Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Thời Kỳ Cổ Điển – “Für Elise – Yêu Hoa” – Ludwig Van Beethoven & Kiêm Thêm

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Âm nhạc thời kỳ Cổ Điển (Classical Era/Golden Era) và nhạc phẩm “Yêu Hoa” (“Für Elise”) của 2 Nhạc sĩ Ludwig Van BeethovenKiêm Thêm.

Thời kỳ Cổ Điển (Classical Era/Golden Era) trong âm nhạc phương Tây thường được chấp nhận là bắt đầu vào khoảng năm 1730 và kéo dài cho tới năm 1820. Tuy nhiên, thuật ngữ “Âm nhạc Cổ Điển” (Classical Music) được sử dụng trong một ý nghĩa thông tục để mô tả một loạt các phong cách âm nhạc phương Tây từ thế kỷ 9 đến nay, và đặc biệt là từ thế kỷ 16 hoặc thế kỷ 17 đến thế kỷ 19.

Đặc điểm chính của Âm nhạc thời kỳ Cổ Điển có kết cấu nhẹ hơn và đơn giản hơn so với Âm nhạc thời kỳ Baroque. Tính đa dạng và tương phản ngày càng trở nên rõ rệt hơn trước cùng với sự thay đổi phổ biến thường xuyên về âm sắc, giai điệu có xu hướng ngắn hơn và nhịp điệu rõ ràng hơn.

Dàn nhạc đã tăng kích cỡ và phạm vi, đàn Harpsichord dần được thay thế bởi đàn Piano và từ đây nhạc cụ này ngày càng trở nên phổ biến, thông dụng hơn. Các thể loại được phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn này là Sonata, Tam tấu đàn dây, Tứ tấu đàn dây, Giao hưởng, Concerto, Dạ khúc và Divertimento.

Giai đoạn Âm nhạc thời kỳ Cổ Điển nằm giữa Âm nhạc thời kỳ BaroqueÂm nhạc thời kỳ Lãng Mạn. 3 trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng trong thời này là Joseph Haydn, Wolfgang Amadeus Mozart, và Ludwig Van Beethoven. Ludwig Van Beethoven thỉnh thoảng cũng được xem như là nhà soạn nhạc Thời kỳ Lãng Mạn hay trong “Thời kỳ Chuyển Tiếp” sang nhạc thời Lãng Mạn.

Giai đoạn “Thời kỳ Chuyển Tiếp” này đôi khi được gọi là “Kỷ nguyên Vienna Cổ Điển”, bởi vì một số nhà soạn nhạc như Wolfgang Amadeus Mozart, Franz Joseph Haydn, Antonio Salieri và Ludwig Van Beethoven đều có một thời gian làm việc ở Wien.

Ảnh chân dung nhạc sĩ Joseph Haydn do Ludwig Guttenbrunn thực hiện vào năm 1770.
Ảnh chân dung nhạc sĩ Franz Joseph Haydn (1732-1809) do Ludwig Guttenbrunn thực hiện vào năm 1770.

Franz Joseph Haydn (31 tháng 3 năm 1732 – 31 tháng 5 năm 1809) là một nhà soạn nhạc người Áo và là một trong những nhà soạn nhạc xuất chúng của nền Âm nhạc Cổ Điển, còn được gọi là “người cha của giao hưởng” và “cha đẻ của tứ tấu dây”. Ông cũng có nhiều đóng góp cho thể loại tam tấu piano và hình thức Sonata.

Trong thời kỳ dài sinh sống ở Áo, Haydn là một nhà soạn nhạc cung đình cho gia tộc Eszterházy. Tách biệt với các nhà soạn nhạc và các xu hướng âm nhạc khác cho đến tận cuối đời. Ông cũng là bạn thân của Wolfgang Amadeus Mozart và là thầy dạy của Ludwig Van Beethoven.

Joseph Haydn là anh của Michael Haydn, cũng là một nhà soạn nhạc được tôn kính, và Johann Evangelist Haydn một ca sĩ.

Joseph Haydn sinh ở một làng thuộc Rohrau của Áo gần biên giới Hungary. Cha của ông là Mathias Haydn, chủ một tiệm sửa xe kéo và sau này chịu trách nhiệm cho một chợ làng. Mẹ của Haydn, bà Maria Koller là một nhà tạo hình, trước kia từng làm đầu bếp cho dinh thự của Bá tước Harrach – người đứng đầu trong giới quý tộc làng Rohrau. Cả cha và mẹ ông đều không có khả năng xướng âm, tuy nhiên ông Mathias là một nhạc sĩ nhạc folk nhiệt tình, khoảng thời gian đi làm thuê thời trai trẻ đã dạy ông cách chơi đàn hạc. Theo hồi tưởng của Haydn thì gia đình ông thời thơ ấu luôn ngập tràn âm nhạc, họ thường xuyên hát với nhau và đôi khi hát với hàng xóm.

Cha mẹ Haydn sớm nhận ra tài năng âm nhạc của ông và cũng không khó để họ nhận thấy rằng ông sẽ không thể nào phát huy hết khả năng của mình nếu cứ ở trong làng Rohrau mãi. Chính vì lý do đó mà họ đã chấp nhận lời đề nghị của Johann Matthias Frankh, một người bà con đồng thời cũng là hiệu trưởng và còn là nhạc trưởng của một nhạc viện tại Hainburg. Qua đó Haydn có thể sống trọ tại nhà ông và được ông dạy thêm về âm nhạc. Sau đó Haydn đã lên đường đi đến Hainburg (cách Rohrau 7 dặm), và kể từ đó ông mãi mãi không bao giờ được sống cùng cha mẹ nữa, khi đó Haydn được 6 tuổi.

Khi đã trở thành thành viên của một dàn đồng ca, Haydn không hề nhận được sự huấn luyện nghiêm túc nào về các bài học lý thuyết âm nhạc cũng như được làm quen với các tác phẩm hay, ông nhận thấy đó là một sự lãng phí thời gian. Để cải thiện thêm khả năng của mình, ông đã cố thực hành thêm giai điệu cho các bản nhạc dựa trên các bài tập trong cuốn Gradus ad Parnassum của Johann Joseph Fux, và cẩn thận học theo các tác phẩm của Philipp Emanuel Bach – người mà sau này Haydn công nhận là có tầm ảnh hưởng quan trọng với ông.

Khi đã có nhiều tiến bộ, Haydn bắt đầu được biết đến trong giới nhạc sĩ, đầu tiên với tư cách là tác giả của vở opera Der krumme Teufel (tạm dịch: Con Quỷ Ẻo Lả). Tác phẩm này được viết cho diễn viên hài Johann Joseph Felix Kurz, người được khán giả sân khấu biết đến nhiều hơn với cái tên “Bernardon”. Công việc của ông thành công nhất ở năm 1753 bởi các nhân viên kiểm duyệt. Haydn biết điều đó nhưng không hề tức giận, ông chỉ đơn giản đem những tác phẩm không được đăng ký của mình ra xuất bản và bày bán ở các cửa hàng nội địa.

Với sự thăng tiến của mình trong xã hội, Haydn được sự tài trợ từ các nhà quý tộc lúc bấy giờ, đây là một việc rất quan trọng trong sự nghiệp soạn giả của ông. Bà Bá tước Thun, sau khi thưởng thức một trong các tác phẩm của Haydn, đã cho gọi ông đến và bổ nhiệm ông làm thầy dạy hát và đàn cho bà. Năm 1756, Nam tước Carl Josef Fürnberg chọn Haydn phục vụ trong điền trang của mình – Weinzierl – nơi Haydn viết những bản tứ tấu của mình bằng đàn dây. Sau này Fürnberg giới thiệu Haydn đến với Bá tước Morzin, vào năm 1757, ông này trở thành ông chủ đầu tiên mà Haydn làm việc cho toàn thời gian.

Một người bạn khác của Haydn ở Wien là Wolfgang Amadeus Mozart, ông gặp Mozart vào năm 1784. Theo lời kể của Michael Kelly và một số người thì hai nhà soạn nhạc danh tiếng này đã cùng nhau chơi đàn tứ tấu. Haydn đã thật sự ấn tượng trước tài năng của Mozart và ca ngợi không tiếc lời với mọi người về ông này. Hiển nhiên là Mozart cũng rất quý trọng Haydn, điều này thể hiện qua sáu bản tứ tấu mà ông tặng cho Haydn, ngày nay nó được gọi là “Những bản tứ tấu ‘Haydn’ ”.

Nhạc sĩ W. A. Mozart thời thơ ấu.
Nhạc sĩ Wolfgang Amadeus Mozart thời thơ ấu.

Wolfgang Amadeus Mozart (phiên âm: Vôn-găng A-ma-đêu Mô-da, Tiếng Đức: [ˈvɔlfɡaŋ amaˈdeus ˈmoːtsart], tên đầy đủ Johannes Chrysostomus Wolfgangus Theophilus Mozart (27 tháng 1, 1756 – 5 tháng 12, 1791) là nhà soạn nhạc người Áo, ông là một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng, quan trọng, và có nhiều ảnh hưởng nhất trong thể loại nhạc cổ điển châu Âu. Các tác phẩm của ông được xem là đỉnh cao trong các lĩnh vực nhạc piano, nhạc thính phòng, nhạc giao hưởng, nhạc tôn giáo và opera. Tuy đặc điểm nhạc của ông bị một số người chê trong thời đó, ông đã được nhiều nhà soạn nhạc sau này ngưỡng mộ và các tác phẩm của ông đã trở thành một phần quan trọng trong nhiều cuộc hoà nhạc. Joseph Haydn đã viết rằng: “Hậu thế sẽ không nhìn thấy một tài năng như vậy một lần nữa trong 100 năm.”

Wolfgang Amadeus Mozart sinh ngày 27 tháng giêng, 1756, tại Salzburg, Thánh chế La Mã (nước Áo hiện nay). Leopold Mozart, một nhạc sĩ violin và cũng là một giáo viên, đã đích thân giáo dục con trai của ông. Wolfgang không phải cắp sách đến trường; thay vào đó cậu được học tại nhà với cha và chị gái của cậu. Âm nhạc là môn học chính. Tuy nhiên, cậu bé Wolfgang vẫn được học toán, môn học cậu rất thích, và các môn khác như La tinh, tiếng Pháp, tiếng Ý và một ít tiếng Anh. Cậu cũng đọc rất nhiều văn học kịch nghệ, đó là chất liệu mà cậu sẽ dùng để viết opera sau này.

Wolfgang không thích chơi những trò chơi trẻ con bình thường, trừ phi có liên quan tới âm nhạc. Nhờ sự chăm lo dạy dỗ của người cha, vốn là một nhạc sĩ nổi tiếng của thành Wien, đến năm 3 tuổi đã nghe hiểu được âm nhạc, 4 tuổi đánh được đàn dương cầm cổ và organ. Cậu bắt đầu soạn nhạc cho đàn phím từ lúc năm tuổi, viết những bản nhạc hòa tấu khi cậu lên sáu. Những bản sonata cho violin được xuất bản khi cậu lên tám. Thật ra có thể nói rằng Wolfgang đã khởi đầu sự nghiệp âm nhạc trước thời gian cậu lên năm và theo đuổi cho đến ngày qua đời, ngót ba mươi năm âm nhạc.

Học vấn của Wolfgang phát triển cùng những chuyến du lịch, được xem như những cột mốc trong cuộc đời cậu. Khi cậu lên sáu, Wolfgang và người chị Maria Anna Mozart, lớn hơn cậu năm tuổi và cũng là một thần đồng âm nhạc, cùng đi với cha của họ đến München. Cuối năm đó họ chơi nhạc cho Hoàng hậu của Wien. Năm lên 7, cậu đã tổ chức những buổi diễn nhạc ở Paris, và được một nhà xuất bản ở đây xuất bản một tập nhạc, gồm 4 bản violin và organ. Sau đó, cha cậu lại dẫn cậu đi khắp các nước Ý, Anh Quốc…, gia đình Mozart nổi danh khắp những nơi cậu đến, và Wolfgang, với tài năng sớm phát triển của cậu, đã chinh phục mọi người. Quan trọng hơn, Wolfgang có cơ hội thưởng thức âm nhạc thịnh hành trong các thành phố này. Wolfgang đã gặp những nhạc sĩ khác và bắt đầu thành hình quan điểm về sự nghiệp của họ.

Wolfgang có ký ức chi tiết âm nhạc phi thường, ông có thể hợp nhất tinh hoa âm nhạc khác nhau của quốc gia này với quốc gia khác vào trong tác phẩm của mình. Tại Luân Đôn, Wolfgang gặp nhà soạn nhạc Johann Christian Bach, con trai của nhạc sĩ vĩ đại Johann Sebastian Bach. Christian trở thành người dẫn dắt nhạc sĩ Wolfgang trẻ và quan tâm theo dõi sự nghiệp của cậu. Trở về nước, Wolfgang nghiên cứu tổng phổ âm nhạc của J. C. Bach, và ảnh hưởng của Bach được thể hiện trong tác phẩm của Wolfgang vào thời gian ấy.

Khoảng cuối năm 1769, năng khiếu âm nhạc sớm phát triển của Wolfgang đã bắt đầu nở rộ, tuy mới chỉ lên mười ba, Wolfgang bắt đầu sự nghiệp sáng tác một cách nghiêm túc. Đức Tổng Giám mục tại Salzburg đã chấp nhận Mozart như một nhạc trưởng, bằng cách cấp một khoản thu nhập cho Wolfgang.

Tại Paris, Wolfgang biên soạn giáo trình âm nhạc, tiếp xúc các nhà xuất bản, viết bất cứ cái gì ông có thể bán hoặc trình diễn – những bản sônat cho đàn violin và đàn phím, một concero cho sáo và thụ cầm, những bản biến tấu đàn phím, và symphony Paris của ông.

W. A. Mozart, chân dung vào năm 1819 do Barbara Krafft vẽ.
Nhạc sĩ Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791), chân dung vào năm 1819 do Barbara Krafft vẽ.

Khi nhận nhiệm vụ nhạc trưởng và đệm đại phong cầm cho nhà thờ lớn, Wolfgang cảm thấy những nhiệm vụ đó quá tẻ nhạt. Vào 1781 anh tới München để diễn opera, vở Idomeneo, một thành công rực rỡ. Sau đó, được tòa Tổng Giám mục triệu hồi về thành Viên, Wolfgang đã tìm thấy một công việc có uy tín. Nhưng mối quan hệ căng thẳng giữa vị giáo sĩ và nhạc sĩ đã khiến Wolfgang cuối cùng đã tự rút lui vào tháng 6 năm đó.

Có lẽ trong những tháng kế tiếp Wolfgang đã gặp Haydn lần thứ nhất, Haydn lúc này đang viếng thăm thành Wien. Tình bằng hữu phát triển đã mang lại ảnh hưởng cho tốt công việc của cả hai nhạc sĩ về sau. Wolfgang, trong thời gian ấy, đã cư ngụ với gia đình Weber, và rồi, vào năm 1782, kết hôn với tiểu thư Constanze, em gái của Aloysia, mặc dù gặp sự phản đối mạnh mẽ của cha ruột. Từ đó, có một sự lãnh đạm giữa Wolfgang và cha của anh mà không bao giờ hàn gắn được. Trong những vấn đề tài chánh, cả Wolfgang lẫn Constanze đều không thận trọng. Họ đã sớm rơi vào tình trạng khó khăn.

Không có khả năng để giữ một sự chỉ định lâu dài, Wolfgang lại soạn giáo trình và viết nhạc để kiếm tiền. Vì muốn được nêu danh như một người chơi piano, ông viết nhiều những concerto piano tuyệt vời cho chính mình.

Một thời gian sau, ông đạt được kết quả đáng kể. Thành công vang dội sau vở opera Le nozze di Figaro (Đám cưới Figaro), Wolfgang du lịch tới Praha, nơi ông được ủy nhiệm viết một opera mới. Hợp tác với văn hào Lorenzo da Ponte, trong năm 1787, Wolfgang hoàn thành vở Don Giovanni. Đa số mọi người khen ngợi, nhưng có nhiều ý kiến cho rằng âm nhạc của ông ngày càng khó tiếp cận hơn. Phong thái âm nhạc nhẹ nhàng trước đây của ông đang biến mất dần; nhạc công và thính giả có nhiều lời than phiền là ngày càng khó cảm thụ hơn.

Mười năm cuối đời của Wolfgang là một thời kỳ dài của cả sự đau khổ do tài chính kiệt quệ, lẫn sức mạnh sáng tạo khác thường. Ba bản giao hưởng cuối cùng, được viết trong vòng sáu tuần lễ vào năm 1788 đã không bao giờ được trình tấu lúc sinh thời của ông. Tổng cộng, những năm này ông đã sáng tác những hơn hai trăm tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau.

Ông mất ngày 4 tháng 12 năm 1791. Hôm sau, bạn bè đến tham dự tang lễ ngoài trời. Sau đó, giữa một cơn bão tuyết dữ dội, thi hài được chuyên chở không có người đưa tiễn tới một đất thánh bên ngoài cổng thành phố. Gia đình ông vì khó khăn đã đưa thi hài ông chôn trong một nghĩa trang công cộng của người nghèo để ông yên giấc ngàn thu. Ở đó, mộ chôn chi chít và cho đến ngày nay người ta vẫn chưa xác định được mộ ông chôn ở chỗ nào.

Nhạc sĩ Ludwig Van Beethoven.
Nhạc sĩ Ludwig Van Beethoven (1770-1827).

Nhạc sĩ Ludwig Van Beethoven (phiên âm: Lút-vích van Bét-thô-ven, 17 tháng 12 năm 1770 – 26 tháng 3 năm 1827) là một nhà soạn nhạc cổ điển người Đức. Phần lớn thời gian ông sống ở Wien, Áo. Ông là một hình tượng âm nhạc quan trọng trong giai đoạn giao thời từ thời kỳ “Âm nhạc Cổ Điển” sang thời kỳ “Âm nhạc Lãng Mạn”. Ông có thể được coi là người dọn đường (Wegbereiter) cho thời kỳ “Âm nhạc Lãng Mạn”. Beethoven được khắp nơi công nhận là nhà soạn nhạc vĩ đại nhất, nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sĩ, và khán giả về sau.

Trong số những kiệt tác của ông phải kể đến các bản giao hưởng như:

Giao hưởng số 2 Rê trưởng,
Giao hưởng số 3 Mi giáng trưởng (Anh Hùng Ca),
Giao hưởng số 5 Đô thứ (Định Mệnh),
Giao hưởng số 6 Fa trưởng (Đồng Quê),
Giao hưởng số 7 La trưởng,
Giao hưởng số 9 Rê thứ (Niềm Vui),

các tác phẩm cho dương cầm như:

Für Elise và các sonata Bi tráng (Pathétique),
Ánh Trăng (Moonlight),
Bình Minh (Waldstein),
Khúc Đam Mê (Appasionata)…

các sonata cho vĩ cầm như:

Mùa Xuân (Spring),
Kreutzer…

các Piano Concerto số 2, số 3, số 5 Emperor (Hoàng Đế), Violin Concerto D major…
các khúc mở màn Overture Coriolan, Leonore, Egmont…
và vở Opera duy nhất Fidelio, v.v.

Beethoven sinh tại Bonn, Đức, cha là John Van Beethoven (1740-1782), người gốc Vlaanderen, và mẹ là Magdalena Keverich Van Beethoven (1745-1787). Cho đến tận thời gian gần đây, nhiều công trình tham khảo coi ngày 16 tháng 12 là “ngày sinh” của Beethoven, với lý do là ông được rửa tội vào ngày 17 tháng 12. Vì trẻ con vào thời đó thường được rửa tội vào ngày hôm sau ngày sinh. Tuy nhiên, các học giả hiện đại không đồng ý dựa trên giả định như vậy. Một câu chuyện vô căn cứ, hoàn toàn không có nguồn gốc cho rằng, ông là con ruột của Quốc vương Friedrich II Đại Đế nước Phổ. Cũng có tin đồn cho ông là con ruột của cháu của Quốc vương Friedrich II Đại Đế – Quốc vương Friedrich Wilhelm II. Nhạc sĩ Beethoven trở nên khó chịu, và thẳng tay bác bỏ những tin đồn nhảm kiểu này.

Thầy dạy nhạc đầu tiên cho Beethoven là cha ông, là ca sĩ tại cung của Hầu-Tuyển Đế ở Bonn, tuy nhiên cha ông cũng là người nghiện thuốc kích thích, hay đánh đập ông và không thành công trong việc chứng minh ông là thần đồng, như Mozart. Tuy nhiên, tài năng của Beethoven sớm được mọi người chú ý. Beethoven được Christian Gottlob Neefe dạy bảo và nhận vào làm, cũng như được Hầu-Tuyển Đế hỗ trợ về tài chính. Mẹ của Beethoven mất năm ông 17 tuổi, và trong vòng vài năm ông chịu trách nhiệm nuôi dưỡng hai người em trai của mình.

Ludwig Van Beethoven sinh ra trong một gia đình nhạc sĩ, tuy nhiên tổ tiên là những người nông dân và thợ thủ công có nguồn gốc từ Vlaanderen. Chữ “Van” trong tên ông không có nghĩa là xuất thân từ dòng dõi quý tộc (adlige Herkunft) mà đơn thuần chỉ là từ để chỉ nguồn gốc địa phương (örtliche Herkunft). Ông nội của ông là người Hà Lan, cũng mang tên Ludwig Van Beethoven, là một người chỉ huy dàn nhạc cung đình ở Bonn, qua đời lúc Beethoven ba tuổi. Cha ông, Johann Van Beethoven, là một ca sĩ giọng tenor trong giáo đường hoàng gia ở Bonn, biết chơi violon và piano. Mẹ của Beethoven là Maria Magdalena Keverich, là con gái một người đầu bếp cung đình, từng làm tớ gái, sau lấy tớ trai, không lâu sau lại thành vợ của ông Johann. Bà là người ngoan ngoãn, dịu hiền, chăm chỉ. Tuy cả gia đình chỉ dựa vào thu nhập ít ỏi từ ông Johann để sống qua ngày nhưng nhờ có sự đảm đang chống đỡ của bà nên vẫn duy trì được. Ludwig Van Beethoven là con trai đầu trong gia đình. Ông sinh ngày 16 (hoặc 17) tháng 12 năm 1770, làm lễ rửa tội ngày 17 tháng 12 năm 1770.

Cha của Ludwig Van Beethoven vốn rất ngưỡng mộ Mozart, người chỉ mới 5 tuổi đã là một nhà soạn nhạc. Thấy Beethoven còn nhỏ mà đã thích bấm lên những phím đàn piano của ông nội để lại, cha muốn ông trở thành một thiên tài âm nhạc như Mozart để gia đình sung sướng và danh giá nên ông được tập đàn clavio lúc ba tuổi, tiếp đó là những bài luyện đàn violon, piano, organ… Tuy nhiên, sự kỷ luật nghiêm ngặt của bố lại làm ngăn cản sự phát triển của cậu con trai. Ông bị cha mình ép đánh đàn suốt ngày đến nỗi ngón tay bị tê dại, sưng vù. Cha ông cũng không bằng lòng và thường xuyên mắng chửi ông, có khi còn đánh đập tàn nhẫn. Cha ông thường giục Beethoven dậy vào lúc nửa đêm để tập chơi dương cầm. Do vậy Beethoven thường rất mệt mỏi và không tập trung được khi đến trường. Khi Beethoven được 11 tuổi, theo quyết định của cha, Beethoven phải nghỉ học để tập trung vào âm nhạc.

Cuộc sống của Beethoven cũng có rất nhiều khó khăn. Cha ông là một người nghiện rượu và thô lỗ, mẹ ông lại hay đau ốm. Trong sáu anh chị em của Beethoven chỉ còn có hai người sống sót. Trong khi mối quan hệ giữa Beethoven với cha rất căng thẳng và xa cách thì ông lại rất thương yêu mẹ. Vào khoảng 5 tuổi ông bị chứng viêm tai giữa nhưng bố mẹ ông không hề biết đến. Do vậy ông đã không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách. Có lẽ đây chính là nguyên nhân làm ông bị điếc về sau này.

May mắn là các con của cha ông đã phát hiện ra tài năng thiên phú của Beethoven. Mọi người tìm cách thuyết phục cha cho phép để Beethoven được tiếp tục theo học nhạc với các thầy dạy nhạc khác. Trong số các thầy dạy của Beethoven, có thể kể tên Christian Gottlob Neefe (nghệ sĩ dương cầm, đại phong cầm và cũng là một nhà soạn nhạc) và Franz Angton Ries (nghệ sĩ vĩ cầm).

Năm 1781, khi Beethoven lên 11 tuổi, ông đã biểu diễn như một nghệ sĩ piano điêu luyện tại Hà Lan. Cũng trong thời gian này, ông cũng được cử làm phụ tá chơi đàn organ trong nhà thờ tại Bonn.

Năm 1782 chính Neefe đã cho xuất bản tác phẩm đầu tiên của Beethoven, bản “Các variation cho clavecin của bản March của Ernst Christoph Dressler”. Cũng chính trong năm này, Beethoven trở thành người đại diện cho Neefe ở dàn nhạc hoàng gia với vai trò nghệ sĩ đại phong cầm. Năm 14 tuổi, Beethoven giành được vị trí chính thức là nghệ sĩ chơi đại phong cầm trong dàn nhạc này. Tuy nhiên trong thời gian này ông vẫn tiếp tục luyện tập dương cầm.

Để tiếp tục học hỏi, năm 1787, Beethoven đến Wien. Trong túi áo, ông có một giấy giới thiệu của Tuyển Hầu Tước (Kurfürst) Maximilian Franz, em trai út của Hoàng đế Joseph II. Mục đích chính của chuyến đi là được theo học Wolfgang Amadeus Mozart. Vào thời điểm ấy, rất nhiều nhà soạn nhạc nổi tiếng như Joseph Haydn đã biến thủ đô của Áo thành trung tâm âm nhạc của cả châu Âu.

Tuy nhiên ước mơ theo học Mozart đã không thực hiện được vì lúc đó nhà soạn nhạc thiên tài này quá bận bịu. Hơn nữa, Beethoven cũng chỉ ở Wien được hai tháng thì mẹ ông bị bệnh nặng nên ông đành quay về Bonn. Không bao lâu sau khi ông trở về Bonn thì mẹ ông cũng qua đời. Beethoven trở thành trụ cột chính cho gia đình nên ông không có điều kiện học thêm mà phải vừa đi biểu diễn vừa đi dạy học để kiếm tiền.

Khi 19 tuổi (năm 1789), Beethoven bắt đầu theo học tại Đại Học Bonn. Tại đây và đặc biệt là thông qua Eulogius Schneider, ông đã nhanh chóng tiếp cận với những tư tưởng của Cách mạng Pháp. Niềm hứng khởi của ông về những tư tưởng tự do và bác ái của cuộc cách mạng được phản ánh trong các tác phẩm của ông sau này, đặc biệt là trong vở nhạc kịch Fidelio.

Năm 1791, 21 tuổi, ông được một cụ già ở Bonn giúp quay trở lại Wien theo học hòa âm với Haydn và một số thầy dạy khác. Sau đó tìm được một học trò để dạy mà kiếm tiền tiêu, ngoài giờ dạy nhạc ông lại sáng tác.

Năm 22 tuổi, lần thứ hai Ludwig Van Beethoven tiếp tục đến Wien và lần này ông không bao giờ quay trở lại Bonn, thành phố quê hương của ông nữa. Cha ông đã qua đời. Lãnh địa của vương hầu nơi đây đã bị diệt vong bởi sự xâm chiếm của người Pháp. Vào thời điểm đó, Wolfgang Amadeus Mozart cũng đã qua đời trong lặng lẽ. Tuy nhiên Beethoven được Joseph Haydn và Antonio Salieri nhận làm học trò. Nhờ sự giới thiệu cũng như thiên tài của mình, Beethoven đã được những người có thế lực bậc nhất của Wien như Nam Tước Van Swieten và nữ vương hầu Lichnowski nhận đỡ đầu.

Đến 1818, Beethoven điếc hẳn cả hai tai và sáng tác Bản Giao hưởng Số 8, ông lang thang ngoài phố, dáng điệu trông thảm thương. Gặp một người bạn quen, Beethoven rút ra trong túi một cây viết chì, một cuốn sổ con rồi nói: Muốn nói chuyện với tôi thì cứ viết lên mặt giấy này!”. Cái rủi này dồn dập đến cái không may khác. Trong lúc đó, người anh của Beethoven qua đời, để lại một đứa con tên Charles, nhờ Beethoven nuôi dưỡng. Charles là một đứa trẻ tinh nghịch, đủ tật xấu, nói dối, còn trẻ mà lại be bét rượu chè.

Và lúc ấy, Beethoven đã 50 tuổi. Nhạc sĩ vẫn tiếp tục sáng tác. Bản Giao hưởng số 9 ra đời, sau đó còn sáng tác thêm Bản Lễ ca trang trọng, những sonata cuối cùng: Liên tấu cho đàn piano và Tứ tấu. Trong toàn bộ di sản của ông, những tác phẩm này nổi bật hơn cả, chủ yếu vì chúng đã vượt ra ngoài các truyền thống cổ điển với lối diễn đạt hết sức thoải mái, các tâm trạng khác nhau của thế giới nội tâm.

Cuộc sống buồn chán lại tiếp diễn. Thỉnh thoảng, Beethoven lại có chuyện bực mình với đứa cháu, lại lo lắng về tiền bạc, trong lúc còn bị đau dạ dày. Năm 1826, Beethoven về sống với người em tên là Johann, để hưởng chút khí trời trong lành nhưng qua tháng 11 năm ấy, ông được gọi về Wien gấp, vì đứa cháu bị cảnh sát Wien bắt.

Beethoven đi nhờ trên chiếc xe bò của một người bán sữa đến thành Wien. Gặp trời giá lạnh, sức khỏe lúc này đã kiệt quệ, ông run cầm cập vì giá lạnh, hơi thở khó khăn và khạc ra từng đống máu. Người cháu vô ơn Charles chẳng thiết gọi bác sĩ. Đến ngày 5 tháng 1 năm 1827, Beethoven tuyên bố để lại cho người cháu tất cả tài sản của mình.

Ngày 26 tháng 3 năm 1827, cơ thể đã gần như tê liệt.Tối hôm ấy, Ludwig Van Beethoven đã trút hơi thở cuối cùng, ông đã vĩnh viễn ra đi trong sự tiếc thương, đau xót của bạn bè, người thân. Đám tang của Beethoven có hàng ngàn người đưa tiễn.Và sau đó, toàn bộ tài sản Beethoven để lại, kể cả bản thảo, đều bị đem bán đấu giá. Tất cả đều rơi vào tay của hai nhà xuất bản sách là thương gia Gaflinger và Actari với giá rẻ mạt.

Những tác phẩm của Beethoven hoàn thành trong khoảng 1803-1805 vượt trội hẳn những gì mà ông sáng tác trước đó. Đó là bản “Sonate Kreutzar” (1803) viết cho violon và piano. Bản Giao hưởng Số 3 “Anh Hùng Ca” (1804) có sức cuốn hút mạnh mẽ và gây xúc động sâu xa, lúc đầu ông đề tặng Napoléon nhưng khi Napoléon lên ngôi Hoàng đế thì ông đã xé đi lời đề tặng. Các Sonate cho piano, “Bình Minh” (1804) và “Appassionta” (1805), Bản Giao hưởng Số 4 (1806), Bản Giao hưởng Số 5 “Định Mệnh” (1808) đều có giá trị nghệ thuật lớn lao. Ông muốn lột tả trong âm thanh về một cuộc sống trong sự đấu tranh với cái chết bằng một sức mạnh khủng khiếp cuối cùng đã ca khúc khải hoàn, như nhân vật nữ trong vở Opera Fidelio (1805) ra sức bảo vệ người chồng của mình chống lại sự xấu xa bạo tàn, và trong khúc Missa solemnis là lời cầu nguyện để giải thoát khỏi đau thương chiến tranh.

Beethoven nổi tiếng nhất về chín bản giao hưởng của ông. Ông cũng soạn vài concerto, phần nhiều để ông trình diễn, cũng như nhạc dàn nhạc khác, nhất là overture và nhạc nền cho kịch tại nhà hát, và những tác phẩm để kỷ niệm những sự kiện đặc biệt.

Giao hưởng số 1 cung Đô trưởng (soạn 1799–1800, trình diễn 1800)
Giao hưởng số 2 cung Rê trưởng (soạn 1801–1802, trình diễn 1803)
Giao hưởng số 3 cung Mi giáng trưởng (Eroica, “Anh hùng ca”; soạn 1802–1804, trình diễn 1805)
Giao hưởng số 4 cung Si giáng trưởng (soạn 1806, trình diễn 1807)
Giao hưởng số 5 cung Đô thứ (“Định Mệnh” soạn 1804–1808, trình diễn 1808)
Giao hưởng số 6 cung Fa trưởng (Pastoral, “Đồng quê”; soạn 1803–1807, trình diễn 1808)
Giao hưởng số 7 cung La trưởng (soạn 1811–1812, trình diễn 1813)
Giao hưởng số 8 cung Fa trưởng (soạn 1811–1812, trình diễn 1814)
Giao hưởng số 9 cung Rê thứ (Choral, “Thánh ca”; soạn 1817–1824, trình diễn 1824)

Ngày xưa người ta tưởng rằng Giao hưởng “Jena” cung Đô trưởng là một giao hưởng sớm của Beethoven, nhưng ngày nay được cho là của Friedrich Witt. Beethoven có lẽ muốn viết Giao hưởng số 10 vào năm cuối cùng của ông; một bản vẽ phác được soạn bởi Barry Cooper.

“Für Elise”, tiếng Đức có nghĩa “Gửi Elise”, là một tác phẩm độc tấu piano nguyên có tên “Bagatelle” No. 25 in A minor (Bagatelle = đoản khúc) được Ludwig Van Beethoven sáng tác vào khoảng năm 1810.

Có ít nhất ba nhạc sĩ đã đặt lời Việt cho nhạc phẩm “Für Elise” bất hủ này. Phiên bản thứ nhất có tên “Yêu Hoa” của nhạc sĩ Kiêm Thêm do hai ca sĩ Ngọc Lan và Julie Quang trình bày. Phiên bản thứ hai có tên “Khi Tình Yêu Tới” không rõ nguồn gốc tác giả do ca sĩ Kiều Nga trình bày. Phiên bản thứ ba của nhạc sĩ Phạm Duy có tên “Khi Màn Nhung Mở Ra” do ca sĩ Khánh Ly trình bày trước đây nhưng phiên bản này hiện nay không còn phổ biến.

beethoven_Für Elise

 

Nhạc phẩm “Tout L’amour” nguyên bản Pháp văn:

(Auteurs: Bunny Botkin, Pat Murtagh, Gil Garfield
Compositeurs: Bunny Botkin, Pat Murtagh, Gil Garfield)

Ya ya ya ya ya ya ya ya ya ya ya ya

Tout l’amour que j’ai pour toi
Est brûlant comme un feu
Il est grand et plein d’éclat
C’est si bon d’être heureux
Mes cris de joie
Je te les dois
Car rien pour moi
N’est plus que toi
Même quand tu n’es pas là
Tu es présent, bien présent

Tout l’amour que j’ai pour toi
Est plus fort chaque jour
Je crois bien qu’il durera
Pour la vie, pour toujours
Quelle obsession, que ma passion
Je dis non
Tout bas, tout bas
Au moindre bruit de tes pas
Mon cœur bat, mon cœur bat

Je veux crier au monde entier
Que rien ne peut nous séparer
Tout l’amour que j’ai pour toi
C’est vraiment, tout pour moi…

violon et piano

Nhạc phẩm “Yêu Hoa” (Nhạc sĩ Kiêm Thêm)

Đến đây với nhiêu những khi buồn
Về bên anh, về bên anh
Nhớ thương mới hay biết đêm dài
Vì yêu ai,vẫn yêu hoài

Ngày xưa xa lắm,anh vẫn yêu hoa
Nhưng lúc quen em,hoa đã đua ghen

Nét môi ấy hoa thắm muôn đời
Màu hoa môi,lúc em cười
Đến nay cánh hoa vẫn chưa tàn
Đừng xa anh,đừng quên anh
Nếu em biết anh vẫn u hoài
Người hoa ơi,trót yêu rồi!

Đời bao hoa thắm,nhưng có riêng em
Trong trái tim anh,năm tháng không quên

Nét môi ấy hoa thắm muôn đời
Màu hoa môi,lúc em cười
Đến nay cánh hoa vẫn chưa tàn
Đừng xa anh,đừng quên anh
Nếu em biết anh vẫn u hoài
Người hoa ơi,trót yêu rồi!

Đời bao hoa thắm,nhưng có riêng em
Trong trái tim anh,năm tháng không quên

Nhắn em những câu nói ân cần
Về bên anh,về bên anh…

beethoven_Màn Nhung

Nguyên bản bài “Khi Màn Nhung Mở Ra” của Nhạc sĩ Phạm Duy (không còn phổ biến):

Khi màn nhung mở ra, kịch đã bắt đầu
Đèn mầu soi lên, rộn ràng sân khấu
Và ban nhạc tưng bừng vang, dạo khúc khai màn
Chàng là vai quen, trong vở ái ân nồng.

Chàng là vai chính, hiệp sĩ mắt xanh
Vì nước yêu dân, một đấng anh hùng
Nên nhiều cô phải mê và mến yêu chàng
Để buồn cho em, người đóng vai thường…

Làm sao mà trao tình em cho ai ?
Làm sao xa người yêu ?
Tình trên sân khấu, tình giữa hai vai
Tình giữa chúng tôi, tình giữ trong đời.

Tình đã dâng người ơi !
Làm sao hết thắc mắc, khó quá
Có anh trong đời không chịu để lìa xa.

Đêm kịch xong chàng đi cùng với ai rồi !
Và màn nhung buông, đời là tăm tối
Rồi em lẻ loi, lẻ loi về giữa đêm buồn
Còn mùi hương thơm, chàng đã ôm em

Chàng là vai chính, hiệp sĩ mắt xanh
Vì nước yêu dân, một đấng anh hùng…

Nên nhiều cô phải mê và mến yêu chàng
Để buồn cho em, người đóng vai thường.
Làm sao hết thắc mắc, khó quá
Có anh trong đời không thể chịu lìa xa.

Đêm kịch xong chàng đi cùng với ai rồi
Và màn nhung buông, đời là tăm tối
Rồi em lẻ loi, lẻ loi về giữa đêm buồn
Còn mùi hương thơm, chàng đã ôm em.

Tình em, còn đó, còn trong mơ
Người ơi xin gửi cho…

Dưới đây mình có bài:

– Fur Elise (Khi Tình Yêu Tới) – Ludwig Van Beethoven (1770-1827) (trích)

Cùng với 5 clips và 3 links tổng hợp nhạc phẩm “Yêu Hoa” (“Für Elise”, “Tout L’amour”, “Khi Tình Yêu Tới”) do các ca nhạc sĩ nổi tiếng xưa và nay trình diễn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn,

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

beethoven_Für Elise

Ludwig Van Beethoven
Ludwig Van Beethoven (1770-1827)

Fur Elise (Khi Tình Yêu Tới) – Ludwig Van Beethoven (1770-1827) (trích)

(Hoài Nam)

Sau thời kỳ phát triển vào thế kỷ thứ 16, 17, với “ngũ đại tiền bối” Corelli, Vivaldi, Scarlatti, Handel và Bach, bước sang thế kỷ thứ 18, nền nhạc cổ điển tây phương đã đạt tới đỉnh cao, với danh sư Haydn của Áo và hai thiên tài Mozart (Áo), Beethoven (Đức).

Một cách chính thức, nền nhạc cổ điển tây phương (Classical Musics) được chia ra làm ba thời kỳ (era, hoặc period) là Baroque era, Classical era, và Romantic era.

“Baroque era” là thời kỳ phát triển, chúng tôi đã trình bày trong bài dẫn nhập, còn “Classical era”, tạm dịch là “thời kỳ cổ điển”. Theo sự phân chia của các nhạc sử gia, “Classical era” là thời gian từ năm 1750 tới 1830. Việc sử dụng chữ “Classical” để gọi MỘT THỜI KỲ trong nền nhạc cũng được gọi là “Classical”, đã gây nhức đầu cho nhiều người, kể cả người tây phương, vì thế trừ những trường hợp bắt buộc, người ta thường sử dụng hai chữ “thời kỳ vàng son” (Golden era) một cách bán chính thức thay cho “thời kỳ cổ điển”.

Joseph Haydn (1732-1809).
Joseph Haydn (1732-1809).

Tên tuổi nổi tiếng thứ nhất của thời kỳ vàng son là Joseph Haydn. Đúng ra, tên của ông bằng tiếng Áo là Franz Joseph Hayden, nhưng vì người Đức gọi ông là Joseph Haydn, cho nên hậu thế cũng gọi theo. Sinh năm 1732 và mất năm 1809, Joseph Haydn được xem là “Cha đẻ của nhạc giao hưởng” (Father of the Symphony), “Cha đẻ của tứ tấu đàn dây” (Father of the String Quartet). Ngoài ra ông còn có công lớn trong việc phát triển thể loại tam tấu “piano trio”, gồm dương cầm, vĩ cầm và cello.

Bước sang thời hiện đại, các sáng tác của Joseph Haydn ngày càng ít được phổ biến, nhưng vào những năm cuối thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ thứ 19, ông là nhà soạn nhạc được ái mộ nhất ở Âu châu.

Joseph Haydn có người em trai cũng là một nhà soạn nhạc nổi tiếng, Michael Haydn. Đồng thời, ông còn là bạn già của Mozart và sư phụ của Beethoven.

Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791).
Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791).

Tới đây viết về thiên tài Wolfgang Amadeus Mozart. Ông sinh năm 1756, sau Haydn một phần tư thế kỷ, nhưng lại qua đời trước vị danh sư 18 năm! Mozart được hậu thế xem là nhà soạn nhạc nổi tiếng nhất và tạo nhiều ảnh hưởng nhất của thời kỳ vàng son trong nền nhạc cổ điển. Bên cạnh đó, ông còn là một nhạc sĩ dương cầm xuất chúng.

Mozart qua đời tại thành Vienne khi mới 35 tuổi, nhưng đã để lại một sự nghiệp vĩ đại, gồm trên 600 tác phẩm thuộc đủ các thể loại: giao hưởng, đại hòa tấu, thính phòng, opera, hợp xướng, hòa tấu, và độc tấu cho nhiều loại nhạc cụ khác nhau.

Chỉ tính thể loại giao hưởng, Mozart đã viết 41 bản có đánh số thứ tự từ 1 tới 41, và ít nhất là 10 bản không đánh số.

Về thể loại “serénade” (dạ khúc), Mozart viết tới 13 bản, mà bản quen thuộc nhất, sống ở xã hội tây phương, chắc hẳn ai trong chúng ta cũng nghe qua ít nhất một lần trong đời. Đó là bản Serénade số 13, cung Sol trưởng, viết cho ban nhạc thính phòng, có tựa đề bằng tiếng Đức là “Eine Kleine Nachtmusik”, nghĩa là “tiểu dạ khúc”.

Nhận xét về Mozart, Joseph Haydn đã viết như sau: “Đây là một tài năng mà có lẽ trong vòng 100 năm sắp tới, không thể tìm ra một người thứ hai”.

Về phần Beethoven, chính thiên tài âm nhạc này đã nhìn nhận những sáng tác của mình trong thời gian đầu là ” viết dưới cái bóng của Mozart!”.

* * *

Nói về Beethoven, một số tác giả đã xưng tụng: trong nền nhạc cổ điển tây phương có ba chữ “B” lớn: BACH của thời kỳ phát triển, BEETHOVEN của thời kỳ vàng son; và BRAHMS của thời kỳ lãng mạn.

Thực ra, nếu chỉ xét tính cách đa dạng, phong phú của các sáng tác, Beethoven không thể sánh với Mozart. Nhưng với không ít người yêu nhạc, các sáng tác của Beethoven lại độc đáo hơn. Bên cạnh đó, ông còn được xem là người đã khởi xướng một sự chuyển đổi từ khuynh hướng cổ điển sang khuynh hướng lãng mạn, và đã để lại ảnh hưởng sâu đậm nơi các tài danh của thời kỳ lãng mạn như Schubert, Mendelssohn, Liszt, Wagner…

Ludwig van Beethoven ra chào đời ngày 16 tháng 12 năm 1770, tại thành phố Bonn, vương quốc Cologne, ngày nay thuộc Tây Đức.

Beethoven là một dòng họ của âm nhạc. Ông nội của Ludwig van Beethoven từng giữ chức Giám đốc âm nhạc trong triều đình Cologne, cha của ông là ca sĩ tenor trong ban nhạc nói trên, ngoài ra cha ông còn dạy dương cầm và vĩ cầm để có thêm nguồn thu nhập cho gia đình.

Năm lên 5 tuổi, Beethoven bắt đầu được cha dạy nhạc, và qua năm sau, cùng một lúc đã được 3 nhạc sĩ khác – đồng nghiệp của cha hoặc họ hàng, kèm dạy 4 loại nhạc cụ: đại phong cầm, dương cầm, vĩ cầm và trung vĩ cầm (viola).

Năm 7 tuổi, Beethoven bắt đầu trình diễn trước công chúng. Năm 13 tuổi, Beethoven sáng tác những bản nhạc đầu tiên, gồm 1 bản cho đại phong cầm, và 3 bản cho dương cầm.

Năm 17 tuổi, nghe danh Mozart, Beethoven rời Bonn tới thành Vienne để xin bái sư. Nghe Beethoven đàn thử, Mozart hết lời khen ngợi. Nhưng chỉ 3 tuần lễ sau đó, được tin mẹ đau nặng, Beethoven phải bỏ Vienne trở về Bonn. Ít lâu sau, mẹ ông qua đời; cha ông trước đó vốn đã có tật nghiện rượu, nay càng nghiện nặng hơn, và Beethoven đã phải trở thành người kiếm tiền về để nuôi hai em trai.

Trong thời gian 5 năm sau khi mẹ chết, công việc chính của Beethoven là qua sự giới thiệu của bạn bè, làm người dạy nhạc cho con cái các nhà quý tộc.

Năm 1792, Beethoven lại bỏ Bonn để tới Vienne tìm đường tiến thân. Khi ấy, Mozart đã qua đời, nên Beethoven vừa thọ giáo danh sư Joseph Haydn về nhạc lý, vừa trình diễn dương cầm tại phòng khách của các nhà quý tộc, và trở nên nổi tiếng. Không còn phải bận tâm về sinh kế, tài năng thiên phú nơi Beethoven bắt đầu phát triển.

* * *

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, xét về tính cách đa dạng, phong phú của các sáng tác, Beethoven không thể sánh với Mozart. Thế nhưng những người ái mộ Beethoven cũng có quyền đặt một câu hỏi ngược lại: nếu Mozart cũng bị điếc vào tuổi 26, 27 như Beethoven, liệu sau đó Mozart có còn khả năng sáng tác như Beethoven hay không? Không ai có thể trả lời!

Nguyên từ năm 1796, hai tai của Beethoven bắt đầu mất dần khả năng nghe, gây nhiều khó khăn trong việc trình diễn và giao tiếp hàng ngày. Nhưng khả năng sáng tác thì không hề bị suy giảm. Cũng nên biết tất cả mọi bản giao hưởng, và hầu hết các “piano concerto” của Beethoven đều được ông sáng tác từ năm 1801 trở về sau. Có nghĩa khi sáng tác, Beethoven đã sử dụng trí tưởng tượng nhiều hơn là thính giác.

Người ta kể lại rằng, trong buổi trình diễn bản giao hưởng số 9 của ông – bản giao hưởng được xưng tụng là hay nhất của nền nhạc cổ điển – khi bản nhạc chấm dứt, không nghe thấy tiếng vỗ tay, ông vô cùng thất vọng. Tới khi quay xuống phía cử tọa, nhìn thấy mọi người đang vỗ tay nhiệt liệt, ông đã khóc. Vừa khóc vì thành công của bản giao hưởng sau cùng của mình, vừa khóc vì sực nhớ lại mình đã bị điếc hoàn toàn.

* * *

Trong tổng số 9 bản giao hưởng của Beethoven, các bản số 3, số 5, và số 9 nổi tiếng nhất.

Bản số 3 nổi tiếng vì được Beethoven đề tặng Napoléon Bonaparte nhưng sau đó lại đổi ý. Nguyên vào thời kỳ hỗn loạn sau cuộc Cách mạng Pháp 1789, tướng Bonaparte từ Ai-cập trở về ổn định tình hình và lên làm Đệ nhất Tổng tài (First Consul) của nền Cộng hòa Pháp.

Với Beethoven và những người có tư tưởng cấp tiến, chống chế độ quân chủ chuyên chế, thì Bonaparte là một người hùng. Vì thế, mặc dù được ông Hoàng Franz Joseph Maximillian Lobkowitz đề nghị trả một số tiền khá lớn để đề tặng bản giao hưởng số 3 cho ông ta, Beethoven vẫn quyết định đề tặng “free” cho Tướng Bonaparte.

Nghe kể lại, sau khi được tin Bonaparte dẹp bỏ chế độ cộng hòa và tự xưng hoàng đế – tức Nã-phá-luân đệ Nhất, Beethoven đã đùng đùng nổi giận, tiến tới bàn làm việc và xét nát trang đầu của bản giao hưởng trên có ghi lời đề tặng vị tướng anh hùng!

Còn bản giao hưởng số 9 thì được xưng tụng là bản giao hưởng hay nhất của nền nhạc cổ điển. Tuy nhiên, bản này khá “cao”, muốn thưởng thức hay trình diễn cũng đều phải có trình độ tương đối cao.

Còn nhớ vào cuối thập niên 1980, khi chế độ cộng sản Trung Hoa “trình làng” dàn nhạc giao hưởng thành phố Bắc Kinh, để chứng tỏ mình đã đủ trình độ quốc tế, dàn nhạc này đã trình diễn bản giao hưởng số 9 của Beethoven.

Tuy nhiên, với người yêu nhạc cổ điển nói chung – tức là thuộc đủ mọi trình độ, thì bản giao hưởng số 5 của ông mới chính là bản phổ biến nhất, được ưa chuộng nhất, được nhiều dàn nhạc trình diễn nhất. Điểm độc đáo của bản giao hưởng số 5 là chỉ cần qua 4 nốt nhạc đầu tiên, Beethoven đã cho thấy ông là một thiên tài, và các nhà phê bình đã xưng tụng đó là bốn nốt nhạc tuyệt vời nhất trong cả nền nhạc cổ điển.

Sự nghiệp âm nhạc của Beethoven lạ thường như thế nào, thì cuộc sống tình cảm của ông cũng lạ lùng như thế. Khác với đa số nghệ sĩ cùng thời, thường biết yêu rất sớm, hoặc ít ra cũng có một nàng thơ (muse) để tìm nguồn cảm hứng, chẳng hạn Chopin vào năm mới 16 tuổi, riêng Beethoven mãi tới năm 30 tuổi, mới rung động lần đầu tiên trước một người con gái, dẫn đưa tới một chuyện tình éo le, sẽ theo ông suốt một đời.

Nguyên vào giữa năm 1799, Beethoven được mời dạy dương cầm cho hai cô con gái của Nữ bá tước Anna Brunsvik. Mặc dù thời gian dạy đàn cho các cô chưa đầy một tháng, giữa Beethoven và cô chị Joséphine đã nảy sinh một tình cảm đặc biệt. Nhưng lúc đó, Joséphine đã được hứa gả cho ông Bá tước già Josef Deym, và mấy tháng sau về làm vợ ông. Từ đó, Beethoven thường lui tới nhà vị bá tước, khi thì dạy đàn cho Joséphine, khi thì trình diễn trong các dịp tiệc tùng do hai vợ chồng Bá tước tổ chức.

Mặc dù sau này người ta được biết Joséphine không tìm được hạnh phúc trong cuộc hôn nhân sắp đặt và quá chênh lệch tuổi tác ấy, nàng cũng sinh năm một, lần lượt cho ra chào đời bốn người con. Chỉ tới khi Bá tước Josef Deym qua đời sau 5 năm chung sống, chuyện tình giữa Joséphine và Beethoven mới trở nên thắm thiết.

Điều oái ăm là 4 năm trước đó, tức năm 1800, chính chị em Joséphine lại đã giới thiệu Beethoven với tiểu thư Giulietta Guicciardi. Chuyện tình của Beethoven với Giulietta đã được chính ông kể lại trong lá thư viết cho một người bạn thân vào năm 1801.

Tuy nhiên, cuộc nhân duyên giữa Beethoven và Giulietta Guicciardi đã không thành vì bị ông bố của nàng kịch liệt phản đối, bởi ông cho rằng một người xuất thân từ hàng thứ dân như Beethoven không xứng với cô con gái cành vàng lá ngọc của ông.

Hai năm sau, Giulietta lấy Bá tước Wenzel Robert von Gallenberg. Mười chín năm sau, cuộc hôn nhân tan vỡ, Giulietta đề nghị Beethoven nối lại tình xưa nhưng ông đã lạnh lùng từ chối.

Nhưng dù không thành, chuyện tình của Beethoven với Giulietta Guicciardi cũng đã để lại cho đời một nhạc khúc bất hủ, mà ông đã đề tặng nàng khi tình còn đẹp. Đó là bản sonata số 14, soạn cho dương cầm, có tựa đề là “Ánh trăng” – tức “Clair de Lune” trong tiếng Pháp, “Moonlight” trong tiếng Anh.

Bản này, cùng với bản “Fantaisie Impromtu” của Chopin mà chúng tôi sẽ giới thiệu trong nay mai – một bản êm đềm chậm rãi, một bản réo rắt dồn dập, là hai bản cổ điển được những người đàn dương cầm ưa chuộng nhất.

* * *

Trở lại với mối tình đầu của Beethoven, năm 1804, Bá tước Josef Deym qua đời, Joséphine trở thành góa phụ. Thế là 5 năm tình cũ, giờ đây mới được thỏa nguyện. Nhưng Joséphine chỉ muốn làm người tình của Beethoven chứ không muốn chung sống chính thức như vợ chồng. Theo lời kể lại của những người biết rõ câu chuyện, ngày ấy Beethoven đã tha thiết ngỏ lời cầu hôn, nhưng bị Joséphine khước từ.

Để rồi 3 năm sau, 1807, Joséphine đã phải nuốt lệ chấm dứt hẳn với Beethoven. Nàng đem bổn phận của một người mẹ với bốn con thơ dại làm lý do để viện dẫn, nhưng người ngoài thì hiểu nguyên nhân chính là vì Joséphine thuộc dòng dõi quý tộc, còn Beethoven xuất thân chốn dân dã, nàng cần giữ thanh danh vì tương lai của các con.

Ngoài Joséphine Deym và Giulietta Guicciardi, còn có thêm một bóng hồng đặc biệt khác trong đời Beethoven – mà hậu thế tin rằng đã được ông đề tặng nhạc khúc bất hủ “Fur Elise”.

Thérèse Malfatti.
Thérèse Malfatti.

Bóng hồng ấy là Thérèse Malfatti, một nữ nhạc sĩ dương cầm ở thành Vienne, vừa là bạn vừa là học trò của Beethoven, kém ông 22 tuổi.

Thérèse là con gái của một thương gia giàu có, sau này được triều đình Áo phong tước. Nàng và cô em gái Anna rất yêu nhạc; năm 1811, Anna kết hôn với Ignaz von Gleichenstein, một người bạn trẻ của Beethoven.

Về phần Thérèse, trước đó 1 năm, tức 1810, đã được Beethoven ngỏ lời nhưng nàng khước từ. Có điều lạ là tuy từ chối lời cầu hôn của Beethoven, Thérèse vẫn duy trì một “mối tình văn nghệ” với nhà nhạc sĩ mãi cho tới năm 1816, khi nàng trở thành vợ của một nhà quý tộc kiêm chính khách người Áo.

Gần một nửa thế kỷ sau, vào năm 1865, tức là 38 năm sau ngày Beethoven qua đời, và Thérèse cũng đã yên giấc nghìn thu được 14 năm, nhạc sĩ Ludwig Nohl mới khám phá ra trong số di sản về âm nhạc mà bà để lại cho người thừa kế, có bản thảo viết tay tựa đề “Fur Elise” của Beethoven, đề tặng Thérèse ngày 27 tháng Tư năm 1810 – tức là thời gian Beethoven ngỏ lời với Thérèse. Ludwig Nohl liền xin sao chép bản thảo này và 2 năm sau (1867) cho xuất bản.

Có điều đáng nói là từ đó cho tới nay, không một ai được nhìn thấy bản thảo nguyên thủy của Beethoven đề tặng Thérèse. Nghĩa là nếu bản thảo ấy có thực, nó đã bị thất lạc vĩnh viễn.

Tạm thời tin vào tất cả những gì nhạc sĩ Ludwig Nohl kể lại, một câu hỏi cũng phải được đặt ra: tại sao tựa đề nhạc khúc ấy lại là “Fur Elise” – có nghĩa là “cho nàng Elise”.

Elise là ai?

Vì “Elise” là một cách gọi thân mật của “Elisabeth”, cho nên có giả thuyết cho rằng Beethoven viết nhạc khúc này để tặng Elisabeth Rockel, một nữ ca sĩ giọng soprano nổi tiếng của Đức đương thời, và cũng là một người bạn trẻ của Beethoven; nếu thế, tại sao bản này lại được ông đề tặng cho Thérèse Malfatti?!

Không ai có câu trả lời, để rồi lâu lâu lại có thêm một giả thuyết, một huyền thoại mới. Giả thuyết ra vẻ ly kỳ nhất cho rằng chính người thừa kế của Thérèse Malfatti đã giả chữ viết và chữ ký của Beethoven để ghi lời đề tặng “tưởng tượng” ấy (cho Thérèse) lên bản thảo.

Gần đây nhất, trong luận án tiến sĩ âm nhạc của mình, nhà nhạc học người Ý Luca Chiantore còn đi xa hơn khi cho rằng, bản thảo “Fur Elise” mà Thérèse Malfatti để lại cho người thừa kế, không phải là bản thảo nguyên thủy của Beethoven, mà là do người khác sao chép lại.

Nhưng nói cho cùng, dù Beethoven sáng tác bản “Fur Elise” để tặng nàng ca sĩ trẻ Elisabeth Rockel hay tặng người tình Thérèse Malfatti, hoặc chẳng tặng ai cả, giá trị để đời của nhạc khúc ấy cũng như sự yêu thích của người thường ngoạn, cũng không thay đổi.

Cũng xin viết thêm, “Fur Elise” thuộc thể loại “bagatelle”, có nguồn gốc từ Pháp, là những nhạc khúc ngắn, đơn giản, vui tươi, thường được viết cho dương cầm.

* * *

Ludwig van Beethoven qua đời ngày 26 tháng 3 năm 1827, hưởng dương 56 tuổi. Đúng vào lúc ông tắt thở, một cơn giông tố sấm sét chưa từng thấy đã ập xuống thành Vienne. Kết quả giảo nghiệm cho thấy Beethoven chết vì xơ gan, có lẽ do hậu quả của việc uống rượu quá độ trong những năm cuối đời.

Hơn 20.000 người dân thành Vienne đã tiễn đưa Beethoven tới nơi an nghỉ sau cùng. Trong số những người khiêng quan tài của ông có Franz Schubert, tác giả hai bản Ave Maria và Dạ Khúc bất hủ. Để rồi một năm sau, chính Schubert cũng qua đời, và yên nghỉ bên cạnh Beethoven trong nghĩa trang Wahring ở ngoại ô thành Vienne.

* * *

Trở lại với bản “Fur Elise”. Bản này được Beethoven soạn cho dương cầm, nhưng vì được quá nhiều người yêu chuộng, sau này đã được soạn hợp âm cho cả tây-ban-cầm, mà hầu như những ai chơi đàn ghi-ta classic cũng đều nhuần nhuyễn!

Tới năm 1959, “Fur Elise” được đặt lời bằng tiếng Pháp với tựa đề “Tout L’amour” – Trọn tình em trao anh – và được nữ danh ca Dalida trình bày theo thể điệu Mambo, đã trở thành ca khúc ngoại quốc được ưa chuộng bậc nhất trong suốt mấy năm liền tại Hòn ngọc viễn đông.

Về sau, ca khúc này đã được đặt lời Việt với tựa đề “Khi tình yêu tới”, và được Kiều Nga trình bày thể điệu New Wave.

Sinh thời, Beethoven được mô tả là người rất khó tính. Tuy nhiên có lẽ giờ này dưới suối vàng, ông cũng mỉm cười bao dung, thậm chí mãn nguyện, trước việc một tác phẩm cổ điển của mình lại được cả thế hệ trẻ ngày nay yêu chuộng.

Nhưng vinh dự lớn nhất trong những vinh sự dành cho Ludwig van Beethoven phải là việc một đoạn trong bản giao hưởng số 9 của ông đã được sử dụng làm nhạc thiều chung cho cả Âu Châu (European anthem).

Đó là đoạn thứ tư và cũng là phần kết của bản giao hưởng này, có tựa đề là “Ode to Joy” (Bài hoan ca).

Vào năm 1985, các vị nguyên thủ quốc gia thuộc Cộng Đồng Âu Châu (European Community – tới năm 1993 trở thành Liên Hiệp Âu Châu, European Union) đã quyết định chọn bản “Ode to Joy”, với ý nghĩa: Tự do, Hòa bình và Đoàn kết.

(Hoài Nam)

oOOo

Für Elise – Ivo Pogorelich độc tấu Piano:

 

Für Elise – Piano & Orchestra – Arranged & Orchestrated by Georgii Cerkiin:

 

Tout L’amour – Ca sĩ Dalida (1959):

 

Tout L’amour – Ca sĩ Dario Moreno:

 

Tout L’amour – Ca sĩ Caterina Valente (1959):

 

Mời các bạn click vào 3 links dưới đây để thưởng thức 3 ca sĩ Kiều Nga, Ngọc Lan, Julie Quang trình bày nhạc phẩm “Fur Elise” – lời Việt “Khi Tình Yêu Tới”“Yêu Hoa”:

Khi Tình Yêu Tới – Ca sĩ Kiều Nga

Yêu Hoa – Ca sĩ Ngọc Lan

Yêu Hoa – Ca sĩ Julie Quang

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Thời Kỳ Cổ Điển – “Für Elise – Yêu Hoa” – Ludwig Van Beethoven & Kiêm Thêm”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s