Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Thời kỳ Hiện Đại – “Hoa Hạnh Phúc”, “Cuộc Đời Hồng” (“La vie en rose”) – Édith Piaf & Louis Guglielmi

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giời thiệu đến các bạn nhạc phẩm “Hoa Hạnh Phúc”, “Cuộc Đời Hồng” (“La vie en rose”) của các ca nhạc sĩ Édith Piaf, Louis Guglielmi, Julie Quang,Diệu Hương.

Édith Giovanna Gassion, thường được biết đến với nghệ danh Édith Piaf và trước đó là La Môme Piaf (19 tháng 12 năm 1915 – 10 tháng 10 năm 1963) là nữ ca sĩ huyền thoại của Pháp thế kỷ 20. Édith Piaf được biết tới qua rất nhiều bài hát nổi tiếng như “La vie en rose”, “Non, je ne regrette rien”, “Hymne à l’amour”, “Mon Légionnaire” hay “Milord”. Bà còn là một diễn viên sân khấu và điện ảnh cũng như là người đỡ đầu cho nhiều ca sĩ mới mà sau đó đã trở thành ngôi sao của ca nhạc Pháp như Yves Montand và Charles Aznavour.

Édith Giovanna Gassion sinh ngày 19 tháng 12 năm 1915 tại số 72 đường Belleville thuộc quận 20, Paris, Pháp. Bố của Édith là một nghệ sĩ xiếc uốn dẻo người Pháp tên là Louis Alphonse Gassion (1881-1944) còn mẹ Édith là một ca sĩ đường phố gốc Pháp-Ý-Algérie tên là Annetta Maillard (1895-1945).

Do hoàn cảnh cuộc sống quá khó khăn, Annetta Maillard giao phó con gái cho mẹ mình là bà Aïcha Saïd Ben Mohammed (1876-1930), một phụ nữ gốc Algérie nuôi nấng. Không may cho Édith, bà Aïcha mắc bệnh nghiện rượu và bỏ mặc cô bé trong căn phòng bẩn thỉu không có nước và cũng chẳng có phương tiện vệ sinh, ngay đến bình sữa của Édith cũng chỉ làm từ chai rượu vang. Vì vậy cô bé mắc đủ thứ bệnh, từ suy dinh dưỡng nặng đến eczéma, Édith phải sống trong tình trạng này suốt 18 tháng đầu tiên trước khi bố cô, người vừa trở về từ mặt trận, giành lại quyền nuôi dưỡng từ tay người bà vô trách nhiệm và gửi cô bé cho bà nội, vốn là một chủ nhà chứa ở Bernay, Normandie (nay là Batilly [Orne]) nuôi dưỡng.

Được các phụ nữ hành nghề trong nhà chứa của bà nội chăm sóc, Édith dần dần khôi phục lại sức khỏe, tuy vậy đến năm 7 tuổi tai họa lại ập đến với cô bé khi Édith bị mắc chứng mù tạm thời do giác mạc bị tổn thương vì keratitis. Với hy vọng chữa lành cho Édith, bà nội cô đã đưa cô bé cùng các cô gái bán dâm đến cầu nguyện trước mộ của Thánh nữ Thérèse Martin ở Lisieuxvới hy vọng phép mầu sẽ giúp cô bé 7 tuổi khỏi bệnh. Và thực sự sau đó Édith Piaf đã nhìn lại được, từ đó trở đi cô luôn giữ bên mình chiếc dây chuyền có hình Thánh nữ Thérèse và thường xuyên cầu nguyện trước vị nữ Thánh.

Ca nhạc sĩ Édith Piaf thời trẻ.
Ca nhạc sĩ Édith Piaf thời trẻ.
Ca nhạc sĩ Édith Piaf.
Ca nhạc sĩ Édith Piaf.
Tượng Édith Piaf tại Ba Lan.
Tượng Édith Piaf tại Ba Lan.

Thế chiến thứ nhất kết thúc, ông Louis Alphonse được giải ngũ và tiếp tục cuộc đời của một nghệ sĩ xiếc rong nghèo khổ, Édith được ông mang theo và cô bắt đầu thể hiện chất giọng tuyệt vời bẩm sinh bằng các bài hát trình diễn trước đám đông, giống như mẹ cô đã từng trình diễn trên đường phố.

Tháng 2 năm 1933, ở tuổi 17, cô có đứa con gái đầu tiên và cũng là duy nhất, Marcelle, với người tình thời đó là Louis Dupont. Cũng không thể nuôi dưỡng được con gái, Édith đã phải chứng kiến Marcelle qua đời khi mới lên 2 tuổi do mắc chứng viêm màng não.

Cuộc đời trên đường phố của Édith chấm dứt vào năm 1935 khi cô được phát hiện bởi ông bầu Louis Leplée, chủ phòng trà (cabaret) Le Gerny’s nằm trên đại lộ Champs-Élysées, Paris. Leplée chọn cho cô nghệ danh là La Môme Piaf có nghĩa là con chim sẻ nhỏ hay cô gái xấu xí, cần biết rằng Édith khi đó là một thiếu nữ rất nhỏ bé và nhút nhát, cô chỉ cao có 1 mét 42. Thành công lập tức đến với cô khi cả khán giả và giới nghệ sĩ đều thán phục trước chất giọng tuyệt vời của Édith, trong số các nghệ sĩ ấn tượng bởi giọng hát của La Môme Piaf có hai nhạc sĩ Raymond Asso và Marguerite Monnot, những người sau đó trở thành cộng tác và bạn thân thiết của Édith, Marguerite chính là người viết nhạc cho rất nhiều bài hát nổi tiếng của Édith như “Mon Légionnaire”, “Hymne à L’amour”, “Milord” và “Amants d’un jour”.

Năm 1936, Édith ghi âm đĩa hát đầu tiên, đĩa Les Mômes de la cloche ở hãng ghi âm Polydor, đây lại là một thành công mới của cô. Tuy vậy vào tháng 4 cùng năm, con đường nghệ thuật của Édith gặp trắc trở lớn khi ông bầu Leplée bị giết ngay tại nhà riêng ở Paris. Thủ phạm của vụ án là những tên côn đồ sống tại khu Pigalle, một trong số này lại có quan hệ với Édith và lập tức cô bị nghi là có dính líu tới vụ án. Tuy sau đó cô được tuyên bố vô tội nhưng cô bị đẩy khỏi phòng trà, sự nghiệp mới loé sáng chợt tắt ngấm và Édith buộc phải trở lại sự nghiệp ca hát đường phố hoặc trong các quán rượu bình dân xô bồ.

Trong giai đoạn khó khăn, một người bạn của Édith, nhạc sĩ Raymond Asso (tác giả của “Mon Légionnaire” và “Le Fanion de la Légion”) đã giúp đỡ cô tìm chỗ biểu diễn tại các nhà hát nhỏ (music-hall) và nhất là giúp cô luyện tập kỹ năng biểu diễn để trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp thực sự. Tháng 3 năm 1937, Édith trình diễn buổi đầu tiên tại nhà hát tạp kỹ (music-hall) ABC ở Paris. Chính tại đây, Édith đã lập tức toả sáng và trở thành ngôi sao lớn của nền nhạc nhẹ Pháp, cô được cả khán giả xem trực tiếp và các thính giả nghe qua đài phát thanh hâm mộ. Asso cũng đề nghị Édith đổi nghệ danh thành Édith Piaf, đây là nghệ danh mà Édith sử dụng đến cuối đời.

Edith Piaf và Yves Montand.
Edith Piaf và Yves Montand.

Trong thập niên 1930, Édith còn biểu diễn tại music-hall Bobino và tham gia vở kịch Le Bel Indifférent (1940) do Jean Cocteau viết cho chính cô. Vở diễn đã thành công rực rỡ và diễn xuất của Édith bên cạnh người bạn diễn Paul Meurisse được đánh giá rất cao. Édith và Paul sau đó tiếp tục đóng chung trong bộ phim “Montmartre-sur-Seine” (1941) của đạo diễn Georges Lacombe. Qua bộ phim này Édith đã làm quen được với nhạc sĩ Henri Contet, người sau đó cũng trở thành tác giả yêu thích của cô.

Sau khi Phát xít Đức chiếm đóng Paris, Édith Piaf tiếp tục trình diễn nhưng đồng thời cũng ngầm bảo vệ các nghệ sĩ người Do Thái thoát khỏi sự truy đuổi của người Đức và các đội an ninh của Pháp làm việc cho Đức. Mùa xuân năm 1944, trong khi trình diễn ở Moulin Rouge, Édith Piaf đã gặp ca sĩ trẻ Yves Montand đang có buổi biểu diễn đầu tiên của mình trên sân khấu. Có cảm tình với Montant, Édith đã giới thiệu anh với các nghệ sĩ quan trọng của Pháp thời kỳ này như Joseph Kosma, Henri Crolla, Loulou Gasté, Jean Guigo, một phần nhờ những tác động này của Édith mà sự nghiệp của Yves Montand đã phát triển nhanh chóng, sau đó Montand cũng trở thành một ca sĩ hàng đầu của Pháp và là bạn thân thiết của Édith.

Năm 1944 ông Louis Alphonse bố của Édith Piaf qua đời, mẹ cô cũng qua đời một năm sau đó.

Năm 1945, Piaf đã tự viết bài hát “La vie en rose” (“Cuộc Đời Màu Hồng”), tác phẩm được coi là nổi tiếng nhất của cô và là một trong những bài hát kinh điển của nhạc nhẹ Pháp. Cô cũng được mời trình diễn tại nhà hát lớn Comédie Française.

Năm 1947 Édith Piaf lần đầu tiên sang Mỹ biểu diễn. Năm 1948 cô trở thành ngôi sao của các phòng hát tại New York. Cũng tại thành phố này cô đã bắt đầu mối tình với Marcel Cerdan, một người đã có vợ và là võ sĩ quyền Anh huyền thoại của Pháp, vô địch hạng nhẹ thế giới ngày 21 tháng 9 năm 1948. Tuy vậy mối tình không kéo dài được lâu khi Cerdan đột ngột qua đời sau một tai nạn máy bay ngày 28 tháng 10 năm 1949 khi đang trên đường từ Paris sang New York để gặp Piaf. Suy sụp tinh thần sau cái chết của người yêu, Édith bắt đầu dùng morphine liều cao. Cũng trong tâm trạng đau khổ này cô đã cho ra đời bài hát bất hủ về tình yêu “Hymne à L’amour” (“Bài Ca Tình Yêu”).

Năm 1951, Édith Piaf chọn một nhạc sĩ/ca sĩ trẻ tên là Charles Aznavour làm trợ lý, Charles Aznavour sau này cũng trở thành nghệ sĩ hàng đầu của ca nhạc Pháp. Ngày 29 tháng 7 năm 1952 cô làm đám cưới với ca sĩ Pháp Jacques Pills với người làm chứng là ngôi sao màn bạc Marlene Dietrich, hai người chia tay nhau sau 4 năm chung sống vào năm 1956.

Édith Piaf và Jacques Pills.
Édith Piaf và Jacques Pills.

Năm 1953, Édith Piaf phải trải qua một đợt trị liệu giải độc để dứt khỏi những tác hại của chất gây nghiện. Cô tiếp tục là ngôi sao ca nhạc quốc tế và được đặc biệt yêu mến tại Mỹ, nơi cô đã có buổi trình diễn nổi tiếng tại thính phòng Carnegie Hall vào năm 1956.

Năm 1958 Édith Piaf bắt đầu mối quan hệ tình cảm với ca sĩ trẻ Georges Moustaki, người được cô đỡ đầu. Hai người đã gặp một tai nạn ô tô nghiêm trọng trong năm này, tai nạn đã làm trầm trọng thêm tình trạng sức khoẻ của Édith và càng làm cô phải phụ thuộc vào những liều morphine để có đủ sức trình diễn. Tuy vậy những vấn đề sức khoẻ không ngăn cản được ngôi sao ca nhạc cho ra mắt tác phẩm nổi tiếng tiếp theo của cô, bài hát “Milord”.

Năm 1959, Édith đã ngã quỵ xuống ngay trên sàn diễn tại New York, cô phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật trước khi trở về Paris trong tình trạng thảm hại, Georges Moustaki cũng đã rời bỏ cô.

Năm 1961, theo đề nghị của ông bầu Bruno Coquatrix, Édith Piaf bắt đầu một loạt buổi biểu diễn tại nhà hát Olympia de Paris, lúc này đang lâm vào tình trạng gần như phá sản. Loạt diễn này là một trong những thời khắc đáng nhớ nhất của Piaf, trong đó cô đã trình diễn trước công chúng bài hát gắn liền với tên tuổi cô, “Non, je ne regrette rien” (“Không, tôi không hối tiếc điều gì”), bài hát do Charles Dumont viết riêng cho Piaf được coi là một tác phẩm tự sự về chính cuộc đời đầy thăng trầm của ca sĩ. Nhà hát Olympia được cứu, nhưng sức khoẻ của Piaf cũng ngày càng tồi tệ, cô đi lại, thậm chí là đứng cũng rất khó khăn và chỉ có thể biểu diễn sau khi đã tiêm morphine liều cao.

Edith Piaf và Theo Sarapo trong ngày cưới năm 1962.
Edith Piaf và Théo Sarapo trong ngày cưới năm 1962.
Édith Piaf và Théo Sarapo song ca với nhau.
Édith Piaf và Théo Sarapo song ca với nhau.
Truyện phim cuộc đời Édith Piaf.
Truyện phim cuộc đời Édith Piaf.

Ở tuổi 47, kiệt sức, bệnh tật, nghiệp ngập, Édith Piaf đã làm đám cưới với Théo Sarapo năm 1962, một ca sĩ trẻ kém cô tới 21 tuổi. Hai người thường cùng song ca bài “À quoi ça sert L’amour ?” (“Tình yêu để làm gì?”). Đây là một mối tình sôi nổi và là một cuộc hôn nhân trong tình yêu vào thời điểm cuối đời của Édith đã gây ra một scandal không nhỏ thời đó. (Mời các bạn xem 2 clips phụ lục “Đám cưới của Édith Piaf và Théo Sarapo năm 1962” và “Édith Piaf & Théo Sarapo – song ca “À Quoi Ça Sert L’amour?” ở cuối bài)

Đầu năm 1963, Édith Piaf ghi âm bài hát cuối cùng, “L’Homme de Berlin” (“Người đàn ông từ Berlin”).

Mộ của Édith Piaf tại nghĩa trang Père-Lachaise, Paris.
Mộ của Édith Piaf tại nghĩa trang Père-Lachaise, Paris.

Ngày 10 tháng 10 năm 1963 vào lúc 13 giờ 10 phút Édith Piaf qua đời tại Plascassier, một thôn nhỏ nằm ở Grasse thuộc vùng Alpes-Maritimes, lúc này cô mới 47 tuổi nhưng đã phải chịu quá nhiều đau khổ về tinh thần và thể xác, nhất là những tác hại do thuốc phiện gây ra cho sức khoẻ. Thi hài của ngôi sao ca nhạc được bí mật chuyển về Paris, cái chết của cô được công bố chính thức vào ngày 11 tháng 10, cũng đúng ngày này Jean Cocteau, người bạn thân thiết của Piaf cũng qua đời. Édith Piaf được an táng tại nghĩa trang Père-Lachaise, Paris trong ngôi mộ của bố cô. Ngôi mộ của gia đình Piaf là một trong những nơi thường được viếng thăm nhất của nghĩa trang. Năm 1970 sau khi qua đời vì tai nạn ô tô, Théo Sarapo cũng được an táng trong cùng ngôi mộ này với Édith.

Tuy đã qua đời gần nửa thế kỷ nhưng Édith Piaf vẫn được coi là một trong những ca sĩ lớn nhất của nền nghệ thuật Pháp. Bảo tàng Édith Piaf đã được xây dựng để tưởng nhớ bà tại phố Crespin du Gast ở quận 11, Paris. Có rất nhiều tác phẩm sân khấu và điện ảnh đã làm về cuộc đời Édith Piaf hoặc lấy cảm hứng từ những bài hát của bà.

Nhạc sĩ Louis Guglielmi (1916-1991).
Nhạc sĩ Louis Guglielmi (1916-1991).

Nhạc sĩ Louis Guglielme (3/4/1916 – 4/4/1991), có bút danh là Louiguy, là một nhạc sĩ người Pháp gốc Tây Ban Nha.

Ông viết nhạc cho bản nhạc bất hủ “La Vie En Rose” với lời do ca sĩ Edith Piaf viết. Năm 1950 ông viết bản nhạc Jazz Nam Mỹ “Cerisier Rose et Pommier Blanc”, trở thành rất phổ thông và nổi tiếng trong tiếng Anh với tên “Cherry Pink (and Apple Blossom White)”.

Louis Guglielme sinh ở Barcelona. Học nhạc tại Conservatoire de Paris, cùng lớp với các nhạc sĩ nổi tiếng sau này — Henri Betti, Paul Bonneau and Henri Dutilleux.

Ông soạn nhạc nền cho khoảng một tá cuốn phim, bắt đầu với “La Rose De La Mer” (1946), và gồm các bản nhạc như “Mourir D’Aimer” (1970; tiếng Anh là “To Die of Love”). Một trong những bản nhạc phim cuối cùng của ông là cho phim găng-tơ “Verdict” (1974).

Bản “La Vie En Rose” của ông vẫn được các dàn nhạc trình tấu ngày nay.

Bản “Cerisiers Roses et Pommiers Blancs” có nhiều phiên bản tiếng Anh: “Cherry Pink and Apple Blossom White”, hay “Cerezo Rosa”, hay “Ciliegi Rosa”, hay “Gummy Mambo”. Nhạc trưởng Perez Prado thu âm bản này với dàn nhạc mà thôi, không có ca sĩ, với điệu Mambo đã thành công rực rỡ, lên đến hạng 1 trong 10 tuần trên Billboard (bản sắp hạng toàn quốc).

Đĩa này thành đĩa vàng và Billboard bình chọn “Cerisiers Roses et Pommiers Blanc” là nhạc phẩm số 1 của năm 1955. Nhạc phẩm này cũng thành công lớn ở Anh năm 1955. Và năm 1982, nhóm Moddern Romance của Anh trình diễn “Cerisiers Roses et Pommiers Blanc” lên đến “UK Top 20” của năm 1982.

Nhạc sĩ Louis Guglielme mất ở Vence.

Ca nhạc sĩ Julie Quang.
Ca nhạc sĩ Julie Quang.

Julie Quang là một ca sĩ nổi tiếng của miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và ở hải ngoại sau biến cố 30/4/1975. Cô nổi tiếng nhất với bài “Mùa Thu Chết”, do nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bản dịch tiếng Việt của Bùi Giáng cho bài thơ tiếng Pháp “L’Adieu” của Guillaume Apollinaire. Trước năm 1975 có thời gian cô lập gia đình với ca sĩ Duy Quang – người con cả của nhạc sĩ Phạm Duy – và lấy tên là Julie Quang (theo ý của nhạc sĩ Phạm Duy).

Julie Quang sinh năm 1950 mang hai dòng máu Việt và Ấn, nói và hát được thông thạo tiếng Pháp và Anh. Cô là con cả trong một gia đình gồm sáu chị em. Mẹ của Julie là bà Nguyễn Thị Hoài, người đã gây nguồn cảm hứng cho Phạm Duy viết nên bản nhạc “Mái Tóc Chị Hoài” cho cô hát. Cha cô là lính trong quân đội viễn chinh Pháp, lúc cô mới 11 tháng thì cô và mẹ cô phải theo ba cô qua Pondichery, Ấn Độ. Sau năm năm, mẹ cô cùng chị em cô quay về lại Việt Nam sống với ông bà ngoại ở Cần Thơ.

Lúc này gia đình cô rất nghèo, thiếu thốn đủ thứ nhưng mẹ cô vẫn tằn tiện cho cô theo học trường Pháp và không hề tiếc tiền khi phải chắt chiu từng đồng mua cho cô rất nhiều bài hát để cô sưu tầm cũng như tập dượt. Julie bước vào con đường nghệ thuật chính do sự khuyến khích của mẹ cô. Bà qua đời vào năm 1997 tại Pháp.

Julie đi hát với những ban nhạc trẻ vào những năm cuối thập niên 60. Cô hát nhạc Anh cho các căn cứ quân đội Hoa Kỳ ở Long Bình, Biên Hòa, Nha Trang, Ban Mê Thuột, Tân Sơn Nhất…

Cô khởi sự bước qua lãnh vực tân nhạc kể từ những năm đầu của thập niên 70 và đã tạo ngay được sự thành công qua sự dẫn dắt của nhạc sĩ Phạm Duy cùng với những nhạc phẩm của ông. Vào thời kỳ này, theo ý của nhạc sĩ Phạm Duy cô lấy tên là Julie Quang khi lập gia đình với Duy Quang – người con cả của Phạm Duy. Cô dùng lại tên Julie sau khi chia tay với Duy Quang.

Năm 1970 cô cùng các người con trai của nhạc sĩ Phạm Duy thành lập ban nhạc Dreamers. Trong thời gian này cô và ban Dreamers trình diễn ở nhà phòng trà Ritz của ca sĩ Jo Marcel.

Julie rời Việt Nam sang Pháp vào dịp Giáng Sinh năm 74 và kẹt lại tại đây sau biến cố tháng Tư năm 75.

Sau 30/4/75, dù đã ly thân với ca sĩ Duy Quang nhưng cô cũng đứng ra bảo lãnh cho anh qua Pháp. Năm 1980 cô cùng Duy Quang qua Mỹ đoàn tụ với gia đình nhạc sĩ Phạm Duy.

Ra hải ngoại, Julie hoạt động khá nhiều. Cô xuất hiện trên video Thanh Lan và Trung tâm Asia và nhiều CD. Cô còn là một nhạc sĩ sáng tác, những nhạc phẩm “Anh Tuyệt Vời”, “Ngàn năm vẫn đợi” (viết chung với Khúc Lan), “Hoa Hạnh Phúc” (“La vie en rose”) đã được giới yêu nhạc mến mộ.

Ca nhạc sĩ Diệu Hương.
Ca nhạc sĩ Diệu Hương.

Diệu Hương (tên thật Lê Thị Diệu Hương; sinh năm 1955) là một nữ nhạc sĩ hiện sống ở Mỹ.

Diệu Hương sinh ngày 26 tháng 10 năm 1955 tại Huế trong một gia đình có 13 người con mà cô là con gái duy nhất. Năm 5 tuổi, Diệu Hương theo cha là một sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, cùng với gia đình chuyển vào Đà Nẵng. Tại đây cô theo học trường Sacré Coeur. Sau khi hoàn tất bậc trung học, Diệu Hương lên Đà Lạt theo học trường đại học Chính Trị Kinh Doanh và từng được bầu là trưởng ban văn nghệ trong những năm đại học. Trước đó Diệu Hương đã từng theo học Piano với các dì phước cũng như từng hát và đóng kịch trên sân khấu nhà trường và tham gia những hoạt động hướng đạo. Tại Đà Lạt, Diệu Hương cũng ở nội trú với các dì phước, trong thời gian đó, Diệu Hương tập đàn Guitar rồi về Sài Gòn học tiếp tục với một người bạn.

Sau biến cố tháng 30/4/1975, Diệu Hương rơi vào cảnh buồn bã “đời sống lúc đó không có chi nữa hết” và cô viết bản nhạc đầu tay “Tôi Muốn Hỏi Tại Sao” vào năm 1977 và tiếp tục sáng tác một vài ca khúc khác.

Sau nhiều lần vượt biên không thành, cuối cùng Diệu Hương và gia đình sang Mỹ vào năm 1990 theo diện HO. Tại Mỹ trải qua nhiều công việc, rồi Diệu Hương theo học ngành thiết kế đồ hoạ.

Nhạc phẩm đầu tiên Diệu Hương sáng tác tại hải ngoại là bản “Mùa Thu Nơi Đây” viết năm 1990, ngay sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ, diễn tả tâm trạng của một người xa quê hương, nhớ về thành phố cũ trong khung cảnh một mùa thu.

Năm 1997, cô viết “Lặng Nhìn Ta Thôi” và ca khúc này đã được đưa vào CD do Lệ Thu trình bày với một số ca khúc khác của Diệu Hương. Tiếp đó ca khúc “Mình Ơi” mang đậm nét dân ca do Ý Lan trình bày đã đưa tên tuổi Diệu Hương đến với đông đảo công chúng yêu nhạc. Đến nay Diệu Hương đã phát hành 5 CD “Ở Lại Ta Đi”, “Giòng Lệ Khô”, “Khắc Khoải”, “Cho Dòng Sông Cuốn Trôi”“Hư Ảo” trong đó có nhiều bài hát nổi tiếng được các ca sĩ trong nước và hải ngoại trình bày. Đặc biệt tác phẩm “Vì Đó Là Em” với tiếng hát ca sĩ Quang Dũng đã giành được giải Mai Vàng 2003.

piaf_Lavie en Rose

Nhạc phẩm “La vie en rose” (Lời: Édith Piaf. Louis Guglielmi phổ nhạc)

Des yeux qui font baiser les miens
Un rire qui se perd sur sa bouche
Voila le portrait sans retouche\
De l’homme auquel, j’appartiens
Quand il me prend dans ses bras
Il me parle tout bas
Je vois la vie en rose
Il me dit des mots d’amour
Des mots de tous les jours
Et ça me fait quelque chose
Il est entré dans mon coeur
Une part de bonheur
Dont je connais la cause
C’est lui pour moi
Moi pour lui dans la vie
Il me l’a dit, l’a juré pour la vie
Et, dès que je l’apercois
Alors je sens en moi
Mon coeur qui bat

Des nuits d’amour à ne plus en finir
Un grand bonheur qui prend sa place
Des enuis des chagrins, des phases
Heureux, heureux a en mourir
Quand il me prend dans ses bras
Il me parle tout bas
Je vois la vie en rose
Il me dit des mots d’amour
Des mots de tous les jours
Et ça me fait quelque chose
Il est entré dans mon Coeur
Une part de bonheur
Dont je connais la cause
C’est toi pour moi
Moi pour toi dans la vie
Il me l’a dit, m’a juré pour la vie
Et, dès que je l’apercois
Alors je sens en moi
Mon coeur qui bat
Lalalala, lalalalala, la, la, la

piaf_Lavie en Rose_English

Nhạc phẩm “La vie en rose” (Anh ngữ: Mack David)

Hold me close and hold me fast
The magic spell you cast
This is la vie en rose
When you kiss me heaven sighs
And tho I close my eyes
I see la vie en rose
When you press me to your heart
I’m in a world apart
A world where roses bloom
And when you speak…angels sing from above
Everyday words seem…to turn into love songs
Give your heart and soul to me
And life will always be La vie en rose

Ca nhạc sĩ Julie Quang.
Ca nhạc sĩ Julie Quang.

Nhạc phẩm “Hoa Hạnh Phúc” (“La vie en rose” – lời Việt: Julie Quang)

Lúc mơ em trong vòng cánh tay
Nhớ nhung như trời đất xoay
Ngất ngây lòng em cũng quay cuồng
Nói với em bao lời đắm say
Thiết tha ân tình chóng phai
Thoáng nghe mùa xuân đến bên đời
Những bông hoa trong bồn tháp xinh
Ngát thơm nên tình trắng trinh
Trái tim và điều hoan ca
Yêu anh bằng con tim bằng tất cả tâm hồn
Tim yêu dành cho anh còn xanh muôn đời mãi
Hãy yêu em trong vòng cánh tay
Giữ cho nhau một kiếp này
Và trọn nghìn sau

Ca nhạc sĩ Diệu Hương.
Ca nhạc sĩ Diệu Hương.

Nhạc phẩm “Cuộc Đời Hồng” (“La vie en rose” – lời Việt: Diệu Hương)

Ôi khát khao đầy trời đôi mắt
Ôi đôi môi mềm dịu dàng ngây ngất
Để bước chân tinh tuyệt vời duy nhất
Tình yêu ơi đêm nay đang về quanh đây.
Giữ em trong tay, người dấu yêu
Thiết tha bao lời ấm êm
Ôi đời đẹp tựa giấc mơ hồng.
Giữa không gian vang lời ái ân
Tiếng yêu thương đầy tháng năm
Với em, nguồn hạnh phúc vô ngần.

Bước chân anh ru buồn lãng quên
Dẫn em qua vùng đất yêu
Mơ màng một trời say hương đêm.
Ơi! Hỡi người ơi!
Xin ngàn năm mãi bên người!
Trong thinh lặng em nghe cuồng say
Nghe đời ngất ngây.
Nỗi cô đơn bao ngày đã qua
Trái tim trao người thiết tha
Tình yêu dâng trong ta.

Dưới đây mình có bài:

– LA VIE EN ROSE (Cuộc đời hồng) – LOUIGUY & EDITH PIAF

Cùng với 13 clips tổng hợp nhạc phẩm “Hoa Hạnh Phúc”, “Cuộc Đời Hồng” (“La vie en rose”) do các ca nhạc sĩ lừng danh trên thế giới trình diễn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

piaf_Lavie en Rose bài

LA VIE EN ROSE (Cuộc đời hồng) – LOUIGUY & EDITH PIAF (trích)

(Hoài Nam)

Sau đây, mời quý độc giả cùng bước vào đề tài kỳ này: La Vie en Rose.

Trong số những ca khúc Pháp thời hiện đại (modern songs) nổi tiếng quốc tế, sau Cerisier Rose et Pommier Blanc (tựa tiếng Anh: Cherry Pink and Apple Blossom White) và Les Feuilles Mortes (Autumn Leaves), phải nói tới La Vie en Rose, ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của đệ nhất nữ danh ca Pháp Édith Piaf.

Thực ra, gọi Édith Piaf một nữ danh ca mà thôi thì chưa đủ, bởi vì bà đã được thế giới xem là một biểu tượng văn hóa của Pháp. Một trong những điều kỳ diệu nơi Édith Piaf là mặc dù thất học từ nhỏ, sau này bà thường tự viết lời hát, hoặc viết chung lời hát cho các ca khúc của mình – những ca khúc được xem là phản ảnh cuộc đời bi thảm, bất hạnh, ly kỳ, sôi nổi, đầy đam mê, và bất chấp dư luận của bà.

Cuộc đời của Édith Piaf đã được đưa lên màn bạc cũng như màn ảnh nhỏ nhiều lần, qua hình thức phim tài liệu cũng như phim truyện. Gần đây nhất, vào năm 2007, cuốn phim có tựa đề La Vie en Rose do nữ diễn viên Marion Cotillard thủ vai Édith Piaf đã khiến hàng triệu khán giả phải rơi lệ, và trở thành cuốn phim nói tiếng Pháp đầu tiên đoạt được hai giải thưởng Oscar của Hàn lâm viện Điện ảnh Hoa Kỳ, cho nữ diễn chính và cho hóa trang.

Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một cuốn phim, La Vie en Rose cũng chỉ trình bày được một phần về cuộc đời ly kỳ của Édith Piaf, kỳ này, nhân viết về ca khúc bất hủ La Vie en Rose, chúng tôi mời quý độc giả cùng tìm hiểu thêm về đường đời và sự nghiệp của Édith Piaf – người nữ nghệ sĩ lớn lên trong động điếm, khởi nghiệp trên hè phố, và khi chết đã được trên 100.000 người ái mộ tiễn đưa nhưng lại không được Giáo hội Công giáo cho cử hành Thánh lễ An táng.

* * *

piaf_Édith Piaf bài

Édith Piaf tên thật là Édith Giovanna Gassion, ra chào đời ngày 19 tháng 12 năm 1915 tại Belleville, Quận 20, một khu của di dân ở kinh thánh ánh sáng Paris. Ông bố Louis Alphonse Gassion là một tay làm xiếc rong, chuyên biểu diễn nhào lộn và uốn dẻo ngoài đường phố, người vùng Normandie; còn bà mẹ Annetta Maillard – mang ba dòng máu Pháp – Ý – Bắc Phi (Algérie), xuất thân cũng là một ca sĩ hát dạo ngoài đường phố, về sau hát trong các quán rượu bình dân.

Lúc đó là thời gian Đệ nhất Thế chiến, Louis Alphonse phải lên đường tòng quân, đời sống trở nên khó khăn, Annetta bèn trao con gái cho bà mẹ của mình là Aicha Said Ben Mohammed, một phụ nữ gốc Algérie theo Hồi giáo. Aicha có tật nghiện rượu nặng, thường bỏ mặc cô cháu gái trong căn phòng bẩn thỉu, không có nước mà cũng chẳng có phương tiện vệ sinh, thậm chí cả đến cái bình sữa của Édith cũng chỉ là một cái vỏ chai rượu vang!

Hậu quả, cô bé mắc đủ thứ bệnh, từ suy dinh dưỡng trầm trọng tới bệnh ngoải da (eczema). Tới khi Édith được một tuổi rưỡi, ông bố Louis Alphonse từ mặt trận trở về, thấy vậy liền giành lại Édith từ tay người bà ngoại để giao cho bà nội, một chủ nhà chứa ở vùng Normandie.

piaf_Édith Piaf baby bài

Dưới sự chăm sóc của các cô gái điếm, bé Édith dần dần khôi phục sức khỏe, nhưng tới năm 7 tuổi thì bị “mù tạm thời” do chứng kết mạc. Trước sự việc này, các cô gái điếm đã phải gom góp tiền bạc, rồi cùng với bà nội của Édith đưa cô bé đi hành hương tại Đền thờ Thánh nữ Thérèse ở Lisieux – mà người Công giáo Việt Nam gọi là Thánh nữ Tê-rê-sa Hài đồng Giê-su. Họ cùng cầu nguyện trước mộ Thánh nữ để xin phép lạ. Và phép lạ đã xảy ra: Édith hết bị mù! Từ đó cho tới cuối đời, cô luôn luôn giữ bên mình sợi dây chuyền có hình Thánh nữ Thérèse và thường xuyên cầu nguyện trước hình Thánh nữ.

Khi Édith lên 14 tuổi thì Thế chiến đã chấm dứt, ông Louis Alphonse được giải ngũ và trở lại với cuộc sống của một nghệ sĩ xiếc rong nghèo khổ; Édith được ông cho đi theo để học nghề, nhưng cô bé không có tài nhào lộn mà lại có khiếu ca hát. Sau một năm đảm trách vai trò “phụ diễn văn nghệ” cho bố, khi tới Paris, Édith đã quyết định nối nghiệp hát dạo ngoài đường phố của bà mẹ trước kia, theo cô bạn Simone Berteau đi hát dạo ở hai khu Pigalle, Ménilmontant, và các vùng ngoại ô Paris.

Chính trong thời gian này, Édith Giovanna Gassion đã lấy nghệ danh là Édith Piaf. “Piaf” theo cổ ngữ Pháp, có nghĩa là con chim sẻ.

Nhưng cuộc sống của một ca sĩ hè phố vốn thường đã không êm ả, với Édith Piaf lại càng truân chuyên hơn. Năm 16 tuổi, nàng có bầu với bạn trai là Louis Dupont, một thanh niên làm nghề bỏ hàng, với kết quả bé gái Marcelle ra chào đời nhưng 2 năm sau chết vì viêm màng óc. Đây là người con duy nhất của Édith Piaf.

Nhân tình kế tiếp của Édith Piaf là Robert, một tay ma-cô chuyên cặp với các cô gái để dụ dỗ, ép buộc họ làm điếm. Khi được biết một cô nhân tình khác của Robert đã phải tự tử vì ô nhục, Édith đã dứt khoát với gã ma-cô nhưng y không buông tha, và đã có lần dí súng vào đầu nàng để hăm dọa.

Thời may, cứu tinh đã xuất hiện!

Lúc đó là vào năm 1935, Louis Leplée, chủ nhân của phòng trà (cabaret) Le Gerny nổi tiếng ở Đại lộ Champs-Élysée, nơi lui tới của giới thưởng ngọan sành điệu, đã khám phá ra cô ca sĩ hè phố 26 tuổi khi nàng đang hát tại khu Pigalle.

Louis Leplée là một ông bầu có một không hai: ông chỉ dạy cho Édith Piaf cách trình diễn của một ca sĩ chuyên nghiệp trên sân khấu, và vì nàng chỉ cao 1m42, tức là quá thấp so với tiêu chuẩn phương tây, ông đã khai thác khuyết điểm ấy bằng cách đặt cho Édith Piaf biệt hiệu “La Môme Piaf”, nghĩa là con chim sẻ bé nhỏ, đồng thời cố vấn cho Édith Piaf chỉ mặc một mầu đen, màu mà sau này sẽ trở thành “nhãn hiệu cầu chứng” của nàng.

Rồi Louis Leplée ra sức quảng cáo cho đêm hát ra mắt của Édith Piaf tại phòng trà Le Gerny, đến nỗi cả nam diễn viên kiêm ca sĩ lừng danh Maurice Chevalier cũng phải tới tham dự. Buổi trình diễn thành công rực rỡ, cả khán giả lẫn giới nghệ sĩ đều bị chinh phục trước giọng hát độc đáo, tuyệt vời của Édith Piaf, đưa tới kết quả chỉ nội trong năm ấy (1935), nàng đã được mời thu hai đĩa hát, và trong vòng vài năm, đã trở thành ca sĩ trình diễn số một của Paris.

Tuy nhiên, đường đời của Édith Piaf không bao giờ suông sẻ. Qua năm 1936, Louis Leplée bị bắn chết tại nhà riêng, thủ phạm là bọn côn đồ ở khu Pigalle mà người ta nghi trong số ấy có cả Robert – tay ma-cô nhân tình cũ của Édith Piaf, cho nên nàng bị nghi ngờ có dính líu tới vụ án. Tuy kết quả cuộc điều tra cho thấy Édith Piaf vô tội, sau đó nàng cũng bị đuổi việc tại phòng trà Le Gerny, và trở lại với hè phố hoặc hát ở các quán rượu bình dân xô bồ.

Nhưng vị cứu tinh thứ hai đã kịp thời ra tay. Đó là nhạc sĩ Raymond Asso, người đã bị giọng hát tuyệt vời của Édith Piaf chinh phục ngay trong đêm hát ra mắt tại phòng trà Le Gerny (Raymond sau này trở thành bạn thân và viết một số ca khúc cho Édith Piaf). Ông vận động cho Édith Piaf được trình diễn tại các nhà hát (music-hall), đồng thời giúp nàng luyện tập thêm nghệ thuật trình diễn.

Tháng 3 năm 1937, Édith Piaf trình diễn buổi đầu tiên tại nhà hát ABC ở thủ đô Paris, và chính tại đây, Édith Piaf đã thực sự trở thành ngôi sao sáng của nền ca nhạc Pháp.

* * *

piaf_Édith Piaf gặp gỡ Yves Montand

Năm 1944, khi đã ở trên đỉnh cao danh vọng, Édith Piaf gặp gỡ Yves Montand tại hí viện Moulin Rouge, nơi chàng trẻ tuổi (kém Édith 6 tuổi) xuất thân phu bến tàu đang tập tễnh bước vào làng ca nhạc và điện ảnh. Hai người trở thành tình nhân, và Édith Piaf tìm mọi cách để giúp đỡ “cậu em” trên bước đường sự nghiệp.

Như chúng tôi đã trình bày trong bài kỳ trước, viết về ca khúc Les Feuilles Mortes (Autumn Leaves, Những chiếc lá úa) do Joseph Kosma & Jacques Prévert soạn riêng cho phim Les Portes de la Nuit (1946), sau khi thủ vai chính và hát ca khúc này trong phim, Yves Montand vụt nổi tiếng, trở thành thần tượng điện ảnh lẫn ca nhạc, và chia tay “đệ nhất nữ danh ca” để cặp với “đệ nhất nữ diễn viên” Simone Signoret. Hai người chính thức kết hôn năm 1951.

Thế nhưng, Édith Piaf vẫn luôn nhìn cuộc đời qua cặp mắt kính màu hồng, như lời hát trong ca khúc La Vie en Rose do bà viết trước đó 2 năm.

La Vie en Rose được xem là ca khúc hay nhất trong tổng số khoảng 80 bản do Édith Piaf tự viết lời hát hoặc viết chung với tác giả khác. Cảm hứng tới với Édith Piaf vào một buổi tối trong năm 1944 khi bà đối diện với một người đàn ông Mỹ đầy sức quyến rũ, và sau đó lời hát đã được Louiguy phổ nhạc.

Louiguy tên thật là Louis Guglielmi (1916–1991), cũng là người soạn nhạc cho một ca khúc bất hủ khác của Pháp mà chúng tôi đã giới thiệu trong bài số 12, đó là bản Cerisier rose et pommier blanc (Cherry Pink and Apple Blossom White, Cánh bướm vườn xuân).

Lúc đầu, những người trách nhiệm sản xuất đĩa nhạc cho Édith Piaf cũng như chính bản thân bà không đánh giá cao La Vie en Rose, vì cho rằng cả lời hát lẫn nét nhạc “không gây ấn tượng mạnh”, cho nên Édith Piaf cứ để đó, mãi tới năm 1946 mới hát lần đầu tiên trong một buổi trình diễn của mình.

Không ngờ La Vie en Rose đã chinh phục khán giả ngay trong đêm đó, và tiếp theo là thính giả qua làn sóng điện. Qua năm 1947, La Vie En Rose được hãng EMI thu vào đĩa nhựa và đã tạo ra một “hiện tượng La Vie En Rose” khắp nơi trên thế giới. Theo các nhà quan sát, nhà phê bình, sở dĩ tình khúc có lời hát đơn sơ dung dị và nét nhạc nhẹ nhàng ấy lại có sức thu hút mạnh mẽ là vì nó đã khiến mọi người, sau những đau thương, đói khổ, chết chóc, mất mát trong cuộc Đệ nhị Thế chiến, nhận ra rằng có một thứ hạnh phúc luôn luôn tồn tại, đó là tình yêu.

Édith Piaf viết:

Des yeux qui font baiser les miens
Un rire qui se perd sur sa bouche
Voila le portrait sans retouche\
De l’homme auquel, j’appartiens
Quand il me prend dans ses bras
Il me parle tout bas
Je vois la vie en rose
Il me dit des mots d’amour
Des mots de tous les jours
Et ça me fait quelque chose
Il est entré dans mon coeur
Une part de bonheur
Dont je connais la cause
C’est lui pour moi
Moi pour lui dans la vie
Il me l’a dit, l’a juré pour la vie
Et, dès que je l’apercois
Alors je sens en moi
Mon coeur qui bat

Des nuits d’amour à ne plus en finir
Un grand bonheur qui prend sa place
Des enuis des chagrins, des phases
Heureux, heureux a en mourir
Quand il me prend dans ses bras
Il me parle tout bas
Je vois la vie en rose
Il me dit des mots d’amour
Des mots de tous les jours
Et ça me fait quelque chose
Il est entré dans mon Coeur
Une part de bonheur
Dont je connais la cause
C’est toi pour moi
Moi pour toi dans la vie
Il me l’a dit, m’a juré pour la vie
Et, dès que je l’apercois
Alors je sens en moi
Mon coeur qui bat
Lalalala, lalalalala, la, la, la

Vừa được tung ra, đĩa La Vie En Rose do Édith Piaf hát đã được nồng nhiệt đón nhận khắp nơi trên thế giới, đứng hạng nhất tại nhiều quốc gia, riêng tại Hoa Kỳ đã bán được hàng triệu đĩa, một việc chưa từng xảy ra với một ca khúc hát bằng tiếng Pháp.

Sau đó, La Vie En Rose đã được tác giả nổi tiếng Mack David đặt lời bằng tiếng Anh, và đã được hàng chục ca sĩ thượng thặng lần lượt thu đĩa, trong đó có Louis Armstrong.

Điều thú vị là Mack David đã không thể, hoặc không muốn dịch mấy chữ “La Vie En Rose” sang tiếng Anh. “La Vie En Rose” nếu dịch từng chữ sang tiếng Anh là “Life in Pink”, còn muốn văn chương, thơ mộng thì “Life in Rosy Hues”, hoặc “Life Through Rose-Colored Glasses”. Thế nhưng, Mack David đã giữ nguyên văn tiếng Pháp “La Vie en Rose” trong cả tựa đề lẫn nội dung ca khúc. Có thể nói, cùng với tên tuổi của Édith Piaf, mấy chữ tiếng Pháp “La Vie en Rose” đã được quốc tế hóa.

La Vie en Rose (lời Mack David):

Hold me close and hold me fast
The magic spell you cast
This is la vie en rose
When you kiss me heaven sighs
And tho I close my eyes
I see la vie en rose
When you press me to your heart
I’m in a world apart
A world where roses bloom
And when you speak…angels sing from above
Everyday words seem…to turn into love songs
Give your heart and soul to me
And life will always be La vie en rose

Tạm dịch:

Hãy ôm em thật chặt và thật nhanh
Câu thần chú diệu kỳ của anh
Đây là la vie en rose (cuộc đời màu hồng)
Khi anh hôn em thiên đường khoan khoái
Cho dù nhắm mắt lại
Em vẫn thấy la vie en rose
Khi anh ôm em sát vào tim anh
Em như sống trong một thế giới khác
Nơi có những bông hồng nở rộ
Khi anh cất tiếng, các thiên thần cùng hát trên cao
Mỗi lời nói thường nhật dường như trở những bài tình ca
Hãy trao trọn trái tim và linh hồn cho em
Và cuộc đời sẽ luôn luôn là La Vie en Rose.

Hiện nay, chỉ tính trên Internet, người ta có thể tìm thấy La Vie en Rose được đặt lời ngoại quốc qua hàng trăm ấn bản khác khác nhau. Nhiều nhất, lẽ dĩ nhiên là tiếng Anh với 8 ấn bản; các ngôn ngữ Đức, Ý, Maltese, Hy-lạp, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, Lỗ-mã-ni (Romania), Ba-tư, Serbia, và Nhật đều có 2 ấn bản; các ngôn ngữ Thụy-điển, Thổ-nhĩ-kỳ, Croatia, Ả-rập, Azerbaijian, Trung Hoa với một ấn bản. Về lời hát bằng tiếng Việt, chúng tôi sẽ trình bày ở phần cuối bài.

Tính cho tới nay, La Vie en Rose đã được hát trong 41 cuốn phim điện ảnh, trong đó có hai phim điệp viên 007 James Bond “You Only Live Twice” và “Diamonds Are Forever”, và trong vô số phim tập truyền hình.

Năm 1998, tại giải âm nhạc Grammy của Hàn lâm viện Âm nhạc Hoa Kỳ, bản La Vie en Rose đã được chọn để trao giải Hall of Fame Award – nghĩa là một ca khúc, nhạc khúc bất tử.

* * *

piaf_Édith Piaf gặp gỡ Marcel Cerdan

Năm 1947, Édith Piaf sang Mỹ trình diễn lần đầu tiên và gây tiếng vang lớn; qua năm 1948, bà được mời làm ca sĩ thường trực tại các phòng trà (cabaret) ở Nữu Ước. Cũng trong năm 1948 tại Nữu Ước, Édith Piaf gặp gỡ Marcel Cerdan, võ sĩ huyền thoại của Pháp sang Mỹ thi đấu và đoạt giải vô định quyền Anh thế giới hạng nhẹ vào tháng 9/1948. Khi ấy Marcel đã có vợ con, và việc Édith Piaf cặp kè với Marcel bị không ít người đương thời lên án.

Nhưng Édith Piaf vẫn gọi đây là mối tình lớn nhất đời mình – mối tình đã tạo cảm hứng, rung động cho bà viết một ca khúc để đời khác, bản Hymne de l’Amour (Bài ca tình yêu), do nữ nhạc sĩ Marguerite Monnot phổ nhạc, đề tặng Marcel Cerdan. Hymme de l’Amour được Édith Piaf trình diễn lần đầu tiên vào ngày 14 tháng 9, 1949 tại phòng trà Versailles ở Nữu Ước.

Hymne de l’Amour được nam ca sĩ kiêm diễn viên Eddie Constantine, một người được Édith Piaf dìu dắt nâng đỡ, dịch lời sang tiếng Anh với tựa Hymn to Love, do Édith Piaf thu đĩa năm 1956 trong album La Vie En Rose / Édith Piaf Sings In English. Về sau, vào năm 2003, nữ danh ca Cyndi Lauper đã hát lại bản này trong alblum At Last của cô.

Đồng thời, Hymne de l’Amour cũng được nhà viết lời hát Geoffrey Parsons của Anh quốc đặt lời với tựa If You Love Me (Really Love Me), và đã đem lại đĩa vàng ca nữ danh ca Anh Shirley Bassey vào năm 1959.

Nhưng chính Nhật Bản mới là nơi Hymne de l’Amour được yêu chuộng nhất. Năm 1951, ca khúc này được Tokiko Iwatani đặt lời Nhật với tựa Ai no Sanka (Bài ca tình yêu), và đã trở thành ca khúc cầu chứng của nữ danh ca Fubuki Koshiji với số đĩa bán ra trên 2 triệu. Cũng từ đó, Ai no Sanka hầu như đã trở thành ca khúc bắt buộc của các ca sĩ hát nhạc tình ở Nhật Bản.

Tới đây, tưởng cũng nên đề cập tới một ca khúc không viết riêng cho Édith Piaf, nhưng sau đó nhờ tiếng hát của bà đã nổi tiếng quốc tế, và gần như trở thành nhạc thiều (anthem) của kinh thành ánh sáng Paris. Đó là bản Sous le ciel de Paris (Dưới bầu trời Paris).

Bản này được viết cho cuốn phim có cùng tựa, sản xuất năm 1951, do nam ca sĩ Jean Bretonnière trình bày. Tuy nhiên, phải đợi tới khi được Édith Piaf thu đĩa, Sous le ciel de Paris mới thực sự gắn liền với Paris.

Trở lại với cuộc sống tình cảm của Édith Piaf, chỉ hơn một tháng sau ngày bà trình diễn ra mắt bản Hymme de l’Amour để riêng tặng Marcel Cerdan, định mệnh nghiệt ngã đã ra tay: ngày 27 tháng 10 năm 1949, trên đường bay từ Pháp sang Hoa Kỳ để tái ngộ Édith Piaf, Marcel Cerdan đã bị tử nạn phi cơ. Cái chết đột ngột và bi thảm của người tình đã khiến Édith Piaf suy sụp tinh thần một cách thê thảm.

Năm 1951, trong lúc Édith Piaf di chuyển bằng xe hơi cùng với Charles Aznavour (sau này nổi tiếng với bản Et Pourtant trong thập niên 1960), người trợ tá và cũng là một trong những nam ca sĩ trẻ chưa thành danh đang được bà nâng đỡ, một tai nạn khủng khiếp xảy ra. Trong khi Charles Aznavour chỉ bị thương tương đối nhẹ, thì Édith Piaf bị gẫy một cánh tay và hai xương sườn, đưa tới việc bà bắt đầu uống rượu và sử dụng morphine.

Giữa năm 1952, Édith Piaf bước thêm bước nữa với nam ca sĩ Pháp Jacques Pills; người làm chứng cho Édith Piaf là nữ minh tinh điện ảnh kiêm ca sĩ gốc Đức nổi tiếng quốc tế Marlene Dietrich. Nhưng cuộc hôn nhân chỉ bền được 4 năm. Trong thời gian chung sống, vào năm 1953, Jacques Pills đã phải đưa Édith Piaf vào viện cai, trải qua một đợt trị liệu gian khổ để mong dứt khỏi tác hại của các chất gây nghiện, nhưng như sau này người ta được biết, cho tới cuối đời, Édith Piaf chưa bao giờ bỏ được ma túy.

Năm 1958, Édith Piaf bắt đầu quan hệ tình cảm với Georges Moustaki, một ca sĩ trẻ gốc Ai-cập được bà đỡ đầu. Thế rồi những gì xảy ra 7 năm trước đó với Charles Aznavour, nay lại tái diễn: Édith Piaf cùng Georges Moustaki bị một tai nạn xe hơi trầm trọng, khiến tình trạng sức khoẻ của bà càng trở nên tệ hại, và càng phải lệ thuộc vào những liều morphine để có đủ sức trình diễn. Đó cũng là thời gian Édith Piaf hát ra mắt một trong những ca khúc nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của mình, bản Milord, do người tình Georges Moustaki viết lời và cô bạn Marguerite Monnot phổ nhạc (Marguerite Monnot cũng là người trước đó đã viết nhạc cho ca khúc Hymne de l’Amour)

Năm 1959, trong lúc đang trình diễn tại Nữu Ước, Édith Piaf đã bị quỵ ngay trên bục hát. Sau khi trải qua nhiều cuộc giải phẫu, Édith Piaf trở về Paris trong một tình trạng thảm hại, và người tình trẻ cũng vỗ cánh bay đi…

piaf_Édith Piaf bắt đầu chung sống với Théo Saparo

Năm 1960, Édith Piaf bắt đầu chung sống với Théo Saparo (tên thật là Theophanis Lamboukas), một anh thợ uốn tóc gốc Hy-lạp kém bà gần 21 tuổi. Dĩ nhiên, cách đây hơn nửa thế kỷ, hầu như không ai chấp nhận việc này, nhưng Édith Piaf bất chấp, và đã trả lời dư luận bằng một ca khúc nổi tiếng khác: Non, je ne regrette rien (Không, tôi không hối tiếc điều gì cả), do Charles Dumont viết riêng cho bà. (Quý độc giả muốn xem video của bản Non, je ne regrette rien cũng như những ca khúc khác của Édith Piaf trên YouTube, chỉ cần vào trang Google với từ khóa Edith Piaf – YouTube)

Năm 1962, vào tuổi 46, bệnh tật, nghiện ngập, kiệt lực, Édith Piaf chính thức kết hôn với Théo Saparo, lúc này đã bỏ nghề uốn tóc để chuyển sang ca hát và đóng phim. Có thể nói, Théo như một người con trai chăm sóc cho Édith Piaf hơn là một người chồng.

Hơn một năm sau, vào ngày 11 tháng 10 năm 1963, Édith Piaf qua đời vì ung thư gan, hưởng dương 47 tuổi. Vì cuộc sống tình cảm cá nhân tai tiếng của bà, và với luật đạo thời bấy giờ còn khó khăn nghiêm ngặt, Đức Tổng Giám Mục thành Paris đã ra lệnh cấm cử hành Thánh lễ Cầu hồn (Funeral Mass) trong tang lễ của Edith Piaf. Nhưng số người đi sau quan tài của bà để đưa tiễn vẫn lên tới hàng chục nghìn người, và tại nghĩa trang Père Lachaise nổi tiếng của Paris, tổng số người tham dự đám tang đã lên tới trên 100.000 người. Nếu không kể ngày dân chúng Paris xuống đường ăn mừng thủ đô được giải phóng khỏi bàn tay Đức Quốc Xã vào năm 1945, chưa bao giờ có một cuộc tụ tập dân chúng đông đảo như đám tang của Édith Piaf.

Édith Piaf được chôn chung mộ phần với ông bố Louis Alphonse, mất năm 1944, và bé gái Marcelle, đứa con duy nhất của bà chết khi mới lên 2 tuổi. Năm 1970, Théo Saparo, người chồng cuối cùng của Édith Piaf tử nạn xe hơi, cũng được mai táng trong mộ phần này.

Mặt trước mộ ghi hàng chữ Famille GASSION – PIAF (Gia đình GASSION – PIAF), mặt phía bên phải ghi tên, tuổi của Louis Alphonse, Édith Piaf và Théo Saparo, mặt phía bên trái dành cho bé Marcelle.

Tuy không phải là một tác phẩm nghệ thuật để đời như ngôi mộ của Frédéric Chopin, ngôi mộ của Gia đình GASSION – PIAF cũng là một trong những ngôi mộ được du khách và người ái mộ thăm viếng nhiều nhất ở nghĩa trang Père Lachaise.

Cho tới ngày nay, Edith Piaf vẫn tiếp tục được xem là một trong những nữ nghệ tài ba, và độc đáo, không chỉ ở Pháp mà còn ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Tượng của bà được dựng lên ở nhiều công viên và đường phố.

Năm 1982, nhà nữ thiên văn Lyudmila của Nga, sau khi khám phá ra tiểu hành tinh số 3772, đã đặt tên cho vì sao này là “Piaf” để vinh danh người nữ nghệ sĩ tài hoa bạc phận.

piaf_Mộ của Edith Piaf

* * *

Điều lạ lùng, kỳ diệu nhất nơi Édith Piaf là chính cô gái có tuổi thơ u ám, đường đời đau khổ, đường tình truân chuyên ấy lại cống hiến cho đời một ca khúc tin yêu tuyệt vời, mà tựa đề nguyên thủy bằng tiếng Pháp – La Vie en Rose – đã trở thành một thành ngữ trong hầu hết mọi ngôn ngữ.

Tuy nhiên tại miền Nam Việt Nam, cho tới những năm cuối thập niên 1960, La Vie en Rose không nằm trong số những ca khúc ngoại quốc được ưa chuộng hàng đầu. Nguyên nhân: muốn thưởng thức được hết cái hay của ca khúc, người ta cần phải có cả trình độ nghe nhạc lẫn trình độ ngoại ngữ. Bởi vì cho tới lúc đó, theo sự hiểu biết của chúng tôi, chưa có ai đặt lời Việt, và ngoài đĩa hát của Édith Piaf (lời Pháp), của Louis Armstrong (lời Anh), chỉ có một vài ca sĩ trình bày La Vie en Rose lời Pháp tại các phòng trà ở Sài Gòn, như Lệ Thu, Bạch Yến…

Mãi tới năm 1970, mới có bản lời Việt của nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương với tựa đề “Kiếp Hoa” do Lệ Thu hát trong băng nhạc Phạm Mạnh Cương 9 – Hương Xa.

Tự tựa đề “Kiếp Hoa” đã cho thấy Phạm Mạnh Cương chỉ đặt lời Việt, chứ không dịch, mà cũng không dựa theo ý nghĩa của ca khúc nguyên thủy. Cũng cần lưu ý, chữ “rose” (tiếng Pháp) trong ca khúc này không có nghĩa là “hoa hồng” mà là “màu hồng”.

Sau khi ra hải ngoại, chúng tôi được biết có thêm bản La Vie en Rose do Julie Quang đặt lời Việt với tựa “Hoa Hạnh Phúc”

Gần đây, người yêu nhạc đã được thưởng thức La Vie en Rose lời Việt của Diệu Hương với tựa Cuộc Đời Hồng. Diệu Hương không phải là một tên tuổi xa lạ với người nghe nhạc ở cả hải ngoại lẫn trong nước. Trong tổng số sáng tác của cô chỉ có khoảng 10 bản nhạc ngoại quốc lời Việt, nhưng phải nói đây là một điển hình của “quý hồ tinh”. Lấy La Vie en Rose làm thí dụ: Diệu Hương không dịch từng chữ, mà chuyển lời chuyển ý một cách hết sức tài tình, như thể những lời hát lãng mạn ấy đã được Édith Piaf viết sẵn bằng tiếng Việt.

Cho nên cũng không có gì lạ khi Cuộc Đời Hồng của Diệu Hương đã được nhiều ca sĩ – những ca sĩ có trình độ – ở hải ngoại cũng như trong nước lựa chọn để trình bày.

Cuộc Đời Hồng (Diệu Hương):

Ôi khát khao đầy trời đôi mắt
Ôi đôi môi mềm dịu dàng ngây ngất
Để bước chân tinh tuyệt vời duy nhất
Tình yêu ơi đêm nay đang về quanh đây.
Giữ em trong tay, người dấu yêu
Thiết tha bao lời ấm êm
Ôi đời đẹp tựa giấc mơ hồng.
Giữa không gian vang lời ái ân
Tiếng yêu thương đầy tháng năm
Với em, nguồn hạnh phúc vô ngần.

Bước chân anh ru buồn lãng quên
Dẫn em qua vùng đất yêu
Mơ màng một trời say hương đêm.
Ơi! Hỡi người ơi!
Xin ngàn năm mãi bên người!
Trong thinh lặng em nghe cuồng say
Nghe đời ngất ngây.

Nỗi cô đơn bao ngày đã qua
Trái tim trao người thiết tha
Tình yêu dâng trong ta.

(Hoài Nam)

oOOo

Hoa Hạnh Phúc (La vie en rose – lời Việt: Julie Quang) – Ca sĩ Julie Quang:

 

Cuộc Đời Hồng (La vie en rose – lời Việt: Diệu Hương) – Ca sĩ Ý Lan:

 

La vie en rose – Ca sĩ Bạch Yến:

 

La vie en rose – Ca sĩ Edith Piaf:

La vie en rose – Ca sĩ Jolie Môme

 

La vie en rose – Ca sĩ Andrea Bocelli:

 

La vie en rose – Ca sĩ Celine Dion:

 

La vie en rose – Minh tinh điện ảnh Marlene Dietrich:

 

La vie en rose – Ca sĩ Mireille Mathieu:

 

La vie en rose – Ca sĩ Brenda Lee:

 

La vie en rose – Ca sĩ Aretha Franklin:

 

La vie en rose – Ca sĩ Bette Midler:

 

La vie en rose – Ca sĩ Melissa Manchester:

 

La vie en rose – Ca sĩ Grace Jones:

 

La vie en rose – Nhạc sĩ Louis Armstrong:

La Vie En Rose – Wynton Marsalis Quintet & Richard Galliano Album: From Billie Holiday to Edith Piaf: Live in Marciac 2008 – Instrumental jazz

Édith Piaf & Théo Sarapo – song ca “À Quoi Ça Sert L’amour?” (phụ lục):

 

Lễ cưới của Édith Piaf & Théo Sarapo năm 1962 (phụ lục – clip tài liệu này không có âm thanh):

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s