Danh mục lưu trữ: Chứng Nhân

Wonderful Teacher – Người Thầy Tuyệt Vời

Người thầy tuyệt vời!
Với một món quà tri thức thật lớn lao
Một trái tim bộn bề lo lắng
Thầy thêm vào đầy ắp yêu thương
Tất cả mọi điều mà thầy dạy cho
Cho,thầy cho rất nhiều
Nhưng thầy không bao giờ màng đến bao nhiêu
Sự tận tâm của thầy
Làm thay đổi thế giới
Của những học sinh thầy dìu dắt
Thầy thắp lên ngọn lửa tri thức
Trong từng đứa học trò thầy dạy dỗ
Giúp chúng phấn đấu để đạt được mục tiêu
Điều mà bất cứ thứ gì không thể mua được
Người là người thầy thật đặc biệt
Thực không thể nói được nên lời
Về giá trị của người
Và công việc người làm thực thành công

Happy Bun Ngô Việt Thảo

.

Wonderful Teacher

With a special gift for learning
And with a heart that deeply cares,
You add a lot of love
To everything you share,
And even though
You mean a lot,
You’ll never know how much,
For you helped
To change the world
Through every life you touched.
You sparked the creativity
In the students whom you taught,
And helped them strive for goals
That could not be bought,
You are such a special teacher
That no words can truly tell
However much you’re valued
For the work you do so well.

– Author Unknown

Thủy Tiên, Thế Vinh, Richard Fuller – Một cõi đi về

Chào các bạn,

Thủy Tiên, tiếng ca thiết tha của nhạc Trịnh, với căn bệnh làm mất môi, khuôn mặt dị dạng, và tiếng nói ngọng nghịu, đã phải chui vào lu để tập nói.
thuytienthevinh
Thế Vinh chỉ còn một cánh tay nhưng vừa chơi guitar vừa chơi harmonica.

Richard Fuller người Mỹ hát nhạc Trịnh.

Nhìn bộ ba này trình diễn Một Cõi Đi Về của Trịnh Công Sơn, làm sao ta không đem lòng cảm phục?

Thật là những bậc kỳ tài! Thật là những tấm gương tích cực!

Mời các bạn thưởng thức Một Cõi Đi Về.

Sau video là 3 bài báo, về Thủy Tiên, Thế Vinh, và Richard Fuller.

Chúc các bạn một ngày vui.

Cám ơn anh Phan Quang đã giới thiệu.

Hoành
.

.

Ca sĩ khuyết tật Thủy Tiên: Vượt lên định mệnh
03.03.2008

Sau 8 lần phẫu thuật môi, tiếng nói của Thủy Tiên đã trở nên ngọng líu ngọng lô. Ròng rã gần hai năm trời, cái lu đựng nước đã giúp Tiên luyện cách phát âm và tiếng nói của cô trở lại gần như người bình thường. Mỗi lần buồn chán và tuyệt vọng, thay vì phải khóc nức nở, Thủy Tiên giấu mình vào cái lu và hát…
Tôi gặp Thủy Tiên tại cuộc Liên hoan tôn vinh những thanh niên khuyết tật thành đạt, chủ đề “Hoa cuộc sống”, do Trung ương Đoàn tổ chức. Thủy Tiên xuất hiện tại liên hoan không chỉ với tư cách một điển hình tuổi trẻ khuyết tật vượt lên hoàn cảnh, mà còn là một ca sĩ.

Lâu nay, giọng hát của cô đã khá quen thuộc đối với khán giả ở TP HCM qua các chương trình biểu diễn nghệ thuật từ thiện, tại các phòng trà, hội quán và cả trên sóng phát thanh, truyền hình.

Người ta biết cô là một ca sĩ khuyết tật chuyên hát nhạc Trịnh và hát rất hay, nhưng ít người biết, để có được tiếng hát ấy, để có được niềm đam mê được đứng dưới ánh đèn sân khấu hằng đêm, Thủy Tiên đã trải qua một quãng đời đau đớn và tuyệt vọng đến cùng cực…

Là con gái út trong một gia đình có 7 anh em, lên 3 tuổi, cô bé Tô Thị Thanh Thủy Tiên đã mồ côi cha. Người mẹ của 7 đứa con phải còng lưng tất bật tối ngày với từng mớ rau, con cá tại cái chợ cóc nằm trong một góc phố nghèo ở phường 24, quận Bình Thạnh, TP HCM, mới có thể kiếm đủ vài ba ký gạo mỗi ngày để duy trì cuộc sống.

Lên 7 tuổi, Thủy Tiên đã biết giúp mẹ bán hàng mưu sinh. Dù cuộc sống bộn bề vất vả, khó khăn, song cô bé vẫn rất chăm học và học giỏi. Cánh diều tuổi thơ chưa kịp đón gió thì bi kịch cuộc đời đã đổ ập xuống mái đầu non nớt. Thủy Tiên bị mắc một chứng bệnh hiểm nghèo.

Ban đầu bờ môi cô bé xuất hiện những nốt đỏ tấy, ngứa ngáy rất khó chịu. Mọi người tưởng Thủy Tiên bị bệnh nấm, nhưng càng bôi thuốc thì những vết tấy càng lan rộng. Mẹ Thủy Tiên đưa cô bé đến một thầy lang ở khu Lái Thiêu chữa trị. Những nắm thuốc được bào chế từ thảo dược của thầy lang càng làm cho bệnh tật nặng thêm lên.

Năm lên 8 tuổi, căn bệnh của cô bé chuyển sang lở loét. Vành môi xinh xắn như bị một con chuột quái ác gặm nhấm nham nhở, buốt thấu xương. Thủy Tiên đau mà không khóc được, vì càng khóc lại càng đau. Mỗi lần bị cơn đau hành hạ, cô bé chỉ biết dùng một cái khăn ướt đắp lên miệng rồi quằn quại trên giường, lăn trên nền nhà rên la một cách bất lực trong cổ họng.

Hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chỉ đến khi đau đớn không chịu được nữa, Thủy Tiên mới được đưa đến bệnh viện. Kết quả xét nghiệm đã làm rụng rời hết thảy mọi người trong gia đình. Cô bé bị mắc bệnh xỉ tổ mả, một chứng bệnh rất hiếm gặp trên thế giới.

Những vết lở loét xung quanh miệng cô bé là dấu hiệu cho thấy bệnh đã diễn biến rất nặng, chuyển sang giai đoạn hoại tử. Để cứu mạng sống của cô bé, không còn cách nào khác phải phẫu thuật cắt bỏ những phần môi đã nhiễm bệnh.

Bờ môi xinh xắn của Thủy Tiên mất dần, mỏng dần, nhưng khi vết khâu vừa lên da non thì vết lở loét lại xuất hiện, lại phải gồng mình chống lại những cơn đau đớn cùng cực để các bác sĩ đưa những đường dao kéo. “Bây giờ nghĩ lại, em vẫn còn rùng mình kinh hãi. Thậm chí chỉ vô tình nhìn thấy dao kéo hoặc tiếng kim loại va vào nhau, em cũng đã nổi hết gai ốc” – cô nói.

Bước vào tuổi thiếu nữ, khi vấn đề nhan sắc được ý thức một cách rõ rệt, Thủy Tiên chỉ biết gục đầu vào tấm khăn để giấu đi những giọt nước mắt mỗi khi phải đối diện với chiếc gương soi.

Nhưng bi kịch hơn cả là tiếng nói của cô đã trở nên ngọng líu ngọng lô, do bờ môi đã bị biến mất gần như hoàn toàn sau 8 lần phẫu thuật. Những cố gắng tái tạo lại vành môi của các bác sĩ cũng chỉ giúp gương mặt cô bé bớt phần dị dạng.

Đã có lúc Thủy Tiên nghĩ đến cái chết để giải thoát, nhưng khi nghĩ về mẹ, cô lại không đành lòng. “Những lúc tuyệt vọng em muốn có một căn phòng đủ rộng và kín đáo, chốt chặt cửa lại để la hét cho vơi nỗi đau đớn và tủi thân, nhưng nhà nghèo, lấy đâu ra một không gian như vậy. Vật dụng duy nhất để em có thể thu mình vào trong đó là cái lu đựng nước loại lớn của mẹ. Em đã ngồi vào đó, cốt để cho tiếng khóc của mình không ai nghe thấy…” – Thủy Tiên nhớ lại.

Những lần gục đầu trong cái lu đựng nước, Thủy Tiên nghe rõ mồn một tiếng khóc của mình vọng bên tai. Và một ý nghĩ lóe lên: Mình có thể luyện giọng nói nhờ cái lu này. Tự mình nói và tự mình kiểm nghiệm giọng nói trực tiếp.

Rất khó khăn và nan giải. Thủy Tiên dồn hết mọi khả năng có thể để phát âm từng từ một, từng âm tiết một. Có ngày tập mỏi cả miệng, đến khi ăn cơm không nhai được nữa.

Có lần cái lu ấy được mẹ đổ đầy nước. Thủy Tiên đành xả bớt đi một nửa để gục đầu vào đó luyện phát âm. Khổ cho người mẹ già, lượng nước trong lu bà phải rất vất vả mới kiếm được giữa mùa khô hạn, giọt nước quý như vàng. Bực mình, bà bắt Thủy Tiên nằm sấp xuống quất cho mấy roi vào mông. Khi hiểu rõ sự tình, con gái đang luyện giọng nói bằng cái lu nước, bà ôm chầm lấy con, nước mắt giàn giụa…

Trung bình mỗi ngày hai lần, mỗi lần hơn một giờ đồng hồ, Thủy Tiên luyện cách phát âm của một người không còn bờ môi trong cái lu ấy. Ròng rã gần hai năm trời, Thủy Tiên đã thành công. Tiếng nói của cô trở lại gần như người bình thường.

Mỗi lần buồn chán và tuyệt vọng, thay vì phải khóc nức nở, Thủy Tiên cất tiếng hát. Cô giấu mình vào cái lu và hát. Hát cho quên đi nỗi đau, hát cho nước mắt chảy vào trong. Hát cũng là cách luyện khả năng phát âm.

Nhà có một chiếc đài cũ kỹ, Thủy Tiên sưu tầm các băng nhạc về bật lên nghe và hát theo. Nhạc Trịnh là thứ Thủy Tiên say mê nhất. Nghe nhạc Trịnh, cô như được sẻ chia nỗi đau, sự tiếp sức của tình yêu cuộc sống. Một năm, hai năm, rồi ba năm… Thủy Tiên thuộc và hát thành thạo hầu hết các sáng tác của Trịnh Công Sơn…

Sự mặc cảm về bản thân khiến Thủy Tiên sống thu mình. Rời trang sách tuổi học trò, trong lúc những người bạn cùng trang lứa, đứa thì vào đại học, đứa vào khu công nghiệp làm công nhân, Thủy Tiên chỉ biết “một cõi đi về” của mình từ nhà cho đến cái chợ cóc mà người mẹ đã còng lưng gánh nỗi ưu tư mấy chục năm rồi.

Thế giới tâm hồn của Thủy Tiên chỉ là cái lu đựng nước, đựng trong đó cả tấn bi kịch tuổi thơ và những lời ca như con chim còn nằm trong vỏ trứng…

Lệ Uyên và Thủy Tiên.

Một ngày nọ, sau khi hát với thế giới của mình, Thủy Tiên bắt gặp một người con gái trạc tuổi mình từ đâu tìm đến. Đó là một thiếu nữ xinh đẹp, vóc dáng như người mẫu. Cô gái giới thiệu tên là Lệ Uyên và muốn được làm quen với Thủy Tiên.

Lệ Uyên có người quen ở gần nhà Thủy Tiên. Khi đến chơi nhà người quen, tình cờ Lệ Uyên nghe được câu chuyện về một người con gái tập hát trong lu nước. Một chút tò mò xen lẫn sự thương cảm, mến phục, Lệ Uyên tìm đến.

Uyên đang làm việc tại một công ty ở Khu chế xuất Tân Thuận, là người rất mê nhạc Trịnh và hát khá hay. Lệ Uyên là thành viên của Hội Những người hát nhạc Trịnh. Tối thứ bảy hàng tuần họ lại tụ tập về Hội quán Nhạc Trịnh tại Khu du lịch Bình Quới, hát cho nhau nghe. Thành viên của hội có cả những nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng.

Sau mấy lần đến thăm bạn, Lệ Uyên động viên Thủy Tiên hãy can đảm bước ra khỏi sự mặc cảm, hòa nhập với cuộc sống. Số phận nghiệt ngã với mình, nhưng mình không được nghiệt ngã với chính mình. Lệ Uyên đưa Thủy Tiên đến với Hội quán Nhạc Trịnh và động viên Thủy Tiên lên hát.

Lần đầu tiên đứng dưới ánh đèn sân khấu, Thủy Tiên như muốn không gian tối sầm lại, để mọi người đừng nhìn thấy mình, chỉ nghe mình hát mà thôi. Thủy Tiên hát, nước mắt chảy tràn tình khúc. Hát mà như đang kể chuyện đời mình.

Khi lời ca vừa dứt cũng là lúc cô bật khóc nức nở. Cả Hội quán lặng im. Thủy Tiên trở thành hội viên Hội Những người hát nhạc Trịnh bằng ấn tượng như thế.

Tại hội thi hát nhạc Trịnh tổ chức sau đó ít lâu, Thủy Tiên gây bất ngờ lớn khi vượt qua hàng trăm ca sĩ để giành giải nhất. Cô nổi danh từ đó. Những chương trình ca nhạc từ thiện hoặc chương trình dành cho người khuyết tật, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn,… các đạo diễn thường xuyên mời Thủy Tiên tham gia.

Sự góp mặt của cô trên sân khấu và truyền hình, không chỉ mang tiếng hát phục vụ khán giả, mà quan trọng hơn, đó là một bằng chứng sống động về một con người đã chiến thắng nỗi đau, bệnh tật để vươn lên bằng ý chí, nghị lực và trên hết là bằng sự sẻ chia của một tình bạn cao cả và cảm động.

Mỗi lần Thủy Tiên hát, Lệ Uyên đóng vai trò là người phối bè. Họ biểu diễn rất ăn ý trên sân khấu và thân thiết với nhau trong cuộc sống như ruột thịt. Lệ Uyên trở thành nguồn sức mạnh của Thủy Tiên, động viên, tiếp sức cho bạn.

Để giúp Thủy Tiên có cuộc sống ổn định, Lệ Uyên xin cho bạn vào làm việc tại Khu Chế xuất Tân Thuận với công việc kiểm hàng. Ban ngày làm việc, buổi tối họ đi hát ở Hội quán, phòng trà và tập luyện để tham gia các chương trình biểu diễn khi có lời mời.

Thủy Tiên chỉ hát nhạc Trịnh và biểu diễn rất thành công các ca khúc “Một cõi đi về”, “Đừng tuyệt vọng”, “Xin cho tôi tình yêu”, “Diễm xưa”…

Câu chuyện của Thủy Tiên đầy nước mắt, nhưng ngồi với chúng tôi, Thủy Tiên không khóc. Dường như những đớn đau, bi lụy đều đã đi qua, như bóng đêm hun hút phía sau lưng. Cô nói rằng, nếu không có Lệ Uyên, có thể giờ đây thế giới tâm hồn của cô vẫn chỉ là… cái lu đựng nước.

Còn Lệ Uyên thì không nói gì về mình. Trong ánh mắt và suy nghĩ của cô, Thủy Tiên là một người bạn tốt, đã vượt qua những nỗi đau và mặc cảm, tự ti để khẳng định mình.

Nếu như… Vâng! Nếu như không có căn bệnh quái ác ấy, thì Thủy Tiên đẹp lắm. Ánh mắt ấy, vóc dáng ấy, làn da ấy, gương mặt có cái lúm đồng tiền ấy… đủ để trở thành niềm mơ ước khát khao của biết bao chàng trai…

TP Hồ Chí Minh đầu tháng 1/2008

Phan Tùng Sơn

.

Nghệ sĩ khuyết tật Nguyễn Thế Vinh: 1 tay, chơi 2 nhạc cụ!

Thứ tư, 21 Tháng bảy 2004, 05:27 GMT+7 // <![CDATA[//

 

Nghe si khuyet tat Nguyen The Vinh 1 tay choi 2 nhac cu
Tags: Nguyễn Thế Vinh, Trịnh Công Sơn, Khu du lịch Văn Thánh, sự chú ý, nhạc cụ, nghệ sĩ, một tay, cùng lúc, khuyết tật, thời gian, anh, chơi, học, đàn

 

Nha Khoa Lan Anh
// <![CDATA[//

 

Nghe si khuyet tat Nguyen The Vinh 1 tay choi 2 nhac cu
Nguyễn Thế Vinh đang chơi cùng lúc hai nhạc cụ guitar và harmonica Ảnh: H.S.

Trong đêm nhạc “Cõi tình – Trịnh Công Sơn” vừa rồi tại khu du lịch Văn Thánh, có một nghệ sĩ nghiệp dư nhưng lại tạo sự chú ý đặc biệt, đó là Nguyễn Thế Vinh.

Vóc người nhỏ thó, da ngăm đen và bị cụt mất một tay, thế mà anh lại độc diễn cùng lúc hai nhạc cụ guitar và harmonica với sự hòa điệu hết sức độc đáo, làm khán giả vô cùng ngạc nhiên và thán phục…

Tuổi thơ bất hạnh

Quê của Nguyễn Thế Vinh vốn là một vùng đất nghèo ở Bắc Bình, Bình Thuận. Ba Vinh mất trong chiến tranh. Ba năm sau ngày ba mất, mẹ của Vinh cũng buồn khổ mà chết khi anh mới tròn 7 tuổi. Bốn anh em nheo nhóc mồ côi được ông bà ngoại đem về cưu mang.

Sau mỗi buổi học về, Vinh lại dắt đôi bò của hợp tác xã đi chăn để phụ giúp ông bà. Trong một buổi chiều xui rủi, Vinh bị ngã từ trên lưng bò xuống và gãy tay. Nếu như được đưa vào bệnh viện băng bó kịp thời thì chẳng có chuyện gì lớn, đằng này Vinh lại được đưa đến một thầy lang và không biết ông ta chữa trị như thế nào mà sau đó ít hôm cánh tay phải của Vinh bị hoại tử, phải cắt bỏ. Hai chữ “độc thủ” đeo bám đời Vinh từ đó.

Bôn ba tìm kế sinh nhai

Với hai nhạc phẩm Một cõi đi vềNgụ ngôn mùa đông, anh đã làm ngây ngất những ai có mặt trong đêm nhạc “Cõi tình – Trịnh Công Sơn”. Đây cũng là chương trình lớn đầu tiên anh được tham gia (sau khi trở thành thành viên của hội quán Hội Ngộ chừng hai tháng nay) và ngay lập tức tạo được một tình cảm đặc biệt nơi công chúng yêu nhạc Trịnh.

 

Sau mỗi ca khúc của Vinh, mọi người lại vỗ tay không ngớt và dành cho anh những bó hoa tươi thắm nhất. Có ai đó còn thốt lên rằng: “Lại xuất hiện thêm một “quái kiệt” mới trong làng âm nhạc thành phố!”. Quái kiệt hay không còn phải chờ thời gian thẩm định thêm. Chỉ biết rằng trong giờ phút ấy, ai tinh mắt sẽ nhận thấy những giọt lệ đang lặng lẽ lăn ra từ khóe mắt Vinh.

Anh xúc động tột cùng vì lâu nay anh tập chơi đàn cốt để thỏa mãn đam mê âm nhạc, để gửi gắm tâm sự cuộc đời chứ đâu ngờ lại có thể đem niềm vui đến cho người khác.

Hè năm lên lớp 4, sau khi da thịt đã lành lặn, Vinh bắt đầu tập viết bằng tay trái. Sau một tuần miệt mài và quyết chí tập luyện, Vinh đã viết được tuy hơi chậm hơn trước đây và sẵn sàng cho năm học mới.Thời gian đầu Vinh gặp rất nhiều khó khăn vì phải gò viết bằng tay trái, nhưng với ý chí vượt khó của một cậu bé đầy nghị lực, Vinh vẫn học rất chăm và luôn đạt kết quả cao trong học tập.

Dù còn một tay nhưng Vinh vẫn tiếp tục phụ chăn bò cho gia đình đến hết lớp 7… Thấm thoắt vậy mà cậu bé một tay ấy cũng học hết lớp 12.

Sau khi tốt nghiệp THPT, vì không muốn phụ thuộc gia đình nên Vinh quyết định vào TP.HCM tìm kế sinh nhai. Trong thời gian tá túc “ké” mấy anh sinh viên ở cơ sở D Trường ĐH Kinh tế (sau lưng nhà hát Hòa Bình), được mấy anh khuyến khích, động viên, Vinh quyết định học tiếp và mượn sách vở của các anh để ôn thi.

Năm 1989, Vinh trúng tuyển vào ĐH Kinh tế TP.HCM. Để có tiền ăn học, Vinh đã phải dành dụm số tiền học bổng ít ỏi hằng tháng và làm đủ thứ nghề từ vá xe đạp, dạy kèm cho đến giữ xe chung cư…

Tuy học quản trị kinh doanh nhưng Vinh lại rất mê ngành điện tử. Anh đã học lóm nghề này từ một người bạn và mua sách vở mày mò học thêm. Vậy mà không ngờ chính nghề điện tử này lại gắn bó với anh đến tận bây giờ (hiện anh đang là thợ sửa chữa điện thoại di động và có hẳn một cửa hàng riêng ở Gò Vấp).

Ba năm cho một ngón đàn

“Năm học lớp 6, mặc dù bị cụt một tay nhưng khi thấy người cậu chơi đàn guitar, mình rất mê. Hễ có dịp là mình lấy đàn ra tìm cách đánh thử. Khi thì kẹp phím vào cùi tay cụt để gảy, khi thì gảy thử bằng chân… nhưng tất cả đều thất bại” – Vinh nhớ lại.

Mãi đến ba năm sau Vinh mới nghĩ ra cách để có thể chơi đàn với tay trái duy nhất của mình: dùng ngón trỏ để gảy và các ngón còn lại bấm phím. Thời gian đầu anh chỉ tập bấm từng nốt một, tập một cách mày mò, kiên trì vì chơi đàn như thế rất khó và hầu như chưa thấy ai chơi như vậy bao giờ. Dần dà Vinh cũng đàn được một số bài hát và chừng đó cũng cảm thấy sướng lắm rồi.

Tuy nhiên đàn từng nốt như thế thì chưa thể gọi là đàn nên sau khi vào đại học, Vinh dành dụm tiền đi làm thêm – được 60.000 đồng – và mua một cây đàn guitar mà đến nay anh vẫn còn nhớ ngày mua là 14-6-1990.

Có đàn, Vinh bắt đầu tập bấm hợp âm, từng đêm tỉ mẩn mày mò khổ luyện tập từng hợp âm một. Mỗi hợp âm như thế Vinh phải tập cả tháng trời, khi đã nhuần nhuyễn mới tập tiếp hợp âm khác. Cứ thế anh âm thầm luyện ngón đàn trong ba năm và thành công ngoài mong đợi. Các ngón tay Vinh giờ đây dường như đã độc lập với nhau và anh có thể đàn một cách rất bài bản, chỉ với một bàn tay!

Song song với chơi guitar, Vinh còn chơi tốt harmonica từ khi học lớp 10. Sau này anh nảy ra ý định “sao mình không thử hòa âm harmonica với guitar nhỉ?”. Thế là anh lại lao vào cuộc chơi mới vừa đánh guitar vừa thổi harmonica.

Để hai tiếng đàn và kèn này hòa âm đồng bộ với nhau thì đây lại là một giai đoạn tập luyện kỳ công nữa của Vinh. Cuối cùng, với lòng kiên trì và quyết tâm, Nguyễn Thế Vinh đã chơi được cùng lúc hai nhạc cụ, với một sự kết hợp tuyệt vời mà nhiều người không hiểu tại sao anh có thể làm được.

HỒNG SƠN

.

Thứ Hai, 06/10/2008, 14:00

Khi Richard Fuller hát nhạc Trịnh

TP- Năm 1969, Richard làm việc cho một tổ chức tình nguyện quốc tế và có dịp đến VN, bắt đầu đồng cảm với những ca khúc của Trịnh Công Sơn.

Richard Fuller hát nhạc Trịnh tại phòng trà ATB

Từ đó ông thường xuyên có những chuyến đi – về giữa Mỹ và Việt Nam, năm 1993 trở lại VN trong thời bình Richard được gặp Trịnh Công Sơn, họ đã cùng nhau hát trong một số chương trình đặc biệt.

Và khi thăm lại quê hương của Trịnh Công Sơn vào năm 2001, Richard không còn được gặp ông nữa vì nhạc sĩ đã qua đời.

Bước lên sân khấu phòng trà ATB tối 3-4/9 vừa hát, Richard vừa giới thiệu nghệ sĩ khác một cách hồn nhiên, ngộ nghĩnh khiến khán giả bật cười: Xin giới thiệu một “kẻ thù” sẽ lên biểu diễn (ám chỉ các ca sĩ cạnh tranh với nhau trên sân khấu!), đó là Thế Vinh.

Tôi gặp Vinh và thích tài năng của anh, từ đó chúng tôi hát chung với nhau. Nghệ sĩ Thế Vinh đàn cho Richard hát Diễm xưa đong đầy cảm xúc. Không chỉ hát Dậy mà đi (Tôn Thất Lập), Người con gái Việt Nam da vàng (Trịnh Công Sơn), Không (Nguyễn Ánh 9)… mà Richard còn chiều lòng khán giả, hát ca khúc ngoại như Quantalamera, nghệ sĩ Thế Vinh hóm hỉnh: “Anh Phú Phong Trần nhớ tiếng Việt rất tốt, nhưng nghe anh hát tiếng Anh mà tôi cứ sợ anh quên.

Vừa rồi anh hát rất tốt chứng tỏ trình độ tiếng Anh đang khá lên rất nhiều!”. Khán giả cười ồ còn Richard thì vừa cười vừa lắc đầu: “Bó tay! Đấy, quý vị đã hiểu vì sao tôi gọi anh ấy là… kẻ thù!”.

Bà chủ phòng trà ATB Ánh Tuyết nhận xét về ca sĩ đặc biệt này: “Nghe Richard hát bằng tiếng Việt, cách rung động làn hơi rất chân thành và chứa chất nhiều day dứt mà dường như chính anh đã chứng kiến, đã thấu hiểu. Nhiều lần tiếp xúc với anh, tôi biết anh rất yêu VN.

Mấy tháng trước tôi cùng anh ra dự Festival Huế 2008, trước khi tới Huế, anh nằng nặc bảo tôi rằng anh phải ra Nha Trang thăm bà con. Tôi ngạc nhiên bởi anh làm gì có bà con ở Nha Trang mà thăm nom, anh cười: tôi có nhiều bà con ở Nha Trang chứ, đó là những người VN…”.

Yêu đời hơn, yêu người hơn, đó là điều đọng lại sau khi nghe một người nước ngoài yêu VN như Richard Fuller cất giọng hát.

Lâm Văn

Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Thấy quyển hồi ký của ba chị Linh Nga, bác Y Ngông Niê Kdăm, rất hữu ích cho chúng ta để hiểu biết thêm về đồng bào Tây Nguyên trong chiến tranh và cách mạng, đồng thời biết thêm về một chiến sĩ cách mạng và biết thêm về bạn quý Linh Nga của chúng ta, mình xin phép chị Linh Nga post lên Đọt Chuối Non. Ảnh trong hồi ký là ảnh minh họa của mình. Hy vọng mai mốt chị Linh Nga có thể cho chúng ta các bức ảnh liên hệ đến bác để chúng ta thay thế ảnh minh họa.

Cám ơn chị Linh Nga rất nhiều !

Hoành

.

    Ba tôi có hai lần viết hồi ký . Cuốn ” Khát vọng Tây Nguyên” do nữ nhà báo Diệu Ân ghi, Nhà xuất bản VHDT phát hành năm 1994, không được ông ưng ý lắm. nên Mẹ tôi, bà Bùi Thị Tân đã một lần nữa ghi lại. Đó chính là bản này , chân thật hơn.

      (Linh Nga Niê Kdăm)

.

Nguyên bản của Y NGÔNG NIÊ KDĂM

    “ Bạn ơi lắng nghe, nghe tiếng núi rừng
    Dòng suối xanh trong đất nước anh hùng
    Bền vững như non cao như dòng sông Ba”

Đó là câu mở đầu của một bài hát về Tây nguyên do nhạc sĩ Trần Quý sáng tác, nó có vẻ hư cấu, nhưng là một bài hát nổi tiếng ca ngợi quê hương Tây Nguyên tươi đẹp. Với những người Tây Nguyên như chúng tôi, khi nghe lời ca đó đều có một tình cảm rạo rực, xúc động trong lòng.Tôi rất thích và thường hay cất lên lời ca này, mỗi khi nhớ về Tây Nguyên.
BMT6
Tây nguyên bao la hồi xưa với rừng già còn lút mắt, thú rừng chim đẹp, nhiều vô kể. Ngay ven những con đường là rừng cây to hằng mấy người ôm. Rừng cây đã nuôi sống, che chở và bảo vệ cho các tộc người sống rải rác trên cao nguyên đất đỏ bazan mênh mông.

Thực dân Pháp sau khi bình định các tỉnh miền xuôi đã len lỏi tới rừng núi cao nguyên này. Chúng đã bị một số tù trưởng người dân tộc, như Săm Brăm, N’Trang Lơng, N’Trang Gưh, Ama Djao….liên kết chống trả ác liệt.Dù với đủ chính sách, cả cứng rắn, mềm dẻo đều có, nhưng hầu như chúng không thể nào khuất phục nổi lòng người Tây nguyên.

Mặc dầu họ rất nghèo vì còn hoàn toàn phụ thuộc vào đời sống tự nhiên, kỹ thuật canh tác quá thô sơ, hàng năm phải vài tháng đào củ rừng bổ xung cho bữa ăn, nhưng người Tây Nguyên vẫn sống rất thoải mái giữa núi rừng bao la hùng vĩ, đất rộng người thưa.

Mẹ đã sinh ra tôi trong bối cảnh đó, vào lúc gà gáy sáng ban mai ngày 13 – 08 – 1922 tại buôn Ea Sup, xã Kma Rang Prong – nay thuộc thị trấn Ea Pok, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk lăk. Thật ra người Êđê chỉ biết tính tuổi theo mùa rẫy, nhưng sau này đi học theo trường Pháp, họ gọi bố mẹ hỏi cặn kẽ, rồi tính ngược lại để lập giấy khai sinh cho chúng tôi.

Người Êđê chúng tôi ở Đăk lăk có 2 dòng họ lớn Niê và Mlô.Từ 2 dòng tộc chính này toả ra 24 nhánh họ. Niê kdăm đứng đầu dòng họ Niê, Mlô Duôn Du đứng đầu dòng họ Mlô. Mẹ tôi thuộc dòng họ Niê kdăm, một dòng họ từ xa xưa có nhiều tù trưởng giàu có, hùng mạnh( vì theo truyền thuyết thì khi lên khỏi mặt đất, các dòng tộc khác đã chia chác, lựa chọn hết những vật có sẵn, người trưởng họ Niê kdam giận dỗi đạp mạnh chân lên mặt đất, nói “ tất cả đất này là của Niê kdam”). Nhưng tới thời thuộc Pháp người Êđê nghèo dần. Sau Cách mạng Tháng 8, chế độ tù trưởng cũng đã không còn nữa. Tôi mang họ Niê kdăm của mẹ theo đúng luật tục mẫu hệ Êđê.

Mẹ đã sinh tôi trong cảnh đói nghèo, chỉ có 2 anh em trai: tôi và Y Wung . Bố đẻ tôi đã ốm chết ở buôn Dhăh sau chuyến đi phu ở đồn điền cafe Cư H”lâm của chủ Tây. Lúc đó tôi chưa biết gì. Sau này mẹ tôi đi bước nữa, sinh thêm được 4 em nhưng chết 2, chỉ còn 2 cô em gái là H’Reo và H’Droh ( hiện đang ở buôn Ea Sut, thị trấn Ea Pok, huyện Cư M”gar, tỉnh ĐL).Bố dượng tôi rất tốt, ông đã nuôi và dạy dỗ chúng tôi như người cha đẻ. Những năm hai anh em tôi đi học ở trường tiểu học Pháp- Đê , ngày nghỉ, dượng thường lên đón chúng tôi về buôn Sut.Y Wung nhỏ tuổi hơn, luôn được dượng cõng trên lưng.Còn tôi ỷ mình lớn, tự hào được chạy theo chân cha suốt dọc đường gần 20km từ trường về buôn. Có cả cha và em luôn bên cạnh, tôi đâu có sợ.

Gia đình tôi thường xuyên đói, năm nào cũng ăn củ rừng thay cơm. Có một lần khi mới 5 tuổi, mẹ đã cho tôi đi theo cùng với em trai địu sau lưng, vào rừng đào củ mài. Rễ củ ăn quá sâu, mẹ cứ đào mãi, đào mãi, mồ hôi vã ra như tắm. Vừa mệt vừa đói, mẹ tôi ngã chúi xuống hố.Hai anh em tôi cùng kêu khóc gọi mãi nhưng chẳng thấy mẹ nói gì. Tôi vô cùng sợ hãi, sức nhỏ yếu không kéo được mẹ lên, chỉ biết ôm chân mẹ mà khóc. Mãi sau có dân làng cũng đi rừng về nghe tiếng khóc mới chạy đến dìu mẹ lên và dắt chúng tôi về.

Những năm tháng đó thật khủng khiếp (1927), bọn Pháp vây ráp, dân đói khát, bệnh tật, không gạo, không muối, không có quần áo. Vì tù trưởng Ama Djao bất hợp tác với Pháp, nên bọn chúng chặn luôn cả đường buôn bán từ miền xuôi lên, nên càng thiếu muối ăn. Nhiều người già, trẻ em chết gục ngoài rừng. Tình hình Tây nguyên hết sức rối ren, cảnh đói cơm lạt muối, chết chóc thảm thương càng khắc sâu mối thù của người Tây nguyên với giặc Pháp.

Không chịu ngồi im để nhìn đồng bào chết dần chết mòn, một số tù trưởng đã tổ chức nhân dân nổi dậy chống lại chế độ hà khắc của giặc Pháp. Bọn Pháp truy quét gắt gao các tù trưởng để ngăn chặn làn sóng đấu tranh của nhân dân. Có thể nói năm 1929 là năm đói nhất. Thực dân Pháp càng tổ chức bắt bớ, nhân dân càng thấy rõ bộ mặt dã man của chúng, lại càng căm thù và cương quyết không chịu theo. Pháp đến, dân bỏ đi, chỉ cần trên vai có cái gùi, con dao và ít muối. Đối lại, thực dân Pháp dùng chính sách vừa đàn áp, vừa dụ dỗ. Để phô trương chính sách khai hoá văn minh của nhà nước bảo hộ, chúng mở ra tại Buôn Ma Thuột một trường nội trú dân tộc với tên là : “Groupe Scolaire Franco – Rhadé” – Trường tiểu học Pháp – Đê, do Legale làm hiệu trưởng. Học sinh do lính đi càn ở các buôn làng bắt về.

Khi đó tôi mới 7 tuổi, hôm ấy đang say sưa nô đùa với các bạn trong làng vào ngày lễ cúng Yang bến nước. Bên bờ suối mọi người đang đánh chiêng, uống rượu cần thì một trung đội lính khố xanh người dân tộc thiểu số do một tên Pháp dẫn đầu kéo tới. Chúng bảo chủ làng : Theo lệnh quan công sứ phải bắt trẻ con từ 6 – 7 tuổi về Buôn Ma Thuột đi học.

Nghe thấy vậy chúng tôi chạy toán loạn vào rừng, trèo lên các cây to, cây nhỏ trốn. Tôi và một số bạn trèo lên một cây cam to. Bọn lính ngồi uống rượu, bắt chủ làng khai tên bọn trẻ con 7 tuổi trong buôn và doạ :

– Ai không gọi con về thì cha mẹ sẽ bị bắt, khi nào nộp con mới được về.

Qua một đêm một ngày. Bọn lính lùng sục không tìm được ai, nhưng chúng tôi đói quá phải rủ nhau về nên bị bắt một loạt. Bố mẹ chúng tôi phải mang quần áo đưa con về Buôn Ma Thuột.Tôi và em trai Y Wung cũng ở trong số này.Suốt một năm đầu bố dượng tôi phải theo lên khu nội trú dắt chúng tôi đi học, vì chúng tôi bé quá, đi ăn cơm cũng chưa biết chỗ.Những năm sau tôi học được loại khá, nhưng do nhớ nhà nên hay trốn về. Chính quyền tỉnh bắt gíam dượng tôi 3 tháng, sau đó anh em tôi thương dượng quá mà không dám trốn về nữa. Học được mấy năm, lên lớp 4, 5 tôi luôn là học sinh giỏi.Vào các ngày chủ nhật được ra phố chơi, chúng tôi thường gặp các đoàn tù ở nhà đày Buôn Ma Thuột đi lao động quét đường, cắt cỏ. Họ mặc áo xanh có số đeo sau lưng, có lính khố xanh canh gác. Bọn chúng tôi thắc mắc lắm, về trường hỏi thầy giáo :

– Thầy ơi ! Các ông kia quét đường lại có lính gác, họ có tội gì đấy ?

Thầy giáo nói nhỏ :

– Đó là Cộng sản bị Pháp bắt tù đấy

– Vì sao họ bị tù ?

– Đó là những người yêu dân, yêu nước, chống lại bọn Pháp. Vì chúng nó bắt dân ta làm nô lệ, bắt đi xâu, làm cu li đồn điền trồng cao su, cafe cho chúng.

Tôi nghĩ trong đầu : “Bố mình cũng phải đi phu đồn điền, không mang gì về cho gia đình mà mẹ còn phải tiếp tế cho bố. Nó chơi ác cả với bố mình và gia đình mình rồi”

Dần dần thầy giáo bí mật giảng giải cho chúng tôi biết như thế nào là yêu nước. Tôi còn nhớ đó là các thầy Đào Tử Chí, thầy Phú…Năm tôi 15 tuổi, cả trường có chừng 600 học sinh, chúng cho học thì ít, bắt lao động thì nhiều. Sáng học, chiều nuôi bò, nuôi heo, chủ nhật đi vào rừng lấy củi. Thấy cuộc sống gò bó, căng thẳng, có một số học sinh rủ nhau trốn học nhưng bị bắt lại. Tôi rủ một số bạn học sinh lớn tuổi lên gặp thầy hiệu trưởng Legale xin ông cho giảm giờ lao động, tăng giờ học. Hiệu trưởng đồng ý, nhưng từ đó tôi bị nhà trường theo dõi.
BMT7
Khi học hết cấp I, tôi tốt nghiệp loại giỏi và được chọn đi học nội trú cấp II ở trường trung học Quy Nhơn cùng một số anh em khác như Y Nuê (sau này là giáo sư bác sỹ Ái Phương ), Y Tlam (sau này cũng là giáo sư y khoa ), Nay Phin ( sau là đại biểu quốc hội tỉnh Gia Lai ).Từ năm 1937 – 1940 tôi học ở đây cùng các bạn Tây nguyên và người Kinh. Vì còn ít tuổi lại cùng ở xa nhà nên chúng tôi rất dễ quen nhau, thương nhau không kể người Kinh, người dân tộc. Bạn thân của tôi lúc đó là anh Võ Đông Giang, người Kinh, ngồi cùng bàn ( sau này anh giữ chức bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính phủ ). Bọn Pháp không cho chúng tôi nói tiếng Kinh, không được mặc trang phục và học cách giao tiếp của người Kinh, không được yêu người Kinh. Không được học lịch sử dân tộc Việt Nam, chỉ được học lịch sử nước mẹ mẫu quốc. Tôi rất thắc mắc, tôi thấy người Kinh có nhiều cái hay cần phải học hỏi. Sao lại phải cấm ? Bọn học sinh chúng tôi vẫn bí mật học nói, học viết tiếng Kinh.

Lúc đó trong trường có một số thầy giáo và học sinh có tinh thần yêu nước. Các thầy thường giảng giải cho chúng tôi về lòng yêu nước, yêu đồng bào, yêu quê hương, căm thù bọn Phâp cướp nước. Nhờ đó tôi đã dần dần hiểu và biết mình chỉ là người dân nô lệ bị khinh miệt mà thôi. Tôi thấy thương đồng bào mình hơn. Nhưng cũng vì sự hiểu biết này mà tôi đã bị liệt vào loại học sinh bị theo dõi. Do đó tôi không được thi tốt nghiệp.Công sứ Pháp đã nói với tôi, giọng đe doạ :

– Mày học đòi người Kinh và tham gia chính trị, không được học nữa.

Đọc tiếp Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Thần Đồng Mỹ Gốc Việt Wendy Võ

Em bé Việt Nam Wendy Vo, có tên Việt là Võ Thị Ngọc Diễm, được gia đình và cộng đồng người Việt sinh sống tại North Carolina thừa nhận là một món quà đặc biệt của Thượng Để ban cho họ. Em sinh ngày 20 tháng 9 năm 1999, tại Charlotte, North Carolina – USA; đến nay vừa tròn 10 tuổi. Trong những năm vừa chập chững biết đi, em đã tỏ ra ưa thích làm quen với những nhạc cụ nên được cha mẹ cho theo học nhạc lý và sử dụng nhac cụ vào năm lên 4.

Ngocdiem

Lập tức người ta thấy rõ thiên tài âm nhạc của Wendy bộc lộ. Năm tuổi, em tự soạn nhạc. Hai năm sau em cho phát hành một CD gồm 14 nhạc phẩm sáng tác trong hai năm 6 và 7 tuổi. Những CD khác đã được phát hành vào năm 2008 và 2009. Tính đến nay em đã sáng tác được trên 45 nhạc phẩm. Một số nhạc phẩm ở tầm mức trung bình, nhưng một số khác thì được đánh giá khá cao.

Nếu bạn vào amazon.com gõ vào khung tìm kiếm chữ Wendy Vo, bạn sẽ thấy xuất hiện một loạt tác phẩm của em đang được bày bán trên website này.
Điều đáng nói là Wendy đã được mời làm hội viên danh dự trẻ tuổi nhất của hội nhạc sĩ, tác giả và xuất bản nhạc của Hoa Kỳ (American Society of Composer, Author and Publisher, ASCAP) vào tháng 11 năm 2007.

Đến tháng giêng 2008, Wendy lại được bình chọn là một trong 10 khuôn mặt trẻ tuổi rạng rỡ nhất do tạp chí Forbes tổ chức.

Ngoài khả năng âm nhạc, Wendy còn rất xuất sắc về ngoại ngữ. Hiện nay, em thông thạo 11 thứ tiếng trên thế giới kể cả tiếng Việt là ngôn ngữ chính dùng trong gia dinh, tiếng Anh là ngôn ngữ chính dùng trong trường học, những ngôn ngữ như Tây Ban Nha, Quan thoại (Trung Hoa), Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ, Ả Rập, Quảng Đông, Nga và Bồ Đào Nha là do em học lóm từ bạn học trong lớp chứ em chưa thực sự theo một lớp học ngôn ngữ nào cả.

Wendy Vo

Người ta không hiểu tại sao chỉ với khối óc nhỏ nhoi của một em bé 10 tuổi lại có thể tiếp thu nhiều kiến thức đến như thế. Có 5 video clips liệt kê dưới đây, các bạn có thể chứng kiến em dùng 11 ngôn ngữ khác nhau để đàm thoại với đội ngũ ký giả phỏng vấn. Điều đó đã làm cho chính những người ngoại quốc cũng lắc đầu và cho rằng đây là chuyện lạ. Vì vậy mà nhiều người đều cho rằng em là món quà của Thượng Đế trao tặng cho chúng ta.

Video clip 1 : Wendy nói Tiếng Anh, Tây Ban Nha, Nhật, và Ả Rập về âm nhạc của mình

Ở video clip dưới đây, chúng ta sẽ nghe em Wendy Vo trinh tấu bản Tico Tico, một nhạc khúc Latin Nam Mỹ. Ở lứa tuổi lên năm, không ai có thể ngờ rằng em lại có thể sử dụng keyboard nhuyễn còn hơn những nhạc sĩ chuyên nghiệp. Điều này chỉ có thể khiến cho chúng là lắc đầu kinh ngạc chứ không còn một ngôn từ nào có thể diễn đạt được. Hy vọng em bé Wendy Vo của chúng ta tiếp tục chấp đôi cánh thiên thần do Thượng Đế ban tặng để tiếp tục mang đến cho nhân loại những nhạc phẩm bất hủ truyền tụng về sau.

Trình bày nhạc phẩm: TICO TICO NO FUBA

VIdeo clip 5: Wendy Vo nói tiếng Hindi, tiếng Việt và chơi một bản nhạc cô bé mới sáng tác

Các bạn có thể vào link sau đây để nghe 4 bản nhạc audio của cô bé Wendy Vo :

• Blue Sky
• Mermaid
• Rose
• Sunny Dance

Links để xem 3 video clips kia về khả năng ngôn ngữ đặc biệt của cô bé thần đồng

Language Test 2

http://www.youtube. com/watch? v=DKB-W_GLZ78

Language Test 3

http://www.youtube. com/watch? v=UV03HMcUqk8

Language Test 4

http://www.youtube. com/watch? v=8nihfUvXJ9M

Cám ơn bạn Thu Hà và anh Hồng Phúc đã đưa link để mình tìm thêm thông tin và giới thiệu cô bé thần đồng gốc Việt này.

Chúc các bạn một ngày vui tươi với niềm tự hào về người Việt chúng ta. 🙂
</a

Daily English Discussion–Aug. 4th, 09–A thanks note to teacher

Hi everyone,

Below is a thanks note from Lê Phan Hiên Vy to an unnamed English teacher who is also a ĐCN admin. It is so mysterious that it took me hours to analyze, test, and cross out each name–Loan Subaru, Thùy Dương, Hiển and even me–to finally come up with the most plausible choice–chị Huệ. I am confident that this is the right name, after such a vigorous screening process. 🙂

Everyone can just chip in with Hiên Vy. Thanks, Hiên Vy.

Hoanh

.

For my big teacher
teacherappreciation
Today is not Teacher’s or Women’s day. But I choose this day to express my feeling about a very important person that changed my life: My big English teacher.

I must admit that I was very afraid of you in the early days when I was first studied in your class (I have to use passive voice because to study in your class is not a simple thing in some way). You were so strict with us that whenever we went to the class, we were very “stressful”. But thanks to your strictness, my friends and I were more and more good at English and we now realise our dream: we all passed and win our place in our university. And you must be very happy to hear this: I am one of three candidates who get highest mark in Faculty of Business Administration in my university!

For me, to meet you is my luck, and my destiny. I was not a good English student but after three years being taught by you, I archived many things that I had never thought I could do that just only one time in my life. Though what I gained were not as good as what your other excellent students did, I am always very proud of them and my biggest pride is being your student. You not only teach me knowledge, but also lessons of dream and belief. You showed me that if I believe in myself, I can do everything. You lit my dream up and made me believe in myself, and it can be said that my feeling for you are so strong that the word “love” can not describe them.

I am now a bird with my wings spreading fully in my blue sky, but I will never forget my nest, where I learned every thing from you to flap my wings and fly higher and higher. I will be far away from you but my heart is always near you, as long as you think that I am besides you.

I wish you health and luck to go on teaching other little birds so that they can win their own success just like I do. I did, I do and I will always try my best to become a successful person. I believe each of my success is a gift for you, and I promise that you will receive more gifts in the future. Believe in me.

Your little student,

Lê Phan Viên Hy

PS: I may not have good words to express what I want to say but my feeling is from the bottom of my heart. And I believe you can feel it.

Người Mỹ trầm lặng trên đồi Buông

Chào các bạn,

Đây là một câu chuyện hiếm có và rất cảm động, trên Sài Gòn Tiếp Thị.

Mến,

Hoành

.

Người Mỹ trầm lặng trên đồi Buông


Ông Robert đặc biệt thích cho gà, vịt ăn

SGTT – Robert Poduna Vac hay ngồi bệt trước hiên nhà nhìn ra khu đồi trước mặt, nơi đó có vạt rừng keo và cau do chính ông tạo dựng nên. Dáng ngồi và khuôn mặt bình thản của Robert gợi cho người ta cảm giác ông đã thuộc về nơi này từ lâu lắm…

Lúc tôi đến, ông mặc một chiếc áo lam của người Phật tử, tay cầm tràng hạt, mắt chăm chú nhìn lên tượng Quan âm toả hào quang điện chấp choá trên tường. Ông đang đắm chìm trong một cảnh giới không thể quấy rầy.

Vì tôi yêu em

Nhà ông ở trên đỉnh đồi Buông, thuộc một xã miền núi hẻo lánh của Quảng Nam – xã Tam Lãnh (huyện Phú Ninh). Tại sao một chuyên gia phần mềm của một công ty lớn ở Washington, lại từ bỏ tất cả để đi làm nông dân ở chốn rừng núi này, thật khó giải thích. Mỗi người nói mỗi kiểu, riêng Nguyễn Bích Giang, cô gái đầu của người phụ nữ sắp là vợ Robert, giải thích hơi lạ: “Kiếp trước ổng nợ mẹ em nên kiếp này ổng phải trả”.

Giang nói: “Ổng từ bỏ quê hương, tiện nghi, tiền bạc, thậm chí bỏ cả đạo gốc (Robert đã cải đạo Thiên Chúa sang đạo Phật) để theo mẹ em, một phụ nữ đã có đời chồng, ba đứa con, nghèo xơ xác làm nghề rửa bát thuê. Ổng sống chung với mẹ ba năm rồi nhưng tối ai ngủ giường nấy, ổng ngủ một mình còn mẹ ngủ với em. Ông hy sinh tất cả vì mẹ mà không đòi hỏi điều gì cả”. Bà Lữ Hà Thy Nhơn (1969), vợ sắp cưới của Robert, cũng thú thật như vậy: “Robert bị tai nạn giao thông dẫn đến đau cột sống, không thể ân ái vợ chồng được…” Bà Nhơn cũng tiết lộ, Robert coi điều đó là một thiệt thòi cho bà, thỉnh thoảng ông đưa bà cả chục ngàn USD và khuyên bà nên đi chơi đâu đó. Nhưng bà chối từ. Bà không muốn phụ ông, một người bà coi như đấng cứu nạn của đời mình.

Robert đã biến cô lọ lem Thy Nhơn nghèo xác xơ thành một “công chúa” ở đất Tam Lãnh này. Ngày trước bà Nhơn chỉ có một túp lều dưới chân đồi, trong đó ngoài cái giường tre không còn gì nữa cả. Robert đã sắm cho gia đình bà từ… cuộn giấy vệ sinh sắm lên. Ông bỏ tiền đổ đất nền lên cao và dựng lên đó một ngôi nhà khang trang thuộc loại nhất nhì của Tam Lãnh bây giờ. Ông chuộc lại toàn bộ đất đai (3ha) mà ngày trước vì túng thiếu mẹ bà đã bán, và dựng lên đó một trang trại với rừng keo, cau xanh ngát, với hàng trăm con gà, vịt, bồ câu… Ba đứa con bà được ông sắm sửa từ cái áo, cái quần, ông đi hỏi vợ cho cậu con trai giữa và chuẩn bị làm đám cưới cho cô con gái đầu của vợ, Nguyễn Bích Giang. Ông làm tất cả những điều đó, với số tiền chi ra bằng gia tài một người giàu có ở Quảng Nam để được gì? “Nhiều khi tôi cũng thắc mắc như vậy, nhưng ông chỉ nói đơn giản, vì tôi yêu em”, bà Nhơn kể.

Âm thanh của sự trầm lặng

Robert về quả đồi này được bốn năm. Cả xã hầu như không ai nói được tiếng Anh (trừ vợ ông), ông không biết tiếng Việt. Vì vậy Robert có lẽ là người ít nói nhất của Tam Lãnh. Mỗi khi khách đến nhà, vợ ông huyên thuyên, còn ông theo thói quen ra ngồi bệt trước hiên nhà, hút thuốc và nhìn ra rừng. Bà Nhơn nói, Robert không thích ồn ào, mỗi khi đi đâu, ông đều khuyên nên chọn chỗ yên tĩnh.

Robert ít nói nhưng không hề lãnh đạm với mọi người. Do nhà có chăn nuôi nên hay thuê phụ nữ chung quanh đến thái chuối cây để làm thức ăn cho chúng. Những ngày đầu thấy bà con ngồi bệt xuống đất làm việc, ông lẳng lặng lấy xe máy chạy 30km đường núi xuống Tam Kỳ (tỉnh lỵ của Quảng Nam) mua một lô ghế nhựa nhỏ đem về cho bà con ngồi. Những nông dân đến làm thuê cho ông, ông không nói chuyện với ai nhưng không hề quên ai. Có lần một người đang làm bị ốm phải nghỉ. Thấy anh ta không đến, ông hỏi vợ rồi vào lấy mấy trăm ngàn đồng đưa vợ bảo đem đến cho anh ta uống thuốc. Qua trường mẫu giáo thôn thấy bàn ghế các em xập xệ, ông làm thinh về lấy mấy triệu đồng qua cho trường để sửa chữa. Một lần nghe bà con định tu sửa lại cái miếu thôn, ông đưa tiền cho bà con mua vật liệu và đích thân đi mua sơn về bỏ hai ngày lụi cụi sơn lại miếu. Các cụ bô lão trong thôn sững sờ.

Chốn về của kẻ độc hành

“Chúng ta về quê em sinh sống đi”, ông đề nghị bà Nhơn khi hai người đang ở Sài Gòn.
“Thế còn công việc của anh, về đó chúng ta lấy gì mà sống?”
“Tôi xin nghỉ việc công ty. Em đừng lo, tôi có điều kiện để em sống một đời không lo lắng”.
“Nhưng anh thích điều gì ở đó?”
“Tôi thích sự tĩnh lặng của nó”.

Ông về hôm trước, hôm sau bà con đã thấy ông ra đồng. Nhà bà Nhơn có mấy sào lúa, từ cày cấy, đổ nước, gặt hái…ông tham gia hết. Với tiền bạc của mình ông dễ dàng trở thành một đại điền chủ của Quảng Nam. Nhưng không, ông chắt chiu từng hạt lúa trên đám ruộng của mình. Những trưa nắng như đổ lửa, bà con thấy ông đầu trần, vận mỗi cái quần đùi, lết bàn chân đi tới đi lui trên sân để đảo lúa cho khô. Ông phơi phóng, gìn giữ từng hạt lúa không phải cho mình vì ông chưa… ăn cơm được. Ngày ngày, khi gà trong thôn vừa gáy, ông đã dậy, vác cuốc ra đồi chăm lo rừng keo, rừng cau, dựng cây này lên, bón gốc cho cây kia. Đang làm, sực nhớ điều gì, ông tất tả chạy về. Ông lấy cái ô lúa mà vợ đong sẵn hú gọi gà, vịt, bồ câu đến để cho ăn. Có lần chuyên gia phần mềm Robert cho gà, vịt ăn đến suýt chết vì quá nhiều, con nào con nấy diều phồng lên cứng ngắc, đi không nổi. Từ đó, bà Nhơn phải đong khẩu phần gà, vịt cho Robert…

Trang trại cho thu nhập bao nhiêu, Robert không cần biết. Điều Robert cần là được làm công việc của một nông dân. Robert ước ao được chết như một… nông dân, nghĩa là có cái mộ. Bà Nhơn biết điều này qua một lần Robert tâm sự: “Ở bên Mỹ khi chết thiêu xác mang tro rải biển, thấy lạt lẽo cuộc đời quá. Tôi muốn được như người dân quê em, có một ngôi mộ, nhỏ cũng được, nhưng là cái còn lại của mình sau cuộc đời này”.

Một lần Robert về Mỹ, bà Nhơn im lặng kêu người xây một ngôi mộ cho ông bên cạnh cái trang trại với rừng cây, gà vịt mà ông tạo dựng nên. Khi trở lại biết chuyện này ông khóc nức nở vì cảm động: “Em đã toại nguyện một mong muốn lớn nhất của đời tôi. Cả đời này tôi mang ơn em”. Bên ngôi mộ mình, ông tâm sự đã từng có một người vợ, từng tha thiết mong những đứa con. Nhưng vợ ông ba lần mang thai ba lần hỏng vì cô nghiện rượu. Ông ly dị vợ và sau đó bị tai nạn giao thông, chuyện có con coi như khép lại vĩnh viễn. Vì công việc ông sống nhiều nước, nhưng đi đâu ông cũng cô đơn, cũng thấy thiếu vắng. Chỉ có ở đây, ở đồi Buông này, mà ông hiểu theo tinh thần đạo Phật là buông xả tất cả, ông mới thấy lòng mình yên tĩnh.

Đêm đêm theo lời khuyên của bà Nhơn, Robert đem máy cassette ra mộ mình mở băng kinh Phật “cho ấm ngôi nhà mai sau”. Ông rất hay đi chùa. Đến đâu ông cũng cúi đầu lạy Phật thành kính. Mỗi ngày hai thời, ông mặc áo lam, cầm xâu chuỗi đứng niệm Phật. “A di đà Phật” là bốn tiếng Việt duy nhất mà ông thuộc và sử dụng hàng ngày.

Robert Poduna Vac vừa xin được Giấy chứng nhận độc thân từ đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam. Ông cần thủ tục này để làm hôn lễ với bà Nhơn. Một đám cưới có phần kỳ lạ, đám cưới mẹ lại diễn ra sau đám cưới con (Bích Giang), chú rể 73 tuổi, cô dâu 41 tuổi, đám cưới thì có, động phòng thì không.

Đoàn Nguyễn

Nhà thơ Tế Hanh qua đời

Chào các bạn,

Nhà thờ Tế Hanh đã qua đời.  Một thiên tài thi ca đã ra đi.

Trong kho tàng thi ca Việt Nam, bài thơ mình thích nhất là Bão của Tế Hanh.  Mình đã dịch bài này ra tiếng Anh và đã đăng trên tạp chí thơ đại học Illumination vài năm về trước.  Lúc đó mình có gửi tập thơ về Hội Nghệ Sĩ Việt Nam ở Hà Nội nhờ chuyển đến Tế Hanh, nhưng có lẽ không đến. Hai năm trước đây mình có gửi bài dịch về cho chị Phương, con gái Tế Hanh.

Tehanh
Ngoài bài thơ Bão, Tế Hanh còn để lại cho mình một dấu ấn khác.  Năm 1989, lúc đó mình làm việc với một số bạn ở Washington thành lập US-Vietnam Trade Council, và Council bảo trợ anh Nguyễn Ngọc Trường của Bộ Ngoại Giao, tổng biên tập tạp chí Quan Hệ Quốc Tế, qua Mỹ ba tháng tìm hiểu hệ thống Mỹ.  Council sắp một cuộc gặp mặt riêng giữa mình và anh Trường.  Hai người gặp nhau ăn trưa trong một quán ăn gần Quốc Hội.  Đó là người Cộng Sản đầu tiên mình gặp.  Nói với nhau đủ thứ chuyện.   Dĩ nhiên là mình nói nhiều về nhu cầu đổi mới kinh tế chính trị Việt Nam.  Một lúc sau nói đến điều gì đó mà anh Trường đọc “Bài thơ tình ở Hàng Châu” của Tế Hanh:

Anh xa nước nên yêu thêm nước
Anh xa em càng nhớ thêm em

Hai câu đầu này đúng tâm sự mình quá, mình nhờ anh Trường chép lại cả bài.  Và mình nghĩ, Hóa ra người Cộng Sản cũng đầy thi ca mộng mơ như mình chứ đâu chỉ biết đánh nhau như mình tưởng.

Bài thơ này, chị Kiều Tố Uyên vừa đăng gần đây trong bài Hàng Châu và bài thơ tình của Tế Hanh.

Dưới đây là bài báo trên VnExpress nói về cuộc đời Tế Hanh.  Và bài thơ Bão mà mình đã dịch ra Anh ngữ, gọi là một chút để cùng tưởng niệm một vì sao rơi.

    Bão

    Cơn bão nghiêng đêm
    Cây gãy cành bay lá
    Ta nắm tay em
    Cùng qua đường cho khỏi ngã

    Cơn bão tạnh lâu rồi
    Hàng cây xanh thắm lại
    Nhưng em đã xa xôi
    Và cơn bão lòng ta thổi mãi
    .

      Tế Hanh (1957)
      Tình Bạn Tình Yêu Thơ
      (Nhà Xuất Bản Giáo Dục, VN 1987)

    .

    Storm

    The storm tilted the night
    Branches broke, leaves flew
    I clutched at your hand
    Crossing the street together so we wouldn’t fall

    The storm has left long ago
    The trees have turned green again
    But you’re now away
    And the storm in my heart will always stay
    .

      Translated by TDH
      April 5, 1998 (March 9, 2000)

Nhà thơ Tế Hanh qua đời

12h ngày 16/7, nhà thơ Tế Hanh trút hơi thở cuối cùng để về với “sông nước của quê hương”, sau hơn 10 năm nằm liệt giường vì căn bệnh xuất huyết não. Ông hưởng thọ 89 tuổi.

Nhà thơ Tế Hanh. Ảnh tư liệu.
Nhà thơ Tế Hanh. Ảnh tư liệu.

Tế Hanh tên thật là Trần Tế Hanh, sinh ngày 20/6/1921 trong một gia đình nhà Nho nghèo ở thôn Đông Yên, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông học ở trường làng, trường huyện. Đến tuổi 15, nhà thơ tương lai ra Huế học trung học. Chính nơi đây, ông bắt đầu gặp gỡ, giao lưu với các tác giả của phong trào Thơ Mới và dần dà trở thành một trong những cây bút từng làm nên một thời đại hoàng kim cho thi ca Việt Nam.

Được biết đến với bài thơ đầu tiên Những ngày nghỉ học từ năm 17 tuổi (1938), Tế Hanh ghi dấu ấn trên thi đàn bằng những cảm xúc trong sáng, vẩn vơ, buồn buồn của tuổi học trò. Những sáng tác đầu tay của ông sau đó được tập hợp trong tập Hoa niên – tập thơ được Tự lực văn đoàn khen tặng (dưới tên Nghẹn ngào).

Thời kỳ Cách mạng tháng Tám, Tế Hanh tham gia cách mạng ở Huế. Hòa bình lập lại, ông tập kết ra Bắc, làm việc ở Hội Văn nghệ, sau đó là Hội Nhà văn Việt Nam.

Những năm cuối đời, nhà thơ ốm nặng. Ảnh: ANTG.
Những năm cuối đời, nhà thơ ốm nặng. Ảnh: ANTG.

Sau 1954, vượt qua những thành công đầu tiên của mình, Tế Hanh khẳng định sức bền của ngòi bút qua một loạt tập thơ như Lòng miền Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu thương (1963), Con đường và dòng sông (1980), Em chờ anh (1994)… Chủ đề quen thuộc thời kỳ này của ông là tình cảm với miền Nam quê hương, ý chí đấu tranh, khát vọng thống nhất Tổ quốc. Tác giả có những vần thơ thiết tha về quê hương đã đi vào lòng người với những sáng tác tiêu biểu như Quê hương, Nhớ con sông quê hương, Mặt quê hương... Với những đóng góp nổi bật đó, ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.

Vào những năm 80, Tế Hanh bị đau mắt, rồi ông mù dần. Hơn 10 năm trước, nhà thơ ngã bệnh nặng và nằm liệt giường, lúc mê lúc tỉnh. Những lúc tỉnh táo, ông vẫn nghe thơ, đón bạn bè đến thăm. Nhưng mấy năm gần đây, nhà thơ gần như sống thực vật.

Nhà văn Đào Thắng, chánh văn phòng Hội Nhà văn cho biết, hiện tại, Hội Nhà văn đang bàn bạc với gia đình nhà thơ để tổ chức chu đáo cho ông về nơi yên nghỉ cuối cùng.

Hà Linh

Một số bài thơ tiêu biểu của Tế Hanh:

Quê hương

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thân góp gió

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng lũ lượt kéo ghe về
Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng

Dân chài lưới lần da ngăm rám nắng
Tỏa thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vó.

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Mầu nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Mặt quê hương

Mặt em như tấm gương
Anh nhìn thấy quê hương

Kìa đôi mắt, đôi mắt
Dòng sông yêu trong vắt

Kìa vừng trán thanh thanh
Khoảng trời xa yên lành

Miệng em cười tươi thắm
Như vườn xanh nắng ấm

Hơi thở em chan hòa
Như hơi thở quê ta

Hôm qua ai thù giặc
Mà môi em mím chặt?

Hôm nay ai xót thương
Mà mi em mờ sương?

Ôi miền Nam yêu dấu
Trên mặt em yêu dấu

Ôi tháng năm nhớ thương
Mặt em là quê hương

Chia buồn với gia đình nhà thơ và chia sẻ cảm xúc về những vần thơ của Tế Hanh.

Tehanh

Nguyễn Thị Tiến: Tìm về những linh hồn đồng đội

Chào các bạn,

Vào dịp giỗ tổ Hùng Vương năm 2008 tại Đại Sứ Quán Việt Nam ở Washington DC, qua sự giới thiệu của chi Lê Phượng của Thông Tấn Xã Việt Nam, mình gặp chị Tiến.  Hình ảnh đầu tiên đến với mình  là một người phụ nữ rất vui vẻ bình thường, nhưng một lúc sau, biết được là chị đã có quân hàm trung tá và đang theo đuổi công việc tìm hài cốt các chiến sĩ đã hy sinh trong chiến tranh để mang họ trở về nguyên quán, thì mình rất đỗi ngạc nhiên và xúc động–ngạc nhiên vì đó là công việc rất bất thường, tiêu thụ rất nhiều năng lượng của con tim và chắc chắn là đôi khi rất nhiều stress, trong một phụ nữ nói chuyện thật là vui; xúc động vì việc thì nặng cảm xúc đến thế mà nói chuyện thì thanh thản đến thế, là người mình rất phục.
trungtanguyenthitien2
Dịp đó chị Tiến sang Mỹ để liên hệ với các tổ chức cựu chiến binh Mỹ, để mong tìm thêm được các kỷ vật các chiến binh Mỹ thu lượm được trong thời chiến, hầu có thể giúp thêm chị trong việc tìm và xác định hài cốt đồng đội.

Hôm nay mình giới thiệu chị Tiến và công việc của chị đến các bạn.  Mong là bài này giúp chị một tí niềm vui sau nhiều năm tháng đối diện với bao nhiêu xúc cảm nặng nề.   Mình cũng mong các bạn hỗ trợ chị Tiến trong những cách thức có thể, như là báo cho bạn bè Mỹ của mình biết về công việc của chị và nhu cầu thu lượm tin tức cùng kỷ vật, hoặc các bạn có nhu cầu tìm thân nhân đã mất trong thời chiến tranh.

Mình đang đợi chị Tiến viết một vài bài về công việc của chị cho ĐCN.  Lúc đó chúng ta có thể có thêm thông tin về chị.

Dưới đây là ba bài báo về công việc của chị:   (1) “Liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm trở về đất mẹ”, 7/2008, trên baovietnam.vn, về chuyến đi Mỹ của chị năm 2008.  Bài này cũng có câu chuyện rất cảm động về kỷ vật và thông tin của một cựu binh Mỹ, và công sức của anh và thân nhân trong việc bay về tận bãi chiến trường cũ tại Việt Nam, để giúp tìm ra hài cốt của liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm và mang anh trở về quê.

(2) “Người tìm về những linh hồn đồng đội” trên vietbao.vnngày 25.7.2007

(3)  “60 năm ngày thương binh liệt sĩ–Những câu chuyện tìm lại tên anh” ngày 27.7.2007 trên báo Tuổi Trẻ.

Chúc chị Tiến luôn có được niềm vui trong công việc.  Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành

.

TP- Khi gặp lại Tiến tại quê nhà, câu chuyện như kéo dài thêm về những ngày ở Washington lẫn Maryland của Tiến.

Homer đi đầu (bên phải) khiêng quan tài LS Hoàng Ngọc Đảm trong buổi lễ truy điệu ngày 19/5/2008 tại xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình (ảnh của trung tá Nguyễn Thị  Tiến)

Vị cựu binh thủy quân Lục chiến, Wayne nay là GS sử học Đại học Maryland đã mời Tiến nói chuyện với sinh viên đại học Maryland. Người dịch cho Tiến và vị GS nọ là Sedgwick D. Tourison, Jr. nguyên là Sĩ quan Quân báo Lục quân.

Ông đã có nhiều năm tham chiến trên chiến trường Việt Nam và rất giỏi tiếng Việt. (được phép của Tiến, có lẽ một dịp thích hợp toàn bộ bức email khá xúc động mà ông mới vừa gửi cho Tiến sẽ được công bố. Sau đây là trích một đoạn:

Ngày 27/7 là ngày đặc biệt của toàn dân Việt Nam đặc biệt là quân nhân và gia đình của liệt sĩ Việt Nam đã nằm xuống vì Tổ Quốc. Hàng vạn hài cốt liệt sĩ vẫn chưa mang về…

Mỗi ngày tôi như nghe thấy tiếng gọi của liệt sĩ Việt Nam nói nho nhỏ, cho tôi về nhà đi… Cho tôi về nhà đi… Nếu trong khả năng của tôi thì tôi sẽ hết sức cố gắng thi hành nhiệm vụ của một con người giúp họ về càng sớm càng tốt…

Trở lại với buổi nói chuyện của Tiến ở ĐH Maryland. Hơn một giờ đồng hồ, Tiến đã nói về nỗi đau dằng dặc hàng bao năm của những bà mẹ Việt Nam có con đi chiến đấu ở chiến trường xa. Rồi sau chiến tranh, có hàng trăm ngàn bà mẹ người thân của họ lại gánh thêm nỗi đau không tìm thấy hài cốt của con em mình.

Tiến kể về công việc khiêm tốn của mình trong nhiều năm qua đã góp sức cùng nhiều người và nhiều cơ quan khác có trách nhiệm ở Việt Nam như một sự chung tay làm dịu đi nỗi đau ấy.

GS Wayne rất xúc động và gần như có cuộc phát động ngay sau đó rằng các cựu binh Hoa Kỳ có mặt ở đây và các sinh viên có mối quan hệ với các cựu binh nên thông tin cho họ rằng nếu tìm thấy hoặc đang cất giữ những kỷ vật của bộ đội Việt Nam thì hãy trao trả cho Việt Nam hoặc trực tiếp liên lạc với  bà Nguyễn Thị Tiến có địa chỉ ở Việt Nam và email đây!

Xin trở lại với lời dặn dò nhắc nhở của bà mẹ Homer rằng phải tìm cách trả lại cuốn sổ cùng địa chỉ vị trí nơi chôn cất liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm.  Xúc động lẫn trăn trở về những tâm sự của người bạn thân Homer, năm 2005, GS Wayne đã tìm được cơ hội.

Trong một chuyến công tác sang Việt Nam, cũng là dịp trở lại chiến trường xưa, ông đã liên hệ với nhiều cơ quan có trách nhiệm và đáng nói nhất là đã liên lạc được với gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm.

Trở về Mỹ, vị GS nọ luôn ám ảnh bởi buổi được chứng kiến khung cảnh cực kỳ cảm động khi gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm cùng địa phương đã tổ chức đón cuốn sổ nhật ký của Hoàng Ngọc Đảm như thế nào.
nghiatranglietsi1
Được tận mắt chứng kiến nỗi khát khao của gia đình nếu như tìm thấy hài cốt của liệt sỹ qua vị trí chôn cất mà Homer có hướng dẫn tỷ mỉ trong thư. Và điều GS kể lại cho ông bạn thân Homer khiến bạn sửng sốt rằng, dẫu biết mười mươi người đã giết con mình là bạn thân của ông người Mỹ đang có mặt tại nhà họ, nhưng âm hưởng chủ đạo của cuộc gặp lẫn buổi đón nhận cuốn nhật ký lại là không khí cảm động chứ những người thân của liệt sỹ Đảm tuyệt nhiên không có ai nhắc tới hận thù này khác!

Đó là một trong những duyên do khiến bà mẹ Homer hối giục con mình nên mau mau một lần trở lại chiến trường cũ!

Có một việc Homer và ngay cả GS Wayne cũng không thể ngờ được rằng, theo hướng dẫn của Homer trong thư, gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đã vào tận đèo Măng Giang, Kon Tum…

Cứ như vị trí mà Homer khẳng định, thì trước đó từ lâu, địa phương đã phát hiện ra ngôi mộ liệt sĩ ở vị trí của Homer từng xác định sau này và đã làm cái việc cất bốc, quy tập mộ Liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm về nghĩa trang liệt sỹ của địa phương.

Tất nhiên phần hài cốt của liệt sỹ Đảm ấy khi vào nghĩa trang cũng là vô danh như phần nhiều ngôi mộ liệt sỹ khác. Thật may mắn là trong những lần quy tập ấy, người ta đã kịp đánh số vẽ sơ đồ cho mộ liệt sỹ.

Sau chuyến đi Mỹ trở về, đầu tháng 5/2008, Nguyễn Thị Tiến được GS Wayne báo tin sẽ cùng với ông bạn thân Homer sang Việt Nam. Và họ sẽ có chuyến vào Măng Giang, Kon Tum đến tận nơi Hoàng Ngọc Đảm đã nằm xuống.

Nhưng phải cuối tháng 5, hai cựu binh Thủy quân lục chiến ấy mới có mặt tại Việt Nam. Được phép của cơ quan có trách nhiệm cũng như gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm, một chuyến đi vào Kom Tum đã được thực hiện.

Chuyến đi đó ngoài hai người cựu binh Thủy quân lục chiến còn có mấy người anh em ruột của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm là Hoàng Đình Lượng, Hoàng Đình Cát, Hoàng thị Tươi.

Nhà văn nhà báo Minh Chuyên, một người cũng có nhiều duyên nợ âm phần, từng thực hiện nhiều bộ phim về đề tài này cùng kíp làm phim 3 người của Đài Truyền hình Việt Nam.

Đặc biệt tham gia chuyến đi còn có một người cháu gái của cựu binh Homer. Và còn có một nhà ngoại cảm đi theo theo yêu cầu của gia đình liệt sỹ. Một trận cảm bất ngờ đã khiến trung tá Nguyễn Thị Tiến không có mặt trong đoàn.

Trong thời gian không lâu nữa, có thể trong dịp 27/7 sắp tới, bộ phim do nhà văn Minh Chuyên đạo diễn và kíp làm phim thực hiện về cuộc đi hy hữu này sẽ được trình chiếu nhưng những gì người viết bài này được kể lại một phần trong chuyến đi đó vẫn khá ấn tượng.

Quá nửa ngày, cựu binh Homer đã quày quả đi đi lại lại, săm soi chỉ một khúc đèo ngắn của Măng Giang. Gần 40 năm qua mọi vật cảnh quan có lẽ đã đổi thay nhiều.
nghiatranglietsi
Cây cối xứ nhiệt đới đã nhổng nhao nhanh chóng ở những khoảng ngày xưa là đồi trọc. Và vô khối khoảnh rừng già đã biến mất. Nhưng cuối cùng, trường đoạn của cảnh quay cũng đã kết thúc khi Homer qua quá trình khoanh vùng đã loại bỏ dần và xác định được tọa độ.

Địa điểm mà liệt sỹ Hoàng Đình Đảm nằm xuống mà Homer khẳng định cũng trùng với khu vực mà trước đây nhiều năm đội quy tập liệt sỹ đã cất bốc mộ của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đưa vào nghĩa trang địa phương.

Trời trưa Tây Nguyên bốc nắng dữ dội, nhìn vị cựu binh Thủy quân lục chiến cao gầy, tóc bạc râu bạc ở cái tuổi 62, nén hương trong tay run rẩy, người như đổ sụp xuống ngôi mộ Hoàng Ngọc Đảm và cất tiếng khóc ồ ồ thảm thiết khiến những người có mặt không khỏi bùi ngùi.

Chao ôi nếu như không có động thái xiết cò khẩu AR15  máy móc bản năng và vô thức ấy của người lính Thủy quân lục chiến Homer bắn vào anh chiến sĩ y tá trong đội phẫu thuật tỉnh đội Gia Lai (trong cuốn nhật ký mà Homer giữ hàng chục năm nay, bây giờ những người thân của anh Đảm mới được coi những tấm hình anh vẽ về bộ phận cơ thể người.

Y tá Hoàng Ngọc Đảm, theo như trung tá Nguyễn Thị Tiến kể lại khi Tiến được tiếp xúc với cuốn nhật ký đó, thì những hình vẽ của anh Đảm rất đẹp, cứ như là chuyên nghiệp.

Nếu không mệnh hệ gì, lành lặn trở về, thì biết đâu bây giờ anh Đảm đã là một họa sĩ tên tuổi)  vào mùa xuân năm 1969 thì làm gì hôm nay bao người đã phải nhọc nhằn? Mà đâu chỉ riêng cuộc đi này, hành trình của dân tộc mình trong lộ trình nâng niu trân trọng quá khứ, trả lại tên cho các liệt sỹ vô danh sẽ còn vô khối những chặng như cuộc đi như thế này nữa…

Phần mộ của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đã được cất bốc để đưa về quê anh ở xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình. Đó là ngày 24/5/2008. Sinh ngày 1/4/1944 (nhờ trí nhớ của Homer mà gia đình anh Đảm từ nay cúng đúng giỗ theo lịch âm tức ngày Mồng Một tháng hai Âm lịch) đã 39 năm anh Đảm nằm lại đất Kon Tum.

Homer kém anh Đảm 2 tuổi. Một thuở một thời khác chiến tuyến. Nhưng hôm nay, cùng một lứa bên trời lận đận? Người nằm trong chiếc tiểu sành kia với kẻ lênh khênh, đầu tóc xác xơ, bờm xờm, toã tượi từng đã dằn vặt sám hối bao năm đến nỗi vướng phải thể trạng tâm thần nhẹ, chẳng biết ai thanh thản hơn ai?

Tiến kể lại rằng (chắc cũng trùng với những thước phim của Minh Chuyên cũng có những đoạn những “xen” tương tự)  trời hôm đó nắng nóng khác thường cựu binh thủy quân lục chiến Homer mồ hôi ướt sũng quần áo, cũng dáng thiểu não toã tượi như thế đã đứng vái lạy trước di cốt cũng như tự nguyện đứng hàng đầu để khênh chiếc tiểu sành đựng hài cốt anh Hoàng Ngọc Đảm trong lễ truy điệu. Chỉ có tiếng khóc tiếc thương đủ mọi cung bậc của người thân. Nhưng tuyệt nhiên không một lời oán thán này khác.

Homer và người cháu gái lẫn GS Wayne đều không biết tiếng Việt nhưng họ hiểu thứ ngôn ngữ ấy, thông điệp ấy qua cái nhìn, ánh mắt của những người thân anh Đảm và những người dự lễ truy điệu cũng như  khi đưa anh Đảm vào lòng đất Mẹ ở nghĩa trang liệt sỹ xã nhà Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình!

Chặng đưa hài cốt anh Đảm ra Bắc đến thành phố Vinh thì trung tá Nguyễn Thị Tiến mới nhập cuộc được. Trận cảm bất ngờ chưa dứt nhưng Tiến đã quyết nhập chặng hành trình từ Vinh đưa tiếp anh Đảm về Thái Bình. Và Tiến cũng đã kịp bày biện ra một bất ngờ khác.

Xin bạn đọc trở lại những thứ mà Homer móc trong túi LS Hoàng Ngọc Đảm và cất giữ mấy chục năm nay, ngoài cuốn nhật ký của anh Đảm còn có một tấm bằng lái xe loại trung xa  mang tên Nguyễn Văn Hai cấp ngày 28/7/1964 do trung tá Nguyễn Văn Đôn, Cục Quản Lý Xe máy, Tổng Cục Kỹ thuật ký.

Mãi trong chuyến đi Mỹ vừa rồi, khi nghe GS Wayne kể lại, Tiến giật mình bởi cô thường xuyên nhận được những tin nhắn về kỷ vật liệt sỹ, cuối tháng 12 năm ngoái cũng có tin đến cô cái bằng lái xe nào đó của Nguyễn Văn Hai. Vừa về nước, cô phát tiếp tin nhắn tìm trên một số phương tiện thông tin đại chúng.

Liệt sĩ chưa rõ tên
Liệt sĩ chưa rõ tên

Một ngày cũng mới đây thôi, có một ông lão gầy gò tìm đến nhà Tiến và xưng là… Nguyễn Văn Hai! Sau khi kiểm tra kỹ càng CMT và nghe ông lão tên Hai kể chuyện, Tiến vui mừng nhận ra ông Nguyễn Văn Hai may mắn còn sống sót và ông chính là chủ nhân của cái bằng lái xe nọ.

Quê ông lại cách thành phố Vinh cũng chả xa mấy. Đó là xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Để đợi đoàn rước mộ anh Đảm, ông Hai đã ở hai ngày trong nhà gia đình Tiến để đợi Homer.

Nhân chuyến đi của Homer và gia đình anh Hoàng Ngọc Đảm vào Kon Tum đưa mộ liệt sỹ Đảm về Thái Bình, Tiến đã liên lạc gấp với ông Nguyễn Văn Hai về Vinh để gặp lại người từng giữ chiếc bằng lái xe của ông mấy chục năm trời.

Và trước khi đưa anh Hoàng Ngọc Đảm về lại Thái Bình, tại thành phố Vinh đã có một cuộc kỳ ngộ thú vị giữa cựu chiến binh Nguyễn Văn Hai và cựu binh thủy quân lục chiến Homer cùng các thành viên trong đoàn.

Còn tại sao cái bằng lái xe trung xa của ông Nguyễn Văn Hai lại ở trong túi của anh y tá Hoàng Ngọc Đảm rồi lọt vào tay Homer là cả một câu chuyện dài xin khất bạn đọc vào một dịp khác.

Người viết xin được khép lại ghi chép nhiều kỳ “Lại kể tiếp chuyện đi Mỹ” này bằng dòng tin nhắn theo yêu cầu của trung tá Nguyễn Thị Tiến.

Ông Phạm Thanh Siếu bây giờ đang ở đâu? Ai là thân nhân của Phạm Thanh Siếu? Thông tin cụ thể hơn xin gặp gia đình ông Hoàng Đình Lượng (em trai liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm) xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình. Hiện nay cuốn sổ tay của ông Phạm Thanh Siếu, ông Lượng vẫn chịu trách nhiệm bảo quản tại nhà riêng.

(Trong những kỷ vật mà Homer trao lại ngoài cuốn nhật ký của anh Đảm, bằng lái xe của ông Hai còn có một cuốn sổ cá nhân mang tên Phạm Thanh Siếu. Nhưng tiếc rằng, có thể vì lý do để giữ bí mật chăng mà anh Phạm Thanh Siếu đã không ghi tên địa chỉ quê quán, đơn vị trong cuốn sổ?)

Tháng 7 năm 2008
X.B

.

Người tìm về những linh hồn đồng đội

.

Nguoi tim ve nhung linh hon dong doi
Trung tá Nguyễn Thị Tiến – Phó Giám đốc Bảo tàng Quân khu IV. Ảnh: Trọng Hiếu

Chiến tranh đã lùi xa, trong số hàng triệu người con ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc còn hàng vạn người phải nằm lại nơi lưng đèo, cuối dốc. Ngày trở về quê hương, hành trang của họ thật đơn giản, chị Tiến đã lưu lại những di vật tưởng chừng như vô tri vô giác chôn cùng những liệt sĩ để rồi âm thầm xác minh danh tính.

Đi tìm những “khoảng không nhức nhối”

Thành Vinh một chiều mưa rả rích, buồn đến nao lòng. Trung tá Nguyễn Thị Tiến (Phó Giám đốc Bảo tàng Quân khu IV) cứ tẩn mẩn cầm từng di vật của liệt sĩ là chiếc bút, chiếc kính gãy gọng, chiếc khăn tay khẽ khàng nói với tôi: “Rồi thời gian vụt qua đi, những di vật này ngày lại lặng im nằm đó, cũng như biết bao di vật đang âm thầm cô đơn nơi hoang vắng. Để rồi bao nấm mộ mãi mãi bị đè nặng bởi tấm bia đá lạnh lùng trong tên gọi: Vô danh!”. Tôi thấy đôi mắt chị long lanh một cách lạ kỳ, chứa trong đó bao tình cảm về những đồng đội…

Nhìn những di vật được xếp trang trọng trong bảo tàng, mấy ai cầm được nước mắt. Hòn đá núi khắc tên, hòn đá cuội khắc tên, mảnh cây khắc tên, cây bút khắc tên và đương nhiên cả tấm bia nữa… đó là những hàng chữ, những cái tên ấm áp nhưng cũng lạnh lùng một cách tàn nhẫn: Đ-H-Lượng; Trần Văn Lợi; Nguyễn Văn Sông… Nhưng họ quê ở đâu? thuộc đơn vị nào? Không ai biết. Thấy những cái tên, ai cũng thèm khát, nhưng ai dám chắc đó là con, em mình. Tấm bia, cái tên kia bỗng trở thành khoảng không nhức nhối.

Chị Tiến nghẹn ngào: “Tôi còn nợ liệt sĩ Bùi Ngọc Thuần một lời hứa trước khi chuyển hòn đá có khắc tên anh về bảo tàng. Một dòng tên khắc vào hòn đá núi: TK.B4. Bùi Ngọc Thuần. 12/12/66, phần mộ của anh đã được đưa về nghĩa trang đường 9, mộ số 300. Nhưng quê anh ở đâu? Ai là thân nhân? TK.B4 là đơn vị nào? Bốn năm rồi tôi hỏi khắp nơi mà chưa thấy có hồi âm”. Chị bảo: “Tôi ước chi tìm được mẹ cho anh để đưa anh về với mẹ”.

Những cuộc hành trình đầy nghĩa tình

Chuyến đi tìm di vật đầu tiên của chị là ngày 13/1/2000, khi ấy, nhận được tin đoàn quy tập Bộ chỉ huy Quân sự Quảng Bình chuyển hài cốt quân tình nguyện Việt Nam từ Khăm Muộn (Lào) về nghĩa trang Ba Dốc. Chị lập tức xin nghỉ bắt xe theo.

Chị cho tôi xem tấm ảnh được thấy trong hài cốt chỉ có tên là Hương, đó là một chiếc gương soi cỡ 5×8, mặt sau gương là một tấm kính cả hai ép vào nhau, ở giữa có một chiếc ảnh đen trắng cỡ 3×4 chụp một bà mẹ già khoảng 50 tuổi, đầu chít khăn vấn tròn. Không nhìn rõ mặt vì vết máu khô loang lổ.

Chị Tiến nhớ lại: Khi thấy tấm ảnh trong hài cốt, tất cả đều đoán người trong ảnh là mẹ liệt sĩ. Biết tôi có ý muốn giữ lại, một anh lính trẻ thủ thỉ: “Cô ơi, hành trang của anh ấy chỉ có thế thôi. Mẹ đã theo anh khắp chiến trường thì cứ để mẹ nằm với anh trong mộ, cô đừng lấy đi kẻo tôi anh ấy lắm!. Tôi phải thuyết phục mãi, rằng biết đâu tấm ảnh này sẽ đưa anh về với mẹ”.

Sau khi tấm ảnh được đăng trên một số báo thì phải đến 10 tháng sau, nhận được tin của người nhà liệt sĩ Hương rằng mẹ Diệp, người trong ảnh là mẫu thân liệt sĩ Hương (về sau xác định là Bùi Danh Hương) vẫn còn sống tại xã Thanh Long, Hưng Yên.

Chuyến đưa hài cốt liệt sĩ Hương về với mẹ là một kỷ niệm suốt đời tôi không bao giờ quên. Mẹ Diệp đã 94 tuổi, tai điếc nhưng linh cảm về đứa con trai bé bỏng thì còn vẫn còn nguyên. Mẹ cứ ôm bức ảnh của mình lấm lem cùng máu khô của con trai mà khắc khoải: “Nó đâu rồi, nó đâu rồi!” Khiến mọi người trong đoàn không ai cầm được nước mắt.

Ảnh minh họa


Chị Tiến với di vật của các liệt sỹ. ảnh Trọng Hiếu

Chị Tiến nói như lạc giọng: “Có những lần tìm được nhiều mộ quá. Tôi hoang mang đi trên mảnh đất quê mình mà thấy đau… Tôi không dám bước mạnh chân, còn biết bao đồng đội đang nằm cô lạnh trong lòng đất”.

Tôi không muốn ly kỳ hoá công việc tìm kiếm hài cốt, trả lại tên cho các liệt sĩ nhưng trong quá trình đi tìm của chị cũng có những sự ngẫu nhiên đến lạ lùng. Đôi mắt chị chợt xa xăm. Và dường như bên cạnh chị còn có chính các… liệt sĩ.

Chị kể: “Từ ngày 14/1 đến 26/1/2000 tôi phải đi sáu tỉnh, sang cả nước bạn Lào để theo từng đội quy tập đưa hài cốt liệt sĩ về. Khi trở về nhà trời đã gần sáng, tôi lăn ra ngủ để chuẩn bị đi tiếp vào Hà Tĩnh đón đoàn qui tập từ BuLiKhămXây (Lào) về. Định bụng chợp mắt một lúc cho lại sức nhưng quá mệt nên thiếp đi. Chính trong lúc thiếp đi đó, tôi thấy một anh bộ đội về trong giấc mơ, anh bảo “này O, O mà ngủ bây giờ là ốm đấy. O vào đón em về đi. Lần này nhiều di vật lắm”. Tôi giật mình tỉnh giấc và nhớ rằng còn phải đi Hà Tĩnh, thế là lại lên đường. Và trong 42 bộ hài cốt lần đó, tôi tìm được một lọ đựng mảnh giấy đã mờ, sau khi dùng kính lúp thì luận ra được tên anh: Trương Xuân Đình, E271, quê ở Bản Ngọc, Quỳ Hợp, Nghệ An. Tôi tin đó chính là anh bộ đội đã gặp trong giấc chiêm bao”.

Chị bảo, đến giờ chị vẫn nhớ như in khuôn mặt của anh bộ đội với chiếc răng khểnh trông rất duyên đó, chị ước giá mà đến được quê anh, có được tấm hình để xem có giống người trong mơ hay không.

Về sau này, bà giám đốc bỗng trở thành khách mời thường xuyên của chương trình “Người đương thời”. Tranh thủ những cơ hội “hiếm có” như vậy chị đưa lên những di vật mà mình đã sưu tầm. Và không ít trong số đó đã có người thân đến nhận.

Chị bảo: “Mệt lắm, nhưng cứ chứng kiến có bà con ở tận vùng cao, mãi 30 năm mới gom góp đủ tiền đi tìm mộ con, mà vẫn không thấy. Nhìn ông bố, bà mẹ, người vợ vẫn đỏ mắt trông chờ tin con mà se sắt lòng…”. Chị nổi tiếng đến nỗi 1080 của Hà Nội đã hỏi số điện thoại của chị để cung cấp cho thân nhân liệt sĩ.

Giọng chị chợt buồn: “Vậy mà cũng có người phao tin là thân nhân liệt sĩ trả tiền cho tôi nhiều, “trúng” lắm. Tôi buồn quá”. Thôi thì thiên hạ cũng lắm kẻ này, người nọ, họ bàn ra tán vào thế nào là tuỳ, mình làm việc tâm đức hơi đâu mà để ý. Tôi chắc là anh cũng nghĩ thế!”

****

Chiều, tôi vẫn lang thang giữa dòng bia mộ trắng xoá, khói hương bảng lảng, gió chiều vi vu. Chợt nhận ra còn quá nhiều nấm mồ không có tên. Lại vu vơ một niềm hy vọng, bởi trong vô vàn số không tên đó thể nào cũng có người được về với người thân bởi công việc thầm lặng của chị Tiến.

Người đi tìm tên đồng đội

Trung tá Nguyễn Thị Tiến – sinh năm 1955 trên mảnh đất nắng gió miền Trung (Nghi Lộc – Nghệ An). Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, chị về giảng dạy tại Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt, Đồng Tháp. Năm 1984, chị chuyển về làm cán bộ thuyết minh của Bảo tàng Quân khu IV.

Đồng cảm trước nỗi đau của thân nhân những liệt sĩ chưa tìm được hài cốt của con em mình, chị Tiến xin phép cơ quan đi theo các đội quy tập hài cốt liệt sĩ, sưu tập những di vật, vừa để giáo dục truyền thống, vừa hy vọng qua các di vật còn lại của liệt sĩ có thể tìm lại tên tuổi, quê hương của họ. Chị lặn lội khắp các chiến trường xưa. Mỗi lần như vậy, tranh thủ lúc anh em trong đội nghỉ giải lao, chị lụi cụi thắp hương, lần tìm và xin cất giữ các di vật, để đem về xác minh.

Chị đã tìm thấy hàng trăm di vật, từ cái cối giã trầu bằng vỏ đạn, chiếc lược nhôm, cặp tóc, vòng tay đến những tấm ảnh, bút mực Hồng Hà… Những di vật, những linh hồn tưởng như đã vĩnh viễn chôn chặt dưới lòng đất cùng phần mộ liệt sĩ vô danh, nay được chị Tiến nâng niu, cất giữ. Đối với chị, mỗi di vật là một câu chuyện cảm động, một nỗi đau riêng. Tất cả được chị tập trung nghiên cứu trong đề tài khoa học mang tên “Góp phần xác định liệt sĩ chưa biết tên và công tác bảo tồn trưng bày di vật”, được giải A cấp quân khu. Cho đến nay, chị đã góp phần trả lại tên cho hàng trăm liệt sĩ

.

Thứ Năm, 26/07/2007, 04:14 (GMT+7)

60 Năm ngày thương binh liệt sĩ

Những câu chuyện tìm lại tên anh

Trung tá Nguyễn Thị Tiến và những di vật tìm được từ mộ các liệt sĩ. Từ đây, chị tìm manh mối để đưa các anh về với gia đình – Ảnh: M.L.

TT – Đó là những câu chuyện về con tìm cha, em tìm anh, núm ruột tìm kiếm núm ruột. 32 năm sau cuộc chiến, những cuộc tìm kiếm vẫn chưa ngưng nghỉ. Làm việc ở Bảo tàng Quân khu 4, trung tá Nguyễn Thị Tiến chứng kiến những câu chuyện xúc động.

Nghe đọc nội dung toàn bài:

“…Con sẽ ôm ba mãi mãi”

Một buổi sáng, người thanh niên tên Trần Văn Sơn đến tìm trung tá Nguyễn Thị Tiến, phó giám đốc Bảo tàng Quân khu 4 (Vinh, Nghệ An). Đó là con trai liệt sĩ Trần Văn Bàn (thị trấn Sông Cầu, Phú Yên). Vừa đặt bó huệ lên đài tưởng niệm (phòng trưng bày di vật liệt sĩ), Sơn quì sụp, đập đầu rất mạnh xuống nền đá. Và khóc. Lần đầu tiên chị Tiến thấy một người con trai khóc như thế!

Cha Sơn tập kết ra Bắc và cưới mẹ. Ở với nhau được một năm thì cha vào Nam chiến đấu. Rồi hi sinh. Mẹ cũng về với cha khi Sơn mới một tuổi… Đứa con côi cút lớn lên với hình ảnh cha và mẹ qua lời kể của dì… Trái tim của người con khiến không thể giữ nổi đôi chân. Sơn quyết tâm đi tìm mộ cha. Khắp miền Nam, ở đâu có nghĩa trang liệt sĩ, ở đó có dấu chân Sơn. Bạn đồng hành của Sơn khắp nẻo đường gian nan là quyển sổ sinh hoạt Đảng đã ố vàng của cha – di vật duy nhất để lại.

Nhưng sổ ghi rất hạn chế. Gần thất vọng, chị Tiến lần giở trang cuối cùng, ở góc trên trang giấy bị nếp gấp, vuốt ra cho thẳng thì nhìn thấy ba chữ số viết bằng mực màu xanh lá cây: 812. Đó có thể là trung đoàn 812 của sư đoàn 324 thuộc Quân khu 4. Nếu đúng như thế thì có thể tìm ra manh mối rồi!

Sơn xúc động: “Nếu chuyến đi này con tìm được ba, con sẽ cởi chiếc áo đang mặc, đang có mùi mồ hôi của con, trải rộng ra, con xếp xương cốt ba vào, lấy hai cánh tay áo quàng ôm chặt ba con lại, coi như con ôm ba mãi mãi…”. Chứng kiến cảnh đó, vị nữ trung tá xúc động.

Chị liên lạc ngay với thiếu tướng Nguyễn Minh Long ở TP.HCM (nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 812). Biết ông đang thăm đồng đội tại Hà Nội, kế hoạch đi Hà Nội được vạch ra ngay.

Trong đêm đó, khi Sơn đang trên tàu thì ở Hà Nội, các cựu chiến binh trung đoàn 812 đã gọi nhau đến. Họ lần về quá khứ, hồi tưởng những trận đánh, bàn bạc để khoanh vùng khu vực hi sinh của liệt sĩ Trần Văn Bàn. Những thông tin được khớp nối… chắp ghép… Cuối cùng, một địa danh được khẳng định: huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị!

3g sáng. Tàu đến Hà Nội. Nhưng Sơn không dám đánh thức chủ nhà. Sớm mai. Vừa mở cửa, ông Long đã thấy một thanh niên đang bó gối, thiếp đi. Khuôn mặt nó sao mà giống Bàn quá! Người tướng già ôm lấy đứa con của đồng đội. Một già một trẻ nhìn nhau nghẹn ngào… Chỉ còn những giọt nước mắt.

Sơn lập tức trở vào Quảng Trị. Hơn 15 năm ròng rã, người con có tấm lòng hiếm có ấy mới tìm được cha, dù chỉ là hình hài trong nấm mộ…

“Hay là cho tôi một nửa…”

Trung tá Nguyễn Thị Tiến là người bảo vệ thành công đề tài khoa học “Xác minh lý lịch liệt sĩ chưa biết tên qua di vật nằm cùng phần mộ”. Bằng phương pháp đối chiếu, so sánh tổng hợp, điều tra, xác minh, tìm nhân chứng, giải mã ký hiệu đơn vị, thời gian hoạt động, địa bàn và thông qua hệ thống thông tin đại chúng (có trường hợp phải sử dụng công nghệ giám định gen), lý lịch của hơn 100 liệt sĩ chưa biết tên, quê quán có di vật nằm cùng đã được xác minh.

Chị Tiến bảo trường hợp một hài cốt liệt sĩ nhưng có nhiều thân nhân đến nhận không phải ít. Nhưng câu chuyện về liệt sĩ Ngô Khổng Minh (hi sinh tại bản Bua La Pha, Khăm Muộn, Lào) là một kỷ niệm đầy xúc cảm. Mấu chốt của câu chuyện bắt nguồn từ chữ viết trên di vật liệt sĩ là Hzo.K Muhx, viết theo phiên âm tiếng Nga, dịch ra tiếng Việt là Ngô K.Minh.

Khi mới công bố, một cựu chiến binh tên Ngô Văn Thưởng (Diễn Hoa, Diễn Châu, Nghệ An) đến xin nhận. Ông là cháu ruột của liệt sĩ Ngô Khắc Minh. Nhưng ông Thưởng chỉ giữ được có mỗi chiếc Huân chương chống Mỹ nên không có căn cứ để tìm đơn vị. Cùng lúc đó, một gia đình ở Thanh Chương (Nghệ An) tìm liệt sĩ Ngô Khổng Minh. Họ có đầy đủ giấy tờ liên quan. Nhất là giấy báo tử có tên đơn vị: sư đoàn 968. Chị Tiến vào ngay sư đoàn 968 (Quảng Trị) để xác minh. Đúng là có liệt sĩ Ngô Khổng Minh, hi sinh tại bản Bua La Pha!

Vậy là bí mật của chữ K. đã được giải mã.

Trong lúc mọi người chưa biết xử lý như thế nào thì ông Thưởng quệt nước mắt, miệng méo xệch, muốn nói mà môi cứ dính lại. Mãi ông mới thổn thức từng tiếng một: “Hay là các ông các bà cho tôi một nửa…”. Người lính già nấc nghẹn, hai tay ôm lấy mặt. Ông nơm nớp sợ nghe một lời từ chối. Trái tim ông sẽ vỡ vụn mất thôi!

Không ai cầm lòng được trước lời đề nghị quá đột ngột, bất ngờ này. “Tim tôi bị bóp nghẹt! Tôi khóc như một đứa trẻ có lỗi. Trời ơi, giá mà tôi tìm thấy cả hai liệt sĩ… Tôi hiểu ông Thưởng muốn xin một nửa, không phải là chia một nửa hài cốt mang về quê hương. Mà ông muốn trên bia mộ chỉ khắc chữ “Liệt sĩ Ngô K.Minh”. Để đến ngày giỗ liệt sĩ Ngô Khắc Minh thì ông ra mộ này thắp hương. Đến ngày giỗ liệt sĩ Ngô Khổng Minh thì gia đình ở Thanh Chương ra mộ này thăm viếng”, chị Tiến kể lại trong xúc động.

Gia đình liệt sĩ Ngô Khổng Minh hội ý. Và bất ngờ, cứ ngỡ là giấc mơ: họ đồng ý với đề nghị của ông Thưởng.

Từ đó, ngôi mộ ở nghĩa trang Ba Dốc (Quảng Bình) vẫn để nguyên chữ khắc trên bia: Ngô K.Minh.

MY LĂNG

Cô giáo Thùy Trâm – Tấm gương tích cực

tram

Tin vui của em đến vào những ngày đầu tháng 5 vừa qua khiến lòng tôi ấm áp rộn ràng. Từ lâu tôi đã định viết về em, một gương mặt trẻ đã nổi lên tỏa sáng trong mắt tôi và bè bạn. Lần này những dự đoán và hi vọng của tôi về em quả không sai. Những gì em đã nung nấu và thực hiện bằng quyết tâm khiến tôi ngưỡng mộ. Và trong cuộc đời dạy học  của mình, một trong những điều thú vị nhất mà tôi trân trọng, ấy là có cơ hội gặp gỡ những người trẻ năng động và tích cực như em.

Em chính  là cô giáo trẻ đất Tam Kỳ với 12 tuổi nghề, 37 tuổi đời, tên Lê Thị Thùy Trâm. Tôi gặp Trâm chỉ một lần vào tháng 7-2008 trong đợt tập huấn Báo Cáo Viên ngành Giáo Dục tại Cửa Lò, Nghệ An. Đó cũng là lần đầu em tham dự lớp tập huấn của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo về ”Đổi Mới Phương Pháp”. Chỉ sau ngày học và thảo luận đầu tiên, em tìm đến trao đổi cùng tôi. Có lẽ là do những tranh luận phản biện rất sôi nổi của lớp học về đổi mới PPDH phải bắt đầu từ người thầy và  về sự cần thiết phải hợp tác, giúp đỡ nhau, và tích cực chia sẻ những kinh nghiệm, tài nguyên dạy học chúng ta có được. Những người dạy học như chúng ta đều tâm niệm câu nói của Ralph Waldo Emerson: “Tri thức hiện hữu để được chuyển giao.” (Knowledge exists to be imparted). Vâng, nỗ lực của bản thân, của mỗi chúng ta để đạt đến thành công thực đáng quý, đáng tự hào, nhưng thành quả ấy sẽ quý giá hơn bội phần nếu nó được nhân rộng ra cho nhiều người hưởng thụ, sử dụng,  và khi ấy lợi ích giáo dục sẽ to lớn hơn rất nhiều. Rosemarie Rossetti cũng khuyên ta nên chia sẻ những thành quả của mình với người khác vì bằng cách đó ta sẽ có được sự thừa nhận và ủng hộ của nhiều người và chính ta cũng sẽ được lợi ích từ những gì người khác sẻ chia.

Thùy Trâm 2

Thực vui là  em cũng toàn tâm toàn ý với  cách tư duy  ấy. Em nói với tôi về những gì em đã ấp ủ, đã làm ra trong năm học 2007-2008 : Bộ Đồ Dùng Dạy Học môn Tiếng Anh cho bậc Trung học Cơ sở. Bộ Đồ Dùng Dạy Học của em khiến tôi ngạc nhiên một cách thích thú. Chẳng phải vì nó được đánh giá cao nhất trong kỳ thi Đồ Dùng Dạy Học của thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam năm học 2007-2008, mà vì  tính ứng dụng từ công nghệ thông tin và giá trị kinh tế thiết thực rất cao của nó đối với giáo viên đứng lớp Tiếng Anh cấp hai. Làm công tác chuyên môn trong lĩnh vực đào tạo giáo viên, tôi may mắn có nhiều dịp gặp gỡ, lắng nghe các thầy cô giáo trẻ, các cựu sinh viên của mình, tâm sự về những khó khăn trong nghề nghiệp.

Bản thân tôi cũng trăn trở rất nhiều khi nghe những nỗi niềm của các em từ những trường học ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc… về những vấn đề chưa giải quyết được trong thực tế của môi trường dạy học và cơ sở vật chất quá thiếu thốn. Các bạn trẻ nói về việc thiếu tài nguyên và đồ dùng dạy học. Làm sao để có tranh dạy học cho mọi tiết học, cho từng bài lên lớp với một lớp học đông có khi đến 50 em, khi mình vẽ chưa đẹp, mà lại không có đủ tiền cho 1 bộ tranh quá đắt. Thế nên tôi thực sự cảm động và vui mừng khi em đề nghị trao cho tôi Đồ Dùng Dạy Học của em gồm đủ số tranh cho bộ sách giáo khoa Tiếng Anh từ lớp 6 đến lớp 9 để phổ biến với cả lớp tập huấn.

Moon
Thực đẹp biết bao sự đáp ứng tích cực ấy xuất phát từ nhiệt tâm và tư duy tích cực của em. Những thành quả của em tôi muốn nêu lên để chia sẻ với mọi người về em như một trong những bông hoa đẹp của ngành giáo dục, một tấm gương tích cực không ngại khó để vượt khó. Còn nhớ trong một email của em gửi cho tôi như một lời giải thích cho động lực và nguồn cảm hứng cho những đồ dùng dạy học em đã làm ra. Em muốn sự bình đẳng về  cơ hội học hành trong các lớp Tiếng Anh của mình. Những học sinh nghèo hiếu học luôn có chút thiệt thòi, vì không có điều kiện tiếp xúc với các đĩa CD Rom dạy Tiếng Anh qua máy vi tính. Em muốn mỗi tiết dạy của mình trên Power Point có tác dụng kích thích hứng thú học tập và nâng cao chất lương dạy và học Tiếng Anh cho tất cả đối tượng học sinh.

Thực tế minh chứng cho tính ứng dụng rất cao của bộ đồ dùng dạy học em tạo ra. Như mọi thành viên của lớp học, tôi đã mang sản phẩm của em về giới thiệu  với giáo viên của địa phương mình. Sản phẩm ấy đã được đón nhận hết sức nồng nhiệt khi được giới thiệu qua Power Point trên màn hình và  máy chiếu, và giáo viên thấy được ý đồ của tác giả  về cách sử dụng trong điều kiện không có máy vi tính. Không ít lần trong năm học này, tôi đã nghe những lời cám ơn tác giả  về  tác dụng của bộ Đồ Dùng Dạy Học ấy từ  các thầy cô giáo dạy vùng sâu, vùng xa.  Do điều kiện dạy học ở những nơi đó còn hạn chế,  khó khăn; ngay cả thầy cô  không có máy vi tính, nên tổ Giáo viên góp chung tiền để đem bộ tranh ấy đi photocopy phóng lớn. Theo lời các bạn nói thì giá thành vừa rẻ, mà chất lượng tranh lại đẹp hơn nhiều lần so với photo từ sách giáo khoa. Bộ tranh ấy khi đưa vào dạy trên lớp, đã gây được sự thích thú và hiệu quả rất cao của giáo cụ trực quan.

Thùy Trâm 1
Các bạn không biết rằng chất lượng tranh đẹp có được là từ nhiều giờ em miệt mài trên máy vi tính để chỉnh sửa cho từng  tranh một với phần mềm Photoshop. Đó là nhờ sức trẻ nhạy bén với việc ứng dụng công nghệ thông tin. Ý thức được yêu cầu phải nâng cao trình độ của bản thân nên chỉ một năm sau khi tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng,  em vừa đi dạy ở Tam Kỳ, chăm sóc 2 con nhỏ, vừa tiếp tục học chương trình Đại học. Tốt nghiệp đại học, em lại trải qua một năm theo học ngoài giờ một khóa đào tạo về Kỹ thuật Máy Tính, dù khi đó cuộc sống còn bộn bề khó khăn (2001- 2002), nhưng em may mắn có được sự  động viên của ông xã làm việc trong một ngành khác.

Có lẽ chúng ta gặp nhau ở một điểm:  lạc quan, và tích cực trong cách nghĩ, cách làm. Chúng ta tin rằng việc đổi mới phương pháp dạy học phải bắt đầu từ sự đổi mới trong tư duy của người thầy. Muốn dạy học Tiếng Anh giao tiếp tích cực, lấy người học làm trung tâm, người giáo viên chúng ta không thể không tích cực vận động, đổi mới cách dạy, không thể chỉ truyền đạt kiến thức ngôn ngữ, ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng mà coi nhẹ các kỹ năng ngôn ngữ  phục vụ  giao tiếp tích cực.

Đổi mới PPDH không có nghĩa chúng ta đợi đến khi có đủ máy tính, máy chiếu và có thể dùng được Power Point. Chúng ta càng không thể để cái khó bó cái khôn, không đổ thừa cho hoàn cảnh khó khăn, hay chờ đợi một ngày nào đó cơ sở vật chất và phương tiện dạy học tốt lên, mới thực hiện yêu cầu đổi mới. Chúng ta không ngồi đó phàn nàn, hay than thở với nhau rằng chất lượng dạy và học Tiếng Anh của nước ta nhìn chung còn kém hiệu quả vì lý do này lý do khác. Mặt khác, chúng ta cũng không thể phủ nhận giá trị và hiệu quả rất cao của những tiết dạy qua máy tính và máy chiếu với phần mềm Power Point. Các bạn trẻ muốn đổi mới cũng không thể tách rời việc tự học tự  nâng cao trình độ của bản thân gắn với các ứng dụng về công nghệ thông tin.

Về mặt ứng dụng này, cũng có  nhiều lời tán thưởng của các thầy cô sử dụng sản phẩm của em dạy trên máy tính. Và chắc chắn em chưa biết điều này: Tháng 3/2009 vừa rồi, tổng kết hội thi Giáo Viên Giỏi cấp Tỉnh của Daklak, 100% tiết dạy dự thi Giáo Viên Giỏi môn Tiếng Anh, 42 tiết dạy dùng Power Point đều có sử dụng Đồ Dùng Dạy Học của em, trong đó có nhiều tiết dạy rất thành công. Một kết quả thực đáng vui mừng phấn khởi phải không em?
Thùy Trâm 3

Những ngày cao điểm trong tháng 5, rất bận rộn với mùa thi của học trò, lòng tôi rộn ràng niềm vui khi nhận một lúc nhiều tin vui em báo. Bộ đồ dùng dạy học cho năm học 2008-2009 của em: KIẾN TRÚC KHO DỮ LIỆU NGHE NHÌN DẠY TIẾNG ANH KHỐI THCS TRÊN PHẦN MỀM POWER POINT đoạt giải nhất của ngành Giáo Dục thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, mà em đã kịp gửi vào để sẻ chia với các đồng nghiệp Daklak cho đợt tập huấn hè sắp tới. Đồng thời, em đã vinh dự đạt danh hiệu cao nhất của Hội thi  Giáo viên giỏi môn Tiếng Anh cấp thành phố. Con trai em cũng được chọn dự thi Olympic môn Tin học lớp 10, và ngôi trường THCS Lý Tự Trọng Tam Kỳ nơi em công tác được tặng huân chương lao động hạng 3.

Còn điều này nữa, tôi lại quên không nói một phát hiện tuyệt vời em mới chia sẻ với tôi lời đáp cho câu hỏi canh cánh bên lòng các thầy cô dạy trên máy vi tính: Làm thế  nào để thoát khỏi sự lệ thuộc vào chiếc máy vi tính hay laptop khi mình phải trình chiếu PP (không timing tự động). Giáo viên cứ phải ngồi cạnh chiếc máy, rất hạn chế trong việc đi lại quan sát và điều khiển lớp. Em đã suy nghĩ mãi, thậm chí đã nhờ một kỹ thuật viên bậc cao cố vấn để tìm cách khắc phục hạn chế này, nhưng không thành công. Lần dự thi GVG tháng 4 vừa qua, em đã nhờ được một bạn phương xa mách nước và dù tiết kiệm cũng đã  nhờ mua bằng được cây bút điện tử bé tí  có thể dùng thay chuột máy tính dù em đứng ở bất cứ nơi nào trong lớp. Tôi lại có thêm một điều hay được em chia sẻ và trao đổi với  đồng nghiệp và các giáo viên dạy trên PP.

Thùy Trâm ơi, tôi chỉ muốn nói với em một lời ngưỡng mộ và cảm ơn từ đáy lòng tôi. Em, một cô giáo trẻ đã luôn tích cực, yêu nghề, không ngừng cố gắng học hỏi trau dồi bản thân, sáng tạo trong nghề nghiệp vì mình, vì học trò. Những thành công của em đáng giá nhiều lần khi được nhân rộng vượt ra khỏi phạm vi của một ngôi trường hay một địa phương. Cám ơn em, bông hoa đẹp của ngành giáo dục, cô giáo Lê Thị Thùy Trâm.

Huỳnh Huệ