nhanhaccungdinh11

Dân ca dân nhạc VN – Nhã Nhạc Cung Đình Huế

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Ca Huế”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Nhã Nhạc Cung Đình Huế”, một bộ môn âm nhạc cung đình chính thống đặc thù trong các thời kỳ Lý, Trần, Lê, Nguyễn, của dân tộc Việt Nam chúng ta.

Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Theo đánh giá của UNESCO, “trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam, chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia”. “Nhã nhạc đã được phát triển từ thế kỷ 13 ở Việt Nam đến thời nhà Nguyễn thì Nhã nhạc cung đình Huế đạt độ chín muồi và hoàn chỉnh nhất”. Cùng với không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, đây là di sản phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận. Nhã nhạc Cung Đình Huế là một sự kế thừa,kể từ khi những dàn nhạc – trong đó có mặt nhiều nhạc khí cung đình – xuất hiện dưới dạng tác phẩm chạm nổi trên các bệ đá kê cột chùa thời Lý, thế kỉ XI-XII, đến lúc ông vua cuối cùng triều Nguyễn thoái vị vào giữa thế kỷ XX.

Về cơ bản, nhạc nghi thức trong âm nhạc cung đình Việt Nam, nhạc tế trong các đình làng cũng như loại nhạc nghi thức được chơi trong đám cưới hay đám tang, tất cả thường được chia thành hai nhóm chính: nhóm phe văn và nhóm phe võ. Việc phân chia của các nhóm nhạc cụ hòa tấu trong dàn nhạc cung đình ở Huế từ đầu thế kỷ XIX và nguồn gốc của nó đã được tìm thấy trong các quy luật của nhiều nghi thức cúng đình tại các làng xã của người Việt ở Bắc Bộ từ nhiều thế kỷ trước đây.

Niên biểu Nhã nhạc cung đình Huế:

Thế kỉ XVII – XVIII ở Phú Xuân và Đàng Trong: thời các chúa Nguyễn (1558 – 1777)

Từ những năm 30 của thế kỉ XVII, nhà văn hóa lớn Đào Duy Từ (1572 – 1634) tương truyền là tác giả của một số bài hát, điệu múa và vở hát bội cung đình thời các chúa Nguyễn, ông tổ lớn nhất của âm nhạc Huế và hát bội Huế được thờ tại nhà thờ Thanh Bình ở Huế đã tiếp thu nhạc Đàng Ngoài, và đã giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1623 – 1634) lập ra một hệ thống lễ nhạc, triều nhạc mới. Hòa thanh thự của các chúa là tổ chức âm nhạc cung đình lớn của Đàng Trong gồm ban nhạc, đội ca, đội múa đông đảo (Đại Nam thực lục tiên biên). Cuối thế kỉ XVII – đầu thế kỉ XVIII, nhạc cung đình Đàng Trong đã khá hoàn chỉnh, phong phú, hấp dẫn, theo những ghi chép và đánh giá của nhà sư Trung Quốc Thích Đại Sán, thượng khách của chúa Nguyễn Phúc Chu (1692 – 1725) sau chuyến đi thăm Đàng Trong và Phú Xuân của ông. Được mời xem ca múa nhạc và hát bội tại phủ chúa, nhà sư cho biết điệu múa nổi tiếng thời đó là điệu múa Thái liên diễn tả dáng dấp đài các, trang nhã, tình tứ của các cô ” tiểu hầu ” của đô thành Phú Xuân vừa chèo thuyền vừa tươi cười hái sen. Các ca nhi vũ nữ ấy ” đội mão vàng, áo hoa xanh dài phết đất, thoa son dồi phấn rất mực diễm lệ, làm nao lòng người xem ” (hồi ký Hải ngoại kỷ sự, bản dịch, 1963).

Cuối thế kỉ XVIII: thời Tây Sơn (1788 – 1802)

Năm 1790, tức một năm sau khi đại thắng Đống Đa ở Thăng Long, một vua Quang Trung (giả) cầm đầu một đoàn ngoại giao sang triều đình nhà Thanh, cầu hòa và chúc thọ hoàng đế Càn Long 80 tuổi. Càn Long ý phong cho vua Đại Việt là “An Nam quốc vương” và vui lòng thưởng thức đoàn “An Nam quốc nhạc” biểu diễn chúc thọ. Nhờ những ghi chép cụ thể của Đại Thanh hội điển sự lệ và tập văn kiện ngoại giao Đại Việt quốc thư mà âm nhạc cung đình thời Tây Sơn hiện ra khá rõ nét. Hội điển triều Thanh đã mô tả chính xác trang phục các nhạc công, ca công và vũ công người Việt. Nghệ nhân cung đình Tây Sơn chơi 8 loại nhạc khí mà Hội điển triều Thanh đã ghi lại bằng chữ nôm: “một cái cổ (kai kou: trống), một cái phách (kai p’o), hai cái sáo (kai chao), một cái đàn huyền tử (kai t’an hien tse, có thể là đàn tam), một cái đàn hồ cầm (kai t’an hou k’in), một cái đàn song vận (kai t’an choang wen, có thể là đàn nguyệt) một cái đàn tỳ bà (kai t’an p’i p’a), một cái tam âm la (kai san in lo). Đó là phần nhạc khí.

Về phần hát, Đại Việt quốc thư cho biết bổ sung như sau: nhân dịp lễ thượng thọ của Càn Long 80 tuổi, đoàn quốc nhạc của ta gồm 6 nhạc công và 6 ca công cung đình đã biểu diễn cho hoàng đế nhà Thanh nghe “nhạc phủ từ khúc thập điệu”. Rất có thể đây là liên khúc 10 bản “Thập thủ liên hoàn” nổi tiếng trong nhã nhạc cung đình Huế, cũng gọi là 10 bản Tấu, hay 10 bài Ngự, thậm chí có nghệ nhân gọi là mười bản Tàu(?) (mà khi được nghe chúng, người Trung Quốc chính hiệu đã cho rằng không có gì là “Tàu” cả). (Đại Thanh HĐSL, bản in 1908, Quyển 528, Thư viện Hội Châu Á Paris; Đại Việt quốc thư, TT Học liệu (Bộ Giáo dục) xb., Sài gòn 1972).

Thế kỉ XIX: Thời thịnh của triều Nguyễn (1802 – 1885)

Theo những tài liệu tham khảo hiện có, thời kỳ vàng son của âm nhạc cung đình Đại Việt – Việt Nam – Đại Nam là thịnh thời triều Nguyễn trước khi kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ vào năm 1885. Hai tài liệu chủ yếu là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (đầu thế kỉ XIX) và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của Quốc sử quán (giữa thế kỉ XIX) cho biết: Từ sau khi Gia Liều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung trung chi nhạc đã ảnh hưởng qua lại nhiều với nhạc dcổ điển đất nước và con người thính phòng (ca Huế, đờn Huế) và nhạc tuống cổ điển, cung đình đmmai (thanh nhạc và nhạc múa của hát bội Huế). Đáng chú ý là nhiều nhà hát rạp hát lớn nhỏ của vua, đại thần và dân thường được xây dựng làm nơi biểu diễn nhạc cung đình, nhạc cổ điển, hát bội hay nhạc dân gian: Duyệt thị đường trong hoàng thành, Minh Khiêm đường trong lăng Tự Đức, Cửu tư đài trong cung Ninh Thọ, rạp hát ông Hoàng Mười, nhà hát Mai Viên tại tư dinh thượng thư Đào Tấn, đã không loại trừ sự tấp nập của những rạp hát ông Sáu Ớt (Nguyễn Nhơn Từ), rạp hát gia đình họ Đoàn (ở An Cựu), rạp hát bà Tuần (tồn tại đến 1975), v.v…

1802 – 1819: Thời Gia Long, Việt tương đội, một tổ chức âm nhạc cung đình lớn được thành lập với 200 nghệ nhân. Vua lại cho dựng đài Thông minh, một sân khấu ca múa nhạc và hát bội trong cung Ninh Thọ.

1820 – 1840: Vua Minh Mạng cho xây dựng Nhà hát lớn Duyệt thị đường (1824), đổi Việt tương đội thành Thanh bình thự, lập thêm một Đội nữ nhạc với 50 ca nữ, vũ nữ, lại cho xây dựng Nhà thờ các tổ sư nghệ thuật âm nhạc và hát bội Huế: Thanh bình từ đường (1825). Trước nhà thờ dựng một tấm bia, một sân khấu hát bội và ca vũ nhạc. Văn bia cho biết vào đời Minh Mạng, nghệ thuật âm nhạc và sân khấu đã phát triển tốt đẹp:

“Vũ đài xuân rạng hàng ngũ chỉnh tề, sân khấu mây lồng âm thanh dìu dặt (…) Khánh chuông ra lệnh xướng hòa, kèn trống nhịp nhàng đánh thổi (…) Trải mấy triều vương đều khuyến khích, Biết bao âm nhạc thảy dồi dào (…) Giữa điện đình ca múa, tỏ điềm thái vận nước nhà; Trên lăng miếu xướng hòa, ngưỡng đức cao thâm biển núi… (bản dịch của Ưng Dự).

1841 – 1883: Thời Tự Đức, âm nhạc cổ điển, nhã nhạc cung đình và hát bội cung đình đạt tới đỉnh cao. Nhà hát Minh khiêm đường được xây dựng (1864) trong Khiêm cung (sau khi vua mất sẽ gọi là Khiêm lăng). Tương truyền chính Tự Đức đã sáng tác bản nhạc Tứ đại cảnh nổi tiếng. Say mê thơ, nhạc và hát bội hơn chính trị, vua lập nên Hiệu thơ phòng để cùng các danh nho trong triều đình xướng họa thơ văn, thưởng thức âm nhạc, sáng tác hay nhuận sắc các vở hát bội. Nhà thơ và nhà soạn tuồng lỗi lạc thời Tự Đức là Đào Tấn (1845 – 1907)

Thế kỉ XIX: Thời suy của triều Nguyễn (1885 – 1945)

1858 – 1885: Người Pháp gây hấn và bắt đầu xâm lược nước ta từ Đà Nẵng, rồi chiếm dần Miền Nam, Miền Bắc. Tháng 8 năm 1885 kinh đô Phú Xuân (Huế) thất thủ. Các vua Nguyễn sau Tự Đức đều được Pháp đưa ra làm vì, mất hết quyền bính. Đời sống cung đình tẻ nhạt, âm nhạc cung đình ngày càng sa sút.

1889 – 1925: Vua Thành Thái lập Võ can đội, rồi thêm một đội Đồng ấu (nghệ nhân thiếu niên, làm dự bị cho Võ can đội). Tất cả đều hoạt động cầm chừng.

1914-1944: Tập san “Những người bạn của Huế cổ kính” (B.A.V.H.) (bằng tiếng Pháp) ra đời và xuất bản tổng cộng 120 tập (dày nhiều vạn trang) trong suốt 30 năm dưới sự điều khiển của nhà Việt Nam học lỗi lạc L.M. Léopold Cadière. Nhiều bài nghiên cứu có giá trị về nhạc Huế được công bố trên tập san, nổi bật nhất là công trình của nhạc sĩ cổ điển Hoàng Yến (1919): Âm nhạc ở Huế, đàn nguyệt và tranh.

1925 – 1945: Dưới thời Vua Bảo Đại, Võ can đội đổi thành Ba vũ đội gồm cả một đội Đại nhạc và một đội Tiểu nhạc tổng cộng khoảng 100 nghệ nhân hoạt động rời rạc, trong lúc chờ đợi làm nhiệm vụ chính: tham gia phục vụ lễ Tế Nam giao (3 năm một lần) (theo lời kể của cụ Lữ Hữu Thi).

Năm 1942 là năm cuối cùng triều Nguyễn cử hành lễ Tế Nam giao, cũng là lần cuối cùng Nhã nhạc cung đình Huế được biểu diễn trọng thể trước công chúng.

Ngày 31 tháng 8 năm 1945, trên Ngọ Môn, Vua Bảo Đại, hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn vương quốc Đại Nam thoái vị. Nhã nhạc cung đình Huế tạm thời tan rã.

Trích đoạn trong bài “Âm nhạc cổ truyền xứ Huế, trong mối quan hệ bác học và dân gian” của Dương Bích Hà, và bài “Nhã Nhạc” của Nhà Hát Nghệ Thuật Truyền Thống Cung Đình Huế dưới đây sẽ giúp đưa chúng ta ngược dòng thời gian tìm hiểu chi tiết hơn về bộ môn âm nhạc truyền thống này.

Đồng thời mình còn có 11 clips tổng thể các bài giới thiệu và hòa tấu Nhã Nhạc do các nghệ nhân ưu tú vùng đất thần kinh diễn tấu để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.
Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Đội Nhã nhạc thời nhà Nguyễn
Đội Nhã nhạc thời nhà Nguyễn

Âm nhạc cổ truyền xứ Huế, trong mối quan hệ bác học và dân gian

Cũng như các loại hình nghệ thuật khác, nền âm nhạc cổ truyền luôn tồn tại hai dòng: âm nhạc bác học và âm nhạc dân gian.

Ở Huế, trên một thế kỷ là kinh đô của triều đại phong kiến Việt Nam, nên đặc biệt, tính chất này được bộc lộ rất rõ và triệt để, là nơi phân chia rạch ròi nhất các giai tầng trong xã hội, trong văn hóa nghệ thuật.

Bởi thế, âm nhạc cổ truyền xứ Huế mặc nhiên được phân thành hai dòng như văn chương chữ viết và văn chương truyền khẩu trong văn học. Theo cách hiểu chung thì âm nhạc dân gian chủ yếu là thanh nhạc, gồm những làn điệu dân ca có cấu trúc giai điệu, tiết tấu tự do, giản đơn, dễ hát, dễ thuộc gắn bó trực tiếp với đời sống sinh hoạt đại đa số quần chúng, với môi trường diễn xướng cụ thể cũng như đặc tính truyền khẩu. Âm nhạc bác học là dòng nhạc chuyên nghiệp, vừa thanh nhạc vừa khí nhạc kết hợp với nhau trong một hệ thống bài bản có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt do những tác giả am hiểu về âm luật sáng tác và ghi lại thành bài bản.

Do dựa vào tiêu chí trên, trong âm nhạc cổ truyền Huế, âm nhạc cung đình và Ca Huế được gọi là bác học, còn lý, hò… thì gọi là dân gian. Cách phân loại này không có gì là sai, nhưng nên hiểu là chỉ tương đối. Vì nếu nói Ca Huế là hoàn toàn bác học và lý, hò là hoàn toàn dân gian thì e cũng chưa thật ổn đối với đặc điểm của âm nhạc cổ truyền xứ Huế, nơi hai dòng nhạc này thường xuyên tác động qua lại với nhau, gắn bó, thâm nhập, thúc đẩy lẫn nhau, mà hiện tượng dân gian hóa ở âm nhạc bác học và bác học hóa ở âm nhạc dân gian thường xảy ra liên tục trong quá trình phát triển.

Đội nữ nhạc cung đình Huế - Ảnh: voque.org
Đội nữ nhạc cung đình Huế – Ảnh: voque.org

Do ảnh hưởng đặc điểm lịch sử văn hóa Việt Nam, trong âm nhạc cổ truyền Huế, dòng âm nhạc bác học bao gồm hai bộ phận.

1. Bộ phận thứ nhất là âm nhạc cung đình, chủ yếu là hệ thống bài bản khí nhạc, gắn liền với các tổ chức nhàn nhạc được biến đổi theo các thời kỳ mà đến thời kỳ các triều vua nhà Nguyễn chỉ còn lại hình thức đại nhạc và tiểu nhạc. Đây là dòng nhạc chính thống gắn bó với văn hóa Đại Việt mà trung tâm là Thăng Long, phát triển trong các thời kỳ Lý, Trần, Lê với các nhạc mục phong phú:

– Giao nhạc (nhạc ở đàn tế giao)
– Miếu nhạc (nhạc trong các đền miếu)
– Ngũ tự nhạc (nhạc của năm cuộc tế lễ)
– Cửu nhật nguyệt giao trùng nhạc (nhạc để cứu mặt trời, mặt trăng khi có nhật thực, nguyệt thực)
– Đại triều nhạc (nhạc khi có đại triều)
– Thường triều nhạc (nhạc trong các buổi thường triều)
– Đại yến cửu tấu nhạc (nhạc trong những yến tiệc lớn)
– Cung trung nhạc (nhạc trong cung)

Dưới triều Nguyễn, trong loại nhạc lễ cũng đã có hàng loạt các bài ca, bản nhạc do các dàn nhạc và ca công của triều đình đàn, hát như:

– Trong lễ tế giao có 9 khúc ca, tên đều có chữ Thành.
– Trong các miếu thờ những vị khai quốc và các vua triều Nguyễn có 9 khúc ca đều có chữ Hòa.
– Lễ tế thần thổ địa và thần nông có 7 khúc ca, tên đều có chữ Phong.
– Trong lễ đại triều có 5 khúc ca đều có chữ Bình (1).
– v.v…

nhanhaccungdinh13

Mặc dù triều Nguyễn là triều đại để lại cho nền văn hóa nước nhà số tài liệu đồ sộ nhất và còn giữ gần như trọn vẹn nhất trong lịch sử nước ta, vì là triều đại gần ta nhất, nhưng đối với âm nhạc, những khúc ca, bản nhạc trên nay chỉ còn lại cái tên. Một số bài bản nhạc không lời ấy còn lưu giữ trong trí nhớ của các nghệ nhân lớn tuổi như cụ Trần Văn Kích (kèn bóp), cụ Nguyễn Kế (tỳ), Mạnh Cẩm (trống)… mà hiện nay đang truyền nghề lại cho một số học viên của lớp âm nhạc cung đình thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế và lớp đại học Nhã nhạc của trường Đại học Nghệ thuật Huế. Trong số các bản nhạc ít ỏi còn lại đó, có thể trước đây nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đã ghi chép lại được một ít. Những bài bản thường thấy là: Đảo ngũ cung, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Vạn giá, Xàng xê, Bông man, Cung nam, Du xuân, Long ngâm, Đăng đàn cung… còn những bài bản như: Làn thảm khúc, Khiết giới khúc, Hồ ngạn, Hựu trường, Hồ ba, Vũ ba đăng, Xuân tình điễu ngữ, Ngọa nam dương, Tam thiên khúc… thì chỉ thấy tên chứ chưa ai được nghe…

…Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác đã tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa âm nhạc dân gian và âm nhạc cung đình, bác học Huế, chính các nghệ sĩ, nhạc công, ca công chuyên nghiệp Ca Huế, kể cả âm nhạc cung đình, hầu hết là nghệ nhân tài hoa trưởng thành từ dòng nhạc dân gian. GS- TS Ngô Ngọc Thanh khi đề cập vai trò hội tụ văn hóa của Huế đã nói: “Trước nhu cầu xây dựng nền văn hóa cung đình phong kiến, cần huy động, chọn lọc, tinh chế những vốn văn hóa của Huế và các ngoại vi.

Song những vốn văn hóa đó mang nặng tính chất dân gian, do người nông dân sáng tạo nên để đáp ứng thị hiếu của cung đình và trình độ tri thức của giới quan lại, trí thức, vốn văn hóa dân gian đây phải trải qua một quá trình chọn lựa tinh chế. Việc này được giao cho những đại biểu xuất sắc của văn hóa dân gian. Thế là đã xảy ra một bước ngoặt có tính chất lượng trong văn hóa: đó là quá trình chuyên nghiệp hóa, bác học hóa văn hóa dân gian”..(3). Vấn đề này cũng được nhạc sĩ Thụy Loan nêu trong giáo trình Lược sử âm nhạc Việt Nam.

nhanhaccungdinh12

Việc nhà Nguyễn xóa bỏ Ty Giáo phường, thành lập Viện Giáo phường để lo việc tuyển người vào các đội ca nhạc phục vụ trong cung đình (4).

Đội ngũ này từ “dân nhạc” nhảy vào “quan nhạc” (từ của Trần Văn Khê), rồi sau đó, do sự suy thoái của triều đại phong kiến trong từng thời kỳ lịch sử, thấy rõ là dưới triều vua Tự Đức (1847- 1883), mặc dù nổi tiếng là ham mê thi phú, được mệnh danh là “Nhà vua thi sĩ” nhưng vẫn xảy ra tình trạng giảm biên của các tổ chức triều nhạc. Một số nhạc công cung đình đã đến với dân gian như trường hợp Nguyễn Quang Đại, một nhạc công nổi tiếng, một nhạc quan trong cung đình Huế vào Gia Định sinh sống bằng nghề truyền bá ca nhạc Huế, được gọi là cụ Ba Đội, người được truyền tụng là đã chuyển bài Tứ Đại Cảnh Huế (hơi dựng) thành Tứ Đại Oán (hơi oán) trong nhạc thính phòng tài tử Nam Bộ (1).

Bên cạnh đó, đội ngũ nghệ nhân dân gian là một lực lượng hùng hậu đóng góp nghệ thuật đàn, ca làm phong phú và nuôi dưỡng nghệ thuật Ca Huế thì các nghệ nhân dân gian (có hoặc không dính dáng đến đội ngũ nhạc triều đình) phải kể đến là Nguyễn Quang Đại, gia đình ông Tống Văn Đạt với ba đời truyền nối là nghệ nhân giỏi (con là đội Chỉnh, cháu là đội Phước)… Từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay nhân dân thường nhắc đến các danh cầm, danh ca như: ông Cả Soạn, Bảy Thiều, Thừa Khâm, Lý Vũ, Đội Trác, Trợ Tồn, Nguyễn Ngọc Liệu, cô Nhơn, Đẩu Nương, Bích Liễu, Vĩnh Phan, Bửu Lộc, Tuyết Hương, Nguyễn Kế, Nguyễn Hữu Ba, Mai Trung Thứ, Nguyễn Gia Cẩm, Thu Tâm, Châu Loan, Trần Văn Kích, Vân Phi, Minh Mẫn, Thanh Tâm…

Như thế, Ca Huế mặc dù xuất phát tại cung đình nhưng nguồn gốc lại gắn bó với dân gian. Đến đây, có thể nói rằng: Trong nền âm nhạc cổ truyền Huế thì Ca Huế- bộ phận thứ hai của dòng bác học, là nhịp cầu nối giữa cung đình- dân gian. Vậy, dòng âm nhạc dân gian chính là cơ sở để hình thành và phát triển, là cái nuôi dưỡng cho dòng âm nhạc bác học, cung đình Huế, một bộ phận đặc sắc trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam.

Dương Bích Hà (Tạp Chí Sông Hương)

——————————————————————————–
(1). Trần Văn Khê. La musique Vietnamienne Traditionnelle – Dấn lại trong Âm nhạc Cung đình Triều Nguyễn của Trần Kiều Lại Thủy. NXB Thuận Hóa. 1997.
(1). Trần Văn Khê- trong Bách Khoa số 101, NXB Văn Hóa- Sài Gòn 1961, trang 68 và 69, cho biết những bản này có trong danh mục 25 bài ca Huế được chép năm 1863 của GS Hoàng Xuân Hãn sưu tập.
(1). Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật số (32). 1980 trang 30.
(2). Nguyễn Viêm. Lịch sử âm nhạc dân gian cổ truyền Việt Nam. Viện nghiên cứu âm nhạc Hà Nội 1996
(3), (4). Trần Văn Khê. Lối ca Huế và lối nhạc tài tử. Tạp chí Bách Khoa số 101- Sài Gòn 1961 trang 68.
(1). Sức sống của nền âm nhạc truyền thống Vn- NXB ÂM NHẠC 1996, trang 130.
(2). Theo Lê Văn Hảo- Huế giữa chúng ta – NXB Thuận Hóa- Huế- 1984.
(3). Huế trung tâm hội tụ và tỏa sáng văn hóa- Văn Hóa Dân Gian Thừa Thiên Huế- 11- 95.
(4). Thụy Loan. Lược sử âm nhạc Việt Nam (Giáo trình) NXB Âm nhạc- Nhạc Viện Hà Nội- 1993 trang 39.
(1) Theo Hoàng Sơn- Âm nhạc sân khấu cải lương, quá trình hình thành và phát triển. Tạp chí Văn Hóa Nghệ thuật số 7- 1996 trang 25.

 

Nhã Nhạc

Nhã nhạc đồng nghĩa với nhạc lễ cung đình, nó bao hàm tất cả các tổ chức dàn nhạc lễ. Thuật ngữ nhã nhạc có liên quan đến âm nhạc cung đình có mặt tại 4 nước đồng văn: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam.

Nhã nhạc xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc dưới thời nhà Chu (thế kỷ VI – tk III TCN). Về sau, nhã nhạc được lan toả sang các nước láng giềng như: Nhật Bản (tk VIII), Triều Tiên ( tk XII), Việt Nam (tk XV). Tuy được xem là tài sản chung nhưng nhã nhạc của mỗi nước đều có điểm riêng biệt. Ở Việt Nam, nhã nhạc bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XV, nhưng phải đến thời kỳ nhà Nguyễn mới phát triển rực rỡ và đạt đến trình độ uyên bác.

nhanhaccungdinh9

Ý nghĩa của thuật ngữ Nhã nhạc có khác nhau qua từng thời kỳ, nhưng nhìn chung nó vẫn giữ nguyên là loại âm nhạc chính thống của triều đình, đối lập với âm nhạc dân gian. Ngoài ra, Nhã nhạc còn mang một nghĩa hẹp, khi thì chỉ một tổ chức âm nhạc cung đình nhà Lê (thự nhã nhạc), khi thì chỉ một loại dàn nhạc trong cung đình triều Nguyễn. Nhưng những nghĩa hẹp này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn và biến mất. Ngày nay, trong bối cảnh giao lưu quốc tế, Nhã nhạc được hiểu theo ý nghĩa nguyên thuỷ của nó, tức là nhạc chính thống mang tính lễ nghi, được sử dụng trong các triều đình quân chủ Việt Nam cũng như tại các nước đồng văn.

Tháng 11 năm 2003, Nhã nhạc Việt Nam chính thức được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc – Gọi tắt là UNESCO, công nhận là “Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại”. Đây là di sản văn hoá phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được thế giới công nhận tính đến thời điểm hiện tại. Nhã nhạc hiện nay chỉ tồn tại dưới hai tổ chức dàn nhạc, đó là: Đại nhạc và Tiểu nhạc.

nhanhaccungdinh8

1. Đại Nhạc:

Là dàn nhạc hết sức quan trọng trong hệ thống nhạc lễ cung đình Huế. Nó là dàn nhạc diễn tấu với những trình thức quan trọng nhất trong các buổi lễ, thường được dùng trong các lễ tế như: Tế Nam giao, Tế miếu, Đại triều… Đây là dàn nhạc có âm lượng lớn. Nhạc cụ chủ yếu vẫn là dàn trống và kèn.

Cấu tạo của dàn Đại nhạc: 2 bộ gõ và bộ hơi, gồm 4 chủng loại, với trên 40 nhạc cụ. Tuy nhiên, so với các dàn Đại nhạc được mô tả trong các dữ liệu thì dàn Đại nhạc hiện nay có biên chế gọn nhẹ hơn.

Cấu trúc nhạc cụ dàn Đại nhạc gồm:

Bộ gõ:

– Trống đại: 01 cái
– Trống chiến: 01 hoặc nhiều hơn phụ thuộc vào số lượng kèn, theo tỉ lệ 1:1
– Bồng : 01 cái
– Não bạt (xập xoã): 01 cái
– Mỏ sừng trâu: 01 cái
– Trống cơm: 01 cái

Bộ hơi:

– Kèn bầu (kèn đại)
– Kèn lỡ (kèn trung)

Bộ dây:

– Đàn nhị (nhạc cụ phụ, chỉ dùng duy nhất khi tấu bài nam bình).

Các bài bản của đại nhạc gồm:

Tam luân cửu chuyển (ba hồi chín chuyển)
Đăng đàn cung
Đăng đàn đơn
Đăng đàn kép
Đăng đàn chạy
Xàng xê
Nam bằng
Nam ai
Cung ai
Cung bằng
Man
Mã vũ
Tẩu mã
Bài kèn thoét
Thái bình cổ nhạc
Bài kèn bóp
Phú lục
Bài bông
Nam trĩ
Kèn chiến
Phần hoá
Phát
Hiệp
Khai trường

Dàn Đại nhạc của Nhã nhạc cung đình vào những năm 60_Nguồn_tranvankhe-vn
Dàn Đại nhạc của Nhã nhạc cung đình vào những năm 60_Nguồn_tranvankhe-vn

2. Tiểu nhạc:

So với Đại nhạc, thì các bài bản âm nhạc của hệ thống Tiểu nhạc tương đối ổn định hơn. Bài bản âm nhạc mang màu sắc trang nhã, vui tươi, thường được dùng trong các buổi yến tiệc của triều đình, trong các lễ đại khánh, dịp tết nguyên đán. Chất liệu dễ đi vào lòng người, không quá trang nghiêm hoặc quá sầu bi như các bài bản của đại nhạc. về âm lượng nó không quá lớn như đại nhạc. Nhiều bài bản tiểu nhạc còn có lời ca. Cấu trúc nhạc cụ dàn tiểu nhạc:

Bộ gõ:

– Trống bản
– Phách tiền
– Não bạt
– Tam âm la
– Mõ sừng trâu
– Trống chiến (sử dụng hạn chế)

Bộ hơi:

– Sáo

Bộ dây:

– Đàn tam
– Đàn nhị
– Đàn tỳ
– Đàn nguyệt

Các bài bản chính thống của tiểu nhạc hiện nay đang được biểu diễn:

Hệ thống 10 bài liên hoàn (hay thập thủ liên hoàn) gồm: Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ quảng, Liên hoàn, Bình bán, Tây mai, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã.

Các bài bản khác:

Ngũ đối thượng
Ngũ đối hạ
Long ngâm
Long đăng
Tiểu khúc
Phú lục địch
Phụng vũ
Bài thiều.

oOo

Nhạc cung đình cổ truyền Việt Nam:

 

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Tuyển tập hay nhất:

 

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Lưu thủy Kim tiền Xuân phong Long hổ – Nhạc hòa tấu:

 

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Thập thủ liên hoàn:

 

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Phú lục địch:

 

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Lân mẫu xuất lân nhi:

 

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Trình tường tập khánh:

 

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Nữ tướng xuất quân:

 

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Song tấu trống kèn:

 

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Múa Lục cúng hoa đăng:

 

Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Múa Vũ phiến:

2 cảm nghĩ về “Dân ca dân nhạc VN – Nhã Nhạc Cung Đình Huế”

  1. Dear Chị Hai

    Em cảm ơn những chia sẻ rất phong phú của chị Hai về Dân ca dân nhạc VN. Hầu nuôi dưỡng và bảo tồn những di sản văn hóa cho nền âm nhạc dân ca dân nhạc VN.

    Em M Lành

    Like

  2. Hi Lành,

    Chị vui lắm có em luôn đồng hành và chia sẻ cùng chị. Em phụ giúp chị nuôi dưỡng và bảo tồn những di sản vô giá này cho các thế hệ mai sau của mình Lành nhé. Chị cám ơn em.

    Nguyện xin Cha luôn giữ gìn em an vui.

    Like

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s