Một mình một vụ kiện da cam

Monsanto – nhà sảm xuất chất
độc da cm – trở lại Việt Nam

24/07/2014 11:00 (GMT + 7)
TTLá đơn dài 31 trang được gửi đến tòa đại tụng ở thành phố Evry, Cộng hòa Pháp, và từ đó gửi đến 35 công ty hóa chất ở Mỹ từng tham gia sản xuất chất độc da cam phục vụ chiến tranh Việt Nam.

Tháng 5-2014, một lần nữa 35 công ty hóa chất ở Mỹ lại nhận được đơn khởi kiện thông qua một tòa án Pháp. Lần này lá đơn chỉ có một người đứng tên: bà Trần Tố Nga, một người Việt mang quốc tịch Pháp.

Kỳ 1: Đơn kiện của bà Trần Tố Nga

Máy bay rải chất độc da cam – Ảnh tư liệu

Nguyên đơn được giới thiệu rõ: bà Trần Tố Nga, phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Giải Phóng, từng sống và làm việc trong những cánh rừng là trọng tâm của chiến dịch rải chất độc hóa học khai quang
: Củ Chi, Bình Long, đường Hồ Chí Minh, trong thời gian cao điểm của những phi vụ rải chất độc 1966-1970. Phụ lục đính kèm là các bản kê khai và phân tích dài về những chứng bệnh mà bà Nga và các con gái, cháu ngoại của bà đã mắc phải. Phụ lục đính kèm còn là rất nhiều lời chứng nhận của bạn bè, đồng chí của bà, trong ấy có nhiều người rất quen thuộc: bác sĩ Dương Quang Trung, nhà báo Đinh Phong, mẹ Việt Nam anh hùng Bùi Thị Mè, nguyên chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết…

Tôi thách thức

Bắt đầu từ năm 1978, 2,5 triệu cựu binh Mỹ từng tham gia chiến tranh Việt Nam đã gửi hàng trăm đơn kiện đến các công ty hóa chất tố cáo việc phơi nhiễm chất độc da cam đã gây cho họ nhiều chứng bệnh. Dù cho rằng lý lẽ của nguyên đơn không đủ mạnh, bên bị đơn cũng đã chi 180 triệu USD để hòa giải vào năm 1984. Các đơn kiện sau khi quỹ bồi thường này kết thúc vào năm 1994 đều bị bác bỏ.

Năm 2004, Hội Nạn nhân chất độc da cam Việt Nam cùng một số nạn nhân đại diện tiếp tục kiện các công ty hóa chất Mỹ sản xuất chất độc da cam phục vụ chiến tranh Việt Nam. Vụ kiện được hàng triệu người Việt Nam và thế giới ủng hộ, nhưng rồi các cấp tòa án Mỹ vẫn tiếp tục bác đơn.

Năm 2009, Tòa án tối cao Mỹ bác đơn khởi kiện của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam. Đó là lần thứ ba, cũng là lần cuối cùng chiếu theo luật pháp Mỹ. Không nản lòng, những người ủng hộ nạn nhân chất độc da cam trên khắp thế giới đã triệu tập một “Tòa án công luận quốc tế” ở Paris với sự tham gia của nhiều thẩm phán có uy tín từ nhiều châu lục. Đến trước tòa, những nạn nhân, luật sư, nhà khoa học, chuyên gia đã một lần nữa lên tiếng tố cáo về sự hủy diệt môi trường, tàn phá và gieo rắc tai họa, ẩn họa cho con người. Có mặt trước tòa ấy có bà Trần Tố Nga và luật sư William Bourdon.

Trong bài phát biểu hôm ấy, bà Nga chỉ dành chưa đầy hai phút cho câu chuyện của chính mình: một ngày cuối năm 1966 ở Củ Chi, sau khi nghe tiếng máy bay quần thảo rất lâu, Tố Nga khi ấy mới 24 tuổi thấy như có một đám mây phủ trên đầu. Cô leo ra khỏi hầm để nhìn cho rõ rồi phát ho sặc sụa, cả người ướt đẫm chất bột mịn. Hai năm sau, con gái đầu lòng bụ bẫm, xinh xắn của cô chào đời, được mẹ âu yếm gọi là “Tố Ngỗng”. Rồi da bé cứ tróc đi từng lớp một, bé không lớn, khó thở. Người mẹ trẻ không dám ôm con vào lòng vì bé không chịu được sức ép, dù chỉ là ôm ấp. “Tố Ngỗng” chỉ sống được 17 tháng. Con gái thứ hai của cô tiếp tục ra đời, lớn lên và phải mang một chứng bệnh khó chữa về đường máu. Con gái thứ ba lại bị bệnh về da…

Bà nghẹn ngào: “Suốt mấy mươi năm tôi đã dằn vặt, ân hận vì không biết giữ gìn khi mang thai để đến nỗi con phải chết. Đến giờ tôi mới biết nguyên nhân chính là vì chất độc da cam”. Rồi bà nói tiếp: “Nhưng câu chuyện của tôi rất bé nhỏ so với những gì mà các đồng đội tôi đã phải gánh chịu, so với thảm kịch của các nạn nhân chất độc da cam ở những vùng mà tôi đến thăm”. Từ đó cho đến cuối bài phát biểu, bà kể về những bi kịch mà các cựu chiến binh Việt Nam, những người dân sống trong vùng bị rải chất độc đã phải gánh chịu. Những bệnh tật không phương cứu chữa, những đứa trẻ nối nhau sinh ra dị hình dị dạng, mất trí… Bà gọi tội ác ấy là “diệt gia tộc”, và đưa ra một lời thách thức: “Mời đại diện những tập đoàn sản xuất chất độc da cam đang chối bỏ trách nhiệm hãy đến Việt Nam để gặp những nạn nhân. Dù tuổi cao sức yếu tôi cũng nguyện đi cùng các quý vị đến bất kỳ đâu, dù chân trời góc biển, cho đến khi các vị nhận thấy rõ điều cần phải làm”.

Bà Trần Tố Nga – Ảnh: Tự Trung

Mừng vì mang độc chất

Các công ty hóa chất Mỹ không nghe, nhưng luật sư Pháp William Bourbon lại thấy xúc động sâu xa. Ông mừng như bắt được vàng khi biết bà Nga mang quốc tịch Pháp, đã từng được tặng Bắc đẩu Bội tinh, vì như vậy bà có thể đứng đơn bắt đầu lại vụ kiện với tư cách công dân Pháp. Ông ngỏ lời rằng ông từng đến Việt Nam, từng gặp các nhân chứng và nay ông sẵn sàng giúp bà tiến hành vụ kiện. Đến lượt bà Nga mừng. Mừng vì mình là nạn nhân chất độc da cam.

Nhưng chính vào lúc đó, luật pháp Pháp lại có sự thay đổi, quốc hội không còn cho phép các thẩm phán tiến hành tố tụng quốc tế. Không thể hành động nhưng cũng không bỏ cuộc, họ lại tiếp tục chờ đợi, qua cả tuổi 70 với bao nhiêu tật bệnh của bà Trần Tố Nga. Cuối cùng, năm 2013, các quyền hạn về luật quốc tế của tòa án Pháp được tái lập.

Ủy ban quốc tế ủng hộ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam quyên góp để bà Nga có kinh phí làm xét nghiệm, phân tích máu ở một cơ quan độc lập. Không có mấy nơi có thể phân tích được dioxin, cuối cùng một cơ sở nghiên cứu khoa học ở Đức được chọn lựa. Một đoàn các nhà khoa học Pháp, Đức với bao nhiêu dụng cụ, máy móc đến nhà bà để lấy đi 100ml máu. Những ngày chờ kết quả thật là những ngày lạ lùng trong đời. Không mong một kết quả sạch với kết luận là mình mạnh khỏe, bà Nga lại lo ngay ngáy: mấy mươi năm qua, những độc chất đó có còn trong máu mình hay không? Nếu không còn thì làm sao vụ kiện da cam bắt đầu lại một lần nữa?

Kết quả xét nghiệm cho thấy có hàm lượng độc chất từ chất độc da cam trong máu bà vượt trên mức cho phép. Với chỉ số 16,7 pg/g, tính với tỉ lệ giảm 80% trong 20 năm đã được khoa học chứng minh trước đó, chỉ số độc chất bà Nga đã bị nhiễm được xác định là 84 pg/g vào năm 1990 và 151,2 pg/g năm 1970.

Thế là đủ để làm đơn kiện, ở tuổi 72. Xác định cuộc chiến pháp lý này sẽ rất khó khăn, rất lâu dài, nhăn mặt cho qua một cơn đau đầu, bà Nga cố nở một nụ cười: “Tôi không nản lòng. Tôi và cả gia đình mình đã chiến đấu suốt đời. Vụ kiện này tuy chỉ một mình nhưng sẽ là tiền lệ cho hàng ngàn nạn nhân da cam Việt Nam, vì thế mà tôi sẽ không bỏ cuộc”. Nhìn lại cuộc đời bà, ai cũng sẽ tin điều ấy.

PHẠM VŨ

Chất độc da cam chỉ dùng trong quân sự

Là quốc gia tham chiến, Chính phủ Mỹ ép buộc một số công ty sản xuất chất da cam theo luật sản xuất phục vụ quốc phòng. Các công ty cung cấp chất da cam gồm: Dow Chemical Company, Monsanto Company, Hercules Inc, Diamond Shamrock Chemicals Company, Uniroyal Inc, Thompson Chemical, T-H Agriculture và Nutrition Company…

Chất độc da cam chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng của Chính phủ Mỹ để sử dụng cho mục đích quân sự, chưa bao giờ với mục đích buôn bán thương mại. Ngay sau khi chất da cam được xuất xưởng và đóng kiện, quân đội Mỹ lập tức nắm kiểm soát toàn bộ các nhà máy…

L.Vancil (trích Chất độc da cam – Thảm kịch và di họa)

_____________

Kỳ tới: Tôi kiện cho hàng triệu người

Một bình luận về “Một mình một vụ kiện da cam”

  1. Em gửi cả nhà các kỳ tiếp theo về cô Tố Nga và cuộc chiến trường kỳ này.

    Em Hương,

    *****

    Kỳ 2: Tôi kiện cho hàng triệu người
    25/07/2014 10:26 (GMT + 7)
    TT – “Đây là cống hiến cuối cùng của đời tôi”, bà Trần Tố Nga lặp đi lặp lại điều ấy với các nhà báo Pháp trong những ngày này, khi bà trở thành nhân vật được các báo xếp hàng chờ phỏng vấn sau khi đơn kiện được tòa án chấp nhận xem xét.


    Bà Trần Tố Nga (dấu tròn) trong một lần được gặp Bác Hồ khi học ở miền Bắc – Ảnh tư liệu gia đình

    Là cống hiến cuối cùng, bởi cả đời bà đã miệt mài với hai chữ “cống hiến” được bà ngoại, được mẹ dạy cho từ khi mới biết đi, biết chạy…

    Một đời cống hiến

    13,05 triệu gallon

    Ngày 10-8-1961, chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bắt đầu phun thuốc khai quang trên bầu trời Kon Tum với mục đích “tiêu diệt cây cỏ để nhìn thấy Việt cộng”. Theo diễn biến chiến tranh, các chuyến phun thuốc ngày một dày hơn, những thùng chứa chất độc được chở đến nhiều hơn, và các hỗn hợp chất khai quang cũng ngày một đậm đặc hơn. Chỉ tính trong khoảng thời gian cao điểm nhất, từ tháng 7-1965 đến tháng 6-1970, đã có hơn 20.000 chuyến phun thuốc với 13,05 triệu gallon (tương đương 49,4 triệu lít – PV) phun xuống Việt Nam. Hai phần ba trong đó là chất da cam.

    ROBERT ALLEN (trích Chất độc da cam – Thảm kịch và di họa)

    Vốn là một tiểu thư Sài Gòn, học trường Tây (Trường Marie Curie – PV), 13 tuổi Trần Tố Nga được mẹ gửi ra Bắc học Trường học sinh miền Nam. Mười năm trên đất Bắc, cô đã tốt nghiệp ĐH Tổng hợp khoa hóa mà chiến tranh vẫn ngày càng ác liệt. Cầm bằng đại học, Tố Nga khoác balô lên vai, cùng bạn bè vượt Trường Sơn vào Nam để được chiến đấu cùng với mẹ, kéo gần hơn ngày hòa bình.

    Những cán bộ công tác ở các cơ quan thông tấn, Ủy ban giáo dục miền Nam, Ban Trí vận Sài Gòn – Gia Định khi xưa ai cũng nhớ cô phóng viên Tố Nga xinh đẹp, thông minh và cũng đầy suy tư. Nhắc về những ngày ấy, bà kể những lát cắt sắc như dao: “Tôi đã từng bị đạn rocket bắn đuổi sau lưng, đã từng hứng những trận bom giội ngay xuống đầu, thấy đồng đội chết trước mắt vì bom bi xuyên khắp thân thể, đã từng chôn bạn bằng tay không, từng bị treo lên tra tấn để moi những bí mật trong tim mình, đã từng sinh con, nuôi con trong rừng rồi trong tù…”.

    Câu chuyện bà Nga sinh con trong tù rồi bế con gái mới tròn 4 tháng tuổi ra khỏi xà lim của Tổng nha cảnh sát Sài Gòn tìm đường về nhà trong ngày 30-4-1975 thường được các đồng đội của bà kể như một dấu ấn của ngày thống nhất. Còn bà thì nhắc đến những người dân đã trợ sức cho mình: một cậu giao liên không biết mặt ở xà lim kế bên đã nhét cho nửa củ khoai luộc, một cô bé được mẹ vào thăm nuôi đã chia cho một con dế rang trong bụng có nhét hột đậu phộng, một anh khác giấu cho một miếng khô, người giám thị để dành cho chút cơm trắng khi thấy cô bị đưa đi thẩm vấn qua giờ cơm… “Những chia sẻ ấy đã giúp tôi có dũng khí bảo vệ bào thai qua những đòn tra tấn, có sức sinh con. Những cô hộ lý, y tá ở nhà thương Chợ Quán đã hết lòng giúp đỡ khi biết tôi là tù chính trị, mặc kệ hiểm nguy trước mũi súng cảnh sát. Lòng dân là như thế. Nghĩ đến người dân là tôi lại như được thôi thúc phải tiếp tục. Tiếp tục chiến đấu. Tiếp tục cống hiến…”.

    Hòa bình rồi, Tố Nga đã vượt qua cuộc chiến tranh, rỡ ràng ôm con về lại Sài Gòn nhưng mẹ cô, bà Nguyễn Thị Tú, hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam, thì không về. Tố Nga nhớ mẹ đã bao ngày ước ao: “Mai sau hòa bình, mình sẽ… mình sẽ…”. Mẹ đã không về, thì đến lượt các con của bà sẽ…, sẽ…

    Những năm tháng sau ngày thống nhất đầy gian khó. Có nhiều người Sài Gòn hôm nay vẫn còn nhớ cái tên Trần Tố Nga một thời gắn liền với vai trò hiệu trưởng các trường Lê Thị Hồng Gấm, Marie Curie, Sư phạm kỹ thuật, vật lộn với công tác xây dựng trường ở những giai đoạn khó khăn nhất. Hòa bình không chỉ có màu hồng. Cô giáo Nga phải vừa đến trường, vừa học nuôi heo, nuôi cá, nuôi gà để nuôi con. Bà Nga hôm nay tâm sự đầy xúc động: “16 năm ở ba trường, có lẽ tôi là “hiệu trưởng cá biệt” nhất, có nhiều vấn đề nhất trong các hiệu trưởng. Nhìn lại, tôi có nhiều ân hận vì đôi khi những ấu trĩ, thiếu hiểu biết, những cơn nóng tính của mình đã làm phiền hà đến giáo viên và học sinh. Nhưng tôi cũng có nhiều phần thưởng: không phải ai cũng được làm hiệu trưởng ngôi trường tuổi thơ của mình (Trường Marie Curie – PV), không phải ai cũng được đặt tên cho trường của mình (bà Nga đã đổi tên Trường Régina Mundi – Nữ Vương Thế Giới – thành Lê Thị Hồng Gấm – PV), không phải ai cũng được bảo vệ chương trình đào tạo của trường từ trung cấp lên cao đẳng (Trường Sư phạm kỹ thuật – PV). Tôi đã xây dựng những ngôi trường của tôi bằng cả trí tuệ và trái tim mình, yêu thương từng dãy lớp, góc sân, tự hào khi nhớ từng gương mặt giáo viên, khi tình cờ gặp một học trò ở góc bể chân trời nào đó…”.

    Và bà viết: “Với tất cả những gì đã sống qua, làm sao không yêu cuộc sống cho được, làm sao không quý trọng hòa bình đã được đổi bằng máu xương của người thân, làm sao không yêu quý con người cho được?…”. Với tình yêu ấy, khi đã đến tuổi hưu, bà không chịu ngơi nghỉ mà lại thêm quyết tâm: “Giờ đã rũ bỏ được những vướng bận để tập trung sức mà lo cho con người, như lời thề với mẹ ngày xưa: vì hạnh phúc của con người mà phấn đấu”.


    Bà Trần Tố Nga và con gái đầu lòng – Ảnh tư liệu gia đình

    Vì con người

    Công ty du lịch Liên Hồng, mang tên hai cô con gái Việt Hồng – Việt Liên, của bà ra đời, làm những gạch nối cho các hoạt động thiện nguyện. Những đoàn khách từ Pháp được bà đưa sang Việt Nam tìm hiểu thiên nhiên, con người ở đất nước đã một thời gắn bó trong lịch sử. Những đoàn cựu binh Pháp được bà đưa trở lại chiến trường Điện Biên Phủ đã xúc động xin được xúc tiến những hoạt động như xây trường học, trạm xá. Những bác sĩ Pháp nghe bà kể chuyện Việt Nam đã đến Cần Thơ phẫu thuật cho hàng trăm trẻ em bị sứt môi, hở hàm ếch để mang lại hàng trăm nụ cười. Câu chuyện Việt Nam qua cuộc đời mình đã được bà Nga chia sẻ với nhiều người, nhiều nơi ở Pháp, và những nguồn tài trợ từ trái tim đã đổ về những vùng bị chiến tranh và chính người Pháp tàn phá: Điện Biên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Phú Thọ… để biến thành trường học.

    Đáp lại những hoạt động không mệt mỏi vì tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt – Pháp của bà, tháng 7-2004 Chính phủ Pháp trao tặng Bắc đẩu Bội tinh cấp hiệp sĩ, qua đó bà được tạo điều kiện để nhập quốc tịch, chính thức trở thành công dân Pháp. Những hoạt động thiện nguyện như được chắp thêm cánh để ngày một sôi nổi hơn, bất chấp tuổi tác. Nhiều nhất vẫn là những chuyến tìm kiếm, thăm hỏi nạn nhân chất độc da cam, vì nỗi ám ảnh không phai mà mỗi bi kịch để lại khi được chứng kiến. Chính giữa những chuyến đi đó, bà nhận được tin về chứng bệnh Alpha Thalassemia mà cô con gái Việt Hồng mắc phải, rồi lại đến Việt Liên. Khi đó, bà Nga mới biết chính mình và các con cũng là nạn nhân của chất độc da cam.

    Con đường để bà Nga trở thành nguyên đơn của cuộc chiến công lý lần thứ hai này đã được nối. Nhưng để theo đuổi nó, bản lĩnh tích tụ cả đời của bà chừng như vẫn chưa đủ. Trong những câu chuyện bà luôn nhắc đến mẹ, đến bà ngoại. Mỗi lần về lại căn nhà ở đường Trần Hữu Trang, bà lại thắp nén nhang, ngắm những tấm ảnh xếp đầy bàn thờ, thì thầm: “Ông bà ngoại, ba mẹ, hãy cho con thêm sức mạnh”.

    PHẠM VŨ

    *****

    Kỳ 3: Bà ngoại anh hùng
    26/07/2014 08:39 (GMT + 7)
    TT – “Tôi bị bắt khi hoạt động nội thành, đang mang thai bốn tháng. Thẩm vấn, tra tấn, biệt giam, đe dọa mãi vẫn không khai thác được gì, đối phương đưa bà ngoại của tôi đến và bảo bà khuyên cháu khai báo rồi sẽ được tự do về nhà sinh con.


    Tiệm bánh Trần Thượng, cơ sở cách mạng hơn 30 năm giữa Sài Gòn – Ảnh tư liệu gia đình cung cấp


    Bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Mẹo – Ảnh tư liệu gia đình cung cấp

    Bà ngoại nắm tay tôi rồi quay sang viên cảnh sát: “Cảm ơn ông đã cho tôi gặp cháu. Nó lớn rồi, còn có cha có mẹ, có chồng có em. Nó làm sao để còn nhìn mặt cha mẹ, mặt chồng, mặt em thì làm”. Nói rồi bà ra về, mắt lòa, dáng đi lụm cụm giữa hàng cảnh sát…” – bà Tố Nga kể lại câu chuyện ấn tượng nhất về bà ngoại của bà: bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Mẹo. Bà Nga kết luận giản dị: “Bà ngoại như thế đó, nên tôi chỉ có một con đường là chiến đấu đến cùng, đến hết cuộc đời này”.

    Theo con làm cách mạng

    Xuất thân là phụ nữ nông dân, giỏi làm ăn, những năm 1940, bà Lê Thị Mẹo và ông Nguyễn Văn Thâu, chồng bà, trở thành một điền chủ lớn ở Cần Thơ, Sóc Trăng. Là điền chủ nhưng bà vẫn giữ chất nông dân chân chất, dạy con cháu tằn tiện đến từng cái giẻ lau, tay run run ghi một chữ “Mẹo” vào giấy tờ mỗi khi chồng đi vắng. Thế nhưng nỗi đau mất nước, nỗi đau nô lệ của xứ thuộc địa lại thấm vào ông bà từ bao giờ, để khi kháng chiến nổi lên bà lại không một lời ngăn cản vợ chồng cô con gái duy nhất Nguyễn Thị Tú lao vào phong trào. Mà ngược lại bà gom hết tài sản, ruộng đất hiến cho cách mạng, cả gia đình xuống một chiếc ghe về quê cũ ở Thường Phước, Cần Thơ sinh sống.

    Ông Trần Thượng Tân, chồng cô Tú, mất sớm vì bạo bệnh, để lại người vợ trẻ mới 24 tuổi và bốn con thơ. Cách mạng Tháng Tám thành công không bao lâu, Pháp chiếm lại Nam kỳ, cuộc đấu tranh đi vào những bước cam go mới. Cô Nguyễn Thị Tú được tổ chức phân công về Sài Gòn hoạt động trong khối trí thức, bà Mẹo và ông Thâu một lần nữa dọn nhà cùng đi, cùng nhau làm một hậu phương vững chắc cho con gái.

    Tiệm bánh Trần Thượng một thời nổi tiếng Sài Gòn ra đời từ đó. Tiệm bánh là nơi lui tới, móc nối giao liên của phong trào cách mạng, xuyên suốt các thời kỳ Việt Minh, Mặt trận dân tộc giải phóng, các khối giáo chức, trí vận… Bà Mẹo, ông Thâu đột nhiên có thêm nhiều chàng trai, cô gái đến gọi là “ba, má”. Những chiếc bánh của tiệm Trần Thượng được giao đi khắp Sài Gòn, lợi nhuận của nó lại lên đường theo cô Nguyễn Thị Tú làm cách mạng. Bánh của Trần Thượng còn lên đường đi vào mật khu, góp vui trong các cuộc hội họp đến tiếp tế vào hầm bí mật. Những đồng chí của cô Năm Tú còn đến hôm nay ai cũng nhớ hình ảnh bà mẹ nhân hậu, chỉn chu của cô ở tiệm Trần Thượng. Có bà, cô Năm Tú yên tâm vững bước trên con đường mình chọn. Có bà, các con trai, con gái của cô được lớn lên trong yên ấm, ăn học đủ đầy và thấm đẫm tinh thần yêu nước của ông bà ngoại.

    Bài học làm người

    Không trực tiếp làm cách mạng nhưng bà Mẹo và ông Thâu lại chính là điểm tựa cả vật chất lẫn tinh thần cho những người cách mạng xuất thân từ gia đình ông bà. “Vì việc lớn, hi sinh bản thân, không trách móc, không đòi hỏi. Ông bà không nói, chỉ dạy cho chúng tôi bằng cuộc đời mình” – bà Tố Nga kể một câu chuyện ít được nhắc trong gia đình. Ấy là câu chuyện chiếc xe đưa ông về thăm quê bị phục kích vì lầm là xe chở sĩ quan Pháp. Những viên đạn vô tình bắn thẳng vào đứa cháu ngoại đang ngồi trong lòng, xuyên vào bụng ông, cắt rời chân phải. Bà Lê Thị Mẹo cắn răng chôn cất đứa cháu ngoại chỉ mới 3 tuổi, chứng kiến cảnh người ta cắt rời mấy miếng da còn dính lại trên chân của chồng, ba viên đạn xuyên bụng còn nằm im đó cho đến khi ông nhắm mắt. Vậy nhưng ông bà không một lời than trách những người đã gây ra mất mát oan nghiệt. Ông vẫn lặng lẽ đứng một chân điều hành tiệm bánh, bà vẫn ngược xuôi tiếp tế, nuôi giấu cán bộ, các con cháu vẫn tiếp nối nhau lên đường cách mạng.

    “Tôi nhớ nhất là hình ảnh bà ngoại đi thăm tù” – cả mấy chị em bà Tố Nga, Quế Nga, Tuyết Nga, Ngọc Lan đều nhắc. Cả nhà hoạt động cách mạng nên bao nhiêu năm cứ lần lượt… ở tù. Từ ông Tạ Bá Tòng (chồng sau của bà Nguyễn Thị Tú – PV), bà Năm Tú, đến Tố Nga, Quế Nga, Tuyết Nga… Khắp các trại tù: Tổng nha Cảnh sát, Nha đô thành, Chí Hòa, Tân Hiệp, Thủ Đức, Côn Đảo… con cháu ở đâu, bước chân bà ngoại đi đến đó. Chiếc giỏ đệm của bà luôn được ông tự tay chuẩn bị, lèn chặt thức ăn, đồ tiếp tế, không chỉ cho con cháu mà cả những đồng đội của con cháu mình. “Bà không chỉ mang thức ăn và tình thương, bà mang cả sức mạnh” – bà Tố Nga ngùi ngùi nhắc. Cô Năm Tú bị đưa ra Côn Đảo, bà lặn lội xuống tàu, vượt biển ra thăm con. Những tên quản ngục thấy bà xuất hiện thì mừng lắm, hi vọng sự có mặt của bà sẽ lung lạc được cô con gái đang đứng đầu cuộc đấu tranh của tù nhân tại Chuồng Cọp. Gặp mẹ, chị Năm Tú nói ngay với bà điều đó. Bà hiểu, rớt nước mắt động viên con vài lời rồi quay lưng trở về đất liền. Hai lần bị ép đến gặp Tố Nga ở Tổng nha Cảnh sát cũng vậy, bà cứng cỏi dặn cháu: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng, con à”, rồi về.

    Câu chuyện ngày 30-4

    Trong vô số câu chuyện mà con cháu hôm nay kể về bà Lê Thị Mẹo, có câu chuyện về ngày 30-4, 1-5-1975. Ngày ấy, tiệm bánh Trần Thượng đông người lắm. Đầu tiên là Tố Nga bồng con gái chỉ vừa 4 tháng tuổi ra khỏi phòng biệt giam, cuống quýt vui tự do, mừng hòa bình về nhà bà ngoại. Rồi những người cháu khác, những liên lạc, giao liên của khối trí vận nô nức đến nhà. Lại có cả những người lính, sĩ quan cộng hòa vứt bỏ súng ống, hốt hoảng chạy vào cầu cứu, bà Mẹo hiền hòa lấy bánh cho ăn, lấy áo cho mặc, rồi an ủi, vỗ về, cho tiền về quê…

    Buổi tối 1-5, một người đàn ông bước vào, rơm rớm nước mắt, vò mãi cái mũ, tự giới thiệu là trung tá ở Tổng nha Cảnh sát và nói với ông bà lời xin lỗi vì đã từng bắt giam, tra tấn chị Năm Tú. Đã gần 10 năm ruột gan rối bời vì không nghe tin con gái (bà Nguyễn Thị Tú mất tích trong trận càn Cedar Falls tại căn cứ Trung ương Cục năm 1967 – PV), đã qua hai ngày hi vọng mỏi mòn không thấy con về trong hòa bình, bà không khỏi đau xót. Thế nhưng bà vẫn bình tĩnh, cởi mở, trò chuyện rất hiền hòa. Ông Kiều Xuân Long, khi ấy là chánh văn phòng ban trí vận, cháu rể của bà, kể đến hôm nay chưa hết ngạc nhiên về bà ngoại: “Chiều ấy tôi vừa đến cửa, nhác thấy bóng tôi, bà ngoại liền ra đón. Bà bảo: có ông trung tá đang ở trong nhà, ông ấy đến xin lỗi gia đình. Người ta đã ngã ngựa, con đừng cư xử không phải với họ, con nhé… Bà ngoại, với bản năng bao dung của người mẹ, đã dạy tôi bài học về hòa hợp, hòa giải ngay lúc đó, ngay ngày 1-5-1975”.

    “Bà ngoại của tôi là như vậy. Điều duy nhất làm bà day dứt đến phút cuối đời là chưa tìm được hài cốt của mẹ tôi. Bà không biết mình được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhưng nếu biết, chắc bà sẽ bảo phải có thêm cha anh hùng để dành cho ông ngoại tôi suốt đời lặng lẽ. Ông bà cho chúng tôi cả một cuộc đời để học, để noi theo…” – bà Tố Nga lặp lại, không biết đã là lần thứ bao nhiêu trong đời bà. Ấy thế mà bà còn được học, được noi theo cả cuộc đời của mẹ nữa…

    PHẠM VŨ

    *****

    Kỳ 4: Mẹ Tú
    27/07/2014 02:20 (GMT + 7)
    TT – Cả cuộc đời hoạt động sôi nổi, kiên trung đến phút cuối, từ ngày theo Vệ quốc đoàn cho đến khi trở thành hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam, những gì mẹ Nguyễn Thị Tú để lại cho các con là hình ảnh người phụ nữ mảnh mai, xinh đẹp, gương mặt thanh thoát, đôi mắt kiên định, kiêu hãnh và những lời nói thật dịu dàng.


    Bà Nguyễn Thị Tú, hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam – Ảnh tư liệu gia đình cung cấp
    Trong số sáu anh chị em không ai được ở bên mẹ lâu, nhưng những gì mà họ nhớ luôn là những gì đẹp đẽ nhất về mẹ.

    Mẹ

    Trong số những giấy tờ bất ly thân mà bà Tố Nga luôn mang theo người có những lá thư của mẹ. Có lá viết dưới hầm bí mật, có lá viết khi vừa ra tù. Chan chứa yêu thương, tràn ngập tin tưởng là những lá thư ấy.

    “Nga con, em về với con đấy. Từ nay em xa ba mẹ, nhưng đã có con, có các bác, các dì, mẹ rất an tâm và tin tưởng. Con muốn biết mẹ đã làm gì từ lúc các con đi thì cứ hỏi em, không đầy đủ nhưng nó cũng biết đại khái, những việc xảy ra chắc còn in trong trí. Em đã theo bà vào thăm mẹ ở Chí Hòa, Phú Quốc, Thủ Đức, Phú Lợi. Chỉ có Côn Đảo, Gia Định là không vào được thôi. Nó có vào nhà thương thấy cảnh mẹ bị giam cầm. Gần sáu năm tù đày mẹ bị hành hạ nhiều về thể xác lẫn tinh thần, nhất là ở Côn Đảo, Thủ Đức, Phú Lợi… Sống trong địa ngục trần gian ấy khá lâu, qua mỗi thử thách mẹ đều nhớ đến các con, hi vọng các con sẽ cố gắng học hành, mai sau phụng sự quê hương, xứ sở. Mẹ tin chắc con sẽ không quên bổn phận của con…”.

    “Ly con. Mẹ nhớ con gái mẹ quá. Nhớ con như thế nào, mẹ nghĩ con cũng nhớ mẹ thế ấy. Kỳ sau viết thư cho mẹ, con nhớ cho biết con cao bao nhiêu, mập hay ốm, biết thêm những gì rồi, nói kỹ với mẹ nghe con. Con được ra Bắc, được học trong môi trường tiến bộ, mẹ sung sướng lắm tuy có đau vì xa con. Nhưng vì tương lai của con, vì muốn con trở thành người công dân tốt của Tổ quốc, nên mẹ con mình tạm xa nhau để ngày gặp lại có nhiều hạnh phúc…”.

    “Mẹ tôi là vậy. Sau 10 năm ra Bắc, tôi vượt Trường Sơn trở lại miền Nam, tôi được gặp mẹ. Lần nào gặp, mẹ cũng ước “Mai sau hòa bình, mấy mẹ con mình lại được ở với nhau”. Tôi đã lớn rồi, đã làm phóng viên Thông tấn xã Giải phóng, vậy mà bom đến, mẹ kéo xuống hầm, lấy thân mình che cho tôi” – bà Tố Nga ngậm ngùi nhớ cái ngày 24 tuổi ấy. Lần cuối cùng được gặp mẹ, Tố Nga nhất quyết ép mẹ giữ lại chiếc khăn rằn cô vừa quàng lên cổ bà, để “đi đâu cũng có mẹ có con”.

    Bà Nguyễn Thị Tú mang chiếc khăn rằn của con gái trên cổ, hành quân, chạy qua các cánh rừng của vùng tam giác sắt Tây Ninh – Củ Chi – Bến Cát suốt trận càn Cedar Falls kéo dài gần 10 ngày và khu vực đóng quân của căn cứ Trung ương Cục. Những ngày cuối cùng, nhóm công tác của bà bị một tốp xe tăng phát hiện. Sau những loạt đạn chát chúa, cày xới cả cánh rừng, bà biến mất. Đồng đội cùng nhau đi tìm, tay cái cuốc, tay lon cháo hoặc sữa, nếu gặp người hi sinh thì chôn cất, còn sống thì đút cháo, đút sữa đưa về. Nhưng vô ích. Bà đã tan biến trong không gian đậm đặc chết chóc của chiến tranh, để lại những day dứt không nguôi trong lòng đồng đội, trong tim các con.

    “Trong chiến tranh, chúng tôi đi đến từng nhà tù tìm tông tích mẹ. Sau hòa bình, chúng tôi đi tìm mẹ trong từng cánh rừng. Vô vọng. Cuộc sống cuốn đi, đành lập một ngôi mộ giả giữa rừng mà bái vọng. Bà ngoại trước khi nhắm mắt dặn lấy ngày rằm tháng giêng để cúng mẹ. Thế nhưng chị Tố Nga không bỏ cuộc. Chị vẫn lặn lội đi tìm, cuối cùng chúng tôi đưa được mẹ về sau 30 năm” – bà Trần Quế Nga, hiệu trưởng Trường mầm non Nguyễn Thị Tú (Q.Bình Tân, TP.HCM) kể.

    Hài cốt bà Nguyễn Thị Tú nằm dưới một bụi tre tàu ở huyện Bến Cát (Bình Dương). Người ta kể người phụ nữ ấy đã bị chôn sống trong tư thế ngồi, tay chân bị trói. Khai quật lên, từng mảnh xương bám trong rễ tre, lẫn trong đất đen, còn vài đoạn dây nhựa. Nát lòng các con, nát lòng đồng đội, nhưng một lần nữa họ lại tự hào khi được chứng thực về sự hi sinh anh dũng của mẹ mình, đồng chí mình.


    Bà Trần Tố Nga – Ảnh tư liệu gia đình cung cấp

    Con

    “Như là có số phận, những bước đường mẹ đi, những gì mẹ trải qua rồi chị em tôi lần lượt lặp lại, chỉ có điều gian truân của mẹ gấp trăm ngàn lần con” – bà Trần Quế Nga bùi ngùi kể. Ấy là cái án 20 năm tù mà Quế Nga nhận khi chưa tròn 20 tuổi. Cũng như mẹ, Quế Nga cũng trải qua đòn roi tra tấn, cũng nằm li bì trong phòng giam nhà thương Chợ Quán mà năm nào Quế Nga theo bà đi thăm mẹ, cũng bị chuyển từ Nha đô thành đến Chí Hòa, Thủ Đức, Hố Nai, Tam Hiệp rồi ra Côn Đảo. Những năm ấy sức trẻ, Quế Nga giành mọi chỗ khó chỗ khổ trong xà lim về mình, còn hát, còn cười được trong chuồng cọp, chỉ rưng rưng nước mắt khi đi ngang hầm đá, nơi mẹ Tú đã từng nằm.

    Ấy là câu chuyện khi mẹ Tú sinh Ngọc Lan, mới được ba ngày, được tin một cơ sở bị bắt, mẹ giao em cho Tố Nga, một mình ra khỏi bệnh viện đi báo tin. Khi quay lại, máu chảy dài xuống dưới chân đọng thành vũng. 23 năm sau, Tố Nga lại sinh con trong một phòng giam ở Bệnh viện Hùng Vương. Thoáng thấy một người đồng chí đi ngang, cô năn nỉ giám thị cho xuống gặp. Leo qua được những bậc cầu thang xoắn, nói được một câu về tin tức người cùng bị giam, Tố Nga quay lên, máu lại chảy dài thành vũng dưới chân.

    Những câu chuyện của số phận ấy cũng là niềm tự hào “con của mẹ Tú” trong các con bà. Họ bảo nhau cố gắng thực hiện ước mơ của mẹ ngày hòa bình: sống hạnh phúc và có ích cho đất nước. Và mẹ Tú đã có những người con gái thật mạnh mẽ.

    Thu vén, chăm chút từng li từng tí một cho ngôi trường mầm non tư thục mang tên Nguyễn Thị Tú, bà Trần Quế Nga từ tốn tâm sự: “Sau bao nhiêu năm làm hiệu trưởng một trường cấp III, về hưu tôi nghĩ chỉ vậy chưa đủ với mong ước của mẹ mình. Mảnh đất này là của bà ngoại, tôi mở ngôi trường lấy tên mẹ, ngày ngày các cháu ríu rít ở đây chắc mẹ cũng vui. Đặt tên mẹ để làm kỷ niệm, vậy mà rồi cái tên ấy biến thành áp lực với tôi, như thấy mẹ luôn đòi hỏi trường phải tốt đẹp hơn nữa, các cháu phải được chăm sóc, giáo dục khỏe mạnh, ngoan ngoãn, thông minh hơn nữa…”.

    Cô gái út Trần Tuyết Nga còn mạnh mẽ hơn nữa. Từ 20 năm nay cô một mình quay về khu căn cứ Củ Chi, vật lộn với đầm lầy, hố bom để biến khu đất hoang thành làng nghề Một thoáng Việt Nam, với mục đích tạo một điểm đến thấm đẫm văn hóa và lịch sử dân tộc cho Củ Chi. Nhất định không thỏa hiệp với các mục đích thương mại, gặp không ít khó khăn kinh tế, không ít người vì thương mà bàn lùi nhưng Tuyết Nga không nản lòng, vẫn đi tới, vẫn tiếp tục dù có lúc phải “cắn răng, nín thở mà chịu đựng”. “Tôi làm vì lòng biết ơn người dân Củ Chi, biết ơn mẹ tôi, biết ơn văn hóa, lịch sử Việt Nam. Đây là cách cống hiến riêng của tôi. Tôi không có cách thoái lui” – bà Tuyết Nga khẳng khái nói.

    “Chúng tôi không thoái lui, chúng tôi đi tới” – những người con gái của bà Nguyễn Thị Tú đều giống nhau ở khẳng định mạnh mẽ ấy. Những ngày này, cả gia đình lại chăm chú dõi theo vụ kiện da cam của bà Trần Tố Nga, một chặng nữa trên con đường cống hiến đã hứa với mẹ từ bao nhiêu năm trước.

    PHẠM VŨ

    *****

    Kỳ cuối: Tuổi 70
    28/07/2014 12:33 (GMT + 7)
    TT – Nhiều năm nay bà Trần Tố Nga đã không nghỉ ngơi với những hoạt động xã hội, từ thiện. Năm nay tuổi 72, mang trong mình hàng chục chứng bệnh có thể bộc phát bất kỳ lúc nào, lịch làm việc lại càng dày đặc vì các cuộc phỏng vấn, họp báo, ghi âm, ghi hình, gặp gỡ liên miên xung quanh vụ kiện, các chuyến bay Pháp – Việt liên tiếp.


    Bà Trần Tố Nga – Ảnh: Tự Trung

    Không phải lần đầu tiên có một vụ kiện da cam, nhưng đây là lần đầu tiên hàng triệu nạn nhân chất độc da cam Việt Nam có được đại diện là một công dân quốc tế sáng giá như bà.

    “Đại diện cho người Việt Nam”

    Hiểu biết, thông minh, sắc sảo và đẹp, Trần Tố Nga gây ấn tượng ở bất cứ nơi nào bà xuất hiện. “Câu chuyện của tôi rất nhỏ, rất bình thường so với các nạn nhân khác…”, khi nào bà cũng bắt đầu như vậy. Và bà kể về những nạn nhân chất độc da cam mình đã đến thăm ở Hòa Bình, Nam Định, những thảm kịch “diệt gia tộc” cứ đeo đẳng từ đời này sang đời khác. Trong những hồ sơ bà chuẩn bị cho vụ kiện của mình, ngoài những kết quả giám định sức khỏe, phân tích khoa học, ngoài những chứng cứ về sự có mặt của mình ở vùng bị rải chất độc, còn có một tập ảnh của các nạn nhân, những tấm ảnh đã làm những người bạn Pháp của bà sửng sốt. Đó là nụ cười trên những gương mặt bị bóp méo, là những sản phẩm thủ công được làm ra bởi những bàn tay quặt quẹo, là những bước đường đi qua bởi những bàn chân cong queo… Lần nào giở cuốn album, bà cũng nhắc những người xem ảnh: “Không nên nhìn họ bằng cặp mắt thương cảm, thương hại. Hãy cảm thông và nhìn nhận đúng đắn lòng dũng cảm và nhân cách của họ. Họ đang vật lộn tranh đấu cho cuộc sống của mình, và rất cần được giúp đỡ đúng cách như là đào tạo những nghề nghiệp phù hợp. Lúc nào tôi cũng lo lắng khi những thế hệ nạn nhân chất độc da cam thứ nhất qua đời, thế hệ nạn nhân thứ hai, thứ ba liệu có còn được ai giúp đỡ?”.

    Vì thế mà bà đấu tranh. Nộp đơn kiện, bà Nga bảo chỉ mong các công ty hóa chất từng sản xuất chất độc da cam chấp nhận nhìn lại việc mình đã làm, tìm hiểu hậu quả của sản phẩm ấy đã để lại trên con người, trên môi trường Việt Nam, và cùng chung tay với người Việt Nam để giải quyết: xoa dịu nỗi đau, tẩy độc môi trường. “Thực hiện những việc nhân đạo này trên tinh thần trách nhiệm chỉ làm tăng thêm uy tín của họ mà thôi” – bà lặp lại.

    Những người bạn của bà như ông André Menras (Hồ Cương Quyết) đã từng tổ chức cuộc biểu tình lớn tại Pháp để ủng hộ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, tố cáo các công ty hóa chất sản xuất chất “diệt người”, từ ngữ mà ông dùng. Các hội đoàn ủng hộ nạn nhân chất độc da cam như ADEP, Vietnamamitié cũng từng gửi thư phản đối việc Tập đoàn hóa chất Dow Chemical tài trợ và treo bảng quảng cáo tại Thế vận hội quốc tế Olympic London 2012. “Chừng nào Dow Chemical còn tỏ thái độ tiêu cực với các nạn nhân thì không có chỗ cho Dow Chemical ở sân chơi đầy sức sống, đầy hi vọng, tiến bộ và hòa bình như Olympic”, những lá thư đã được gửi đi khắp thế giới nhấn mạnh… “Các tập đoàn hóa chất Mỹ rất lớn và những nạn nhân chất độc da cam Việt Nam rất nhỏ bé, tại sao họ lại không thể nhận trách nhiệm, tôn trọng luật lệ dù đã từng bồi thường cho các cựu chiến binh Mỹ? Vin vào lý do chiến tranh, họ phủ nhận đơn kiện của các nạn nhân Việt Nam, vậy thì đã có tôi tiếp tục với tư cách là công dân Pháp. Là công dân Pháp nhưng tôi là đại diện của hàng triệu người Việt Nam. May mắn hơn nữa, tôi được rất nhiều người giúp đỡ” – bà Trần Tố Nga nhấn mạnh một lần nữa.


    Nạn nhân chất độc da cam – Ảnh: Nguyễn Á

    Cuộc chiến pháp lý

    “Nước Mỹ đương nhiên không sẵn lòng để cho các công ty hóa chất bị buộc tội công khai là đã gây ra thiệt hại như là chiến tranh hóa học. Họ có thể phản đối, họ có thể sử dụng những khía cạnh khác nhau giữa luật pháp của Pháp và Mỹ. Vụ kiện này, vì thế đương nhiên sẽ rất khó khăn, rất phức tạp, rất lâu dài, có thể gọi là một cuộc chiến pháp lý nhưng chúng tôi cũng rất quyết tâm” – luật sư William Bourdon nói. Ông giải thích về quyết tâm của mình và các cộng sự: “Chất độc da cam rơi xuống con người, xuống các rừng cây, thấm vào lòng đất là cả một thảm họa. Thảm họa với con người, với môi trường, và còn kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vì vậy mà chúng tôi quyết tâm”. Tham gia Hội Ủng hộ nạn nhân chất độc da cam từ nhiều năm, luật sư William Bourdon đã từng trở đi trở lại Việt Nam, từng gặp gỡ nhiều nạn nhân chất độc da cam ngay trên giường bệnh, trên xe lăn. “Chúng tôi sẽ đi tới cùng”, ông khẳng định bằng quyết tâm nghề nghiệp và tình cảm trong trái tim mình.

    Các cộng sự trẻ của ông, luật sư Bertrand Repold và Amélie Lefebvre, chưa bao giờ biết thế nào là chiến tranh, sau khi đọc những hồ sơ, báo cáo cũng đã tự thân đến Việt Nam để hiểu thế nào là chất độc da cam. “Đến Việt Nam, tôi đã hiểu tại sao phải tiến hành và theo đuổi vụ kiện. Nạn nhân còn đó, con cháu họ cũng lại tiếp tục trở thành nạn nhân. Những vùng đất bị nhiễm độc vẫn còn đó. Chúng tôi có nhiệm vụ tìm cho ra người phải chịu trách nhiệm, không chỉ với bà Trần Tố Nga, thân chủ của chúng tôi, mà với tất cả những nạn nhân. Nếu chiến thắng, vinh quang ấy sẽ dành cho các nạn nhân chất độc da cam” – cô Amélie Lefebvre xúc động nói.

    Và không chỉ có văn phòng luật sư William Bourdon. Ủy ban quốc tế ủng hộ nạn nhân chất độc da cam của ông André Bouny cũng hết sức vận động để ủng hộ vụ kiện. “Vụ kiện này chưa có tiền lệ tại Pháp nên mọi thủ tục pháp lý đều phải thiết lập từ đầu. Kêu gọi công lý với các công ty Mỹ đã khó, các vấn đề kỹ thuật lại cũng rất khó khăn. Phải biên dịch toàn bộ tài liệu và phụ lục từ tiếng Pháp sang tiếng Anh, thừa phát lại Pháp phải trao cho 35 thừa phát lại tại Mỹ (tương đương số công ty hóa chất liên quan) thông qua thủ tục công tố ngoại giao. Chúng tôi có thể lường trước là một đội ngũ luật sư Mỹ thiện chiến sẽ được huy động, nếu bị tuyên bất lợi họ sẽ kháng án. Các phiên điều trần được tổ chức cách nhau nhiều tháng, những trao đổi qua lại đều sẽ phải thông qua thủ tục ngoại giao… Sẽ rất tốn kém và tất nhiên bà Nga không thể chi trả được” – ông André Bouny giải thích. Ông cùng tổ chức của mình đã kêu gọi sự hỗ trợ trên các diễn đàn quốc tế, gửi thư, tin tức đến các hội đoàn, cá nhân ủng hộ Việt Nam. “Quỹ thời gian của các nạn nhân chất độc da cam đang cạn dần với những chứng bệnh mà họ phải chịu đựng. Chúng tôi sốt ruột, và chúng tôi đang tiến hành mọi việc với tốc độ cao dù không thể biết khi nào vụ kiện sẽ có kết quả. Vẫn phải đi tới. Cũng như trong chiến tranh, chúng ta biết điểm bắt đầu mà không biết được điểm kết thúc”.

    “Chúng tôi đi tới, chúng tôi không thoái lui” – thêm một lần nữa tôi nghe được câu khẳng định ấy trong câu chuyện về vụ kiện da cam, về truyền thống trong gia đình bà Trần Tố Nga. Truyền thống ấy đã khởi đi từ rất sâu, rất xa, từ trong tình yêu quê hương, con người thấm trong tiềm thức, ngập đầy con tim và thể hiện ra ngoài bằng cuộc sống, hành động của từng người, từng thế hệ trong gia đình bà. “Và tôi chỉ là một. Dù đứng đơn kiện một mình nhưng tôi không đơn độc, tôi được sự ủng hộ của rất nhiều người có trái tim nhân hậu ở khắp nơi trên thế giới. Tôi rất biết ơn họ” – bà Trần Tố Nga nói và tiếp tục đi trên con đường mới đầy chông gai ở tuổi 72.

    PHẠM VŨ

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s