crazy
And you’ve taken all you can bear
You call me up
Because you know I’ll be there

And I’ll see your true colors
Shining through
I see your true colors
And that’s why I love you
So don’t be afraid to let them show
Your true colors
True colors, true colors

Cos there’s a shining through
I see your true colors
And that’s why I love you
So don’t be afraid to let them show
Your true colors, true colors
True colors are beautiful,
Beautiful, like a rainbow

Thân ái chúc các bạn một ngày mới vui tươi, hiệu quả

Lãng mạn giai điệu “Widmung”

SchuhmannChào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc Xanh hôm nay, mình xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn đôi nét về nhà soạn nhạc Robert Schumann và một trong những nhạc phẩm đẹp nhất và lãng mạn nhất của ông – “Widmung” (dịch sang tiếng Anh là “Dedication”)

1) Tiểu sử (theo wikipedia): Robert Schumann, hay Robert Alexander Schumann (8/6/1810 – 29/7/1856) là một nhà soạn nhạc và phê bình âm nhạc nổi tiếng của Đức. Ông là một trong những nhà soạn nhạc lãng mạn lừng danh nhất thế kỷ 19. Đầu đời, Schumann theo đuổi ước mơ trở thành một nghệ sĩ violon và mong muốn này bắt nguồn từ sự động viên của thầy giáo ông là Friedrich Wieck, người đã khuyên Schumann rằng ông có thể trở thành nghệ sĩ violon bậc nhất châu Âu. Tuy nhiên, một chấn thương tay đã cản trở ước muốn này của Schumann và ông đã quyết định dồn sức lực cho việc soạn nhạc. Ông soạn nhạc cho piano và dàn nhạc, sáng tác các tác phẩm lieder, giao hưởng, opera, thánh ca và thính phòng.

WidmungNăm 1840, Schumann kết hôn với nghệ sĩ piano Clara Wieck, một nhân vật có tiếng trong thời kỳ âm nhạc lãng mạn của dòng piano. Trong hai năm cuối cuộc đời, sau một vụ tự sát bất thành, Schumann bị đưa vào một viện tâm thần trong những năm cuối cuộc đời.

2) Widmung: (dịch sang tiếng Anh là “Dedication”) là một trong những nhạc phẩm bất hủ của R. Schumann. Ông đã sáng tác bài này để làm quà cưới cho người vợ của mình, nàng Clara Wieck. Ông đã thể hiện được một cách sâu sắc cảm xúc, tình cảm nồng nàn và dâng hiến, sợ hãi và mong chờ, thất vọng và cam chịu, những hy vọng và ước mơ trong cuộc sống hôn nhân của mình trong tác phẩm này. Ông soạn bài nhạc này vào những ngày đầu năm 1840 và hoàn tất vào tháng 4/1840. Đến năm 1849, Franz Liszt – nhạc sĩ chơi piano kiêm nhà soạn nhạc người Hungari đã soạn lại bài này cho độc tấu piano.

SongofloveCuộc đời và sự nghiệp của Schumann cũng đã được dựng thành phim – “Song of Love” vào năm 1947, với diễn xuất của nữ diễn viên nổi tiếng Katharine Hepburn.

Sau đây là 2 video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ piano Van Cliburn biểu diễn và 2) Video clip trích đoạn trong bộ phim “Song of Love”. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!

Loan Subaru

 

 

 

John Denver – Country Road

John Denver (31/12/ 1943 –12/10/ 1997) là một trong những nghệ sĩ tiếng tăm được yêu mến nhất thế giới. Denver nổi tiếng không chỉ như một ca sĩ -nhạc sĩ chuyên về nhạc đồng quê – nghệ sĩ nhạc rock, mà còn là diễn viên, nhà hoạt động môi trường và nhà từ thiện. Nhạc của John đã trải dài 4 thập niên kể từ album đầu tiên ra mắt vào năm 1969, tồn tại qua nhiều khuynh hướng và dòng nhạc, và đem lại nhiều giải thưởng âm nhạc cao và vinh dự cho người nghệ sĩ tài hoa này.

John Denver sinh ở Roswell, New Mexico, có tên khai sinh là Henry John Deutschendorf, Jr., là con của một sĩ quan không lực Mỹ thuộc gia đình gốc Đức, rất nghiêm khắc với con cái. Chính gia đình bên ngoại là những người Thiên chúa Giáo Ireland và Scotland đã khuyến khích và khơi dậy tình yêu âm nhạc nơi John với cây đàn ghi ta bà ngoại tặng năm ông 12 tuổi.

Từ năm 12 tuổi John đã học chơi đàn guitar và đến khi vào đại học đã chơi rất hay ở các câu lạc bộ địa phương.John-Denver-1
Vì nghề nghiệp của cha, gia đình thường di chuyển và sống ở nhiều nơi như Arizona, Alabama, Texas, John rất khó kết bạn và hòa hợp với các bạn đồng trang lứa. Sau này, chính âm nhạc, khả năng đàn hát đã giúp cậu bé sống nội tâm có được nhiều bạn hơn. Năm thứ ba ở trường Trung học Arlington Heights ở Forth Worth, Texas, John bỏ học, lái xe của cha lên California để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc. Tuy nhiên khi bố bay đến đó, cậu vâng lời quay về học ở trường cũ và tốt nghiệp trung học. Năm 1963, chàng sinh viên 20 tuổi, rời bỏ giảng đường ngành Kiến trúc ở ngôi trường Đại học Texas Technological College một mình lên Los Angeles, California, trung tâm sôi động của các hoạt động âm nhạc.

Denver hát trong các câu lạc bộ nhạc Folk đầy khói thuốc dưới tầng hầm; đến năm 1965 tham gia ban nhạc folk Chad Mitchell Trio, sau đổi tên thành Mitchell Trio. Với vai trò ca sĩ chính của ban nhạc rất được mến mộ, John đã trau chuốt được tài ca hát và phát triển phong cách sáng tác độc đáo của riêng mình. Năm 1969, Denver từ bỏ ban nhạc và theo đuổi sự nghiệp hát solo, đồng thời ra mắt album đầu tay cho hảng RCA Records, trong đó có bài Leaving On A Jet Plane, được Peter, Paul, và Mary thu âm; bài hát này thành bài hát nổi tiếng xếp hạng 1 trên Billboard 100.

Không đầy 2 năm sau,John tiếp tục nổi danh như một ngôi sao hàng đầu của thập niên 70 trên bảng xếp hạng với những bài như “Take Me Home, Country Roads,” “Rocky Mountain High,” “Sunshine On My Shoulders,” “Annie’s Song,” “Back Home Again,” “Thank God I’m A Country Boy,” and “Calypso,
Những chuyến lưu diễn qua nhiều nước trên thế giới của John và mỗi album mới phát hành lại được nhiều fan say mê và nồng nhiệt đón mừng. Denver có 14 album vàng và 8 album bạch kim ở Mỹ và không ít album vàng, bạch kim ở nhiếu nước khác
Denver 3

Có hai album vàng được Denver thu âm vào năm 1970: “Whose Garden Was This?” và “Take Me To Tomorrow”, là cảm hứng sáng tác của ông trong khi lái xe giong ruỗi trên những nẻo đường Trung Tây của nước Mỹ. Đặc biệt, bài hát “Whose Garden Was This?” là bài đầu tiên mà ông gửi đi một thông điệp về môi trường và nhân ái trong loạt bài hát về môi trường của ông.

Các fan hưởng ứng ngay các thông điệp này trong các bài hát, các buổi trình diễn live của John, họ ra sức thúc đẩy và xúc tiến các hoạt động về môi trường, trái đất, hòa bình và từ thiện.

Những bài hát trữ tình, ca từ đẹp như một bài thơ, với những hình ảnh quen thuộc dung dị của quê nhà, mà rất nên thơ, êm ái, hữu tình và sâu lắng, đi vào lòng người nghe, khiến những người xa quê hương thấy lòng thổn thức:

” Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn” ( Chế Lan Viên )

Hãy lắng nghe những giai điệu của John Denver về :

Những ngọn núi, những hàng cây xưa, dòng sông quê hương, ánh trăng mờ ảo lung linh, tiếng mẹ gọi buổi sớm mai, kỷ niệm ùa về, lệ bỗng tràn lên khóe mắt, ta chợt nhớ rằng đang cách xa quê nghìn trùng, những nẻo đường quê thân yêu ơi hãy đưa ta về với quê nhà ( Take Me Home Country Road ).

Ông đã đoạt được nhiều giải thưởng như Country Music Asssociation Entertainer of the Year vào năm 1975; Emmy cho Best Variety or Musical Special năm 1977; Giải Bình Chọn của Nhân Dân 1977 và Đệ Nhất Thi Nhân bang Colorado 1977; giải thưởng Carl Sandburg năm 1983. Đặc biệt, John đã được giải thưởng Âm Nhạc danh giá Albert Schweitzer năm 1993, và vinh danh trong Bảo Tàng Âm Nhạc năm 1996.

Niềm đam mê xây dựng một cộng đồng quốc tế hiểu biết nhau ( Đông Tây) và âm nhạc không biên giới thúc đẩy ông làm một cánh én đầu tiên của mùa xuận, mở đường đến trình diễn ở những vùng đất từng là thù địch với đất nước của ông. Năm 1985, ông được Hội Nhạc Sĩ Liên Xô lúc bấy giờ mời sang biểu diễn, và đã làm xúc động người nghe toàn thế giới với bài hát ““Let Us Begin ” thu âm cùng một nghệ sĩ Nga (What Are We Making Weapons For?) . Ông còn trở lại với 2 chuyến lưu diễn ở nước này vào năm 1986, và 1987 để hoạt động từ thiện cho nạn nhân của thảm họa Chernobyl ), và đây cũng là những hoạt động trao đổi văn hóa đầu tiên trong bang giao 2 nước Mỹ Nga.

starland76a
Ông cũng là nghệ sĩ phương Tây đầu tiên sang Trung quốc trong chuyến lưu diễn nhiều thành phố. Ông ngạc nhiên bởi bài hát “ Country Roads” nổi tiếng của ông viết ở phương Tây rất được ưa chuộng bởi người dân nước này.

John cũng đã đóng góp tài năng vào nhiều hoạt động từ thiện và môi trường bền vững cho các dự án cứu trợ Đói Nghèo của World Hunger, nhiều lần sang Châu Phi trong thập niên 80, tận mắt chứng kiến những đau khổ của nạn nhân, và đề xuất các giải pháp với các lãnh đạo Châu Phi, cũng như các hoạt động gây quỹ cho UNICEF v.v và nhận rất nhiều giải thưởng vinh danh những người xuất sắc về hoạt động nhân đạo.

Ngày nay, hàng triệu người hâm mộ trên toàn thế giới, xưa và nay, vẫn tiếp tục say mê các ca khúc nhạc đồng quê cũa người nhạc sĩ –ca sĩ lớn – người không biết mệt mỏi trong những nỗ lực làm gần nhau hơn thế giới Đông -Tây, kêu gọi con người quên đi thù hận và xung đột màu da, chính trị và tôn giáo. Và trên hết tiếng hát, giai điệu và ca từ của âm nhạc John Denver về tình yêu quê hương, cuộc sống, thiên nhiên, lòng nhân ái, vẫn làm rung động tâm hồn người nghe và là nguồn cảm hứng mạnh mẽ của biết bao người trên thế giới.

Sau đây mời các bạn thưởng thức ba bài hát nổi tiếng do chính John Denver sáng tác và trình bày

1. TAKE ME HOME COUNTRY ROAD

Almost heaven, West Virginia
Blue Ridge Mountains
Shenandoah River –
Life is old there
Older than the trees
Younger than the mountains
Growin like a breeze

Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads

All my memories gathered round her
Miners lady, stranger to blue water
Dark and dusty, painted on the sky
Misty taste of moonshine
Teardrops in my eye

Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads

I hear her voice
In the morning hour she calls me
The radio reminds me of my home far away
And driving down the road I get a feeling
That I should have been home yesterday, yesterday

Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads

Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads
Take me home, now country roads
Take me home, now country roads

2. SUNSHINE ON MY SHOULDERS

Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high

If I had a day that I could give you
I’d give to you a day just like today
If I had a song that I could sing for you
I’d sing a song to make you feel this way

Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high

If I had a tale that I could tell you
I’d tell a tale sure to make you smile
If I had a wish that I could wish for you
I’d make a wish for sunshine all the while

Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high
Sunshine almost all the time makes me high
Sunshine almost always

3. LEAVING ON A JET PLANE

All my bags are packed
I’m ready to go
I’m standing here outside your door
I hate to wake you up to say goodbye
But the dawn is breaking
It’s early morn
The taxi’s waiting
He’s blowin’g his horn
Already I’m so lonesome
I could die

So kiss me and smile for me
Tell me that you’ll wait for me
Hold me like you’ll never let me go
cause I’m leaving on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go

Theres so many times I’ve let you down
So many times I’ve played around
I tell you now, they don’t mean a thing
Evry place I go, I’ll think of you
Evry song I sing, I’ll sing for you
When I come back, I’ll bring your wedding ring

So kiss me and smile for me
Tell me that you’ll wait for me
Hold me like you’ll never let me go
cause I’m leaving on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go

Now the time has come to leave you
One more time
Let me kiss you
Then close your eyes
I’ll be on my way
Dream about the days to come
When I won’t have to leave alone
About the times, I won’t have to say

Oh, kiss me and smile for me
Tell me that you’ll wait for me
Hold me like you’ll never let me go
cause I’m leaving on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go

But, I’m leavin on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go

Như thường lệ, Nhạc Xanh hoan nghênh các bạn chia sẻ lời dịch các bài hát mình ưa thích.
Thân ái chúc các bạn một ngày vui, dào dạt tình yêu miền thôn quê, hồn quê và quê hương đất nước mình nhiều hơn với những giai điệu nhạc đồng quê

Kaki King, nữ hoàng guitar

Kaki King là phụ nữ duy nhất có tên trong danh sách “guitar gods” (thần guitar) của tạp chí Rolling Stones (của ban nhạc Rolling Stones). Mời các bạn xem Kaki King biểu diễn một số bản nhạc trong đĩa Playing with Pink Noise của cô. Với lối sử dụng guitar cực kỳ sáng tạo. Có một không hai.
.

“Hoài niệm về thành Alhambra” — Francisco Tarrega

Chào các bạn,

Francisco_Tarrega_001Trong chuyên mục Nhạc Xanh lần trước, mình đã giới thiệu với các bạn một số nhạc phẩm được chơi bằng piano, violon, violoncell…Hôm nay, mình xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn nhà soạn nhạc nổi tiếng cho đàn guitar Francisco Tarrega và nhạc phẩm lừng danh của ông – “Recuedos de la Alhambra” (Hoài niệm về thành Alhambra). Mình chắc rằng, những bạn nào chơi guitar cổ điển đều biết bài này vì nó rất nổi tiếng với kỹ thuật reo dây.

1) Tiểu sử (theo wikipedia):

Francisco de Asís Tárrega y Eixea, thường gọi tắt là Francisco Tárrega (18/11/1852 – 15/12/1909) là một nhà soạn nhạc nổi tiếng cho đàn guita người Tây Ban Nha. Ông được xem như là người đặt nền móng cho vị trí của cây đàn guitar là nhạc cụ dành cho độc tấu. Ngoài các bản nhạc do ông sáng tác cho đàn guitar, ông còn chuyển soạn một số tác phẩm của các nhà soạn nhạc khác sang trình tấu với đàn guitar. Francisco Tárrega đã đặt nền móng cho guitar cổ điển thế kỷ 20, đã đưa vào guitar cổ điển các kỹ thuật trước đây chưa từng có và vẫn được dùng đến ngày nay, chẳng hạn ông sử dụng cả ngón đeo nhẫn để gảy đàn trong khi trước đó người ta chỉ dùng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Kỹ thuật reo dây (tremolo) dành cho guitar cổ điển là phát minh của ông: dùng các ngón trỏ, giữa, đeo nhẫn gảy liên tục vào cùng một dây tạo nên cảm giác tiếng đàn ngân nga không dứt, một ví dụ điển hình cho kĩ thuật này chính là “Recuedos de la Alhambra” lừng danh.

alhambra2) Thành Alhambra và “Recuedos de la Alhambra”

Thành Alhambra (1238 – 1527) ở Tây Ban Nha là một di sản văn hoá thế giới, đã bị bỏ hoang cho tới cuối thế kỷ thứ 19. Trải qua bao biến động của lịch sử, cung điện Alhambra phần lớn vẫn giữ nguyên diện mạo thế kỷ 14 của mình, không có sự thay đổi nào đáng kể.

Cung điện Alhambra xây dựng trên đỉnh đồi nhìn xuống thành phố Granada. Tên cung điện lấy từ al-Qalat al Hamra, có nghĩa là “lâu đài đỏ”, vì màu gạch và đất lấy từ pháo đài trước kia. Điểm ấn tượng nhất của cung điện Alhambra là công trình trát vữa không xoa láng, trang trí bằng các mô típ thực vật và những câu đề khắc…Cung điện là nơi ở của các vị vua người Maure ở Grenade (thế kỷ XIII-XIV), rộng khoảng 4.000 m2, được tường kiên cố bao quanh với 13 tháp canh liên hoàn khiến nhìn từ bên ngoài vào, lâu đài có dáng dấp một pháo đài. Đây là một tập hợp kiến trúc gồm thành quách, dinh thự và các kiến trúc phụ cho gia nhân cùng nhiều khu vườn tráng lệ, lâu đài được đánh giá là tuyệt tác của đời sống dân sự, quân sự và nghệ thuật của Hồi giáo Bắc Phi. Có thể gọi Alhambra là một pháo đài lẫn dinh thự tiêu khiển. Đây là một cung điện mang quá nhiều sư tráng lệ trên nền mồ hôi nước mắt, sự đói khát và cả tính mạng những người dân Hồi giáo vương quốc Granada.

Recuedos de la AlhambraCung điện Alhambra được xây dựng để nhằm mục đích quảng bá nền văn hóa, sở thích và chấn chỉnh nền văn minh của Hồi giáo. Sự khẳng định đặc điểm này liên kết mật thiết với nền nhận thức yếu kém của riêng mình trên vương quốc Granada và có lẽ vì lí do này, cung điện Alhambra đã bị bao trùm một tâm trạng luyến tiếc quá khứ, không tưởng và thi vị. Chủ đề hồi tưởng quá khứ cũng có thể nhìn thấy rõ ràng trong kết cấu kiến trúc của cung điện, ngoài sự ám chỉ đặc biệt về đạo hồi, cung điện còn mang tư tưởng và nền văn hóa của Hy Lạp, La mã cổ đại, vì thế cung điện Alhambra còn mang chứa những kiến thức cực kỳ uyên bác về Hy-La cổ điển.

“Recuedos de la Alhambra” với tên dịch ra tiếng Việt là “Tưởng nhớ thành Alhambra”, được sáng tác vào năm 1896, ở Granada. Nét tuyệt vời của bài này là giai điệu tremolo, cùng với tiếng bass ban đầu rất trầm ấm, nhưng sau đó lại lên rất cao, bồng bềnh như miền sông núi nước non Alhambra.

Dưới đây là hai video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ guitar Enno Voorhorst biểu diễn và 2) Video clip do ca sĩ Nana Mouskouri biểu diễn với những hình ảnh tuyệt đẹp của thành cổ Alhambra. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!

 Loan Subaru

 

The Sound of Music, Do-Re-Mi và Edelweiss

Nếu các bạn hỏi bất kỳ người nào yêu thích phim ca nhạc, hay ca khúc trong phim nước ngoài, trong đó có mình, về tên của 5 bộ phim ca nhạc hay nhất mọi thời đại, câu trả lời không thể thiếu The Sound of Music.

The Sound of Music (Giai Điệu Hạnh Phúc hay Tiếng Tơ Đồng) là một bộ phim ca nhạc năm 1965 của đạo diễn Robert Wise cùng các diễn viên Julie Andrews, và Christopher Plummer đóng vai chính. Bộ phim dựa trên vở nhạc kịch cùng tên của Broadway, trong đó có bài hát cùng tên do Richard Rodgers, Oscar Hammerstein II  viết, và dựa trên cuốn sách nhạc kịch của Howard Lindsay, Russel Crouse, kịch bản của Ernest Lehman.

Vở nhạc kịch này lấy ý tưởng từ quyển sách “ Câu Chuyện của Các Ca Sĩ Gia Đình Trapp “  của tác giả Maria von Trapp. Trong vở nhạc kịch này có nhiều bài hát nổi tiếng như  Edelweiss,  My Favorite Things,  Climb E’vry Mountain, Do-Re-Mi, Sixteen Going on Seventeen, cũng như bài hát cùng tên phim : The Sound of Music.

The Sound of Music

Phim được quay ở  Salzburg, Áo; Bavaria ở Nam Đức, và ở trường quay 20th Century Fox, California.  Bộ phim giành 5 giải Oscar cho phim hay nhất của năm 1965: Đạo diễn Hay Nhất, Kịch Bản Phim Hay Nhất, Nhạc Phim Hay Nhất,….   và là một trong những phim ca nhạc nổi tiếng nhất từng được  sản xuất. Album nhạc phim đã được đề cử giải Grammy của năm.  Giai điệu nhẹ nhàng, lời hát trong sáng. Chẳng có những triết lý sâu xa, chỉ là những gì gần gũi quanh ta, nhưng lại làm ta thêm yêu cuộc sống. Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ đã chọn The Sound of Music cho việc bảo tồn ở Kho Lưu Trữ Phim Quốc Gia Hoa Kỳ vào năm 2001.Phim này thu về được 1.022 tỉ đô la khiến nó được xếp thứ ba sau Cuốn Theo Chiều Gió và Chiến Tranh Các Vì  Sao ( Gone With The Wind, và Star Wars).

Truyện phim khá đơn giản, nhưng bộ phim lại làm rung động hàng nhiều triệu khán giả,  gợi  lên những cảm xúc cao đẹp với tình yêu thiên nhiên,  trẻ thơ, tình người, tình yêu đôi lứa, sự dũng cảm mưu trí trước kẻ thù, nhất là âm nhạc tuyệt vời. Maria, (do Julie Andrews đóng) một nữ tu yêu đời, chưa được ơn Thiên triệu,  yêu nhạc, thích ca hát, đến làm cô giáo cho 7 đứa con của gia đình Von Trapp.  Bằng tấm lòng yêu thương  và  tính cách chân thành giản dị, tài ca hát làm rung động lòng người, cô  gia sư trẻ đã  chinh phục đám trẻ  nghịch ngợm khó bảo.  Chúng chỉ  quen tuân phục tiếng còi  lệnh của cha, theo kỷ luật quân đội. Ông Georg nghiêm cấm cười đùa, nghiêm cấm âm nhạc, nghiêm cấm mọi  thứ  có thể gợi lại hình ảnh vợ mình. Maria đã thổi làn gió kỳ diệu của những giai điệu ngọt ngào vào 7 đứa bé, làm sống lại tâm hồn tưởng như đã chết của viên thuyền trưởng Georg. Và tình yêu như phép nhiệm màu đem lại  hạnh phúc cho họ. Cả gia đình sống bên nhau êm đềm, tươi vui, với thiên nhiên, với âm nhạc, giữa bao người dân bình dị.  Câu chuyện đẹp như cổ tích, nhưng cũng đầy chất kịch tính với  bối cảnh chiến tranh là Thế Chiến thứ  II và  quân Đức tràn vào Áo. Ông Georg bị buộc phải phục vụ cho Hải Quân Đức. Họ bàn tính cách bỏ trốn sang Thụy Sỹ. Cuộc đào thoát thành công ngoạn mục. Một kết cục có hậu làm khán giả yên lòng và mỉm cười với hạnh phúc của gia đình Von Trapp.

the sound of music 1

Giai Điệu Hạnh Phúc là bài hát chủ đề  do Julie Andrews hát với phần phụ hoạ điệp khúc của nhà Von Trapp trong bộ phim năm 1965.

Bài hát này được Viện Phim Mỹ  xếp thứ 10 trong danh sách  100 bài hát tuyệt vời nhất của mọi thời đại. Cảnh đầu tiên trong phim là cảnh đồng quê, núi non, thiên nhiên …, những hình ảnh tuyệt đẹp từ trái qua phải rồi lại dần đưa ta gặp Maria, cô gái yêu đời đứng giữa núi đồi và hát vang bài “The Hills Are Alive With the Sound of Music.” Bốn câu đầu của bài hát trong phim và trong album bắt đầu với :

The hills are alive with the sound of music
With songs they have sung for a thousand years.
The hills fill my heart with the sound of music
My heart wants to sing every song it hears.
My heart wants to beat like the wings

 

Những bài hát khác  trong phim đều rất hay. Hầu như mỗi cảnh đều có 1 bài hát. Ngoài bản nhạc chủ đề,  Nhạc Xanh xin mời các bạn thưởng thức  ba bài hát khác  thực dễ thương và rộn ràng khúc yêu đời. Bài My Favorite Things đã nhắc đến ở trên.

Bài Do-Re-Mi với 7 nốt nhạc đặc trưng bằng những hình ảnh ví von sinh động và dễ nhớ. Nhân một lần ông bố nghiêm khắc đi vắng, Maria dẫn đám trẻ đi picnic – điều kỳ diệu chúng chưa từng có theo khuôn khổ kỷ luật quân sự của người cha. Cô dạy bọn trẻ hát 7 note nhạc với bài hát tươi vui này.

Doe, a deer, a female deer, Ray, a drop of golden sun  

Me, a name I call myself, Far, a long, long way to run

Sew, a needle pulling thread, La, a note to follow So

Tea, a drink with jam and bread, that will bring us back to Do…

music 3

Và bài Edelweiss qua 2 giọng ca của Julia Andrews và John Denver.

 Edelweiss là hoa nhung tuyết,  được xem là hoa truyền thống tượng trưng cho nước Áo. (Austria’s national flower).

Đêm cuối cùng trên nước Áo, trước khi trốn sang Thụy Sỹ, gia đình Von Trapp trong 1 buổi liên hoan nhạc, có sự theo dõi, quản thúc của quân Đức, đã hát vang bài hát cho quê hương như một lời từ biệt này. Rồi mọi khán giả dự buổi biểu diễn cũng xúc cảm cùng hoà theo bài hát ngắn:

Edelweiss, Edelweiss
Every morning you greet me
Small and white, clean and bright
You look happy to meet me …..

Về  ngôi sao ca nhạc -diễn viên Julia Andrews, tên khai sinh là Julia Elizabeth Wells sinh ngày 1/10/1935 tại Walton-on-Thames, nước Anh, trong một gia đình kinh doanh giải trí. Julie Andrews đã nhận rất nhiều  giải thưởng lớn như  Quả Cầu Vàng, Emmy, Grammy, Oscar,  Giải Thưởng của Viện Hàn Lâm Anh cho Truyền Hình và Phim (British Academy of Film and Television Arts : giống như Oscar của Mỹ), Giải thưởng Sân Khấu Thế Giới….

Sự nghiệp ca hát của Julie Andrews bắt đầu ở tuổi 12 với chất giọng nữ cao ngọt ngào, trong trẻo đến lạ thường của cô. Năm 21 tuổi (1956), Julie trở thành ngôi sao trên sân khấu Broadway với vai diễn đầu tiên – Eliza Doolittle trong “Quý Bà Lịch Thiệp Của Tôi” (My Fair Lady). Tuy nhiên, cô chỉ  thực sự toả sáng khi vào vai Mary Poppins trong bộ phim ca nhạc cùng tên của Walt Disney (1964). Với phim này, Julie đã  được trao giải thưởng Oscar của Viện Hàn Lâm Điện Ảnh Mỹ – Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc nhất.

Một năm sau đó, trong  vai cô bảo mẫu – gia sư Mary,trong “Giai Điệu Hạnh Phúc” (The Sound of Music,  năm 1965) – một trong những bộ phim thành công nhất của mọi thời đại, Julie đã trở thành một ngôi sao thực thụ, một hiện tượng mới  của Hollywood.

“Giai Điệu Hạnh Phúc” đã phá kỷ lục về số người xem tại tất cả các rạp chiếu phim trên toàn thế giới. Đặc biệt,  một phụ nữ tại Cardiff, xứ Wales,  đã xem bộ phim 300 lần và được coi là fan hâm mộ lớn nhất của mọi thời đại. Bộ phim đã giúp Julie xuất hiện trên trang bìa tạp chí Life, đồng thời là nhân vật chính trong bài báo “Nữ Hoàng Mới của Hollywood”.

john-denver-7

Theo Wikipedia, John Denver  ( 31 / 12/  1943 – 12 /10 /1997  là một ca sĩ kiêm nhạc sĩ folk và  folk rock của  Mỹ được xem là  một trong những nhạc sĩ lớn nhất của thập niên 1970.  Ông thu và phát hành vào khoảng 300 bài hát, trong đó gần một nửa do ông biên soạn; vào năm 1977, ông được chọn là Đệ Nhất Thi Nhân (Poet Laureate) của tiểu bang Colorado. Các bài hát của Denver tràn đầy tình yêu tự nhiên. Những bài hát như  Take Me Home Country Road, Leaving On a Jet Plane, Calypso, Annie’s Song, Thank God I’m A Country Boy, và Rocky Mountain High  nổi tiếng khắp thế giới. ( Nhạc Xanh sẽ giới thiệu John Denver trong một bài khác)

Ngoài ra có một bài rất hay do Mary hát : My Favorite Things với ca từ  sáng đẹp chất giản dị, lạc quan .

Maria nói với bọn trẻ về những điều  yêu thích giản dị của mình: những hạt mưa đọng  trên những đoá hồng, những chiếc ria mèo con, những ấm đun nước bằng đồng sáng choang, … đàn ngỗng trời bay cao tít, và cô bảo chúng rằng:

Khi nào cảm thấy buồn, cô chỉ nhớ đến những điều ưa thích của mình.Thế là nỗi buồn tan biến.                                                                                                                                                   

My Favorite Things   
( Link 4)                                                                                                                               

Raindrops on roses and whiskers on kittens
Bright copper kettles and warm woolen mittens
Brown paper packages tied up with strings
These are a few of my favorite things

Cream colored ponies and crisp apple streudels
Doorbells and sleigh bells and schnitzel with noodles
Wild geese that fly with the moon on their wings
These are a few of my favorite things

Girls in white dresses with blue satin sashes
Snowflakes that stay on my nose and eyelashes
Silver white winters that melt into springs
These are a few of my favorite things

 LINKS :

1    THE SOUND OF MUSIC TOUR ( Một số địa điểm nơi đã quay bộ phim )


.

The hills are alive with the sound of music
With songs they have sung for a thousand years
The hills fill my heart with the sound of music
My heart wants to sing every song it hears
My heart wants to beat like the wings of the birds that rise from the lake to the trees
My heart wants to sigh like the chime that flies from a church on a breeze
To laugh like a brook as it trips and falls over stones on its way
To sing through the night like a lark who is learning to prey
I go to the hills when my heart is lonely
I know I will hear what I’ve heard before
My heart will be blessed with the sound of music
And I’ll sing once more.

2.   DO RE MI  ( Julie Andrews  và  các ca sĩ nhí nhà Von Trapp)

 
Maria:
Let’s start at the very beginning
A very good place to start
When you read you begin with
Child (Gretyl): ABC
Maria: When you sing you begin with do re mi
Children:
Do re mi
Maria:
Do re mi
The first three notes just happen to be
Do re mi
Children:
Do re mi
Maria:
Do re mi fa so la ti
Oh let’s see if I can make it easier hmmm:
Doe- a deer, a female deer
Ray- a drop of golden sun
Me- a name I call myself
Far- a long long way to run
Sew- a needle pulling thread
La- a note to follow so
Tea- a drink with jam and bread
That will bring us back to do oh oh oh
Child: Do
Maria: A deer, a female deer
Children: Re
Maria: A drop of golden sun
Children: Mi
Maria: A name I call myself
Children: Fa
Maria: A long long way to run
All: So- a needle pulling thread
La
Maria:A note to follow so
Ti
Children: A drink with jam and bread
Maria: That will bring us back to do
Children:
Doe- a deer, a female deer
Ray- a drop of golden sun
Me- a name  I  call myself
Far- a long long way to run
All:
Sew- a needle pulling thread
La- a note to follow so
Tea- a drink with jam and bread
Maria:
That will bring us back to do
Do re mi fa so la te do so do
Now children do re mi fa so and so on
Are only the tools we use to build a song
Onces you have these notes in your head
You can sing a million different tones by mixing them up
Like this: so do la fa mi do re
Can you do that
Children: So do la fa mi do re
Maria:
So do la ti do re do
Children:
So do la ti do re do
Maria: Now put it all together
All: So do la fa mi do re, so do la ti do re do
Maria: Good
Child (Brigitta):
But it doesn’t mean anything
Maria: So we put in the words.
One word per every note.
Like this:
When you know the notes to sing
You can sing most anything
Together
All:
When you know the notes to sing
You can sing most anything
Maria: Doooooo
All: A deer, a female deer
Child: Reeee
All: A drop of golden sun
Child: Miiiii
All: A name I call myself
Maria:Faaaaa
All: A long long way to run
Maria: Soooo
All: A needle pulling thread
Child: Laaaa
All: A note to follow so
Child: Teeee
All:
A drink with jam and bread
That will bring us back to dooo
Do re mi fa so la ti do do ti la so fa mi re
Do mi mi
Mi so so
Re fa fa
La ti ti
Do mi mi)
Mi so so)
Re fa fa)
La ti ti)
Do mi mi)
Mi so so) When you know the
Re fa fa)
La ti ti)
Do mi mi)
Mi so so) notes to sing
Re fa fa)
La ti ti)
Do mi mi)
Mi so so) You can sing most
Re fa fa)
La ti ti)
All:
Anything things
Doe- a deer, a female deer
Ray- a drop of golden sun
Me- a name I call myself
Far- a long long way to run
Sew- a needle pulling thread
La- a note to follow so
Tea- a drink with jam and bread
That will bring us back to
So do la fa mi do re (Maria goes up scale DoReMeFa)
So do la fa (Maria SoLTiiiii) (la sooooo) (ti faaaa) (mi reeee) ti dooooo
So do

3. EDELWEISS  ( Julie Andrews và John Denver )

Edelweiss Edelweiss
Every morning you greet me
Small and white
Clean and bright
You look happy to meet me

Blossom of snow may you bloom and grow
Bloom and grow forever
Edelweiss Edelweiss
Bless my homeland forever

4. Nhiều bài hát  tổng hợp và cảnh trong phim

http://www.youtube.com/watch?v=qIHOJ2dq_UU&feature=related

Các  bạn có hứng thú  có thể dịch các bài  hát mình ưa thích sang lời Việt.

Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng, rộn ràng những khúc nhạc xanh, trẻ trung, và một tuần  hiệu quả trong công việc và học tập.

 

Bài hát đếm số dễ thương

Chào các bạn,

Counting-songĐể thay đổi không khí, hôm nay mình xin được giới thiệu với các bạn một bài hát tiếng Nhật nho nhỏ gọi là “Bài hát đếm số”. Bài hát này được phát trong chương trình Minna no Uta (Everybody’s song) của đài NHK – Nhật lần đầu tiên vào ngày 1/10/2008 và được rất nhiều người ưa chuộng. Bài hát này rất đơn giản các bạn à, chỉ cần đếm dần các con số, bắt đầu từ 1 là đã có một bài hát thật dễ thương. Bài hát này do chính nữ ca sĩ khá nổi tiếng Ikeda Ayako sáng tác và biểu diễn.

Sau đây là đoạn video clip và phần lươc dịch nội dung của bài hát. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui tươi!

Một Hai Ba Bốn Năm Sáu Bảy
Chỉ cần đếm số là thành một bài ca
Một Hai Ba Bốn Năm Sáu Bảy
Giọng hát bạn thành một bài ca

Các con số ở khắp nới trên thế giới 
Nếu cùng hát chung với nhau thì thật hay nhỉ.
Cách đếm số ở đất nước bạn
Nếu hát lên thì, hãy nhìn kia, những gương mặt tươi cười

(Cách đếm số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 của các quốc gia như Trung Quốc, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Châu Phi)

Tràn ngập trên thế giới
Tương lai trong tay ta
Như cầu vòng bảy sắc
Ta vượt qua bảy đại dương 

Bài hát đếm số vang vọng lên bầu trời cao
Trong đêm sao, vào buổi sáng ngập nắng
Như bạn bè và như gia đình
Chúng ta cùng hát, và nắm tay nhau.

Không hề có khoảng cách
Chúng ta gắn kết với nhau trên trái đất này.

Loan Subaru