Tân Nhạc VN – Nhạc ngoại Quốc Lời Việt – Thời kỳ Hiện Đại – “Mộng Vàng” (“Olé Guapa”) – Antonio Malando

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc phẩm “Mộng Vàng” (Olé Guapa) của hai nhạc sĩ Antonio Malando (Arie Massland)Phạm Duy.

Nhạc sĩ Antonio Malando, tên thật Arie Maasland (sinh ở Rotterdam, ngày 26 tháng 5 năm 1908 – mất ở Bussum, ngày 22 tháng 11 năm 1980) vừa là nhạc sĩ vừa là nhà soạn nhạc người Hòa Lan (Dutch). Nhiều tác phẩm của ông được xuất bản dưới nghệ danh Antonio Malando.

Buổi đầu Antonio Malando theo học ngành họa kiến trúc nhưng sau đó ông đổi sang học âm nhạc. Ông học đàn Piano với John Kriek lúc ông 6 tuổi. Khi còn là sinh viên ông thành lập một ban nhạc hòa âm giao hưởng. Sau đó ông là người chỉ huy ban nhạc “The Jumping Jacks”, một ban nhạc gồm có 6 thành viên do ông điều khiển trình diễn kể từ năm 1933 đến năm 1939 trong lúc ông là một nhạc sĩ chơi phong cầm (accordionist) và trống (percussionist). Trong thời gian này ông đã sáng tác nhiều bài cho ban nhạc trình diễn, đặc biệt là các bài Tango theo phong cách riêng của ông. “Opus 1” của ông là bài Tango mang tên “Annie”.

“Annie” là bản Tango đầu tay của Antonio Malando viết năm 1935 – trên có ghi đồng tác giả là vợ mới cưới của ông: bà Johanna Cornelia van der Star.

Nhạc sĩ Antonio Malando (1908-1980).
Nhạc sĩ Antonio Malando (1908-1980).

Hai năm sau, ông viết bản thứ tư, và cũng là một bản để đời của mình: “Olé Guapa”, tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “Xin Chào Mỹ Nhân” (“Hello Beauty”).

Lúc đầu ông gặp khó khăn phát hành “Ole Guapa” nên ông nhận chịu phần thiệt hại. Nhưng sau khi “Olé Guapa” phát hành đã nhanh chóng trở thành nổi tiếng và thành công trên toàn thế giới.

Năm 1942 nhạc phẩm được Jacques van Tol đặt lời với tự đề “Tango For Three” và thu âm bởi ca sĩ Willy Derby, nhưng phiên bản nhạc không lời lại luôn tồn tại và bay bổng. Sự thành công nhanh chóng của “Ole Guapa” được chú ý do bởi vì đây là tác phẩm của một nhạc sĩ không tên tuổi của một ban nhạc địa phương người xem vào cửa tự do trong địa phận Hilversum mà không đến từ một trung tâm thu âm nào khác.

Sau “Olé Guapa”, Antonio Malando lên đường lưu diễn. Ông thành lập ban nhạc giao hưởng của riêng ông, “Malando Which Leeuwarden” vào ngày 1 tháng 7 năm 1939, và trình bày nhạc phẩm “Spoorzicht” bằng phong cách vũ điệu. Ông soạn thêm nhiều bài Tango riêng tư trong kho nhạc Tango của ông, trong đó có bài “Bonita Nina” (1938), dành tặng riêng cho con gái 4 tháng tuổi của ông tên Lia.

malando_bìa

Thời kỳ Thế Chiến II, ông bị bắt giữ và chuyển đến trại tù “Camp Amersfoort”, nhưng ông trốn thoát cùng với hai thành viên khác trong ban nhạc. Sau cách mạng, ông tiếp tục trình diễn nhạc giao hưởng, những năm đầu ông kết hợp với Jan Gorissen chơi đàn phong cầm. Một ký kết hiệp ước với VARA năm 1946, danh tiếng của giàn nhạc giao hưởng và yếu tố thời gian giữa những năm 1947 đến 1960 tăng thêm rất nhiều tour lưu diễn ở Âu Châu, East Indies, và Japan trong thời kỳ này.

Năm 1968, Antonio Malando lưu diễn ở Argentina, quốc gia mẹ đẻ của Tango. Vào ngày 23 tháng 5 năm 1979, ông chào từ biệt khán thính giả khắp nơi bằng một TV show của VARA.

Antonio Malando có tổng cộng khoảng 150 tác phẩm. Ông viết cho các dàn nhạc giao hưởng, các ban nhạc hòa tấu. Antonio Malando thường được vinh danh như trong năm 1959 ở Pavia, Italy với Oscar Global là một đệ nhất nhạc sĩ phong cầm năm 1964 cùng với Edison Price và hai năm sau ông nhận giải Golden Harp của Conamus Foundation. Năm 1973 ông nhận huy chương của hoàng gia.

Antonio Malando, kể từ ngày 31 tháng 10 năm 1934, đã thành hôn với bà Johanna Cornelia Van Der Star, người mà ông cùng có cô con gái tên Lia.

malando_OLG

Nhạc phẩm “Olé Guapa” (Nhạc sĩ Antonio Malando)

Nhạc sĩ Phạm Duy.
Nhạc sĩ Phạm Duy.

Nhạc phẩm “Mộng Vàng” (“Olé Guapa” – bản tiếng Việt của NS Phạm Duy)

Vai em nhẹ nâng mái tóc như dòng suối mơ thì thầm đêm vắng
Vai em nhẹ nâng mái tóc như dòng suối êm lượn quanh trong nắng
Đôi môi em tươi thắm khoe màu sắc yêu đậm đà
Dịu hiền duyên dáng thiết tha đẹp như ý thơ

Khi em cười vui anh thấy như trời sáng lên màu tươi trong mắt
Khi em cười vui anh thấy như ngàn đóa hoa tỏa hương thơm ngát
Xin cho anh câu nói em từng nói trong hơi thở
Rằng tình mình giống như mơ mãi không phai mờ

Xin cho bền lâu cho đẹp mãi tình tôi và nàng
Dù cho một mai tôi xin thời gian mãi ru mộng vàng

Vai em nhẹ nâng mái tóc như dòng suối mơ thì thầm đêm vắng
Vai em nhẹ nâng mái tóc như dòng suối êm lượn quanh trong nắng
Đôi môi em tươi thắm khoe màu sắc yêu đậm đà
Dịu hiền duyên dáng thiết tha đẹp như ý thơ

Khi em cười vui anh thấy như trời sáng lên màu tươi trong mắt
Khi em cười vui anh thấy như ngàn đóa hoa tỏa hương thơm ngát
Xin cho anh câu nói em từng nói trong hơi thở
Rằng tình mình giống như mơ mãi không phai mờ

Dưới đây mình có bài:

– Ole Guapa (Mộng Vàng), MALANDO – Blue Tango (Tango Xanh), ANDERSON (trích)

Cùng với 6 clips tổng hợp nhạc phẩm “Mộng Vàng” (“Olé Guapa”) do các ca nhạc sĩ lừng danh trên thế giới trình diễn để các bạn tiện việc tham khảo thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Nhạc sĩ Antonio Malando (1908-1980).
Nhạc sĩ Antonio Malando (1908-1980).

Ole Guapa (Mộng Vàng), MALANDO – Blue Tango (Tango Xanh), ANDERSON (trích)

(Hoài Nam)

Trong bài kỳ trước, chúng tôi đã viết về xuất xứ của thể điệu Tango và giới thiệu hai ca khúc Tango Á-căn-đình được ưa chuộng nhất là La Cumparsita (Vũ nữ thân gầy), và El Choclo (Tình yêu như mũi tên), kỳ này tiếp tục giới thiệu những ca khúc Tango nổi tiếng, chúng tôi sẽ lần lượt gửi tới quý độc giả hai bản Ole Guapa (Mộng Vàng) và Blue Tango (Tango Xanh).

Trước hết, viết về bản Ole Guapa, nếu chỉ đọc cái tựa cái bằng tiếng Tây-ban-nha và tên tác giả Antonio Malando (cũng tiếng Tây-ban-nha), có lẽ đa số độc giả sẽ cho đây là một bản Tango Á-căn-đình của một tác giả gốc Á-căn-đình – một quốc gia Nam Mỹ nói tiếng Tây-ban-nha.

Thế nhưng thực tế hoàn toàn trái ngược: Ole Guapa là một bản Tango của Hòa Lan, và cái tên “Antonio Malando” chẳng qua chỉ là “nghệ danh” công dân Hòa Lan Arie Massland. Sự say mê cũng như tài nghệ của Arie Massland và hậu duệ của ông trong lĩnh vực sáng tác và trình diễn Tango Á-căn-đình, cho tới nay vẫn còn là một điều thú vị đối với giới thưởng ngoạn.

Arie Massland sinh năm 1908 tại Rotterdam, Hòa Lan, trong một gia đình lao động. Sau khi tốt nghiệp trung học, Arie theo học ngành họa viên kiến trúc, nhưng chẳng bao lâu sau đó, chàng bỏ dở để chọn âm nhạc.

Thực ra, Arie Massland đã tỏ ra có năng khiếu và theo học nhạc từ nhỏ, song song với học chữ. Năm mới lên 6, cậu được thu nhận vào trường nhạc của danh sư January Kriek, học dương cầm trong thời gian 6 năm. Ngay khi còn ở bậc trung học, Arie Massland đã thành lập một “ban nhạc bỏ túi” để cùng các bạn thực tập.

Sau khi rời trường kiến trúc, năm 1933, Arie Massland thành lập một ban nhạc 6 người (sextet) lấy tên là The Jumping Jacks, trong đó chàng nhạc sĩ 25 tuổi chơi đàn accordéon và bộ gõ (percussion).

Vừa chơi nhạc, Arie Massland vừa sáng tác, vừa kiêm cả chức ông bầu, qua đó chàng nhận thấy người yêu nhạc ngày càng có khuynh hướng ưa chuộng thể điệu Tango, thể điệu mà cho tới lúc ấy ở Âu châu vẫn còn bị mang ít nhiều tiếng xấu. Nhưng sau chuyến lưu diễn Âu châu, trong đó có Hòa-lan, của dàn nhạc Tango Á-căn-đình của nhạc trưởng Eduardo Bianco, Tango đã được mọi thành phần xã hội ưa thích nhất so với tất cả mọi thể điệu. Thế là Arie Massland quyết định biến The Jumping Jacks thành một ban nhạc chuyên trình diễn Tango, và tự sáng tác các bản Tango cho ban nhạc của mình.

Chịu ảnh hưởng của nhạc trưởng Eduardo Bianco lẫn giai điệu của Tango Á-căn-đình, Arie Massland cố gắng rập khuôn thể điệu này, thế nhưng các bản Tango của ông vẫn có sắc thái riêng biệt, mà sau sau này giới nhạc sử gia gọi là “a continental style” (phong cách lục địa Âu châu). Một cách ngắn gọn, Tango Á-căn-đình của Arie Massland đơn giản hơn nhưng giai điệu lại dễ thu hút quần chúng hơn. Dường như nghe Tango của Arie Massland, ai cũng muốn ra sàn nhảy. Bản Tango đầu tay của Arie Massland là Annie viết năm 1935 – trên có ghi đồng tác giả là người vợ mới cưới của ông: Johanna Cornelia van der Star.

Hai năm sau, ông viết bản thứ tư, và cũng bản để đời của mình: Ole Guapa, tiếng Tây-ban-nha có nghĩa là “Xin chào Mỹ nhân” (Hello Beauty).

Vào thời gian này (1937), Arie Massland còn là một nhạc sĩ vô danh tiểu tốt, và cũng chẳng có mấy người biết tới ban nhạc The Jumping Jacks của ông, cho nên ông tới gõ cửa nhà xuất bản nào cũng bị từ chối. Cuối cùng, Arie Massland đánh liều vay mượn vốn liếng để tự xuất bản, nếu không thành công coi như phá sản!

Nhưng Ole Guapa (lúc đó chưa có lời hát) đã mau chóng nổi tiếng quốc tế và được xem như một hiện tượng lạ, bởi vì tác giả là một nhạc sĩ vô danh, của một ban nhạc mà “không một đài phát thanh hay hãng đĩa nào cho bén mảng tới”. Càng lạ lùng hơn nữa khi tác giả của bản Tango Á-căn-đình này lại chưa từng đặt chân tới Á-căn-đình và cũng không hề học nhạc với một vị thầy Á-căn-đình nào cả!

Theo lời nhạc sư Weersma Melle, người sống cùng thời với Arie Massland, thì chỉ cần một thời gian 2 năm, Ole Guapa đã trở thành tác phẩm do một công dân Hòa Lan sáng tác nổi tiếng nhất xưa nay trên trường quốc tế.

Cùng với thành công quốc tế của bản Ole Guapa, giữa năm 1939, Arie Massland lấy một cái tên nghệ sĩ “Tây-ban-nha đặc” là Antonio Malando và thành lập dàn hòa tấu quy mô Malando, tưng bừng ra mắt tại vũ trường Spoorzicht vào ngày 1 tháng 7 năm ấy. (Từ đoạn này, chúng tôi sử dụng nghệ danh Antonio Malando của ông)

Từ đó, Malando mới có cơ hội giới thiệu những sáng tác trước đây chưa được phổ biến của mình, trong đó có bản Tango nổi tiếng Nina Bonita (1938) viết cho cô con gái 4 tháng tuổi Lia. Song song, Malando còn sáng tác nhiều bản theo thể điệu Rumba của Cuba, và một số bản theo để điệu Paso Doble của Tây-ban-nha để chương trình trình diễn của ban nhạc thêm phần phong phú.

Nhưng rồi Đệ nhị Thế chiến xảy ra, Hòa Lan bị Đức Quốc Xã chiếm đóng. Năm 1944, Malando và hai thành viên khác trong Dàn nhạc Malando bị bắt đưa tới trại tập trung Amersfoort, nhưng cả ba đã cùng nhau đào thoát trên đường đi.

Sau khi Thế chiến chấm dứt, Dàn nhạc Malando được tái hợp, tăng cường thêm một tay đàn accordéon, và tới năm 1947, bắt đầu nổi tiếng quốc tế với danh xưng “Malando và dàn nhạc Tango-Rumba”.

Một trong những điểm độc đáo, và cũng là khác biệt chính giữa Dàn nhạc Malando và các dàn nhạc Tango Á-căn-đình của Nam Mỹ, là tiếng đàn bandonéon đã được thay bằng tiếng accordéon quen thuộc của Âu châu.

Trong hai thập niên 1950, 1960, Dàn nhạc Malando đã lưu diễn khắp Âu châu, sang quần đảo West Indies, rồi xuống Nam Dương (một cựu thuộc địa của Hòa Lan)… Năm 1959, khi tới trình diễn tại thành Pavia, nước Ý, Antonio Malando đã đoạt giải “Nhạc sĩ đàn Accordéon hay nhất thế giới”.

Thế nhưng, chính quần đảo Phù Tang mới là nơi Dàn nhạc Malando được ái mộ nhất và đạt thành công rực rỡ nhất: sau chuyến trình diễn đầu tiên vào năm 1964, Dàn nhạc Malando đã được mời trở lại rất nhiều lần. Riêng số đĩa nhựa (LP) của Malando được phát hành tại Nhật thì không một ai có thể tưởng tượng nổi: trên 100 đĩa!

Các sáng tác của Antonio Malando cũng rất được ưa chuộng tại các quốc gia Mỹ la-tinh. Nhưng phải đợi tới năm 1968, vào tuổi lục tuần, Malando mới “dám” đưa dàn nhạc của mình tới trình diễn tại Buenos Aires, thủ đô Á-căn-đình, quê hương của Tango – thể điệu đã giúp ông nổi tiếng suốt gần 30 năm qua.

Năm 1979, vào tuổi 71, Antonio Malando giải nghệ và qua đời vào năm sau đó, để lại cho đời trên 150 tác phẩm, gồm ca khúc, nhạc khúc, và một số tổ khúc (suites) cho ban đại hòa tấu.

Đa số ca khúc, nhạc khúc của ông đều mang nặng âm hưởng Mỹ la-tinh, được viết theo các thể điệu Tango, Rumba, và Paso Doble.

Tuy nhiên, bên cạnh các sáng tác, theo các nhà phê bình, phân nửa sự ái mộ mà người yêu nhạc dành cho Antonio Malando là do phong cách trình diễn của dàn nhạc của ông. Chính Antonio Mandalo đã cho biết:

“Nhạc của chúng tôi sở dĩ đi thẳng vào trái tim người nghe nhạc, thuộc đủ mọi thế hệ, là vì mọi thành viên trong dàn nhạc của chúng tôi đều say mê âm nhạc. Họ trình diễn với tất cả đam mê và cảm xúc như thể đó là cuộc đời của họ… Không cần biết đã trình diễn bản ấy bao nhiêu lần, lần nào chúng tôi cũng cảm thấy thích thú… Đó chính là sức mạnh của âm nhạc”.

Danny Malando.
Danny Malando.

Cha truyền con nối, hiện nay dàn nhạc hòa tấu Mandalo đã được trao cho thế hệ thứ ba: Danny Malando, và vẫn tiếp tục được ái mộ, được ca tụng là một trong những dàn nhạc chuyên về Tango hay nhất thế giới. (Video clip: Danny Malando Ole Guapa – YouTube, trình diễn tại Bắc Kinh năm 2010).

Trở lại với bản Ole Guada, tới năm 1942 đã được Jacques van Tol, người đặt lời hát nổi tiếng bậc nhất của Hòa Lan, đặt lời hát với tựa dịch sang tiếng Anh là Tango for Two, và từ đó tới nay đã được đặt lời bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau.

Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là dưới hình thức hòa tấu. Vào thời điểm Antonio Malando qua đời (năm 1980) đã có trên 200 dàn nhạc trên thế giới thu đĩa bản Ole Guada. Riêng tại Tây-ban-nha, bản Tango phổ biến nhất chính là Ole Guada chứ không phải La Cumparsita.

Tại Việt Nam, trước năm 1975, Ole Guada đã được nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Mộng Vàng.

(Hoài Nam)

oOOo

Mộng Vàng (Olé Guapa) – Ca sĩ Lệ Thu:

 

Olé Guapa – Ca sĩ Willy Derby (1942):

 

Olé Guapa (1968) – Franck Pourcel:

 

Olé Guapa – Nhạc sĩ André Rieu:

 

Olé Guapa – Nhạc sĩ Dominique Paats:

 

Olé Guapa – Nhạc sĩ Tony Roël:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s