Tân Nhạc VN – Ca Khúc Vượt Thời Gian – “Giọng Ca Dĩ Vãng”, “Cho Tôi Được Một Lần”, “Nếu Xuân Này Vắng Anh”

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn các ca khúc “Giọng Ca Dĩ Vãng”, “Cho Tôi Được Một Lần”, “Nếu Xuân Này Vắng Anh” của Nhạc sĩ Bảo Thu.

Nhạc sĩ Bảo Thu tên thật là Nguyễn Trung Khuyến, ông là một nhà tạp kỹ nổi tiếng. Về âm nhạc, ông là một nhạc sĩ “Nhạc Vàng” danh tiếng trước năm 1975 được biết đến với nghệ danh Bảo Thu. Về ảo thuật, ông là một trong số ít ảo thuật gia Việt Nam có bằng Tiến Sĩ Ảo Thuật do Hiệp Hội Ảo Thuật Gia Quốc Tế trao và được biết đến với nghệ danh Nguyễn Khuyến.

Ông sinh ngày 19 tháng 2 năm 1944 tại Sài Gòn. Ông nội ông là cụ Nguyễn Văn Hậu, hiệu Thuần Đức, còn gọi là Nguyễn Trung Hậu, là một nhà giáo, nhà báo, đồng thời cũng là một chức sắc cao cấp của đạo Cao Đài với phẩm Bảo Pháp. Thân phụ ông là nhà báo Nguyễn Trung Ngôn, bút danh Tâm Đức, đồng thời cũng là một chức sắc của đạo Cao Đài với phẩm Hiền Tài.

Sinh trưởng trong gia đình trí thức nhưng gia cảnh sa sút, từ năm 8 tuổi, ông bắt đầu học nhạc lý và đàn mandolin với nhạc sĩ Văn Thủy. Năm 15 tuổi, ông được nhạc sĩ Lâm Tuyền dạy nhạc miễn phí và còn tặng cho cây đàn guitar.

Nhạc sĩ Bảo Thu thời trẻ.
Nhạc sĩ Bảo Thu thời trẻ.

baothu_Giọng Ca Dĩ Vãng1

baothu_Giọng Ca Dĩ Vãng2

baothu_Giọng Ca Dĩ Vãng3

Sớm biểu lộ tài năng trong lĩnh vực tạp kỹ, đặc biệt với bộ môn ảo thuật, từ năm 1959, ông thường đi theo làm thành viên dự bị và diễn ảo thuật cho ban nhạc Lâm Tuyền cùng Nguyễn Ánh 9, Duy Khiêm, Phùng Trọng… Năm 1960, với nghệ danh Nguyễn Khuyến, ông nổi tiếng là Thần Đồng Ảo Thuật tại Việt Nam khi mới 16 tuổi. Trong khoảng thời gian này, ông học sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau như trống, guitar… Đặc biệt, ông được thọ giáo ngón đàn guitar của giáo sư/nhạc sĩ Hoàng Bửu, chuyên về guitar flamenco.

Năm 1962, ông chính thức gia nhập Hội Ảo Thuật Pháp Quốc (Association Française des Artistes Prestidigitateurs -A.F.A.P.) tại Paris. Năm 1963, ông trúng tuyển kỳ thi bằng Giáo Sư Ảo Thuật của trường QTAT “École International de la Magie”. Tại đây, ông được thụ giáo tiết mục Hóa Chim Bồ Câu và Xòe Bài từ ảo thuật gia quốc tế Channing Pollock. Năm 1964, ông được Hội Ảo Thuật Gia Việt Nam Cộng hòa bầu làm Đại biểu chính thức của bộ môn Ảo Thuật tại Việt Nam theo chức nhận số 26.8/64 có công chứng. Ông là người đầu tiên và duy nhất cho đến nay nhận được vinh dự này.

Cũng trong năm 1964, ông bắt đầu sáng tác nhạc và giới thiệu nhạc phẩm “Ước Vọng Tương Phùng” với nghệ danh Bảo Thu mượn tên của các cô bạn gái Bích Bảo, Thanh Thu ở Đà Lạt và Xuân Thu ở Sài Gòn ghép lại. Tác phẩm về sau nhận được giải thưởng của Đài Phát Thanh Sài Gòn. Một năm sau, ông cho ra đời nhạc phẩm “Giọng Ca Dĩ Vãng”, bắt nguồn từ chuyện tình buồn với cô học trò Phương Hoài Tâm kém ông 6 tuổi. Cũng lấy cảm hứng từ người học trò được mệnh danh “Tiếng Hát Học Trò” này, ông đã sáng tác nhạc phẩm “Tôi Yêu Tiếng Hát Học Trò”“Vọng Về Tim” nhưng không nổi tiếng bằng.

baothu_Nếu Xuân Này Vắng Anh1

baothu_Nếu Xuân Này Vắng Anh2

baothu_Nếu Xuân Này Vắng Anh3

Năm 1966, ông được mời phụ trách chương trình “Tiếng K Thời Đại”, chương trình ca vũ nhạc, ảo thuật xiếc, độc tấu đầu tiên của Đài Truyền Hình Việt Nam.

Năm 1967, ông tự xuất bản nhạc phẩm “Giọng Ca Dĩ Vãng”, do hãng đĩa Sơn Ca của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thu âm và ca sĩ Giao Linh trình bày. “Giọng Ca Dĩ Vãng” nhanh chóng trở nên nổi tiếng với số lượng bán 500.000 bản. Nhạc phẩm sau đó cũng được trình bày bởi nhiều ca sĩ có tiếng thời bấy giờ như Thanh Tuyền, Thái Châu… dù có nhiều ca từ hát sai so với nguyên bản. Ảnh hưởng của nhạc phẩm này không chỉ đem cho ông nguồn tài chính dồi dào thời bấy giờ, mà còn làm đổi tên chương trình “Tiếng K Thời Đại” thành chương trình “Tiếng Hát 20”, rồi “Chương Trình Bảo Thu”. Ông cũng được mệnh danh là “Ông Hoàng Bồ Câu” với những tiết mục ảo thuật độc đáo với chim bồ câu được thu và phát trên làn sóng truyền hình nhiều lần thời bấy giờ.

Năm 1969, ông được tổ chức International Brotherhook of Magicians IBM (Kenton Chio – USA) chính thức công nhận là Ảo Thuật Gia Quốc Tế. Năm 1971, ông thực hiện chuyến lưu diễn qua một số nước châu Âu như Pháp, Ý, Bỉ… Thời gian này, ông dừng chân tại Hà Lan để học thêm về múa và kịch nói.

baothu_Cho Tôi Được Một Lần

Sau năm 1975, ông tiếp tục được chính quyền mới mời phụ trách Chương Trình Bảo Thu, ca vũ nhạc ảo thuật xiếc biểu diễn tại các rạp trong Sài Gòn. Trong lĩnh vực âm nhạc, ông vẫn tiếp tục sáng tác.

Hiện nay, ông sống cùng gia đình tại Sài Gòn. Ông hiện là giám khảo các hội thi ảo thuật, đạo diễn dàn dựng biên tập các chương trình tạp kỹ, làm quảng cáo cho các cơ sở thương mại…

Dưới đây mình có các bài:

– BẢO THU – Từ Ảo Thuật Gia Thành Nhạc Sĩ

Cùng với 13 clips tổng hợp các ca khúc “Giọng Ca Dĩ Vãng”, “Cho Tôi Được Một Lần”, “Nếu Xuân Này Vắng Anh” do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Nhạc sĩ Bảo Thu - aka Ảo thuật gia Nguyễn Khuyến.
Nhạc sĩ Bảo Thu – aka Ảo thuật gia Nguyễn Khuyến.

BẢO THU – Từ Ảo Thuật Gia Thành Nhạc Sĩ

(Hà Đình Nguyên)

Ông là nhạc sĩ của những ca khúc quen thuộc với đông đảo quần chúng từ trước năm 1975 như “Ước vọng tương phùng”, “Giọng ca dĩ vãng”, “Đừng hỏi vì sao tôi buồn”. Ngoài ra, ông còn nổi tiếng là ảo thuật gia có tài. Dưới đây là tâm sự của ông.

– Tại sao từ ảo thuật gia Nguyễn Khuyến, anh lại trở thành nhạc sĩ Bảo Thu ?

Con người tôi khá ôm đồm. Ngoài ảo thuật, tôi còn sáng tác nhạc, biên tập, dàn dựng, đạo diễn nhiều chương trình và phim video ca nhạc. Thậm chí cả lĩnh vực múa, kịch rối tôi cũng đã học ở Hà Lan năm 1971. Riêng âm nhạc, 8 tuổi tôi đã học đàn mandoline, 15 tuổi học guitar. Thấy một thằng Sơn Đông mãi võ nghèo xác xơ nhưng chú tâm học hỏi, thầy thương, miễn học phí rồi cho cả cây đàn. Năm 20 tuổi, tôi viết bản nhạc đầu tiên Ước vọng tương phùng, năm sau ra ấn phẩm đầu tiên là Đừng hỏi vì sao tôi buồn.

– Anh có thể nói về hoàn cảnh ra đời ca khúc “Giọng ca dĩ vãng” ?

Dạo đó, cô ấy sinh hoạt trong Ban văn nghệ thiếu nhi của nhạc sĩ Nguyễn Đức. Tôi thỉnh thoảng cũng đến tham gia sinh hoạt và phụ thầy Đức dạy nhạc cho nhóm. Rồi vì nhà ở gần nhau nên tôi thường đến nhà cô ấy dạy nhạc thêm. Tình cảm giữa hai đứa nảy sinh, nhưng chưa đi đến đâu thì cô ấy cho hay là gia đình đã đính hôn cho cô từ trước. Tôi bị sốc, bèn viết : “Ngày xưa, mỗi lần em buông tiếng hát, thì anh tay phím nắn nót cung đàn. Từng nhịp nhặt khoan anh ru hồn theo tiếng tơ, nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc… Cung lỡ dây chùng, mấy ai đàn đừng sai”. Sau khi chia tay, chỉ 1-2 năm sau cô ấy trở thành ca sĩ nổi tiếng. Dẫu vậy, đến năm 1970 vẫn chưa thấy cô ấy lấy chồng.

– Thế còn bà xã anh hiện nay ?

Cô ấy là ca sĩ Thanh Tâm. Thanh Tâm cũng là học trò của tôi trong những năm 1969-1970, nhưng đến năm 1973 thì trò hết hát, thầy hết dạy vì phải cùng… chuẩn bị cho đứa con đầu lòng.

– Công việc hiện nay của anh như thế nào ?

Sản xuất, thực hiện các chương trình video cải lương. Đạo diễn các video clip ca nhạc… Bận rộn lắm. Tôi vừa đi vào vùng rốn lũ ở Tân Hồng, Đồng Tháp để làm phim ca nhạc.

Từ “tiếng hát học trò” đến Giọng ca dĩ vãng

Tôi gặp nhạc sĩ Bảo Thu vào một sáng trung tuần tháng 10/2011 ở hành lang Bích Câu trong Cung văn hóa Lao động. Lúc này, anh đang “cuốn gói” sau thời gian trưng bày gian hàng bán dụng cụ ảo thuật từ một hội chợ diễn ra ở đây.

Vậy là anh gắn bó với “nghiệp” ảo thuật đến gần 60 năm rồi. Bảo Thu kể năm 16 tuổi (1960), anh nổi tiếng trong làng ảo thuật với nghệ danh Nguyễn Khuyến (anh tên thật là Nguyễn Trung Khuyến). Chơi chung với anh là Tùng Phương – một nghệ sĩ đàn guitar, dạo mới 11 tuổi đã nổi tiếng là “thần đồng độc tấu Tây ban cầm”. Những lúc ngồi đợi đến lượt diễn, anh thường “nghịch ngợm” với đám nhạc cụ (trống, guitar…). Tiếng là nghịch nhưng thực ra anh đã chơi được mandolin và học nhạc lý căn bản từ hồi 8 tuổi, lại “học lóm” của Tùng Phương vài chiêu nên cũng không quá khó để xử lý mấy món “đồ chơi” này.

Thấy Khuyến có năng khiếu, nhạc sĩ Lâm Tuyền tỏ ý muốn dạy nhạc miễn phí cho cậu. Khuyến muốn học nhưng lại không có đàn, vậy là ông thầy bao luôn cây đàn cho học trò. Chẳng mấy chốc, Khuyến trở thành một nhạc công chuyên nghiệp, có thể “trám” vào bất cứ vị trí nào trong ban nhạc (guitar, trống, bass…). Hành trình âm nhạc của chàng trai sau này trở thành nhạc sĩ Bảo Thu bắt đầu từ đó.

Dạo ấy (khoảng 1965), ở Sài Gòn có nhiều nhạc sĩ mở lò đào tạo ca sĩ (nếu gọi là “trung tâm” thì lớn quá, gọi là “lớp” cũng không đúng, cho nên gọi “lò” là chính xác nhất). Với ban Việt Nhi, cả khi thu âm ở đài phát thanh hay tập dượt ở nhà riêng của nhạc sĩ Nguyễn Đức, hễ thiếu nhạc công là nhạc sĩ gọi Nguyễn Khuyến đến. Ban Việt Nhi gồm toàn những cô gái tuổi dậy thì (khoảng 14, 15 tuổi), hát rất hay và mắt liếc sắc như dao.

Có một cặp mắt trong ban Việt Nhi làm Nguyễn Khuyến xuyến xao. Nàng tên T., nhỏ hơn Khuyến 5 tuổi, dáng người thanh mảnh với đôi mắt to, long lanh. Mái tóc của T. luôn uốn cong cong như một vầng trăng khuyết, che lấp một phần má (sau này Khuyến mới biết, kiểu tóc đặc biệt này là để che một vết sẹo mà tạo hóa đã chơi “khăm” để lại trên má nàng)… Khi đã thân thiết, Khuyến mới biết nhà T. ở đường Tôn Đản (Q.4), gần nhà mình. Vậy là ngoài những buổi tập hát ở nhà thầy Nguyễn Đức, đôi bạn còn có dịp cận kề ở nhà của T. để “…Mỗi lần em buông tiếng hát, thì anh tay phím nắn nót cung đàn. Từng nhịp nhặt khoan anh khẽ dìu theo tiếng em. Nhẹ dìu lời ca em thăng trầm theo từng lúc. Và rồi hờn yêu trong mỗi lần em hát sai. Em nũng nịu cười, nói: “Sai là tại anh !” (Giọng ca dĩ vãng).

Bảo Thu tâm sự: “Tôi trở thành nhạc sĩ chính là do T. tạo niềm cảm hứng. Tôi nhớ mãi một hôm nàng chợt bảo tôi: ‘Có khi nào anh hình dung rằng có một người con gái ngồi bên song cửa mơ màng và chợt nhớ đến anh’. Câu nói ấy cứ ám ảnh tôi mãi, và từ ý này tôi ôm đàn viết nhạc, đó là ca khúc đầu tay ‘Ước vọng tương phùng’ ký bằng tên thật. Tưởng viết nhạc chơi cho vui, ai dè Ước vọng tương phùng được giải thưởng của đài phát thanh. Có hứng, tôi viết tiếp vài ca khúc nữa nhưng thú thực là không thành công. Lại một hôm, T. hỏi tôi: ‘Anh đã nghĩ đến chuyện lập gia đình chưa ?’. Tôi trả lời mình còn nhỏ tuổi, lại chưa có công danh sự nghiệp gì nên cũng chưa nghĩ đến chuyện vợ con (lúc đó tôi mới 21 tuổi, còn T. 16). Chợt T. nói nhỏ cho tôi biết là gia đình em đã hứa hôn cho em với một người. Tôi biết nàng ngầm gợi một điều gì đó ở tôi nhưng tôi chẳng biết phải làm sao hơn ngoài sự hụt hẫng, buồn đến nao lòng… Thế là tôi viết: ‘Ngày nào mình chưa quen biết, ngỡ ngàng khi đứng bên nhau. Ngày nay đã mến nhau rồi, vẫn còn nhìn nhau không nói… Lần đầu gặp anh em hứa, chúng mình sẽ mãi bên nhau. Giờ đây đôi ngả chia lìa. Chớ hỏi vì sao tôi buồn…’ (Đừng hỏi vì sao tôi buồn). Lần này tôi ký tên Bảo Thu. Nghệ danh này là do tôi ‘mượn’ từ tên những cô bạn gái: Bích Bảo, Thanh Thu (Đà Lạt) và Xuân Thu (Sài Gòn)…”.

Rồi cũng đến lúc T. tách khỏi ban Việt Nhi để hát đơn ca. Nàng hay mặc áo dài trắng hát trên sân khấu nên được khán giả và giới báo chí thời đó mệnh danh là “Tiếng hát học trò”. Từ danh xưng này, Bảo Thu lại viết ca khúc Tôi yêu tiếng hát học trò để bày tỏ nỗi lòng. T. thừa biết tình cảm của Thu dành cho nàng. Tuy nhiên, với cốt cách gia giáo, T. vẫn giữ một khoảng cách chừng mực khi tiếp xúc với Thu.

Khoảng 3 năm sau, bạn bè trong giới văn nghệ kháo nhau “T. sắp lấy chồng”. Để tránh cho nàng khó xử, Thu không đến tập hát cho nàng nữa. Trong những cơn buồn thấm thía, ông viết Giọng ca dĩ vãng: “Nhưng em nuôi mộng ước về tương lai, hoa mai giăng ngập nẻo đường em đi. Rồi em đành chối tiếng giao hòa, từ ly là tiếng thét đau lòng, sầu đưa lối… Lời ca ngày ấy đã xa rồi, mà ai còn chuốt mãi cung đàn, vọng về tim…”. Bài hát do Bảo Thu tự xuất bản (1967), bìa do một họa sĩ vẽ với người mẫu là ca sĩ Kim Loan. Lúc này hãng đĩa Sơn Ca của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông mới thành lập và lần đầu tiên ca sĩ Giao Linh được mời thu đĩa, Giao Linh đã chọn bài Giọng ca dĩ vãng. Trước Giao Linh cũng có nhiều ca sĩ hát Giọng ca dĩ vãng, trong đó có cả T. nhưng phải nói chính Giao Linh đã đẩy Giọng ca dĩ vãng lên đỉnh. Số lượng in ra lên đến 500.000 bản, mỗi bản bán 20 đồng. Tính ra trên 1.000 lượng vàng thu được từ tiền bán ấn phẩm ca khúc này. Sau đó, Bảo Thu viết tiếp ca khúc Vọng về tim nhưng không thành công cho lắm.

Nhạc sĩ Bảo Thu nhớ lại: “Sau năm 1975, tôi chưa một lần gặp lại T., nghe nói gia đình T. đã định cư ở Mỹ. Vừa rồi tháng 7/2011, Trung tâm Thúy Nga Paris có đến phỏng vấn tôi tại nhà, hỏi về trường hợp tôi viết ca khúc Giọng ca dĩ vãng. Tôi bảo chuyện này rất tế nhị, bởi tôi nói ra biết đâu lại gây tổn thương cho T. cũng như phương hại đến hạnh phúc gia đình T. Họ cho tôi biết chồng của T. đã qua đời. Tôi lại thấy hụt hẫng… Không hiểu sao, mỗi khi hát Giọng ca dĩ vãng, đến câu cuối “Cung lỡ dây chùng, mấy ai đàn đừng sai”, tôi lại thấy có một cái gì đó xót xa cho những cặp tình nhân đã từng một thời quấn quýt nay phải rời xa”.

(Hà Đình Nguyên)

oOo

Giọng Ca Dĩ Vãng – Ca sĩ Giao Linh:

 

Giọng Ca Dĩ Vãng – Ca sĩ Như Quỳnh

 

Giọng Ca Dĩ Vãng – Ca sĩ Chế Linh:

 

Giọng Ca Dĩ Vãng – Ca sĩ Tâm Đoan:

 

Giọng Ca Dĩ Vãng – Ca sĩ Thái Châu:

 

Cho Tôi Được Một Lần – Ca sĩ Lệ Thu

 

Cho Tôi Được Một Lần – Ca sĩ Hương Lan:

 

Cho Tôi Được Một Lần – Ca sĩ Như Quỳnh:

 

Cho Tôi Được Một Lần – Ca sĩ Lâm Nhật Tiến, Y Phụng:

 

Nếu Xuân Này Vắng Anh – Ca sĩ Hương Lan:

 

Nếu Xuân Này Vắng Anh – Ca sĩ Như Quỳnh:

 

Nếu Xuân Này Vắng Anh – Ca sĩ Vân Khánh:

 

Nếu Xuân Này Vắng Anh – Ca sĩ Đông Đào:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s