Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Thời Kỳ Cổ Điển – “Khúc Hát Thanh Xuân” (“Wer Uns Getraut”) – Johann Strauss II

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc phẩm “Khúc Hát Thanh Xuân” (“Wer Uns Getraut”, “One Day When We Were Young”) của các nhạc sĩ Johann Strauss II, Oscar Hammerstein IIPhạm Duy.

Nhạc sĩ Johann Strauss II (25 tháng 10 1825 – 3 tháng 6 1899, tiếng Đức: Johann Baptist Strauß; còn được biết đến với các tên khác như: Johann Baptist Strauss, Johann Strauss, Jr., hay Johann Strauss the Younger) là một nhà soạn nhạc người Áo. Ông chủ yếu sáng tác nhạc nhẹ, đặc biệt là nhạc khiêu vũ và Operetta. Ông đã sáng tác hơn 400 Waltz, Polka, Quadrille và các loại nhạc khiêu vũ, cũng như một số Operetta và Ballet Dancing. Trong cuộc đời của mình, ông được gọi là “Vua nhạc Waltz”, và sau đó phần lớn chịu trách nhiệm phổ biến điệu Waltz tại Wien trong thế kỷ 19.

Năm Johann Strauss II 17 tuổi, khi cha ông Johann Strauss I bỏ gia đình đi với tình nhân, Emilie Trambusch, ông mới có thể thực sự học âm nhạc. Strauss II học hoà âm và đối vị với giáo sư lý luận âm nhạc Joachim Hoffmann. Strauss II gặp rất nhiều khó khăn trong những năm đầu sự nghiệp của mình.

Ông kết hôn ba lần. Chỉ lần thứ ba, ông mới sống trong hạnh phúc. Ông cưới Adele vào ngày 15/08/1887. Bà đã khuyến khích và khơi lại tài năng sáng tác của ông với những tác phẩm âm nhạc như “Der Zigeunerbaron”“Waldmeister”, cùng các điệu Waltz “Kaiser-Walzer”, “Kaiser Jubilaum”, “Marchen aus dem Orient” op. 444“Klug Gretelein” op. 462.

Nhạc sĩ Johann Strauss II.
Nhạc sĩ Johann Strauss II.
Nhạc sĩ Johann Strauss II và vợ Adele.
Nhạc sĩ Johann Strauss II và vợ Adele.

Ông đã sáng tác hơn 500 tác phẩm cho các thể loại nhạc khiêu vũ Waltzes, Polka, Diễn hành, và Galop. Ông là con của Johann Strauss I và là anh cả của Josef Strauss và Eduard Strauss. Johann Strauss II là thành viên nổi tiếng nhất của nhà Strauss. Ông được biết đến với tư cách là “Vua thể loại Waltz” và có những đóng góp to lớn cho sự nổi tiếng của Waltz tại Vienna thế kỷ 19.

Ông đã cách mạng hóa Waltz (Valse), phát triển nó từ một thể loại khiêu vũ quần chúng thành một loại hình giải trí trong cung đình của nhà Habsburg. Các tác phẩm của ông giành được tiếng vang lớn gồm có “The Blue Danube”, “Wein, Weib und Gesang”, “Tales from the Vienna Woods”, “Tritsch-Tratsch-Polka”, “Kaiser-Walzer”“Die Fledermaus”.

Những gì Johann Strauss cha khởi xướng ở Wien thì ba con trai của ông Johann Strauss (con), Joseph và Eduard Strauss tiếp tục và hoàn thiện, làm cho nhạc Walzer trở thành phổ biến và đưa nó tới tột đỉnh. Vì vậy người đời gọi dòng họ Strauss là triều đại Strauss trong âm nhạc. Sự nổi bật của dòng họ Strauss được thể hiện tại buổi hoà nhạc “Perpetual Music” (“Âm Nhạc Bất Tận) vào những năm 1860. Trong ba người con thì Johann Strauss II là nổi tiếng nhất.

Dàn nhạc Wiener Johann Strauss được thành lập năm 1866, thực hiện buổi diễn với cách chỉ huy truyền thống “Vorgeiger” là cầm một cây violin trên tay và cách này trở thành truyền thống gia đình nhà Strauss. Nhạc sĩ Áo Willi Boskovsky (1909-1991) biểu diễn nhạc của Strauss cũng theo truyền thống gia đình nhà Strauss. Điều này làm ta liên tưởng tới nhạc trưởng Hoà Lan (Holland) André Rieu chơi đàn violin khi chỉ huy dàn nhạc.

Johann Strauss sống 11 năm ở thành phố St. Petersburg trong thế kỷ 19th.
Johann Strauss sống 11 năm ở thành phố St. Petersburg trong thế kỷ 19th.

Năm 1929, nhạc sĩ Áo Clemens Krauss (1893-1954) tổ chức một chương trình đặc biệc chỉ trình diễn toàn nhạc của nhà Strauss với dàn nhạc Wien. Johann Strauss II được nhiều nhạc sĩ ngưỡng mộ: Richard Wagner thích nhạc phẩm “Wein, Weib und Gesang” (Rượu, đàn bà, và ca hát). Con gái của Strauss tìm đến Brahms để xin bút tích vào cái quạt của mình (một phong tục thời đó). Thường thì nhà soạn nhạc sẽ viết một vài dòng nhạc nổi tiếng nhất của ông và ký tên vào. Tuy nhiên, Brahms đã viết một đoạn của một bản nhạc Walzer nổi tiếng của Strauss và viết ở dưới rằng: “Thật không may, đây không phải là bản nhạc của Johannes Brahms”.

Những người hâm mộ khác như nhạc sĩ Đức Richard Strauss khi sáng tác bản nhạc Walzer “Rosenkavalier” của mình đã nói: “Làm sao tôi có thể quên được thiên tài tươi vui (Johann Strauss II) của Wien”. Ngày nay âm nhạc của nhà Strauss được biểu diễn ở buổi hòa nhạc thường niên đầu năm – Neujahrskonzert – của dàn nhạc Wien.

Nhạc phẩm “Khúc Hát Thanh Xuân” (“Wer Uns Getraut”) nguyên thủy được trích ra trong kho tàng âm nhạc cổ điển từ vở nhạc kịch operette “Der Zigeunerbaron” (“The Gypsy Baron”) bài số 10 trong bộ sưu tập nhạc Valse của nhạc sĩ Johann Strauss II. Trích đoạn này mang tên tiếng Đức “Wer Uns Getraut” (nghĩa: “Ai Thành Hôn Cho Chúng Ta”). Từ đó đến nay đây là nhạc phẩm đã được không biết bao nhiêu ca nhạc sĩ lừng danh trên thế giới trình bày.

Nhạc sĩ Oscar Hammerstein II.
Nhạc sĩ Oscar Hammerstein II.

Oscar Hammerstein II tên đầy đủ là Oscar Greeley Clendenning Hammerstein II (/ˈhæmərstaɪn/; July 12, 1895 – August 23, 1960) là một nhạc sĩ người Mỹ chuyên viết lời cho nhạc kịch hay các bản trường ca trong vòng gần 40 năm. Ông được 8 giải Tony Awards và 2 giải Academy Awards cho Best Original Song trong sự nghiệp của ông.

Các bản nhạc quen thuộc của ông thường được các ca nhạc sĩ nhạc Jazz trình bày. Oscar Hammerstein II là người viết lời và kịch bản hợp tác với nhạc sĩ Jerome Kern (ông đồng sáng tác “Show Boat”, “Vincent Youmans”, “Rudolf Friml”, “Richard A. Whiting and Sigmund Romberg”; nhưng tên tuổi ông vang lừng và được biết đến nhiều nhất là sự hợp tác giữa ông với nhạc sĩ Richard Rodgers, người mà ông đồng sáng tác các bài “Oklahoma!”, “Carousel”, “South Pacific”, “The King and I”, và “The Sound of Music”.

khtx_bìa Đức

khtx_Valse 10 Johann Strauss II-1

Nhạc phẩm “Wer Uns Getraut” (Nhạc sĩ Johann Strauss II – Nguyên bản tiếng Đức trong vở nhạc kịch operette “Der Zigeunerbaron” do hai ca sĩ sorprano Carmen Monarcha và tenor Morschi Franz trình diễn)

Morschi Franz hát:

Wer uns getraut?
Ei sprich!

Carmen Monarcha hát:

Sag’ Du’s!

Morschi Franz hát:

Der Dompfaff, der hat uns getraut!

Choir hát:

Der Dompfaff, der hat sie getraut! Ja, ja!

Morschi Franz hát:

Im Dom, der uns zu Häupten blaut!

Carmen Monarcha hát:

O seht doch, wie herrlich, voll Glanz ihr Majestät!

Morschi Franz hát:

Mit Sternengold,
Mit Sternengold,
So weit Ihr schaut, besä’t!

Carmen Monarcha hát:

Und mild sang die Nachtigall
Ihr Liedchen in die Nacht:
Die Liebe, die Liebe
Ist eine Himmelsmacht!

Carmen Monarcha và Morschi Franz song ca:

Ja – mild sang die Nachtigall
Ihr Liedchen in die Nacht:
Die Liebe, die Liebe
Ist eine Himmelsmacht!

khtx_ODWWWY bìa

khtx_ODWWWY1

Nhạc phẩm “One Day When We Were Young” – (Nhạc: Johann Strauss II – Bản tiếng Anh của NS Oscar Hammerstein II)

One day when we were young
That wonderful morning in May
You told me you loved me
When we were young one day

Sweet songs of spring were sung
And music was never so gay
You told me you loved me
When we were young one day

You told me you loved me
And held me close to your heart
We laughed then, we cried then
Then came the ti-ime to part

When songs of spring are sung
Remember that morning in May
Remember you loved me
When we were young one day

We laughed then, we cried then
Then came the ti-ime to par-art
When songs of spring are sung
Remember that morning in May
Remember you loved me
When we were young one day…

Nhạc sĩ Phạm Duy.
Nhạc sĩ Phạm Duy.

khtx_Khúc Hát Thanh Xuân1

khtx_Khúc Hát Thanh Xuân2

Nhạc phẩm “Khúc Hát Thanh Xuân” (“Wer Uns Getraut” – bản tiếng Việt của NS Phạm Duy)

Ngày ấy khi Xuân ra đời
Một trời bình minh có lũ chim vui
Có lứa đôi, yêu nhau rồi
Hẹn rằng còn mãi không nguôi

Nhạc lắng hương xuân bồi hồi
Như vì tình ai tiếng hát lên ngôi
Nói với nhau, yêu nhau rồi
Một ngày còn mới tươi môi.

Rồi nắm tay cùng nói vui
Những câu êm êm không rời vai.
Rồi lả lơi, hình dáng ai
Khuất xa biến vào nẻo khơi.

Từ đó khi xuân tái hồi
Cho bùi ngùi thương nhớ tới xa xôi.
Nhớ tới câu thương yêu người
Một ngày tuổi mới đôi mươi.

Dưới đây mình có bài:

– ONE DAY (Khúc hát thanh xuân), STRAUSS & HAMMERSTEIN (trích)

Cùng với 14 clips tổng hợp nhạc phẩm “Khúc Hát Thanh Xuân” (“Wer Uns Getraut”) để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

khtx_OD bài

ONE DAY (Khúc hát thanh xuân), STRAUSS & HAMMERSTEIN (trích)

(Hoài Nam)

Trong bài kỳ này và kỳ tới, chúng tôi xin giới thiệu hai ca khúc nổi tiếng của thập niên 1930 – một thật vui, một rất buồn. Bản vui là One Day When We Were Young, được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Khúc hát thanh xuân; bản buồn là Sombre Dimanche, được ông đặt tựa Chủ Nhật Buồn, và Nam Lộc với tựa Chủ Nhật Xám.

Trước hết nói về bản One Day When We Were Young. Như chúng tôi đã trình bày trước đây, theo sự phân chia của các nhà nhạc sử, thời kỳ hiện đại của âm nhạc tây phương nói chung, được bắt đầu cùng với thế kỷ 20. Trong lĩnh vực sáng tác ca khúc cũng thế, những ca khúc đầu tiên của nền nhạc hiện đại (modern songs), như các bản Serenata (Chiều tà), Torna a Surriento (Về mái nhà xưa), La Cumparsita (Vũ nữ thân gầy)… đều được sáng tác vào những năm đầu thế kỷ thứ 20.

Tuy nhiên bên cạnh đó, cũng có những trường hợp đặc biệt. Chẳng hạn bản La Paloma (Cánh buồm xa xưa), vốn được xem là ca khúc đầu tiên của nền nhạc hiện đại, đã được Sebastian Yradier viết vào năm 1863.

Bản One Day When We Were Young cũng là một trường hợp đặc biệt: phần nhạc của nó đã được viết vào năm 1885, tức là thời kỳ lãng mạn trong nền nhạc cổ điển. Vì thế, trong hồi ký của mình, Phạm Duy đã gọi One Day When We Were Young là nhạc cổ điển (có lẽ ý ông muốn nói tới nhạc chứ không kể tới lời hát).

Miliza Korjus (1909-1980).
Miliza Korjus (1909-1980).

Cho tới nay, One Day When We Were Young vẫn được xem là một trong những ca khúc theo thể điệu valse quen thuộc và được ưa chuộng nhất thế giới. Điều đó cũng không có gì khó hiểu, bởi tác giả của bản One Day When We Were Young nguyên thủy không ai khác hơn là Johann Strauss II (đệ Nhị), “Ông vua điệu luân vũ thành Viên”, người đã để lại cho hậu thế bản valse bất hủ Le Beau Danube Bleu (Blue Danube – Dòng Sông Xanh).

One Day When We Were Young – thường được gọi tắt là “One Day” – nguyên là một khúc hát trong cảnh 2 của vở operetta (opera ngắn) số 10 của Johann Strauss II viết vào năm 1885; đó là vở Gypsy Baron (Vị nam tước bụi đời). Trong nguyên tác, khúc hát này có tựa là “Who tied the knot?” (Ai đã kết hôn?).

khtx_OD bìa

Như chúng tôi đã trình bày trong bài nói về bản Dòng Sông Xanh, giữa hai cha con cùng là nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng nổi tiếng – tức Johann Strauss I và Johann Strauss II – có một sự xung khắc kịch liệt, nhất là của ông bố đối với con trai. Tình trạng này bắt nguồn từ việc ông bố chỉ muốn con trai trở thành trạng sư trong khi cậu lại say mê âm nhạc, tiếp theo là việc ông bố bỏ vợ con để xây tổ ấm với một cô đào trẻ.

Về sau, khi ông con Johann Strauss II đã nổi tiếng, sự kình chống càng trở nên gay gắt vì cạnh tranh nghề nghiệp. Hí viện nào đã từng mời ông con trình diễn thì ông bố không bao giờ thèm đặt chân tới. Sự kình chống giữa hai cha con Johann Strauss đã trở thành giai thoại thú vị trong làng nhạc đương thời cũng như đám hậu sinh. Bước sang thế kỷ thứ 20, một nhóm nhà soạn nhạc và ca kịch của Áo đã dựa vào giai thoại này cùng với các sáng tác Johann Strauss II để thực hiện một vở ca nhạc kịch có tựa đề Waltzer aus Wien (Waltzes from Vienna – Những bản luân vũ thành Viên), trình diễn ra mắt tại hí viện Stadttheater ngày 30 tháng 10 năm 1930.

Bốn năm sau (1934), vở này kịch này được dựng lại tại Nhà hát Trung ương ở Broadway, thủ đô kịch nghệ của Hoa Kỳ, với tựa tiếng Anh The Great Waltz – Bản luân vũ để đời.

“Bản luân vũ để đời” ở đây chính là bản “Who tied the knot?” trong vở “Gypsy Baron’” của Johann Strauss II đã nói tới ở đoạn trên.

Vở The Great Waltz đã đạt thành công rực rỡ với 289 xuất diễn liên tục. Năm 1938, vở ca kịch này đã được hãng phim MGM đưa lên màn bạc, giữ nguyên tựa The Great Waltz nhưng với lời hát mới do Oscar Hammerstein II đặt.

Tới năm 1949, hai nhà soạn nhạc nổi tiếng của Mỹ là Robert Wright và George Forrest đã phóng tác nhạc và lời hát trong vở operetta “Gypsy Baron” nguyên thủy của Johann Strauss II thành một vở The Great Waltz khác, để diễn tại nhà hát Los Angeles Civic Light Opera.

Vở này đã được đưa lên sân khấu West End ở Luân-đôn năm 1970 với 605 xuất diễn liên tục. Năm 1972, vở The Great Waltz thứ hai này cũng được đưa lên màn bạc.

Như vậy, chỉ tính lời hát bằng tiếng Anh, bản “Who tied the knot?” trong vở “Gypsy Baron” nguyên thủy của Johann Strauss II đã có ba lời hát khác nhau, và lời hát hiện nay chúng ta thường nghe qua băng, đĩa hát – One Day When We Were Young – là lời hát do Oscar Hammerstein II soạn cho cuốn phim The Great Waltz năm 1938.

One day when we were young
That wonderful morning in May
You told me you loved me
When we were young one day
Sweet songs of spring were sung
And music was never so gay
You told me you loved me
When we were young one day
You told me you loved me
And held me close to your heart
We laughed then, we cried then
Then came the ti-ime to part
When songs of spring are sung
Remember that morning in May
Remember you loved me
When we were young one day
We laughed then, we cried then
Then came the ti-ime to par-art
When songs of spring are sung
Remember that morning in May
Remember you loved me
When we were young one day…

Oscar Hammerstein II (1895-1960).
Oscar Hammerstein II (1895-1960).

Oscar Hammerstein II (1895-1960) là nhà sản xuất kịch nghệ, đạo diễn sân khấu và nhà viết lời hát hàng đầu của Hoa Kỳ trong khoảng thời gian trải dài 40 năm từ sau thế chiến thứ nhất cho tới cuối thập niên 1950.

Ông đã đoạt 8 giải Tony (kịch nghệ) và 2 giải Oscar (cho ca khúc viết cho phim). Tổng cộng, ông đã viết lời cho 850 ca khúc, trong đó ngoài bản One Day… không thể không nhắc tới các khúc hát trong vở The Sound of Music (do Richard Rodgers viết nhạc), trình diễn ra mắt trên sân khấu Broadway năm 1959 (9 tháng trước khi ông qua đời vì ung thư), và trở thành vở ca nhạc kịch (musical) được diễn đi diễn lại nhiều lần nhất trong lịch sử.

Năm 1965, The Sound of Music được hãng 20thCentury Fox đưa lên màn bạc với nữ diễn viên Anh (Dame) Julie Andrews thủ vai nữ chính. Cuốn phim đã đoạt 5 giải thưởng Oscar, trong đó có Oscar cho phim hay nhất trong năm (Best Picture) và đã “hạ bệ” phim Cuốn theo chiều gió (Gone With the Wind) để trở thành cuốn phim có số thu cao nhất lịch sử điện ảnh. Hiện nay, The Sound of Music vẫn còn đứng hạng 5 trong danh sách.

Trở lại với cuốn phim The Great Waltz năm 1938, bản One Day… trong phim đã được đệ nhất nữ danh ca soprano đương thời kiêm diễn viên Miliza Korjus trình bày.

Miliza Korjus (1909-1980).
Miliza Korjus (1909-1980).

Miliza Korjus (1909-1980) xuất thân dòng dõi quý tộc mang ba dòng máu Estonia + Lithuania + Ba-lan. Sau khi kết hôn với một bác sĩ người Đức, Miliza Korjus được Nhà hát Opera Quốc gia Bá-linh (Berlin State Opera) mời cộng tác, và từ đó đã được xưng tụng là Con họa mi thành Bá-linh (Berlin Nightingale) và nổi tiếng khắp Âu châu. Năm 1938, Miliza Korjus được mời sang kinh đô điện ảnh Hồ-ly-vọng để thủ một vai phụ (và hát bản One Day…) trong phim The Great Waltz, và đã được xướng danh tranh giải Oscar cho nữ diễn viên vai phụ xuất sắc nhất.

Cùng thời gian, hãng đĩa hát RCA Victor của Mỹ đã cho phát hành đĩa One Day… do Miliza Korjus hát trọn bài dài 3 phút rưỡi (trong phim, cảnh Miliza Korjus hát dài chưa đầy 2 phút), tuy nhiên chất lượng âm thanh và độ trung thực (fidelity) của đĩa hát này bị chê là quá kém.

Một năm sau, One Day… đã được nữ danh ca Anh (Dame) Gracie Fileds (1898 – 1979) trình bày, và rất được người Anh ưa chuộng, nhất là tại các đơn vị quân đội Hoàng gia Anh nơi bà tới trình diễn trong thời gian Đệ nhị Thế chiến.

khtx_Gracie Fields

Rất tiếc, vì những rối loạn do chiến tranh gây ra, bản chính (master) do Gracie Fileds hát, lưu giữ trong phòng thu âm đã bị thất lạc, cho nên sau này người ta phải “copy từ copy”, cho nên chất lượng âm thanh và độ trung thực cũng không khá gì hơn đĩa của Miliza Korjus.

Trong số những bản One Day… hiện đang được phổ biến “free” trên Internet, được ưa thích nhất là bản trình bày dưới hình thức song ca nữ của trang mạng beemp3.com. Độc giả nào thường download nhạc từ Internet có lẽ cũng biết beemp3.com là một trang mạng uy tín, thế nhưng riêng trong trường hợp của bản One Day… này, chỉ thấy ghi nguồn cung cấp chứ không thấy ghi tên ca sĩ trình bày.

Nghe phần nhạc đệm, chúng tôi tin rằng bản này được thu đĩa vào khoảng thập niên 1950, hoặc sớm hơn.

Trong số những danh ca thuộc thế hệ mới nhất hát bản One Day, có thể nói đĩa hát của nữ ca sĩ gốc Hoa Jane Zhang (tiếng Hoa: Zhang Liangying, phiên âm Hán Việt là Trương Lương Dĩnh) hiện đang được ưa chuộng nhất.

Jane Zhang sinh năm 1984 tại Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên. Năm 2005, cô tham dự cuộc thi Super Girl, là cuộc thi ca nhạc thường niên lớn nhất ở Trung Quốc, do hệ thống truyền hình vệ tinh Hồ Nam (Hunan Satelite Television) tổ chức. Tuy chỉ đứng hạng ba, nhưng Jane Zhang lại được khán thính giả ái mộ nhất, bởi vì cô không chỉ có khuôn mặt xinh đẹp khả ái, thân hình lý tưởng, đôi mắt thu hút, có khả năng hát bằng tiếng Quảng Đông, Quan Thoại, tiếng Anh và Tây-ban-nha (Jane Zhang tốt nghiệp khoa ngoại ngữ tại Đại học Tứ Xuyên) mà còn có một giọng soprano cao vút, được truyền thông Hoa ngữ xưng tụng là “giọng hát thiên thần”.

Jane Zhang.
Jane Zhang.

Giọng hát của Jane Zhang đạt tới bậc cao nhất mà con người có thể đạt được, mà từ chuyên môn trong âm nhạc gọi là “whistle register”.

Chính vì thế, Jane Zhang đã thành công rực rỡ khi trình bày những ca khúc đòi hỏi chất giọng cao vút của Mariah Carey, Christina Aguilera, như Hero, I Still Believe, Beautiful…, và cả bản Don’t Cry for Me Argentina bất hủ trong vở ca nhạc kịch Evita. Jane Zhang cũng là nữ ca sĩ Á đông duy nhất được mời lên talk-show của Oprah Winfrey.

One Day When We Were Young được Phạm Duy đặt lời Việt vào năm 1942 với tựa Khúc Hát Thanh Xuân. Trong hồi ký của mình, ông viết:

…Tôi khởi sự soạn lời ca tiếng Việt để hát với nhạc Âu Mỹ khi tôi vừa bước vào tuổi 15, 20. Khi đó, ở Việt Nam, phong trào cải lương, cải cách trong văn học nghệ thuật đã ra đời. Thơ Mới đã có mặt với những thi phẩm của Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu v.v…, đồng thời Cải Lương Nam Kỳ cũng đang dần dà xâm chiếm sân khấu của Chèo Cổ, Tuồng Cổ… Về Âm Nhạc, để thay thế cho nhạc cổ, qua những bài ta theo điệu Tây của các nghệ sĩ Năm Châu, Tư Chơi… một nền nhạc mới đang trong thời kỳ chuẩn bị (Nhạc Cải Cách) để sẽ tiến tới thời kỳ thành hình (Tân Nhạc)…

Trong khi các nghệ sĩ kể trên chọn nhạc bình dân Pháp để soạn lời thì tôi chọn nhạc cổ điển Âu Tây để ca hát. Loại nhạc valse của Johann Strauss tuy là nhạc cổ điển nhưng có bài được phổ biến dưới hình thức ca khúc phổ thông. Ngoài bài valse bất hủ là LE BEAU DANUBE BLEU, Johann Strauss có một bài valse khác cũng được nhiều người biết đến là bài WHEN WE WERE YOUNG. Tôi soạn lời ca tiếng Việt để hát chơi trong đám bạn bè. Ðây cũng là lúc tôi phổ nhạc bài thơ CÔ HÁI MƠ của Nguyễn Bính tại Hưng Yên sau khi thôi học tại Trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Hà Nội…

(Cô Hái Mơ là sáng tác đầu tay của Phạm Duy – chú thích của Hoài Nam)

KHÚC HÁT THANH XUÂN

Ngày ấy khi Xuân ra đời
Một trời bình minh có lũ chim vui
Có lứa đôi, yêu nhau rồi
Hẹn rằng còn mãi không nguôi
Nhạc lắng hương xuân bồi hồi
Như vì tình ai tiếng hát lên ngôi
Nói với nhau, yêu nhau rồi
Một ngày còn mới tươi môi.
Rồi nắm tay cùng nói vui
Những câu êm êm không rời vai.
Rồi lả lơi, hình dáng ai
Khuất xa biến vào nẻo khơi.
Từ đó khi xuân tái hồi
Cho bùi ngùi thương nhớ tới xa xôi.
Nhớ tới câu thương yêu người
Một ngày tuổi mới đôi mươi.

So sánh bản lời Việt của Phạm Duy với bản lời Anh của Oscar Hammerstein II, tuy không thể gọi là một bản dịch, chúng ta thấy nội dung cũng tương tự, đó là những hoài niệm về tuổi thanh xuân, ngày hai người yêu nhau, thề hứa, rồi chia tay, nhưng vẫn mãi mãi là những kỷ niệm đẹp của đời người.

Trước và sau năm 1975, Khúc Hát Thanh Xuân đã được rất nhiều ca sĩ trình bày, như Thái Thanh, Hà Thanh, Mai Hương, Quỳnh Giao, Thanh Lan, Thái Hiền, Hương Lan, Phương Hồng Quế, Ái Vân, Hồng Nhung, Trần Thu Hà, Ngọc Hạ, Thu Phương…

Sau đây chúng tôi xin gửi tới độc giả hai bản điển hình nhất do các tiếng hát của Thái Hiền (hát theo thể điệu valse nguyên thủy) và Trần Thu Hà (theo thể nhạc Blues).

(Hoài Nam)

oOOo

Wer Uns Getraut – Nhạc sĩ vĩ cầm André Rieu:

 

Wer Uns Getraut – soprano Carmen Monarcha (Brasil) và tenor Morschi Franz (Holland) hát “Wer Uns Getraut” từ vở nhạc kịch operette “Der Zigeunerbaron” dưới sự điều khiển của nhạc trưởng Andre Rieu (Holland) và ban nhạc The Johann Strauss Orchestra của ông ở Dresden Semperoper, Germany, Aug. 30, 2008.

 

Wer Uns Getraut – Ca sĩ Helen Donath & Werner Hollweg:

 

Wer Uns Getraut – Ca sĩ Rudolf Schock & Erika Köth:

 

Wer Uns Getraut – Ca sĩ Martina Serafin & Zachos Terzakis

 

One Day When We Were Young – Ca sĩ Christine Samson:

 

One Day When We Were Young – Ca sĩ Jane Zhang:

 

One Day When We Were Young – Ca sĩ Frank McCaffery:

 

One Day When We Were Young – Ca sĩ Webster Booth:

 

Khúc Hát Thanh Xuân (One Day When We Were Young) – Ca sĩ Ái Vân:

 

Khúc Hát Thanh Xuân (One Day When We Were Young) – Ca sĩ Kiều HưngCa sĩ Kiều Hưng:

 

Khúc Hát Thanh Xuân (One Day When We Were Young) – Ca sĩ Mai Hương:

 

Khúc Hát Thanh Xuân (One Day When We Were Young) – Ca sĩ Thái Hiền:

 

Khúc Hát Thanh Xuân (One Day When We Were Young) – Ca sĩ Thanh Lan, Ngọc Hạ:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s